| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
[376c]NÓI
RÕ PHẦN THỨ TÁM CỦA 92 PHÁP ÐƠN ÐỀ. 57.
GIỚI: CHE GIẤU TỘI TỈ-KHEO KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Lúc bấy
giờ, Ưu Ba Nan Ðà nói với người đệ tử tùy tùng của
Nan Ðà anh mình như sau: -
Này tên kia, ngươi hãy cùng ta vào xóm làng, đến một nhà
kia, họ sẽ cúng dường ẩm thực cho ngươi. Nếu ta có làm
điều gì trái oai nghi tại đó, thì ngươi hãy che giấu, chớ
nói cho ai biết, vì ta là Thúc phụ của ngươi. Ðồng thời
ta cũng che giấu lỗi lầm cho Hòa thượng của ngươi. -
Dù cho ông, cha hay Hòa thượng của tôi có lỗi, tôi cũng không
che giấu, huống gì là Thúc phụ. Trưởng lão hãy tự che giấu
lỗi lầm của Hòa thượng tôi, chứ tôi hoàn toàn không thể
che giấu lỗi lầm của trưởng lão. Ưu
Ba Nan Ðà nghe trả lời như thế, liền suy nghĩ: "Hôm nay ta
sẽ làm cho ngươi đau khổ để biết tay ". Thế rồi, hai người
cùng vào thành, đến nhà một trưởng giả. Ðàn Việt trông
thấy rất hoan hỉ, chào hỏi, rồi mời ở lại thọ trai.
Ưu Ba Nan Ðà lại suy nghĩ: "Ta phải trông chừng mặt trời,
khi nào gần đến giờ ngọ, ta sẽ sai hắn trở về tinh xá
để cho không kịp bữa ăn của chúng đồng thời cũng mất
bữa ăn ở đây, lui tới đều mất bữa ăn, cho hắn thấm
nỗi khổ đau". Suy nghĩ thế rồi, khi gần đến giờ ngọ,
thầy bèn bảo ông kia trở về lại tinh xá. Vì sợ mất bữa
ăn cho nên ông ta vừa ngó chừng mặt trời vừa đi vội vã
trở về tinh xá. Thế nhưng, lúc ấy Tăng chúng vừa ăn xong,
ra ngoài cổng tinh xá, đang ung dung đi kinh hành. Từ xa, họ
trông thấy ông ta miệng mồm khô rốc có vẻ như chưa ăn,
họ liền nói đùa: -
Sáng nay ngươi đi theo Tỉ kheo giáo hóa vào thành, có được
những
thức ăn gì ngon chăng? -
Chỉ bị khổ não chứ nào có thức ăn gì đâu. Các
Tỉ kheo nghe thế, liền đem sự việc ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật bèn bảo gọi Ưu Ba Nan Ðà đến. Khi thầy đến
rồi, Phật liền hỏi đầy đủ sự kiện trên: -
Ông có việc đó thật chăng? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc ác, phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không
thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. Từ
nay về sau, nếu biết Tỉ-kheo có tội thô ác, thì không được
che giấu. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo biết Tỉ kheo khác phạm Thô tội mà che giấu,
thì phạm Ba dạ đề. Giải
thích: [377a]
Tỉ
kheo: Như trên đã nói. Biết:
Hoặc tự biết, hoặc nhờ nghe người nói mà biết. Thô
tội: Như
bốn Ba la di, mười ba Tăng già bà thi sa; đó gọi là Thô tội. Che
giấu: Không
muốn cho người khác biết. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Khi
Tỉ kheo thấy người khác phạm tội thô ác thì không được
che giấu, nếu che giấu thì phạm tội Ba dạ đề. Trường
hợp Này cần phải nói với người khác. Nhưng khi nói, không
phải nói với bất cứ ai mà phải nói với Tỉ kheo tốt,
hoặc nói với đồng Hòa thượng, A xà lê. Nếu Tỉ kheo phạm
tội kia hung bạo, hoặc dựa vào thế lực của vua, của đại
thần, của kẻ hung ác khiến họ có thể sát hại hay hủy
hoại phạm hạnh của mình, thì mình nên suy nghĩ: "Ông ta gây
nên tội lỗi chắc chắn sẽ chuốc lấy quả báo, ông ta phải
tự biết việc ấy. Ví như khi bị hỏa hoạn, ta chỉ nên
tự cứu lấy mình, cần gì phải biết đến việc khác". Thế
rồi, khi ấy lo giữ gìn tánh mạng mình thì được xem là
không có tội. Nếu
Tỉ kheo biết Tỉ kheo khác phạm bốn Ba la di, mười ba tăng
già bà thi sa, mà tất cả đều che giấu thì phạm Ba dạ đề. Nếu
biết người khác phạm ba mươi Ni tát lì, chín mươi hai Ba
dạ đề, mà tất cả đều che giấu thì phạm tội Việt tì
ni. Nếu
biết người khác phạm bốn Ba la đề đề xá ni, chúng học
pháp, mà tất cả đều che giấu thì phạm tội Việt tì ni
tâm niệm sám hối. Nếu
biết Tỉ kheo ni phạm tám Ba la di, mười chín Tăng già bà
thi sa mà tất cả đều che giấu, thì phạm Thâu lan giá. Nếu
biết Tỉ kheo ni phạm ba mươi Ni tát kì, một trăm bốn mươi
mốt Ba dạ đề mà tất cả đều che giấu, thì phạm tội
Việt tì ni. Nếu
biết Tỉ kheo ni phạm tám Ba la đề đề xá ni, chúng học
pháp, mà tất cả đều che giấu thì phạm tội Việt tì ni
tâm niệm sám hối. Nếu
biết Thức xoa ma ni phạm mười tám hành pháp mà cho họ thọ
học trở lại hoặc tất cả đều che giấu, thì phạm tội
Việt tì ni. Nếu
biết Sa di, Sa di ni phạm mười giới, mà tất cả đều che
giấu, hoặc cho họ xuất gia trở lại, thì phạm tội Việt
tì ni. Sau
cùng, cho đến biết người thế tục phạm năm giới, mà tất
cả đều che giấu, thì phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám
hối. Thế nên nói: "Nước
có trùng, không y
58.
