| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẦN THỨ NĂM CỦA CHÍN MƯƠI HAI PHÁP ÐƠN ÐỀ [351b] 31.
GIỚI: ĂN QUÁ GIỚI HẠN ÐƯỢC CÚNG DƯỜNG. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên, bấy giờ
có một Tỷ kheo an cư tại một xóm làng vừa xong, lên đường
đi đến thành Xá Vệ để thăm viếng đức Thế Tôn. Lúc
ấy có một cư sĩ trong thôn làm nhà phước thiện vừa xong,
thiết một bữa cơm cúng dường cho Tăng bốn phương, gặp
Tỷ kheo này vừa đến, cư sĩ rất hoan hỷ nói: "Lành thay,
đại đức vừa mới đến!". Thế rồi, ông trải giường
nệm, đưa nước rửa chân, cung cấp dầu thoa chân và nước
uống phi thời. Ban đêm, ông đốt đèn sáng, sửa soạn chỗ
nằm để cho thầy nghĩ ngơi yên ổn. Sáng hôm sau, ông lại
cung cấp tăm xỉa răng, nước sạch và cúng dường thức ăn
mĩ vị ngon miệng. Tỷ kheo ăn xong thầm nghĩ: "Ta từ xa đến
đói khát, nay lại được các thức ăn uống khoái khẩu thế
này, ta nên ở lại ít hôm nghỉ ngơi cho thân thể khỏe khoắn,
rồi hãy đến viếng Thế Tôn". Suy nghĩ thế rồi, ban ngày
thầy vào nghỉ trong rừng vắng, chiều tối về lại nhà.
Ðàn việt thấy thầy vẫn đối xử hoan hỷ như trước. Cho
đến ngày thứ ba, đàn việt bèn hỏi: "Hôm nay đại đức
dùng bữa ở đâu?". -
Ở đây. -
Thế còn hôm qua ở đâu? -
Thì cũng tại đây. -
Vậy ngày mai ở nơi nào? -
Cũng nơi này. Ðàn
việt liền trách: "Nhà tôi nghèo, vừa đủ sống, ở đây
có thể cúng dường cho tứ phương Tăng một bữa cơm mà thôi,
đại đức không nên ở lâu. Nếu nhà tôi giàu có dư giả
thì tha hồ dâng cúng cho tất cả chư Tăng". Tỷ
kheo liền suy nghĩ: "Ðàn việt thốt ra lời nói có vẻ oán
trách, ta phải đi thôi". Thế rồi, thầy đi lần hồi đến
chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, đứng hầu một
bên. Phật biết mà vẫn hỏi: "Ông an cư ở đâu?". -
Tại thôn mỗ. -
Bắt đầu ra đi từ lúc nào? -
Từ ngày ấy. -
Vì lý do gì đường đi không xa mà trải qua nhiều ngày như
thế? Thầy
Tỷ kheo liền đem sự việc kể trên bạch đầy đủ với
Thế Tôn. Phật nói: "Việc đó không nên. Lẽ nào chỉ vì
thỏa thích thân miệng mà ông làm cho đàn việt than phiền!
Từ nay trở đi, nơi nào chỉ cúng dường một bữa ăn, thì
Tỷ kheo không được dùng quá một bữa". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ có một Tỷ kheo an
cư mùa hạ tại một làng kia vừa xong, [351c] lên đường đi
đến Xá Vệ để thăm viếng đức Thế Tôn. Bấy giờ, có
một đàn việt trong thôn làm nhà phước thiện, cúng dường
cho Tăng bốn phương một bữa cơm, thì gặp lúc Tỷ kheo kia
vừa đi tới đó, họ liền cung cấp những thứ nhu yếu, như
trên đã nói. Vị Tỷ kheo này ăn xong, ra đi thì bệnh phong
phát sinh, liền suy nghĩ: "Ta không thể đi được mà Thế Tôn
đã chế giới hễ nơi nào cúng một bữa ăn thì không thể
ăn quá một bữa. Nay ta hãy ở lại đây, nhưng không dùng
cơm của họ". Nghĩ thế rồi, thầy liền trở lại nhà ấy,
đàn việt lại cung cấp những nhu yếu như trước, nhưng Tỷ
kheo không nhận. Ðến sáng hôm sau, họ lại dọn thức ăn,
thầy cũng không dùng. Thế rồi, thầy ra đi, trong bụng nghĩ:
"Ta đến làng kia sẽ khất thực để ăn". Nhưng khi thầy đến
làng ấy thì mặt trời đã quá ngọ, do thế không được
ăn khiến tứ chi rũ rượi. Rồi thầy đi đến chỗ Thế Tôn,
cúi đầu đảnh lễ chân Phật, đứng hầu một bên. Phật
biết mà vẫn hỏi, thầy liền đem sự việc trên bạch đầy
đủ với Thế Tôn. Phật khen ngợi: "Lành thay, lành thay Tỷ
kheo! Ông tùy thuận chánh pháp có lòng tin xuất gia, thiểu
dục tri túc, không vì mạng sống mà vi phạm những điều
do Như Lai chế định. Từ nay ta cho phép Tỷ kheo bệnh được
ăn hơn một bữa tại nhà phước thiện". Rồi
Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
"Tại những nơi bố thí một bữa ăn, Tỷ kheo không bệnh
chỉ nên ăn một bữa, nếu ăn quá một bữa thì phạm tội
Ba dạ đề". Giải
thích: Chỗ
bố thí một bữa:
Ðức Thế Tôn cho phép được ăn. Thức
ăn: Gồm năm
loại, như trên đã nói. Không
bệnh: Thân
thể không tật bệnh. Nhưng nếu thân có bệnh tật không đi
đường được thì ở lại ăn không có tội. Trái lại, nếu
không có bệnh mà ăn quá một bữa thì phạm tội Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
như trên đã nói. Nếu
dãy nhà có mười sáu gian, mỗi gian cúng dường một bữa
ăn, mà Tỷ kheo vì công việc của Tăng, của tháp, của chính
mình đến ở gian nhà nào thì được ăn tại đó một bữa
để giải quyết các công việc. Nếu công việc chưa xong thì
phải sang gian nhà thứ hai nghỉ lại ăn một bữa rồi đi.
Nếu công việc vẫn chưa xong, thì có thể tuần tự ở trong
mười sáu gian nhà, ăn mười sáu bữa để lo cho xong công
việc rồi đi. Nếu như công việc vẫn chưa xong, thì không
được ăn lại tại các nhà ấy mà phải đi khất thực ở
những nơi khác, chứ không được khất thực tại các nhà
ấy. Nếu lúc đầu làm nhà có những người cùng thôn chung
sức để làm thì cũng không được khất thực tại thôn ấy
mà phải đến thôn khác để khất thực. Ðồng thời nghỉ
lại tại thôn ấy để giải quyết công việc. Nếu công việc
vẫn chưa xong thì có thể trở lại mười sáu [352a] căn nhà
kia để thọ trai như trước. Nếu trong thời gian ấy công
việc vẫn chưa xong thì phải rời khỏi nơi ấy một đêm
rồi trở lại thọ trai để lo công việc. Nhưng nếu gia đình
ấy có con trai cưới vợ rồi họ thưa với Tỷ kheo: "Tôi
sai sứ giả đi mời thầy chưa chắc gì được, huống gì
nay thầy đang có mặt ở đây lẽ nào lại bỏ ra đi", thì
khi ấy Tỷ kheo nhận lời họ mời ở lại thọ trai không
có tội. Thế nên nói (như trên). 32.
GIỚI: ĂN NHIỀU LẦN TRONG NGÀY. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên, bấy giờ
nông dân ở trong vườn của Tăng cứ hằng năm bắt đầu
mùa lúa chín thì cúng dường trai phạn cho chúng Tăng. Thế
nào là hằng năm bắt đầu mùa lúa chín? Ðó là lúc lúa tẻ
chín, lúa mạch chín, lúc thu hoạch đậu xanh, lúc thu hoạch
đậu phụng, mía.v.v. Nông dân đều trích ra mỗi thứ một
ít để dành cúng dường cho chư Tăng. Khi
đó, nông dân nói với Tỷ Kheo: "Hằng năm cứ bắt đầu mùa
gặt hái thì tôi đều cúng dường trai phạn cho chúng Tăng.
