THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirror site
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
x
Đại Tạng Số 1425
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
x
Quyển Thứ Mười Tám (Tiếp Theo)

49. GIỚI: UỐNG NƯỚC CÓ SINH TRÙNG.

Khi Phật ở tại Tì xá li, nói rộng như trên. Bấy giờ, tôn giả Ưu đà di đi đường, thấy khát nước đến cực độ, liền vào trong thôn, tới một cô gái, hỏi: "Này chị, chị cho tôi ít nước". Cô gái ấy bèn lấy nước đưa cho, nhưng trong nước có trùng, Ưu đà di thấy vậy, liền suy nghĩ: "Ta chỉ uống chỗ không có trùng này thôi". Nhưng khi uống trùng theo nước vào miệng. Khi uống xong, thầy sinh nghi, bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật khiển trách: "Vì sao ông biết nước có trùng mà uống? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. Từ nay về sau, nếu biết nước có trùng thì không được uống".

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có hai Tỉ kheo ở nước Ba la chi phương Nam cùng kết bạn, đến Xá Vệ vấn an Thế Tôn. Giữa đường bị đói khát mà không có nước uống nên họ đi đến một cái giếng. Lúc ấy, một Tỉ kheo múc nước lên, liền uống. Còn Tỉ kheo kia thấy nước có trùng nên không uống. Tỉ kheo uống nước có trùng hỏi Tỉ kheo bạn: "Vì sao thầy không uống?". [373a] Thầy ấy đáp: "Ðức Thế Tôn chế giới không được uống nước có trùng mà nước này có trùng nên tôi không uống". Tỉ kheo uống nước bèn khuyên: "Trưởng lão, thầy hãy uống nước chớ để chết khát mà không thấy Phật". Thầy đáp: "Thà tôi mất mạng chớ không hủy giới của Phật". Nói thế xong, thầy liền chết vì khát nước.

Thầy Tỉ kheo uống nước dần dần đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật rồi đứng hầu một bên. Phật biết nhưng vẫn hỏi:

- Tỉ kheo, ông từ đâu đến?

- Con từ nước Ba la chi đến.

- Này Tỉ kheo, ông có bạn không?

- Chúng con hai người cùng kết bạn, nhưng đi được nửa đường thì bị đói khát mà không có nước, chúng con đến một cái giếng, nước giếng có trùng, con liền lấy uống. Nhờ có sức nước mà con được hầu cận Thế Tôn. Còn thấy kia giữ giới không uống, nên đã chết vì khát nước.

- Này kẻ ngu si, ông không thấy Ta mà tưởng rằng được thấy Ta. Còn Tỉ kheo chết kia thì đã thấy Ta trước rồi. Nếu Tỉ kheo phóng túng biếng nhác, không thu nhiếp các căn thì dù ở với Ta một chỗ, nhưng Tỉ kheo ấy cách Ta rất xa. Tuy ông ấy thấy Ta nhưng ta không thấy ông ấy. Trái lại, nếu Tỉ kheo sống nơi góc biển chân trời mà không phóng dật, siêng năng không biếng nhác, thu nhiếp các căn, thì tuy cách xa Ta mà Ta thường thấy người ấy và người ấy thường gần Ta.

Thế rồi, Phật nói với Tỉ kheo (đang diện kiến): "Ðó là việc ác, phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được. Từ nay về sau, biết nước có trùng thì không được uống". Ðoạn, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ kheo biết nước có trùng mà uống thì phạm Ba-dạ đề.

Giải thích:

Tỉ kheo: Như trên đã nói.

Biết: Hoặc tự biết, hoặc nghe người khác mà biết.

Trùng: Không phải là cá, rùa, thất thâu (?), ma la (?) mà là các côn trùng nhỏ bé như con quăng quăng, cho đến những loài có hình thù cực nhỏ mà mắt thấy được, đều gọi là trùng.

Nước: Gồm có mười loại như trên đã nói.

Uống: Nước vào đến bụng (thì gọi là uống).

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

Tỉ kheo thọ Cụ túc rồi cần phải sắm đãy lọc nước và phải tắm rửa đúng pháp. Khi đi đâu, Tỉ kheo phải đem theo đãy lọc nước. Nếu không có thì tối thiểu phải dùng một góc y Uất đa la tăng (để lọc). Khi nhìn vào nước, không nên dùng thiên nhãn để xem, cũng không được bảo người mắt thong manh xem, tối thiểu là nhờ người có thể thấy những đường chỉ nhỏ nhất trong bàn tay để xem. Khi nhìn vào nước không nên nhìn qua loa mà phải chú ý xem, không được quá mau, không được quá chậm mà phải bằng thời gian con voi lớn quay mình lại, hay chiếc xe chở tre trở đầu . Nước không trùng thì nên dùng, nếu nước có trùng thì nên lọc mà dùng. Nước có [373b] ba lớp: dưới, giữa, trên. Nếu phần dưới không trùng mà phần giữa và trên có trùng thì nên lấy phần nước không có trùng ở dưới mà dùng. Nếu phần nước ở giữa không có trùng, còn phần trên và phần dưới có trùng thì nên lấy phần nước ở giữa mà dùng. Nếu phần trên không có trùng thì nên lấy phần nước trên mà dùng. Nếu phần trên có trùng thì nên dùng tay vỗ nước để cho trùng lặn xuống đáy, rồi lấy nước dùng. Nếu cả ba phần đều có trùng, thì lúc ấy nên lọc nước mà dùng. Nếu trong nước có trùng quá vi tế thì không được dùng rửa tay rửa mặt và dùng dội cầu khi đại tiểu tiện.