GIỚI: SÁT HẠI SINH VẬT. Khi
Phật an trú tại thành Tỳ Xá li nói rộng như trên. Lúc bấy
giờ, có người mặc giáp, mang cung tên đi vào tinh xá, rồi
cởi giáp bỏ cung, ngồi nghỉ dưới gốc cây. Khi ấy, tại
vũng đất cát trước sân tinh xá có đàn bồ câu đang ăn
uống vui đùa. Tôn giả Ưu Ðà Di thấy thế, liền nói (với
người ấy): -
Các hạ (trường thọ), cho tôi mượn cung tên để tôi bắn
thử một phát xem. -
[377b] Ðược thôi. Ưu
Ðà Di liền lấy cung và năm mũi tên, lắp tên vào, bắn năm
phát, hạ năm con bồ câu, đoạn nhổ hết lông, ghim chúng
vào khúc cây, đem đến trao cho Thế Tôn, nói: -
Bạch Thế Tôn, đây là thịt chim. -
Ở đâu mà có vậy? -
Bạch Thế Tôn, có người mặc giáp, mang cung tên, đến trước
sân tinh xá, rồi ngồi nghỉ dưới gốc cây, con mượn cung
tên ông ta để bắn thử mấy con chim, vì trước kia con đã
từng tập bắn nên bắn không trật. -
Này kẻ ngu si, đó là việc ác, lẽ ra phải bỏ sớm, lại
còn bảo là trước kia đã từng tập bắn nên bắn trúng.
Ông không từng nghe Ta dùng vô lượng phương tiện chê trách
sự sát sinh, khen ngợi không sát sinh hay sao mà nay còn làm
việc ác bất thiện như vậy. Ðó là việc phi pháp, phi luật,
trái lời ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn
thiện pháp được. Các
Tỉ kheo liền bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn, lẽ ra nên khởi từ tâm cứu hộ chúng sanh,
thế mà vì sao Ưu Ðà Di lại cướp lấy mạng sống của chúng
mà không có lòng từ bi? -
Không những ngày nay ông ta không khởi từ tâm mà trong thời
quá khứ cũng đã từng như vậy, như trong kinh Bổn Sinh Thích
đề hoàn nhân đã nói rõ. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại Tỳ
Xá li phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo cố ý cướp đoạt sinh mạng của súc sinh thì
phạm Ba dạ đề. Giải
thích: Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Cố
ý: Trước
tiên tạo ra phương tiện. Cướp
đoạt sinh mạng của súc sinh:
Hoặc là Thân, Thân phần, Thân phương tiện. Thân:
chỉ cho toàn thân. Nếu giẫm đạp trên thân của chúng sanh,
hoặc lôi kéo, đè xuống muốn cho chúng chết mà chúng chết
thật, thì phạm Ba dạ đề. Thân
phần: Vì
muốn sát hại chúng sanh nên dùng một trong các thứ: hoặc
chân, hoặc tay, hoặc đầu gối, hoặc cùi chỏ, hoặc răng,
hoặc móng tay ... để giết thì gọi là thân phần. Thân
phương tiện:
Nếu dùng tay cầm các thứ như cây, gậy, gạch, đá... đến
đánh, hoặc đứng từ xa ném, muốn cho chúng chết mà chúng
chết thật, thì phạm Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Hoặc
Tỉ kheo muốn sát hại sinh mạng của súc sinh bằng các thứ
như: dao, thuốc, thoa, cho mửa, cho ỉa, làm đọa thai... 1.
Ðao: Các loại
dao lớn nhỏ cho đến một tấc sắt, nếu Tỉ kheo có tâm
sát hại thì khi cầm dao phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám
hối; đụng đến thân thể chúng, phạm tội Việt tì ni; chúng
chết, phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là dao. 2.
Thuốc: Có
ba loại là: sanh, hợp và độc. -
Sanh: Như ở đất nước Ni lâu, đất nước Uất xà ni có
loại cỏ độc tên là Ca la; đó gọi là sinh. -
Hợp: Như thợ săn dùng các thứ rễ cộng, lá hoa, trái, các
loại cỏ trộn lại bào chế thành thuốc; đó gọi là hợp. -
Ðộc: Chất độc của rắn, chất độc của chuột, của chó
sói, của mèo, của chó, của gấu, của báo, của người v.v...
các thứ như vậy gọi là độc. Hoặc
sinh, hoặc hợp, hoặc độc, [377c] tất cả các thứ như vậy
gọi là thuốc. Nếu
Tỉ kheo khởi tâm sát hại muốn giết súc sinh, thì khi chế
thuốc phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám hối; khi thuốc
chạm vào thân chúng phạm tội Việt tì ni; nếu chúng chết
thì phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là thuốc. 3.
Thoa: Nếu
Tỉ kheo khởi tâm sát hại muốn dùng thuốc bôi vào thân súc
sinh, khi bôi nghĩ rằng: "Ta bôi vào đầu, chân, mình để cho
nó chết khô", thì khi cầm thuốc phạm tội Việt tì ni tâm
niệm sám hối; khi chạm vào thân nó phạm tội Việt tì ni;
nếu vì thế mà nó chết thì phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là
thoa. 4.
Mửa: Nếu
Tỉ kheo khởi tâm sát hại, bào chế thuốc định làm cho súc
sinh mửa cả máu mủ ruột gan ra mà chết, thì khi chế thuốc
phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám hối; khi thuốc chạm vào
thân nó, phạm tội Việt tì ni; nhân đó mà nó chết, thì
phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là mửa. 5.
Ỉa (đại tiện):
Nếu Tỉ kheo khởi tâm sát hại, bào chế thuốc đại tiện,
muốn làm cho súc sinh đại tiện cả máu mủ ruột gan ra mà
chết, thì khi chế thuốc phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám
hối; khi thuốc chạm vào thân nó, phạm tội Việt tì ni; do
đó mà nó chết, thì phạm Ba dạ đề. 6.
Làm đọa thai:
Nếu Tỉ kheo khởi tâm sát hại, muốn làm đọa thai súc sinh,
thì khi tạo phương tiện, phạm tội Việt tì ni tâm niệm
sám hối; khi chạm thuốc vào thân nó, phạm tội Việt tì
ni; định giết mẹ mà chỉ làm đọa thai, thì phạm tôi Việt
tì ni; định làm đọa thai mà mẹ chết, thì phạm tội Việt
tì ni; định giết mẹ mà mẹ chết, thì phạm Ba dạ đề;
định giết thai mà thai chết, cũng phạm Ba dạ đề. Nhưng
nếu súc sinh mang thai người, thì phạm tội Việt tì ni. Ðó
gọi là làm đọa thai. *
Lại có các trường hợp: Ði theo hàng, dùng chú Tì đà la,
dùng mạt vụn, giăng lưới, gài bẫy, đào hầm sập, đường
đi, sông. 1.