Nếu tại tinh xá Kỳ Hoàn ngày nào không có người cúng dường
thì xin thầy nói cho tôi biết, tôi sẽ cúng dường để chúng
tăng ăn uống no đủ". Bấy
giờ tại đây các cư sĩ tín tâm cúng dường các thức ẩm
thực theo lịch trình trước sau, nhưng trong đó có một ngày
không có cúng dường. Do đó, sứ giả đến nói với người
nông phu: "Lão trượng, ngày mai tại Kỳ Hoàn không có ai cúng
dường, trước đây ông đã hứa cúng thì dịp này là đúng
lúc". Nông
phu nghe xong liền đi đến Kỳ Hoàn, cúi đầu đảnh lễ chân
chư Tăng, quì chân phải xuống đất, chắp tay bạch rằng:
"Con là nông dân mỗ giáp, ngày mai thiết trai cúng dường,
xin tất cả chúng Tăng nhận lời mời của con". Chúng
Tăng bèn nhận lời mời. Thế rồi lúc ấy có một trưởng
giả dùng năm trăm đồng tiền cũ mua được hai con bò, ông
muốn thử xem sức nó thế nào, bèn mắc nó vào xe, đánh cho
chạy lui chạy tới trong phạm vi một do-diên. Vì cái ách xe
quá chặt nên một con bò bị chết, ông hết sức khổ não,
đứng đập ngực than trách: "Vì sao ta mua bò với một giá
đắt chưa dùng được mà đã chết thế này!" Bỗng
có một người quen biết với cư sĩ liền hỏi ông: "Vì sao
ông buồn bã như vậy?" Cư
sĩ bèn trình bày tường tận sự việc kể trên. Ông bạn
liền hỏi: "Vì sao ông không làm kiên pháp?" -
Kiên pháp là thế nào? -
Kiên pháp nghĩa là ông đến Kỳ Hoàn mời chư Tăng về nhà
mổ thịt con bò kia làm cơm cúng dường chư Tăng. Ông
nghe xong liền đi đến Kỳ Hoàn, vào phòng cúi đầu đảnh
lễ chân chư Tăng, rồi quì gối chắp tay nói như sau: "Con
là mỗ giáp, ngày mai xin mời chư Tăng về nhà để con cúng
dường một bữa cơm đạm bạc. Mong chư Tăng nhận lời mời
của con". Lúc
đó có một Tỷ kheo vốn là chỗ quen biết cũ với ông, liền
đến bảo: "Ông chưa biết cách mời. Vì sao không nói trước
với tôi để tôi chỉ cho ông cách mời chúng Tăng?" Ông
liền phân bua: "Thưa thầy, tôi đem năm trăm đồng tiền cũ
mua được hai con bò, nhưng một con bị chết, nay tôi muốn
dùng thịt nó để cúng dường chúng Tăng". -
Nhưng chúng Tăng đã nhận lời mời của người khác rồi. -
Tôi đã sắm sửa thức ăn rồi bây giờ phải làm sao? -
Giờ tôi bày ông trở lại [352b] bạch với chúng Tăng như
sau: "Con mời chư Tăng ngày mai đến nhà con thọ trai". Nếu
tăng hỏi ông đã sắm những thức ăn gì thì ông phải đáp:
"Ðã sửa soạn bún, cơm, thịt". Khi
được dặn bảo xong, ông liền trở lại chỗ chúng Tăng,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân, quì gối, chắp tay, nói như
sau: "Con là mỗ giáp, xin mời chư Tăng ngày mai đến nhà con
thọ trai, mong chư tăng hãy nhận lời mời của con". Các
Tỷ kheo hỏi: "Ông đã sắm sẵn những thức ăn gì?" -
Con đã làm bún, cơm, thịt. -
Lão trượng, ngày mai ông hãy chuẩn bị cho sẵn sàng. -
Thưa vâng, xin chư tôn giả sáng mai hãy đến sớm. Thế
rồi ông trở về nhà, suốt đêm kho nấu thịt và các thức
ẩm thực, lúc sáng sớm bèn trải giường nệm, lọc nước
sạch, rồi đến bạch với chúng Tăng: "Ðã đến giờ". Chư
tăng bèn khoác y, cầm bát đi đến nhà ông, ngồi theo thứ
lớp. Người đàn việt liền dọn lên thức ăn ngon lành, chư
Tăng ăn uống no nê rồi trở về tinh xá. Ðoạn
nói về người nông phu kia suy nghĩ: "Các thầy là những người
ngày ăn một bữa, nên cần phải ăn sớm."Do đó, suốt đêm
ông sửa soạn các thức ẩm thực, rồi trải giường nệm,
lọc nước sạch, xong xuôi bèn đi đến Kỳ Hoàn, cúi đầu
đảnh lễ chân chư tăng, quỳ gối, chấp tay, bạch rằng:
"Ðã đến giờ rồi". Bấy
giờ, các Tỳ kheo vì mình mới ăn uống no nê, nên tuy thấy
ông ấy đến mời mà tựa hồ như không nghe. Ông ta liền
suy nghĩ: "Kỳ thay! Kỳ thay! Các thầy là những người ăn
ngày một bữa, lẽ ra thường cảm thấy đói, vì sao nghe mời
thọ trai mà tựa hồ như không nghe! Nếu ngoại đạo mà nghe
mời thọ trai thì họ liền cầm gậy có 3 nấc và bình nước
đi ngay lập tức". Ông tán thán như vậy đến lần thứ 2
thứ 3 thì các Tỳ kheo mới đứng dậy, thong thả, đi đại
tiểu tiện, mở lõng dây lưng, sửa lại oai nghi, ung dung đi
đến nhà ông, ngồi theo thứ tự. Bấy
giờ người nông dân liền tự tay dọn thức ăn, múc đầy
giá đưa Thượng tọa thì Thượng tọa đưa tay ra dấu chỉ
dùng một ít. Người nông dân liền nói: "Các thầy là những
người ăn mỗi ngày một bữa mà sao đối với các thức ăn
này đều không tỏ ra thích thú!". Rồi
ông thầm nhủ: "Nếu Thượng tọa ăn ít thì Hạ tọa phải
ăn nhiều và đệ nhị, đệ tam Hạ tọa cho đến những Tỷ
kheo trẻ tuổi (Phải ăn nhiều hơn nữa)". Thế rồi, ông nói:
"Thầy là người ăn ngày một bửa mà sao đối với các thứ
ẩm thực này không thấy thầy thích thú chút nào!". Lúc ấy
trong hàng Hạ tọa có một người mới tu, lẩm cẩm, liền
nói như sau: "Hôm nay chúng tôi không phải vì ăn mà đến đây,
do vì chiều ý ông mà đến. Bỡi lẽ chúng tôi ăn uống ở
chỗ khác no nê rồi. Nếu không tin ông hãy xem chân tôi còn
có dấu mỡ dính đây này" Người
nông dân nghe thế trong lòng không vui, liền vứt nồi thức
ăn xuống đất hậm hực nói: "Các thầy đã nhận lời mời
của tôi trước rồi, vì sao lại đi ăn ở chỗ khác?". Trong
lòng mang niềm oán hận, ông bèn đi đến chỗ Phật, cúi đầu(352
c) đảnh lễ chân Phật, rồi đứng sang một bên, bạch với
Phật: "Vì sao các Tỳ kheo nhận lời của con trước rồi mà
lại thọ trai ở chỗ khác?".Phật liền tùy nghi thuyết pháp
cho nông dân này, khuyên bảo chỉ dạy, khiến ông vui vẻ,
ông bèn bạch Phật rằng: "Bạch Thế tôn! Những thực phẩm
con cúng dường chúng tăng dư thừa nên bỏ chỗ nào?" Phật
dạy! "Ông đến bên hồ mỗ giáp kia, quét sạch đất trên
bờ hồ, rồi mang thức ăn còn dư đến bỏ tại đó. Vì lúc
này vua Ba Tư Nặc đánh nhau với quân Nhỉ Ni Sát Lợi không
thắng nổi nên kéo quân về đang đồn trú tại đó. Ông có
thể đem thức ăn kia dâng cho nhà vua. Vì vua mới xuống hồ
tắm rửa và thay y phục mới". Vâng lời Phật dạy, ông bèn
đem các thức ăn kể trên đến dâng cho nhà vua và các tướng
sĩ. Vì trong lúc đang đói khát mà được các thức ăn ngon
lành nên họ ăn rất hoan hỉ. Do đó nhà vua bèn ra lệnh ban
thưởng cho ông các thứ trân bảo. Ông được lợi ích trước
mắt nên sung sướng vô cùng. Thế
rồi, Phật bèn bảo gọi các Tỷ kheo thọ trai kia đến. Khi
họ đến rồi, Phật liền hỏi: "Vì sao các ông nhận lời
mời của người ta trước rồi mà lại thọ trai ở chỗ khác?