Nếu nhà đàn việt mời Tỉ kheo thọ trai, thì khi ấy nên hỏi: "Ngươi đã lọc nước chưa?". Nếu đáp: "Chưa lọc", thì nên xem xét người đang đối diện mà tin tưởng được, khi ấy hãy bảo họ lọc nước. Nếu xét người ấy không đáng tín thì không nên sai họ lọc, kẻo sẽ sát hại côn trùng, Tỉ kheo nên tự lọc rồi dùng. Thế rồi, nên đổ nước có trùng ấy vào trong tô của mình, rồi hỏi xem họ lấy nước ở đâu, để mình đem nước có trùng ấy đổ lại chỗ cũ. Nếu chỗ đã lấy nước trước kia ở xa, mà gần đó thấy có hồ nước trải qua bảy ngày không khô cạn, thì được đem nước có trùng kia đổ vào trong hồ đó. Nếu không có hồ nước, thì phải múc nước đổ thêm đầy tô để nuôi chúng. Rồi đợi khi trời mưa to, có đường nước chảy mạnh, ta sẽ đem tô nước có trùng kia đổ vào trong đó, và chú nguyện rằng: "Ngươi hãy vào trong biển lớn nhé!"

Nếu Tỉ kheo đang đi giữa đường mà khát nước cần uống, thì khi đến giếng lấy nước phải xem kỹ, không có trùng thì được uống, có trùng thì phải lọc sạch rồi mới uống, như phương pháp ở trên. Nếu biết nước có trùng thì không được đem đổ vào trong thùng. 

Nếu đem nước mình múc dưới hồ cho ai thì khi rót ra phải xem kỹ rồi mới đưa. 

Nếu thấy nước có trùng thì không được la lên: "Trưởng lão, nước này có trùng, có trùng", khiến cho người ấy sinh nghi, không vui. 

Nếu người đó hỏi: "Nước này có trùng không?", thì nên đáp: "Trưởng lão tự xem lấy". Nếu người đó là bạn tri thức cùng Hòa thượng, A xà lê thì nên nói: "Nước này có trùng, nên lọc rồi mới dùng".

Tóm lại, nếu nước có trùng mà tưởng là không trùng rồi dùng thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu nước không trùng mà tưởng là có trùng (rồi dùng) thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu nước có trùng mà tưởng là có trùng rồi dùng, thì phạm tội Ba dạ đề.

Nếu nước không có trùng, tưởng là không có trùng rồi dùng, thì không có tội.

Thế nên nói (như trên).

50. GIỚI: CHO TU SĨ NGOẠI ÐẠO ÐỒ ĂN.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, tôn giả A Nan có tên tốt đầy đủ, tánh tốt đầy đủ, gia thế tốt đầy đủ. Vì đầy đủ ba việc ấy nên được người đời quí trọng. Mỗi khi đến ngày lành (tốt), như về nhà mới, cưới hỏi, xỏ lỗ tai, thì người ta mời A Nan trước hết. Bữa nọ, một nhà kia mời tôn giả A Nan thọ trai, thì có một người ngoại đạo xuất gia da đen, mắt xanh, bụng bự đến chỗ A Nan xin thức ăn. A Nan [373c] liền cho đồ ăn. Ông ta dùng tay vốc cơm mà ăn, ăn xong lại dùng tay chùi trên mình rồi đi. Lại có một ngoại đạo khác đến hỏi ông ta: "Ông được thức ăn ở đâu vậy?"

Ông đáp: "Tôi được thức ăn từ ông cư sĩ trọc đầu này đây". 

A Nan nghe lời nói ấy, lòng không vui, nên sau đó có người đến xin thì thầy không cho. Ðoạn, thầy đem sự việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật bèn nói với A Nan: "Người này không biết tri ân. Từ nay trở đi, Ta không cho phép Tỉ kheo tự tay cho thức ăn cho người xuất gia thuộc ngoại đạo lõa thể".

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, đức Thế Tôn cứ bốn tháng cạo tóc một lần. Người đời nghe Phật cạo tóc bèn dâng các thức cúng dường. Khi ấy, gặp lúc đói kém nên có năm trăm người thường theo Thế Tôn xin thức ăn thừa. Phật hỏi A Nan có thức ăn thừa không, thầy đáp: "Có bánh". 

Phật bảo: "Hãy chia cho những người khất thực". 

A Nan liền phân phát mỗi người một cái. Trong số đó có một phụ nữ ngoại đạo xuất gia, lúc A Nan cầm bánh cho cô thì có hai cái dính vào nhau. Những người được bánh bèn quây quần ăn tại một chỗ, rồi phát biểu: "Thứ bánh này ngon tuyệt, chỉ hiềm là ít quá, được có mỗi một cái!". Người được hai cái liền nói: "Tôi được hai cái". 

