| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
[359b]NÓI
RÕ PHẦN THỨ 6 CỦA 92 PHÁP ÐƠN ÐỀ. 36. GIỚI:
ĂN PHI THỜI. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
Phật nói với các Tỉ kheo: "Như Lai nhờ ăn mỗi ngày một
bữa mà thân thể nhẹ nhàng, được sống an lạc. Các ông
cũng nên ăn mỗi ngày một bữa. Vì ăn mỗi ngày một bữa
thì thân thể nhẹ nhàng, được sống an lạc". Khi ấy tôn
giả Bạt Ðà Lợi bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Con không
kham nổi ăn mỗi ngày một bữa. Vì cớ sao? Vì con ăn cả
buổi sáng, buổi chiều mới được an lạc". Phật liền nói
với Bạt Ðà Lợi: "Nếu ông không thể ăn mỗi ngày một
bữa, thì buổi sáng sớm hãy cầm hai bát vào thôn khất thực,
rồi một bát dùng buổi mai, một bát dùng buổi trưa. Thế
là ăn hai bữa". Thế Tôn dạy đến lần thứ hai, thứ ba như
vậy mà Bạt Ðà Lợi vẫn khăng khăng nói là mình không kham
nổi. Lúc ấy các đệ tử đều vâng lời Thế Tôn dạy, ngoại
trừ Bạt Ðà Lợi. Vì thế thầy cảm thấy hổ thẹn, nên
suốt ba tháng không đến chỗ Phật, như trong kinh Bạt Ðà
Lợi Tuyến đã nói rõ. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, các Tỉ kheo đi khất
thực phi thời nên bị người đời chê trách: "Vì sao Sa môn
Thích tử lại khất thực phi thời, làm mất hết đạo hạnh,
có đạo nào lại như thế?". Các Tỉ kheo nghe thế, liền đem
nhân duyên ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bèn nói với
các Tỉ kheo: "Các ông là người xuất gia mà khất thực phi
thời, nên bị người đời chê trách là phải. Từ nay về
sau, Ta không cho phép khất thực phi thời". Trong đây cũng giống
như trong kinh Ưu đà di Tuyến đã nói rõ. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ có Tỉ kheo ăn vào chặp tối, bị người đời chê
trách: "Vì sao Sa môn Thích tử lại ăn vào buổi tối? Chúng
Ta Là người tại gia còn không ăn vào buổi tối. Những bọn
người Này làm mất phép tắc Sa môn, có đạo nào như vậy!". Các
Tỉ kheo nghe thế bèn đem sự việc ấy [359c] đến bạch lên
Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỉ kheo: "Các
ngươi ăn vào ban đêm nên mới bị người đời chê trách,
từ nay về sau, Ta cho phép ăn trước nửa ngày (từ giờ ngọ
trở về trước), và phải làm dấu bóng mặt trời để ấn
định thời khắc". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, các Tỉ kheo trưóc giờ ăn vào thôn xóm khất thực,
sau giờ ăn, lại đến những nơi người đời tụ tập vui
chơi như công viên, hồ nước để khất thực nữa, nên bị
người đời chê trách nói với bạn: "Ông xem kìa, vị Sa môn
Thích tử ấy vừa mới khất thực tại nhà tôi, giờ đây
lại ra tới hồ nước theo tôi xin nữa! Thật là làm băng
hoại phép tắc của đạo giáo, có đạo nào mà như thế!". Các
Tỉ kheo nghe thế, liền đem sự việc ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ kheo ấy đến. Khi thầy tới
rồi, Phật liền hỏi việc trên: -
Ông có việc đó thật chăng? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Thế thì ông khất thực buổi sáng dùng để làm gì? -
Ðể ăn vào lúc đúng giờ. -
Thế thì sau bữa ăn ông còn xin để làm gì nữa? -
Cất để dành sáng mai ăn. -
Vì sao Ông lại cất giữ thức ăn để ăn? Từ nay trở đi,
Ta không cho phép ăn phi thời, không cho phép cất thức ăn để
ăn. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, nói rộng như trên.
Bấy giờ, tôn giả Bạt Ðà Lợi cảm thấy lòng đầy hổ
thẹn nên khi vào thôn xóm khất thực giống như đi vào giữa
trận chiến, thầy mang theo hai bát để xin, rồi một bát để
dùng hôm nay, còn một bát để dành ngày mai. Lúc ấy, các
Tỉ kheo định vào thôn xóm khất thực, liền gọi Bạt Ðà
Lợi: -
Trưởng lão, chúng ta cùng vào thôn xóm khất thực. -
Các thầy cứ đi đi. Tôi không đi nữa. -
Trưởng lão được lợi ích rất lớn, thầy chỉ ăn một
bữa mà yên ổn cả hai ngày. -
Không phải tôi chỉ ăn một bữa mà được yên ổn cả hai
ngày, mà vì khi tôi vào thôn xóm giống như đi vào trận chiến,
cho nên tôi đem theo hai bát để xin ăn cả hai ngày. Các
Tỉ kheo nghe thế, liền đem sự việc ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật bèn bảo đi gọi Bạt Ðà Lợi đến. Khi thầy đến
rồi, Phật liền hỏi: -
Ông có việc đó thật chăng? -
Có thật, bạch Thế Tôn. -
Tuy ông muốn giảm bớt sự việc (nhưng như thế là không
được). Từ
nay về sau, Ta không cho phép ông ăn phi thời, không cho phép
cất thức ăn để ăn; như trong kinh Bạt Ðà Lợi Tuyến đã
nói rõ. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, A Na Luật đem phơi cơm thiu nát trên hòn đá đen
vuông nơi núi Tiên nhân, Phật bèn dùng sức thần thông [360a]
đi đến núi ấy. Tuy Ngài biết mà vẫn hỏi A Na Luật: -
Ông đang làm gì đó? -
Bạch Thế Tôn, các đệ tử Thanh vă¨n có lòng tin, hoan hỉ,
ngày mai muốn (làm lễ) nương tựa nơi con, do đó, con không
thể vào thôn xóm để khất thực, (nên con định phơi cơm
nguội này để ăn). -
Tuy ông muốn giảm bớt việc phiền toái, nhưng từ nay về
sau, Ta không cho phép ông ăn phi thời và để dành thức ăn
để ăn. Thế
rồi, Phật dùng thần lực trở về lại thành Xá Vệ, truyền
bệnh cho các Tỉ kheo sống tại thành Xá Vệ phải tập họp
lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ
kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo ăn phi thời, phạm Ba dạ đề. Nếu Tỉ kheo để
quá giờ ăn mới ăn, phạm Ba dạ đề. Giải
thích : Tỉ
kheo: như trên
đã nói. Phi
thời: nếu
thời gian vượt qua (mức qui định) như trong chớp mắt hoặc
đã vượt qua bằng ngọn cỏ, lá cây, thì đó gọi là phi
thời. Ăn:nếu
ăn gạo lứt, gạo tẻ, cá, thịt, hoặc các thứ linh tinh khác
thì phạm Ba da đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Ðể
quá giờ ăn:
Tức là quá thời gian "Tu du". Tu
du: Hai mươi
niệm gọi là một khoảng chớp mắt. Hai mươi chớp mắt gọi
là một khảy móng tay. Hai mươi khảy móng tay gọi là một
la tượng (?). Hai mươi la tượng gọi là một Tu du. Ngày dài
nhất thì được mười tám tu du. Ðêm ngắn nhất thì có mười
hai tu du. Ðêm dài nhất thì được mười tám tu du. Ngày ngắn
nhất thì có mười hai tu du. Thức
ăn: Gồm có
năm thức ăn chính, năm thức ăn tạp. Nếu để quá giờ mới
ăn một thứ nào đó thì phạm Ba dạ đề. *
(Ngoài ra còn có các trường hợp) Thời thọ, Phi thời thọ,
cố thọ, bất cố thọ, thiểu thọ, đa thọ, tật tật thọ,
từ từ thọ, tuyết băng thọ. Thời
thọ: Nếu
nhận (thức ăn) đúng giờ và ăn đúng giờ thì không có tội.
Nếu để quá thời khắc chừng một chớp mắt, hoặc quá
chừng một ngọn cỏ, lá cây, mà ăn thì phạm một tội Ba
dạ đề. Nếu để quá một tu du mà ăn thì phạm hai tội
Ba đạ đề. Vì phạm một tội ăn phi thời và một tội ăn
thức ăn để quá giờ. Phi
thời thọ:
Nhận thức ăn phi thời rồi ăn vào lúc phi thời thì phạm
một tội Ba dạ đề. Nếu để quá một tu du mà ăn thì phạm
hai tội Ba dạ đề. Vì phạm tội ăn phi thời và tội ăn
thức ăn để quá giờ. Các
trường hợp cố thọ (cố ý nhận), bất cố thọ (không cố
ý nhận), thiểu thọ (nhận ít), đa thọ(nhận nhiều), tật
tật thọ (nhận nhanh), từ từ thọ (nhận từ từ) cũng có
các sự sai biệt như vậy. Tuyết
băng thọ (Thọ tuyết):
Nếu Tỉ kheo muốn ăn tuyết thì nên nhận từ tịnh nhân.