Này các Tỉ kheo, các ông không biết sao? Ví như người ta
thờ thần nhà, thần cây, nếu các thần muốn đi đâu thì
trước hết phải ăn thức ăn của chủ nhà cúng rồi mới
đi tới chỗ khác. Các ông đã làm một việc không thuận
với nhân tình, trước đã nhận lời mời của người ta rồi
mà đi thọ trai ở chỗ khác. Từ nay về sau ta không cho phép
các Tỷ kheo muốn ăn đâu thì ăn". Lại
nữa khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Ðức Thế Tôn vì năm việc lợi ích nên cứ năm hôm đi thị
sát phòng ốc các Tỷ kheo một lần. Bỗng
ngài thấy có Tỷ kheo đang bệnh, tuy biết nhưng Phật vẫn
hỏi: "Này Tỷ kheo, ông đau bệnh gì? Lúc này bớt hay nặng
thêm?". -
Con đang đau lắm không giảm bớt. Trước đây con được ăn
thường xuyên nên thân thể yên ổn. Từ khi Thế Tôn chế
giới không được ăn lặt vặt nên bệnh con không thuyên giảm. -
Từ hôm nay Ta cho phép các Tỷ kheo khi có bệnh được ăn mỗi
ngày nhiều lần. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, Tì Xá Khư Lộc Mẫu
cứ hằng năm mời chư Tăng thọ trai và dâng y. Khi ấy, tại
tinh xá Kỳ Hoàn có sáu mươi Tỷ kheo đang bệnh, họ đi tới
nhà bà. Tì Xá Khư Lộc Mẫu thưa: "Thưa quí thầy, tinh xá
kỳ Hoàn có năm trăm Tỷ kheo, nay vì sao chỉ có sáu mươi
người đến đây?". Các
Tỷ kheo nói với bà: "Ðức Thế Tôn chế giới các Tỷ kheo
không được phép muốn ăn đâu thì ăn, chỉ trừ những người
bệnh, vì thế các Tỷ kheo bệnh mới đến đây". Thưa
quí thầy, người đời mời ăn là việc chính; nếu quí thầy
có ăn thức ăn của con thì con mới dâng y; nếu không dùng
cơm thì con không dâng y. Thưa quí thầy, trong lần dâng y này
các thầy có thể đến bạch với Phật để xin ngài phương
tiện cho phép được chăng? Các
Tỷ kheo bèn đem nhân duyên ấy đến [353a] bạch với Thế
Tôn. Phật bèn nói với các Tỷ kheo: "Tì-Xá-Khư Lộc mẫu
là người thông minh trí tuệ. Từ nay trở đi ta cho phép khi
dâng y (các Tỷ kheo được phép thọ trai nhiều lần trong một
ngày)". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, bấy giờ một số
người đi lạc quyên, định tổ chức một cuộc đại hội
cúng dường trai phạn cho những người xuất gia của chín
mươi sáu giáo phái, do thế, họ đến nhà người Ưu bà tắc
lạc quyên các phẩm vật. Người Ưu bà tắc liền ra điều
kiện: "Nếu ông lsắp đặt cho các thầy của tôi được ngồi
trên, thì tôi sẽ cho ông phẩm vật". Người đi lạc quyên
nói: "Ông thử nghĩ xem, nếu tín đồ của ngoại đạo cũng
nói thế này: "Nếu ông làm cho các thầy của tôi được ngồi
trên, thì tôi sẽ cho ông phẩm vật"thì tôi làm sao có thể
hứa với mọi người là ai cũng được ngồi trên. Ông chỉ
cần cho tôi phẩm vật, để vào ngày đó, tháng đó, tôi sẽ
dựng cờ xí, bày biện các cây báu, trải các giường ghế
đẹp đẽ tại trên bờ sông A-Kỳ, mà mở đại hội cúng
dường bữa trai soạn với những món ngon vật lạ, rồi trong
số những người xuất gia hễ ai đến trước thì ngồi trên". Các
Ưu bà tắc nghĩ rằng Phật, Tăng là ruộng phước tốt nên
đưa phẩm vật cho người đó, rồi đi đến chỗ tôn giả
A-Nan, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, bạch đầy đủ sự
việc kể trên và thêm rằng: "Tôn giả phải làm cách nào
để cho các Tỷ kheo được ngồi trên, khiến cho bọn ngoại
đạo bị sỉ nhục một phen". Tôn
giả A-Nan liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân
Phật, rồi đứng qua một bên, đem sự việc trên bạch đầy
đủ lên Thế Tôn. Thế rồi khi ấy những người đi lạc
quyên sắm sửa các thực phẩm xong xuôi, bèn mời những người
xuất gia của chín mươi sáu giáo phái, đồng thời mời vua
Ba-Tư-Nặc và quần thần, thái tử cùng đến dự. Các vị
thôn trưởng, các trưởng giả kỳ túc và những người chủ
xướng, khi đến giờ đều qui tụ về trên bờ sông A-Kì
để tham dự đại hội. Trước
đại hội một ngày Phật nói với Mục-Liên: "Ông phải biết
đúng thời". Tôn giả Mục-Liên liền dùng thần túc làm cho
nước sông nổi sóng cuồn cuộn, đầy những bọt bèo tràn
ngập đến bờ. Các ngoại đạo đều nói như sau: "Ta phải
qua sông trước để lấy được chỗ ngồi thứ nhất". Thế
rồi suốt đêm họ tranh nhau chèo thuyền bè để mong qua sông
trước nhất, nhưng vì bị nước chảy dốc nên muốn qua bờ
mà thuyền cứ trôi giạt trở lại, khiến họ vất vả chèo
chống suốt đêm mà chiếc thì chìm xuống dòng nước lạnh,
chiếc thì trôi tấp lên bờ phơi nắng chơ hơ, cho tới giờ
ăn vẫn không thể nào qua sông được. Lúc
bấy giờ tại tinh xá Kỳ Hoàn có người cúng dường chúng
Tăng nên Phật còn dừng lại đợi họ. Những người trẻ
tuổi trong các Tỷ kheo đều nói: "Ðức Thế Tôn hôm nay xuất
hành sao mà muộn quá, sợ rằng các ngoại đạo sẽ chiếm
được chỗ ngồi đầu mất!". Thế
nhưng, đến giờ, Thế Tôn khoác y, cầm bát uy nghi ung dung
cùng với đại chúng đi đến [353b] bờ sông. Các
ngoại đạo thấy thế đều bảo nhau: "Chúng ta suốt đêm
tạo các phương tiện khổ sở như vậy mà không thể qua sông
được thì các sa môn đầu trọc này làm sao qua được". Khi
ấy, Phật bảo Mục-Liên: "Ông tự biết phải làm cách nào
cho các Tỷ kheo qua sông được yên ổn". Thế
rồi, Mục-Liên bèn dùng thần lực tạo ra một chiếc cầu
thất bảo, dùng các thứ châu báu làm lan can, kết thất bảo
làm dây giăng ở trên, làm mưa các loại hoa quí, trổi âm
nhạc vi diệu, đốt các hương thơm khiến khói hương tỏa
ra như mây phủ. Các ngoại đạo thấy chiếc cầu như thế
đều rất hoan hỉ, mỗi phái đều tự bảo nhau: "Các sa môn
này từ từ mà đến, vậy chúng ta phải qua sông trước để
chiếm chỗ số một". Họ
liền tranh nhau chạy vội lên cầu, vì ai cũng muốn qua trước
nên chen lấn nhau lên cầu khiến cho tất cả đếu rơi tõm
xuống nước. Các vật dụng của ngoại đạo như y phục,
gậy có ba khấc, bình nước đều rơi xuống nước trôi nổi
ngổn ngang. Nhưng do thần lực của Thế Tôn khiến cho không
ai bị chết cả. Thế rồi, đức Thế Tôn cùng các Tỷ kheo
uy nghi tuần tự nghiễm nhiên tiến lên, Phật đi đầu còn
các Tỷ kheo đi theo thứ tự. Khi Phật và các Tỷ kheo qua xong
đến người cuối cùng thì Mục-Liên liền làm cho chiếc cầu
báu biến mất. Phật
bèn bảo Mục-Liên: "Ông hãy làm cho con sông trở lại bình
thường như trước". Bấy
giờ, các ngoại đạo mới chèo thuyền bè lục tục qua sông. Khi
ấy Phật đứng trên bờ ngoái lại nhìn họ đọc kệ: "Những
ai qua bờ trước.
Phật
đọc kệ xong ung dung đến tòa ngồi. Các Tỷ kheo cũng ngồi
theo thứ tự. Còn các ngoại đạo vì qua sông sau nên đến
ngồi tiếp sau các Tỷ kheo. Bấy
giờ các đàn việt tự tay bưng các thức ẩm thực lên cúng
dường Thế Tôn và các đệ tử. Khi ấy các Tỷ kheo trong
tâm sinh nghi về việc đức Thế Tôn chế giới không được
ăn nhiều lần mà sao chúng ta lại được ăn lại, liền đứng
dậy bạch với Phật. Phật dạy: "Ta cho phép làm phép thí
thực, nói như sau: "Tôi nay nhận được vật thực này xin
cúng lại cho Tỷ kheo mỗ giáp... cho đến Sa di ni. Nếu vị
ấy không nhận, tôi sẽ dùng". Nói ba lần như vậy". Bấy
giờ các đàn việt mỗi người đều suy nghĩ: "Ai nên chú
nguyện đây?"Thế rồi có người thì bảo là Ni Kiền Tử,
người thì nói Bất-Lan-Ca-Diếp.v.v., đề nghị các ngoại
đạo như thế chú nguyện. Thế nhưng nhiều người khác nói:
"Sa môn Cù-Ðàm ngồi trên hết, đáng được chú nguyện".
Lúc ấy đức Thế Tôn ở giữa chín mươi sáu giáo phái ngoại
đạo, không tự cho mình cao quí, không coi thường người khác,
[353c] tùy thuận chú nguyện, như trong Sanh Kinh đã nói rõ.
