| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẦN THỨ BẢY CỦA 92 PHÁP ÐƠN ÐỀ. 44.
GIỚI: BAO CHE NGƯỜI CÓ LỖI. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
Tỉ kheo A Lợi Tra không bỏ ác kiến, bị chúng Tăng làm yết
ma cử tội xong, thầy bèn đến chỗ tôn giả Nan Ðà, Ưu Ba
Nan Ðà. Hai vị này thấy Thầy, liền tán thán: "Lành thay!
(tôn giả) đến đây", rồi đứng dậy đón tiếp, đưa cho
ghế ngồi và nước rửa chân, lại đưa dầu thoa chân, nước
uống phi thời, chỉ cho căn phòng, giường nệm, dụng cụ
để nằm, và cùng hưởng chung thức ăn chánh pháp và thức
ăn vật chất. Thế
rồi, Tỉ kheo A Lợi Tra đi đến trước cổng tinh xá Kỳ Hoàn,
nói với các Tỉ kheo: "Này các trưởng lão, các ông tưởng
làm yết ma cử tội Tỉ kheo A Lợi Tra này rồi thì tôi không
có chỗ ở sao? Tôi vẫn được các Tỉ kheo phạm hạnh cho
cùng ở chung, đưa cho phòng xá, giường, nệm, ngọa cụ, lại
được hưởng chung thức ăn chánh pháp và thức ăn vật chất.
Các ông càng sớm cử tội thì tôi càng sớm được chỗ ở
tốt như vậy đó". Các
Tỉ kheo nghe nói thế, cảm thấy hổ thẹn không vui, liền
đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bèn bảo
gọi Nan Ðà v.v... đến. Khi
đến rồi, Phật liền hỏi Nan Ðà: "Các ông có việc đó
thật như vậy không?". Ðáp:
"Có thật như vậy, bạch Thế Tôn". -
Ðó là việc xấu. Vì sao ông đã biết chúng Tăng làm yết
ma cử tội rồi mà còn ăn chung thức ăn chánh pháp và thức
ăn vật chất (với người khác)? Ðó là điều phi pháp, phi
luật, trái lời Ta dạy; không thể dùng việc đó để nuôi
lớn thiện pháp. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo biết Tỉ kheo khác có ác kiến không bỏ, Tăng
đã làm yết ma cử tội, chưa làm như pháp, mà cùng [368a]
ăn chung, cùng ở chung một nhà, thì phạm Ba dạ đề. Giải
thích: Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Biết:
Hoặc tự biết, hoặc nghe từ người khác (mà biết). Ác
kiến: Như
A Lợi Tra hủy báng khế kinh. Chưa
làm như pháp:
Tăng chưa giải tỏa pháp yết ma cử tội. Cùng
ăn: cùng hưởng
thức ăn chánh pháp và thức ăn vật chất. Cùng
ở: Cùng ở
trong cùng một cương giới. Cùng
một nhà:
Cùng ở trong một nhà có cùng một vách tường, cùng một
mái. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
có một Tỉ kheo bị Hòa Thượng, A xà lê quở trách thì Tỉ
kheo khác không được quyến rũ, nói: "Ta cho ngươi y bát, thuốc
trị bệnh, giường nệm ngọa cụ, ngươi nên ở gần bên
ta học kinh đọc kinh...". Nếu quán sát thấy tình huống của
Tỉ kheo ấy chắc chắn sẽ xả giới hoàn tục, thì nên dỗ
dành và dạy bảo như sau: "Ông phải biết, ân đức của Hòa
thượng, A xà lê rất thâm trọng khó mà báo đáp. Ông nên
trở về sống thân cận với (các ngài)", nói như thế thì
không có tội. Nếu
người bị cử tội mà tưởng là không bị cử tội, cùng
ở cùng ăn với họ, thì phạm tội Việt tì ni. Người
không bị cử tội mà tưởng là bị cử tội cùng ở cùng
ăn chung với họ thì phạm tội Việt tì ni. Người
bị cử tội tưởng là họ bị cử tội (mà cùng ở cùng
ăn với họ) thì phạm tội Ba dạ đề. Người
không bị cử tội tưởng là không bị cử tội (cùng ở cùng
ăn với họ) thì không có tội. Thế
nên nói (như trên). 45.
GIỚI: CHỨA CHẤP SA-DI BỊ ÐUỔI. Khi
Phật an trú tại thành Xá vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
A Lợi Tra có một Sa di tự là Pháp Dữ, nói như sau: "Này trưởng
lão! Theo tôi biết pháp do đức Như Lai thuyết giảng, Ngài
nói dâm dục làm chướng đạo, nhưng khi thực hiện sự dâm
dục thì không có gì là chướng đạo". Lúc
ấy, các Tỉ kheo liền nói: "Này Sa di, ngươi chớ hủy báng
Thế Tôn; hủy báng Thế Tôn là không tốt. Ngươi không khéo
ghi nhớ lời dạy của Thế Tôn, vì thực hiện sự dâm dục
quả thật là chướng đạo". Can gián một lần, hai lần, ba
lần mà Sa di ấy vẫn không chấm dứt, nên các Tỉ kheo liền
đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
nói với các Tỉ kheo: - Nếu Sa di Pháp Dữ ấy nói rằng: "Theo
tôi hiểu pháp do Như Lai thuyết giảng, Ngài nói sự dâm dục
làm chướng đạo, nhưng khi thực hiện dâm dục không có gì
là chướng đạo", thì các ông nên can gián ở chỗ vắng ba
lần, can gián ở chỗ nhiều người ba lần và can gián ở
giữa chúng Tăng ba lần, khiến cho bỏ việc ấy. Ở
chỗ vắng nên hỏi: "Này Sa di, có thật ngươi nói như sau:
- Theo tôi biết, pháp do Như Lai thuyết giảng, Ngài nói hành
dâm dục là pháp chướng đạo, nhưng khi hành dâm dục không
có gì là chướng đạo. Rồi ngươi đã được can gián ba
lần mà không chấm dứt phải không?". Nếu
ông ta đáp: "Ðúng như vậy", thì bấy giờ nên can gián ở
chỗ vắng: "Này Sa di, ngươi chớ hủy báng Thế Tôn; hủy
báng Thế Tôn là điều bất thiện. Ngươi không khéo ghi nhớ
lời dạy của Thế Tôn, hành dâm dục quả thật là chướng
đạo. Nay ta vì lòng từ can gián ngươi là muốn cho ngươi
được lợi ích. Vậy ngươi nên nghe lời ta. Một lần can
gián đã xong còn hai lần can gián nữa, ngươi có bỏ việc
đó chăng?". Nếu
không bỏ, thì nên can gián đến lần thứ hai, thứ ba cũng
như thế. [368b] Khi can gián ở chỗ nhiều người cũng như
vậy. Nếu vẫn không bỏ thì nên làm yết ma cầu thính ở
giữa Tăng như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe! Ông Sa di Pháp Dữ này nói như
sau: "Theo tôi hiểu, pháp do Như Lai thuyết giảng, Ngài nói
rằng dâm dục là pháp chướng đạo, nhưng khi thực hiện
dâm dục không có gì là chướng đạo". Thế rồi, đã được
can gián ở chỗ vắng ba lần, ở chỗ nhiều người ba lần
mà không bỏ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, nay
Tăng nên can gián ba lần khiến cho ông bỏ việc ấy. Lúc
bấy giờ, nên hỏi giữa Tăng: "Sa di, có thật ngươi nói như
sau: - Theo tôi hiểu, pháp do Như Lai thuyết giảng, Ngài nói
rằng dâm dục là pháp chướng đạo, nhưng khi hành dâm không
có gì là chướng đạo. Rồi đã được can gián ở chỗ vắng
ba lần, ở chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ phải không?" Nếu
ông đáp: "Ðúng như vậy", thì ở giữa Tăng nên can gián như
sau: "Này Sa di, ngươi chớ hủy báng Thế Tôn; hủy báng Thế
Tôn là điều bất thiện. Ngươi không khéo ghi nhớ, chứ hành
dâm dục quả thực là chướng đạo. Chúng Tăng vì lòng từ
can gián ngươi, là muốn ngươi được lợi ích, vậy ngươi
nên ghi nhận lời dạy của Tăng. Một lần can gián đã qua
còn hai lần can gián nữa, ngươi nên bỏ việc ấy đi". Nếu
ông không bỏ thì lần thứ hai, thứ ba cũng can gián như vậy.