Nếu không có tịnh nhân thì nên rửa tay sạch rồi tự lấy
ăn. Trường hợp nước đá cũng như vậy. Ðó gọi là Tuyết
băng thọ. Tỉ
kheo sáng sớm thức dậy nên rửa tay sạch, không nên rửa
một cách thô tháo mà nên rửa năm đầu ngón tay trước, cũng
không được rửa từ nách mà nên rửa từ cổ tay trở về
trước cho sạch, không nên thô lỗ. Rửa không nên quặn quẹo
khiến cho máu ra (?). Nên dùng hòn đá lớn, ngọn cỏ hoặc
tro mà rửa cho sạch tay, lại [360b] vỗ khiến cho ra tiếng
(?). Sau khi rửa tay sạch, nếu lại vò hai tay thì gọi là chẳng
sạch, nên rửa lại. Nếu rửa bát rồi, lúc tay còn ướt
mà lại xoa vuốt thì cũng xem là không sạch, nên đợi cho
nó khô. Tỉ kheo trước bữa ăn nên giữ gìn tay cho sạch.
Nếu gãi đầu, hoặc cầm cái quần, giày da, hoặc cầm tô
sữa, dầu, túi da đều phải rửa lại cho sạch như trước.
Nếu cầm y Tăng già lê, y Uất đa la tăng đều phải dùng
nước rửa lại. Tỉ
kheo khi muốn đi khất thực nên rửa tay sạch rồi mặc chiếc
y dùng đi vào làng xóm. Mặc y xong, nên rửa tay lại rồi cầm
bát mà đi vào xóm làng. Nếu vào lúc mùa đông lạnh cầm
bát để vào trong túi rồi định đi tới bên ranh giới thôn
xóm, hoặc bên ao nước, hoặc trên dòng nước chảy thì nên
rửa tay sạch. Nếu không có nước thì nên vào trong thôn xóm,
đến trú xứ của Tỉ kheo, xin nước rửa tay. Nếu cũng không
có thì nên tới tinh xá của Tỉ kheo ni mà xin nước. Nếu
cũng không có thì nên đến nhà Ưu bà tắc có lòng tin mà
xin nước sạch. Nếu cũng không có thì nên mở túi, lấy bát
ra chỉ cầm một chỗ đi khất thực. Khi được thức ăn rồi,
nên ra khỏi xóm làng, đến bên hồ nước, hoặc suối nước
chảy, đặt bát trên cỏ sạch, rồi mới rửa tay sạch, tiếp
đến rửa sạch tảng đá hoặc lá cây. Rửa xong, nên lấy
chỗ cơm mà ngón tay chạm vào vứt bỏ, rồi đổ cơm ra trên
tảng đá hay trên lá cây. Khi đổ cơm ra không được đổ
ra ngay cái chỗ mà tay không sạch đã cầm. Khi đổ xong phải
rửa bát sạch, rồi đổ cơm vào lại trong bát mà ăn. Lúc
ăn xong, nếu còn thừa cơm, thì nên đổ một chỗ trên tảng
đá, rồi ra đi. Hôm sau, Tỉ kheo lại vào thôn xóm khất thực;
nếu chẳng được chi cả, phải rời khỏi thôn xóm với bát
không, rồi tình cờ trở về lại con đường cũ, trông thấy
chỗ cơm thừa đổ trên hòn đá hôm qua vẫn còn đó, nếu
như có tịnh nhân thì nên bảo họ lấy đưa để mình ăn.
Nếu không có tịnh nhân mà chỗ cơm ấy bị chim quạ ăn thì
gạt bỏ chỗ chim ăn, rồi tự lấy ăn. Nếu tịnh nhân dùng
tay không sạch cầm bún, cơm cúng dường cho Tăng, thì đối
với Thượng tọa như thế được xem là không sạch, nhưng
đối với những người khác thì được xem là sạch. Nếu
tịnh nhân đem bún sạch đổ trên bún không sạch, thì được
vớt lấy cái phần trên (để ăn). Nhưng nếu họ đem bún
không sạch đổ trên bún sạch, thì tất cả thành ra không
sạch. Nếu họ đem bún sạch đổ vào trong một cái tô không
sạch, thì được múc lấy ở chính giữa (mà ăn). Nếu họ
khuấy lên, thì tất cả đều trở thành không sạch. Khi Tỉ
kheo ăn bún, nếu dùng tay chùi miệng, thì được xem là không
sạch, phải rửa tay lại. Nếu hai tay xoa vào nhau thì được
xem là tay không sạch, phải rửa tay lại. Nếu
Tỉ kheo bị bệnh cần cháo thì nên nhờ tịnh nhân nấu. Nếu
tại nơi A luyện nhã không có tịnh nhân [360c] thì được
rửa tay sạch không để dính cáu bẩn, rồi múc nước đổ
vào nồi, chụm lửa cho nước sôi, rồi bảo cho tịnh nhân
biết để họ đổ gạo vào. Khi họ đổ gạo vào xong, Tỉ
kheo không được chụm lửa nữa mà phải bảo tịnh nhân chụm
lửa cho đến khi sôi. Nếu tịnh nhân đi khỏi thì Tỉ kheo
được chụm lửa cho đến khi cháo chín, rồi múc đưa cho
người bệnh. Nếu Tỉ kheo uống thuốc ỉa mửa rồi, thầy
thuốc bảo phải cho ăn cháo trong, nếu không có thì sẽ chết.
Vậy phải làm sao? Bấy giờ Ta nên lấy gạo rửa sạch rồi
nấu nhừ thành nước trút vào trong tô đổ cho Tỉ kheo bệnh.
Nếu người bệnh không kham (không dùng được) thì nên lấy
một nắm lúa nguyên vẹn đem rửa bảy lần cho sạch, rồi
đổ vào một cái túi, cột đầu lại, đồng thời đem rửa
nồi cho sạch đổ vào nấu. Không được để cho đầu hạt
lúa bị vỡ, nếu vỡ thì không được cho Tỉ kheo bệnh dùng.
Nếu ở tại nơi hoang vắng mà tịnh nhân bị bệnh, thì nên
khiến tịnh nhân khác nấu cháo giúp cho họ. Nếu trường
hợp không có tịnh nhân mà có được thóc hợp pháp, thì
Tỉ kheo được tự mình đem giã, nấu cháo đưa cho tịnh nhân
dùng. Nếu cháo tịnh nhân dùng không hết thì Tỉ kheo không
được dùng, cũng không được đưa cho những Tỉ kheo khác.
Thế nên nói (như trên). 37.
GIỚI: NHẬN THỨC ĂN QUÁ MỨC ÐÃ CHO Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
có một cư sĩ sinh được một bé gái đoan chính vô song, cha
mẹ rất hoan hỷ. Ðến khi đầy tháng, cha mẹ em định tổ
chức lễ khánh hỉ, nên suy nghĩ: "Con bé này đoan chính, hiếm
có trên đời, nếu quốc vương biết được, ắt sẽ đoạt
lấy, vậy ta nên đặt cho nó một cái tên xấu xí", bèn đặt
tên là Hạt Nhãn. Cô gái này dần dần khôn lớn, quan xem tướng
cho vua trông thấy, liền hỏi (dân chúng): "Con bé này con nhà
ai vậy?". Có người đáp: "Con gái của cư sĩ mỗ giáp đấy".
Viên quan xem tướng của vua suy nghĩ như sau: "Tướng của cô
này phải làm đến đại phu nhân của vua", bèn tâu với vua:
"Nhà kia có một người con gái quí tướng, đáng làm đến
Hoàng hậu, nên tuyển cô vào cung". Vua bèn sai người đến
nhà ấy hỏi xem cô ta tên gì, thì họ đáp: "Tên là Hạt Nhãn".
Sứ giả bèn trở về báo lại nhà vua. Vua nói: "Cái tên Này
không tốt lành. Ta không cần". Về sau, có người xin cưới
cô, cha mẹ chồng bảo rước cô về nhà. Người chồng bèn
sai sứ giả đến xin rước dâu, thì gia đình nhà gái đáp:
"Sẽ đưa ngay", bèn chuẩn bị các vật dụng để đưa tiễn
con gái và làm các thứ bánh. Bỗng nhiên có một Tỉ kheo tuần
tự khất thực, đến nhà ấy. Mẹ cô trông thấy thầy, liền
khởi tâm tin tưởng, hoan hỷ, hỏi: "Tôn giả có cần bánh
không?". Thầy đáp: "Cần". Bà liền đem các thức bánh cúng
dường đầy bát của thầy. Khi đã nhận được bánh, thầy
bèn đem về tinh xá, gọi các Tỉ kheo quen biết cùng ăn. Các
Tỉ kheo hỏi: "Trưởng lão, thứ bánh Này rất ngon, thầy được
ở đâu vậy?". Thầy đáp: "Ðược tại nhà của cô Hạt Nhãn".