Ðoạn Thế Tôn tùy thuận thuyết pháp rộng rãi cho mọi người,
dạy bảo khiến họ được lợi ích, hoan hỉ rồi họ từ
giã ra đi. Rồi Phật trở lại Kỳ Hoàn truyền lệnh cho các
Tỷ kheo đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất
cả, vì mười lợi mà chế giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe
rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỷ kheo ăn nhiều lần trong ngày - trừ khi khác - phạm Ba dạ
đề". Giải
thích: Khi
khác: Khi bệnh,
khi may y. Ðó gọi là khi khác. Ăn
nhiều lần:
Ăn rồi ăn nữa. Trừ
khi khác: Trừ
khi có bệnh. Bệnh:
Bệnh nhiệt, bệnh phong, lạnh, nói chung gặp các bệnh như
vậy mà ăn rồi ăn lại thân thể được an ổn thì không
có tội. Thời
của y: Nếu
không thọ y Ca Thi Na thì trong vòng một tháng. Nếu có thọ
y Ca Thi Na thì trong vòng năm tháng. Trong khoảng thời gian đó
được xả năm điều cấm kỵ không có tội. Năm việc đó
là: Ðược ăn riêng chúng; được ăn rồi ăn lại; khi rời
trú xứ không cần bạch với người khác; được cất y lâu
ngày; ngủ nghỉ được rời y. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Tỷ
kheo phải biết số ngày nào cần làm pháp thí thực, biết
số tuổi hạ, nhớ y đã thọ trì được bao lâu, khi nào được
ăn riêng chúng, có bệnh hay không bệnh. Nếu có người hỏi:
"Hôm nay là ngày mấy?"thì không được hỏi lại họ: "Hôm
qua là ngày mấy?", mà phải biết hôm đó là ngày mồng một,
hay mồng hai trong tháng, cho đến ngày mười bốn, mười lăm,
lại phải biết rõ là tháng đủ hay tháng thiếu. Tỷ
kheo mỗi sáng nên nhớ đến pháp thí thực: "Nếu hôm nay được
thực phẩm ta sẽ cúng dường cho mỗ giáp. Nếu mỗ giáp không
nhận ta sẽ dùng". Nói ba lần như vậy. Hằng ngày Tỷ kheo
nên nhớ mình đã được bao nhiêu tuổi hạ, nên nhớ thọ
trì ba y, và y nào không thọ trì thì phải tịnh thí, lại
phải nhớ khi nào được ăn riêng chúng, hoặc có bệnh hoặc
là không có bệnh. Mức
độ một bữa ăn của Tỷ kheo là bao nhiêu? Nếu cơm tẻ thì
ba bát, bún hai bát, hoặc một bát gạo nấu thành cơm, thêm
một bát hay nửa bát cá thịt nữa. Ðó là mức độï một
trong những bữa ăn của Tỷ kheo. Nếu
thức ăn nấu được tại chùa mà chưa chín, rồi Tỷ kheo
lấy bột khấy thành nước uống, thì phạm giới ăn nhiều
lần thuộc tội Ba dạ đề. Nhưng nếu làm phép thí thực,
hoặc bệnh thì không phạm, hoặc thời của y cũng không phạm. Nếu
ở bên ngoài có người mời thọ trai, rồi Tỷ kheo lúc ấy
nhờ người đi lấy thức ăn, nhưng thức ăn chưa đem về
mà vì đói bụng nên Tỷ kheo lấy bột khấy thành nước định
uống, thì thức ăn vừa đem về. Nếu Tỷ kheo lấy thức ăn
về mà biết giới luật thì nên dừng một lát đợi Tỷ kheo
kia làm phép thí thực xong mới trao cho thức ăn. Trái lại,
nếu Tỷ kheo đem thức ăn về không rành giới luật, liền
trao ngay thức ăn cho Tỷ kheo ấy, rồi Tỷ kheo ấy chưa làm
phép thí thực mà ăn liền (354a) thì trong khi đang ngậm cơm
Tỷ kheo ấy nên đọc phép thí thực, tức là dùng tội nhẹ
đổi tội nặng. Nếu
Tỷ kheo đến nhà đàn việt, rồi đàn việt nói: "Thưa thầy,
bữa nay mời thầy ở lại thọ trai". Ðó gọi là nơi thọ
trai. Khi
ấy Tỷ kheo suy nghĩ: "Cơm ở đây chưa chín, bây giờ ta nên
đi đến nhà khác", thì khi ấy nên nói với chủ nhà rồi
mới đi, nếu không nói mà đi, thì phạm Ba dạ đề. Nếu
tới nhà kia được năm thức ăn chánh hoặc năm thức ăn tạp
mà ăn, thì phạm hai tội Ba dạ đề. Trái lại, gặp trường
hợp được phép ăn nhiều lần trong ngày, được phép rời
khỏi trú xứ mà không cần bạch, hoặc bị bệnh, hoặc đã
làm phép thí thực rồi mới ăn thì không có tội, hoặc thời
của y thì cả hai đều không có tội. Nếu
đàn việt nói như sau: "Thưa thầy, nếu lúc nào không có thức
ăn, xin thầy đến nhà con thọ trai". Rồi
một hôm Tỷ kheo đến nhà ấy nói thế này: "Lão trượng,
hôm nay tôi sẽ thọ trai tại đây". Ðoạn
Ưu bà di nói: "Lành thay, con sẽ chuẩn bị". Nếu
thức ăn chưa chín mà Tỷ kheo muốn đi 0tới nhà khác thì
phải nói với chủ nhà rồi mới đi. Nếu không nói mà đi
thì phạm tội như trên đã nói. Nếu
Tỷ kheo đi khất thực tuần tự đến một nhà kia, rồi đàn
việt nói: "Hôm nay nhà con mời các Tỷ kheo thọ trai, xin mời
thầy cùng ở lại đây chớ có đi nơi khác". Nếu Tỷ kheo
nhận lời mời tức là được xem như ăn tại đó. Nhưng nếu
Tỷ kheo khất thực này nhận lời mời rồi, liền suy nghĩ:
"Ai lại nhận lời người ta mời mình ăn một cách bất đắc
dĩ, thế rồi muốn bỏ đi, thì nên báo cho họ biết. Nếu
không báo cho họ biết mà bỏ đi thì phạm tội như trên đã
nói. Nếu
Tỷ kheo có công đức và danh vọng lớn được nhiều người
mang thức ăn đến cúng, vì muốn được lòng đàn việt nên
thọ nhận tất cả thì phạm giới ăn nhiều lần thuộc tội
Ba dạ đề. Nếu như làm pháp thí thực, hoặc bị bệnh thì
không có tội, hoặc thời của y, cả 2 đều không có tội. Có
hai Tỷ kheo, mỗi người đều được một gia đình mời ăn
thường xuyên. Nếu Tỷ kheo thứ nhất nói với Tỷ kheo thứ
hai: "Trưởng lão, hôm nay cùng đến nhà đàn việt tôi thọ
trai"thì Tỷ kheo thứ hai phải tin cho đàn việt rồi đi. Nếu
không tin mà đi thì như trên đã nói. Trái lại, nếu Tỷ kheo
thứ hai mời Tỷ kheo thứ nhất thì cũng như thế; bữa ăn
của Tỷ kheo là: Cơm tẻ 3 bát, bún 2 bát, hoặc một bát gạo
nấu thành cơm, và thịt cá chừng một bát hay nửa bát; mỗi
mỗi thức ăn trong đó là một bữa ăn của Tỷ kheo. Nếu
tại một nhà hoặc xin được ba thăng, hoặc hai thăng, hoặc
một thăng, hoặc nửa thăng, tùy xin được nhiều bao nhiêu
đều không có tội. Nếu tại một nhà được ba bát cơm tẻ,
hai bát bún, hoặc một bát gạo nấu thành cơm thêm thịt cá
chừng một bát hay nửa bát thì không được nhận thêm ở
chỗ khác nữa. Trong trường hợp này, thế nào là phạm? Thế
nào là không phạm? (354b) Nếu cháo vừa mới múc ra khỏi nồi
mà viết thành chữ được (nghĩa là nó không liền lại với
nhau) thì phạm. Nếu viết không thành chữ thì không phạm.
Tất cả rau, tất cả bún, tất cả bánh, tất cả trái cây
đều không thuộc loại cấm ăn nhiều lần trong ngày, không
thuộc loại cấm ăn biệt chúng, không thể ăn no được, nên
cất chứa nhiều trong nhà không phạm, thế nên nói. (như trên) 33.
GIỚI: ĂN RỒI ĂN LẠI Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên, Bấy giờ
có người Bà la môn mời chư tăng về nhà cúng dường trai
phạn. Ông sửa soạn các thức ăn uống xong, bèn lọc nước
sạch trải giường nệm, rồi suy nghĩ: "Các thầy là những
người ăn ngày một bữa, nên cần phải ăn sớm". Nghĩ thế
ông liền đi đến Kỳ hoàn, cúi đầu đảnh lễ chân chúng
tăng, quỳ gối, chấp tay, bạch như sau: "Con là mỗ giáp xin
mời chư tăng đến thọ trai, thức ăn đã sửa soạn xong,
mong chư tăng biết cho thời giờ đã đến". Khi
ấy các Tỷ kheo bèn khoác y, cầm bát đi đến nhà ông, ngồi
theo thứ lớp. ông Bà la môn bèn tự tay bưng dọn các thức
ăn, các Tỷ kheo ăn uống no nê. Ông lại bưng thức ăn đi
tuần tự mời mọc các Tỷ kheo ăn thêm. Các
tỳ kheo đều nói: "Chúng tôi no rồi, không dùng nữa". Lúc
ăn xong, Tỷ kheo nào không có duyên sự thì trở về tinh xá
còn ai có duyên sự thì đi tới nhà đàn việt. Ðàn việt
gặp được rất hoan hỉ, rồi lễ bái vấn an, thưa: "Thưa
thầy, thầy cần dùng cơm không? Cần dùng dưa,trái cây không,
cần dùng cháo không? Thầy cần dùng thì con sẽ dọn lên ". Tỷ
kheo nói: "Tôi đã ăn no tại nhà Bà la môn mỗ giáp rồi".