Người được một cái nói: "A Nan sẽ là chồng cô chăng vì sao lại chỉ cho riêng cô hai cái?".

A Nan nghe thế không vui, liền đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: "Từ nay trở đi, Ta không cho phép Tỉ kheo tự tay cho thức ăn cho nam nữ xuất gia thuộc ngoại đạo lõa thể".

Rồi các Tỉ kheo liền bạch với Phật: "Vì sao kẻ ngoại đạo đó không biết tri ân?". 

Phật dạy: "Không những ngày nay không biết tri ân mà trong quá khứ cũng đã từng như thế, như trong kinh Bản Sinh Di Hầu đã nói rõ.". Ðoạn, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ kheo tự tay cho thức ăn cho nam nữ xuất gia thuộc ngoại đạo lõa thể thì phạm tội Ba dạ đề.

Giải thích:

Tỉ kheo: Như trên đã nói.

Lõa thể (không có y phục): Hoặc (người) không có y đi vào, người có y đi ra; hoặc người có y đi vào, người không có y đi ra, hoặc người có y đi vào, người có y đi ra; hoặc người không có y đi vào rồi người không có y đi ra (?)

Xuất gia: Chỉ cho ngoại đạo xuất gia như Bất lan ca diếp, cho đến Ni Kiền Tử.

Tự tay: Hoặc cho bằng tay nhận bằng tay, hoặc cho bằng bát nhận bằng bát. 

Thức ăn: Gồm năm loại thức ăn chính và năm loại thức ăn tạp. Nếu cho các loại thức ăn ấy thì phạm Ba dạ đề.

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

Nếu cha mẹ anh em chị em của Tỉ kheo xuất gia theo ngoại đạo, Tỉ kheo cũng không được tự tay [374a] cho thức ăn, mà nên bảo tịnh nhân đưa cho. Nếu không có tịnh nhân thì nên bảo họ tự lấy thức ăn. Nếu sợ ngoại đạo khác ăn hết thì nên bảo họ đưa cho mình cái bát rồi mình tùy ý sớt thức ăn, đoạn, đặt trên giường, ghế, hoặc trên đất rồi nói: "Người tự lấy ăn". 

Nếu người ngoại đạo quyến thuộc ấy trách như sau: "Nay ngươi tiếp ta theo cách của Chiên đà la", thì Tỉ kheo nên đáp: "Người xuất gia không đúng chỗ. Ðức Thế Tôn chế giới (phải làm) như vậy. Nếu người muốn ăn thì ăn, còn không muốn ăn thì tùy ý". Nếu khi Tỉ kheo sai ngoại đạo làm việc thì cũng không được tự tay đưa cho họ thức ăn mà phải bảo tịnh nhân đưa. Nếu không có tịnh nhân thì đưa như cách ở trên. Nếu ngoại đạo đến xin nước gạo, nước cơm, cũng không được tự tay đưa. Nếu ngoại đạo đến khất thực tại chỗ chúng Tăng, cũng không được tự tay đưa mà phải để dưới đất mà đưa. Nếu ngoại đạo có lòng tin muốn cúng dường Tỉ kheo, thì bấy giờ Tỉ kheo cũng không được tự tay đưa thức ăn thức uống, nhưng được sai ngoại đạo làm thức ăn thức uống, rồi bảo họ đưa cho mình ăn. Khi ăn xong, thức ăn còn thừa nên cho họ. Phương pháp cho như trên đã nói. 

Thế nên nói (như trên).

51. GIỚI: NGỒI NƠI PHÒNG NGỦ NHÀ THÍ CHỦ. 

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, tôn giả Ưu đà di cùng với người bạn Bà la môn quen biết, hai người cùng ở chung một thôn. Con gái ông Bà la môn này lấy chồng tại một thôn khác. Cô ta sai người báo tin cho cha: "Cha hãy thường thường đến thăm con. Nếu cha không đến được thì hãy nhờ thầy Ưu đà di thường thường đến thăm con", như trong hai giới Bất định ở trước đã nói rõ, (cho đến) Phật nói với Ưu đà di: "Ðó là việc xấu. Người tại gia còn biết phép tắc của Sa môn, ông là người xuất gia vì sao không biết chỗ nào nên ngồi, chỗ nào không nên ngồi? Ðó là hành vi phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn Thiện pháp được". Thế rồi Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ kheo biết "Thực gia dâm xứ"mà ngồi, thì phạm Ba dạ đề. Nếu Tỉ kheo biết Thực gia bình xứ mà ngồi thì phạm Ba dạ đề.

Giải thích:

Tỉ kheo: Như trên đã nói.

Biết: Hoặc tự biết, hoặc nghe từ người khác mà biết.