Thế nhưng, ông vẫn không bỏ. Do vậy, các Tỉ kheo bèn đem
sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền nói với
các Tỉ kheo: "Nếu Sa di Pháp Dữ ấy nói như sau: "Ðức Thế
Tôn nói dâm dục là pháp chướng đạo, nhưng theo tôi biết
hành dâm dục không có gì là chướng đạo". Rồi được can
gián ở chỗ vắng ba lần, can gián ở chỗ nhiều người ba
lần và ở giữa chúng Tăng ba lần, mà vẫn không bỏ, thì
nên đuổi y ra khỏi đại chúng". Thế
nhưng, sau khi bị đuổi đi, Pháp Dữ liền đến chỗ nhóm
sáu Tỉ kheo. Nhóm sáu Tỉ kheo thấy ông, bèn tán thán: "Lành
thay ông đến đây", rồi cho nước uống phi thời, chỉ phòng
ở, đưa giường nệm ngọa cụ, đưa y bát, thuốc bổ. Sa
di được cung cấp các vật dụng ấy rồi, liền đi đến
cổng tinh xá Kỳ Hoàn, nói với các Tỉ kheo: "Này các trưởng
lão, các ngài đuổi tôi ra khỏi Tăng chúng, tưởng rằng tôi
sẽ không có được chỗ ở, nhưng nay tôi lại được ở
chung với bậc phạm hạnh, ngài còn cho tôi phòng xá, giường
nệm, ngọa cụ, cùng chia xẻ với tôi thức ăn chánh pháp
và thức ăn vật chất, cho tôi y bát và thuốc bổ. Này các
trưởng lão, các ngài càng đuổi tôi chóng, thì tôi càng chóng
được sống an lạc như vậy đó!". Các
Tỉ kheo nghe ông nói như thế, lòng không vui bèn đem sự việc
ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm sáu
Tỉ kheo đến. Khi
họ đến rồi, Phật liền hỏi: "Các ông có việc đó thật
như vậy chăng?" Ðáp:
"Có thật như vậy, bạch Thế Tôn". -
Ðó là việc xấu. Vì sao các ông đã biết Sa di có ác kiến
không bỏ, chúng Tăng đã như pháp trục xuất mà còn cho sống
chung, chia xẻ thức ăn chánh pháp và thức ăn vật chất? Ðó
là điều phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng
việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, [368c] vì mười lợi
ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải
nghe lại: -
Nếu Sa di nói như thế này: "Theo tôi biết, đức Như Lai nói
rằng dâm dục là pháp chướng đạo, nhưng khi hành dâm dục
không có gì là chướng đạo", thì các Tỉ kheo nên can gián
Sa di ấy như sau: "Này Sa di, ngươi chớ hủy báng Thế Tôn;
hủy báng Thế Tôn là hành vi bất thiện. Thế Tôn nói hành
dâm dục quả thật là chướng đạo. Ngươi hãy bỏ ác kiến
ấy đi". Khi các Tỉ kheo can gián Sa di ấy mà ông vẫn cố
tình không bỏ, thì nên can gián lần thứ hai, thứ ba cũng
như vậy. Nếu ông bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì các Tỉ
kheo nên nói như sau: "Từ nay trở đi, ngươi không được nói
Phật là thầy của tôi, cũng không được ngủ chung với Tỉ
kheo ba đêm. Ngươi đi đi, không được ở đây". --
Nếu Tỉ kheo biết Sa di không bỏ ác kiến, bị khu xuất, chưa
giải tỏa pháp yết ma, mà dụ dỗ, nuôi dưỡng, cùng ăn chung,
ở chung một phòng thì phạm Ba dạ đề. Giải
thích: Sa
di: Như Sa
di Pháp Dữ. (Một
số từ ngữ khác đã được giải thích trong các giới trước). Khu
xuất: Ðuổi
ra khỏi Tăng già lam. Chưa
làm như pháp:
Như trên đã giải thích. Nuôi:
Cho y chỉ (cho phép nương tựa). Dưỡng:
cho y bát, thuốc chữa bệnh. (Một
số từ ngữ khác đã được giải thích ở các giới trên). Nếu
Sa di bị Hòa Thượng, A xà lê khiển trách thì Tỉ kheo không
được dụ dỗ gọi về cùng ở chung, nói rằng: "Ta sẽ cho
ngươi y bát, thuốc men, sẽ dạy kinh cho ngươi". [369a]
Nếu biết Sa di ấy nhân việc đó sẽ hoàn tục thì có thể
nhỏ nhẹ dỗ dành, rồi nói với ông Ta: "Ân đức của Hòa
thượng, A xà lê rất nặng, khó mà báo đáp. Ngươi nên trở
về sống thân cận với ngài". Nếu
(Sa di) bị đuổi mà tưởng không bị đuổi (rồi đem về
nuôi), thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
không bị đuổi mà tưởng bị đuổi (rồi đem về nuôi),
thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
bị đuổi và tưởng là bị đuổi (mà đem về nuôi), thì
phạm Ba dạ đề. Nếu
không bị đuổi và tưởng không bị đuổi (mà đem về nuôi),
thì không có tội. Thế
nên nói (như trên). 46.