Các Tỉ kheo nghe thế, bèn đến nhà ấy, và họ cũng nhận
được bánh như người đầu. Như vậy, từng người, từng
người [361a] cứ đến xin, khiến những phẩm vật dùng tiễn
đưa con gái hết sạch. Trải qua ngày thứ hai, thứ ba cũng
như thế. Người chồng lại sai người đến nhắc. Nhà gái
lại nói: "Xin đợi ít hôm làm cho xong lễ vật đưa tiễn
đã". Nhưng rồi các Tỉ kheo hằng ngày lại đến xin hết
cả. Vì cô dâu không về nhà chồng đúng ngày giờ nên ông
chồng nổi cáu nói: "Ta đã sai người đến nhắc (mấy lần)
mà đều bảo rằng lễ vật làm chưa xong nên chưa đưa đến,
chắc là có tâm Này khác rồi", liền sai người đi xin cưới
cô gái khác. Mẹ cô Hạt Nhãn nghe tin con gái mình bị khiển
trách, bà rất đau buồn, than khóc. Cô cũng sầu não trách
mẹ không đưa tiễn mình đúng ngày giờ nên mới bị khiển
trách. Những người hàng xóm thấy thế bèn hỏi: "Các vị
vì sao mà ưu sầu, than khóc?". Họ bèn trình bày đầy đủ
sự kiện kể trên với những người hàng xóm. Thế rồi,
người láng giềng cũng trách: "Vì sao bà không đưa tiễn con
gái trước rồi mới sắm các thức ăn uống khác mà bố thí
cho các Tỉ kheo?"Các Tỉ kheo nghe được liền đem sự việc
ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bèn bảo gọi các Tỉ kheo
ấy đến. Khi họ tới rồi, Phật liền hỏi: "Các ngươi có
việc đó thật chăng?". -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, Ta không cho phép (các Tỉ kheo) nhận những
thức ăn dùng để đưa tiễn cô dâu. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, nói rộng như trên.
Bấy giờ trong thành có người khách buôn tên là Vô úy sắp
đi xa cùng với các khách buôn khác. Lúc ấy, bà vợ ông đang
ở nhà sắm sửa các thứ lương thực đi đường. Thế rồi,
các Tỉ kheo tuần tự khất thực đến nhà ấy, bà vợ trông
thấy khởi tín tâm, hoan hỉ hỏi: "Tôn giả có cần bún không?".
Thầy đáp: "cần". Bà liền cắt một phần lương thực đem
đổ đầy bát, cúng dường cho Tỉ kheo. Tỉ kheo được thức
ăn rồi, liền mang về tinh xá Trúc Viên Ca lan đà, gọi các
Tỉ kheo quen biết cùng ăn. Các Tỉ kheo hỏi: "Thầy được
thức ăn ngon thế Này ở đâu vậy?". Thầy đáp: "Ðược tại
nhà của ông khách buôn mỗ giáp đấy". Các Tỉ kheo nghe thế,
liền cùng nhau người Này người khác, đến nhà ấy xin lương
đi đường đến nỗi hết sạch. Như vậy, họ phải sắm
lương thực đến ngày thứ hai, thứ ba. Nhưng rồi các Tỉ
kheo cũng thay phiên nhau đến xin hết cả cho đến ngày thứ
tư, sắm lương xong thì đi theo không kịp bạn, bị bọn cướp
lấy tài vật hết sạch. Bà vợ ông khách buôn nghe thế, sầu
não, khóc than. Người hàng xóm bèn hỏi: "Vì sao bà khóc than
như vậy?". Bà liền trình bày đầy đủ sự kiện trên với
người láng giềng. Người láng giềng nói: "Vì sao bà không
sắm trước lương thực cho người ra đi xong rồi sau đó mới
sắm các thứ khác bố thí cho các Tỉ kheo?". Các Tỉ kheo nghe
được việc đó, liền đến bạch đầy đủ sự kiện lên
Thế Tôn. Phật bèn bảo gọi các Tỉ kheo ấy đến. Khi họ
đến rồi, Phật liền hỏi: "Các ông có việc đó thật chăng?".
Họ đáp: "Có thật như vậy". Phật khiển trách: "Ðó là việc
ác. Người bố thí không biết lượng định thì người thọ
nhận cũng phải biết cân nhắc chứ! Ðó là điều phi pháp,
phi luật, trái lời Ta dạy [361b], không thể dùng việc đó
để nuôi lớn thiện pháp được. Từ nay về sau, Ta không
cho phép xin lương thực đi đường". Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo sống tại thành Vương
Xá phải tập hợp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo đến nhà bạch y họ cúng dường bánh bún thoải
mái, thì được nhận hai, ba bát, rồi đem về cùng ăn với
Tỉ kheo không bệnh. Nếu nhận quá số đó mà đem về không
cùng ăn với Tỉ kheo không bệnh, thì phạm Ba dạ đề. Giải
thích: Tỉ
kheo: Hoặc
một, hoặc hai, hoặc nhiều người. Nhà
bạch y: Các
gia đình Sát lợi, Bà la môn, Tỳ Xá, Thủ đà la cúng dường
bánh hoặc bún. Bánh:
Ðó là các thứ bánh làm bằng lúa đại mạch, tiểu mạch,
gạo tẻ, đậu ... Bún:
Ðó là các loại bún được làm bằng lúa đại mạch tiểu
mạch, gạo tẻ, đậu... Ba
bát: Ðược
nhận tối đa ba bát. Mang
đi ra ngoài:
Mang đến nơi mà mình muốn. Tỉ
kheo không bệnh:
Tỉ kheo có sức lực có thể đến nhà ấy. Cùng
ăn với Tỉ kheo không bệnh:
Thức ăn đem về nên cùng ăn chung, nếu không cùng ăn chung
thì phạm Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói . *
Lại có các trường hợp: Vật dùng để tiễn đưa, lương
thực đi đường, lương không phải làm cho Tỉ kheo mà làm
để đưa tiễn, cho một cách hào phóng. Vật
dùng để tiễn đưa:
Như bánh dùng để tiễn đưa cô Hạt Nhãn. Lương
thực đi đường:
Như trường hợp người chủ khách buôn Vô Úy. Bánh
bún: Như trên
đã nói. Không
phải vì Tỉ kheo:
Vốn là vì người khác mà làm lương thực để tiễn đưa. Cho
một cách hào phóng:
Như cách cho của mẹ con cô Hạt Nhãn, cách cho của vợ chồng
ông khách buôn thì Tỉ kheo được nhận ba bát, rồi đem ra
ngoài cùng ăn với Tỉ kheo không bệnh. Nếu
Tỉ kheo nghĩ như sau: "Ai hơi sức đâu mà làm cho nhiêu khê",
rồi nói với Ưu bà di: "Múc đầy một bát đổ vào trong một
tô, rồi múc đầy bát khác đổ vào một tô khác". Ðoạn
thầy tự dùng một bát, rồi dặn người nữ gia chủ: "Nếu
có Tỉ kheo đến thì bà cho một bát Này. Nếu có người khác
đến nữa thì bà cho bát thứ hai. Sau đó, nếu có người
nào đến nữa, thì bà đừng cho. Nếu cho, thì bà sẽ được
ít phước đức". Bấy giờ, Tỉ kheo mang thức ăn ra đi, nếu
giữa đường gặp Tỉ kheo khác thì nên nói như sau: "Nhà mỗ
giáp kia có thức ăn, thầy nên đến đó lấy phần". Nếu
gặp Tỉ kheo thứ hai, cũng nên nói như thế. *
Lại có các trường hợp: không phải bánh dùng để đưa tiễn,
không phải lương thực để đi đường, vì Tỉ kheo, không
phải là lương thực dùng để đưa tiễn, không cho một cách
hào phóng. Không
phải bánh dùng để đưa dâu:
không phải như trường hợp cô Hạt Nhãn trên đây. Không
phải lương thực dùng để đi đường:
không phải như trường hợp ông khách buôn Vô Úy. Vì
Tỉ kheo: (thức
ăn) làm cho Tỉ kheo, chứ không phải làm cho người khác. Không
phải lương thực dùng để đưa tiễn: trừ
hai trường hợp kể trên, nếu (thực phẩm) làm cho những
người khác thì được nhận lấy, không phạm. Không
cho một cách hào phóng:
Tùy theo thực phẩm nhận được [361c] rồi mang đi. Nếu cô
Hạt Nhãn về nhà chồng rồi, sau đó mẹ cô mới cho, thì
được phép lấy mà không có tội. Nếu
cô dâu về nhà chồng rồi, cô mới cho (thực phẩm) thì được
phép lấy, không có tội. Nếu
người khách buôn ra đi rồi, người vợ sau đó mới bố thí,
thì được phép lấy, không có tội. Nếu
khách buôn đi đến mục tiêu rồi ông mới bố thí, thì được
phép lấy, không có tội. Nếu
một nhà kia vào dịp gả chồng hay cưới vợ cho con mà có
khoản đãi, hoặc những ngày lễ hội, rồi Tỉ kheo đi đến
nhà ấy, chủ nhân nói như sau: "Thưa tôn giả, dù tôi muốn
sai người đi mời, e chưa chắc đã được, huống gì nay hân
hạnh được tôn giả đến đây". Nếu như thế thì được
lấy thoải mái, không có tội. Thế
nên nói (như trên). 38. GIỚI:
ÐÒI THỨC ĂN NGON. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
nhóm sáu Tỉ kheo đến nhà có sữa tô thì xin sữa tô, nhà
có dầu thì xin dầu, nhà có sữa tươi thì xin sữa tươi,
nhà có sữa lạt thì xin sữa lạt, nhà có mật thì xin mật,
nhà có đường phèn thì xin đường phèn, nhà có cá thì xin
cá, nhà có thịt thì xin thịt, nên bị người đời chê bai
như sau: "Sa môn Cù Ðàm dùng vô lượng phương tiện tán thán
ít muốn, biết đủ, dễ nuôi dưỡng, dễ thỏa mãn, và chê
trách đa dục, không biết chán, khó nuôi dưỡng, khó thỏa
mãn; thế mà nay vị Sa môn Này không chịu xin thức ăn thô,
mà đến nhà có sữa tô xin sữa tô, cho đến nhà có thịt
thì xin thịt. Ðó là kẻ bại hoại, chứ có đạo nào như
thế!". Các
Tỉ kheo nghe được, bèn đem sự việc ấy đến bạch lên
Thế Tôn. Phật bèn bảo gọi nhóm sáu Tỉ kheo đến. Khi họ
đến rồi, Phật liền hỏi: -
Các ông có việc đó thật chăng? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Các ông không từng nghe Ta dùng vô lượng
phương tiện tán thán ít muốn, chê trách đa dục hay sao? Ðó
là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng
việc đó để nuôi lớn Thiện pháp được. Từ nay về sau,
Ta không cho phép xin thức ăn ngon để ăn. Lại
nữa, khi Phật trú tại một tinh xá ở vườn cây Ni Câu Luật,
nước Ca Duy La Vệ thuộc dòng họ Thích ca. Vì năm việc lợi
ích nên cứ năm hôm Phật đi thị sát phòng của các Tỉ kheo
một lần; trông thấy một Tỉ kheo bị bệnh, tuy biết nhưng
Phật vẫn hỏi: -
Bệnh của ông như thế nào? Có đau đớn lắm không? -
Không đau đớn lắm, bạch Thế Tôn. -
Ông không thể xin được thức ăn hợp với bệnh, thuốc men
hợp với bệnh được sao? -
Có thể xin được, nhưng Thế Tôn chế giới không cho phép
xin thức ăn ngon, nên con không dám xin. Vả lại, con không có
đàn việt, cũng không có người cho. -
Từ nay về sau, Ta cho phép Tỉ kheo bệnh được xin thức ăn
ngon. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang trú tại Ca Duy
La Vệ phải tập hợp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu tại nhà các đàn việt có các loại mĩ thực như sữa
tô, dầu, mật, đường phèn, sữa tươi, sữa lạt, cá, thịt...