Thực (thức ăn): Gồm có: gạo lúa tẻ, gạo lúa mạch, cá, thịt, các thứ như vậy gọi là thức ăn. Lại có những thức ăn khác như: Nhãn thức thấy sắc khởi ái niệm, sinh đắm trước; nhĩ, tỉ, thiệt, thân cũng như vậy. Lại có những thức ăn khác như: Nồi lấy vung làm thức ăn; cối lấy chày làm thức ăn; hộc lấy đấu làm thức ăn.., các trường hợp như vậy đều gọi là thức ăn. Lại còn có thức ăn khác như: nam giới [374b] là thức ăn của phụ nữ; phụ nữ là thức ăn của nam giới.

Gia (nhà): Nhà Bà la môn, Sát lợi, Tì xá, Thủ đà la.

Dâm xứ (chỗ hành dâm): chỗ vợ chồng hành lạc.

Ngồi: cùng ngồi một chỗ thì phạm Ba dạ đề.

Bình xứ (chỗ khuất): chỗ mà nam nữ có thể hành dâm không thấy hổ thẹn. Lại có chỗ khuất khác, như: hoặc trong chỗ tối, hoặc cửa được đóng lại.

[Trong nguyên bản có 3 từ ‘ Tỉ-kheo’, ‘biết’ và ‘ngồi’ dược giải thích đến 2 lần, ở đây chỉ dịch 1 lần]

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

Nếu Tỉ kheo ngồi một chỗ với vợ chồng người ta thì phạm một tội Ba dạ đề. Nếu Tỉ kheo khác từ xa nhìn vào không thấy thì phạm hai tội Ba dạ đề. Nếu ngồi tại chỗ dùng để hành dâm, ngồi chỗ che khuất, ngồi trong phòng đóng cửa lại mà Tỉ kheo ở từ xa nhìn vào không thấy thì phạm hai tội Ba dạ đề. Nếu Tỉ kheo ở ngoài nhìn vào thấy, thì phạm một tội Ba dạ đề.

(Nếu Tỉ kheo) ngồi chung (với vợ chồng người kia) ở trong nhà, mà ở giữa sân có đống mía che khuất, hoặc đống lúa che khuất, hoặc bức tường che khuất thì cũng như vậy. Nhưng nếu có Tỉ kheo bạn thì không phạm tội. Nhưng dù có nhiều người bạn bạch y vẫn phạm, (trừ trường hợp) tất cả (những người ngồi đó) đều là nam giới thì không có tội. Hoặc tất cả những người ấy đều là nữ giới cũng không có tội. Thế nên nói (như trên).

52. GIỚI: ÐI XEM QUÂN TRẬN.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, viên đại thần thuộc xứ Kiều tát la tên Di ni vốn dòng dõi Sát lợi làm phản. Do đó, vua Ba tư nặc tập họp bốn binh chủng, chọn ngày lành, cùng với các đại thần đánh trống khua chuông, chuẩn bị kéo quân đi thảo phạt. Khi ấy, tôn giả Nan Ðà, Ưu Ba Nan Ðà bèn đi đến đứng trước quân sĩ. Nhà vua thấy thế, bèn từ xa bỏ lọng, gập mình tỏ sự cung kính. Các quan đại thần thấy vậy liền chê trách: "Xem ra các ông Sa môn Thích tử này không hiểu thời thế! Nay đại vương muốn thảo phạt nghịch tặc, thế mà các ông ấy lại đứng chận trước ba quân". Rồi họ lại than phiền nhà vua: "Tướng sĩ của đại vương đông đảo như vậy, lại gặp được ngày lành, đi tìm sự lợi ích, thế mà khi thấy kẻ Sa môn trọc đầu liền từ xa bỏ lọng, gập mình tỏ sự cung kính!"

Các Tỉ kheo nghe thế, liền đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bèn bảo gọi Nan Ðà, Ưu Ba Nan Ðà đến. Khi họ đến rồi, Phật hỏi: "Các ông có việc đó thật chăng?"

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

Thế rồi, Phật nói với các Tỉ kheo: "Mong sao tất cả các ông vua đều có lòng tin như vậy! Từ nay về sau, Ta không cho phép (các Tỉ kheo) vào giữa quân lính để gặp họ". 

Ðoạn, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ kheo xem quân lính xuất trận thì phạm Ba dạ đề.

Giải thích:

Tỉ kheo: Như trên đã nói.

Quân xuất trận: Tức quân lính cầm khí giới đi đến nước địch. Quân có bốn loại: Tượng quân, mã quân, xa quân và bộ quân.

Tượng quân: [374c] Bốn người bảo vệ một thớt voi. Ðó gọi là tượng quân.

Mã quân: Tám người bảo vệ một con ngựa. Ðó gọi là mã quân.

Xa quân: Mười sáu người bảo vệ một chiếc xe. Ðó gọi là xa quân.

Bộ quân: ba mươi hai người cầm vũ khí (thành một toán). Ðó gọi là bộ quân.

Nếu Tỉ kheo xem bốn loại quân này, hoặc xem một trong những loại đó thì phạm Ba dạ đề.

Nếu Tỉ kheo muốn xem quân lính rồi từ trong thôn xóm đi đến nơi hoang dã, từ nơi hoang dã đi vào thôn xóm; hoặc từ chỗ thấp lên chỗ cao, từ chỗ cao xuống chỗ thấp; hoặc từ chỗ kín đến chỗ trống, từ chỗ trống đến chỗ kín, cố ý đi đến xem thì phạm Ba dạ đề.

