| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
trong thành có một dâm nữ nhà rất giàu có, của cải thật
nhiều, châu báu đủ loại, kho tàng đầy ắp, giữ gìn kiên
cố, [331a] kẻ trộm rình mò, không làm gì được. Lúc ấy,
tên chúa đảng cướp nghĩ được kế hay, bèn sai sứ giả
đến nói với dâm nữ: "Bọn chúng tôi muốn đến trên hồ
kia, mời thêm nhiều cô gái làng chơi nữa, bày ra các thức
ẩm thực, rồi tha hồ hưởng lạc. Vậy cô nên trang sức
thật đẹp, rồi đến hồ ấy chớ để lượm thượm mà
bọn họ chê cười". Tâm
lý của phụ nữ là ưa ganh tỵ, háo thắng, nên cô ta khoác
các loại danh y thượng hạng, trang sức trên thân đủ các
thứ chuỗi ngọc anh lạc, ánh sáng của chúng chiếu ra chói
mắt rồi đi tới chỗ mà họ đã mời. Lúc ấy, tên tướng
cướp bèn khéo léo dụ dỗ đưa cô ta đến một nơi vắng
vẻ, kín đáo, rậm rạp. Dâm nữ liền hỏi: "Trước đây
nghe nói có mời các phụ nữ khác, giờ đây họ ở đâu?" Tên
tướng cướp đáp: "Lát nữa họ sẽ đến, ta hãy cùng nhau
hoan lạc đã". Lúc
ấy, dâm nữ bèn suy nghĩ: "Giờ đây, xem người này chắc
là tướng cướp chứ không gì khác. Vì sao mà biết? Vì nơi
này không phải là chỗ hẹn trước. Vả lại, các phụ nữ
kia chắc chắn là không đến, mà mặt trời đã về chiều".
Thế rồi, dâm nữ nói: "Tôi muốn trở về nhà". Tên
tướng cướp nói: "Hãy cùng nhau vui chơi đã, có gì đâu mà
gấp gáp thế!" Khi
ấy dâm nữ suy nghĩ: "Thế này là hắn định ăn cướp rồi,
chắc ta bị hắn làm khốn đốn mất. Ta có 64 diệu thuật
giờ chính là lúc phải áp dụng, nếu không áp dụng thì làm
sao thoát nạn!". Thế rồi, cô ta giả vờ hiện ra vẻ ủy
mị yêu thương, cùng chén tạc chén thù với tên tướng cướp,
mình uống cầm chừng, mời hắn cạn chén, bên ngoài ra vẻ
ân cần thân thiết trìu mến, nhưng trong lòng giữ một khoảng
cách, khiến cho tâm hồn của tên cướp say đắm khoái lạc,
không nghi ngờ gì nữa. Lúc
ấy, tên tướng cướp một mình dìu dâm nữ tới một chỗ
kín đáo thì hơi men phát tác, say túy lý không còn hay biết
gì nữa. Dâm nữ bèn từ từ thoát ra khỏi vòng tay của tướng
cướp, lấy y phục mặc vào, rồi đi tới thành Xá-vệ, nhưng
cửa thành đã đóng. Cô bèn đi về phía tinh xá Kỳ Hoàn,
thì cửa tu viện cũng đã đóng. Khi ấy, ở bên ngoài cửa
có một trưởng lão Tỉ-kheo tên Ca-lô đang trải giường dây
mà ngồi tại một chỗ khuất, cách cổng chùa không xa. Y của
Thầy phủ xuống 4 phía giường. Vì trong cơn sợ hãi, cần
tìm chỗ an ổn nên dâm nữ này bèn chui vào dưới giường
trưởng lão. Nhưng Ca-lô lúc ấy đang nhập định không quan
sát dưới giường. Sau lúc nửa đêm, tên tướng cướp tỉnh
rượu, định lột đồ của dâm nữ, nhưng tìm cô ta không
thấy. Hắn bèn hỏi chúng bạn: "Các ngươi có thấy cô gái
ấy không?". Bọn chúng đều đáp: "Không thấy". Thế rồi,
cả bọn đều cầm đuốc đi tìm, nhưng tuyệt nhiên không
biết cô ta ở đâu. Chúng bèn bảo nhau: "Nếu tìm không được
thì hãy theo vết chân". Thế là chúng men theo dấu chân tìm
đến cửa thành Xá-vệ, thì thấy cửa thành đóng, bèn theo
dấu chân đến trước cửa Kỳ Hoàn, lại cũng mất dấu vết,
không biết đi về phương nào. Bọn cướp tuy thấy Tỉ-kheo
nhưng không có bụng nghi ngờ. Bấy giờ trời sắp hừng đông,
trong thành Xá-vệ đã có tiếng trống đánh, lại nghe tiếng
voi ngựa gà chó, cho nên tên tướng cướp [331b] bèn bàn với
đồng bọn: "Giờ đây đã mất cô ấy, không biết ở đâu,
trời lại sắp sáng, không nên ở lâu nơi đây mà phải trở
lại chỗ ẩn núp trong rừng". Bàn bạc thế rồi, chúng bèn
trở lại trong rừng. Khi ấy trời sáng, dân chúng, voi ngựa,
xe cộ từ trong thành đi ra, lại có các Ưu-bà-di cũng rời
khỏi thành đi thăm viếng đảnh lễ Thế Tôn. Thế rồi, họ
sang đảnh lễ Tỉ-kheo Ca-lô, bỗng thấy dâm nữ kia từ dưới
giường chui ra. Mọi người thấy thế, liền chê trách, nói:
"Ðây là nơi A-luyện-nhã, vì sao kẻ nạp y khất thực lại
ngủ chung với dâm nữ suốt đêm, đến sáng mới thả đi,
mất hết phép tắc Sa-môn, có đạo nào như thế!" Lúc
ấy tiếng xấu về trưởng lão Ðà-phiêu-ma-la-tử Ca-lô Tỉ-kheo
được loan truyền khắp nơi. Các Tỉ-kheo nghe thế, bèn bạch
lên Thế Tôn. Phật nói: "Này các Tỉ-kheo, tiếng xấu về
Tỉ-kheo Ðà-phiêu-ca-lô làm điều phi phạm hạnh được loan
truyền khắp nơi, vậy các ông phải đến chỗ kín đáo hỏi
ông 3 lần, đến chỗ đông người hỏi 3 lần, rồi hỏi giữa
chúng Tăng 3 lần. Khi ở chỗ kín đáo nên hỏi như sau: "Trưởng
lão Ðà-phiêu Ca-lô, các vị phạm hạnh nói như thế, việc
đó Thầy có biết không?". Nếu ông ta đáp: "Không biết tôi
có làm hay không cũng không nhớ nữa", thì phải hỏi như vậy
đến lần thứ 2, thứ 3. Rồi hỏi ở chỗ nhiều người 3
lần, hỏi giữa chúng Tăng 3 lần cũng như vậy". Thế
rồi, các Tỉ-kheo liền bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Tỉ-kheo
Ðà-phiêu-ca-lô ấy đã được hỏi ở chỗ vắng 3 lần, hỏi
ở chỗ nhiều người 3 lần và hỏi giữa chúng Tăng 3 lần.