mà Tỉ kheo không bệnh, vì muốn sướng thân mà xin, thì phạm
Ba dạ đề. Giải
thích: Nhà:
như trên đã nói. [362a]
Sữa
tô, dầu, mật, đường phèn, sữa tươi, sữa lạt, thịt,
cá: Như trong giới ăn trộm thứ hai trước kia đã nói.
Ðó gọi là mĩ thực. Nếu người bị bệnh thì Thế Tôn cho
phép xin ăn, không có tội. Bệnh:
Có các loại như: bệnh hoành lan, bệnh ung thư, bệnh trĩ,
bệnh đi tiểu, đại không làm chủ được, bệnh vàng da,
bệnh sốt rét, bệnh ho lao, bệnh gầy ốm, bệnh phong thũng,
bệnh thũng nước, các bệnh như thế gọi là bệnh. Vì
thân mình:
Vì chính thân mình mà xin, nếu tự mình xin hoặc nhờ người
khác xin để ăn, thì phạm Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ kheo bị bệnh nhiệt, rồi thầy thuốc bảo: "Bệnh này
nên uống sữa chua", thì được xin sữa chua. Nhưng không được
đến nhà không có niềm tin mà xin. Vì sao thế? Vì khi xin,
họ sẽ dèm pha rằng Tỉ kheo do tham món ngon mà xin sữa chua.
Chính vì họ chê bai sự hay dở của Tỉ kheo nên không được
đến xin, mà nên đến nhà Ưu bà tắc có lòng tin mà xin. Khi
xin được rồi nên cân nhắc (mà dùng). Nếu
Tỉ kheo bị bệnh phong, rồi thầy thuốc bảo: "Nên uống dầu",
thì khi ấy được phép xin dầu. Nhưng không được đến nhà
ép dầu để xin, cũng không được đến nhà không có lòng
tin, như trong trường hợp xin sữa chua đã nói. Nếu
Tỉ kheo bị bệnh thũng nước, rồi thầy thuốc bảo: "Bệnh
này nên uống mật", thì khi ấy được xin mật. Nhưng không
được đến nhà người đi lấy mật để xin, cũng không được
đến nhà không có lòng tin để xin, như trong trường hợp
xin sữa chua đã nói. Nếu
Tỉ kheo bị bệnh khô gầy, rồi thầy thuốc bảo: "Bệnh này
nên uống đường phèn", (thì được xin đường phèn). Nhưng
không được đến nhà làm mía mà xin, cũng không được đến
nhà không có lòng tin để xin, như trong trường hợp xin sữa
chua đã nói. Nếu
Tỉ kheo bị nhiễm lạnh, rồi thầy thuốc bảo: "Nên dùng
đường phèn, sữa chua hai thứ hòa chung vào nhau mà uống";
thì không được đến nhà không có lòng tin mà xin, như trường
hợp xin sữa chua đã nói. Nếu
Tỉ kheo bị bệnh ỉa chảy, rồi Thầy thuốc bảo: "Bệnh
này nên uống sữa tươi". Khi ấy được đến chỗ người
chăn bò để xin sữa tươi. Khi xin được nên trù tính để
lấy. Nếu
Tỉ kheo muốn ói ra và uống thuốc ói mửa, rồi thầy thuốc
bảo: "Trước nên uống nước cá", thì khi ấy được xin nước
cá, nhưng không được đến nhà người bắt cá để xin, cũng
không được đến nhà người không có lòng tin mà xin, như
trên đã nói. Nếu
Tỉ kheo muốn lể đầu ra máu, hoặc uống thuốc xổ, rồi
thầy thuốc bảo: "Bệnh này nên uống nước thịt", thì khi
ấy được phép xin nước thịt, nhưng không được đến nhà
đồ tể, nhà không có lòng tin để xin, như trên đã nói. Nếu
Tỉ kheo đi khất thực đến nhà người đong sữa chua, rồi
người đong sữa hỏi: "Tôn giả muốn tìm thứ gì?". Thầy
đáp: "Muốn xin thức ăn". Người ấy nói: "không có thức
ăn mà chỉ có sữa chua Này, nếu thầy cần tôi sẽ cho". Khi
ấy, nếu Tỉ kheo cần thì được nhận đầy bát, không có
tội. Hoặc là có bạn thì có thể khuyên người ta cho bạn,
không có tội. Cũng như thế đối với người đong dầu mật,
đường phèn, sữa tươi, sữa lạt cũng vậy. Nếu
Tỉ kheo khất thực được bún, cơm đầy một bát cỡ trung
không còn chỗ nữa, thì có thể xin nước uống. Nếu đàn
việt nói: "Không có nước uống mà chỉ có nước thịt, nếu
thầy cần [362b] thì tôi sẽ cho". Khi ấy Tỉ kheo được phép
lấy. Hoặc họ lại nói: "Cũng có thịt, nếu thầy cần tôi
sẽ cho". Lúc ấy, Tỉ kheo được lấy đầy bình, không có
tội. Ðồng thời Tỉ kheo cũng được đến nhà người ép
mía, xin nước mía. Nếu chủ nhà nói: "Không có nước mía
mà chỉ có đường phèn, nếu thầy cần, tôi sẽ cho". Tỉ
kheo nếu thấy cần thì có thể lấy đầy bát, không có tội.
Ðồng thời cũng được khuyên họ cho bạn mình. Cũng như
được đến nhà ép dầu mè để xin cặn dầu mè. Nếu chủ
nhân nói: "Tôi không có cặn dầu mè, nhưng thầy có cần dầu
thì tôi sẽ cho". Tỉ kheo nếu thấy cần, được lấy đầy
bát, không có tội. Ðồng thời cũng được khuyên họ cho
bạn mình. Tỉ
kheo được xin nước trong ở dưới sữa đóng váng. Nếu họ
nói: "Tôi không có nước trong ở dưới sữa đóng váng mà
chỉ có sữa đóng váng, thầy có cần thì tôi sẽ cho". Tỉ
kheo nếu thấy cần, được lấy đầy bát, không có tội.