Nếu Tỉ kheo vào thành ấp xóm làng, giữa đường gặp quân trận mà không cố ý xem thì không có tội. Nếu cố ý cất đầu lên, cúi đầu xuống để quan sát thì phạm Ba dạ đề.

Hoặc khi vua xuất chinh, hoặc voi lớn xuất trận mà đường chật hẹp đông đúc, khi ấy Tỉ kheo đứng lại một chỗ không cố ý xem thì không có tội. Nếu tác ý muốn xem thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu Tỉ kheo xem đấu voi, ngựa, bò cho đến đấu gà, thì phạm tội Việt tì ni.

Nếu quân lính đến tinh xá, Tỉ kheo không cố ý xem thì không có tội. Nếu tác ý xem thì phạm tội Việt tì ni. Thậm chí khi người ta cãi nhau mà xem thì phạm tội Việt tì ni. Thế nên nói (như trên).

53. GIỚI: Ở TRONG QUÂN TRẠI QUÁ HẠN.

Khi Phật an trú tại thành Xá vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ tại nước Kiều tát la có viên đại thần dòng dõi Sát lợi tên Di ni làm phản không tuân phục triều đình. Do đó, vua Ba tư nặc bèn sai viên đại thần Ðạt đa thống lãnh bốn binh chủng đến đó chinh phạt. Lúc ấy người đi chinh phạt là Ðạt đa sai người đến bạch với Thế Tôn: "Nay con sắp xuất chinh, xin Thế Tôn sai các Tỉ kheo vì con thuyết diệu pháp". Thế rồi, Phật nói với A Nan: "Ông hãy đến trong quân đội vì người đi chinh phạt là Ðạt đa thuyết pháp". A Nan liền đến đó. Viên đại thần bèn sửa soạn các thức cúng dường. Bấy giờ, nhóm sáu Tỉ kheo biết nhà vua sửa soạn các thứ cúng dường cho A Nan, liền đến trong quân thọ trai. Khi ăn xong, họ đến chỗ quân lính tập trận để xem. Nếu thấy không điêu luyện thì chê bai: "Các ngươi dạy người ta cưỡi voi giống như cưỡi heo, thật là phí lương thực của vua, đem đội quân thế này xông trận thì chắc chắn bị mất mạng, mà còn mất voi của vua nữa". Nếu họ thấy quân lính thiện chiến thì ca ngợi: "Cưỡi voi thật thiện nghệ, mà cầm kích rất đắc thế, lại hiểu rõ đấu pháp tả hữu lui tới, xứng đáng ăn lộc của quan. Nếu xua đội quân này xông trận thì có thể giữ được thân mình mà voi cũng không bị mất".

Khi họ xem quân lính cưỡi ngựa, nếu thấy không điêu luyện, liền chê bai: "Các ngươi dạy người cưỡi ngựa giống như cưỡi lừa, thật là phí lương thực của vua. Nếu dùng đội quân này xông trận thì chắc chắn mất mạng [375a] mà còn mất ngựa của vua nữa". Nếu họ thấy thiện chiến thì liền ca ngợi: "Các ngươi cưỡi ngựa rất thiện nghệ, cầm dây cương rất đắc thế, lui tới tả hữu đều có phép tắc, xứng đáng nhận bổng lộc của vua. Nếu dùng đội quân này xông trận thì chắc chắn bảo vệ được sinh mạng, mà không bị mất ngựa nữa".

Khi họ xem quân xa, nếu thấy thiếu khả năng thì liền chê bai: "Các ngươi dạy lính lái xe như leo lên giường, thật uổng phí lương thực của vua. Nếu dùng đội quân này xông trận thì chắc chắn sẽ bỏ mạng mà còn làm mất xe của vua nữa". Nếu họ thấy lái xe thiện nghệ thì ca ngợi: "Tài xế cầm lái lui tới điêu luyện quay qua phải trái đều rất có phép tắc, xứng đáng nhận bổng lộc của vua. Nếu dùng đội quân này xông trận thì chắc chắn giữ được tính mạng mà xe cũng không bị mất".

Khi họ xem bộ binh nếu thấy không biết bắn thì liền chê bai: "Các ngươi dạy lính cầm cung giống như vuốt lông, thật là uổng phí ăn lộc quan. Nếu dùng đội quân này xông trận thì chắc chắn mất mạng, mà còn mất cung tên của quan". Nếu họ thấy bắn thiện nghệ thì bèn ca ngợi: "Thật là ngay ngắn chính xác đúng là những tay thiện xạ, xứng đáng ăn lộc của quan. Nếu dùng đội quân này xông trận thì chắc chắn bảo toàn được tính mạng, mà không bị mất cung tên".