Ði theo hàng:
có loài súc sinh đi từng hàng hoặc năm con, mười con, hai
mươi con, mà Tỉ kheo muốn giết con đầu lại giết nhầm
con giữa, hoặc muốn giết con giữa lại giết nhầm con sau,
hoặc muốn giết con sau lại giết nhầm con giữa, hoặc muốn
giết con giữa lại giết nhầm con đầu, thì đều phạm tội
Việt tì ni. Nếu định giết con đầu mà con đầu chết, định
giết con giữa mà con giữa chết, định giết con sau mà con
sau chết, thì đều phạm Ba dạ đề. Hoặc định giết bất
cứ con nào mà nó chết thì phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là
đi theo hàng. 2.
Dùng chú Tì đà la:
Nếu Tỉ kheo muốn giết súc sinh bèn đọc chú Tì đà la, chú
làm cho thây người chết đứng dậy, thì khi đọc chú phạm
tội Việt tì ni tâm niệm sám hối; khi chúng kinh hãi lông
dựng đứng lên thì phạm tội Việt tì ni; nhân đó mà chúng
chết, thì phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là dùng chú Tì đà la. 3.
Dùng mạt vụn:
Nếu Tỉ kheo muốn sát hại súc sinh, bèn nghiền bột rắc
lên mình chúng định làm cho chúng chết khô, thì khi tạo phương
tiện phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám hối; khi chạm thuốc
vào mình chúng phạm tội Việt tì ni; nếu nhân đó mà chúng
chết thì phạm Ba dạ đề. 4.
Giăng lưới:
Nếu Tỉ kheo khởi tâm sát hại súc sinh, bèn giăng lưới tại
những nơi mà chúng thường đi, thường ăn, thường uống
nước, thì khi giăng lưới phạm tội Việt tì ni tâm niệm
sám hối; chạm đến thân chúng phạm tội Việt tì ni. [378a]
vì thế mà chúng chết phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là giăng
lưới. 5.
Gài bẫy:
Nếu Tỉ kheo khởi tâm sát hại súc sinh bèn gài bẫy tại
những chỗ mà chúng thường đi, thường ăn và thường uống
nước, thì khi gài bẫy phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám
hối; chạm đến thân chúng, phạm tội Việt tì ni; vì thế
mà chúng chết, phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là gài bẫy. 6.
Ðào hầm:
Nếu Tỉ kheo khởi tâm sát hại súc sinh bèn đào hầm tại
những nơi mà chúng thường đi, thường ăn và thường uống
nước, thì khi đào hầm phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám
hối; khi chúng rơi vào trong đó phạm tội Việt tì ni; vì
thế mà chúng chết, phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là đào hầm. 7.
Ðường đi:
Nếu Tỉ kheo đang đi kinh hành trên đầu đường, thấy súc
sinh đến, liền suy nghĩ: "Giờ đây, ta sẽ làm cho không một
mống nào thoát chết", thế rồi khởi tâm sát hại xua chúng
chạy đến chỗ sư tử, chỗ hổ báo, chỗ đáng sợ, chỗ
nhà vua săn bắn". Thì khi xua đuổi chúng, phạm tội Việt
tì ni tâm niệm sám hối; khi chúng phải chịu đau đớn, phạm
tội Việt tì ni; vì thế mà chúng chết, phạm tội Ba dạ
đề. Ðó gọi là đường đi. 8.
Sông: Nếu
chùa ở gần bên sông, Tỉ kheo đang đi kinh hành trên bờ sông,
trông thấy súc sinh đi đến, liền suy nghĩ: "Giờ đây ta sẽ
làm cho những con vật này không một con nào sống sót", thế
rồi khởi tâm sát hại xua chúng đến chỗ không an toàn, chỗ
bờ dốc có nước xoáy, chỗ thi Thâu ma la (?) đi qua, chỗ
có sư tử hổ báo và chỗ nhà vua săn bắn; thì khi xua đuổi
phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám hối; khi chúng phải chịu
đau đớn, phạm tội Việt tì ni; vì thế mà chúng chết, phạm
Ba dạ đề. Ðó gọi là sông. Khi
một Tỉ kheo khởi tâm sát hại cầm dao thì phạm tội Việt
tì ni tâm niệm sám hối; khi chúng chịu đau đớn thì phạm
tội Việt tì ni; vì thế mà chúng chết thì phạm Ba dạ đề.
Nếu hai Tỉ kheo, nhiều Tỉ kheo thì cũng như vậy. Nếu
Tỉ kheo vì muốn sát hại súc sinh, rồi đưa dao cho một người,
hai người hay nhiều người khiến họ đi sát hại, thì cũng
như vậy. Nếu người được sai lại sai chuyền người khác,
cho đến nhiều người, thì khi đưa dao, phạm tội Việt tì
ni tâm niệm sám hối; khi chúng chịu đau đớn phạm tội Việt
tì ni; vì thế mà chúng chết, phạm Ba dạ đề. Các
trường hợp thuốc, độc, thoa, mửa, ỉa, làm đọa thai, thì
cũng như trường hợp dao đã nói rõ. Nếu
Tỉ kheo sát hại sinh mạng của súc sinh mà hội đủ năm yếu
tố sau thì phạm Ba dạ đề. Ðó là: 1. Súc sinh; 2. Tưởng
đó là súc sinh; 3. Có tâm sát hại; 4. Khởi thân nghiệp; 5.
Mạng sống kết thúc. Ðó gọi là năm yếu tố. Thế nên nói
(như trên). 59.
GIỚI: GÂY PHIỀN TOÁI TỈ-KHEO KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ nói rọâng như trên. Bấy giờ
nhóm sáu Tỉ kheo muốn cho nhóm mười sáu Tỉ kheo trẻ sinh
nghi ngờ hối hận liền nói như sau: "Ðức Thế Tôn chế giới
người đủ hai mươi tuổi mới cho thọ giới Cụ túc, các
ngươi chưa đủ hai mươi tuổi mà thọ Cụ túc [378b] như thế
không thể gọi là Thọ Cụ túc". Họ nghe nói thế liền khóc
rống lên. Phật nghe tiếng khóc, biết mà vẫn hỏi (các Tỉ
kheo): -
Ðó là tiếng khóc của trẻ con nào thế? -
Bạch Thế Tôn, nhóm sáu Tỉ kheo vì muốn cho nhóm mười sáu
Tỉ kheo trẻ sinh nghi ngờ hối hận nên nói như sau: "Ðức
Thế Tôn chế giới người đủ hai mươi tuổi mới cho thọ
Cụ túc, các ngươi chưa đủ hai mươi tuổi mà thọ Cụ túc,
thế là chẳng phải thọ Cụ túc". Vì họ nghe nói thế nên
mới khóc lóc. -
Ði gọi nhóm sáu Tỉ kheo đến. Khi
họ đến rồi, Phật liền hỏi đầy đủ sự việc kể trên: -
Các ông có việc đó chăng? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Vì sao như thế? -
Chúng con đùa cho vui vậy mà. -
Này những kẻ ngu si! Ðó là việc ác, làm não loạn người
phạm hạnh mà bảo là đùa cho vui. Các ông chớ khinh thường
bọn họ. Nếu họ nhập định thì họ có thể dùng sức thần
túc xách các ông ném vào một thế giới khác cho xem. Ðó là
việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng
việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được. Từ nay về sau,
Ta không cho phép làm cho Tỉ kheo khác nghi ngờ, hối hận. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo cố ý làm cho Tỉ kheo khác nghi ngờ, hối hận,
không vui trong giây lát, thì phạm Ba dạ đề. Giải
thích: Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Cố
ý: Trước
hết tạo ra phương tiện. Nghi
ngờ hối hận:
Gồm có bảy việc: 1. Sinh; 2. Yết ma; 3. Hình tướng; 4. Bệnh;