Ðồng thời cũng được khuyên họ cho bạn mình. Tỉ
kheo được xin mía, cũng được vì Tỉ kheo khách đi đường
xa mà xin thức ăn ngon. Hoặc khi mình đang đi trên đường
cũng được xin (thức ăn ngon). Nếu
Tỉ kheo xin một chỗ được tám thứ mĩ thực, rồi ăn riêng
từng thứ, thì phạm nhiều tội Ba dạ đề. Nếu
Tỉ kheo xin được tám thứ mĩ thực tại nhiều chỗ khác
nhau, rồi ăn một chỗ thì phạm một tội Ba dạ đề. Nếu
xin tại nhiều chỗ, rồi ăn riêng từng thứ, thì phạm nhiều
tội Ba dạ đề. Nếu xin tại một chỗ được nhiều loại
thức ăn, rồi họp lại ăn một lần, thì phạm một tội
Ba dạ đề. Nếu
xin khi không bệnh đến khi bệnh đem ăn, thì phạm tội Việt
Tì ni. Nếu
xin khi đang bệnh, đến lúc không bệnh đem ăn, thì không có
tội. Nếu
xin khi đang bệnh, rồi ăn lúc đang bệnh, thì không có tội. Nếu
xin khi không có bệnh, rồi ăn lúc không bệnh, thì phạm ba
dạ đề. Nếu
nấu không tùy theo bệnh mà ăn tùy theo bệnh, thì không có
tội (?). Nếu
nấu tùy theo bệnh mà ăn không tùy theo bệnh, thì phạm tội
Việt Tì ni. Nếu
nấu tùy theo bệnh, rồi ăn cũng tùy theo bệnh, thì không có
tội. Nếu
nấu không tùy theo bệnh, ăn không tùy theo bệnh, thì không
có tội. Vì sao vậy? Vì người xuất gia sống nhờ người
khác vậy. Thế nên nói: "Mỗi
chỗ cho một bữa,
39. GIỚI:
KHÔNG BỆNH MÀ NHÓM LỬA. Khi
Phật an trú tại vườn ông Cấp Cô Ðộc, rừng cây Kỳ đà,
thành Xá Vệ, lúc này người đời đốc tín cung kính tôn
trọng cúng dường y phục, thực phẩm, sàng tọa và thuốc
chữa bệnh (thuốc bổ). Trong khi ấy, những người xuất gia
ngoại đạo cũng đang ở tại thành Xá Vệ nhưng không được
người đời cung kính tôn trọng cúng dường y phục, thực
phẩm, sàng tọa và thuốc chữa bệnh. Do thế, nhiều người
xuất gia ngoại đạo tập hợp tại nhà luận nghị, bàn luận
như sau: "Sa môn Cù Ðàm này đang ở tại vườn ông Cấp Cô
Ðộc, rừng cây Kỳ đà, thành Xá vệ [362c] được người
đời thâm tín cung kính tôn trọng cúng dường y phục, thực
phẩm, sàng tọa và thuốc chữa bệnh nhưng chúng ta không được
tôn trọng cung kính cúng dường y phục, thực phẩm, sàng tọa
và thuốc chữa bệnh. Vậy ai có thể đến xuất gia sống
trong giáo pháp của Sa môn Cù Ðàm tu tập phạm hạnh, tụng
đọc giáo pháp của ông ta, rồi trở về lần lượt dạy
lại chúng ta, để chúng ta cũng được cúng dường giống
như ông ta?" Khi
các ngoại đạo luận bàn như thế rồi, cùng bảo nhau: "Tu
Thâm Ma là người ưu tư bậc nhất trong hội chúng của chúng
ta nên có thể sai ông đến xuất gia trong giáo pháp của Sa
môn Cù Ðàm, thọ giới luật của Cù Ðàm, rồi về lại...".
Thế rồi, các ngoại đạo nói với Tu Thâm Ma: "Sa môn Cù Ðàm
đang sống tại tinh xá Kỳ Hoàn được nhiều người tôn trọng
cúng dường, còn chúng ta thì không được lợi ích như thế.
Nay ông nên đến xuất gia trong giáo pháp Sa môn Cù đàm tu
tập phạm hạnh, đọc tụng kinh điển của ông ấy, rồi
trở về trong giáo pháp của Ta Lần lượt dạy lại nhau, để
chúng ta cũng được cúng dường giống như ông ấy". Tu
Thâm Ma nghe lời đề cử rồi, liền ra khỏi thành Xá vệ,
đi đến tinh xá Kỳ Hoàn. Khi tới cổng tinh xá, thấy các
Tỉ kheo đang kinh hành, ngồi thiền, Tu Thâm Ma liền đến chỗ
các Tỉ kheo thăm hỏi, rồi ngồi sang một bên, nói: "Tôi vốn
là ngoại đạo nay muốn xuất gia, thọ Cụ Túc trong giáo pháp
của Như Lai thì ở đây phải làm thế nào?". Các Tỉ kheo
đáp: "Nếu gốc gác là ngoại đạo mà muốn xuất gia trong
giáo pháp của Như Lai, thì phải được thử thách qua bốn
tháng. Qua bốn tháng thử thách mà các Tỉ kheo thấy hợp ý
thì sẽ cho xuất gia". Khi
ấy Tu Thâm Ma liền vâng lời, thực hành bốn tháng thử thách.
Qua bốn tháng, các Tỉ kheo thấy vừa ý, liền cho thọ giới
Cụ Túc. Sau khi thọ Cụ Túc, ông bèn đi đến chỗ Thế Tôn
cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng hầu một bên.
Bấy giờ, có nhiều Tỉ kheo đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên, thưa như sau: "Bạch
Thế Tôn, con đã chứng đắc, đời sống của con đã kết
thúc, phạm hạnh đã thành, không còn phải tÁisinh nữa". Họ
nói như thế xong, liền cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật
rồi ra đi. Khi
các Tỉ kheo ấy vừa ra đi, thì Tu Thâm Ma đến đảnh lễ
chân Phật, rồi đi tới các Tỉ kheo ấy thăm hỏi. Hỏi thăm
xong, bèn đứng qua một bên, hỏi các Tỉ kheo: "Thưa trưởng
lão, vừa rồi ở trước Phật, thầy tự nói là mình đã
chứng đắc, đời sống đã kết thúc, phạm hạnh đã thành,
không còn tÁisinh nữa, có phải thế không?". Các Tỉ kheo đáp:
"Ðúng như vậy". Thế rồi Tu Thâm Ma lại hỏi: "Thưa trưởng
lão, biết như vậy thấy như vậy, được thiên nhãn thanh
tịnh, thấy chúng sinh chết chỗ này, sinh chỗ kia, người
đẹp, kẻ xấu, thiện thú, ác thú [363a], thấy chúng sanh thân
làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, phỉ báng hiền thánh, tự
làm việc tà kiến, dạy người làm theo tà kiến, thân hoại
mạng chung đọa vào ba đường ác. Lại thấy chúng sanh thân
làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, tự mình làm theo
chánh kiến rồi dạy người làm theo chánh kiến, đến khi
thân hoại, mạng chung, sinh vào cõi thiện, trên cõi trời,
trong cõi người, thiên nhãn thanh tịnh hơn người như the,á
trưởng lão có được không?". Thầy đáp: "Không được".