GIỚI: MẶC Y KHÔNG HOẠI SẮC. Khi
Phật trú tại thành Vương Xá, nói rộng như trên. Bấy giờ,
các Tỉ kheo mặc y không được cắt may thành nhiều mảnh,
ngoại đạo cũng mặc y không cắt may thành nhiều mảnh. Thế
rồi, Ưu bà tắc muốn đảnh lễ Tỉ kheo mà đảnh lễ nhằm
ngoại đạo, khi nghe chú nguyện rồi mới biết là ngoại đạo,
nên trong lòng Ưu bà tắc cảm thấy hổ thẹn. Ðồng thời,
đệ tử của ngoại đạo muốn đảnh lễ ngoại đạo mà
đảnh lễ nhằm Tỉ kheo, khi nghe chú nguyện mới biết là
Tỉ kheo, nên đệ tử của ngoại đạo cảm thấy hổ thẹn
trong lòng. Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
dạy: "Từ nay về sau nên may y khác nhau, cắt may nhuộm có
màu sắc". Tỉ
kheo liền cắt may nhuộm làm thành màu sắc khác. Khi ấy, ngoại
đạo dùng đá đỏ nhuộm y thành màu đỏ Lưu Châu La, cầm
gậy có ba khấc để cho khác. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, Tỉ kheo ở nơi hoang dã lượm được y Kiều xá
da, nấu nước nhuộm định nhuộm, thì Thế Tôn đang dùng
thần túc đi trên không đến chỗ Tỉ kheo, Ngài biết nhưng
vẫn hỏi Tỉ kheo: "Ông định làm gì đấy?" -
Nấu nước nhuộm định nhuộm y Kiều xá da. -
Y Kiều xá da mỏng manh nếu nhuộm bằng nước nhuộm thô kệch
như thế sẽ làm hại y. Từ nay về sau, y Kiều xá da nên tác
tịnh (làm dấu cho hợp lệ) bằng hai cách: cắt (một miếng)
may lên tác tịnh và làm cho xanh tác tịnh. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, Tỉ kheo ở Tỳ xá li được một chiếc y Khâm bà
la mềm mại, thầy bèn nấu nước nhuộm định nhuộm, thì
gặp lúc Phật dùng thần túc đi tới chỗ Thầy. Phật biết
nhưng vẫn hỏi: "Này Tỉ kheo, ông làm gì đấy?". -
Nấu nước nhuộm để nhuộm y Khâm bà la. -
Y Khâm bà la mềm mại mỏng manh mà nhuộm thuốc nhuộm thô
kệch thế này sẽ làm rách y mất. Từ nay về sau, Ta cho phép,
y Khâm bà la tác tịnh bằng hai cách: cắt may tác tịnh và
làm cho xanh tác tịnh. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, tôn giả Tôn Ðà LA Nan Ðà là con trai bà dì của
Phật, do Ðại Aùi Ðạo sinh, có ba mươi tướng, với tướng
bạch hào, và tướng trái tai thòng xuống. Sau khi thầy khất
thực xong, từ trong thành Xá Vệ đi ra [369b], thì lúc ấy có
tôn giả A Nan đi sau; đồng thời các Tỉ kheo cũng vừa ăn
xong, đang ngồi thiền hoặc đi kinh hành trước cổng tinh xá
Kỳ Hoàn. Từ xa trông thấy (Tôn Ðà LA Nan Ðà), họ tưởng
là Thế Tôn, liền cùng nhau đứng dậy chắp tay, nói: "Thế
Tôn đến, Thế Tôn đến". Tôn Ðà LA Nan Ðà cũng xoa tay chắp
tay nói: "Các trưởng lão, tôi là Tôn Ðà LA Nan Ðà, tôi là
Tôn Ðà LA Nan Ðà". Các
Tỉ kheo nghe nói thế, ai nấy đều cảm thấy mắc cỡ, bèn
đem sự kiện ấy đến bạch Thế Tôn. Phật dạy: "Từ nay
về sau phải làm một dấu chấm trên y hoại sắc". Thế rồi,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo được y mới phải dùng ba thứ làm hoại sắc,
hoặc dùng một thứ làm hoại sắc (các y ấy), đó là: màu
xanh, màu đen và màu mộc lan. Nếu không dùng ba thứ ấy làm
hoại sắc các y mà đem mặc thì phạm Ba dạ đề. Giải
thích: 1.
Tỉ kheo: Như
trên đã nói. 2.
Ðược: Ðược
từ người nam, người nữ, tại gia, xuất gia. 3.
Y mới: Khi
vừa mới may xong, như y Khâm bà la, y điệp, y Sô ma, y Kiều
xá da, y Xá na, y gai, y Khu mâu đề. 4.
Ba thứ hoại sắc, hoặc mỗi một thứ hoại sắc:
Ðó là màu xanh, màu đen, màu mộc lan. 5.
Màu xanh: Ðó
là màu xanh đồng, màu xanh trưởng dưỡng và màu xanh đá. -
Mầu xanh đồng: Ðem đồ đựng bằng đồng để lên trên
rượu đắng (làm cho đồng sanh ten) rồi lấy ten ấy, đó
gọi là màu xanh đồng. -
Màu xanh trưởng dưỡng: Tức màu xanh của bã chàm, hay màu
xanh lam. -
Màu xanh đá: Tức màu xanh da trời. Nói
chung, đem các màu kể trên điểm tịnh (làm dấu cho hợp lệ)
trên y. 6.
Màu đen: Gồm
hai loại: Danh tự nê và bất danh tự nê. -
Danh tự nê: (Dùng bột của các loại) a lê lặc, tì ê lặc,
a ma lặc đổ chung vào một cái tô; đó gọi là danh tự nê. -
Bất danh tự nê: Ðó là bùn thật, bùn dưới hồ, bùn dưới
giếng, nói chung các loại bùn như vậy. 7.
Màu mộc lan:
Hoặc dùng a lê lặc, tì ê lặc, a ma lặc mài trên sắt, đem
điểm tịnh; đó gọi là màu mộc lan. Tỉ
kheo được y mới không tác tịnh (hay điểm tịnh) mà đem
mặc, thì phạm Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
được y Tăng già lê mới, tác tịnh thì tốt, không tác tịnh
thì phạm Ba dạ đề. Cũng vậy, khi được Uất đa la tăng,
An đà hội, y tắm mưa, y che ghẻ, tọa cụ (tấm trải ngồi)
đem tác tịnh thì tốt, nếu không tác tịnh thì phạm Ba dạ
đề. Y
Khâm bà la tác tịnh bằng hai cách: cắt may "tịnh"và điểm
tịnh màu xanh. Khi cắt may tịnh mà không điểm tịnh màu xanh
thì phạm Ba dạ đề. Khi
điểm tịnh màu xanh mà không điểm tịnh bằng cắt may thì
phạm tội Việt tì ni. Không
điểm tịnh màu xanh, cũng không điểm tịnh bằng cắt may,
thì phạm một tội Ba dạ đề, một tội Việt tì ni. [369c]
Vừa tác tịnh bằng cắt may, vừa tác tịnh bằng màu xanh
thì không có tội. Y
nhiều lớp phải tác tịnh bằng ba cách: tác tịnh bằng cắt
may, tác tịnh bằng nhuộm và tác tịnh bằng màu xanh. Nếu
tác tịnh bằng cắt may, tác tịnh bằng nhuộm mà không tác
tịnh màu xanh, thì phạm một tội Ba dạ đề. Nếu
tác tịnh màu xanh mà không tác tịnh bằng cắt may, không tác
tịnh bằng nhuộm, thì phạm hai tội Việt tì ni. Không
tác tịnh bằng cắt may, không tác tịnh bằng nhuộm, không
tác tịnh bằng màu xanh, thì phạm một tội Ba dạ đề, hai
tội Việt tì ni. Nếu tác tịnh bằng ba cách trên thì không
có tội. Y
sô ma tác tịnh ba cách giống như y nhiều lớp; y Kiều xá
da tác tịnh hai cách như y Khâm bà la; y xá na, y ma, y Khu mâu
đề tác tịnh bằng ba cách giống như y nhiều lớp, đó là
tác tịnh màu xanh, màu đen và màu mộc lan cũng lại như vậy. Khi
tác tịnh không được lớn, không được nhỏ, lớn tối đa
bằng bốn ngón tay, nhỏ tối thiểu bằng hạt đậu. Hoặc
dùng a lê lặc, tì ê lặc, a ma lặc để trên sắt ép lấy
nước rồi tác tịnh; không được làm thành số chẵn, (mà
làm thành số lẻ) hoặc một, hoặc ba, hoặc năm, hoặc bảy,
hoặc chín; không được tác tịnh như hình đóa hoa. Nếu khi
giặt, vá mà có bùn rơi lên trên, hoặc có dấu chân đất
của chim, quạ dẫm lên trên, thì cũng được xem là đã tác
tịnh. Nếu
được nhiều phẩm vật tạp nhạp rồi đem để đống một
chỗ, thì chỉ cần tác tịnh một chỗ. Nếu đổ thành nhiều
đống thì mỗi đống đều tác tịnh. Nếu
may tăng già lê mới thì phải tác tịnh tại một góc. Nếu
chắp thêm nửa điều hoặc một điều cũng phải tác tịnh. Y
Uất đa la tăng, An đà hội và tất cả các y khác khi mới
vá cũng phải tác tịnh. Thế
nên nói (như trên). 47.