Nhưng Thầy tự nói: "Không biết tôi có làm hay không cũng
không nhớ nữa". Bấy
giờ, Phật bèn nói với các Tỉ-kheo: "Tỉ-kheo Ðà-phiêu-ca-lô
ấy thanh tịnh, không có tội. Tăng nên cho pháp Ức niệm Tì-ni
để dập tắt (tai tiếng), cùng sống thanh tịnh. Khi làm pháp
Yết-ma cầu thính, người làm Yết-ma nên nói như sau: "Xin
Ðại-đức Tăng lắng nghe! Trưởng lão Ðà-phiêu-ca-lô này
đã tự nói trước các bậc phạm hạnh như sau: "Không biết
có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa". Nếu thời gian thích
hợp đối với Tăng, nay Tăng cho Trưởng lão Ðà-phiêu-ca-lô
đến trước Tăng xin pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt tai
tiếng, mà sống thanh tịnh. Các Ðại-đức nào bằng lòng
cho Tỉ-kheo Ðà-phiêu-ca-lô đến trước Tăng xin pháp Ức niệm
Tì-ni để dập tắt (tai tiếng) mà sống thanh tịnh thì im
lặng; ai không bằng lòng thì hãy nói. Vì
Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Việc ấy cứ như thế mà
thi hành". Thế
rồi, người xin là Tỉ-kheo Ðà-phiêu-ca-lô phải trật vai
áo phải, cởi bỏ giày dép, quỳ gối phải trên đất, nói
như sau: "Tôi là Tỉ-kheo Ðà-phiêu-ca-lô đã nói trước các
bậc phạm hạnh như sau: "Tôi không biết có làm hay không cũng
không nhớ nữa". Tôi là Ðà-phiêu-ca-lô nay đến trước Tăng
xin pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt (tai tiếng), mà sống
thanh tịnh, cúi xin Tăng cho tôi pháp Ức niệm Tì-ni để dập
tắt (tai tiếng), mà sống thanh tịnh" (xin như vậy đến lần
thứ 2, thứ 3). Rồi người làm Yết-ma nên nói thế này: "Xin
Ðại-đức Tăng lắng nghe! Trưởng lão Ðà-phiêu-ca-lô [331c]
được các bậc phạm hạnh nói như thế, rồi Thầy tự nói:
"Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa". Nay
Thầy đến trước Tăng xin pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt
(tai tiếng) mà sống thanh tịnh. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, nay Tăng cho trưởng lão Ðà-phiêu-ca-lô pháp Ức
niệm Tì-ni để dập tắt (tai tiếng) mà sống thanh tịnh.
Ðây là lời tác bạch. Xin
Ðại-đức Tăng lắng nghe! Trưởng lão Ðà-phiêu-ca-lô này
được các bậc phạm hạnh hỏi như thế, rồi Thầy tự nói:
"Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa". Nay
Thầy đến trước Tăng xin pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt
(tai tiếng), mà sống thanh tịnh. Các Ðại-đức nào bằng
lòng cho trưởng lão Ðà-phiêu-ca-lô pháp Ức niệm Tì-ni để
dập tắt (tai tiếng), mà sống thanh tịnh, thì im lặng, ai
không bằng lòng hãy nói. Ðây là Yết-ma lần đầu (lần thứ
2, thứ 3 cũng nói như thế). Tăng
đã bằng lòng cho trưởng lão Ðà-phiêu-ca-lô pháp ức niệm
Tì-ni để dập tắt (tai tiếng) mà sống thanh tịnh, vì Tăng
đã im lặng. Việc ấy cứ như thế mà thi hành". Thế
rồi, Phật hỏi các Tỉ-kheo đã cho Ðà-phiêu-ca-lô pháp Ức
niệm Tì-ni chưa. Các Tỉ-kheo đáp: "Ðã cho". Phật
nói: "Này các Tỉ-kheo, có 5 trường hợp cho pháp Ức niệm
Tì-ni phi pháp. Năm pháp đó là gì? Ðó là: 1 - Không thanh tịnh,
tưởng là thanh tịnh mà cho. 2 - Thanh tịnh, tưởng là không
thanh tịnh mà cho. 3 - Không kiểm điểm trước. 4 - Làm phi
pháp. 5 - Không hòa hợp. Ðó gọi là 5 điều phi pháp khi cho
Ức niệm Tì-ni. Trái
lại, có 5 đều như pháp khi cho Ức niệm Tì-ni. Năm pháp đó
là gì? Ðó là: 1 - Thanh tịnh, tưởng là thanh tịnh mà cho.
2 - Không thanh tịnh, tưởng là không thanh tịnh mà cho. 3 -
Có kiểm tra trước. 4 - Làm như pháp. 5 - Hòa hợp. Ðó gọi
là 5 điều như pháp khi cho Ức niệm Tì-ni". Khi
ấy, các Tỉ-kheo liền bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Vì
sao nàng dâm nữ ấy bị bọn cướp truy đuổi? " Phật
nói: "Không những ngày nay cô ta bị bọn cướp truy đuổi
mà trong thời quá khứ cũng đã từng bị bọn chúng truy đuổi,
như trong kinh Oan Gia Bản Sinh đã nói rõ". Bấy
giờ, tôn giả A-nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ
chân Phật rồi đứng qua một bên, bạch với Phật: "Bạch
Thế Tôn! Thế nào gọi là Ức niệm Tì-ni?" Phật
nói với A-nan: "Nếu Tỉ-kheo này vu cáo Tỉ-kheo khác phạm
Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dạ-đề, Ba-la-đề-đề-xá-ni,
Việt-tì-ni, thì phải cấp tốc tập họp Tăng. Khi tập họp
Tăng rồi bèn hỏi Hòa-thượng A xà lê, bạn hữu tri thức
của Tỉ-kheo ấy rằng: "Trưởng lão, Thầy có biết Tỉ-kheo
mỗ giáp kia từ trước đến nay là người giới hạnh thế
nào không? Ông quen biết với ai? Người quen biết ấy thiện
hay ác?"Nếu nói: "Ông ấy từ trước đến nay giữ giới hạnh
thanh tịnh, nhưng ông ta cùng với bạn bè quen biết có phạm
vài lỗi nhỏ nhặt, mà trong lòng thấy [332a] hổ thẹn, liền
tức khắc sám hối để tiêu trừ". Người như vậy thì Tăng
nên trao cho pháp Ức niệm Tì-ni. Nếu nói: "Tôi biết Tỉ-kheo
ấy từ trước đến nay giới hạnh không thanh tịnh, lại
cùng kết bạn với kẻ ác, phạm tội mà không chịu sám hối
như pháp". Này A-nan, nếu Tỉ- kheo như vậy thì Tăng không
nên trao cho pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt (tiếng xấu).