5. Tội; 6. Mạ lỵ; 7. Kiết sử. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. 1.
Sinh: Nói như
sau: "Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới tuổi đủ hai mươi
mới cho thọ giới Cụ túc, ông chưa đủ hai mươi mà thọ
Cụ túc, như thế là không thành thọ Cụ túc". Nói như thế
là nhằm làm cho người kia sinh nghi, thì dù người ấy có
nghi hay không nghi, đều phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là sinh. 2.
Yết ma: Nói
như sau: "Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới một lần bạch
ba lần yết ma, không có người ngăn cản yết ma (thì yết
ma mới thành tựu); thế mà ông bạch không thành tựu, yết
ma không thành tựu, chúng Tăng không thành tựu, tất cả đều
không thành tựu; như vậy là chẳng phải thọ Cụ túc, không
thể gọi là thọ Cụ túc". Nói như vậy là nhằm làm cho người
kia sinh nghi ngờ hối hận, thì dù người ấy có nghi ngờ
hối hận hay không, đều phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là Yết
ma. 3.
Hình tướng:
Nói như sau: "Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới thân thể
hoàn toàn, mới cho thọ Cụ túc; thế nhưng ông lưng cong, đi
lệch đệch, mắt quáng gà, chân quẹo, đầu ngoẹo, răng khểnh,
thân thể không đầy đủ mà thọ Cụ túc, như vậy không
thể gọi là thọ Cụ túc". Nói như vậy là nhằm làm cho người
ấy nghi ngờ hối hận, thì dù người ấy có nghi ngờ hối
hận hay không đều phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là hình tướng. 4.
Bệnh: Nói
như sau: "Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới [378c] người
không bệnh mới cho thọ Cụ túc; thế nhưng ông bị bệnh
ghẻ lở, hoàng đãng, ung thư, bệnh trĩ, bị các bệnh như
thế mà thọ Cụ túc, thì không thể gọi là thọ Cụ túc".
Nói như thế là nhằm làm cho người ấy nghi ngờ hối hận,
thì dù họ có nghi ngờ hối hận hay không, đều phạm Ba dạ
đề. Ðó gọi là bệnh. 5.
Tội: Nói
như sau: "Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới người thanh
tịnh mới cho thọ Cụ túc, thế nhưng ông phạm tội Ba la
di, Tăng già bà thi sa, Ba dạ đề, Ba la đề đề xá ni, Việt
tì ni mà thọ Cụ túc thì không thể gọi là thọ Cụ túc".
Nói như thế là nhằm làm cho người ấy nghi ngờ hối hận,
thù dù họ có nghi ngờ hối hận hay không đều phạm Ba dạ
đề. Ðó gọi là tội. 6.
Mạ lỵ: Nói
như sau: "Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới người hoan
hỉ mới cho thọ Cụ túc, thế nhưng, ông không hoan hỉ, giận
dữ hay chửi mắng mà thọ Cụ túc, thì không thể gọi là
thọ Cụ túc". Khi nói như vậy là nhằm làm cho người ấy
nghi ngờ hối hận, thì dù họ có nghi ngờ hối hận hay không,
đều phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là mạ lỵ. 7.
Kiết sử:
Nói như sau: "Trưởng lão, đức Thế Tôn chế giới người
thông minh trí tuệ mới cho thọ Cụ túc, thế nhưng ông ngu
si vô trí, giống như cục đất, như sừng dê, chim đỗ quyên,
chim hồng hộc, mà thọ Cụ túc, thì không thể gọi là thọ
Cụ túc". Nói như thế là nhằm làm cho người ấy nghi ngờ
hối hận, thì dù họ có nghi ngờ hối hận hay không, đều
phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là kiết sử. Nếu
có người đến muốn xin thọ Cụ túc mà đủ hai mươi tuổi,
thì nên cho thọ Cụ túc. Nếu chưa đủ, thì nên nói: "Ông
hãy đợi đủ hai mươi tuổi đã". Nếu ông ta thọ Cụ túc
một chỗ khác thì không nên nói khiến ông nghi ngờ hối hận,
nếu nói thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
Tỉ kheo (thấy người khác) lúc thọ Cụ túc mà làm yết ma
không thành tựu, thì nên đưa tay lên nói: "Trưởng lão, phép
yết ma của thầy không thành tựu". Nếu khi ấy không nói,
thì sau đó không được nói để cho họ sinh nghi ngờ hối
hận. Nếu nói: "Khi ông thọ Cụ túc, tác bạch không thành
tựu, yết ma không thành tựu, Tăng không thành tựu", thì phạm
tội Việt tì ni. Nếu
có người mắt quáng gà, lưng còng, chân đi khập khiễng,
thân thể không hoàn toàn mà đến xin thọ Cụ túc, thì nên
bảo: "Hãy đợi đã". Nếu họ thọ Cụ túc từ chỗ khác
rồi đến, thì không được nói khiến họ sinh nghi ngờ hối
hận. Nếu nói thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
người bệnh đến xin thọ Cụ túc thì nên nói: "Hãy đợi
đã". Nếu họ đã thọ Cụ túc từ nơi khác rồi đến thì
không được nói khiến cho họ nghi ngờ hối hận. Nếu nói
thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
làm cho Tỉ kheo nghi ngờ hối hận, thì phạm Ba dạ đề. (Nếu
làm cho) Tỉ kheo ni (nghi ngờ hối hận) thì phạm Thâu lan giá. (Nếu
làm cho) Thức xoa ma ni, Sa di, Sa di ni (nghi ngờ hối hận), thì
phạm tội Việt tì ni. (Nếu
làm cho) người thế tục (nghi ngờ hối hận), thì phạm tội
Việt tì ni tâm niệm sám hối. [379a]
Thế nên nói (như trên). 60.