Khi họ xem đội quân đao thuẫn, nếu thấy không có khả năng, liền chê bai: "Các ngươi dạy người ta cầm thuẫn giống như cầm đao bằng vải. Nếu dùng đội quân này xông trận chắc chắn bị bỏ mạng, mà còn mất đao trượng của quan nữa". Nếu thấy thiện nghệ liền ca ngợi: "Dùng đao thuẫn thiện nghệ rất khéo léo và có phép tắc. Nếu dùng đội quân này xông trận chắc chắn bảo toàn tính mạng mà đao trượng của vua cũng không bị mất".

Họ chê bai, khen ngợi bốn binh chủng như vậy đó. Những kẻ bị chê bai ai nấy đều giận dữ, nói: "Không những ông Di ni dòng dõi Sát lợi là kẻ thù của chúng ta, mà nay kẻ Sa môn này cũng là tên giặc, chuyên hủy nhục chúng ta, hãy cùng nhau giết hắn cho rồi". Thế rồi, quân lính được ca ngợi bèn nói với quân lính bị chê bai: "Các Sa môn này đều là dòng dõi vua chúa hoặc là dòng dõi đại thần, hoặc là dòng dõi Sát lợi, họ vốn đã luyện tập binh pháp, thông hiểu chiến trận. Như lời họ nói, lẽ ra các anh nên học tập, trái lại, các anh còn đâm ra oán hận thật là ngu si hết chỗ nói". Khi ấy, những kẻ bị chê bai nghe như thế đều cảm thấy rất hổ thẹn.

Tôn giả A Nan nghe được sự việc ấy bèn suy nghĩ: "Nay ta nên đi, nếu ở đây lâu, e sinh tai họa", liền trở về lại tinh xá. Phật biết nhưng vẫn hỏi A Nan:

- Ông đã thuyết pháp cho người đi chinh chiến là Ðạt đa rồi chăng?

A Nan liền đem sự việc trên bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm sáu Tỉ kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật hỏi:

- Các ông có việc đó thật chăng?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Ðó là việc xấu, phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy; không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. Từ nay về sau, khi có nhân duyên thì Ta mới cho phép vào trong quân trại ba đêm.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá Vệ [375b] phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ kheo có nhân duyên được vào trong quân ngũ ba đêm, nếu quá (ba đêm) thì phạm Ba dạ đề.

Giải thích:

Tỉ kheo: Như trên đã nói.

Nhân duyên: Hoặc việc của Tăng, việc của tháp, việc của riêng mình.

Quân: Như trên đã nói.

Ba đêm: Tối đa là ba đêm, nếu quá thì phạm Ba dạ đề.

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

Nếu Tỉ kheo đêm thứ nhất ngủ tại bộ binh, đêm thứ hai tại tượng binh, đêm thứ ba tại mã binh, đêm thứ tư tại xa binh thì phạm Ba dạ đề.

Nếu đêm thứ nhất ngủ tại tượng binh, đêm thứ hai tại mã binh, đêm thứ ba tại xa binh, đêm thứ tư tại bộ binh thì phạm Ba dạ đề.

Nếu đêm thứ nhất ngủ tại mã binh, đêm thứ hai tại xa binh, đêm thứ ba tại cung binh, đêm thứ tư tại sáo (dáo dài) binh thì phạm Ba dạ đề.

Nếu đêm thứ nhất ngủ tại xa binh, đêm thứ hai tại cung binh, đêm thứ ba tại mâu binh, đêm thứ tư tại đao binh thì phạm Ba dạ đề.

Nếu đêm thứ nhất ngủ tại cung binh, đêm thứ hai tại sáo binh, đêm thứ ba tại đao binh, đêm thứ tư tại ngoại la binh (lính canh phòng) thì phạm Ba dạ đề.

Nếu đêm thứ nhất ngủ tại mâu binh, đêm thứ hai tại đao binh, đêm thứ ba tại ngoại la binh, đêm thứ tư rời khỏi chỗ có thể nghe thấy được thì không có tội.

Nếu vì tháp, vì Tăng lo giải quyết công việc chưa xong thì nên rời quân đội một đêm rồi được ngủ trở lại. Nếu thành ấp xa không thể đến được thì nên rời khỏi chỗ quân có thể thấy nghe mà ngủ, khi ngủ nên nói với quân ngoại la: "Ban đêm tôi muốn ngủ tại mỗ xứ, chớ tưởng là người khác".

Nếu quân lính đến đóng trong chùa thì không nên bỏ đi, dù nhiều đêm cũng không có tội. Thế nên nói (như trên).

54. GIỚI: XEM QUÂN ÐỘI DIỄN TẬP.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, nhóm sáu Tỉ kheo ngủ trong quân trại ba đêm rồi, bèn đến chỗ thao trường xem, nếu thấy quân lính không biết cưỡi voi, liền chê bai: "Kẻ này cưỡi voi giống như cưỡi heo, nếu vào trận chiến thì chắc chắn sẽ mất mạng, thật là uổng phí bổng lộc của vua". Nếu thấy cưỡi voi thiện nghệ thì khen ngợi: "Kẻ này cưỡi voi thiện nghệ, cầm móc điều khiển tới lui, xoay bên trái bên phải đều khéo léo. Nếu xông trận thì chắc chắn phá được quân giặc, lại bảo toàn được tính mạng. Người như thế xứng đáng ăn lộc của vua". Khi họ thấy những ai không thể cưỡi ngựa, lái xe, cầm cung, đao, mâu, thuẫn, sáo thì nhất nhất chê bai hoặc khen ngợi, rồi chỉ bảo: "Ngươi phải cưỡi voi, cưỡi ngựa, lái xe, cầm cung, cầm thuẫn, cầm mâu [375c] như thế này, thế này này".