GIỚI: CẤT GIỮ BẢO VẬT. Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, nói rộng như trên. Bấy
giờ vào ngày mười lăm trăng tròn, vua A Xà Thế, con bà Vi
Ðề Hi tắm rửa xong, thoa dầu vào thân, mặc áo mới, cùng
quần thần hội họp tại cung điện, vua nói với một Ðại
thần: -
Hôm nay là ngày trăng tròn, chúng ta nên đến chỗ Sa môn hay
Bà la môn nào để trưởng dưỡng thiện căn? Vị
Ðại thần nói: -
Phất lan ca diếp đang ở trong thành Vương Xá là bậc đại
Sa môn, lại có đồ chúng đông đảo, đại vương nên đến
với ông ta, sẽ được trưởng dưỡng thiện căn. Vua
im lặng không nói. Lại có một đại thần nói: "Tát già ni
kiền tử đang ở trong thành Vương Xá là bậc đại Sa môn,
nên đến với ông ta sẽ được trưởng dưỡng thiện căn".
Như vậy, mỗi vị đại thần, vốn là đệ tử của ngoại
đạo, ông nào cũng ca tụng Thầy mình, đều bảo nên đến
vị ấy sẽ được trưởng dưỡng thiện căn. Bấy giờ, Kỳ
cựu Ðồng tử đang cầm lọng đứng hầu vua A Xà Thế, vua
nói với Ðồng tử: "Mọi người đều nói, vì sao ông im lặng
không nói? Hôm nay trăng tròn nên đến nơi nào [370a] để được
trưởng dưỡng thiện căn?". Ðồng tử tâu với vua: "Ðức
Thế Tôn hiện giờ đang ở trong vườn Am bà la của hạ thần
cùng với 1.250 Tỉ kheo, nếu đến đó thì có thể trưởng
dưỡng thiện căn". Vua liền chuẩn thuận lời đề nghị ấy,
rồi nói với Kỳ cựu Ðồng tử: "Ngươi hãy tức tốc trang
bị năm trăm voi cái, cứ trên mỗi thớt voi chở một phu nhân". Khi
ấy, Kỳ cựu Ðồng tử bèn theo lời vua mà trang bị, trang
bị xong liền đến tâu vua: "Tâu đại vương, hạ thần trang
bị xong rồi, Ðại vương hãy làm những gì mình cần". Thế
rồi, vua A Xà Thế cùng với năm trăm phu nhân, được quân
lính cầm đèn đuốc sáng choang, nhiễu hành trước sau, ra
khỏi thành Vương Xá vào lúc nửa đêm, đi đến trước cổng
vườn Am bà la. Lúc ấy các Tỉ kheo đang ngồi thiền. Vua cảm
thấy hoảng sợ, quay lại nói với Ðồng tử: "Ngươi bảo
có 1.250 Tỉ kheo đang ở trong vườn của ngươi, đại chúng
đông đảo như vậy mà sao im phăng phắc chẳng có tiếng động
gì hết chẳng phải ngươi định lừa dối Ta sao?". Ðồng
tử đáp: "Thật đấy, hạ thần không dối vua đâu, cứ đi
thẳng tới". Rồi Ðồng tử chỉ dẫn, nói: "Trong ngôi nhà
lớn chỗ có đèn đốt sáng, Thế Tôn đang ngồi chính giữa
uy đức đáng tôn trọng đặc biệt, cao cả không gì hơn,
giống như trâu chúa ở giữa đàn trâu, như vua sư tử ở
giữa muông thú, như vua voi trắng sáu ngà tại Tuyết Sơn đang
ở giữa bầy voi, cũng như sông Hằng sâu thẳm, trong trẻo,
im lặng không có tiếng động; đại chúng im lặng cũng như
vậy. Lại giống như biển lớn vô lượng nước đều đổ
về đó. Ðại chúng của đức Thế Tôn có công đức vô lượng
cũng như thế". Bấy
giờ, vua A Xà Thế xuống xe mặc thường phục đi bộ, dẫn
đầu đoàn người tiến đến chỗ Phật, nhiễu quanh Phật
và đại chúng ba vòng, rồi đứng lại, nói với Ðồng tử:
"Thế Tôn cùng đại chúng công đức thành tựu vắng lặng
thanh tịnh, mong sao con của ta là Ưu đà di bạt đà cũng thành
tựu công đức như vậy". Phật nói: "Ðại vương, tùy theo
sự cầu nguyện của đại vương đều sẽ đạt được".
Thế rồi, nhà vua trải tòa, mời Phật an tọa. Phật dạy:
"Ðại vương tự ngồi, Như Lai đã có chỗ ngồi". Bấy giờ,
vua cúi đầu đảnh lễ chân Phật, đứng qua một bên, bạch
với Phật: -
Bạch Thế Tôn, con có điều muốn hỏi, kính mong Phật cho
phép. -
Như Lai cho phép đại vương cứ hỏi, rồi Như Lai sẽ trả
lời cho đại vương. -
Bạch Thế Tôn, trong đây các loại thợ xuất gia theo giáo
pháp của Phật có thể chứng quả Sa môn ngay trong đời này
không? (Như trong kinh Sa môn Quả đã trình bày). Lúc
ấy, vì thuyết pháp quá lâu, các vị phu nhân đeo chuỗi anh
lạc nặng, nên ai nấy đều cởi ra để trước chỗ ngồi.
Vua A Xà Thế vì mang tội giết cha, nên trong lòng thường nơm
nớp hoảng sợ, khi nghe trong thành có tiếng trống, tiếng
tù và, tiếng voi, tiếng ngựa [370b], vua sợ hãi dữ dội,
liền nói với các phu nhân: "Hãy trở về trong thành, hãy trở
về trong thành". Các
phu nhân vì đi về quá gấp nên quên lấy chuỗi anh lạc. Ðến
sáng sớm hôm sau, phu nhân của vua định đeo chuỗi anh lạc,
nhưng tìm không có. Người mặc áo cho bà nói: "Ngày hôm qua
vì hoảng hốt khi trở về e rằng để quên tại tinh xá".