GIỚI: Y CHO RỒI, LẤY LẠI MẶC. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
nhóm sáu Tỉ kheo thường thường thay y, trước bữa ăn mặc
chiếc khác, sau bữa ăn lại mặc chiếc khác. Phật biết nhưng
vẫn hỏi: -
Ðó là những y nào vậy? -
Ðó là y tịnh thí của con. -
Vì sao y đã tịnh thí cho người ta mà không xả, còn làm thành
ba y để sử dụng? Từ nay trở đi, Ta không cho phép y tịnh
thí không xả mà sử dụng. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo đã cho y cho Tỉ kheo, Tỉ kheo ni, Thức xoa ma ni,
Sa di, Sa di ni, sau đó không xả mà sử dụng, thì phạm Ba dạ
đề. Giải
thích: Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Cho:
Ðã tịnh thí cho năm loại người. Không
xả: Sau đó
không xả bỏ. Sử
dụng: Nếu
làm ba y để sử dụng, thì phạm Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ kheo có nhiều y mà quên không nhớ thì nên lấy hết tất
cả y ấy để dồn một chỗ, rồi nói như sau để xả: "Những
chiếc y Này tôi tịnh thí cho mỗ giáp, mỗ giáp sẽ để tôi
tùy ý sử dụng; nay tôi xả tất cả". Nhưng nếu là ba y thì
phải xả riêng từng cái, nói như sau: "Y Tăng già lê Này thuộc
trong số ba y của tôi mà trước đây tôi sử dụng, nay tôi
xả nó. Y Tăng già lê Này (một cái khác) thuộc trong số ba
y của tôi, nay tôi sử dụng. Y Uất đa la tăng Này thuộc trong
số ba y của tôi trước đây tôi sử dụng, nay tôi xả nó.
Y Uất đa la tăng Này (một cái khác) thuộc trong số ba y của
tôi, nay tôi sử dụng. Y An đà hội Này thuộc trong số ba
y của tôi, trước đây tôi sử dụng, nay tôi xả nó. Y An
đà hội Này (một cái khác) thuộc trong số ba y của tôi nay
tôi sử dụng. Ðây là ba y của tôi, tôi luôn giữ gìn, ban
đêm không rời chúng." Ngoài
ra những tấm vải khác dài chừng hai khuỷu tay, rộng chừng
một khuỷu tay trở lên đều phải tịnh thí tất cả. Phép
tịnh thí nên nói như sau: "Thưa trưởng lão, đây là y dư
của tôi, tôi xin tịnh thí cho mỗ giáp, mỗ giáp sẽ để
tôi tùy ý sử dụng. Nếu gặp những dịp như giặt, nhuộm,
vá y thì tôi sẽ sử dụng". Khi dùng xong, tịnh thí xong thì
phải đem móc trên giá y, và hằng ngày thường phải ghi nhớ.
Nếu quên, thì phải bảo đệ tử đồng hành, đệ tử y chỉ:
"Ðây là ba y của ta, ngươi phải giúp ta để ghi nhớ hằng
ngày". Nếu không có đệ tử thì nên viết chữ ở chéo y.
Nếu tự thân đối diện tịnh thí mà không xả, lại sử
dụng, thì phạm Ba dạ đề. Nếu không đối diện mà tự
nói tịnh thí, rồi không xả mà sử dụng, thì phạm tội
Việt tì ni. Nếu đối diện với người khác tịnh thí mà
không xả, lại sử dụng, [379b] thì phạm Ba dạ đề. Lại
nữa, (nếu có y dư) đem tịnh thí cho người khác mà không
xả, lại sử dụng, thì phạm Ba dạ đề. Nếu không biết
y (của mình) thì phạm tội Việt tì ni. Nếu không có ba y
thì phạm tội Việt tì ni. Lúc thì xả, lúc thì dùng, phạm
tội Việt tì ni. Nếu không xả mà đem làm ba y để sử dụng,
thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu không xả mà đem dùng cho việc
của tháp, của Tăng rồi cho người khác, thì phạm tội Việt
tì ni. Không nên đối diện nói tịnh thí mà nên nói tịnh
thí gián tiếp với người khác. Thế nên nói (như trên). 61.
GIỚI: GIẤU VẬT DỤNG CỦA NGƯỜI KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
nhóm sáu Tỉ kheo, trước bữa ăn, lấy Tăng già lê của người
nọ, lấy bát của người kia đem giấu chỗ khác. Khi đến
giờ khất thực, vị Tỉ kheo nọ định vào thôn xóm bèn tìm
Tăng già lê, thì không có. Lại có một Tỉ kheo khác đi tìm
bát cũng không có. Thầy Tỉ kheo mất y liền hỏi các Tỉ
kheo: "Các trưởng lão, ai lấy Tăng già lê của tôi đi đâu
rồi?". Người mất bát thì hỏi: "Ai lấy bát của tôi đi
đâu rồi?". Lúc ấy, nhóm sáu Tỉ kheo liền cười, nói: "Trưởng
lão, Tăng già lam Này rộng lớn, thầy hãy đi tìm xem". Thầy
ấy liền đi tìm hồi lâu mà không có. Nhóm sáu Tỉ kheo liền
nói: "Trưởng lão, cho tôi một vật gì đi, tôi sẽ tìm giúp
cho ông". Nghe nói thế, thầy biết là ông ta đã lấy giấu.