Như vậy đó A-nan, khi đã như pháp, như luật trao cho pháp
Ức niệm Tì-ni để dập tắt sự hủy báng gây ra tranh cãi
xong rồi, mà có khách Tỉ-kheo hoặc Tỉ kheo ra đi, hoặc Tỉ-kheo
gởi dục, hoặc Tỉ-kheo không gởi dục, hoặc Tỉ-kheo ngồi
ngủ gục trong phòng họp, hoặc Tỉ-kheo mới thọ giới, trong
các Tỉ-kheo ấy, nếu ai nói: "Làm Yết-ma như vậy không thành
tựu, không đúng pháp, ngu si, vô trí, trái với Phật, Pháp,
Tăng, giống như trâu dê, pháp Yết-ma ấy bất thiện, không
thành". Do nói như vậy khiến cho sự tranh cãi sinh khởi trở
lại, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ðó gọi là sự tranh cãi
do hủy báng dùng pháp Ức niệm Tì-ni để dập tắt. 3-
Sự tranh cãi do hủy báng dùng pháp Bất si Tì-ni để dập
tắt. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Tôn-giả
Kiếp Tân Na có 2 đệ tử tùy tùng, một tên là Nan-đề, 2
tên là Bát Già Nan-đề. Hai Tỉ-kheo ấy trước kia bị bệnh
cuồng si. Khi bệnh, làm nhiều điều phi pháp. Giờ đây bệnh
đã lành mà các vị phạm hạnh còn nhắc lại những việc
làm của 2 người trong lúc cuồng si, khiến cho 2 Thầy khi nghe
những lời ấy rất là xấu hổ. Vì thế, 2 Thầy bèn đem
việc ấy trình bày với các Tỉ-kheo. Các Tỉ-kheo liền đem
việc ấy bạch đầy đủ với Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn! Nan-đề
và Bát-già-nan-đề trong khi mắc bệnh cuồng si, làm nhiều
điều phi pháp, nay bệnh đã lành mà các vị phạm hạnh còn
nhắc lại những việc làm trong lúc 2 người đang mắc bệnh
cuồng si". Phật
bèn nói với các Tỉ-kheo: "Các ông hãy hỏi họ ở chỗ vắng
3 lần, hỏi ở chỗ nhiều người 3 lần và hỏi giữa chúng
Tăng 3 lần. Khi hỏi ở chỗ vắng nên nói: "Trưởng lão, các
vị phạm hạnh nói như thế, Thầy có biết không?". Nếu Họ
đáp: "Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa",
thì phải hỏi đến lần thứ 2, thứ 3, rồi hỏi ở chỗ
nhiều người 3 lần, hỏi giữa chúng Tăng 3 lần cũng như
vậy". (Sau
khi hỏi xong) Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch với
Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn! Chúng con đã hỏi họ ở chỗ vắng
3 lần, hỏi ở chỗ nhiều người 3 lần và hỏi ở giữa
chúng Tăng 3 lần, nhưng họ tự nói: không biết có làm hay
không tôi cũng không nhớ nữa". Phật
liền nói với các Tỉ-kheo: "Hai Tỉ-kheo ấy trước kia cuồng
si, giờ hết cuồng si mà các vị phạm hạnh nhắc lại những
việc làm trong lúc cuồng si, rồi họ tự nói: "Không biết
có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa", thì Tăng nên cho
họ pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Người chấp
pháp nên làm pháp Yết-ma cầu thính, xướng rằng: "Xin
Ðại-đức Tăng lắng nghe! Trưởng lão Nan-đề, Bát-già-nan-đề
trước kia cuồng si, giờ hết cuồng si, mà các vị phạm hạnh
còn nhắc lại những việc làm trong lúc cuồng si, [332b], rồi
họ tự nói: "Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ
nữa". Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay cho
phép 2 Tỉ-kheo Nan-đề, Bát-già-nan-đề đến giữa Tăng xin
pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy) ...Các Ðại-đức
đã bằng lòng cho Nan-đề, Bát-già-nan-đề đến giữa Tăng
xin pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Vì Tăng đã
bằng lòng nên im lặng. Việc ấy cứ như thế mà thi hành". Thế
rồi, Nan-đề, Bát-già-nan-đề phải đến giữa Tăng, trịch
vai áo phải, quỳ gối chấp tay xin như sau: ‘Tôi
là
mỗ giáp, trước kia cuồng si, giờ hết cuồng si, nhưng các
vị phạm hạnh nhắc lại những việc cuồng si trước kia
mà tôi không biết có làm hay không cũng không nhớ. Nay tôi
đến trước Tăng xin pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc
ấy). Kính xin Tăng cho tôi pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt
(việc ấy)". (Xin như vậy đến lần thứ 2, thứ 3). Bấy
giờ, Tăng nên nói với Tỉ-kheo ấy rằng: "Tăng không nói
về việc của Thầy. Ai nói về việc của Thầy thì hãy đến
bảo họ chớ nói nữa". Thế
rồi, Tỉ-kheo này (cuồng si) nên đến Tỉ-kheo kia (phạm hạnh),
nói: "Thưa trưởng lão, những việc làm trước đây của tôi
trong lúc cuồng si, nay tôi không biết là mình có làm hay không
cũng không nhớ nữa, xin trưởng lão chớ nhắc lại những
việc làm của tôi trong lúc cuồng si". Vị
Tỉ-kheo ấy nếu chấm dứt thì tốt, nếu không chấm dứt
thì nên nói với Hòa-thượng, A-xà-lê và bạn bè quen biết
của ông ta như sau: "Thưa trưởng lão, đệ tử của Ngài và
bạn bè tri thức nói về những việc làm của tôi trong lúc
cuồng si trước đây. Tôi không biết mình có làm hay không
cũng không nhớ nữa. Xin trưởng lão hãy quở trách vị ấy,
bảo chớ có nhắc lại nữa". Hòa
thượng A-xà-lê của vị ấy nên quở trách rằng: "Ngươi
bất thiện, không biết giới luật, ngươi không nghe Thế Tôn
nói rằng việc làm trong lúc cuồng si tâm loạn không có tội
hay sao?" Người
lắm lời kia, nếu nhận (sự quở trách) thì tốt. Khi ấy,
Tăng nên làm Yết-ma. Người làm Yết-ma phải xướng như sau: "Xin
Ðại-đức Tăng lắng nghe! Trưởng lão Nan-đề, Bát-già-nan-đề
trước đây cuồng si, giờ hết cuồng si, mà các vị phạm
hạnh nhắc lại những việc làm trong lúc cuồng si trước
kia, rồi các Thầy tự nói: "Không biết có làm hay không tôi
cũng không nhớ nữa". Nay họ đến trước Tăng xin Pháp Bất
Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, nay Tăng cho Nan-đề, Bát-già-nan-đề pháp
Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Ðây là lời tác bạch. Xin
Ðại-đức Tăng lắng nghe! Nan-đề và Bát-già-nan-đề trước
đây cuồng si, giờ hết cuồng si, mà các vị phạm hạnh nhắc
lại những việc làm trong lúc cuồng si, rồi họ tự nói:
"Không biết có làm hay không tôi cũng không nhớ nữa". Nay
họ đến trước Tăng xin pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt
(việc ấy). Nay Tăng cho các vị ấy pháp Bất Si Tì-ni để
dập tắt (việc ấy). Các Ðại-đức nào bằng lòng cho Nan-đề,
Bát-già-nan-đề pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt (việc ấy)
thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói: "Ðây là lần Yết-ma
thứ nhất. (lần thứ 2, thứ 3 cũng nói như vậy)". Tăng
đã cho mỗ giáp, mỗ giáp pháp Bất Si Tì-ni để dập tắt
(việc ấy) xong. Vì Tăng bằng lòng nên im lặng. Việc ấy
cứ như thế mà thi hành". Thế
rồi, Phật hỏi các Tỉ-kheo: "Ðã [332c] cho Nan-đề, Bát-già-nan-đề
pháp Bất Si Tì-ni chưa?" Họ
đáp: "Ðã cho rồi, bạch Thế Tôn". Phật
nói: "Nếu hội đủ 5 phương diện thì thành ra cho pháp Bất
Si Tì-ni phi pháp. Năm phương diện đó là gì? Ðó là: 1 - Không
si, tưởng là si mà cho; 2 - Không thỉnh cầu người khơi lên
sự việc khiến cho tâm họ nhu nhuyến; 3 - Không đến trước
Tăng xin pháp Bất Si Tì-ni; 4 - Làm phi pháp; 5 - Tăng không hòa
hợp. Ðó
gọi là hội đủ 5 điều phi pháp khi cho pháp Bất Si Tì-ni. Ngoài
ra, còn có 5 điều như pháp thành tựu khi cho pháp Bất Si Tì-ni.
năm điều đó là gì? Ðó là: 1- Không si, tưởng là không
si mà cho; 2 - Cầu xin người khơi lên sự việc khiến cho tâm
họ nhu nhuyến; 3 - Ðến trước Tăng xin pháp Bất Si Tì-ni;
4 - Làm đúng pháp; 5 - Tăng hòa hợp. Ðó
gọi là 5 điều như pháp thành tựu khi cho pháp Bất Si Tì-ni. Bấy
giờ, tôn giả A-nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ
chân Phật, rồi bạch: "Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Bất
Si Tì-ni?" Phật
nói với A-nan: "Có Tỉ-kheo trước cuồng si, nay hết cuồng
si mà các vị phạm hạnh nhắc lại việc làm cuồng si trước
kia, thì lúc ấy phải gấp rút tập họp Tăng. Khi tập họp
Tăng rồi, căn cứ theo kinh, theo luật, tùy theo sự thực của
Tỉ- kheo ấy mà cho pháp Bất si tì ni. Như vậy đó A-nan, đó
là như pháp, như luật, như lời Thế Tôn dạy, mà cho pháp
Bất Si Tì-ni để chấm dứt sự hủy báng gây ra tranh cãi.