Ðàn việt biết khi ấy chưa quá giờ ăn của Tỷ kheo, liền
nói: "Thưa thầy, mặt trời còn sớm, thầy hãy cầm các bánh
này về tinh xá để ăn". Tỷ kheo bèn đưa bát cho đàn việt
bỏ bánh vào đầy bát, rồi đem về trước cổng tinh xá Kỳ
hoàn ngồi ăn, rồi mời các Tỷ kheo khác cùng ăn. Bấy
giờ ông Bà la môn ăn uống xong bèn bảo bà vợ đem những
thức ăn còn lại biếu cho những người hàng xóm. Rồi
ông đi đến chỗ Thế Tôn định đảnh lễ, thăm hỏi. Bỗng
từ xa ông trông thấy các Tỷ kheo đang ngồi trước cổng
Kỳ hoàn cùng ăn bánh. Thấy vậy ông liền đi tới chỗ một
Tỷ kheo đang đi kinh hành hỏi: "Ðó là khách Tỷ kheo phải
không?" -
Không phải -
Hay là Tỷ kheo sắp ra đi? -
Cũng không phải. -
Có phải Tỷ kheo vừa thọ trai nhà tôi không? -
Ðúng vậy. -
Thầy ấy đang làm gì thế? -
Này Bà la môn, chứ ông không biết sao? -
Không biết. -
Vì Tỷ kheo ấy ăn ít nên ăn thêm cho no đó mà. Lúc
ấy trong lòng ông Bà -la môn không vui, liền nói: "Sa môn Thích
tử là người nói thật, mà nay lại nói không thật, ăn chưa
no mà nói đã no, dùng mà nói không dùng, chưa thỏa mãn mà
nói đã thỏa mãn. Ðó là kẻ bại hoại, nào có đạo hạnh
gì!". Vì trong lòng hậm hực nên rốt cuộc ông không đến
chỗ Phật mà trở về nhà. Các
Tỷ kheo nghe vậy liền đến bạch Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Tỷ kheo ấy đến (354c) Khi thầy đến rồi, Phật liền
hỏi: -
Này Tỷ kheo, ông có việc đó thật chăng?. -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Này Tỷ kheo! Vì sao ông ăn đã no, đứng dậy rời khỏi chỗ
ngồi mà còn ăn lại? Từ nay về sau ta không cho phép Tỷ kheo
ăn no, đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi mà còn ăn lạ. Lại
nữa khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ các Tỷ kheo ăn rau cho là no, ăn muối cho là no, rồi
uống nước mà không ăn cơm khiến thân thể tiều tụy. Các
Tỷ kheo liền đem nhân duyên ấy bạch lên Thế Tôn. Phật
dạy: "Từ nay về sau, ta cho phép ăn 5 thức ăn chính, 5 thức
ăn tạp thì mới gọi là no". Lúc
ấy, các Tỷ kheo tại chỗ ngồi ăn một ít thức ăn tưởng
là đã no nên không ăn thêm, do thế rũ rượi. Các Tỷ kheo
liền đem nhân duyên ấy đến bạch Thế Tôn. Phật
dạy:"Ngồi một chỗ ăn 5 thức ăn chính, 5 thức ăn tạp,
ăn uống thỏa mãn thì mới gọi là no". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, tại tinh xá Kì Hoàn
có 60 Tỷ kheo bệnh, nhận 60 phần ăn, nhưng họ ăn còn thừa,
liền đem bỏ bên tường, khiến chim quạ đến tranh nhau ăn
kêu la inh ỏi. Phật
biết mà vẫn hỏi các Tỷ kheo: "Vì sao các con chim ấy kêu
to như vậy?". Các
Tỷ kheo liềân bạch với Phật: "Vì có 60 Tỷ kheo bệnh nhận
lấy phần ăn mà ăn không hết, rồi đem bỏ bên tường, khiến
các con chim tranh nhau thức ăn ấy nên kêu to như vậy". Phật
liền bảo các Tỷ kheo: "Nếu Tỷ kheo bệnh ăn không hết thì
ta cho phép Tỷ kheo nuôi bệnh làm pháp tàn thực rồi ăn thức
ăn ấy". Lại
nữa, khi phật an trú tại thành Xá Vệ, bấy giờ Tỷ kheo
nuôi bệnh làm phép tàn thực để ăn thức ăn còn lại nhưng
vẫn không hết, rồi các con chim tranh nhau ăn như trên đã
nói. Phật biết nhưng vẫn hỏi các Tỷ kheo: "Vì sao các con
chim đánh nhau?". Các
Tỷ kheo liền bạch với Phật: "Vì Tỷ kheo nuôi bệnh làm
pháp tàn thực rồi ăn thức ăn còn thừa mà vẫn không hết,
liền đem bỏ ngoài tường, do đó các con chim tranh nhau ăn
nên mới kêu la". Phật
dạy: "Từ hôm nay ta cho phép một người làm pháp tàn thực
thì những người khác đều được ăn". Rồi
Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả,vì 10 lợi ích mà chế giới
cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỷ kheo ăn no, rời khỏi chỗ ngồi, không làm pháp tàn thực
mà ăn nữa, thì phạm Ba-dạ-đề". Giải
thích Thức
ăn: Gồm năm
loại như trên đã nói; Lại có 5 thức ăn tạp. Ðó gọi là
thức ăn. Ăn
no có tám trường hợp:
1. Tự tứ túc; 2. Thiểu dục túc; 3. [355a] Uế ô túc; 4. Tạp
túc; 5. Bất tiện túc; 6. Siểm túc; 7. Ðình trụ túc; 8. Tự
kỷ túc. Tự
tứ túc: Ðàn
việt dọn cơm bún cá thịt và các thức ăn hỗn tạp khác
rồi mời Tỷ kheo ăn thoải mái; Tỷ kheo nói: "Tôi đã no rồi",
liền đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi, không làm phép tàn
thực mà ăn nữa, thì phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là tự tứ
túc. Thiểu
dục túc:
Ðàn việt dọn lên 5 thức ăn chính và 5 thức ăn tạp, mời
Tỷ kheo ăn thỏa thích mà Tỷ kheo đưa tay ra dấu chỉ lấy
một ít, rồi rời khỏi chỗ ngồi, không làm phép tàn thực
mà ăn lại, thì phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là thiểu dục
túc. Uế
ô túc: Khi
dọn thức ăn, tay của tịnh nhân có ghẻ và dơ bẩn, Tỷ
kheo thấy bẩn thiểu như thế liền nói: "Tôi không dùng, đi
đi", rồi đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi, không làm phép
tàn thực mà ăn nữa, thì phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là uế
ô túc. Tạp
túc: Tịnh
nhân dùng tô đựng sữa để múc cơm bưng đi qua, Tỷ kheo
thấy thế chê dơ nói: "Tôi không dùng, đem đi đi", rồi đứng
dậy khỏi chỗ, không làm phép tàn thực mà ăn, thì phạm
Ba dạ đề. Ðó gọi là tạp túc. Bất
tiện túc:
Tịnh nhân dọn thức ăn Tỷ kheo hỏi: "Ðó là thứ gì?". Tịnh
nhân đáp: "Bún". Tỷ kheo nói: "Thứ này kích thích bệnh phong
của tôi, tôi dùng không tiện, đem đi đi", thế rồi đứng
dậy rời khỏi chỗ ngồi, không làm phép tàn thực mà ăn,
thì phạm Ba dạ đề. Hoặc là khi thấy người dọn cơm, Tỷ
kheo hỏi: "Thức ăn cứng hay mềm vậy?". Họ đáp: "Cứng".
Tỷ kheo nói: "Ðây là loại lúa mì khó tiêu, tôi dùng không
tiện, đem đi". Hoặc họ đáp: "Mềm". Rồi Tỷ kheo nói: "Thứ
này nát quá khó ăn, tôi dùng không thích hợp, đem đi đi".
Hoặc tịnh nhân bưng thịt lên, Tỷ kheo hỏi: "Thứ gì vậy?".
Người ấy đáp: "Thịt bò". Tỷ kheo nói: "Thịt bò tính chất
nóng, tôi dùng không tiện, đem đi đi". Hoặc họ nói: "Thịt
trâu". Tỷ kheo nói: "Tính chất nó mát khó tiêu, đem đi đi".