Ông lại hỏi: "Tôn giả được Túc mạng trí biết như vậy,
thấy như vậy, biết quá khứ một đời, hai đời, ba đời,
bốn đời, năm đời, mười đời, một trăm đời, một ngàn
đời, cho đến kiếp thành, kiếp hoại, danh tánh, chủng tộc,
chết nơi đây, sinh chỗ kia, chết chỗ kia, sinh chỗ này, vô
số sự việc trong các kiếp như thế, trưởng lão có biết
không?". Thầy đáp: "Không biết". Ông lại hỏi: "Ly sắc, quá
sắc, vô sắc, tịch diệt, giải thoát, thân chứng cụ túc
an trú, các loại giải thoát như vậy, trưởng lão có được
không?". Thầy đáp: "Không được". Tu
Thâm Ma nói: "Vừa rồi tôi hỏi về các pháp thì trưởng lão
đều nói là không được. Thế thì vì sao trước mặt Thế
Tôn trưởng lão tự nói là mình đã chứng đắc, đời sống
của mình đã kết thúc, phạm hạnh đã thành, không còn tái
sinh, vậy ai mà tin nổi?". Các
Tỉ kheo đáp: "Này trưởng lão, chúng tôi là những người
được giải thoát bằng trí tuệ". Tu
Thâm Ma nói: "Trưởng lão nói giản lược quá nghĩa chưa rõ,
xin nói lại rõ hơn". Tỉ
kheo nói: "Tuy nghĩa chưa rõ, nhưng tôi tự biết mình là người
đã giải thoát nhờ trí tuệ". Khi
Tu Thâm Ma nghe các Tỉ kheo nói như thế, liền suy nghĩ: "Ta
nên đến chỗ Thế Tôn hỏi về việc này, Thế Tôn giải
đáp như thế nào thì ta hãy nghi nhận như vậy. Suy nghĩ thế
rồi, thầy từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến chỗ Phật,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên, đem
việc nêu trên bạch đầy đủ với Thế Tôn, hỏi rằng việc
ấy như thế nào? Phật
liền nói với Tu Thâm Ma: -
Tiên pháp trí, hậu tỉ trí. -
Bạch Thế Tôn, điều Thế Tôn dạy quá bí ẩn, giản lược,
con chưa hiểu. -
Dù ngươi chưa hiểu, nhưng vẫn tiên pháp trí, hậu tỉ trí. -
Lành thay Thế Tôn, con vẫn chưa hiểu, kính mong Thế Tôn vì
con nói rõ thêm. -
Vậy Ta hỏi ngươi, tùy ngươi hiểu như thế nào hãy trả
lời Ta. Này Tu Thâm Ma, ý ngươi nghĩ thế nào, do Sinh nên có
Già Chết phải không? -
Ðúng như vậy, bạch Thế Tôn. -
Lành thay Tu Thâm Ma, ý ngươi nghĩ sao, do Vô minh mà sinh ra các
Hành phải không? -
Ðúng như vậy. -
Lành thay Tu Thâm Ma, ý ngươi nghĩ sao, do Sinh duyên diệt nên
Già Chết diệt phải không? Cho đến do Vô minh diệt nên các
hành diệt phải không? -
Ðúng như vậy. -
Lành thay [363b] Tu Thâm Ma, nếu Tỉ kheo sống trong giáo pháp
này chánh quán, chánh trí, điều gì phải đạt được thì
sẽ đạt được hết phải không? -
Ðúng như vậy. -
Ngươi đã biết do Sinh nên có Già Chết phải không? -
Ðúng như vậy. -
Do Vô minh nên có các Hành phải không? -
Ðúng như vậy. -
Do Sinh duyên diệt nên Già Bệnh Chết Ưu Bi Khổ Não, Ngũ Ấm
đều diệt phải không? -
Ðúng như vậy. -
Do Vô minh diệt nên các hành diệt phải không? -
Ðúng như vậy. Ngươi
đã biết các pháp như vậy, ngươi có đạt được Thiện
nhãn, Túc mạng trí và các sự giải thoát không? -
Không đạt được, bạch Thế Tôn. -
Ngươi tự nói biết các pháp như vậy rồi lại bảo không
đạt được các công đức kia, thì ai mà tin được? -
Bạch Thế Tôn, vì bị Vô minh ác tà vây bủa nên con sinh ra
tà kiến như vậy. Nay con nghe rõ chánh pháp nơi Thế Tôn nên
diệt được ác tà kiến, đạt được pháp nhãn thanh tịnh. Thế
rồi, Tu Thâm Ma cúi đầu đảnh lễ chân Phật, quỳ gối,
chấp tay, bạch Phật: -
Bạch Thế Tôn, con xuất gia sống trong chánh pháp của Như
Lai với tâm gian trá định trộm giáo pháp, Thế Tôn đại
từ xin nhận sự hối lỗi của con. -
Ngươi ngu ngốc như trẻ con, vì muốn trộm chánh pháp của
Phật mà xuất gia với tâm gian trá. Nay Ta nhận sự hối lỗi
của ngươi. Này Tu Thâm Ma, ví như có người phạm tội với
vua, rồi vua sai lính đem ra phân thây, cắt tai, xẻo mũi, dùng
cưa để cưa, dùng dao cắt chặt từng đoạn, lại cho voi chà,
ngựa đạp, giết chết bằng các hình thức cực kỳ đau khổ
như vậy. Nay ngươi xuất gia với tâm gian trá, vì muốn trộm
pháp mà phạm phải tội lỗi, giờ đây Ta nhận sự hối lỗi
của ngươi, ở trong pháp của hiền thánh, ngươi sẽ được
tăng trưởng; từ nay về sau chớ có tái phạm. Vì
Thế Tôn độ Tu Thâm Ma và vì Mục Liên vận dụng thần túc
dùng bát chiên đàn hàng phục ngoại đạo tại Tỳ xá Li nên
nhân dân càng thêm kính tín, và (tăng đoàn) được nhiều
lợi dưỡng. Do thế, các ngoại đạo lồng lộn phỉ báng
Thế Tôn, như trong kinh tôn đà lợi đã nói rõ: khi Phật chưa
ra đời thì ngoại đạo được các thứ cúng dường, nhưng
đến khi Phật ra đời thì tất cả ngoại đạo đều mất
hết lợi dưỡng. Vì sao vậy? vì mọi người đều biết rằng
pháp Phật thâm diệu, như trong kinh Khổng Tước Ðiểu Bản
Sinh đã nói rõ. Bấy
giờ, đức Thế Tôn chán sự cúng dường của người đời,
nên trở về lại thành Xá Vệ. Ðến giờ khất thực, Phật
khoác y thường mặc. Cầm bát, vào thành Xá Vệ tuần tự
khất thực. Rồi sau khi ăn xong, Phật ung dung đi kinh hành,
đoạn, thu xếp giường nệm, không nói với Tăng chúng và
thị giả, Phật du hành một mình [363c] đến nước Kiều Tát
La. Khi
ấy, các Tỉ kheo liền đến chỗ A Nan, nói với A Nan: -
Thưa trưởng lão, đức Thế Tôn sau khi ăn, ung dung đi kinh
hành, rồi tự thu xếp giường nệm, không nói với Tăng chúng
và thị giả, đơn độc du hành đến nước Kiều Tát La. A
Nan đáp: "Thưa trưởng lão, nếu đức Như Lai Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri sau khi ăn, ung dung đi kinh hành, rồi tự thu xếp giường
nệm, không nói với các Tỉ kheo và thị giả mà du hành một
mình, là vì muốn tìm sự yên lặng, vậy các Tỉ kheo không
nên đi theo Ngài". Lúc
ấy, Thế Tôn từ nước Kiều Tát La du hành đến Ba Lợi Da,
rừng Ta La, an trú dưới cây Hiền Thọ. Ðoạn, nói về bầy
voi năm trăm con, gặp phải nước đục, cỏ xơ xác, vì thế
nó chán ngán đàn voi, nên cũng đơn độc tìm đến cây này.
Khi voi chúa trông thấy Phật, nó liền dùng vòi nhổ cỏ, đạp
đất cho bằng, lại dùng vòi lấy nước rưới lên đất cho
khỏi bụi, đồng thời lấy cỏ mềm trải lên để làm chỗ
ngồi. Ðoạn nó quỳ gối, mời Phật ngồi lên. Khi thấy Phật
ngồi rồi, nó bèn xin được cúng dường Phật ba tháng. Phật
biết ý voi chúa, liền nhận sự thỉnh cầu của nó. Nhân
việc này, Phật đọc bài tụng: "Ðộc
thiện không phải lo,
Bấy
giờ, voi chúa lấy những ngó sen tốt đẹp rửa sạch, rồi
dâng lên Thế Tôn, và Thế Tôn đã nhận sự cúng dường của
voi chúa suốt ba tháng. Khi ấy, năm trăm Tỉ kheo vì cả ba
tháng không thấy Phật, nên đến chỗ tôn giả A Nan, thưa: -
Trưởng lão, chúng tôi đã lâu không thấy Phật, cũng không
được nghe pháp, nay chúng tôi muốn đến đảnh lễ thăm hỏi
Thế Tôn để nghe Thế Tôn dạy bảo. -
Các trưởng lão nên đứng ở đây một lát và đợi tôi trở
về. -
Lành thay! Thế
rồi, A Nan liền đi đến chỗ tôn giả Ðại Mục Liên, nói
như sau: "Thưa trưởng lão, năm trăm Tỉ kheo đến chỗ tôi
nói rằng: "Ðã lâu ngày không thấy Phật, không được nghe
chánh pháp, muốn đến đảnh lễ cúng dường Phật và nghe
Phật dạy bảo. Trưởng lão hãy quan sát xem Phật đang ở
tại đâu?". Mục
Liên liền nhập định, quan sát hết thảy thế gian, thấy
Phật đang ở dưới gốc cây Hiền thọ, tại rừng Ta La, Ba
Lợi Da, nhận sự cúng dường của voi chúa. Thấy thế, thầy
bèn hướng đến A Nan, nói bài kệ sau: "Rời
bỏ hồ hoa sen,
Khi
Mục Liên đọc bài kệ đó rồi, liền nói với tôn giả A
Nan: "Ðức Thế Tôn nay đang ở tại Ba Lợi Da, rừng Ta La,
dưới cây Hiền thọ, nhận sự cúng dường của voi chúa.