Cũng thế, các phu nhân đều nói mình để quên anh lạc, nhưng
họ sợ rằng nếu tâu với vua thì sẽ bị vua quở trách.
Bấy giờ có một thanh y (con hầu) tâu với vua: "Các phu nhân
hôm qua trở về gấp, nhiều người bỏ quên chuỗi anh lạc".
Lúc ấy, có Bà la môn ngoại đạo là quân sư của vua, đang
ngồi với vua, liền tâu rằng: "Nếu để quên tại đó thì
các Sa môn đã đem giấu hết rồi, giả sử có sai người
đến tìm cũng chẳng được gì!". Khi
ấy, vua sai một người đáng tin, thử đến đó tìm xem (thì
khi ông này đến nơi) thấy đại chúng của Phật còn ngồi
y nhiên tại đó, và thấy những chuỗi anh lạc của các phu
nhân vẫn còn tại chỗ cũ, bị ánh sáng mặt trời chiếu
sáng rực rỡ, bèn thu lấy mang về, rồi tâu đầy đủ lên
vua. Vua rất đỗi vui mừng, nói: "Các Sa môn của Phật đúng
là phước điền tốt lành, không tham, không ham muốn, đặc
biệt đáng tin cậy, không ai hơn được hội chúng này, mong
rằng họ thường ở trong nước ta, để ta được cúng dường
suốt đời". Rồi vua nói với các phu nhân: "Anh lạc của các
Khanh đây, mỗi người hãy lại lấy, không được làm hỗn
loạn, giành lấy cái tốt". Các
Tỉ kheo nghe vị ngoại đạo quân sư của vua nói như thế,
liền đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bèn
nói với các Tỉ kheo: "Châu báu vẫn còn nguyên vẹn không
ai lấy, mà còn bị người ta hủy báng, huống gì bị lấy
mất. Từ nay về sau Ta không cho phép cầm lấy châu báu". Lại
nữa, khi Phật an trú tại Tì xá li, nói rộng như trên. Bấy
giờ, đồng tử Lê xa mang các thứ châu báu bên lưng, có giá
trị hàng ngàn vạn, cưỡi xe bốn ngựa ra khỏi thành du ngoạn.
Vì châu báu mang nặng nên bị tuột rơi xuống đất mà không
hay. Lúc ấy, có một Tỉ kheo đi theo sau, vừa đến đó thì
thấy châu báu rơi xuống đất, liền gọi: "Ðồng tử, Ðồng
tử, lấy lại châu báu của ông". Nhưng vì tiếng xe nên Ðồng
tử không nghe. Thầy sợ người đi sau nhặt lấy, nên đứng
bên đường coi chừng. Ðồng tử đi một lát liền biết bị
mất cái đai lưng, bèn quay xe trở lại, từ xa trông thấy
Tỉ kheo, liền hỏi: "Ông đi sau có thấy cái đai lưng không?". Tỉ
kheo đáp: "Tôi thấy có chiếc đai lưng, vừa rồi từ xa gọi
ông, nhưng ông không nghe". Ðồng
tử lại hỏi: "Ở tại chỗ nào?"Thầy đáp: "Tại chỗ kia
kìa". Ðồng tử liền đi đến lấy chiếc đai, buộc vào lưng
xong, bèn nắm Tỉ kheo đánh vào tay chân một trận nhừ tử,
lại mắng chửi đủ thứ, nói: "Nếu ta không trở lại thì
ngươi đã lấy chiếc đai lưng rồi". Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên [370c] Thế Tôn.
Phật nói: "Không lấy mà còn sinh ra tai họa như thế, huống
gì lấy". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Tì xá li, nói rộng như trên.
Bấy giờ, có Tỉ kheo đi tới sông Tô, cởi áo xuống tắm,
lúc ấy có đồng tử Lê xa cũng đến tắm sông bèn cởi vòng
đeo tai để một chỗ, rồi lấy áo tủ lên, xuống nước
tắm. Khi tắm xong, anh ta lên bờ, mặc áo vào, rồi ra đi mà
quên vòng đeo tai. Tỉ kheo lên sau, thấy chiếc vòng đeo tai,
liền từ xa gọi: "Ðồng tử, đồng tử, vòng tai của ông
còn để trên bờ". Nhưng đồng tử vì đi nhanh nên không nghe
thầy gọi, cứ từ từ đi một đỗi xa, bèn trực nhớ lỗ
tai không có vòng, liền trở lại tìm, từ xa hỏi Tỉ kheo:
"Có thấy vòng tai của tôi không?". Tỉ
kheo đáp: "Vòng tai của ông còn để trên bờ, vừa rồi tôi
trông thấy bèn từ xa gọi ông, nhưng ông đi nhanh nên không
nghe tiếng gọi". Ðồng
tử hỏi: "Hiện giờ ở chỗ nào?". Thầy đáp: "Tại chỗ
kia kìa". Ðồng tử liền đến lấy vòng tai, đeo vào xong,
bèn nắm Tỉ kheo đánh đấm túi bụi, và mắng: "Như vậy,
như vậy đó, nếu ta không trở lại thì ngươi sẽ lấy vòng
tai của ta đi mất". Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền nói với các Tỉ kheo: "Không lấy bảo vật mà còn sinh
ra tai họa như thế, huống gì lấy". Lại
nữa, khi Phật an trú tại vườn cây Ni câu luật thuộc dòng
họ Thích, nước Ca duy la vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
có con nhà họ Thích cúng dường cơm cho các Tỉ kheo, cùng
thân quyến dọn cơm, nhưng vì đeo vòng vàng nặng nề, dọn
cơm không tiện, nên cởi vòng xuyến để bên cạnh chân Tỉ
kheo, nói như sau: "Vòng vàng này con để bên cạnh chân thầy".