Hoặc họ nói: "Thịt nai". Tỷ kheo nói: "Loại thịt này có
chất phong, đem đi đi". Thế rồi, Tỷ kheo đứng dậy rời
khỏi chỗ, không làm phép tàn thực mà ăn, thì phạm Ba dạ
đề. Ðó gọi là bất tiện túc. Siểm
túc: Tịnh
nhân dọn 5 thức ăn chính, 5 thức ăn tạp, Tỷ kheo sợ nhiều,
không nói mà đưa tay ra dấu, hoặc lắc đầu, hoặc che bát
lại, rồi đứng dậy rời khỏi chỗ, không làm phép tàn thực
mà ăn lại, thì phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là siểm túc. Ðình
trụ túc:
Tịnh nhân dọn 5 món ăn chính, 5 món ăn phụ, Tỷ kheo nói:
"Này bác, chớ nên dọn cơm lên trước mà phải dọn rau muối
nước lạnh lên trước". Thế rồi, đứng dậy rời khỏi
chỗ, không làm phép tàn thực mà ăn nữa, thì phạm Ba dạ
đề. Nhưng nếu Tỷ kheo làm trị nguyệt (phụ trách công việc
trong một tháng), Duy na.v.v. mà chỉ vẽ ra dấu, [355b] thì không
gọi là đã no. Tóm lại, trên đây gọi là đình trụ túc. Tự
kỷ túc: Tỷ
kheo đi khất thực đến một nhà kia, để cái túi đựng bún
ở một chỗ, rồi vào nhà đàn việt xin nước uống. Ðàn
việt suy nghĩ: "Chắc thầy Tỷ kheo này đang cần bún"liền
hỏi: "Thầy cần bún không?". Tỷ kheo suy nghĩ: "Có lẽ người
đàn việt này muốn lấy bún trong nhà họ cúng dường cho
ta", liền đáp: "Cần". Khi ấy, đàn việt bèn xách cái đãy
đựng bún của Tỷ kheo đưa cho thầy". Tỷ kheo thấy mình
bị chưng hửng, liền nói: "Ðể đó, để đó", nói xong, bèn
đứng dậy rời khỏi chỗ, không làm phép tàn thực mà ăn,
thì phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là tự kỷ túc. Ðứng
dậy rời khỏi chỗ:
Rời có tám vị thế: Ði, đứng, ngồi, nằm, giường dài,
giường nhỏ, thuyền, xe. Ðứng:
Tỷ kheo đang đứng rồi có người đưa thức ăn đến thì
phải đứng ăn cho no, nếu trong thời gian đó mà đi, ngồi
hoặc nằm thì đều gọi là rời khỏi chỗ cũ. Nếu không
làm phép tàn thực mà ăn, thì phạm Ba dạ đề. Ði, ngồi,
nằm cũng như thế. Giường
dài: Nếu
Tỷ kheo đang ngồi trên giường dài rồi có người bưng cơm
đến cho ăn, bỗng thấy Thượng tọa, Hòa thượng hoặc A
xà lê đến thì không cần rời khỏi chỗ ngồi lánh đi mà
chỉ cần nghiêng mình là được. Nếu khi đó chân giường
gãy, thì xem như đã rời khỏi chỗ cũ, nếu như không làm
phép tàn thực mà ăn, thì phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là ngồi
trên giường dài. Giường
nhỏ: Nếu
Tỷ kheo đang ngồi một mình trên giường rồi có người đưa
cơm tới ăn, bỗng nhớ sau lưng có tháp, có tăng, có Hòa thượng,
A xà lê, thì không nên rời khỏi giường quay mình lại. Nếu
bị trời mưa thì nên dùng dù lọng che lên trên. Nếu không
có dù thì được khiêng cả giường dời vào chỗ che khuất,
và khi đặt giường xuống đất thì được xem như đã dời
khỏi chỗ cũ. Nếu không làm phép tàn thực mà ăn thì phạm
Ba dạ đề. Ðó gọi là ngồi trên giường nhỏ. Thuyền:
Nếu Tỷ kheo đang ngồi ở trên thuyền có người đem cơm
đến cho ăn, rồi thuyền đậu vào bờ, hoặc đụng nhằm
cây đá, hoặc bị nước cuốn khiến thân Tỷ kheo rời khỏi
chỗ cũ, nếu Tỷ kheo không làm phép tàn thực mà ăn thì phạm
Ba dạ đề. Ðó gọi là thuyền. Xe:
Nếu Tỷ kheo đang ngồi trên xe có người đem cơm đến cho
ăn, hoặc xe nghiêng bên trái, bên phải, hoặc lắc lư khiến
Tỷ kheo rời khỏi chỗ cũ, nếu Tỷ kheo không làm phép tàn
thực mà ăn, thì phạm Ba dạ đề. Ðó gọi là xe. Có
5 trường hợp phi pháp không được xem là làm phép tàn thực.
Năm trường hợp đó là: 1. ly xứ; 2. ly thực; 3. ly cảnh giới;
4. ly thân thủ; 5. ly ngữ. Ly
xứ: Nếu
Tỷ kheo ăn trong khi đi mà khi đứng, khi ngồi, khi nằm làm
phép tàn thực thì phép tàn thực này là phi pháp. Cũng thế
đối với các trường hợp còn lại. Ðó gọi là ly xứ. Ly
thực: Không
có ai đưa thức ăn mà làm phép tàn thực, thì trường hợp
này không gọi là phép tàn thực. Ðó gọi là ly thực. Ly
cảnh giới:
[355c] Thức ăn để dưới đất không ở trên tay mà làm phép
tàn thực, thì phép tàn thực này phi pháp. Ðó gọi là ly cảnh
giới. Ly
thân thủ:
Giang tay ra ngoài làm phép tàn thực mà không phải dở lòng
bàn tay lên để làm thì không được gọi là làm phép tàn
thực. Ðó gọi là ly thân thủ. Ly
ngữ: Miệng
không nói thế này: "Tất cả những thức ăn trong bát ở trên
tay tôi nay tôi không cần, đây là thức ăn dư, tôi sẽ cho
trưởng lão mỗ giáp". Ðó gọi là ly ngữ. Trên
đây là năm trường hợp phi pháp làm phép tàn thực không
thành phép tàn thực. Lại
có năm trường hợp được gọi là như pháp làm phép tàn
thực. Năm trường hợp đó là: 1. Bất ly xứ (không rời khỏi
chỗ); 2. Bất ly thực (không rời khỏi thức ăn); 3. Bất ly
cảnh giới (không rời khỏi vị trí); 4. Bất ly thân thủ
nội (không rời khỏi bàn tay mở vào trong); 5. Bất ly ngữ
(không rời khỏi lời nói). Bất
ly xứ: Nếu
muốn làm phép tàn thực cho ai thì Tỷ kheo lúc đang đi mà
có thức ăn liền làm phép tàn thực ngay khi đang đi. Ðó là
làm phép tàn thực đúng cách. Cũng vậy, khi đứng, khi ngồi,
khi nằm cũng như thế. Ðó gọi là bất ly xứ. Bất
ly thực: Khi
nhận được thức ăn liền làm pháp tàn thực. Ðó gọi là
bất ly thực. Bất
ly cảnh giới:
Cầm thức ăn trong tay làm phép tàn thực chứ không phải để
dưới đất. Ðó gọi là bất ly cảnh giới. Bất
ly thân thủ:
Ðưa tay vào trong làm phép tàn thực chứ không phải giang tay
ra ngoài. Ðó gọi là bất ly thân thủ. Bất
ly ngữ: Khi
nhận được thức ăn liền nói: "Tất cả những thức ăn
trong bát trên tay tôi, tôi không cần nữa, đó là thức ăn
dư, giờ đây tôi cho trưởng lão mỗ giáp". Ðó gọi là bất
ly ngữ. Trên
đây là 5 cách làm phép tàn thực đúng pháp. Nếu
ai thành tựu 5 điều phi pháp thì suốt đời không được
làm phép tàn thực để ăn. Năm phép đó là: 1. Không am tường
chỗ; 2. Không am tường ăn; 3. Không am tường vị trí; 4. Không
am tường khi đưa tay ra; 5. Không am tường khi ngừng ăn. Không
am tường chỗ:
Không biết khi đi ăn thì phải ăn cho no khi đi, khi đứng ăn
thì phải ăn cho no khi đứng, khi ngồi ăn thì phải ăn cho
no khi ngồi, khi nằm ăn thì phải ăn cho no khi nằm. Ðó gọi
là không am tường chỗ. Không
am tường ăn:
Không biết rằng 5 thức ăn chính và 5 thức ăn tạp là những
thức ăn no, ngoài ra các thức ăn khác không thể ăn no. Ðó
gọi là không am tường ăn. Không
am tường vị trí:
Không biết rằng thức ăn để trên tay thì ăn no, để dưới
đất thì không ăn no. Ðó gọi là không am tường vị trí. Không
am tường khi đưa tay ra:
Không biết rằng mở tay hướng vào trong là ăn no, giang tay
ra ngoài là không ăn no. Ðó gọi là không am tường khi đưa
tay ra. Không
am tường khi ngừng ăn:
Không biết rằng dừng lại là no, chưa dừng lại là chưa
no. Ðó gọi là không am tường khi ngừng ăn. Nếu
ai thành tựu 5 điều phi pháp này thì suốt đời không cho
phép làm phép tàn thực để ăn. Nếu ai thành tựu 5 điều
như pháp thì cho phép suốt đời được làm phép tàn thực
để ăn. Thế
nào là 5 điều như pháp? Ðó là: 1. Am tường chỗ; 2. Am tường
ăn; 3. Am tường vị trí; 4. Am tường mở tay ra; 5. Am tường
dừng lại. Am
tường chỗ:
Biết rằng lúc đi ăn thì phải ăn cho no trong khi đi; biết
rằng lúc đứng ăn thì phải ăn cho no trong khi đứng, biết
rằng lúc ngồi ăn thì phải ăn cho no trong khi ngồi, biết
rằng lúc nằm ăn thì phải ăn cho no trong khi nằm. [356a]Ðó
gọi là am tường chỗ. Am
tường ăn:
Biết rằng 5 thức ăn chính và 5 thức ăn tạp là loại thức
ăn no, ngoài ra các thức ăn khác không thể ăn no. Ðó gọi
là am tường ăn. Am
tường vị trí:
Biết rằng thức ăn để trên tay thì ăn no, thức ăn để
dưới đất thì không ăn no. Ðó gọi là am tường vị trí. Am
tường mở tay ra:
Biết rằng mở tay vào trong là ăn no, mở tay ra ngoài là không
ăn no. Ðó gọi là am tường mở tay ra. Am
tường dừng lại:
Biết rằng dừng lại là no, chưa dừng lại là chưa no. Ðó
gọi là am tường dừng lại. Ai
thành tựu 5 pháp này thì cho phép suốt đời làm phép tàn