Nếu ông muốn đến chỗ Thế Tôn thì bây giờ là đúng lúc". Tôn
giả A Nan bèn trở về chỗ các Tỉ kheo, nói như sau: -
Thế Tôn hiện giờ ở Ba Lợi Da, rừng Ta La, dưới cây Hiền
thọ, đang nhận sự cúng dường của voi chúa. Giờ đây, chúng
Ta hãu cùng nhau đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ vấn an Ngài. Các
Tỉ kheo nghe A Nan nói thế, liền cùng nhau đi đến Ba Lợi
Da, rừng Ta La, dưới cây Hiền thọ. Khi còn cách Thế Tôn
không xa, A Nan nói với các Tỉ kheo: -
Này các trưởng lão, đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri
đang ở tại chỗ thanh vắng, chúng ta không nên đến đường
đột. Các trưởng lão nên đứng lại đây một lát, để
cho tôi đi đến trước. -
Lành thay. A
Nan liền đến với Phật. Từ xa trông thấy A Nan đi đến,
Phật liền nói: "Ông đến thật là đúng lúc A Nan, đã lâu
ngày Ta không gặp ông". Tôn giả A Nan liền cúi đầu đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi bạch như sau: "Thế Tôn có được
ít bệnh, ít khổ não và sống an lạc chăng?". -
Như Lai ít bệnh, ít khổ não, sống an lạc, đang nhận sự
cúng dường của voi chúa. Này A Nan, các Tỉ kheo Tăng có được
ít bệnh, ít khổ não, sống an lạc hay không? Khất thực không
nhọc nhằn, hành đạo đúng pháp đấy chứ?". -
Bạch Thế Tôn, Tỉ kheo Tăng ít bệnh, ít khổ não, sống an
lạc, khất thực không nhọc nhằn, hành đạo đúng pháp. Bạch
Thế Tôn, năm trăm Tỉ kheo hiện giờ đang đợi ngoài rừng,
muốn vào thăm viếng, kính xin Thế Tôn chuẩn thuận. -
Ta cho phép họ vào. A
Nan bèn trở lại chỗ các Tỉ kheo nói: -
Các trưởng lão được lợi ích rất lớn, vì Thế Tôn đã
cho phép vào thăm. Các
Tỉ kheo liền theo A Nan, cùng đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ chân Phật, rồi đứng qua một bên. Lúc bấy giờ trong
số ấy có một Tỉ kheo suy nghĩ như sau: "Làm thế nào mà
Tỉ kheo biết như thật, thấy như thật và lần lượt đoạn
tận các lậu hoặc?". Tuy thầy âm thầm suy nghĩ như thế,
nhưng không dám hỏi Phật. Ðức
Thế Tôn biết được những suy nghĩ trong tâm của vị Tỉ
kheo ấy, nên nói với A Nan: "Trong số người này có một Tỉ
kheo suy nghĩ như sau: "Làm thế nào để một Tỉ kheo biết
như thật, thấy như thật, lần lượt đoạn tận các lậu
hoặc?". Tuy thầy âm thầm suy nghĩ như thế, nhưng không dám
hỏi. Này A Nan, trước đây Ta đã vì các Tỉ kheo nói về
cách quán tưởng ấm, giới, nhập và mười hai nhân duyên;
nếu Tỉ kheo biết như thật, thấy như thật, thì đoạn tận
được các lậu hoặc". Vị
Tỉ kheo ấy nghe Thế Tôn nói thế,liền suy nghĩ: "Vật chất
(sắc) là ta". Lúc
đó, Thế Tôn biết được những suy nghĩ trong lòng của Tỉ
kheo ấy, liền nói với A Nan: "Thầy Tỉ kheo ấy suy nghĩ như
sau: "[364b] Vật chất là Ta". A Nan nên biết, nếu có Tỉ kheo
quán tưởng thế này: "Vật chất là tất cả các hành, do
Vô minh, Xúc, Thọ mà sinh ra Ái", thì Này A Nan, Ái bắt nguồn
từ đâu? Nương tựa vào đâu? Phát sinh từ đâu? Chuyển biến
từ đâu? A
Nan nên biết, Ái bắt nguồn từ Thọ, nương tựa vào Thọ,
phát sinh từ Thọ và chuyển biến từ Thọ. A
Nan nên biết, Thọ bắt nguồn từ Xúc, nương tựa vào Xúc,
phát sinh từ Xúc và chuyển biến từ Xúc. A
Nan nên biết, Xúc bắt nguồn từ Lục nhập, nương tựa vào
Lục nhập, phát sinh từ Lục nhập và chuyển biến từ Lục
nhập. A
Nan nên biết, Lục nhập là pháp hữu vi, do nhân duyên hòa
hợp mà sinh là pháp Vô thường hoại diệt; Xúc là pháp hữu
vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp Vô thường hoại
diệt; Thọ là pháp hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh,
là pháp Vô thường hoại diệt; Ái là pháp hữu vi, do nhân
duyên hòa hợp mà sinh, là pháp Vô thường hoại diệt; hành
là pháp hữu vi, do nhân duyên hòa hợp mà sinh, là pháp Vô
thường hoại diệt. Vô minh là pháp hữu vi, do nhân duyên hòa
hợp mà sinh, là pháp Vô thường hoại diệt. Như vậy đó
A Nan nếu Tỉ kheo biết như vậy, thấy như vậy, thì sẽ lần
lượt đoạn tận hữu lậu. Vị
Tỉ kheo ấy, nghe nói thế, bèn suy nghĩ: "Vật chất chẳng
phải là ta, vật chất là sở hữu của ta". Phật
biết được, những suy nghĩ trong lòng của Tỉ kheo ấy, liền
nói với A Nan: "Thầy Tỉ kheo ấy nghĩ thế Này: "Vật chất
chẳng phải là ta, vật chất là sở hữu của ta". A
Nan nên biết, nếu Tỉ kheo quán tưởng như sau: "Vật chất
là tất cả các hành, do Vô minh, Xúc, Thọ mà sinh ra ái, vậy
ái bắt nguồn từ đâu? Nương tựa vào đâu? Phát sinh từ
đâu? Chuyển biến từ đâu?". A
Nan nên biết, ái bắt nguồn từ Thọ, nương tựa vào thọ,
phát sinh từ Thọ và chuyển biến từ Thọ, cho đến Vô minh
hữu vi hành (là sự vận hành của pháp hữu vi), do nhân duyên
hòa hợp mà sinh, là pháp Vô thường hoại diệt. Vị
Tỉ kheo ấy nghe nói thế, liền suy nghĩ: "Vật chất không
phải là Ta, cũng không phải sở hữu của Ta, mà trong ta có
vật chất". Phật
biết những suy nghĩ trong lòng của Tỉ kheo ấy: (cho đến)
Vô minh là sự vận hành của hữu vi, do nhân duyên hòa hợp
mà sinh, là pháp vô thường biến hoại . Vị
Tỉ kheo ấy nghe nói thế, liền suy nghĩ: "Vật chất chẳng
phải là ta, chẳng phải là sở hữu của ta, cũng chẳng phải
trong ta có vật chất, hay trong vật chất có ta". Phật
biết được những suy nghĩ trong lòng của Tỉ kheo ấy: (cho
đến) Vô minh là sự vận hành của hữu vi, do nhân duyên hòa
hợp mà sinh, là pháp vô thường biến hoại. Vị
Tỉ kheo ấy nghe nói thế, liền suy nghĩ: "Nếu vật chất chẳng
phải là ta, chẳng phải sở hữu của ta, chẳng phải trong
ta có vật chất, cũng chẳng phải trong vật chất có ta; (Vậy
chắc) Thọ là ta, Tưởng, Hành, Thức cũng như vậy. Nếu năm
ấm chẳng phải là ta, chẳng phải sở hữu của ta, chẳng
phải trong ta có năm ấm, chẳng phải trong năm ấm có ta; vậy
thì vì sao mà có ta?". Phật
nói với A Nan: "Nếu quán tưởng như vậy về [364c] năm ấm,
tất cả các Hành, do Vô minh, Xúc, Thọ sinh ra Ái, thì Này
A Nan, Ái bắt nguồn từ đâu? Nương tựa vào đâu? Phát sinh
từ đâu? Chuyển biến từ đâu? Này A Nan Ái bắt nguồn từ
Thọ, nương tựa vào Thọ, phát sinh từ Thọ và chuyển biến
từ Thọ. A
Nan nên biết, Thọ bắt nguồn từ Xúc, nương tựa vào Xúc,
phát sinh từ Xúc và chuyển biến từ Xúc. A
Nan nên biết, Xúc bắt nguồn từ Lục nhập, nương tựa vào
Lục nhập, phát sinh từ Lục nhập và chuyển biến từ Lục
nhập. A
Nan nên biết, Lục nhập là sự vận hành của hữu vi, do nhân
duyên hòa hợp mà sinh, là pháp Vô thường biến hoại, (cho
đến) Vô minh là sự vận hành của hữu vi, do nhân duyên hòa
hợp mà sinh, là pháp vô thường biến hoại, như vậy đó
A Nan. Nếu Tỉ kheo biết như vậy, quán tưởng như vậy, thì
lần lượt sẽ đoạn tận hữu lậu. Vị
Tỉ kheo ấy nghe nói thế, liền được pháp nhãn thanh tịnh.
Rồi thầy suy nghĩ: "Tất cả các pháp đều vắng lặng, không
có ta, không có sở hữu của ta". Phật
nói với A Nan: "Thầy Tỉ kheo ấy trong khi suy nghĩ như thế,
thì không thọ nhận bất cứ pháp nào, đoạn tận các lậu
hoặc và tâm được giải thoát". Trong
khi Phật vì Tỉ kheo ấy thuyết về pháp đó thì năm trăm
Tỉ kheo tâm được giải thoát, đều thành La hán. Thế
rồi, đức Thế Tôn cùng sống với các Tỉ kheo, lúc ấy vào
tháng mùa thu, gặp cơn mưa lạnh thình lình các Tỉ kheo đem
đốt một khúc cây lớn rổng ruột. Nhưng trong cây ấy vốn
có một con rắn lớn. Vì bị lửa nóng nên nó chui ra, ngẩng
đầu lên, đuổi theo các Tỉ kheo. Do đó, các Tỉ kheo kêu
gọi nhau ôm sồm: "rắn bò ra, rắn bò ra". Lúc ấy, Phật biết
nhưng vẫn hỏi các Tỉ kheo: "Vì sao mà kêu la ôm sồm như
thế?". -
Bạch Thế Tôn, vì bị cơn mưa lạnh thình lình các Tỉ kheo
niên thiếu đem đốt một cây rổng ruột. Trong cây ấy có
con rắn, do bị lửa nóng nên nó bò ra đuổi các Tỉ kheo.