Tỉ kheo ăn xong bèn đứng dậy bỏ đi, sau đó, có người
trông thấy liền cầm lấy vòng xuyến rồi đi. Người con
dòng họ Thích ấy khi đãi cơm xong, liền trở về, quên lấy
vòng xuyến. Khi về đến nhà mới hay là không có chiếc vòng,
ông bèn trở lại chỗ cũ tìm mà không thấy, liền đi tìm
thầy Tỉ kheo mà mình đã gởi, nói: -
Thầy trả lại chiếc vòng mà trước kia tôi đã gởi. -
Tôi nhớ chiếc vòng ông đã gởi còn ở chỗ cũ mà, tôi đâu
có lấy. -
Tôi gởi không đúng chỗ nên bị mất chiếc vòng. Thế
rồi, trong lòng ông ta không vui, liền đến chỗ Phật, cúi
đầu đảnh lễ chân Phật, bạch với Phật: "Vừa rồi, con
đem chiếc vòng gởi cho Tỉ kheo mỗ giáp, thầy không chịu
coi chừng nên đã bị mất". Phật bèn tùy thuận thuyết pháp
cho người con họ Thích ấy, chỉ bảo những điều lợi ích,
khiến ông ta hoan hỉ, rồi cáo lui. Sau khi ông đi không lâu,
Phật bèn bảo gọi Tỉ kheo kia đến. Khi thầy đến rồi,
Phật liền hỏi: -
Ông có việc đó thật chăng? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Nếu ông đã nhận người ta gởi thì phải coi chừng, còn
nếu không nhận thì bảo là không nhận. Vì sao ông đã nhận
đồ người ta gởi mà không trông coi? Từ nay về sau, [371a]
nếu trong vườn có châu báu hoặc những bảo vật có giá
trị thì Ta cho phép tự mình lấy cất, hoặc là sai người
khác lấy cất. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại Ca
duy la vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích
mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe
lại: --
Nếu Tỉ kheo (trông thấy) châu báu hoặc bảo vật có giá
trị ở trong vườn mà tự mình lấy hoặc sai người khác
lấy, trừ trường hợp đặc biệt thì phạm Ba dạ đề. Giải
thích: Trường
hợp đặc biệt:
Tỉ kheo thấy châu báu hoặc bảo vật có giá trị, rồi tự
mình lấy, hoặc sai người khác lấy, với suy nghĩ: "Có chủ
tới tìm, ta sẽ đưa". Ðó gọi là trường hợp đặc biệt. Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Trong
vườn: Trong
vườn tháp, trong vườn của chúng Tăng. Châu
báu: Vật
dụng đã thành, chẳng hạn: Thiên quan, bảo cái, anh lạc,
cán phất trần, guốc báu ..., những bảo vật đã làm thành
dụng cụ như vậy. Bảo
vật có giá trị:
như tiền, vàng, bạc, chân châu, lưu ly, hà bối, san hô, hổ
phách, pha lê, xích bảo, đồng, đồng đỏ, chì, thiết, bạch
lạp, sắt... Lấy:
Nếu vật hợp pháp (tịnh) được tự tay cầm lấy, nếu vật
không hợp pháp thì sai tịnh nhân lấy. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Trường
hợp đặc biệt: Nếu trong vườn tháp, trong vườn của chúng
Tăng, Tỉ kheo thấy có châu báu hay bảo vật có giá trị mà
thanh tịnh thì nên tự lấy; nếu vật không thanh tịnh thì
sai tịnh nhân lấy cất, với suy nghĩ: "Nếu có chủ tìm thì
sẽ trả lại". Chỉ nghĩ như vậy chứ không có gì khác (đó
gọi là trường hợp đặc biệt). Hoặc vào các dịp Phật
đản sinh, dịp Phật thành đạo, dịp Chuyển pháp luân, dịp
A Nan, La hầu la mở đại hội; khi ấy những người đi xem
hoặc quên y phục và các vật dùng để trang điểm thân thể;
hoặc Tỉ kheo quên y bát và các vật khác mà Tỉ kheo thấy
thì nên lấy, lấy rồi nên hỏi xem vật đó của ai. Nếu
đúng là chủ của vật thì nên trao cho họ. Nếu không ai biết
thì nên đem treo trên cây trụ ở chỗ dễ trông thấy cho người
ta trông thấy. Nếu có người nói: "Ðó là vật của tôi",
thì nên hỏi: "Ngươi mất tại chỗ nào?". Nếu đáp tương
ưng thì nên đưa. Nếu không ai biết thì nên đình lại đến
ba tháng. Nếu vật đó nhặt được ở trong vườn tháp thì
nên dùng để làm tháp. Nếu nhặt được trong vườn Tăng
thì nên dùng làm vật cho Tăng bốn phương. Nếu là vật quí
báu như ngọc, anh lạc, vàng, bạc thì khi ấy không được
phơi bày ra mà nên xướng: "Tôi được của báu". Rồi Tỉ
kheo nên xem xét kỹ lưỡng, coi thử hình dáng thế nào, rồi
mới cầm lên. Nếu có người đến hỏi: "Tôi để quên vật
báu thầy có thấy không?". Tỉ kheo khi ấy nên hỏi lại: "Ông
để quên tại chỗ nào? Vật báu của ông có hình dáng thế
nào?". Nếu họ nói không phù hợp, thì nên bảo: "Chùa này
rộng lớn ông hãy đi tìm xem". Nếu họ nói phù hợp, thì
nên đưa vật báu ra hỏi: "Lão trượng, vật này là của ông
phải không?". Nếu đáp: "Ðúng đấy", thì Tỉ kheo không được
đưa ngay trước một người ấy mà nên [371b] tập họp nhiều
người, rồi bảo người ấy rằng: "Ông hãy quy y Phật, Pháp,
Tăng. Nếu đức Thế Tôn không chế giới thì dù mắt ông
muốn xem lại cũng chưa chắc đã được (chứ đừng nói là
nhận lại được). Nếu ông ta nói: "Ngoài vật báu này của
tôi còn có vật khác", thì nên bảo: "Lão trượng, tôi chỉ
được có vật này, ngoài ra không thấy những vật khác. Này
Lão trượng, ngươi là kẻ gian ác! Ngươi được lại vật
này đã là quá lắm rồi, vì sao còn muốn đòi vật khác đặng
hủy báng người Ta? Nếu Thế Tôn không chế giới thì ngươi
đâu có thể thấy lại vật này". Nếu làm như vậy mà vẫn
không xong, thì nên đem y đến chỗ Ưu bà tắc, rồi nói như
sau: "Tôi vốn chỉ nhặt được có vật này, đã đem trả
lại hết, mà còn bị vu khống". Bấy giờ Ưu bà tắc nên
mắng kẻ ấy: "Như thế như thế đấy (quân khốn kiếp).
Ngươi được lại vật ấy đã là quá lắm rồi mà giờ đây
lại còn hủy báng Tỉ kheo! Ngươi hãy theo ta, ta sẽ cùng với
ngươi đối chất để giải quyết việc này". Nếu
không có ai đến (tìm) thì chờ đến ba năm- như trên đã
nói – rồi tùy theo nhặt được ở nơi nào mà đem dùng vào
trong lãnh vực đó. Nếu
Tỉ kheo đi vào xóm làng mà thấy có vật rơi dưới đất
thì không nên lấy. Nếu có người lấy đưa cho Tỉ kheo thì
Tỉ kheo được nhận. Vì người cho tức là thí chủ, nên
không có tội. Nếu
Tỉ kheo vào thôn xóm, thấy có y rơi, hoặc là y bị gió thổi
bay đến, thì không được tưởng là y phấn tảo rồi nhặt
lấy. Nếu
ở nơi đường vắng không có người mà thấy có y rơi thì
nên lấy. Nếu thấy trên y có châu báu thì nên dùng gót chân
đạp bỏ châu báu rồi cầm y mà đi. Lúc đi không nên che
giấu mà nên cầm bày ra để cho người ta trông thấy. Nếu
trên y bị dơ bẩn khiến người ta nhờn tởm thì được xếp
lại mà cầm đi. Nếu khi nhặt không biết trong y có vật báu
đến khi về tới trú xứ mới thấy thì nên giao cho tịnh
nhân quản lý để họ đổi lấy tiền mua thuốc. Khi
đi ra khỏi xóm làng nếu giữa đường thấy y mà trên y có
bụi dính lâu ngày thì nên lấy. Lấy rồi, không được che
giấu mà phải bày ra cầm đi, nếu có chủ chạy theo, Tỉ
kheo nên hỏi: "Lão trượng, vì sao chạy?". Nếu họ đáp: "Tôi
mất y", thì nên hỏi: "Ðây là y của ông phải không?". nếu
nói: "Ðúng đấy", thì nên trả lại và bảo họ: "Ông nên
quy y Phật Pháp Tăng. Nếu Thế Tôn không chế giới thì giả
sử ông có thấy lại y cũng không thể lấy được". Nếu
phòng ốc của chúng Tăng cũ kỹ, hư nát muốn sửa chữa mà
khi đào đất đổ nền gặp được kho tàng châu báu, nếu
như tịnh nhân không đáng tin, thì nên tâu lên vua, giả sử
vua nói: "Vật này đương nhiên thuộc về Trẫm, nay trẫm bố
thí cho Tỉ kheo để làm công đức", thì nhà vua được xem
là thí chủ. Nếu đã dùng một nửa, còn một nửa, mà vua
nói: "Vì sao ông sử dụng vật của trẫm? Nếu đã dùng thì
phải ngừng lại, còn bao nhiêu đưa cho trẫm", thì Tỉ kheo
nên đưa số còn lại cho vua. Nếu vua nói: "[371c] Vì sao ông
dùng vật của trẫm? Ðưa hết lại cho trẫm", mà Tỉ kheo
đã lỡ sử dụng vật đó, thì phải lấy vậy của Tăng trả
lại. Nếu Tăng không có vật thì phải xin vật khác trả lại.