thực để ăn. Nếu
Tỷ kheo đem thức ăn đến định làm phép tàn thực thì nên
làm phép tàn thực trong chén để trên bát. Chính thức ăn
trong chén này mới là thức ăn được làm phép tàn thực,
chứ không phải thức ăn trong bát. Nhưng nếu nước của thức
ăn trong chén chảy vào bát thì cũng được gọi là đã làm
phép tàn thực. Nếu
Tỷ kheo A đem 2 bát đến nhờ Tỷ kheo B làm phép tàn thực,
mà Tỷ kheo B chỉ ăn thức ăn trong một bát thì thức ăn trong
bát này được làm phép tàn thực. Nếu trên 2 bát có các
thứ bánh, rau để phủ lên trên cả 2, thì cả 2 bát đều
được xem là đã làm phép tàn thực. Ngoài ra, các vật đựng
thức ăn khác cũng như thế. Nếu
Tỷ kheo ăn no rồi đến nhà đàn việt, chủ nhà nói: "Thưa
thầy, thầy ăn bánh không?". Tỷ
kheo đáp: "Tôi đã ăn no rồi". Người Ưu bà tắc này vốn
hiểu luật, liền nói: "Nhà mỗ giáp kia có Tỷ kheo chưa ăn,
nếu thầy cần, con sẽ đến đó làm phép tàn thực cho". Tỷ
kheo nếu thấy cần, nên đáp: "Có thể được". Ðàn
việt liền đem bát rửa sạch, đổ đầy các thức ăn ngon
vào đấy, đưa lại Tỷ kheo, Tỷ kheo cầm lấy, dùng miếng
lụa phủ lên trên chớ để bụi bặm rơi vào, rồi trao lại
tận tay tịnh nhân, nói: "Ngươi mang đi làm phép tàn thực
xong rồi mang về". Tịnh
nhân liền mang thức ăn đến chỗ vị Tỷ kheo kia, nói như
sau: "Thưa tôn giả, ở nhà con có một Tỷ kheo ăn chưa no,
xin tôn giả làm phép tàn thực giúp cho con". Vị
Tỷ kheo ấy nên rửa tay sạch, nhận thức ăn này, nói với
tịnh nhân: "Ông lại đứng gần ta, đưa tay ra". Rồi
Tỷ kheo ăn một miếng trong bát ấy, đoạn nói như sau: "Tất
cả thức ăn trong bát ở trên tay tôi, tôi đều không cần,
tôi làm phép tàn thực cho ông". Thế
rồi, tịnh nhân nhận lấy bát đem về trao lại cho Tỷ kheo
thì Tỷ kheo được phép ăn. Nếu Tỷ kheo này ăn no mà còn
thừa thức ăn thì Tỷ kheo nào cần đều có thể ăn được. Hỏi:
"Nếu tại những xứ có ít Tỷ kheo, và khi Tỷ kheo ăn xong,
có đàn việt mang các thức ăn đến, gặp lúc Tỷ kheo đã
đứng dậy giải tán, thì phải làm sao?". Ðáp:
"Nếu tại nơi đó có các vị tri sự như trị nguyệt, Duy
na chưa ăn thì nên đến nhờ họ làm phép tàn thực. Nếu
họ đã ăn no rồi mà Thượng tọa chưa ăn, thì nên đến
nhờ Thượng tọa làm phép tàn thực. Nếu Thượng tọa thẹn
không chịu làm giữa nhiều người [356b] thì nên bưng cả
cái ghế Thượng tọa ngồi đến một chỗ vắng để Thượng
tọa làm phép tàn thực. Nếu
Thượng tọa cũng ăn no rồi mà có khách Tỷ kheo tới thì
nên hỏi: "Hôm nay tự tứ trưởng lão đã ăn no chưa?". Nếu
Tỷ kheo khách nói: "Tôi không an cư mùa hạ thì làm sao tự
tứ được", thì biết người này không hiểu giới luật,
liền hỏi tiếp: "Vậy thầy đã ăn chưa?". Nếu
nói: "Ðã ăn rồi". Lại
hỏi nữa: "Ðàn việt đem cúng dường phải không?" Nếu
ông ta nói: "Trưởng lão ai mà đem đến cúng dường? Ăn rau
uống nước mà còn không đủ huống gì những thức ăn khác?",
thì phải biết vị này chưa ăn no nên nhờ thầy làm phép
tàn thực. Nếu
thầy ấy nói: "Nhà đàn việt của tôi đã cúng thức ăn rồi",
thì biết rằng thầy đã no, Tăng nên tạo phương tiện (linh
động), không nên phá thiện tâm của đàn việt. Nếu bấy
giờ trong chúng có Sa Di đã lớn thì đưa ông vào giới trường
cho ông thọ giới cụ túc, dạy ông cách thức làm phép tàn
thực, xong rồi mình mới được ăn. Nếu
Tỷ kheo ăn 5 loại tạp thực mà làm phép tàn thực ở 5 loại
thức ăn chính thì không đúng cách. Nhưng nếu ăn chưa no mà
ăn lại thì không có tội. Nhưng nếu ăn đã no, rời khỏi
chỗ ngồi mà ăn lại, thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
Tỷ kheo ăn 5 loại thức ăn chính mà làm phép tàn thực ở
5 loại thức ăn tạp thì không đúng cách. Nhưng nếu chưa
no mà ăn nữa thì không có tội. Trái lại, nếu ăn đã no,
rời khỏi chỗ ngồi mà ăn lại, thì phạm Ba dạ đề. Nếu
Tỷ kheo rời 5 thức ăn chính, rời 5 thức ăn tạp, làm phép
tàn thực là không đúng cách. Nhưng nếu ăn chưa no mà ăn
thêm thì không có tội. Trái lại, nếu ăn đã no, rời khỏi
chỗ ngồi mà ăn lại thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
Tỷ kheo ăn 5 thức ăn chính, 5 thức ăn tạp mà làm phép tàn
thực ngay nơi đó, thì đó là làm phép tàn thực đúng pháp.
Nếu ăn chưa no mà ăn thêm thì không có tội. Trái lại, nếu
ăn đã no, rời khỏi chỗ ngồi mà ăn lại thì phạm tội. Trong
các trường hợp trên đây trường hợp nào phạm, trường
hợp nào không phạm?. Nếu
các loại cháo vừa múc ra khỏi nồi viết chữ lên mà không
thành chữ (tức cháo lỏng), tất cả trái, tất cả rau, không
phải thức ăn cấm ăn biệt chúng, không phải thức ăn cấm
ăn nhiều lần, không phải thức ăn có thể ăn no mà cất
chứa nhiều trong nhà thì không phạm. Thế nên nói (như trên). 34. GIỚI:
KHUYÊN NGƯỜI ĂN RỒI ĂN NỮA. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
tôn giả A-Nan có 2 đệ tử tùy tùng, một người tên là Mãn
Trà, một người tên là A-Tì-Kì cùng với 2 người đệ tử
tùy tùng của Mục-Liên, một người tên là A-Xà-Ðô, một
người tên là Xá-Xá-Ðô, họ thường tranh nhau xem ai đa văn
hơn, ai biện tài hơn. Khi ấy, một người đệ tử tùy tùng
của A-Nan có biện tài và lợi căn hơn khiến người đệ
tử Mục-Liên tranh luận không lại. Do đó, ông thường theo
sát người kia trong những lúc đi, đứng, nằm, ngồi để
tìm chỗ sơ hở. Thế rồi, hai người cùng được một nhà
kia mời thọ trai. [356c] Khi đó, người đệ tử Mục-Liên
được bánh, bèn ăn một nửa, cầm một nửa ra ngoài nói
với đệ tử của A-Nan như sau: -
Trưởng lão, thầy có muốn ăn bánh không? -
Ông được bánh ở đâu vậy? -
Tôi được bánh ở chỗ vừa thọ trai kia nên cầm đến đây. Thầy
ấy liền cầm lấy bánh ăn. Khi ăn xong thầy kia liền nói
như sau: -
Trưởng lão, ông phạm tội rồi. -
Phạm tội gì? -
Ðức Thế Tôn chế giới không cho phép Tỷ kheo ăn no, rời
khỏi chỗ ngồi, không làm phép tàn thực mà ăn lại. -
Vì sao ông biết tôi không làm phép tàn thực mà cố ý khuyên
tôi ăn? -
Trước đây trong khi tranh luận, vì sao ông dùng biện tài chiết
phục làm nhục tôi? Do
thế, hai người tranh cãi nhau, rồi cùng đi đến chỗ Thế
Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, đứng qua một
bên, đem nhân duyên trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật
liền nói với hai Tỷ kheo: "Ý các ông nghĩ sao? Ta vì Thanh
Văn nói chín bộ Kinh: Tu-Ða-La, Kì-Dạ, Thọ Kí, Già-Ðà, Ưu-Ðà-Na,
Như-Thị-Ngữ, Bản-Sanh, Phương-Quảng và Vị-Tằng-Hữu cho
các Thanh Văn nghe, để rồi họ xúi đệ tử nghị luận tranh
chấp thắng bại phải không?". -
Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn. -
Nếu không phải vậy, thì Ta thuyết chín bộ Kinh này cho các
Thanh Văn để họ nghe xong rồi theo đó tu hành phải không? -
Dạ đúng như vậy, bạch Thế Tôn. Thế
rồi hai Tỷ kheo hướng vào nhau sám hối trước sự chứng
kiến của Thế Tôn. Phật liền dạy: "Không được ỷ mình
thông Kinh điển mà khinh người khác. Ta cũng không cho phép
kẻ nào biết người khác đã ăn no, không làm phép tàn thực
mà xúi giục ăn nữa". Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
"Nếu Tỷ kheo biết người kia đã ăn no, rời khỏi chỗ, không
làm phép tàn thực, mà vì muốn não loạn, khuyên họ ăn nữa,
thì phạm Ba dạ đề". Giải
thích: (Một
số từ ngữ đã được giải thích ở trên). Não
loạn: Xúc
não nhiễu loạn người đang ở trước mình muốn cho họ không
vui. Không
làm phép tàn thực:
Nếu thành tựu năm điều phi pháp thì không được gọi là
làm phép tàn thực. Nếu thành tựu năm điều như pháp thì
mới được gọi là làm phép tàn thực. Nếu người ta gắng
gượng khuyên mình ăn mà mình ăn, thì phạm Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã giải thích. Nếu
Tỷ kheo thành tựu năm điều phi pháp thì suốt đời không
được làm phép tàn thực để ăn. Nếu thành tựu năm điều
như pháp thì cho phép suốt đời làm phép tàn thực để ăn.
Còn các việc khác đã nói rộng như trên. Nếu
như người kia đã ăn no mà tưởng họ chưa no khuyên họ ăn,
thì phạm tội [357a] Việt tì ni. Nếu
họ ăn chưa no mà tưởng đã no, khuyên họ ăn, thì phạm tội
Việt tì ni. Nếu
họ ăn đã no, tưởng họ ăn đã no mà còn khuyên họ ăn nữa,
thì phạm Ba dạ đề. Nếu
họ ăn chưa no, ta tưởng họ ăn chưa no nên khuyên họ ăn,
thì không có tội. Ở
đây, (nếu ăn) các thứ: Cháo mới múc từ trong nồi ra viết
không thành chữ, trái cây, rau... thì không phạm. Thế nên
nói (như trên). 35. GIỚI:
ĂN THỨC ĂN KHÔNG ÐƯỢC MỜI. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên, bấy giờ
tôn giả A-Na-Luật dùng tất cả các thứ đều bằng phấn
tảo: Bát phấn tảo; y phấn tảo; thức ăn phấn tảo và giày
dép phấn tảo. Bát
phấn tảo: Những cái bát của Tỷ kheo bị vỡ được vá
năm lần rồi đem vứt, A-Na-Luật nhặt về vá lại rồi dùng.
Ðó gọi là bát phấn tảo. Y
phấn tảo: Những cái áo cũ rách người ta vứt trong thôn
xóm, A-Na-Luật lượm về giặt sạch rồi dùng. Ðó gọi là
y phấn tảo. Thức
ăn phấn tảo: Những thức ăn người ta đem cúng các tự miếu
của quỷ thần, trưởng lão đem về ăn. Ðó gọi là thức
ăn phấn tảo. Giày
dép phấn tảo: Những giày dép của các Tỷ kheo dùng hư rách
đem vứt bỏ, Trưởng lão nhặt về, sửa chữa lại rồi mang.
Ðó gọi là giày dép phấn tảo. Khi
đến giờ khất thực, trưởng lão khoác y, cầm bát vào thành
khất thực, nhưng lúc vừa vào liền thấy một phụ nữ mang
một giỏ cơm, cầm phân bò khô và các phẩm vật tế lễ
đi ra. Tôn giả thấy thế, liền suy nghĩ: "Nếu ta được những
thức ăn trong đó ta sẽ rất vui, nhưng bây giờ ta phải đi
khất thực trước đã". Thế rồi, thầy đi từ xóm này sang
xóm khác, khắp mọi chỗ mà chẳng có gì cả, bèn đến bên
một hồ nước, thì thấy phụ nữ trước kia đang quét tước
trước miếu, trải cỏ sạch, rồi đặt những phẩm vật
xuống đó cúng tế. Khi cúng xong, bà bèn vốc cơm rải ra bốn
phía, nói như sau: "Những con quạ ngoan hãy đến ăn. Những
con quạ ngoan hãy đến ăn". Lúc
ấy đang đứng dưới một gốc cây, do thần lực của tôn
giả nên những con quạ không dám bay đến ăn. Người phụ
nữ trông thấy tôn giả liền nói: "Ông giống như con quạ
mù, luôn lẻo đẻo theo người ta". Bà
ta mắng rồi liền đi về nhà, lúc ấy tôn giả bèn nhặt
các thực phẩm tế lễ, rồi cũng trở về tinh xá. Các Tỷ
kheo trông thấy thầy, liền bàn với nhau: "Tôn giả này xin
thức ăn cực khổ, rất khó được". Thế rồi họ hỏi thầy: -
Tôn giả có xin được thức ăn không? -
Có. Nhưng thức ăn ấy vướng nhiều tội lỗi chẳng thú vị
chút nào! -
Có những tội lỗi gì vậy? -
Như vậy, như vậy đó. Các
Tỷ kheo nghe thế liền đến hỏi Thế Tôn: -
Bạch Thế Tôn! Người đàn bà mắng chửi kia phạm bao nhiêu
tội? -
Phạm nhiều tội. -
Nhiều là bao nhiêu? -
Người phụ nữ ấy trong năm trăm đời sẽ mang thân con quạ
mù, và trong tất cả các kiếp tái sinh ấy đều chết vì
đói. Thế
rồi, Phật bảo gọi A-Na-Luật đến. Khi thầy đến rồi,
[357b] Phật liền hỏi: -
Ông có việc đó thật chăng? -
Có thật như vậy bạch Thế Tôn. -
Tuy ông muốn ít việc (nhưng vẫn gặp rắc rối). Từ hôm
nay ta không cho phép các Tỷ kheo tự tay cầm lấy những vật
mà người khác không đưa cho. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, ngài chế giới cho
các Tỷ kheo không được tự tay cầm lấy vật mà người
ta không cho. Do thế, các Tỷ kheo đều nhận nước và tăm
xỉa răng từ tay người khác đưa. Những ai có tịnh nhân
(giúp đỡ) có được tăm và nước còn những người không
có tịnh nhân thì không có. Lúc ấy, Thế Tôn thuyết pháp
cho đại chúng, có Tỷ kheo tự nghe miệng mình hôi hám, sợ
mùi uế khí ảnh hưởng đến các vị đồng phạm hạnh, nên
ngồi sau tất cả mọi người. Phật biết mà vẫn hỏi: "Tỷ
kheo ấy tại sao ngồi tại chỗ đó giống như người đang
giận dữ vậy?". Các
Tỷ kheo liền bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Vì Thế Tôn
chế giới vật người ta không trao thì không được lấy,
cho nên các Tỷ kheo đều nhận nước và tăm xỉa răng từ
người khác. Những ai có tịnh nhân thì có được, còn những
người không có tịnh nhân thì rất vất vả, không thể có
được; do đó miệng bay mùi hôi, sợ ảnh hưởng đến các
bạn đồng phạm hạnh, cho nên phải ngồi sau cùng". Phật
nói: "Từ nay ta cho phép các Tỷ kheo được lấy nước và
tăm xỉa răng để dùng, dù không ai cho". Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho ác Tỷ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỷ kheo lấy vật người ta không cho bỏ vào miệng, trừ nước
và tăm xỉa răng, thì phạm Ba dạ đề". Giải
thích: Không
cho: Người
khác
không cho, không nhận từ người ở trước mình. Thức
ăn bỏ vào trong miệng:
Ngoại trừ nước và tăm xỉa răng. Nước:
Gồm có mười loại như trước đã nói. Nếu (người ta đưa)
nước đục mình vẫn phải nhận. Nếu tính chất của nước
là màu vàng thì uống không có tội (?) Tăm
xỉa răng gồm có hai loại:
Loại dẹp và loại tròn. Nếu trong miệng Tỷ kheo bị khí
nóng làm cho lở lóet, rồi thầy thuốc bảo: "Nên nhăm cây
xỉa răng", thì có thể dùng; Và khi yết hầu tiết nước
ra thì nên nuốt vào, vì Thế Tôn dạy dùng nước và tăm xỉa
răng không có tội. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Ngoài
ra còn có các trường hợp: 1. Trên thức ăn; 2. Trên cây; 3.
Trong giếng; 4. Trên nhà; 5. Nhà bếp; 6. Nhận trong cái đồ
đựng mà không phải đồ đựng; 7. Nhận ở trên giường;
8. Thuyền; 9. Xe; 10. Tâm niệm nhận; 11. Ðường đi. 1. Trên thức ăn: |