Các Tỉ kheo thấy vậy nên mới kêu gọi nhau ôm sòm như thế. -
Ði gọi các Tỉ kheo ấy đến đây. Khi
họ đến rồi, Phật bèn nói với các Tỉ kheo: "Ðốt lửa
có bảy sự tai hại, đó là: 1. Làm hư mắt; 2. Làm hư nhan
sắc; 3. Làm cho thân tiều tụy; 4. Y phục bị dơ bẩn, hư
hại; 5. Làm hư hỏng giường nệm; 6. Sinh ra cơ hội phạm
giới; 7. Làm tăng thêm sự bàn tán về chuyện đời. Có bảy
điều tai hại như thế, nên từ nay về sau, Ta không cho phép
đốt lửa". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Ðức Thế Tôn vì năm việc lợi ích nên cứ năm hôm đi quan
sát phòng của các Tỉ kheo một lần, Ngài thấy một Tỉ kheo
bị bệnh ghẻ ngứa, Phật biết nhưng vẫn hỏi: -
Này Tỉ kheo, có dễ chịu không? Không khổ đấy chứ? -
Con bị bệnh ghẻ ngứa không được vui, nếu được hơ lửa
thì thấy dễ chịu, nhưng Thế Tôn chế giới không cho đốt
lửa, nên không được dễ chịu. -
Từ nay về sau, Ta cho phép Tỉ kheo bị bệnh được phép đốt
lửa. [365a]
Lại nữa, khi Phật trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ các tôn giả Nan đề, Kim Tì Lô, Bạt đề an cư
tại núi tháp vừa xong, bèn đi đến thành Xá Vệ để đảnh
lễ thăm viếng Thế Tôn. Thấy các vị mặ áo bị thấm mưa,
màu nhuộm phai lạt, Phật biết mà vẫn hỏi: -
Này các Tỉ kheo, vì sao lại mặc áo bị thấm nước mưa (màu
phai lạt)? -
Bạch Thế Tôn, vì Thế Tôn chế giới không được đốt lửa,
nên chúng con không dám nấu thuốc nhuộm để nhuộm lại. -
Từ nay về sau, trừ có lý do chính đáng (thì được đốt
lửa). Thế
rồi Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ kheo không có bệnh mà tự đốt cỏ, cây, phân bò,
hoặc sai người khác đốt, thì phạm Ba dạ đề, ngoại trừ
có lý do chính đáng. Giải
thích: Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Bệnh:
Như ghẻ lở, ghẻ ngứa, lác, bệnh phong... có các loại bệnh
cần đến lửa như vậy mới dễ chịu, thì cho phép đốt
lửa. Cỏ:
tất cả các thứ cỏ và lau, sậy, trúc... Cây:
Tất cả các loại cây hoặc đã bị đốn chặt, hoặc còn
nguyên vẹn. Phân
bò: Hoặc
tự mình đốt, hoặc sai người đốt, ngoại trừ có lý do
chính đáng thì Thế Tôn bảo không có tội. Lý
do: Hoặc trực
nguyệt (chịu trách nhiệm trong tháng), hoặc phải chăm sóc
việc ăn uống, hoặc đến phiên mình phải đốt lửa, đốt
đèn, hoặc đốt lò sưởi cho ấm trong phòng, hoặc đốt lửa
cho Hòa thượng, A xà lê, hoặc đun nước nóng, hoặc xông
bát, hoặc nhuộm y... đốt lửa thì không có tội. Nếu không
có lý do thì phạm Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
cầm cây củi có lửa để trên đống củi, trên cỏ, trên
phân bò, trên ghế gỗ, trên đống rác thì phạm ba dạ đề.
Như vậy, cho đến nếu cầm nắm rác có lửa để trên củi,
trên cỏ, trên phân bò, trên ghế gỗ cũng như vậy. Nếu
Tỉ kheo dẫm trên đống lửa bằng cỏ cây, có cái đã cháy,
có cái chưa cháy, thì phạm Ba dạ đề. Nếu
dẫm trên lửa làm cho lửa văng ra mà chưa cháy đất, thì
phạm tội Việt tì ni (?). (Khi ấy) được cầm cây sắt, gạch,
ngói mà dập đống lửa thì không có tội. Nếu
cầm lửa xoay thành vòng tròn thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu
Tỉ kheo ngắt cỏ ném về phía lửa hoặc ném trên lửa, thì
tùy ngắt bao nhiêu cộng, phạm bấy nhiêu tội Ba dạ đề. Nếu
đốt cháy cây cỏ thì phạm Ba dạ đề. Nếu
đốt cháy thân cây nảy mầm thì phạm hai tội Ba dạ đề.
Vì phạm tội đốt lửa và làm hại mầm cây. Nếu
vì muốn phá (vật gì đó), hoặc hỏa tịnh (dùng lửa đốt
đồ ăn để đồ ăn hợp lệ), hoặc vì lý do chính đáng
mà đốt thì không có tội. Nếu
đốt buội lúa đã có hạt hoặc bông lúa đã có hạt thì
phạm hai tội Ba dạ đề. Một tội đốt lửa và một tội
làm hại mầm sống. Nhưng nếu cần dùng lửa để tác tịnh
(như nghĩa hỏa tịnh) hoặc có lý do mà đốt, thì không có
tội. Nếu
đốt tóc, đốt lông ngựa, lông lạc đà ..., thì phạm tội
Việt tì ni. Nếu
đốt da thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
đốt bánh thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
đốt thuốc độc và than thì phạm tội Việt tì ni. [365b]
Nếu ăn không tiêu được dùng miếng sắt nung nóng áp trên
bụng, thì không có tội. Nếu
dùng giày da dẫm trên lửa thì phạm tội Việt tì ni. Thế
nên nói (như trên). 40.
GIỚI: NGỦ QUÁ THỜI HẠN CHO PHÉP. Khi
Phật an trú tại tịnh xá Khoáng Dã, nói rộng như trên. Bấy
giờ Tỉ kheo quản sự thuê thợ trộn hồ đúc gạch. Người
thợ ấy khi thì ngủ trong phòng trai đường của Tăng, khi
thì nghỉ trong phòng Thiền, khi thì nghỉ trong phòng sưởi,
ông khạc nhổ đồ dơ bẩn, hoặc đại tiểu tiện nơi Này
nơi kia, làm cho ô uế, phương hại đến sự tọa thiền, hành
đạo của các Tỉ kheo. Các Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy
đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ kheo quản
sự đến. Khi thầy đén rồi, Phật bèn hỏi: "Có thật ông
thuê người làm công về làm cho ô uế nơi này nơi kia, khiến
phương hại đến sự tọa Thiền, hành đạo của các Tỉ
kheo hay không?". -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Vì sao như vậy? -
Con muốn sai người thợ ấy buổi mai làm, buổi chiều nghỉ,
làm sao vừa đủ số tiền thuê thì thôi. -
Tuy vậy, nhưng từ nay về sau (Tỉ kheo) không được ngủ chung
phòng với người chưa thọ giới Cụ túc. Lại
nữa, khi Phật còn là Bồ tát, ở nhà phụ vương rất yêu
quí, vì sợ mất giống Chuyển luân vương nên ưu sầu khóc
lóc không cho Bồ tát xuất gia. Ðến khi (Gia du) hoài thai La
Hầu La thì (Bồ tát) mới bỏ nhà xuất gia được. Thế rồi,
Phật nói với các Tỉ kheo: "Như Lai nhu nhuyến làm vui lòng
người không thể nào hơn được phụ vương, vì Ngài đã
xây ba cung điện phù hợp cho ba mùa Xuân, Hạ, Ðông, như trong
kinh Nhu Nhuyến Tuyến đã nói rõ, (cho đến) Như Lai được
thành Ðẳng Chánh Giác". Các
Tỉ kheo bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn phải tu khổ hạnh đến sáu
năm như vậy? -
Không phải chỉ có ngày nay (tu khổ hạnh) như trong kinh Ðiểu
Bản Sinh đã nói rõ. -
Bạch Thế Tôn, vì sao ma Ba tuần thường muốn làm não loạn
phá hoại Thế Tôn? -
Không phải chỉ có ngày nay (phá hoại), như trong kinh Miết
Bản Sinh đã nói rõ về sự kiện cha con gặp nhau tại nước
Ca Duy La Vệ. Trong đó còn nói rõ về trường hợp Ðại Ái
Ðạo, Da thâu Ðà La, La Vân xuất gia. Lại còn nói rõ trường
hợp Phật vì thân quyến nên trở về nước Ca Duy La Vệ.
Bấy giờ, những người có lòng tin bèn làm cầu tiêu cho Phật.
Tuy Phật không cần, nhưng vì thuận theo người đời nên đã
nhận. Thế rồi, một hôm, tôn giả La Hầu La nằm ngủ ở
ngoài trời, đêm ấy trời bỗng đổ mưa gió. Thầy liền
đi đến trước phòng tôn giả Xá Lợi Phất, gõ cửa. Xá
Lợi Phất hỏi: "Ông là ai?". -
Bạch Hòa Thượng, con là La Hầu La. -
Ông hãy đứng ngoài đó. |