Những kẻ không thể làm được, nghe họ chê như vậy, liền nổi giận, nói: "Ðây chính là giặc chứ còn tìm giặc ở đâu nữa. Chúng ta hãy cùng nhau giết hắn". Khi ấy, những kẻ được khen ngợi liền nói: "Các Tỉ kheo này đều là dòng dõi vua chúa, dòng dõi Sát lợi đại thần, đều biết binh pháp. Vì sao các anh không chịu khó học hỏi mà trái lại còn oán người ta?". Những kẻ bị chê bai nghe nói thế, liền nguôi giận và trong lòng cảm thấy hổ thẹn.

Các Tỉ kheo nghe sự kiện ấy, liền đến bạch lên Thế Tôn. Phật bèn bảo gọi nhóm sáu Tỉ kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi sự việc trên:

- Các ông có việc đó thật chăng?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Ðó là việc xấu, phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ kheo có duyên sự thì được ngủ trong quân trại ba đêm, nhưng nếu xem quân xuất trận, nha kỳ, cãi lộn, đánh nhau, thế lực thì phạm Ba dạ đề.

Giải thích:

Tỉ kheo: Như trên đã nói.

Ba đêm: Tối đa là ba đêm.

Xem: Tạo điều kiện cố ý đi đến, hoặc từ chỗ cao xuống chỗ thấp, hoặc từ chỗ thấp lên chỗ cao.

Quân: Bốn quân chủng như trên đã nói.

Nha kỳ: Hoặc là hình sư tử, hoặc hình bán nguyệt.

Cãi: cãi nhau bằng miệng.

Ðánh: hai nhóm giao đấu.

Thế lực: Xem coi sự thế mạnh yếu nghiêng về bên nào, thì gọi là thế lực.

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

Nếu Tỉ kheo đang đi trên đường gặp quân lính mà không cố ý xem thì không có tội. Nếu tạo phương tiện để xem thì phạm Ba dạ đề.

Nếu quân cướp từ trong thôn đi ra, Tỉ kheo đang đi giữa đường gặp họ mà không cố ý xem thì không có tội. Nếu tạo phương tiện để xem thì phạm Ba dạ đề.

Nếu Tỉ kheo đang đi kinh hành nơi thôn dã gặp quân giặc đến mà không cố ý xem thì không có tội. Nếu tạo phương tiện để xem thì phạm Ba dạ đề.

Nếu Tỉ kheo đang đi kinh hành nơi rừng hoang, rồi bọn cướp vừa cướp bóc trong thôn đi ngang qua chỗ Tỉ kheo, sau đó, những người truy đuổi bọn cướp đi tìm chúng đến chỗ Tỉ kheo hỏi Tỉ kheo: "Có thấy bọn cướp không?", thì Tỉ kheo không được nói dối, cũng không được chỉ chỗ bọn cướp mà nên nói: "Hãy xem móng tay đây này".

Nếu Tỉ kheo đang ở trong thành, bỗng có giặc đến vây thành, rồi vua bảo Tỉ kheo phải lên cả trên thành để chứng tỏ trong thành có đông người, mà Tỉ kheo không cố ý xem thì không có tội. Nếu tạo phương tiện để xem thì phạm Ba dạ đề. Thế nên nói (như trên).

55. GIỚI: ÐÁNH TỈ-KHEO KHÁC.

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, nhóm sáu Tỉ kheo từ chỗ ngồi thiền đứng dậy, dùng nắm tay cú vào đầu nhóm mười sáu Tỉ kheo trẻ. Các Tỉ kheo này liền khóc rống lên. [376a] Phật nghe tiếng khóc, tuy biết nhưng vẫn hỏi các Tỉ kheo:

- Ở trong đây vì sao có tiếng khóc của trẻ con?

- Bạch Thế Tôn, nhóm sáu Tỉ kheo sau khi từ phòng tọa thiền đứng dậy, bèn dùng nắm tay cú lên đàu nhóm mười sáu Tỉ kheo trẻ, do đó nên họ khóc.

- Hãy đi gọi nhóm sáu Tỉ kheo đến.

Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi đầy đủ sự việc kể trên:

- Các ông có việc đó thật chăng?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Vì sao như vậy?

- Vì muốn đùa cho vui.

- Này những kẻ ngu si, đó là việc ác, làm não lọan những người phạm hạnh mà lại bảo là vui. Này nhóm sáu Tỉ kheo, chớ khinh thường những người ấy. Nếu họ nhập định thì họ có thể dùng sức thần túc xách các ngươi ném vào một thế giới khác đấy. Các ông không từng nghe Ta dùng vô lượng phương tiện dạy rằng nên khởi thân, khẩu, ý Từ bi cung kính cúng dường đối với các bậc phạm hạnh hay sao? Vì sao lại làm việc ác bất thiện như vậy? Ðó là điều phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ kheo đánh Tỉ kheo khác thì phạm Ba dạ đề.