Sau khi ăn, họ lại giấu tọa cụ và ống đựng kim. Khi ăn
xong, các Tỉ kheo muốn vào trong rừng ngồi thiền, đi tìm
tọa cụ nhưng không có, bèn hỏi: "Trưởng lão, ai lấy tọa
cụ của tôi đi đâu rồi?". Lại có Tỉ kheo khác cũng hỏi:
"Ai lấy ống đựng kim của tôi đi đâu rồi?". Nhóm sáu Tỉ
kheo bèn cười, nói: "Trưởng lão, Tăng già lam Này rộng lớn,
thầy hãy đi tìm khắp nơi xem". Thầy ấy liền đi tìm hồi
lâu mà không có. Nhóm sáu Tỉ kheo lại nói: "Ông cho tôi một
vật gì tôi sẽ tìm giúp cho ông". Nghe nói thế, thầy biết
là họ đã lấy giấu. Do đó, các Tỉ kheo bèn đem sự việc
ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm sáu
Tỉ kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi đầy đủ
sự việc trên: -
Các ông có việc đó thật chăng? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Tại sao như vậy? -
Ðể đùa cho vui vậy mà. -
Này những kẻ ngu si, đó là việc ác, làm não loạn các bậc
phạm hạnh mà bảo là đùa cho vui à? Ðó là việc phi pháp,
phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc đó để
nuôi lớn Thiện pháp được. Từ nay về sau, Ta không cho phép
vì vui đùa mà cất giấu y, bát, tọa cụ, ống đựng kim của
người khác. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo lấy giấu y bát, tọa cụ, ống đựng kim của
người khác, dù là để vui đùa, thì phạm Ba dạ đề. Giải
thích: Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Y:
Gồm có bảy loại. Bát:
Như bát bằng đất, bát bằng sắt, chúng được chia thành
ba loại: thượng, trung và hạ. Tọa
cụ: Như Thế
Tôn đã cho phép dùng. Ống
đựng kim:
Trong ống có kim. [379c]
Giấu:
Hoặc tự mình giấu, hoặc bảo người khác giấu, dù là để
vui đùa, đều phạm Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Trong
ba y, nếu giấu một y nào đó, thì phạm Ba dạ đề. Nếu
giấu tăng kì chi và các y khác thì phạm tội Việt tì ni. Trong
ba loại bát, nếu giấu một cái nào đó, thì phạm Ba dạ
đề. Nếu giấu bát nhỏ, hoặc đồ đựng khác, thì phạm
Việt tì ni. Nếu
giấu tọa cụ thì phạm Ba dạ đề. Nếu giấu những vật
trải ngồi khác, thì phạm tội Việt tì ni. Trong
trường hợp giấu ống đựng kim mà có kim trong đó, thì phạm
Ba dạ đề. Nếu không có kim, thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
có kim, chỉ thì phạm Ba dạ đề. Nếu không có kim, chỉ thì
phạm tội Việt tì ni. Nếu có kim chỉ, nhưng mở chỉ ra lấy
giấu thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
vì đùa vui mà giấu y của Tỉ kheo thì phạm Ba dạ đề; giấu
y của Tỉ kheo ni thì phạm Thâu lan giá; giấu y của Thức
xoa ma ni, Sa di, Sa di ni thì phạm tội Việt tì ni. Sau cùng,
nếu giấu y của người thế tục thì phạm tội Việt tì
ni tâm niệm sám hối. Thế nên nói (như trên). 62.
GIỚI: HÙ NHÁT TỈ-KHEO KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
nhóm sáu Tỉ kheo từ trong thiền phòng đứng dậy đi đến
một chỗ khuất đứng núp, rồi vểnh tai, nhăn mặt, trợn
mắt, le lưỡi, giả tiếng kêu âu âu nhát nhóm mười sáu
Tỉ kheo trẻ. Nhóm mười sáu Tỉ kheo trẻ nghe thế kinh hãi
cất tiếng khóc thét lên. Phật biết nhưng vẫn hỏi (các
Tỉ kheo): "Ðó là tiếng khóc của trẻ con nào thế?". Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn.
Phật liền bảo đi gọi nhóm sáu Tỉ kheo đến. Khi họ đến
rồi, Phật liền hỏi: -
Các ông có việc đó thật chăng? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Vì sao như vậy? -
Vì muốn đùa cho vui. -
Này những kẻ ngu si, đó là việc ác; làm não loạn bậc phạm
hạnh mà bảo là đùa cho vui. Các ông chớ khinh thường bọn
họ. Nếu họ nhập thiền định thì họ có thể dùng thần
lực xách các ông ném vào một thế giới khác đấy. Ðó là
việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng
việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo khủng bố Tỉ kheo khác thì phạm Ba dạ đề. Giải
thích: Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Khủng
bố: Nếu
dùng sắc, thanh, hương, xúc (để khủng bố) thì phạm Ba dạ
đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. 1.
Sắc: Nếu
đứng núp tại chỗ tối, vểnh tai, nhăn mặt, trợn mắt,
le lưỡi cho đến cong một ngón tay, kêu tiếng âu âu để
hù nhát thì dù người kia có sợ hay không sợ, đều phạm
Ba dạ đề. Ðó gọi là sắc (dùng tướng trạng) 2.
Thanh: Nếu
dùng các thứ tiếng như tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng lừa,
hoặc kêu một hơi dài, hoặc chợt kêu, chợt nín, cho đến
[380a] kêu tiếng vo ve để hù nhát, thì dù người kia có sợ
hay không sợ đều phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là thanh (dùng
tiếng kêu). 3.
Hương: Nếu
nói: "Trưởng lão, trong đó có hơi của rắn, hơi của Phú
đơn na, hơi của bò cạp", dùng các hình thức như vậy nói
để hù nhát người kia, thì dù người ấy có sợ hay không
sợ đều phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là hương (hơi). 4.
Xúc: Gồm
có các thứ: nóng, lạnh, nhẹ, nặng, trơn, nhám. -
Nóng: Nếu dùng lửa hoặc ánh nắng mặt trời hơ nóng y, bát,
tô, ổ khóa rồi đem áp vào thân người kia, nói như sau: "Trưởng
lão, lửa cháy, lửa cháy", làm như vậy khiến cho người kia
sợ, thì dù họ có sợ hay không, đều phạm Ba dạ đề. Ðó
gọi là nóng. -
Lạnh: Nếu dùng quạt, dùng y mà quạt, hoặc rưới nước,
rồi nói: "Trưởng lão, mưa tuyết, mưa tuyết", làm như vậy
để hù nhát người kia, thì dù người ấy có sợ hay không,
đều phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là lạnh. -
Nặng: Nếu dùng gốc cây nặng hoặc cán cờ đè lên người
kia rồi nói như sau: "Trưởng lão, tường ngã, tường ngã";
làm như vậy để khủng bố người kia, thì dù họ có sợ
hay không, đều phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là nặng. -
Nhẹ: Nếu dùng những cái y mỏng nhẹ trùm lên người kia,
nói như sau: "Trưởng lão, mây rơi, mây rơi"; làm như vậy
để khủng bố người kia, thì dù họ có sợ hay không đều
phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là nhẹ. -
Trơn: Nếu dùng cộng hoa súng, cộng hoa Câu mâu đầu, cộng
hoa tu kiền đề, hoặc cái then cửa chạm vào thân người
kia, rồi nói như sau: "Trưởng lão, con rắn, con rắn", để
khủng bố người ấy, thì dù họ có sợ hay không, đều phạm
Ba dạ đề. Ðó gọi là trơn. -
Nhám: Nếu dùng cộng hoa ưu đầu ma, cộng hoa phân đà lợi
chạm vào thân người kia, rồi nói như sau: "Trưởng lão, đây
là con rít", nhằm khủng bố người ấy, thì dù họ có sợ
hay không, đều phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là nhám. Nếu
khủng bố Tỉ kheo thì phạm Ba dạ đề; khủng bố Tỉ kheo
ni thì phạm Thâu lan giá; khủng bố Thức xoa ma ni, Sa di, Sa
di ni thì phạm tội Việt tì ni. Sau cùng, nếu khủng bố người
thế tục thì phạm tội Việt tì ni tâm niệm sám hối. Thế
nên nói (như trên). 63.