Nếu vua nói: "Ðã lỡ sử dụng thì phải ngừng lại, công
đức ấy thuộc về trẫm", thì cũng như vua dùng. Khi
sửa chữa tháp cũ được vàng bạc châu báu mà tịnh nhân
không đáng tin, thì nên tâu lên vua. Nếu tịnh nhân đáng tin
thì được giữ lấy, rồi cất đó trong ba năm. Sau ba năm
nên đem dùng làm các việc cho tháp. Nếu nhà vua biết được,
hỏi Tỉ kheo: "Ông được kho báu ở trong vườn tháp phải
không?", thì nên đáp: "Có được". Nếu đã sử dụng thì
nên đáp: "Có được mà đã dùng làm tháp". Rồi nhà vua nói:
"Ðã làm thì phải ngừng lại. Công đức này thuộc về trẫm".
Nếu đã dùng một nữa, còn lại một nửa, rồi vua nói: "Ðã
dùng thì ngừng lại, chỗ còn đó đưa cho trẫm", thì phải
đưa số còn lại cho vua. Nếu vua nói: "Ông không biết rằng
bảo vật trong đất thuộc về trẫm sao? Vì sao ông lấy dùng?
Trả hết lại cho trẫm", thì bấy giờ Tỉ kheo nên lấy vật
của tháp trả lại. Nếu tháp không có vật thì phải nhân
danh tháp xin vật để trả lại. Nếu vua hỏi: "Trong giới
luật của Phật như thế nào?", thì Tỉ kheo nên đáp: "Trong
Phật pháp nếu được vật nơi đất của tháp thì dùng làm
tháp. Nếu được vật nơi đất của Tăng thì sử dụng cho
Tăng". Nếu vua nói: "Theo Phật pháp mà sử dụng", thì sử
dụng không có tội. Nếu trên kho báu có miếng sắt dùng khắc
tên họ, rồi vua hỏi: "Các đại đức thấy trên kho báu ấy
có tên họ như thế phải không? ", thì Tỉ kheo nên đáp: "Có
thấy như vậy, nhưng đã dùng làm tháp xong rồi. Nếu vua nói:
"Ðó là vật của tiền nhân trẫm, vì sao ông sử dụng? Ðã
sử dụng thì phải trả lại cho trẫm". Hoặc vua nói: "Ðã
làm tháp hoàn thành rồi thì công đức đó thuộc về trẫm",
thì không có tội. Hoặc vua nói: "Nếu đã dùng một nửa thì
nửa còn lại trả cho trẫm", thì khi ấy Tỉ kheo nên trả
số còn lại cho vua. Nếu vua nói: "Vì sao ông dùng vật của
tiền nhân trẫm? Phải trả hết tất cả cho trẫm", thì khi
ấy nên trả hết lại. Nếu tháp có vật thì nên lấy trả,
nếu không có vật thì đi xin về trả. Nếu vua nói: "Ðây
là vật của tiền nhân mà tiền nhân đã chết, nên công đức
này thuộc về họ"thì không có tội. Khi
làm chùa mới, làm tháp mới mà được bảo vật thì cũng
như vậy. Thế nên nói (như trên). 48.
GIỚI: TẮM QUÁ GIỚI HẠN CHO PHÉP. Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, nói rộng như trên. Thành
Vương Xá có ba suối nước nóng: suối nước nóng của vua,
suối nước nóng của Tỉ kheo và suối nước nóng của voi.
Suối nước nóng của vua thì vua, các phu nhân ở hậu cung
và các Tỉ kheo đệ tử của Phật tắm. Suối nước nóng
của Tỉ kheo thì Tỉ kheo Tăng của Phật tắm. Suối nước
nóng của voi thì voi và mọi người tắm. Khi ấy, các Tỉ
kheo vào suối nước nóng của vua tắm. Lúc này vua dùng dầu
thoa thân định vào suối nước nóng tắm, bèn hỏi viên quản
lý suối: "[372a] Suối nước nóng có trống không?" -
Trong suối không trống, có các Tỉ kheo đang tắm. -
Hãy để các Tỉ kheo tắm xong, trẫm đi đến Thế Tôn rồi
trở về sẽ tắm. Vua
liền đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ chân Phật,
rồi trở về, lại hỏi người quản lý: -
Trong hồ đã trống chưa? -
Chưa trống. Như
vậy tới ba lần mà các Tỉ kheo vẫn chưa ngừng tắm. Vua
lại nói: "Cứ để họ tắm, chớ gọi họ lên làm gì. Trẫm
sẽ trở về tắm trong cung". Mọi người nghe vậy, đều chê
trách, nói: "Sa môn Thích tử tự nói mình tốt đẹp có đức
hạnh mà vẫn ở mãi trong hồ không để cho đại vương được
tắm". Các
Tỉ kheo nghe thế, liền đem sự việc ấy đến bạch Thế
Tôn. Phật bèn nói với các Tỉ kheo: "Không ở đâu có được
ông vua nhẫn nại hết sức như vậy! Từ nay trở đi, Ta
không cho (các Tỉ kheo) tắm (hồ của vua)". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, Thế Tôn chế giới không cho tắm, các Tỉ kheo không
được tắm nên thân thể dơ bẩn hôi hám. Khi ấy Thế Tôn
thuyết pháp cho các Tỉ kheo. Các Tỉ kheo thường ngồi ở
chỗ dưới gió, vì sợ mùi hôi hám làm ô uế các vị phạm
hạnh. Phật biết mà vẫn hỏi: "Này các Tỉ kheo, vì sao chỉ
ngồi một chỗ ấy in tuồng như giận hờn ai vậy?". Các Tỉ
kheo liền bạch với Phật: "Vì Thế Tôn chế giới không cho
tắm nên thân thể dơ bẩn, hôi hám, sợ làm ô uế các vị
phạm hạnh, cho nên phải ngồi ở dưới gió". Phật dạy:
"Từ
nay về sau, ta cho phép, nửa tháng tắm một lần". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, các Tỉ kheo Tháng xuân nóng mà không được tắm
nên thân thể ngứa ngáy, bứt rứt. Do thế, họ đem sự kiện
ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: "Từ nay về
sau vào mùa nóng ta cho phép được tắm trong hai tháng rưỡi:
một tháng rưỡi cuối mùa Xuân và một tháng đầu mùa hạ.