Sau khi xong việc, nếu có Tỉ-kheo khách cho đến những kẻ
ngu si vô trí giống như trâu dê làm phát khởi lại sự tranh
cãi, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ðó gọi là dùng Bất Si Tì-ni
để dập tắt sự hủy báng gây ra tranh cãi". *
Sự tranh cãi về tội (tội tránh): Nếu Tỉ-kheo và Tỉ- kheo
tranh luận nhau về việc phạm tội như Ba-la-di, cho đến Việt-tì-ni,
thì trong trường hợp này nên dùng 2 loại Tì-ni để diệt
trừ. Ðó là: Tự ngôn Tì-ni và Mích-tội-tướng Tì-ni. 4-
Tự-ngôn Tì-ni: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Huệ mạng La-hầu-la
đến giờ khất thực, liền khoác y, cầm bát vào thành Xá-vệ,
tuần tự khất thực, khất thực xong trở về tinh xá. Rồi
khi ăn xong, Thầy đem y, bát cất lại chỗ cũ, cầm tọa cụ
định đến rừng Ðắc Nhãn ngồi thiền, thì giữa đường,
Thầy thấy một Tỉ-kheo làm điều phi phạm hạnh với một
phụ nữ. Sau khi bị trông thấy, ác Tỉ-kheo này bèn suy nghĩ:
"Con của Phật là La-hầu-la trông thấy ta làm điều phi phạm
hạnh, chắc chắn sẽ nói với Thế Tôn. Trong lúc y chưa nói,
ta nên đến chỗ Thế Tôn, nói trước về tội lỗi của hắn".
Thế rồi, ác Tỉ-kheo ấy đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ chân Phật, bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Con trông thấy
Tôn-giả La-hầu-la khi đi đến rừng Ðắc Nhãn, đã làm điều
phi pháp với một phụ nữ ở dọc đường". Lúc ấy, Thế
Tôn im lặng không trả lời. Thế còn Tôn-giả La-hầu-la ,
sau khi ngồi thiền dưới một gốc cây, bèn xuất thiền, đi
đến chỗ Thế Tôn, nhưng không nhớ sự việc của ác Tỉ-kheo,
theo thường lệ, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi đứng
hầu một bên. [333a] Khi ấy, vì muốn cho La-hầu-la nhớ lại
sự việc vừa rồi, Thế Tôn bèn hóa ra ác Tỉ-kheo đứng
ngay trước mặt. La-hầu-la thấy rồi, liền gợi lại ký ức,
bạch với Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn! Vừa rồi con đi vào rừng,
thì trông thấy Tỉ-kheo này đang làm điều phi phạm hạnh
với một phụ nữ". Phật
nói: "La-hầu-la, nếu Tỉ-kheo ấy cũng nói thế sí "Con thấy
La-hầu-la làm việc phi phạm hạnh ở giữa đường", thì phải
tính sao?" Tôn
giả La-hầu-la bèn bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Con không
có việc đó". -
Nếu Tỉ-kheo kia cũng nói thế này: "Con không có việc đó",
thì phải tính sao? -
Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy, thì chỉ có Thế Tôn mới hiểu
con. -
Nếu Tỉ-kheo kia cũng nói thế này: "Chỉ có Thế Tôn mới
hiểu được việc này của con", thì phải làm sao? -
Kính xin Thế Tôn cho con pháp Tự-ngôn-trị. -
Nếu Tỉ-kheo kia cũng nói: "Kính xin Thế Tôn cho con pháp Tự-ngôn-trị",
thì phải tính sao đây? -
Nếu như vậy thì xin Thế Tôn cho 2 chúng con pháp Tự-ngôn-trị. Lúc
bấy giờ, Thế Tôn bèn đi đến chỗ có nhiều Tỉ-kheo, trải
tọa cụ ngồi, rồi trình bày rõ với các Tỉ-kheo về sự
việc trên. Nói xong, Phật bảo các Tỉ-kheo: "Cho Tỉ-kheo này
pháp Tự-ngôn Tì-ni để dập tắt (việc ấy).Vì sao vậy?
Vì giá như đời sau có ác Tỉ-kheo hủy báng Tỉ-kheo thanh
tịnh rồi Tỉ-kheo thanh tịnh không được pháp Tự-ngôn-trị,
liền bị đuổi đi". Thế rồi, Phật bảo với các Tỉ-kheo:
"Có 8 việc phi pháp khi cho pháp Tự-ngôn Tì-ni. Tám pháp đó
là gì? Ðó là: 1- Hỏi tội nặng (quan trọng) mà đáp tội
nhẹ, song tội nhẹ ấy lại không thật, đó gọi là cho pháp
Tự-ngôn-trị phi pháp; 2- Hỏi tội nhẹ mà đáp tội nặng;
3- Hỏi tội có dư tàn mà đáp không có dư tàn; 4- Hỏi tội
không có dư tàn mà đáp có dư tàn; 5- Hỏi tội nhẹ mà đáp
tội nhẹ; 6- Hỏi tội nặng mà đáp tội nặng; 7- Hỏi tội
có dư tàn mà đáp có dư tàn; 8- Hỏi tội không có dư tàn
mà đáp tội không có dư tàn. Nhưng tất cả đều không nói
thật tội, đó gọi là phi pháp trao cho Tự-ngôn-trị. Trái
lại có 8 điều như pháp khi trao cho Tự-ngôn-trị. Tám điều
đó là gì? Ðó là: 1- Hỏi tội nặng mà đáp tội nhẹ, nhưng
thật có tội nhẹ nên đáp tội nhẹ; đó gọi là như pháp
trao cho Tự-ngôi-trị; 2- Hỏi tội nhẹ mà đáp tội nặng;
3- Hỏi tội có dư tàn mà đáp tội không có dư tàn; 4- Hỏi
tội không có dư tàn mà đáp tội có dư tàn; 5- Hỏi tội
nặng mà đáp tội nặng; 6- Hỏi tội nhẹ mà đáp tội nhẹ;
7- Hỏi tội có dư tàn mà đáp tội có dư tàn; 8- Hỏi tội
không có dư tàn mà đáp tội không có dư tàn. Như vậy tất
cả đều nói thật. Ðó
gọi là 8 điều như pháp trao cho Tự-ngôn-trị. Bấy
giờ, tôn giả A-nan đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân
Phật, rồi bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Trong luật gọi
là Tự-ngôn Tì-ni để dập tắt tranh cãi, vậy thế nào là
Tự-ngôn Tì-ni để dập tắt tranh cãi?" Phật
nói với A-nan: "Nếu Tỉ-kheo với Tỉ-kheo moi móc tội lỗi
của nhau, hoặc [333b] Ba-la-di cho đến tội Việt-tì-ni, này
A-nan, lúc ấy nên cấp tốc tập họp Tăng, khi tập họp Tăng
rồi, phải căn cứ kinh, luật, lời Phật dạy, tùy theo sự
thực của Tỉ-kheo này mà cho pháp Tự-ngôn Tì-ni để dập
tắt tranh cãi. Như vậy đó A-nan, nếu sau khi như pháp, như
luật, như lời Thế Tôn dạy, dùng Tự-ngôn Tì-ni để dập
tắt tranh cãi rồi mà có Tỉ-kheo khách cho đến (những người
khác) làm phát sinh (sự tranh cãi) trở lại, thì phạm tội
Ba-dạ-đề. Ðó gọi là dùng Tự ngôn tì ni để dập tắt
sự tranh cãi. 5-
Mích-tội-tướng Tì-ni: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, trưởng lão Thi-lợi-da-bà thường
phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa, nên Tăng chúng tập họp định
làm pháp Yết-ma thì Thi-lợi-da-bà không đến. Tăng bèn sai
sứ giả đi gọi. Sứ giả đến nói: "Trưởng lão, Tăng chúng
đang tập họp, định làm Yết-ma". Thi-lợi-da-bà
suy nghĩ: "Chính là vì ta mà làm Yết-ma vậy", nên tâm sinh
sợ hãi, bất đắc dĩ phải đến. Các
Tỉ-kheo hỏi: "Trưởng lão phạm Tăng-già-bà-thi-sa phải không?" Thầy
đáp: "Phạm". Thế
rồi, tâm Thầy sinh hoan hỉ, suy nghĩ: "Các vị phạm hạnh
nêu tội mà có thể sám hối, chứ không phải không thể sữa
trị". Nghĩ thế, Thầy liền bạch với chúng Tăng: "Cho phép
tôi ra ngoài một lát". Sau
đó, các Tỉ-kheo bàn nhau: "Tỉ-kheo này khinh suất, là người
không quả quyết, ra ngoài rồi, lát nữa thế nào cũng nói
dối. Chúng ta phải hỏi ông 3 lần để xác định cho thật
chắc rồi mới làm Yết-ma". Thi-lợi-da-bà
ra ngoài rồi, suy nghĩ: "Vì sao ta lại nhận tội này? Các Tỉ
kheo thường trị tội ta, nay ta không nên nhận tội". Thế
rồi, các Tỉ-kheo liền gọi Thi-lợi-da-bà vào. Khi vào rồi
họ hỏi Thầy: "Có thật ông phạm Tăng-già-bà-thi-sa không?" Thầy
đáp: "Không phạm". Các
Tỉ-kheo hỏi: ‘Vì sao vừa rồi ở giữa Tăng ông nhận tội,
giờ lại nói không phạm?" Thi-lợi-da-bà
nói: "Tôi không nhớ việc ấy". Các
Tỉ-kheo liền đem việc ấy đến bạch với Phật. Phật bèn
bảo gọi Thi-lợi-da-bà đến. Khi Thầy đến rồi, Phật liền
đem việc đó hỏi kỹ Thi-lợi-da-bà: "Ông có việc đó thật
chăng?" Thầy
đáp: "Có thật như vậy". Phật
liền nói với các Tỉ-kheo: "Thi-lợi-da-bà này ở giữa chúng
Tăng, thấy tội lại nói không thấy, rồi bảo rằng: "Tôi
không nhớ". Vậy Tăng phải trao cho ông pháp Mích-tội-tướng
Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Người làm Yết-ma nên nói
như sau: "Xin
Ðại-đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo Thi-lợi-da-bà ở giữa
Tăng, thấy tội thì nói là không thấy, không thấy lại nói
có thấy, rồi tự bảo: "Tôi không nhớ". Nếu thời gian thích
hợp đối với Tăng, Tăng nên cho Thi-lợi-da-bà Tỉ- kheo pháp
Mích-tội-tướng Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Ðây là
lời tác bạch. [333c]
Ðại-đức Tăng xin lắng nghe! Tỉ-kheo Thi-lợi-da-bà ở giữa
Tăng, thấy tội thì bảo là không thấy, không thấy lại nói
thấy, rồi tự nói: "Tôi không nhớ". Nay Tăng cho Tỉ-kheo Thi-lợi-da-bà
pháp Mích-tội-tướng Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Các
Ðại-đức nào bằng lòng cho Tỉ-kheo Thi-lợi-da-bà pháp Mích-tội-tướng
Tì-ni để dập tắt (việc ấy) thì im lặng, ai không bằng
lòng hãy nói. Ðây là lần Yết-ma thứ nhất. (lần thứ 2,
thứ 3 cũng nói như thế). Tăng
đã bằng lòng cho Tỉ-kheo Thi-lợi-da-bà pháp Mích-tội-tướng
Tì-ni để dập tắt (việc ấy), vì Tăng im lặng. Vậy việc
ấy cứ như thế mà thi hành". Thế
rồi Phật nói với các Tỉ-kheo: "Khi Tăng đã cho pháp Yết-ma
Mích-tội-tướng Tì-ni cho Tỉ-kheo ấy xong rồi, thì Tỉ-kheo
ấy phải chấp hành 8 pháp suốt đời. Tám pháp đó là gì?
Ðó là: 1- Không được độ người (xuất gia); 2- Không được
cho người thọ giới cụ túc; 3- Không được cho người y
chỉ; 4- Không được nhận Tăng mời theo thứ tự; 5- Không
được làm sứ giả cho Tăng; 6- Không được làm người thuyết
pháp cho chúng Tăng; 7- Không được làm người tụng giới
cho chúng Tăng; 8- không được làm người Bố-tát Yết-ma cho
chúng Tăng. Khi Tăng làm Yết-ma rồi, Tỉ-kheo này suốt đời
không được bỏ (pháp Yết-ma ấy). Ðó gọi là 8 pháp". Bấy
giờ, tôn giả A-nan, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ
chân Phật, rồi bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Trong luật
nói về pháp Mích-tội-tướng Tì-ni, vậy thế nào gọi là
Mích-tội-tướng Tì-ni?" Phật
nói với A-nan: "Nếu có Tỉ-kheo nào ở giữa Tăng, thấy tội
mà nói không thấy, không thấy lại nói thấy, rồi tự nói:
"Tôi không nhớ", tỏ thái độ khinh mạn, thì phải tức tốc
tập họp Tăng. Khi tập họp Tăng rồi, căn cứ vào kinh, luật
và tùy theo sự thật của Tỉ-kheo ấy mà cho pháp Mích-tội-tướng
Tì-ni để dập tắt (việc ấy). Sau khi xong việc, Tăng nên
nói với Tỉ-kheo ấy: "Trưởng lão, Ông chẳng được lợi
ích gì! Vì sao ở giữa Tăng, thấy tội mà nói không thấy,
không thấy lại nói có thấy, rồi tự bảo: "Tôi không nhớ?"
Vì Ông đã nói những lời ấy ở giữa Tăng, nên Tăng cho
ông pháp Yết-ma Mích-tội-tướng". Như vậy đó A-nan, đó
là như pháp, như luật, như lời Thế Tôn dạy mà cho pháp
Mích-tội-tướng Tì-ni để dập tắt sự tranh cãi. Sau đó,
nếu Tỉ-kheo khách hay người nào làm phát sinh sự tranh cãi
trở lại, thì phạm Ba-dạ-đề. Ðó gọi là dùng Mích-tội-tướng
Tì-ni để dập tắt sự tranh cãi về tội phạm". Sự
tranh cãi về lời nói phải dùng 3 pháp Tì-ni để dập tắt,
trước đã nói về hiện tiền Tì-ni rồi. 6-
Ða-mích Tì-ni diệt tướng ngôn tránh Khi
Phật an trú tại Câu-diệm-di, thành Xá-vệ, bấy giờ có 2
hội chúng, mỗi hội chúng đều có một Thầy (thủ lãnh).
Vị lãnh tụ hội chúng thứ nhất tên Thanh Luận, vị lãnh
tụ hội chúng thứ 2 tên Thiện Thích. Thanh Luận có một đệ
tử tùy tùng tên Bạc Khẩu. Thiện Thích có một đệ tử
tùy tùng tên Ðiếm Bạch. Vị Lãnh tụ thứ nhất [334a] có
đệ tử y chỉ tên Ðầu Ðầu Già. Vị Lãnh tụ thứ 2 có
đệ tử y chỉ tên Trá Già. Vị thứ nhất có đệ tử Ưu-bà-tắc
tên Ðầu-ma. Vị thứ 2 có đệ tử Ưu-bà-tắc tên Vô Yên.
Vị thứ nhất có đàn việt là Ưu-đà-già. Vị thứ 2 có
đàn việt là cư sĩ Cừ Sư La. Vị thứ nhất có đệ tử
Ưu-bà-di là phu nhân Xá-di. Vị thứ 2 có đệ tử Ưu-bà-di
là Ma-kiền-đề-nữ, tên A-nậu-ba-ma. Vị thứ nhất có đệ
tử thanh y ở hậu cung tên Tần-đầu-ma-ra. Vị thứ 2 có đệ
tử thanh y ở hậu cung tên Ba-đà-ma-ra. Mỗi người đều có
500 Tỉ-kheo, 500 Tỉ-kheo-ni, 500 Ưu-bà-tắc, 500 Ưu-bà-di. Vị
lãnh tụ thứ nhất khi đi cầu xong, định dội nước, thì
thấy trong nước có trùng, liền lấy cỏ để trên thạp nước
làm dấu. Người đệ tử y chỉ của vị lãnh tụ thứ 2,
sau đó vào cầu tiêu, trông thấy trên thạp nước có cỏ,
liền nói: "Kẻ nào mà không biết hổ thẹn, đem cỏ bỏ trên
thạp đựng nước!" Người
đệ tử tùy tùng của vị lãnh tụ thứ nhất nghe lời nói
ấy, liền nói với người đó: "Vì sao ngươi dám bêu rêu
tên của Hòa-thượng ta, bảo là kẻ không biết hổ thẹn?" Do
sự kiện này mà 4 chúng đệ tử của 2 Hội chúng sinh ra tranh
cãi dữ dội. Bấy giờ, khắp thành phố Câu-diệm-di đều
nghe có tiếng tranh cãi, cả trong ngoài thành đều vang dội
kinh động, chẳng khác gì vua chim cánh vàng vào biển bắt
rồng, khiến cho nước nổi sóng cuồn cuộn. Sự tranh cãi
nổi lên ồn ào chỉ xung quanh việc cỏ hay không phải cỏ.
Vì các Tỉ-kheo đấu tranh nhau, nên cùng sống chung một trú
xứ mà không hòa hợp. Họ nói, nào là đúng pháp, phi pháp;
đúng luật, phi luật; tội nặng, tội nhẹ; tội có thể sữa
trị, tội không thể sữa trị; Yết-ma đúng pháp, Yết-ma
phi pháp; Yết-ma có hòa hợp, Yết-ma không hòa hợp; việc
nên làm, việc không nên làm .v.v. Lúc
bấy giờ, tại trú xứ có một Tỉ-kheo nói như sau: "Này các
Ðại-đức, đó là việc phi pháp, phi luật, không phù hợp
với kinh, không phù hợp với luật, không phù hợp với luận,
trái với kinh, luật, luận, chỉ khởi lên những sự ô nhiễm,
phiền não. Những gì tôi biết mới là đúng pháp, đúng luật,
đúng lời Phật dạy, phù hợp với kinh, luật, luận, như
thế sẽ không sinh ra nhiễm ô, phiền não". Rồi Thầy tiếp:
"Này các Ðại-đức, tôi không thể dập tắt được sự tranh
cãi này, tôi sẽ đến thành Xá-vệ, tới chỗ Thế Tôn, hỏi
về cách dập tắt sự tranh cãi này". Thế rồi, Thầy đi đến
chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, đứng qua một
bên, bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Các Tỉ-kheo tại Câu-diệm-di
đấu tranh nhau, cãi vã nhau, cùng sống một trú xứ mà không
hòa hợp, ... (cho đến) con không thể dập tắt được sự
tranh cãi, nên con phải đến thưa với Thế Tôn về việc dập
tắt sự tranh cãi này. Kính xin [334b] Thế Tôn vì các Tỉ-kheo
mà dập tắt sự tranh cãi này". Khi
ấy, Phật bảo Ưu-ba-li: "Ông hãy đến chỗ các Tỉ-kheo tại
Câu-diệm-di, căn cứ theo pháp, luật, theo lời Phật dạy mà
cho họ pháp Mích-tội Tì-ni để dập tắt sự tranh cãi ấy,
như cách giải quyết sự việc mà các người họ Thích và
các người Ly Xa đã áp dụng. Nếu sự việc không thể giải
quyết nhanh được thì cũng phải cho pháp Ða-mích Tì-ni để
dập tắt. Này Ưu-ba-li, sự tranh cãi khởi lên từ 3 chỗ:
"Hoặc một người, hoặc nhiều người, hoặc chúng Tăng".
Do đó, cũng phải xả tại 3 chỗ, lấy tại 3 chỗ và diệt
tại 3 chỗ. Này Ưu-ba-li, ông hãy đến chỗ các Tỉ-kheo tại
Câu-diệm-di, như pháp, như luật, như lời Phật dạy mà dập
tắt sự tranh cãi ấy theo nguyên tắc Ða-mích Tì-ni như trường
hợp Hiện-tiền Tì-ni đã nói rõ ở trên, (cho đến) nếu
tâm Tỉ-kheo ấy nhu nhuyến thì Tăng nên biểu quyết theo đa
số. Tỉ-kheo nào hội đủ 5 pháp thì Tăng nên làm Yết-ma
cử người ấy làm người xử đoán. Thế nào là 5 pháp? Ðó
là: 1-
không thiên vị; 2- Không sân hận; 3- Không sợ hãi; 4- Không
si ám; 5- Biết ai rút thẻ rồi, ai chưa rút thẻ. Người
làm Yết-ma nên nói như sau: "Xin
Ðại-đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu 5 pháp
có thể vì chúng Tăng làm người đưa thẻ. Nếu thời gian
thích hợp đối với Tăng, Tăng hãy cử Tỉ-kheo mỗ giáp làm
người đưa thẻ. Ðây là lời tác bạch. Xin
Ðại-đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu 5 pháp,
nay Tăng cử Tỉ-kheo mỗ giáp làm người đưa thẻ. Các Ðại-đức
nào bằng lòng cử Tỉ-kheo mỗ giáp làm người đưa thẻ thì
im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Tăng
đã bằng lòng cử Tỉ-kheo mỗ giáp làm người đưa thẻ xong.
Vì Tăng bằng lòng nên im lặng. Việc ấy cứ như thế mà
thi hành". Sau
khi Yết-ma xong, Tỉ-kheo này phải làm 2 loại thẻ: Một loại
màu đen và một loại màu trắng, không được xướng rằng:
"Phi pháp lấy thẻ đen, như pháp lấy thẻ trắng", mà nên
xướng thế sí "Ai nói thế này thì lấy thẻ đen, ai nói thế
này thì lấy thẻ trắng". Người
đưa thẻ khi đưa thẻ phải tập trung tâm ý vào 5 pháp kể
trên rồi mới đưa thẻ; không nên làm bạn với những kẻ
không như pháp, mà nên làm bạn với những kẻ như pháp. Khi
đưa thẻ xong đem đếm, nếu thấy phe phi pháp nhiều hơn chừng
một thẻ, thì không nên xướng: "Những người phi pháp nhiều,
những người như pháp ít", mà nên tạo phương tiện giải
tán. Nếu thời điểm bữa ăn trước đã đến thì nên xướng
lệnh: "Bữa ăn trước". Nếu thời điểm bữa ăn sau đã đến,
thì nên xướng lệnh: "Bữa ăn sau". Nếu thời điểm tắm
rửa đến, thì nên xướng lệnh: "Tắm rửa". Nếu thời điểm
thuyết pháp đến, thì nên xướng lệnh: "Thời điểm thuyết
pháp đã đến". Nếu giờ tụng luật đã đến thì nên xướng:
"Giờ tụng luật đã đến". Nếu
phe phi pháp biết được (sự tình) bèn nói rằng: "Chúng tôi
thắng lợi mà vì sao lại giải tán? Giờ đây chúng tôi không
đứng dậy, phải giải quyết việc ấy dứt khoát ngay tại
chỗ ngồi này", thì lúc ấy nếu bên cạnh tinh xá có một
ngôi nhà nhỏ không có côn trùng, nên sai tịnh nhân phóng hỏa
đốt, rồi hô hoán: "Lửa cháy, lửa cháy", liền đứng dậy
chạy đi chữa lửa. Hoặc biết tại trú xứ gần đó có Tỉ
kheo như pháp, thì nên đi kêu gọi: "Vừa rồi có phát thẻ
vừa xong, nhưng những người phi pháp thì nhiều mà những
người như pháp thì ít, trưởng lão hãy vì Phật pháp mà
đến đó làm sao cho những người lấy thẻ như pháp thì nhiều,
để cho Phật pháp được tăng trưởng, về phần Trưởng
lão cũng được lợi ích, công đức". Nếu
người ấy nghe lời yêu cầu này mà không đến, thì phạm
tội Việt-tì-ni. Trái lại, nếu Thầy ấy đến thì phải
phát thẻ trở lại. Khi phát thẻ xong bèn đem đếm, nếu thấy
thẻ trắng nhiều hơn một cái, thì không nên xướng: "Nhiều
hơn một cái", mà nên xướng rằng: "Những người nói như
thế này nhiều, những người nói như thế kia ít". Xướng
như thế rồi, nên theo phe đa số. Nếu
hội đủ 5 pháp sau đây thì sự phát thẻ thành ra phi pháp.
Năm pháp đó là gì? Ðó là: 1-
Những người nói như pháp thì ít mà những người nói phi
pháp thì nhiều; 2- Những người nói như pháp không nhất trí,
những người nói phi pháp nhất trí; 3- Phi pháp nói là đúng
pháp, đúng pháp nói là phi pháp; 4- Do việc phát thẻ này mà
gây ra phá Tăng.; 5- Tăng chia rẽ nhau. Ðó
gọi là 5 điều phi phái. Trái lại 5 điều trên thì gọi là
sự phát thẻ đúng pháp. Bấy
giờ tôn giả A-nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ
chân Phật, rồi bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Trong luật dùng
Ða-mích Tì-ni để dập tắt (tranh cãi). Vậy thế nào gọi
là dùng Ða-mích Tì-ni để dập tắt (tranh cãi)?" Phật
nói với A-nan: "Nếu các Tỉ-kheo đối với kinh, luật, oai
nghi mà nói rằng: "Ðiều này là tội, là chẳng phải tội;
là tội nhẹ, là tội nặng; là tội có thể trị phạt, là
tội không thể trị phạt; là tội có dư tàn, là tội không
có dư tàn; do đó mà sinh ra cãi vã lẫn nhau, thì lúc ấy phải
cấp tốc tập họp Tăng, căn cứ theo pháp, luật, lời Phật
dạy và tùy theo sự thật mà dập tắt ngay việc ấy. Nếu
không thể giải quyết được, mà nghe ở một trú xứ nào
đó có vị trưởng lão Tỉ-kheo tụng kinh, tụng luật, tụng
luận, hoặc một Tỉ kheo thiếu niên, tụng kinh, tụng luật,
tụng luận, thì phải nhanh chóng đến đó vấn kế, hoặc
mời về, rồi tùy theo Tỉ-kheo ấy chỉ vẽ mà trao cho pháp
Ða-mích Tì-ni để dập tắt sự tranh cãi. Này A-nan, nếu sau
khi dập tắt việc ấy rồi mà có Tỉ-kheo khách ..., cho đến
Tỉ-kheo mới thọ giới, làm phát khởi (sự tranh cãi) trở
lại, thì phạm Ba-dạ-đề. Ðó gọi là Tướng-ngôn-tránh
dùng Ða-mích Tì-ni để dập tắt. 7-
Như thảo bố địa Tì-ni diệt tướng ngôn tránh: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ các Tỉ-kheo ở Câu-diệm-di
tranh cãi nhau, cùng sống một trú xứ mà không hòa hợp. Họ
nói nào là pháp, phi pháp, luật phi luật.... cho đến Tôn-giả
Ưu-ba-ly nói với Tỉ-kheo ấy (vị sứ giả): "Này Trưởng
lão, tôi đến đó rồi, sẽ làm các pháp Yết-ma [335a] để
trừng trị, trục xuất các Ông. Khi ấy các Ông chớ có buồn". Thế
rồi Tỉ-kheo sứ giả nói: "Tôi muốn ra ngoài một lát". Khi
ra ngoài rồi, ông ta suy nghĩ: "Nếu ta theo tôn giả Ưu-ba-li
trở về, thì ông ấy có thể trị tội chúng ta, chi bằng
giờ đây ta trở về Câu-diệm-di một mình, cùng nhau dập
tắt sự tranh cãi ấy". Nghĩ thế rồi, Thầy trở về Câu-diệm-di,
nhưng chung cục vẫn không dập tắt được sự tranh cãi, bèn
thưa (với vị Thượng Tọa trong trú xứ): "Trưởng lão, bản
thân tôi không thể dập tắt được sự tranh cãi này, nay
tôi phải trở lại thành Xá-vệ để cầu viện dập tắt
sự tranh cãi". Nói thế rồi, Thầy liền đi đến thành Xá-vệ,
tới chỗ tôn giả Ưu-ba-li, thưa như sau: ‘Lành thay Tôn-giả,
hãy vì các Tỉ-kheo ở Câu-diệm-di mà dập tắt sự tranh cãi". Ưu-ba-li
bèn nói với Tỉ-kheo ấy: "Như tôi đã nói với Ông trước
đây, tùy theo sự việc ở đó mà tôi sẽ làm các pháp Yết-ma
để trị phạt, lúc ấy Ông đừng buồn. Tôi sẽ theo ông
mà đi". Tỉ-kheo
ấy đáp: "Tôi không dám trái lệnh nữa". Ưu-ba-li
nói: "Hãy trở lại nơi ấy để dập tắt, chớ làm rối loạn
Tăng chúng ở đây". Thế
rồi Tỉ-kheo sứ giả của Câu-diệm-di liền đi đến chỗ
Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, bạch với Phật: "Bạch
Thế Tôn! Các Tỉ-kheo ở Câu-diệm-di cùng sống một trú xứ
mà không hòa hợp, họ cãi vã nhau. Kính xin Thế Tôn hãy dập
tắt sự tranh cãi ấy". Phật
liền nói với Tỉ-kheo Câu-diệm-di ấy: "Các Ông chớ có đấu
tranh cãi vã với nhau, cùng sống một trú xứ mà không hòa
hợp. Vì sao vậy? Vì trong thời quá khứ xa xưa có thành phố
tên Ca-tì-la, nhà vua tên Bà-la-môn Ðạt-đa .v.v., như trong
kinh Bổn-sinh Trường Thọ Vương đã nói rõ.. Họ bị nước
mất nhà tan như vậy, thế mà Thái Tử Trường Sinh không trả
thù cha, lại còn giải hòa với kẻ thù, không sinh ác tâm.
Nay vì sao các ông đã có lòng tin, xuất gia sống trong chánh
pháp mà còn phẫn nộ, tranh cãi, cùng sống một trú sứ mà
bất hòa?". Thế rồi, Phật bảo Ưu-ba-li: "Ông hãy đến chỗ
các Tỉ-kheo ở Câu-diệm-di, căn cứ theo pháp, theo luật, theo
lời Phật dạy mà trao cho họ pháp Như-thảo-bố-địa Tì-ni
để dập tắt sự tranh cãi ấy. Này Ưu Ba Li, Sự tranh cãi
do 3 chỗ khởi lên, 3 chỗ thủ, 3 chỗ xả và 3 chỗ diệt.