GIỚI: ÐÙA GIỠN TRONG NƯỚC. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, được chư thiên và người
đời cúng dường rất nhiều phẩm vật. Bấy giờ, trong thành
Xá Vệ có hai chị em người kia, (một người) đang mang thai
mà chưa sinh, vì có lòng tin nên xuất gia tu hành. Các Tỉ kheo
ni trông thấy tướng bụng của cô như thế, liền đuổi đi,
rồi đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy
rằng mang thai ở nhà thì không có tội. Thế rồi, Tỉ kheo
ni Này sau đó sinh một bé trai, bèn đặt tên là Ðồng Tử
Ca Diếp. Ðến năm tám tuổi, cậu bé ấy xuất gia tu hành,
thành A la hán. Rồi ông cùng với nhóm mười sáu Tỉ kheo mỗi
người đều mang thau tắm ra sông A kì la xuống nước tắm.
Họ nằm sấp, nằm ngửa, bơi qua, bơi lại đùa giỡn [380b],
tát nước mà tắm. Khi
ấy, vua Ba Tư Nặc đang đứng trên lầu nhìn xem bốn phương,
thấy sự việc như thế càng sinh bất tín, vì lúc này vua
chưa tin Phật pháp, liền nói với phu nhân Mạt lợi: "Hãy
xem phước điền mà ái khanh phụng sự kia kìa". Vì phu nhân
thâm tín không nghi, nên không ngoái đầu lại xem, liền đáp:
"Tâu Ðại vương, có lẽ là họ xuất gia còn trẻ, mới thọ
Cụ túc nên chưa am tường giới luật, hoặc là đức Thế
Tôn chưa chế giới ấy, nên mới như thế". Vua bèn nói với
phu nhân: "Ví như khi gia trưởng nói thì quyến thuộc phải
nghe theo; khi Hòa thượng A xà lê nói thì đệ tử nghe theo;
khi Sa môn Cù đàm nói thì đệ tử đều đáp: "Như vậy đó
Thế Tôn, như vậy đó Thiện Thệ". Thế mà trẫm nói với
khanh, khanh không ngoái lại xem". Lúc ấy, tôn giả Ðồng Tử
Ca Diếp đang nhập vào mức chót của Thiền thứ tư, dùng
Thiên nhĩ nghe được tiếng nói của nhà vua, liền bảo các
Tỉ kheo bạn: "Các trưởng lão, vua đang sinh tâm bất tín và
phu nhân Mạt Lợi thì lòng không vui, giờ đây chúng ta hãy
làm cho họ phát tâm hoan hỉ". Thế rồi, tất cả đều nói:
"Lành thay", rồi mỗi người đều dùng thau múc đầy thau nước
để trước mặt sắp hàng ngồi kiết già đi trên hư không
ngang qua trên điện của vua. Bấy giờ, phu nhân Mạt Lợi đang
ngồi ngoài trời, thấy bóng của họ chiếu xuống, liền ngước
lên xem, trông thấy họ đang ngồi kiết già theo thứ tự,
trước mặt đều đặt thau nước tắm mà đi trên hư không,
giống như đàn nhạn chúa, khiến tâm bà rất hoan hỉ, liền
tâu với vua: "Ðại vương hãy xem, phước điền của nhà thiếp
thần đức như thế đó". Vua thấy thế rồi, lòng rất hoan
hỉ, liền nói: "Lành thay! Trẫm được Thiện lợi, mong Thế
Tôn cùng các Tỉ kheo sống suốt đời trong nước của trẫm,
để làm phước điền tốt nhất". Các
Tỉ kheo vì trước đó nghe vua nhạo báng, nên đem nhân duyên
ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo đi gọi nhóm
mười sáu Tỉ kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi
đầy đủ sự việc trên: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Nay Ta phạt các ngươi; nhân việc các ngươi Ta phải chế giới
cho các Tỉ kheo. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo đùa giỡn trong nước thì phạm Ba dạ đề. Giải
thích: Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Nước:
Gồm có mười loại. Ðùa
giỡn: Nếu
nhảy, lội, bơi qua lại, lặn xuống, trồi lên, quạt nước,
tạt nước, xối nước thì phạm Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. -
Nhảy: Vì
đùa giỡn mà nhảy xuống nước thì phạm Ba-dạ-đề. Nhưng
nếu đi trên bờ mà bị ngã xuống nước, hay đi trên thuyền
mà va nhằm cây đá trên bờ [380c] bị rơi xuống nước thì
không có tội. Ðó gọi là nhảy. -
Lội: Nếu
vì đùa giỡn mà lội nước thì phạm Ba dạ đề. Nhưng nếu
đang đi đường phải lội nước, hoặc kéo vật gì qua sông,
hoặc có công việc của Tăng, của tháp ở bên kia bờ nên
phải thường qua lại để giải quyết, hoặc vì muốn tập
bơi (mà lội nước) thì không có tội. -
Bơi qua lại:
Nếu vì đùa giỡn mà bơi qua lại dưới nước thì phạm Ba
dạ đề. Nhưng nếu vì để quên vật gì ở bên kia bờ mà
phải bơi qua để lấy, thì không có tội. -
Lặn xuống:
Nếu vì đùa giớn mà lặn xuống nước thì phạm Ba dạ đề.
Nhưng nếu bát, tô chén, ống đựng kim, các vật khác bị
rơi xuống nước nên phải lặn xuống lấy, thì không có tội.