Giải thích:

Tỉ kheo: Như trên đã nói.

Ðánh: Hoặc dùng thân, thân phần, thân phương tiện.

Thân: Dùng toàn bộ thân thì gọi là thân.

Thân phần: Hoặc tay, hoặc chân, hoặc cùi chỏ, hoặc đầu gối, hoặc răng, hoặc móng; đó gọi là thân phần.

Thân phương tiện: Hoặc cầm gậy gộc, gạch đá mà đánh, hoặc từ xa ném đá, đó gọi là thân phương tiện.

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

Nếu Tỉ kheo đánh Tỉ kheo thì phạm Ba-dạ-đề, đánh Tỉ-kheo-ni thì phạm Thâu lan giá; đánh Thức xoa ma ni, Sa di, Sa di ni thì phạm tội Việt tì ni; sau hết, nếu đánh người thế tục thì phạm tội Việt tì ni, tâm niệm sám hối.

Nếu có các loài muông thú hung dữ như voi, ngựa, trâu, dê, chó đến thì không được đánh mà chỉ được cầm gậy gộc gạch đá đập xuống đất để khủng bố chúng mà thôi.

Nếu súc vật vào trong tháp làm phương hại hình tượng, phá hoại hoa quả cây cối, cũng chỉ được dùng gậy gộc, gạch đá đập xuống đất cho chúng sợ bỏ đi mà thôi.

Thế nên nói (như trên).

56. GIỚI: DỌA ÐÁNH TỈ-KHEO KHÁC. 

Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Vì Thế Tôn chế giới không cho Tỉ kheo đánh nhau, nên khi ấy nhóm sáu Tỉ kheo từ phòng thiền đứng dậy dùng nắm tay đe dọa nhóm mười sáu Tỉ kheo trẻ, nói như sau: "Ta sẽ dùng nắm tay này đánh vỡ mặt các ngươi". Vì bị khủng bố nên họ bèn khóc lớn lên. Phật nghe tiếng khóc, tuy biết mà vẫn hỏi các Tỉ kheo:

- Ðó là tiếng khóc của trẻ con nào thế?

- Ðó là do nhóm sáu Tỉ kheo [376b] từ phòng thiền đứng dậy dùng nắm tay đe dọa nhóm mười sáu Tỉ kheo trẻ, nói như sau: "Ta dùng nắm tay đánh vỡ mặt các ngươi". Vì bị khủng bố nên họ liền khóc lớn lên.

- Hãy gọi nhóm sáu Tỉ kheo đến đây.

Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi sự việc trên:

- Các ông có việc đó thật chăng?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Tại sao như vậy?

- Vì để đùa cho vui.

- Này những kẻ ngu si, đó là việc ác, làm não lọan những người phạm hạnh, mà bảo là đùa cho vui. Các ông chớ khinh thường những người ấy. Nếu họ nhập định thì họ có thể dùng thần lực xách các ông ném vào một thế giới khác đấy. Các ông không từng nghe Ta dùng vô lượng phương tiện dạy rằng phải khởi thân, khẩu, ý Từ bi, cung kính cúng dường các bậc phạm hạnh hay sao? Ðó là điều phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được. Từ nay về sau Ta không cho phép dùng nắm tay để đe dọa nhau.

Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ kheo dùng chưởng đao đe dọa Tỉ kheo khác thì phạm Ba dạ đề.

Giải thích:

Tỉ kheo: Như trên đã nói.

Chưởng: bàn tay.

Ðao: Ngón tay.

Ðe dọa: Biểu lộ dấu hiệu muốn đánh.

Ba dạ đề: Như trên đã nói.

Nếu đưa lên một ngón tay đe dọa thì phạm Ba dạ đề; cho đến năm ngón cũng như vậy.

Nếu dùng tất cả ngón tay đe dọa thì phạm Ba dạ đề.

Nếu dùng nắm tay đe dọa thì phạm Thâu lan giá.

Nếu dùng tay đe dọa Tỉ kheo thì phạm Ba dạ đề; đe dọa Tỉ kheo ni thì phạm Thâu lan giá; đe dọa Thức xoa ma ni, Sa di, Sa di ni thì phạm tội Việt tì ni; cuối cùng cho đến đe dọa người thế tục thì phạm tôi Việt tì ni tâm niệm sám hối.

Nếu các loại ác thú như voi, ngựa, trâu, dê, chó đi đến thì không được dùng nắm tay đe dọa mà nên dùng gậy gộc gạch đá đập xuống đất khủng bố cho chúng sợ bỏ đi.

Nếu các loại thú ấy vào trong tháp phá hoại các ảnh tượng và hoa quả cây cỏ thì cũng chỉ nên (dùng gậy gộc) đập xuống đất khủng bố cho chúng sợ bỏ đi mà thôi.

Thế nên nói (như trên).

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hết quyển thứ mười tám.

x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
TVHS

x
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap