| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẦN THỨ BA CỦA PHÁP ÐƠN ÐỀ 8.
GIỚI: NÓI TỘI NẶNG CỦA TỲKHEO KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có một cư sĩ mời các Tỷ Kheo quen biết đến nhà. Trong số
đó có một Trưỡng Lão Tỷ Kheo đang thi hành pháp Ma-Na-Ðỏa
nên ngồi ở hàng dưới. Ưu bà di đàn việt thấy thế, liền
hỏi: "Tôn giả trước kia ngồi ở trên, nay vì sao lại ngồi
ở chỗ
này?". Thầy
đáp: "Gặp đâu thì ngồi đó mà, cần chi phải hỏi?". Ưu
bà di nói: "Con biết chỗ ngồi của tôn giả đúng ra tại
chỗ này, con cũng biết chỗ ngồi của các tôn giả khác". Khi
ấy Nan Ðà nói với Ưu bà di: "Vì sao bà lại bảo thầy của
bà lên ngồi ở chỗ trên? (337 c)Vì thầy của bà vẫn chưa
bỏ tính bông đùa của thời niên thiếu đó mà". Ưu
bà di nghe thế, lòng không vui, liền suy nghĩ: "Vì thầy ta đang
phạm các tội nhỏ nên phải ngồi ở chỗ dưới này", liền
ném giỏ cơm xuống đất rồi bỏ đi nói: "Tôn giả hãy tự
lấy thức ăn ở trong đó mà ăn". Nói thế rồi, bà liền
vào trong phòng đóng lại một cánh cửa, rồi đọc kệ: "Xuất
gia đã lâu ngày
Các
Tỷ Kheo liền đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
bảo gọi Nan Ðà đến. Khi
thầy đến rồi, Phật hỏi: "Ông có thật như vậy không?". Thầy
đáp: "Có thật như vậy, bạch Thế Tôn". Phật
liền quở trách Nan Ðà: "Ðó là việc xấu. Người tu phạm
hạnh có lúc phóng dật, sau đó sẽ sống như pháp, vì sao
nói với người chưa thọ giới cụ túc về tội lỗi của
người ấy? Từ
nay trở đi ta không cho phép (các tỷ kheo) nói với người
chưa thọ giới cụ túc về thô tội của người khác". Lại
nữa khi Phật an trú tại Thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ có Tỷ Kheo khất thực, đến giờ thầy bèn khoác
y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực, đến một nhà
kia, lúc ấy nghe người đàn ông nói với người nữ: "Ngươi
bố thí thức ăn cho người xuất gia". Người
phụ nữ hỏi: "Xuất gia theo đạo nào?". Ðáp:
"Xuất gia theo dòng họ thích". -
Tôi không cho thức ăn . -
Vì sao không cho? -
Ðó là người phá phạm hạnh, nên tôi không cho. Tỷ
kheo liền nói với người phụ nữ ấy: "Này bà chị, tôi
là người phạm hạnh" Người
phụ nữ nói: "Tôn giả Ca Lô là hàng đại danh đức mà còn
không thể tu phạm hạnh, nay vì sao ông lại tự nói mình là
ngưòi phạm hạnh?". Tỷ
kheo nghe lời nói ác ấy, cảm thấy sầu não trong lòng, nên
không khất thực mà trở về lại tịnh xá, tuyệt thực một
ngày.Vì tuyệt thực nên thân thể rũ rượi, thầy bèn đi
đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi đứng
hầu một bên. Phật biết mà vẫn hỏi: "Nay ông vì sao mà
thân thể rũ rượi như vậy?". Thầy
liền đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật
nói: "Này tỷ kheo, vì sao ông không nói với họ rằng: giả
sử Tỷ kheo Ca Lô chẳng phải là người phạm hạnh, thì có
phương hại gì đến việc tu phạm hạnh của tôi?". Thầy
đáp: "Bạch Thế Tôn, con có thể nói với bà ấy, nhưng vì
Thế Tôn chế giới không cho phép nói với người chưa thọ
giới cụ túc về thô tội của người khác, cho nên con không
nói". Phật
nói: "Lành thay! lành thay! Này thiện nam tử! Ông không vì mạng
sống mà vi phạm lời dạy dỗ của Phật". Thế
rồi, Phật nói với các Tỷ Kheo: "Những người tại gia, xuất
gia đều biết Tỷ kheo Ca Lô ấy [338a] phi phạm hạnh, vậy
tăng nên trao cho ông ta phép yết ma phi phạm hạnh. Người
làm yết ma nên nói như sau: "Xin
đại đức tăng lắng nghe! Những người tại gia, xuất gia
đều biết Tỷ kheo Ca Lô ấy phi phạm hạnh, nếu thời gian
thích hợp đối với Tăng, Tăng cho phép nói về phi phạm của
Tỷ kheo Ca Lô". Bạch như vậy, rồi bạch ba lần yết ma. Sau
đó Phật hỏi các Tỷ kheo: "Ðã làm pháp yết ma cho phép nói
về việc phi phạm hạnh của Tỷ kheo Ca - Lô chưa?". Các
Tỷ kheo đáp: "Ðã làm rồi". Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo sống tại Thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỷ Kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
"Nếu Tỷ Kheo biết Tỷ Kheo khác phạm thô tội mà đem nói
với người chưa thọ giới cụ túc - trừ Tăng yết ma cho
phép - thì phạm Ba dạ đề". Giải
thích Thô
tội: Như
bốn tội (Ba la di), mười ba tội (Tăng Tàn) . Chưa
thọ giới cụ túc:
Trừ Tỷ kheo, Tỷ kheo ni. Nhưng Tỷ kheo ni dù đã thọ giới
cụ túc cũng không được nói với họ . Nói:
Nói cho người ở trước mặt mình biết; ngoại trừ trường
hợp Tăng yết ma cho phép Yết
ma: Nếu tác
bạch không hợp lệ, chúng Tăng không hợp lệ, thể thức
yết ma không hợp lệ, thì cũng không được gọi là yết
ma . Trái lại, tác bạch hợp lệ, chúng Tăng hợp lệ, thể
thức yết ma hợp lệ,thì được gọi là yết ma . Ðức Thế
Tôn bảo yết ma đó không có tội. Nếu
Tỷ kheo biết người khác phạm thô tội, mà Tăng chưa làm
yết ma cho phép, thì không được nói thô tội của người
ấy. Nếu có ai hỏi: "Tỷ kheo mỗ giáp phạm giới dâm, giới
uống rượu phải không?". Thì nên đáp: "Thầy ấy sẽ tự
biết". Nếu
Tăng đã làm yết ma rồi, cũng không được đem rêu rao với
xóm làng. Nếu có ai hỏi: "Tỷ kheo ấy phạm giới dâm,giới
uống rượu phải không?", thì Tỷ kheo (được hỏi) nên hỏi
lại người ấy: "Ngươi nghe ở đâu?". Nếu
họ đáp: "Tôi nghe tại nơi đó", thì Tỷ kheo nên trả lời:
"Tôi cũng nghe tại nơi đó". Nếu
Tỷ kheo nói với người chưa thọ giới cụ túc về việc
Tỷ kheo khác phạm bốn Ba la di, mười ba Tăng Tàn, thì phạm
Ba dạ đề. Nếu nói về ba mươi pháp Ni Tát Kì, chín mươi
hai pháp Ba dạ đề, thì phạm tội Việt tì ni. Nếu nói về
bốn Ba la đề đề xá ni, chúng học, oai nghi, thì phạm tội
Việt tì ni tâm niệm sám hối. Nếu nói về tám Ba la di, mười
chín Tăng Tàn của Tỷ kheo ni, thì phạm tội thâu lan (giá).
Nếu nói về ba mươi pháp Ni Tát kì, một trăm bốn mươi mốt
Ba dạ đề, Tám ba la đề đề xá ni, chúng học, oai nghi (của
Tỷ kheo ni) thì phạm tội việt tỳ ni tâm niệm sám hối . Nếu
nói về mười giới của Sa Di, sa di ni, thì phạm Việt tỳ
ni. Sau cùng cho đến nói về năm giới của người thế tục,
thì phạm tội Việt tỳ ni tâm niệm sám hối. Thế nên nói
(như trên). [338b].Khi
Phật an trú tại Thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
tôn giả Ðà Phiêu Ma La Tử được Tăng làm yết ma cử thầy
trông coi chín việc, như trong mười ba việc (giới Tăng Tàn)
đã nói rõ. Lúc ấy có y phấn tảo xá na, không thể phân
chia được nên thầy bạch với Tăng rằng: "Y phấn tảo xá
na này không thể chia được, nên cho Trưỡng lão Ma Ha Ca Diếp
được không?". Các
Tỷ kheo đều đồng tình bảo: "Ðược". Thế nhưng, Ðà Phiêu
sợ về sau có lời tranh cãi, bèn xướng giữa tăng rằng:
"Y phấn tảo xá na này cho Trưởng lão Ma Ha Ca Diếp", như vậy
ba lần . Xướng
vừa xong, nhóm sáu Tỷ kheo từ chỗ ngồi đứng dậy nói:
"Ai nói cho? Nhóm sáu Tỷ kheo đã chịu cho chưa? Ông xướng
như vậy là không có tâm bình đẳng. Ông vì thân tình riêng
mà đem vật của chúng Tăng ra cho họ". Các
Tỷ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi nhóm sáu Tỷ kheo đến. Khi họ đến rồi,
Phật liền hỏi: "Các ông có thật như vậy chăng?". Họ
đáp:"Có thật như vậy bạch Thế Tôn". Phật
liền khiển trách: "Ðó là việc ác. Bậc phạm hạnh như vậy,
nếu cần đến da thịt máu tủy của các ông, cũng nên đem
cho, huống gì chiếc y phấn tảo ấy không thể chia được,
nay đã tuyên bố cho giữa Tăng mà ngăn cản. Khi các ông im
lặng bằng lòng cho thì giống như tướng mạo của bậc quí
nhân. Giờ lại ngăn cản, thì giống như bộ dạng của kẻ
bần tiện. Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy,
không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp". Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo đang sống tại Thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỷ kheo, khi Tăng đem chia phẩm vật, đã hòa hợp bằng lòng
cho người khác nhưng sau đó ngăn cản, thì phạm Ba - Dạ -
Ðề". Giải
thích Trước
đã bằng lòng:
Trước đó trong Tăng chia phẩm vật, mình cùng hòa hợp bằng
lòng cho. Sau
đó ngăn cản:
Nói như sau: "Trưởng lão tùy theo chỗ thân tình mà đem vật
của Tăng cho riêng", thì phạm Ba dạ đề. Nếu
khi Tăng đem chia các vật cần phải chia, như: Y - Tăng - Già
- Lê, Uất - Ða - La - Tăng, An - Ðà - Hội, hoặc tọa cụ,
áo che ghẻ, áo tắêm mưa, dây thắt lưng, tô, chén nhỏ, thau
đồng, quạt, dù che, bình đựng dầu, túi da, dao con, giày
da, bình đựng nước .v.v. Tất cả các vật đáng chia như
vậy khi chia cho mình thì nên lấy . Nếu không muốn lấy, nên
bảo họ đi qua . Nếu họ hỏi: "Vì sao thầy không lấy?",
thì nên đáp: "Cái này tôi không cần, tôi muốn lấy vật
khác ", rồi sau đó, khi cần mình lấy, thì không có tội.
Nếu người chia vật tuyên bố: "Các vị tùy ý mà lấy", thì
Tỷ kheo lúc ấy tùy theo những gì mình cần tự ý lấy, [338c]
không có tội. Ngăn
cản: Có ba
trường hợp: hoặc cho rồi mà ngăn cản: hoặc lúc đang cho
ngăn cản ; hoặc khi chưa cho ngăn cản. Khi
cho rồi mà ngăn cản thì phạm Ba dạ đề. Lúc đang cho mà
ngăn cản, thì phạm tội Việt tì ni. Lúc chưa cho mà ngăn
cản thì phạm tội việt tì ni tâm niệm sám hối. Thế nên
nói (như trên). Khi
Phật an trú tại Thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
Tăng chúng cứ nửa tháng tụng Ba-La-Ðề-Mộc-Xoa (giới), khi
tụng đến bốn việc (Ba la di) thì nhóm sáu Tỷ kheo im lặng,
đến mười ba việc (Tăng Tàn), thì họ nổi giận ; khi tụng
đến ba mươi việc (Ni-Tát -Kì), thì họ làm ồn; khi tụng
đến chín mươi hai việc (Ba-dạ-đề), thì họ bèn đứng
đậy, nói như sau: "Này các Trưởng lão, ai giữ được những
giới ấy mà tụng làm chi? Họa có chư Thiên mới giữ được
những giới ấy chăng? Chỉ làm cho các Tỷ kheo sinh nghi ngờ
hối hận mà thôi". Lúc ấy người tụng Ba-La-Ðề-Mộc-Xoa
đâm ra hổ thẹn . Các
Tỷ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch với Thế Tôn . Phật
liền bảo gọi nhóm sáu Tỷ kheo đến . Khi họ đến rồi,
Phật liền hỏi: "Các ngươi có thật như vậy không". Họ
đáp:"Có thật như vậy bạch Thế Tôn". Phật
liền khiển trách: "Ðó là việc xấu. Như Lai vì muốn được
lợi ích cho các đệ tử nên quy định cứ nửa tháng tụng
Ba-La-Ðề-Mộc-Xoa. Vì sao các ông coi thường, trách cứ, ngăn
cản việc tụng giới? Ðó là hành vi phi pháp, phi luật, trái
lời Phật dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện
pháp được". Thế rồi Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo
sống tại Thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười
lợi ích mà chế giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng
phải nghe lại: --
"Nếu vào dịp nửa tháng tụng Ba-La-Ðề-Mộc-Xoa mà Tỷ kheo
nào tỏ ra khinh thường chê trách giới nói như sau: "Trưởng
lão, cứ nửa tháng tụng các giới tạp nhạp nhỏ nhặt làm
gì, khiến cho các tỷ kheo sinh nghi ngờ hối hận", thì phạm
Ba-dạ-đề". Giải
thích Nửa
tháng: Hoặc
mười bốn ngày, hoặc mười lăm ngày . Ba-La-Ðề-Mộc-Xoa
: Mười giới
tánh vậy . Tụng:
Tăng hòa hợp cứ nửa tháng, nửa tháng tụng . Giới
nhỏ nhặt tạp nhạp:
Chỉ cho các Thiên giới khác, ngoại trừ bốn việc (Ba-la-di),
mười ba việc (Tăng Tàn) . Khiến
các Tỷ kheo sinh nghi ngờ hối hận:
(Ai nói như thế) thì phạm Ba-dạ-đề. Khinh
thường, chê trách:
có ba trường hợp: hoặc chê trách lúc chưa tụng ; hoặc chê
trách lúc đang tụng ; hoặc chê trách lúc tụng xong. Chê
trách lúc chưa tụng:
Trước khi tụng nói như sau: "Trưởng lão chớ có tụng các
giới nhỏ nhặt ấy làm gì. Tôi muốn tụng xong cho thật nhanh".
Ðó là chê trách khi chưa tụng . Chê
trách lúc đang tụng:
Lúc thuyết giới nói như sau: "Trưởng lão thuyết các giới
nhỏ nhặt ấy làm gì, khiến cho các Tỷ kheo nghi ngờ, hối
hận". Ðó gọi là lúc đang tụng mà chê trách . Chê
trách lúc tụng xong:
Lúc tụng xong liền nói như sau: "Vừa rồi thầy tụng chi các
giới nhỏ nhặt ấy. Thầy tụng đầy đủ các giới làm chi
khiến tôi ngồi lâu mỏi mệt muốn chết!".[339a] Ðó gọi
là chê trách khi tụng xong . Chê
trách lúc chưa tụng thì phạm tội Việt tì ni. Chê trách lúc
đang tụng thì phạm tội Ba-dạ-đề. Chê trách lúc tụng xong
thì phạm tội Việt-tì-ni tâm niệm sám hối. Thế nên nói: "Vọng
ngữ và chủng loại
Khi
Phật trú tại tịnh xá Khoáng Dã, nói rộng như trên. Bấy
giờ, thầy Tỷ kheo quản sự tự tay chặt cây, bẻ cành lá
hoặc hái hoa quả, nên bị người đời chê trách như sau:
"Các người xem kìa! Sa môn Cù Ðàm dùng vô lượng phương
tiện khiển trách sát sinh, khen ngợi không sát sinh, thế mà
giờ đây tự tay chặt cây, hái hoa, giết hại mạng sống
thực vật, mất hết phép tắc Sa môn, có đạo nào như thế?". Các
Tỷ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỷ kheo quản sự đến. Khi thầy đến rồi
Phật hỏi: "Này Tỷ kheo, ông có làm việc đó thật chăng?". Thầy
đáp: "Có thật như vậy bạch Thế Tôn". Phật
liền khiển trách: "Ðó là việc xấu . Trong đó tuy không có
mạng sống, nhưng không nên làm cho người ta sinh ác cảm.
Các ông cũng có thể tạo ra được một sự nghiệp nhỏ,
hãy bỏ bớt các việc lặt vặt. Từ nay ta không cho Tỷ kheo
tự tay chặt đốn cây cối, phá hoại thôn của quỉ". Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo đang sống tại Khoáng
Dã phải tập họp lại tất cả. Vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỷ kheo phá hoại mầm sống của cây, phá thôn của quỉ,
thì phạm Ba-dạ-đề". Giải thích: Mầm
sống của cây:
Gồm có năm loại: 1/ củ,rễ; 2/ thân cây; 3/ đốt cây; 4/
lõi cây, 5/ chồi cây. Ðó gọi là năm mầm sống của cây
. Thôn
của quỉ:
Cây lớn, cây nhỏ, cỏ . Phá
hoại: Ðốn
chặt hủy hoại, nếu đốn chặt hủy hoại thì phạm Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói . 1/
Củ,rễ cây:
Củ gừng, củ sen, củ khoai nước, củ cải, củ hành . Các
loại củ cây như vậy phải dùng lửa làm cho sạch (nấu chín),
hoặc dùng dao gọt sạch . Ðó gọi là củ cây . 2/
Thân cây:
Như các loại: Ni-Câu-Luật, Bí-sát-la, Ưu-đàm-bát-la, dương
liễu . Các thân cây như vậy nên dùng lửa làm cho sạch, hoặc
dùng dao gọt cho sạch . Ðó gọi là các loại thân cây . 3/
Ðốt cây:
Như trúc, cỏ lau, nứa. Các loại đốt cây như vậy nên dùng
lửa làm cho sạch, hoặc dùng dao gọt cho sạch, hoặc vạc
bỏ các mắt cây. Ðó gọi là đốt cây . 4/
Lõi cây: Như
củ cải, rau đắng, cây chàm . Các thứ do lõi sinh ra nên dùng
lửa làm cho sạch, hoặc dùng tay chà cho sạch. Ðó gọi là
lõi cây. 5/
Chồi cây:
Gồm có mười bảy loại hạt giống, như trong giới thứ hai
đã nói. Các loại chồi cây như vậy nên dùng lửa làm cho
sạch, hoặc lột vỏ cho sạch. Ðó gọi là chồi cây . Các
giống thực vật gồm có: 1) Khỏa hạch chủng ; 2) Phu khỏa
chủng ; 3) [339b] Xác khỏa chủng ; 4) Cối khỏa chủng ; 5)
Giác khỏa chủng ; 6) Anh vũ trác ; 7) Hoàn xuất ; 8) Hỏa thiêu
; 9) Thời chủng ; 10) Phi thời chủng ; 11) Thủy chủng ; 12)
Lục chủng ; 13) Tiên tác cánh sanh chủng ; 1)
Khỏa hạch chủng:
Như-la-lợi-lặc, tỷ-ê-lặc, a-ma-lặc, khước-thù-la, toan
tảo. Các loại trái như vậy nên dùng móng tay cạy hạt bỏ,
rồi ăn. Nếu muốn ăn cả hạt thì nên nấu chín. Ðó gọi
là khỏa hạch chủng. 2)
Phu khoa chủng:
Như Bí-bát-la, phá cầu, Ưu-đàm-bát-la, lợi nại. Các loại
có vỏ bọc như thế nên dùng lửa làm cho sạch. Khi chín,
nó tự rơi từ trên cây xuống đất, nếu bị va vào cây đá,
nó sẽ tróc vỏ như dấu chân muỗi thì được xem là sạch.
Không được ăn luôn cả hột. Nếu muốn ăn cả hột thì
phải nấu chín. Ðó gọi là phu khỏa chủng (loại hạt có
vỏ bọc) . 3)
Xác khỏa chủng:
Như trái dừa, trái hồ đào, trái lựu, các loại trái có
vỏ cứng như thế nên dùng lửa làm cho sạch, hoặc làm vở
ra . Ðó gọi là sác khỏa chủng . 4)
Cối khỏa chủng: Như
rau thơm, rau tía tô, đậu, các loại rau như vậy nếu chưa
ra trái thì dùng tay vò làm cho sạch, nếu đã có trái thì
dùng lửa làm cho sạch . Ðó gọi là cối khỏa chủng . 5)
Giác khỏa chủng:
Như các loại đậu lớn nhỏ, hay đậu ma sa, các loại đậu
như thế, nếu chưa có hạt, thì dùng tay làm cho sạch, nếu
đã có hạt, thì dùng lửa làm cho sạch . Ðó gọi là giác
khỏa chủng . 6)
Anh vũ trác:
Các trái cây bị chim anh vũ mổ vở rơi xuống đất, có vết
như dấu chân muỗi, thì gọi là sạch (tịnh), bỏ hạt được
phép ăn . Nếu muốn ăn cả hạt thì phải dùng lửa làm cho
sạch . Ðó gọi là anh vũ tinh. 7)
Hoàn xuất:
Các loại hạt được bọ ngựa, khỉ ăn vào rồi ỉa ra thành
phân thì được xem là tịnh (loại hạt hợp lệ). Ðó gọi
là hoàn xuất . 8)
Hỏa thiêu:
Nếu trái cây bị lửa thiên nhiên đốt cháy, rơi xuống đất
được xem là tịnh . Ðó gọi là hỏa thiêu tịnh. 9)
Thời chủng:
Vào mùa lúa thường thì cấy lúa thường, mùa lúa mạch thì
cấy lúa mạch. Những loại hạt lúa này nên dùng lửa làm
cho sạch. Hoặc bóc vỏ làm cho sạch. Như tại nước Câu-lân-đề,
khi nông dân thu hoạch lúa đổ thành đống, họ sợ loài phi
nhân lấy trộm nên dùng tro rải lên trên để làm dấu, như
thế gọi là tịnh. Như trường hợp thầy tri sự có lẫm
lúa chưa tác tịnh, sợ Tỷ kheo trẻ tuổi không biết thể
thức, nên sai tịnh nhân dùng lửa tác tịnh, lửa cháy, cháy
lan đốt hết lẫm thóc. Lúc ấy Tỷ kheo được nói: "Thóc
đã đem đi xay hết rồi", thì không phạm tội. Ðó gọi là
thời chủng . 10)
Phi thời chủng:
Như vào mùa nếp mà gặt lúa mạch, vào mùa lúa mạch mà gặt
nếp, thì nên dùng lửa tác tịnh. Ðó gọi là phi thời chủng
. 11)
Thủy chủng:
Như hoa Ưu-bát-la, hoa câu-vật-đầu, hoa hương đình, củ của
các loại hoa ấy nên dùng lửa tác tịnh, hoặc dùng dao gọt.
Ðó gọi là thủy chủng (thực vật sống dưới nước). 12)
Lục chủng (*):
Gồm có mười bảy loại lúa, cần phải bóc vỏ tác tịnh,[339c]
hoặc dùng lửa tác tịnh. Ðó gọi là Lục Chủng (thực vật
sống ở đồng bằng). 13)
Tiên tác hậu sinh (*):
Có loại lúa tẻ hoặc là rễ củ cải, nên dùng lửa tác
tịnh hoặc dùng dao gọt. Ðó gọi là tiên tác . [*sắp theo
thứ tự ở trên]. Tóm
lại, có các trường hợp: hoặc tự mình cắt đứt; hoặc
sai người cắt đức, hoặc tự mình phá; hoặc sai người
phá. Hoặc tự mình đập nát; hoặc sai người đập nát; hoặc
tự mình đốt hoặc sai người đốt, hoặc tự mình lột vỏ,
hoặc sai người lột vỏ. Tự
cắt: Hoặc
tự mình dùng phương tiện cắt năm loại thực vật cả ngày
không ngừng, thì phạm một tội Ba-dạ-đề. Nếu giữa chừng
ngừng rồi cắt tiếp, thì cứ một lần ngừng phạm một
tội Ba-dạ-đề. Sai
người cắt:
Một lần dùng phương tiện sai người cắt một ngày, thì
phạm một tội Ba-dạ-đề. Nếu giữa chừng nói: "Cắt nhanh
lên", thì cứ một lần nói phạm một tội Ba-dạ-đề. Tất
cả bốn trường hợp kia như phá, đập nát, đốt, lột vỏ,
hoặc tự mình làm, hoặc sai người làm cũng phạm tội như
vậy . Nếu
vì Tăng làm tri sự, nhất thiết không được bảo tịnh nhân
như: "Cắt cây này, phá cây này, đập nát cây này, lột vỏ
cây này". Nếu nói như thế thì phạm tội. Do đó chỉ nên
nói: "Hãy biết cây ấy, hãy làm sạch cây ấy", nói như thế
không có tội. Nếu
đem năm loại thực vật ném vào trong hồ nước, hoặc dưới
giếng, hoặc trong cầu tiêu, trong đống rác, thì phạm tội
Việt-tì-ni. Nếu vì thế mà thực vật ấy hư chết, thì phạm
tội Ba-dạ-đề. Nếu
Tỷ kheo nào muốn cho cỏ không sinh trưởng nên đi qua lại
trên đó, thì lúc đi phạm tội Việt-tì-ni. Nếu làm tổn
thương cỏ cây chừng độ vết chân muỗi, thì phạm Ba-dạ-đề.
Nếu đứng, ngồi, nằêm như trên, cũng đều phạm tội như
vậy . Nếu
dùng bút vẽ lên cây làm tổn thương bằng vết chân con muỗi,
thì phạm Ba-dạ-đề. Nếu
trên tảng đá sinh rêu, rồi Tỷ kheo muốn giặt y trên đó,
thì không được nhổ bỏ, mà chỉ cho tịnh nhân biết (hàm
ý nhờ họ dọn sạch), rồi sau đó mới giặt y. Nếu rêu
đó bị ánh nắng làm cho khô, thì được tự tay gỡ bỏ không
có tội. Nếu
sau cơn mưa, cây cối ngã trên đất, thì Tỷ kheo không được
dùng tay đỡ lên ; nếu đỡ lên thì phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu làm tổn thương cây, dù chỉ bằng vết chân muỗi, thì
phạm Ba-dạ-đề. Nếu tịnh nhân đến đỡ trước rồi Tỷ
kheo đỡ giúp họ, thì không có tội. Nếu
các y Tăng-già-lê, Uất-đa-la-Tăng, An-đà-hội, hay tọa cụ,
mền gối, giày dép của Tỷ kheo sinh nấm mốc thì nên chỉ
cho tịnh nhân biết, để họ đem phơi nắêng cho khô, thì
Tỷ kheo được dùng tay phủi đi. Nếu
trên bánh sinh mốc, thì nên chỉ cho tịnh nhân biết (hàm ý
nhờ họ làm sạch mốc), rồi sau đó mới được ăn . Nếu
khi dọn cơm có các thứ như đậu, mè, dưa, mía .v.v. thì thượng
tọa nên hỏi: "Ðã tác tịnh chưa?". Nếu họ đáp: "chưa tác
tịnh ", thì bảo họ tác tịnh. Nếu họ nói: "Ðã tác tịnh
rồi"thì được phép ăn. Nếu
trong một đĩa có nhiều trái cây, mà tác tịnh một trái,
thì tất cả các trái khác cũng được xem như đã tác tịnh.
Nếu trái cây đựng từng đĩa khác nhau, thì phải tác tịnh
từng đĩa một. Nếu
mía đang còn lá thì phải tác tịnh riêng từng cây. Nếu mía
không có lá, được cột thành bó, thì được tác tịnh như
trái cây. Nếu
Tỷ kheo an cư mùa hạ tại A-lan-nhã, nơi ấy có cỏ sinh trưởng
phủ kín đường đi, vì sợ mất đường đi [340a] nên tóm
hai bụi cỏ cột lại với nhau, thì phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu dùng vật khác cột lại làm dấu mà đi, đến khi trở
về mở ra, thì không có tội. Nếu
Tỷ kheo ở trong núi, khi mưa, đường sá bùn đất trơn trợt,
lúc đi trợt chân suýt bị té, bèn nắm cỏ nhưng cỏ đứt,
lại nắm cái khác thì không có tội. Nếu
bị nước cuốn trôi, nên Tỷ kheo chụp lấy cỏ làm cho cỏ
đứt, thì cũng không có tội. Nếu
khi trét phên đất mà khát nước, muốn uống nước, nhưng
vì tay có bùn, thì được dùng lá cây múc nước uống. Nếu
không có tịnh nhân lấy lá cây, thì được leo lên cây dùng
lá cây tươi đựng nước uống; ngưng không được bứt đứt
lá cây. Nếu cây cao sử dụng không được, thì được quằn
cây xuống, lấy lá khô múc nước uống. Nếu Tỷ kheo bứt
đứt lá cây xanh non thì phạm Ba dạ đề. Nếu
làm đứt lá cây có nhiều chân cứng, chắc thì phạm Ba- dạ
Ðề. Nếu bứt đứt lá cây đã úa vàng, thì phạm tội Việt
tì ni. Nếu gió thổi làm rụng ba loại lá cây (tươi, úa và
khô) rồi lấy dùng, thì không có tội. Nếu
Tỷ kheo hái trái cây tươi, thì phạm Ba dạ đề. Nếu hái
trái cây sắp chín thì phạm tội Việt tì ni. Nếu hái trái
chín thì không có tội. Nếu
Tỷ kheo đi đường, ban đêm nằêm ngủ trên cỏ tươi mà
tưởng là cỏ khô, thì phạm tội Việt tì ni. Hoặc cỏ khô
mà tưởng cỏ tươi, cũng phạm Việt tì ni. Cỏ tươi mà tưởng
cỏ tươi thì phạm tội Ba dạ đề. Cỏ khô mà tưởng cỏ
khô thì không có tội. Nếu
trong thành phố hoặc xóm làng có nhà từ đường, nơi ấy
có cây cối cành lá, dù là khô cũng không được bẻ lấy.
Nếu bẻ thì phạm tội Việt tì ni. Về bốn trường hợp
đối với cây cối cũng như trong vấn đề cỏ tươi đã nói
ở trên. Nếu
Tỷ kheo khi đi đại tiểu cần dùng nước phải đi đến hồ
lấy nước, nhưng trên mặt hồ đầy cả lục bình, thì không
được dùng tay quạt cho lục bình trôi đi để lấy nước,
mà phải tìm lối đi của bò, ngựa hoặc rắn, hoặc ếch.
Nếu không có lối đi, thì cầm cục đất ném trên không rồi
nói như sau: "Ði lên đến cõi phạm thiên", chờ khi cục đất
rơi xuống rồi quạt bèo, lấy nước dùng thì không có tội.
Nhưng nếu làm cho bèo cỏ trong nước bị lật úp xuống, thì
phạm tội Việt tì ni. Nếu vớt bèo cỏ ném lên bờ thì phạm
Ba dạ đề. Khi
vào hồ nước tắm, nếu có cỏ tươi vướng vào mình, nên
dùng nước xối cho trôi xuống nước. Nếu nhổ nấm buổi
mai, thì phạm tội Việt tì ni. Khi nhặt phân bò khô mà dính
luôn cả cỏ tươi thì phạm Ba dạ đề. Thế nên nói (như
trên). Khi
Phật an trú tại Câu diệm di, nói rộng như trên. Khi ấy,
Tăng tập họp định làm yết ma, thì Tôn giả Xiển Ðà không
đến. Tăng liền sai sứ đi gọi Xiển Ðà nói: "Tăng tập
họp định làm yết ma, Trưởng lão hãy đến". Xiển Ðà liền
suy nghĩ: "Nay Tăng cho gọi ta, chính là muốn trị tội ta, chứ
không có việc gì khác. Nay ta [340b] phải nhiễu loạn ai đây
để cho tất cả Tăng chúng đều rối loạn không thể làm
yết ma được? Có lẽ nên nhiễu loạn tôn giả Mục Kiền
Liên thì mới thoát được việc này. Nhưng Mục Kiền Liên
có đại thần lực ắt sẽ biết việc ta làm, hoặc ông có
thể nắêm ta ném đến thế giới khác, nên việc này cũng
không thể được". Rồi lại suy nghĩ: "Nếu nhiễu loạn Ðại
Ca Diếp thì có thể thoát được việc này. Nhưng Ðại Ca
Diếp có uy đức lớn, ông có thể chiết phục, làm nhục
ta ở giữa chúng Tăng, nên việc này cũng không thể được".
Rồi lại suy nghĩ: "Tôn giả Xá Lợi Phất tâm nhu nhuyến chất
trực, dễ nói chuyện, nếu nhiễu loạn ông ta thì có thể
khiến cho Tăng đều rối loạn không thể làm yết ma đối
với ta". Nghĩ
thế rồi, Xiển Ðà bèn đi đến giữa Tăng, nói như sau: "Thưa
tôn giả Xá Lợi Phất, tôi muốn hỏi nghĩa kinh". Xá
Lợi Phất nói: "Nay vì việc khác mà tập họp Tăng, lúc này
không phải là lúc hỏi nghĩa kinh". Xiển
Ðà lại nói với tôn giả Xá Lợi Phất: "Ðối với chánh
pháp của Phật không có lúc nào là lúc phi thời. Nếu được
thiện quả ngay trong hiện tại, trừ diệt phiền não, các
hiền thánh vui vẻ, thì đều không có gì phải chọn lựa
thời gian". Tôn
giả Xá Lợi Phất nói: "Tôi xin nghe thầy hỏi". Xiển
Ðà liền hỏi: "Ðức Thế Tôn thuyết tứ niệm xứ, vậy
thế nào là tứ niệm xứ?". Khi
ấy Tôn giả Xá Lợi Phất bèn giảng về tứ niệm xứ cho
Xiển Ðà. Xiển Ðà lại nói: "Tôi không hỏi tứ niệm xứ,
tôi hỏi tứ chánh cần. Trưởng lão chỉ nên nói về Tứ
Chánh cần cho tôi". XáLợi
Phất nói: "Thầy muốn nghe tứ Chánh Cần thì hãy lắng nghe",
rồi nói về tứ Chánh Cần. Xiển
Ðà lại nói: "Tôi hỏi về Tứ Như Ý Túc". Như vậy lần
lượt hỏi đến ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, Bát chánh
đạo phần cũng như tứ niệm xứ, hỏi đi hỏi lại ba lần. Lúc
ấy các Tỷ kheo ngồi lâu mỏi mệt, liền lần lượt bỏ
ra, khiến Tăng không hòa hợp, chung cục yết ma không thành.
Do vậy, các Tỷ kheo đem sự việc ấy bạch lên Thế Tôn.
Phật liền bảo gọi Xiển Ðà đến. Khi thầy đến rồi,
Phật liền hỏi: "Xiển Ðà, ông có thật như vậy không?". Thầy
đáp: "Có thật như vậy". Phật
nói: "Xiển Ðà, đó là việc xấu. Ta đã không vì ông mà
dùng vô lượng phương tiện chê trách những lời nói nhiễu
loạn, khen ngợi những lời nói tùy thuận hay sao? Nay vì sao
ông gây ra sự nhiễu loạn? Ðó là việc phi pháp, phi luật,
trái lời Phật dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn
thiện pháp". Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo
sống tại Câu diệm di phải tập họp lại tất cả, vì mười
việc lợi ích mà chế giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi
cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỷ kheo nói những lời khác làm não loạn người khác, thì
phạm Ba-dạ-đề". Giải
thích Nói
những lời khác làm não loạn người khác:
Có tám trường hợp . Ðó là: 1. Lúc làm yết ma ; 2. Lúc bàn
luận như pháp ; 3. Lúc bàn luận về A-Tì đàm ; [340c] 4. Lúc
bàn luận về tỳ ni ; 5. Không bàn về việc khác ; 6. Không
bàn với người khác ;7. Ngưng luận bàn ; 8. Nói những lời
khác làm não loạn người khác . 1)
Làm
yết ma:Tỷ
kheo tập trung hòa hợp làm yết ma Chiết phục, cho đến yết
ma biệt trụ . Ðó gọi là làm yết ma . 2)
Bàn luận như pháp:
nói về phi thường (vô thường), phi đoạn (không đoạn diệt)
. Ðó gọi là bàn luận như pháp. 3)
A tỳ đàm:
Chỉ cho chín bộ kinh . Ðó gọi là A tỳ Ðàm . 4)
Tì ni: Nói
đủ, hoặc nói tóm lược Ba la đề mộc xoa (giới) . Ðó gọi
là tì ni. 5)
Không bàn về việc khác: Không
được rời bỏ vấn đề đang bàn luận mà bàn về vấn đề
khác . Ðó gọi là không bàn về việc khác . 6)
Không luận bàn với người khác:
Không được rời bỏ người vừa hỏi để hỏi người khác
. Ðó gọi là không bàn luận với người khác . 7)
Ngưng bàn luận:
Lúc đương thuyết pháp liền bảo: "Dừng lại, sau sẽ bàn
tiếp". Ðó gọii là ngưng bàn luận 8)
Nói những lời khác làm não loạn người khác:
Như tôn giả Xiển Ðà đã nói những lời khác (ngoài mục
đích yết ma) để làm não loạn người khác. Ðó
gọi là tám trường hợp . Trong
đây, dùng những lời khác làm não loạn người khác, phạm
Ba dạ đề. Nếu ngoài tám việc trên đây thì không phạm
Ba dạ đề. Nếu
có người hỏi: "Tỷ
kheo, Thầy từ đâu đến?"
-Thầy
sẽ đi về đâu?
-Thầy
ngủ ở đâu?
-Hôm
nay thầy ăn tại đâu?
Nếu
hỏi một đằng mà đáp một ngã như vậy, thì phạm tội
Việt tì ni. Nếu
có bọn cướp xâm nhập vào chùa, hỏi Tỷ kheo: "Chỉ cho tôi
những đồ vật của chư Tăng". Khi
ấy, Tỷ kheo không được chỉ cho họ các thứ châu báu, cũng
không được nói dối, mà nên chỉ cho họ phòng ốc, giường
ghế các thứ . Nếu bọn cướp nói: "Chỉ cho tôi những vật
dụng của tháp", thì cũng không được chỉ cho họ những
bảo vật của tháp, cũng không được nói dối, mà nên chỉ
những khí cụ cúng dường ở cạnh tháp . Nếu
bọn cướp nói: "Chỉ cho tôi nhà bếp ", thì Tỷ kheo cũng
không được chỉ cho họ chỗ cất tiền, mà nên chỉ cho họ
chỗ để các thứ nồi niêu xoong chảo. Nếu
súc vật của nhà đồ tể chạy thoát, họ đến hỏi Tỷ
kheo có thấy không, thì Tỷ kheo không được nói dối, cũng
không được chỉ chỗ, mà nên nói: "Xem móng tay đây, xem móng
tay đây (tiếng phạn có nghĩa là không thấy)." Nếu
Tỷ kheo ở tại A luyện nhã, có tù nhân đào thoát, rồi quân
lính đến hỏi thì Tỷ kheo cũng đáp như trường hợp súc
sinh trên . Nếu
Tỷ kheo ở giữa Tăng mà hỏi một đàng đáp một ngả, thì
phạm Ba dạ đề. Nếu ở giữa nhiều người, trước Hòa
Thượng, A xà Lê, trước các trưởng lão Tỷ kheo mà hỏi
một đàng đáp một ngả, thì phạm tội Việt tì ni. Thế
nên nói (như trên). Khi
Phật an trú tại Thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
người đời có lòng tín kính rất sâu xa, nên họ mang nhiều
thức ẩm thực đến cúng dường Thế Tôn, rồi cúng chúng
Tăng, tôn giả Xá-Lợi-Phất, Mục-Kiền-Liên. Phần cúng dường
Phật thì có thị giả thu dọn còn phần cúng dường chúng
Tăng và Xá-Lợi-Phất, Mục-Kiền-Liên (341a) thì hoặc dùng
hết, hoặc dùng không hết mà không có ai thu dọn để đến
hôi thối . Bấy giờ tôn giả Ðà Phiêu còn ở địa vị đang
học, suy nghĩ: "Nếu ta đạt được vô học, thì ta sẽ coi
sóc công việc của Tăng để chư Tăng được an lạc". Suy
nghĩ thế rồi, đầu đêm, cuối đêm, thầy tinh tấn tu tập
nên đắc quả A La Hán, đắc tam minh, lục thông. Ðoạn thầy
suy nghĩ: "Vì sao ta phải làm những việc hữu vi? Ta nên tu
tập vui sống với thiểu dục, vô sự". Phật
nói với Ðà Phiêu: "Khi còn ở địa vị phải học, ông đã
nói như sau: "Nếu ta đạt được địa vị vô học, ta sẽ
coi sóc công việc chư Tăng". Ông có nói như thế không?". Thầy
đáp: "Có nói như vậy, bạch Thế Tôn". -
Này Ðà Phiêu như nguyện vọng của ông trước kia, giờ đây
nên làm như vậy . -
Con sẽ làm như Thế Tôn dạy . Thế
rồi chúng Tăng cử thầy làm chín việc như trước đây đã
nói . Lúc ấy, thầy tùy nghi sai phái chúng Tăng đi thọ trai
. Nếu là trưởng lão thượng tọa thì cho thức ăn thượng
hạng . Nếu trung tọa thì cho thức ăn trung bình . Nếu hạ
tọa thì cho thức ăn thô sơ. Nhóm
sáu Tỷ kheo vì đẫ có mối hiềm khích oán hận, nên đem
việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật bèn nói với Ðà
Phiêu: "Phàm là người xuất gia, nguyên tắc phải trao thức
ăn bình đẳng, ông nên biết: được ít thì không đủ, được
nhiều cũng không nên chán, được tốt, được xấu, đều
không chu đáo". Do
thế, trưởng lão Ðà Phiêu bèn phân ra ba loại thực phẩm
tinh thô, cứ tuần tự giáp vòng rồi trở lại từ đầu.
Khi ấy, Nan Ðà, Ưu-Ba-Nan-Ðà sáng sớm thức dậy, liền khoác
y cầm bát, đến nhà cúng dường ẩm thực, nói với ưu bà
di: "Trao thức ăn cho tôi". Ưu
bà di nói: "Thưa tôn giả, chưa đến giờ ăn. Tôi chưa kịp
rửa mặt và rửa chén bát, chưa làm được thức ăn cho người
xuất gia". Lúc
ấy các thanh thiếu nữ trẻ ở nhà đàn việt mới thức dậy,
đi tắm rửa để lộ thân thể. Tỷ kheo Nan Ðà do không thu
nhiếp các căn, nhìn chăm chăm vào các cô gái, nên Ưu bà di
suy nghĩ: "Tỷ kheo này không phải là người trì luật, nếu
để lâu ở đây có thể sinh ra nhiều tội lỗi. Ta hãy đưa
thức ăn của người giúp việc để ông ta đi ngay cho rồi". Suy
nghĩ như thế rồi bà liền mang thức ăn của người giúp
việc đưa cho thầy . Tỷ
kheo ấy nhận được thức ăn rồi, liền trở về tịnh xá.
Bấy giờ, có trưởng lão Tỷ kheo đến giờ khất thực, liền
khoác y cầm bát đi đến nhà cúng dường thức ăn. Ðàn việt
liền cúng dường thức ăn ngon lành đày bát, rồi thầy trở
về. Khi ấy Nan Ðà, Ưu Ba Nan Ðà trông thấy thế, liền nói
như sau: "Này trưởng lão Ðà Phiêu, đức Thế Tôn dạy phải
chia thực phẩm bình đẳng. Thầy hãy xem hai loại thức ăn
này có giống nhau hay không?". Ðà
Phiêu nói: "Ông đến quá sớm, chưa tới giờ ăn (nên mới
thế)". Hôm
sau, Nan Ðà bèn khoác y, cầm bát vào thành, nhưng ở dọc đường
thầy xem đấu voi, đấu ngựa và nghe người thế tục bình
phẩm . Lúc ấy Ưu bà di suy nghĩ : "[341b] Hôm qua thầy ấy
đến không được ăn, hôm nay phải chuẩn bị sớm". Thế
rồi bà làm thức ăn xong đã lâu mà chờ mãi vẫn không thấy
tới, nên suy nghĩ: "Tôn giả hôm qua đến sớm, bữa nay vì
sao không tới? Hay là ở tinh xá Kỳ Hoàn có cúng dường chư
Tăng, cho nên không đến?". Do vậy, bà cùng với chồng con
ăn sạch. Lúc
đến giờ, Nan Ðà mới vội vã đến, nói với Ưu bà di: "Ðưa
thức ăn cho tôi". Ưu
bà di nói: "Con làm thức ăn từ sớm đợi tôn giả mà không
thấy đến. Con tưởng hôm nay có người cúng dường chư Tăng
tại Kỳ Hoàn. Thầy được họ mời rồi chứ? Vì thế phần
cúng dường cho thầy con đã ăn hết". Nan
Ðà liền nói: "Ngươi định bỏ đói ta sao?". Bấy
giờ, Ưu bà di liền đem thức ăn thừa của người giúp việc
ra cho thầy. Ðược thức ăn rồi thầy bèn trở về tinh xá,
nói lại như trước . Ðà
Phiêu nói: "(Hôm nay) thầy lại tới quá trễ". Nói xong tôn
giả Ðà phiêu liền đem sự việc ấy đến bạch với Thế
Tôn. Phật bèn bảo gọi Nan Ðà tới. Khi thầy tới rồi, Phật
liền hỏi: "Ông có thật như vậy chăng?". -
Có thật như vậy bạch Thế Tôn . -
Ðó là việc xấu. Ông không từng nghe ta dùng vô số phương
tiện chê trách đa dục, khen ngợi thiểu dục hay sao? Ðó là
điều phi pháp, phi luật trái lời Phật dạy, không thể dùng
việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được. Thế
rồi Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo đang sống tại thành
Xá vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười điều lợi
ích mà chế giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải
nghe lại: --"Nếu
Tỷ kheo hiềm trách thầy tri sự thì phạm Ba dạ đề". Giải
thích Hiềm
trách: Hoặc
bái nhân, bái chúc nhân, bái chúc chúc nhân . Bái
nhân (người được giao việc):
Như tôn giả Ðà phiêu. Ðó gọi là bái nhân . Bái
chúc nhân (người được giao việc bèn nhờ người khác làm
giúp): Như
trường hợp Ðà Phiêu Na La Tử nhờ người khác xử lý công
việc của Tăng. Ðó gọi là bái chúc nhân . Bái
chúc chúc nhân (người được giao việc nhờ người khác làm
giúp, rồi người ấy lại nhờ người khác nữa):
Người được giao việc lại đi nhờ người khác nữa xử
lý việc của Tăng. Ðó gọi là bái chúc chúc nhân . Hiềm
trách: Người
hiềm trách phạm Ba dạ đề. Khi
Tăng phát các thứ bánh, theo thứ tự đến mình, thì mình
nên nhận lấy. Nếu không muốn lấy thì nên bảo họ đi tiếp.
Nếu tịnh nhân hỏi: "Vì sao thầy không lấy?". Rồi
mình đáp: "Tôi kiêng cữ không dùng thứ này, muốn lấy thứ
khác"thì không có tội. Khi
Tăng đi phân phát các loại cháo, như cháo sữa, cháo tô lạc,
cháo mè, cháo cá .v.v., nếu họ múc đầy giá đưa cho Thượng
tọa thì Thượng tọa không nên nhận liền mà nên nói: "Nên
đưa cho bình đẳng". Nếu người trị nhật đi đưa thịt,
vì vị nể Thượng tọa nên đưa nhiều hơn, thì Thượng tọa
nên hỏi: "Tất cả đều như thế này chăng?". Người
trị nhật liền đáp: "Chỉ đưa cho Thượng tọa nhiều thôi". Thượng
tọa nên nói: "Nên chia bình đẳng". Thế rồi, nếu không cần
nhiều [341c] thì hãy lấy một ít. Lấy xong rồi bảo đưa
bình đẳng cho mọi người. Khi
có những thức ăn ngon như vậy nên đưa cho bình đẳng. Lúc
sa di đi trao đồ ăn, nếu trao cho thầy mình một cách thiên
vị, thì thầy tri sự nên nói: "Hãy đưa bình đẳng". Nếu
sa di nói: "Sao ông không tự làm đi?". Lúc ấy thầy tri sự
nên đuổi Sa di đi rồi sai người khác làm . Nếu
người đi đưa thức ăn, thấy có vị đại đức trong Tăng
bèn đưa nhiều hơn, khiến những người khác bị thiếu, thì
thầy tri sự nên nói với người ấy: "Trong Tăng không có
cao thấp, ngươi hãy đưa bình đẳng". Nói
chung, có các trường hợp: hoặc có hiềm mà không trách móc;
hoặc có trách móc mà không hiềm; hoặc vừa hiềm vừa trách
móc ; hoặc chẳng hiềm chẳng trách móc . Có
hiềm mà không trách móc: Bưng bát thức ăn của mình đem so
sánh với bát người bên cạnh rồi nói thế này: "Như thế
này có bình đẳng không?". Ðó gọi là có hiềm mà không trách
móc . Cả bốn trường hợp kia nói rộng cũng như vậy. Có
hiềm mà không trách móc thì phạm tội Việt tì ni. Có trách
móc mà không hiềm cũng phạm tội Việt tì ni. Vừa hiềm vừa
trách móc thì phạm tội Ba dạ đề. Chẳng hiềm cũng chẳng
trách móc thì không có tội. Thế nên nói (như trên) . Khi
Phật trú tại nước Bạt kỳ, Ngài đi du hành trong nhân gian,
đến bên một con sông kia, thấy các ngư ông đang bủa lưới
bắt cá. Các Tỷ kheo thấy thế liền bạch với Phật: "Bạch
Thế Tôn! Các ngư ông này làm một việc lẽ ra không nên làm".
Nhân các Tỷ kheo nói nên Thế Tôn liền đọc kệ: "Ðã
được thân khó được
Khi
ấy, các ngư phủ bủa một mảng lưới lớn, ở bên dưới
buột đá, ở bên trên cột những cái bầu nổi, thuận theo
dòng nước kéo lên, mỗi đầu hai trăm năm mươi người, kêu
la kéo lên bờ ầm ĩ. Các Tỷ kheo thấy thế, liền bạch với
Phật: "Bạch Thế Tôn! Những người này nếu ở trong Phật
pháp mà tinh tấn như vậy, thì sẽ được lợi ích lớn".
Bấy giờ nhân sự việc ấy, Thế Tôn liền đọc kệ: "Cái
gọi là tinh tấn
Như
Kinh Bổn Sinh Ca-Tỳ-La đã nói rõ . Lúc
ấy, trong các con cá bị mắt lưới, có con cá lớn có hàng
trăm cái đầu, mỗi đầu đều khác nhau. Thế Tôn thấy vậy
liền gọi tên nó. Nó liền đáp Thế Tôn. Thế Tôn liền hỏi:
"Mẹ ngươi ở đâu?". Nó
đáp: "Ðang làm thân giòi trong một cầu tiêu nọ". Phật
liền nói với các Tỷ kheo: "Con cá lớn này vào thời đức
Phật Ca Diếp, làm [342a] một Tỷ kheo thông tam tạng, vì ác
khẩu mà chịu quả báo đủ kiểu đầu. Còn người mẹ vì
thọ lợi dưỡng của y cho nên làm giòi trong cầu tiêu". Khi
Phật kể nhân duyên ấy, năm trăm ngư phủ liền bỏ việc
kéo lưới, xin xuất gia tu hành, và đều đắc quả A La Hán,
rồi cư trú bên dòng sông Bạt Kỳ. Thế
rồi Phật bảo A nan: "Hãy sửa soạn chỗ ngồi cho các Tỷ
kheo khách ấy". A nan liền bạch Phật: "Xin Phật an ủi các
khách Tỷ kheo". Phật
lại nói với A nan: "Ông không biết đó thôi, Ta đã nhập
vào Tứ Thiền an ủi khách Tỷ kheo rồi". Trong
khi các gường gối bày ra tại chỗ đất trống (không ai dọn
dẹp), thì tới giờ khất thực, các Tỷ kheo khách liền dùng
thần lực, người thì đến Uất đơn việt phương bắc, kẻ
thì đến cõi trời ba mươi ba, người khác lại xuống cung
long vương khất thực. Do thế các gường gối bày ra chỗ
trống kia bị nắng táp, gió thổi nên bụi bặm bám rất dơ
bẩn. Phật biết mà vẫn hỏi. Rồi các Tỷ kheo đem nhân duyên
trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật nói: "Ðợi các Tỷ
kheo ấy trở lại đã". Khi
họ về rồi Phật liền hỏi: "Các ông có thật như thế chăng?". Họ
đáp: "Có thật như vậy" Phật
nói: "Từ hôm nay nhân việc của các ông, ta chế giới cho
các Tỷ kheo". Thế
rồi Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo đang sống bên sông
Bạt Kỳ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích
mà chế giới cho các Tỷ Kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe
lại: --"Nếu
Tỷ kheo, ở tại trú xứ của Tăng, mà tự mình hoặc sai người
khác đem giường nằm, giường ngồi, nệm gối ra chỗ đấùt
trống, rồi lúc đi không dọn cất, cũng không sai người dọn
cất, thì phạm Ba Dạ Ðề". Giải
thích Trú
xứ của Tăng:
Hoặc trú xứ tại A luyện nhã, hoặc trú xứ tại thôn xóm. Giường
nằm, giường ngồi:
Có mười bốn thứ: 1.
Giường nằm chân tròn ; 2. Giường ngồi chân tròn ; 3. Giường
nằm bằng nệm ; 4. Giường ngồi bằng nệm ; 5. Giường nằm
bằng dây ; 6. Giường ngồi bằng dây ; 7. Giường nằm bằng
ô-na-đà ; 8. Giường ngồi bằng ô na đà ; 9. Giường nằm
bằng đà di ; 10. Giường ngồi bằng đà di (ở đây chỉ có
mười thứ). Nệm:
Nệm kiếp bối, nệm lông mịn, nệm len, nệm ca thi, nệm cỏ
. Gối:
Gối kiếp bối, gối lông mịn, gối len, gối ca thi . Trải:
Hoặc tự mình trải, hoặc bảo người khác trải . Ði:
Ði đến nơi khác . Không
đem cất: không tự mình đem cất, không sai người đem cất,
thì phạm Ba dạ đề. Nếu
muốn thuyết pháp tại chỗ đất trống, rồi người coi giữ
giường nệm đem bày giường nệm ra, sau đó bỏ đi cách hai
mươi lăm khuỷu tay mà không dặn lại người khác đem cất,
thì phạm Ba dạ đề. Nếu
cả hai người cùng biết (có giường ở ngoài trời) thì khi
một người ra đi phải dặn người thứ hai. Nếu người thứ
hai muốn đi, phải đợi người thứ nhất trở lại dặn dò
xong mới được đi. Nếu đem giường gối ra bày rồi có người
đến ngồi mà người đem ra biết được họ, thì bỏ đi
không có tội. Nếu
vào những tháng mùa xuân, Tỷ kheo đem giường nệm để ngoài
trời, rồi Tỷ kheo trẻ tuổi đến ngồi ngủ trên đó, thì
người đem ra phải dặn Tỷ kheo ấy đem cất. [342b]
Nếu Tỷ kheo ban đêm đi đại tiểu tiện, đụng nhằm giường
của Tăng mà trên ấy không có Tỷ kheo rồi bỏ đi, thì tùy
theo chạm mỗi cái phạm mỗi tội Ba dạ đề. Nếu trên giường
ấy có Tỷ kheo, bèn dặn họ đem cất thì không có tội. Nếu
thầy tri sự của Tăng muốn trao Giường nệm cho ai, rồi lấy
ra để ngoài trời, bỏ đi cách xa hai mươi lăm khuỷu tay,
thì phạm Ba dạ đề. Nếu người nhận giường nệm của
Tăng, rồi để phơi ngoài nắng bỏ đi cách xa hai mươi lăm
khuỷu tay, cũng phạm Ba dạ đề. Nếu
Tỷ kheo bị bệnh, nằm ngủ ở chỗ trống, đệ tử đến
đảnh lễ, nếu thấy thầy đứng dậy đi, thì đệ tử phải
đem giường ấy vào trong phòng cất. Nếu hai người cùng ngồi
một giường, thì khi Thượng tọa muốn đi phải dặn lại
Hạ tọa. Hạ tọa muốn đi thì phải bạch với Thượng tọa
rằng: "Con muốn đi, cái giường này nên cất ở chỗ nào?".
Nếu Thượng tọa nói: "Ông cứ đi đi, giường này ta sẽ
cất cho", thì khi ấy Hạ tọa đi, không có tội. Nếu
Tỷ kheo đem giường nệm ra để cho Hòa thượng A xà lê nằm,
rồi bỏ đi thì phạm tội Việt tì ni. Nếu Hòa thượng A
xà lê biết đệ tử đem ra cho mình nằm, thì khi ra đi nên
dặn họ cất, nếu không dặn mà đi, thì phạm tội Việt
tì ni. Nếu
Tỷ kheo đặt hình tượng trên giường của chúng Tăng, rồi
các Tỷ kheo khác đến lễ bái, tay chạm vào hình tượng mà
không đem cất thì phạm Ba dạ đề. Nếu Tỷ kheo theo thứ
tự đến lễ bái, tay chạm vào hình tượng, thì nên dặn
người sau cùng đem cất. Có
các trường hợp: Hoặc được dặn dò mà không thuộc trách
nhiệm, hoặc thuộc trách nhiệm mà không dặn dò; hoặc vừa
phải dặn dò, vừa thuộc trách nhiệm; hoặc chẳng phải dặn
dò, cũng chẳng thuộc trách nhiệm. Ðược
dặn dò mà không thuộc trách nhiệm:
Ðó là trường hợp Sa di. Thuộc
trách nhiệm mà không phải được dặn dò:
Ðó là trường hợp Tỷ kheo thượng tọa. Vừa
phải dặn dò, vừa thuộc trách nhiệm:
Ðó là trường hợp Tỷ kheo Hạ tọa. Chẳng
phải dặn dò, cũng chẳng thuộc trách nhiệm:
Ðó là trường hợp người thế tục. Nếu
Tỷ kheo có đức lớn có nhiều đệ tử, rồi họ trải giường
nệm, mà thầy biết họ trải cho mình, thì khi đi nên dặn
họ đem cất, nếu không dặn, thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
tại trú xứ của chúng Tăng có những giường nệm để ngoài
trời, mà khi Tỷ kheo ra đi, không đem cất thì phạm Ba dạ
đề. Nếu
thấy giường nệm của chúng Tăng để ngoài trời tại chỗ
ở của mình, mà khi ra đi không đem cất, thì phạm tội Việt
tì ni. Nếu
thấy giường nệm của mình đễ ngoài trời tại chỗ ở
của chúng Tăng mà khi ra đi không đem cất, thì phạm tội
Việt tì ni. Nếu
thấy giường nệm của mình để ngoài trời tại chỗ ở
của mình, mà khi ra đi không đem cất, thì phạm tội Việt
tì ni. Nếu
thấy giường nệm của Tăng để ngoài trời tại nhà bạch
y, mà khi ra đi không đem cất, thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
thấy giường nệm của người thế tục đễ ở ngoài trời,
thì khi ra đi nên nói cho họ biết. Thế nên nói (như trên). Khi
Phật an trú tại Thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có Bà la môn [342c] mời chúng Tăng ở lại cúng dường ẩm
thực và dâng y phục. Các Tỷ kheo bày biện các tọa cụ trong
Tăng phòng không dọn cất mà ra đi. Thế Tôn vì năm lợi ích
nên cứ năm hôm đi thị sát phòng các Tỷ kheo một lần. Ngài
thấy trên các tọa cụ ấy có phân chuột gián và bụi đất
bẩn thỉu, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi. Các Tỷ kheo liền
đem nhân duyên ấy bạch lên Thế Tôn. Phật liền nói với
các Tỷ kheo: "Các ông là người xuất gia không có ai lo liệu
cho các ông những việc trước sau, vì sao lúc ra đi không đem
cất đồ đạc? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời
Phật dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện
pháp được". Thế rồi Phật truyền lệnh cho các Tỷ kheo
sống tại Thành Xá Vệ tập họp lại tất cả, vì mười
lợi ích mà chế giới cho các Tỷ kheo, dù ai nghe rồi cũng
phải nghe lại: --"Nếu
Tỷ kheo tự trải giường nệm hay sai người khác trải giường
nệm ở trong chỗ che khuất mà khi ra đi không đem cất, cũng
không sai người đem cất, thì phạm Ba dạ đề". Giải
thích Ở
trong: Tức
là chỗ che khuất . Giường
ghế: Gồm
mười bốn loại như trên đã nói. Gối
nệm: Cũng
như trên đã nói. Trải:
Hoặc tự mình trải, hoặc sai người trải. Ði:
Ði đến nơi khác . Không
tự cất:
Không tự mình đem cất. Không
sai người cất:
Không sai người khác đem cất thì phạm Ba dạ đề. Nếu
Tỷ kheo muốn đi nơi khác, thì trước khi đi phải rảy nước
quét phòng, dùng khăn lau sàn nhà cho sạch, lại phải đem mền
gối phơi khô, rồi nói với người giữ mền gối như sau:
"Này trưởng lão đây là giường mền gối ", nhất thiết
phải dặn dò lại như vậy. Nếu người giữ giường nệm
là hàng hạ tọa, thì nên đáp: "Tôi sẽ cất giường nệm
ấy". Nếu người giữ giường nệm là hàng Thượng tọa,
thì khi người kia trả lại giường nệm, nên đáp: "Ðược
rồi". Nếu ra đi mà không bạch thì phạm Ba dạ đề. Nếu
không bạch mà ra đi, rồi có Tỷ kheo khác vào ở, phòng ấy
không còn trống, thì phạm tội Việt tì ni. Nếu khi đi rồi
mà để quên y bát, bèn trở lại lấy, nhân đó mới bạch,
thì không có tội. Nếu
Tỷ kheo đang đi trên đường trong lúc trời u ám sắp mưa,
rồi Tỷ kheo trẻ tuổi bèn đi trước về tinh xá, lấy giường
nệm của Hòa thượng A Xà Lê đem cất, thì khi trời tạnh
muốn ra đi, phải bạch với Hòa thượng, nếu không bạch
mà đi thì phạm Ba dạ đề. Nếu
nhiều Tỷ kheo dừng chân nghĩ tại một tinh xá ở thôn xóm,
cùng nhận lấy giường nệm của chúng Tăng, rồi mọi người
đều suy nghĩ khi ra đi: "Mỗ giáp sẽ dặn họ cất". Thế
rồi đi đến nữa đường, người này hỏi người khác, chung
cục không ai dặn lại cả. Nếu vậy, thì lúc ấy, nên sai
hai người trở lại dặn họ đem cất. Nếu
các Tỷ kheo đi dường đến nghỉ tại một tinh xá, rồi khi
ra đi không dặn thầy tri sự cất giường nệm, đến khi đi
một đoạn đường xa bèn hỏi nhau, thì mới biết không ai
dặn lại cả. Lúc ấy bỗng gặp [343a] một Tỷ kheo khác đi
ngược chiều, liền hỏi: "Trưởng lão định đi đâu đó?".
Nếu người ấy đáp: "Tôi muốn đến nơi đó", thì các Tỷ
kheo kia nên bạch: "Tối qua chúng tôi nghỉ tại đó, nhưng
lúc ra đi quên không dặn họ cất giường nệm. Vậy trưởng
lão đến đó hãy dặn giúp chúng tôi". Tỷ kheo ấy cũng nói:
"Lúc ra đi tôi cũng quên không dặn, vậy các trưởng lão đến
tinh xá ấy hãy vì tôi mà dặn giúp". Như vậy hai đàng cùng
nhờ vả lẫn nhau, cho đến khi cả hai cùng vào đến ranh giới
của mỗi tinh xá, thì được gọi là có dặn dò. Nếu
Tỷ kheo nghĩ tại nhà người thế tục, rồi họ cung cấp
cho giường nệm tọa cụ, thì lúc ra đi nên nhắc họ đem
cất. Nếu đó là tọa cụ bằng cỏ, thì khi đi nên hỏi họ:
"Nệm cỏ này nên cất ở đâu?". rồi tùy chủ nhân chỉ chỗ,
ta sẽ đem cất tại đó. Nếu đàn việt nói: "Thầy cứ đi
đi rồi tôi sẽ thu dọn", thì Tỷ kheo nên xếp lại một góc
nhỏ, rồi đi. Nếu
Tỷ kheo lúc đi đường đến một nơi kia vạch cỏ ra để
trải tòa ngồi, thì lúc ra đi phải vuốt cho cỏ thẳng lại
rồi mới đi. Thế nên nói (như trên). Khi
Phật an trú tại Thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
có Tỷ kheo khách đến phòng nhóm sáu Tỷ kheo, nhóm sáu Tỷ
kheo nói: "Lành thay trưởng lão!"Nói như thế rồi bèn đưa
nước rửa chân, dầu thoa chân, nước giải khát, để nghĩ
ngơi. Sau khi nghĩ xong, họ bèn hỏi Tỷ kheo khách: "Thưa trưởng
lão thầy định nghỉ ở đâu?". -
Nghỉ trong phòng này đây . -
Ông biết phòng này của ai không? -
Tôi biết đây là phòng của chúng Tăng . -
Tuy phòng này là của chúng Tăng nhưng nhóm sáu Tỷ kheo chúng
tôi đã ở đây trước rồi . -
Ðây là phòng của chúng Tăng bốn phương giả sử có nhóm
mười sáu Tỷ kheo ở đây trước, ta cũng theo thứ tự mà
ở đây, huống gì là sáu Tỷ kheo? -
Nếu trưởng lão muốn ở thì cứ ở . Khi
Tỷ kheo khách ở đó rồi, nhóm sáu Tỷ kheo ập đến, kẻ
nắm tay chân, người tóm lấy đầu, dở cao lên định vứt
thầy ấy ra khỏi phòng. Khi ấy Thế Tôn dùng thần túc đang
lơ lửng trên hư không đi đến. Nhóm sáu Tỷ kheo trông thấy
Thế Tôn, liền ném ông ta xuống đất và bỏ đi. Phật liền
nói với Tỷ kheo khách: "Ông cứ ở trong phòng này đi". Lại nữa, Tôn giả Nan Ðà là anh của Ưu Ba Nan Ðà. Nan Ðà có người đệ tử tùy tùng, người n |