Hoặc vì tắm rửa mà phải lặn trong nước, thì không có
tội. -
Trồi lên:
Nếu vì đùa giớn mà xuống nước rồi trồi lên khỏi nước
thì phạm Ba dạ đề. Nhưng nếu lấy vật thì không có tội. -
Quạt nước:
Nếu vì đùa giỡn mà quạt nước thì phạm Ba dạ đề. Nhưng
nếu nước ở trên mặt nóng, muốn lấy nước mát nên phải
quạt nước ở trên để lấy nước ở dưới, thì không có
tội. -
Tạt nước:
Nếu vì đùa giỡn mà tạt nước thì phạm Ba dạ đề. Nhưng
nếu trên mặt nước có lăng quăng nên phát, tạt nước để
chúng lặn xuống mà lấy nước không có trùng, thì không có
tội. -
Xối nước:
Nếu vì đùa giỡn mà lấy nươc từ dưới sông đổ lên bờ
thì phạm tội Việt tì ni. Hoặc đổ nước từ trên bờ xuống
sông cũng phạm tội Việt tì ni. Nhưng nếu lấy nước dưới
sông đổ lại xuống sông thì phạm Ba dạ đề. Nếu lấy
nước từ trên đất đổ xuống đất, thì phạm tội Việt
tì ni. Nếu Tỉ kheo bị cảm gió, lể đầu lấy máu khiến
bị hôn mê, hoặc bị bệnh nhiệt mà hôn mê nên phải dùng
nước lạnh rưới lên đầu thì không có tội. Nếu trên thức
ăn của Tỉ kheo bị Sa di quấy phá (viết bậy bạ), sợ người
thế tục sinh tâm bất tín, nên thầy tri sự lấy nước xối
đi, thì không có tội. Ðó gọi là xối nước. Nếu
khi tắm cho Hòa thượng, A xà lê mà lấy nước vẽ trên lưng
các ngài thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
vì đùa giỡn mà viết chữ trên bát, tô, chén dùng đựng
thức ăn của Tỉ kheo thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
khi rửa chân mà dùng nước vẽ lên cây hay trên ang, trên thạp,
thì cứ mỗi chỗ vẽ phạm mỗi tội Việt tì ni. Nếu
dùng ngón tay búng trong nước thành tiếng thì phạm tội Việt
tì ni. Nếu
lấy nước vung lên trên không rồi đưa tay hứng lấy, thì
phạm tội Việt tì ni. Thế nên nói (như trên). 64.
GIỚI: CHỈ CHỎ LẪN NHAU. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
vào các ngày chay mồng tám, 14, 15, Tỉ kheo đi đến chỗ Phật,
cúi đầu đảnh lễ thăm hỏi. Lúc ấy, nhóm mười sáu Tỉ
kheo đang ngồi tại một chỗ cách Phật không xa, nên Tỉ kheo
ni Ưu Bát La và Sa di ni Chi Lê cũng đến đảnh lễ thăm hỏi
họ. Thế rồi, vì tuổi trẻ thích vui nên các cô lại ngồi
gần chỗ các Tỉ kheo, nhưng do ngồi không ngay ngắn, các Tỉ
kheo thấy thế [381a] bèn chỉ chỏ nhau mà cười. Ngay khi ấy
có một Bà la môn xấu xí lưng gù, chân quẹo dẫn theo cô
vợ trẻ, thấy các Tỉ kheo cười, liền suy nghĩ: "Chắc là
các Tỉ kheo Này thấy ta xấu xí mà dẫn theo một bà vợ đoan
chánh nên cười ta chớ gì!", bèn nổi giận, nói: "Các Sa môn
Thích tử không biết phép tắc nên dựa vào hình tướng mà
cười ta". Các Tỉ kheo liền đáp: "Chúng tôi không cười ông".
Bà la môn nói: "Không phải thế, chính là đang cười tôi".
Nói thế xong, ông liền đi đến chỗ Phật, nói như sau: "Kỳ
thay Cù đàm, Sa môn Thích tử không biết phép tắc, thấy tôi
xấu xí mà dẫn theo một người vợ đoan chính nên dựa vào
hình tướng mà cười tôi". Phật bèn tùy thuận thuyết pháp
cho ông Bà la môn, chỉ cho những điều lợi ích, vui vẻ, khiến
ông hoan hỉ mà ra đi. Khi ông đi rồi, Phật liền bảo gọi
nhóm mười sáu Tỉ kheo đến. Lúc họ tới, Phật bèn hỏi: -
Có người Bà la môn rất xấu xí mà dẫn theo một người
vợ đoan chính, các ông thấy thế nên cười họ phải không? -
Bạch Thế Tôn, chúng con không cười ông Bà la môn. -
Vậy thì các ông cười ai? -
Bạch Thế Tôn, vào ngày chay, Tỉ kheo ni Ưu Bát La và Sa di
ni Chi lê đến chỗ chúng con, rồi ngồi không đoan chính, chúng
con thấy thế chỉ cho nhau xem, do thế mà cười vậy. -
Các cô Ni ngồi không đoan chánh thì các ông phải dùng phương
tiện làm cho họ đứng dậy, chứ sao lại cười? Nay Ta phạt
các ông; nhân việc Này mà ta chế giới cho các đệ tử. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo dùng ngón tay chỉ chỏ nhau thì phạm Ba dạ đề. Giải
thích: Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Nếu
dùng một ngón tay chỉ thì phạm Ba dạ đề; cho đến dùng
năm ngón mà chỉ thì cũng như vậy; hoặc dùng tất cả ngón
tay cũng phạm Ba dạ đề. Nếu dùng nắm tay chỉ thì phạm
Thâu lan giá. Nếu dùng khúc cây, cành tre chỉ thì phạm tội
Việt tì ni. Nếu Tỉ kheo cãi lộn rồi dùng tay chỉ nhau thì
phạm Ba dạ đề. Nếu
Tỉ kheo trực nguyệt (được phân công làm việc trong tháng),
hoặc làm tri sự, sai người ta dọn cơm, dùng ngón tay chỉ
nói: "Mỗ giáp, hãy đi dọn cơm", thì phạm Ba dạ đề. Nếu
cầm cành tre hoặc khúc cây chỉ, thì phạm tội Việt tì ni;
chỉ nên nói: "Mỗ giáp, hãy đi dọn cơm." Nếu
Sa di nằm ngủ, muốn gọi dậy, thì nên khảy móng tay mà gọi.
Nếu không dậy, thì nên dùng ngón tay nắm áo kéo cho thức
dậy. Nếu
các Tỉ kheo ngồi tại nhà thế tục, có Tỉ kheo ngớ ngẩn
ngồi không ngay ngắn thì nên nói: "Ông hãy ngồi cho ngay ngắn".
Nếu ông ta không hay thì nên nói: "Hãy sửa lại y phục ông
cho ngay ngắn". Nếu cũng không hay nữa thì nên bảo: "Này kẻ
ngớ ngẩn hãy che kín thân thể của ông". Nếu
Tỉ kheo đến ngồi tại tinh xá của Tỉ kheo ni, Tỉ kheo ni
đảnh lễ chân Tỉ kheo, rồi ngồi trước Tỉ kheo mà không
ngay ngắn, [381b] thì không nên nhắc nhở làm cho họ hổ thẹn,
mà nên bày phương tiện bảo họ đứng dậy đi lấy vật
gì. Nếu
Tỉ kheo ngồi tại nhà đàn việt, phụ nữ đến đảnh lễ
chân Tỉ kheo, rồi ngồi trước Tỉ kheo mà không ngay ngắn,
thì không nên nói làm cho họ xấu hổ, mà nên dùng phương
tiện sai họ đi lấy một vật gì. Nếu
dâm nữ đến bỡn cợt để thử thách Tỉ kheo nên ngồi không
đoan chánh, thì không nên nói mà chỉ nên lánh đi. Thế nên
nói (như trên).
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||