Ðó gọi là hai tháng rưỡi". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, sau khi an cư xong, Ngài
cùng các Tỉ kheo du hành trong nhân gian đi đến nước Kều
tát la, giữa đường gặp chỗ cỏ cây rậm rạp, ở dưới
thì khí nóng xông lên, bên trên thì mặt trời thiêu đốt,
khiến cho rất khổ não. Các Tỉ kheo bèn chạy nhanh đến chỗ
có nước, như nai chạy tới hồ. Phật biết mà vẫn hỏi
(nguyên nhân). Các Tỉ kheo liền kể đầy đủ sự việc trên...,
vì khổ não như vậy nên mới tranh nhau chạy đến chỗ có
nước. Phật liền dạy: "Từ nay về sau, Ta cho phép khi đi
được quyền tắm". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Vì năm sự lợi ích nên Thế Tôn cứ năm hôm đi tuần tra
phòng ốc các Tỉ kheo một lần. Ngài trông thấy một Tỉ
kheo bị bệnh ghẻ ngứa, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi: "Tỉ
kheo, ông có thấy dễ chịu không?"Thầy đáp: "Bạch Thế Tôn,
không được dễ chịu. Con bị bệnh [372b] ghẻ ngứa, nếu
được tắm thường xuyên thì mới an lạc, nhưng Thế Tôn
chế giới không cho tắm cho nên không được an lạc". Phật
dạy: "Từ nay trở đi, Ta cho phép Tỉ kheo có bệnh được
tắm". Lại
nữa, khi Phật an trú tại tinh xá Khoáng Dã, nói rộng như
trên. Bấy giờ, thầy Tỉ kheo doanh sự chở đất, chở gạch,
làm các công việc mà không dám tắm, cứ để nguyên như thế
nằm ngủ. Sáng sớm hôm sau, trên chân có dấu bùn đất, Phật
biết nhưng vẫn hỏi: "Này Tỉ kheo, trên chân ông vì sao có
dấu đất?". Thầy
đáp: "Bạch Thế Tôn, con làm các công việc bị bùn vấy bẩn
thân mình, mà vì sợ phạm giới nên không dám tắm, do đó
chân con có vết bùn". Phật nói: "Từ nay trở đi, Ta cho
phép khi làm việc được tắm". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, các Tỉ kheo gặp cơn gió thổi mạnh, khiến bụi
tấp trên mình, rồi lại gặp trời mưa, nhưng không dám tắm,
cứ để y như thế nằm ngủ. Sáng sớm hôm sau họ đến vấn
an Thế Tôn, Phật biết nhưng vẫn hỏi: "Này Tỉ kheo, trên
thân ông vì sao có bụi bẩn như thế?". Thầy
đáp: "Bạch Thế Tôn, ngày hôm qua bị gió thổi bụi tấp
trên mình, lại gặp trời mưa, nhưng con không dám tắm, cho
nên trên thân có vết bụi bẩn". Phật nói: "Từ hôm nay,
Ta cho phép khi có gió lớn được tắm". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ trời đang quang đãng, có ít sợi mây nổi lên, rồi
bỗng chốc đổ cơn mưa lớn. Phật
nói với các Tỉ kheo: "Ðó là trận mưa tốt lành đầu tiên
ở cõi Diêm phù đề này, các ông nên tắm mưa, nước mưa
có thể trừ được các bệnh ghẻ chốc trong mình". Nhưng
các Tỉ kheo trong lòng hồ nghi: "Ðức Thế Tôn chế giới không
được tắm, vì sao nay chúng ta lại được tắm?". Phật
dạy: "Từ nay về sau, Ta cho phép khi trời mưa thì được
tắm". Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo chưa đến nửa tháng mà tắm - trừ trường hợp
đặc biệt - phạm Ba dạ đề. Giải
thích: Trường
hợp đặc biệt: Một tháng rưỡi cuối mùa Xuân và một tháng
đầu mùa hạ, trong hai tháng rưỡi đó, và các dịp như: khi
trời nóng, khi bệnh, khi làm việc, khi gió, khi mưa, khi đi
đường; đó gọi là các rường hợp đặc biệt. Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Nửa
tháng: Nếu
tắm ngày mười lăm thì tính đủ mười lăm ngày nữa rồi
tắm. Nếu tắm ngày mười bốn, mười ba, mười hai, mười
một, mười, chín, tám, bảy, sáu, năm, bốn, ba, hai, một thì
nên từ ngày tắm đếm đủ mười lăm ngày rồi tắm nữa. Trừ
trường hợp đặc biệt:
(Những ngày ấy) Thế Tôn nói không có tội. Khi
nóng: Một
tháng rưỡi cuối mùa Xuân và một tháng đầu mùa hạ, trong
khoảng hai tháng rưỡi ấy chính là khi nóng. Nhưng không được
kể trước và sau mà chỉ nên kể trong hiện tại. [372c]
Khi
bệnh: Nếu Tỉ kheo bị các chứng bệnh như: ghẻ lở,
ghẻ ngứa, lác, sài, ung thư ... cần phải tắm mới được
thỏa thích, thì cho phép tắm. Ðó gọi là khi bệnh. Nhưng
không kể trước và sau mà chỉ nên kể trong hiện tại. Khi
làm việc:
Trong tất cả các lúc chúng Tăng làm việc: Tỉ kheo làm đất,
sửa chữa phòng ốc, hoặc khai thông vũng nước đọng, hoặc
vét giếng, hoặc đổ nền phòng xá, hoặc quét tước, hoặc
tắm rửa cho Hòa thượng, A xà lê, cho đến quét tháp viện,
Tăng viện, thậm chí cầm cây chổi quét năm, sáu cái thì
được gọi là khi làm việc. (Những lúc ấy) tắm thì không
có tội. Nhưng không được kể trước và sau mà chỉ được
kể trong hiện tại. Khi
gió: Nếu
Tỉ kheo bị gió thổi, bụi tấp trên mình thì được tắm
rửa không có tội. Nhưng không được kể trước và sau mà
chỉ được kể trong hiện tại. Khi
mưa: Nếu
trời mưa mà tắm thì không có tội. Nhưng không được kể
trước và sau mà chỉ được kể trong hiện tại. Khi
đi: Khi đi
ba do diên, hai do diên, ít nhất là một câu lô xá, hoặc đi,
hoặc lại, thì gọi là khi đi. Lúc đó tắm thì không có tội.
Nhưng không được kể trước và sau mà chỉ được kể trong
hiện tại. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ kheo không gặp các dịp kể trên thì nên bắt chước phương
pháp tắm của thợ đúc: trước hết rửa hai đầu gối, hai
bàn chân, sau đó mới thấm nước trên đầu, mặt, sau lưng,
cánh tay, khuỷu tay, ngực, nách. Thế nên nói (kệ): "Ðốt
lửa, quá ba đêm,
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||