Giá như sự tranh cãi ấy có tính cách lặt vặt thì cùng với
Ưu-bà-tắc giải quyết. Trái lại, nếu sự tranh cãi có tính
cách trầm trọng, thì nên khuyên nhủ Ưu-bà-tắc ra khỏi giới
trường, rồi tùy theo sự thật của Tỉ-kheo ấy, căn cứ
theo pháp, luật mà làm pháp Như thảo bố địa Tì-ni để
dập tắt". Phật
lại nói với Ưu-ba-li: "Nếu Vị Hạ tọa có lỗi lầm, thì
nên đến chỗ Thượng Tọa, cúi đầu đảnh lễ dưới chân,
nói như sau: "Thưa trưởng lão, tôi đã làm điều phi pháp,
xâm phạm trưởng lão, có lỗi. Nay tôi sám hối, không dám
tái phạm". Khi ấy Thượng Tọa nên dùng tay xoa đầu (vị
đó), đưa tay đỡ dậy ôm vào lòng và nói: "Tuệ mạng (hiền
giả) tôi cũng có lỗi, xin Thầy hãy tha thứ". [335b]
Trái lại, nếu Thượng Tọa có lỗi, thì nên đến chỗ Hạ
tọa, cầm tay nói: "Tôi đã làm điều phi pháp, có lỗi, nay
xin sám hối với Thầy, không làm như vậy nữa". Lúc ấy,
Hạ tọa nên đứng dậy đảnh lễ chân thượng tọa, rồi
cũng sám hối như trên. Bấy
giờ tôn giả A-nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ
dưới chân Phật, rồi bạch: "Bạch Thế Tôn! Trong luật gọi
Bố thảo Tì-ni, thế nào là Bố thảo Tì-ni?" Phật
nói với A-nan: "Nếu có sự tranh cãi khởi lên trong các Tỉ-kheo,
khiến cho cùng sống một trú xứ mà bất hòa, rồi 2 bộ chúng
không chịu nhịn nhau, sinh ra ác tâm, cãi nhau, bên nào cũng
nói những lời không phù hợp với Phật pháp. Này A-nan, lúc
ấy phải cấp tốc tập họp Tăng, căn cứ vào pháp luật,
rồi một vị có đủ đức hạnh thuộc một bộ chúng, biết
việc, hiểu rõ nhân duyên, có biện tài, thông hiểu pháp,
không khiếp nhược, tán thán công đức hòa hợp chúng Tăng.
Rồi Vị này rời khỏi chỗ ngồi, trật vai áo phải, quỳ
gối, chấp tay, hướng về Bộ chúng thứ 2, nói như sau: "Này
các Ðại-đức, vì sao chúng ta đã có lòng tin, xuất gia, cùng
sống trong một chánh pháp mà tranh cãi nhau, khiến cho cùng
sống chung mà bất hòa, hai bộ chúng không nhường nhịn nhau,
người nào cũng sinh ra ác tâm, lời qua tiếng lại, không tùy
thuận pháp, việc không hay đã khởi lên. Tất cả đều do
không khéo tư duy mà đến như thế, khiến cho hiện đời này
sống khốn khổ, đời sau đọa vào ác đạo. Này các Ðại-đức,
chúng ta ai nấy nên bỏ sự tranh cãi này, như rải cỏ trên
đất. Nay tôi hướng đến các Trưởng lão sám hối, mỗi
người nên nguôi giận, hòa hợp cùng sống chung". Này
A-nan, nếu Bộ chúng thứ 2 tất cả đều im lặng, tỏ sự
đồng ý, thì một vị có đức hạnh, thông minh, biện tài
thuộc bộ chúng này, liền đứng dậy sám hối. Cách sám hối
cũng như trên đã nói. Này A-nan, nếu có sự tranh cãi khởi
lên trong Tăng như vậy, thì phải cấp tốc tập họp Tăng,
căn cứ vào pháp, luật mà dập tắt sự tranh cãi ấy, như
dùng cỏ rải trên đất. Này A-nan, tất cả mọi sự tranh
cãi như đánh nhau, tát nhau, lôi ra khỏi phòng, đại loại
như vậy, hoặc nói 2 lưỡi, vu khống vô căn cứ .v.v. Các
tội như vậy, đều nên dùng nguyên tắc như rải cỏ trên
đất dập tắt . Khi đã dùng phương pháp như rải cỏ tên
đất để dập tắt rồi, mà có Tỉ-kheo khách, thậm chí Tỉ-kheo
mới thọ giới làm phát sinh trở lại, thì phạm Ba-dạ-đề. Tóm
lại, những việc làm của chúng Tăng đều như pháp thực
hiện, như pháp tập họp, như pháp giải trừ, như pháp xả
bỏ, như pháp ban cho, nói chung, những việc làm của các Tỉ-kheo
đệ tử Thế Tôn có vô lượng phương tiện như vậy, đều
nên áp dụng bảy diệt tránh để dập tắt mọi sự tranh
cãi. Ðó gọi là những việc thường làm. Thế nên nói (như
trên). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
Tôn-giả Ưu-đà-di đến giờ khất thực, liền khoác y, cầm
bát vào thành tuần tự khất thực, tới một nhà kia [335c]
Thầy bèn thuyết pháp cho nhiều phụ nữ. Lúc ấy, tôn giả
A-nan cũng tuần tự khất thực, đến gia đình ấy, thấy thế,
liền hỏi: "Trưởng lão đang làm gì đấy?" Ưu-đà-di
đáp: "Tôi thuyết pháp cho các phụ nữ này". Tôn
giả A-na liền nói với Ưu-đà-di: "Vì sao đã nhân danh là
Tỉ-kheo, trong lúc không có người nam hiểu biết, chỉ có
một mình thuyết pháp cho phụ nữ?" Sau
khi A-nan khất thực về, ăn xong, bèn đi đến chỗ Thế Tôn,
cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi đem sự việc trên bạch
đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu-đà-di đến.
Sau khi Thầy đến rồi, Phật liền hỏi: "Ông có làm việc
đó thật không?" Thầy
đáp: "Có thật như vậy, bạch Thế Tôn". Phật
khiển trách: "Ðó là việc xấu. Vì sao trong lúc không có đàn
ông hiểu biết mà ông thuyết pháp cho phụ nữ? Từ nay về
sau, ta không cho phép (Tỉ-kheo), trong lúc không có đàn ông
hiểu biết, mà thuyết pháp cho phụ nữ". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, tôn giả Ưu -đà-di đến giờ khất thực bèn khoác
y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực, đến một nhà
kia, liền thuyết pháp cho nhiều phụ nữ nghe. Lúc ấy, tôn
giả A-nan cũng tuần tự khất thực, đến ngay nhà đó, trông
thấy thế, bèn hỏi: -
Trưởng lão đang làm gì đấy? -
Ðang thuyết pháp cho các phụ nữ. -
Trưởng lão không nghe Thế Tôn nói rằng không có đàn ông
thì không được thuyết pháp cho phụ nữ sao? -
Này A-nan, ông không thấy người đá này, người gỗ này,
người cỏ này, người họa này sao? Một người cũng đủ,
huống chi nhiều người?. Tôn
giả A-nan sau khi khất thực trở về, ăn xong, bèn đem sự
kiện ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi
Ưu-đà-di đến. Khi Thầy đến rồi, Phật liền hỏi: "Ông
có thật như vậy chăng?" Thầy
đáp: "Có thật như vậy" Phật
nói: "Này Ưu-đà-di , vì sao ông lại tự xem mình như người
đàn ông vô tâm, trong sạch mà thuyết pháp cho phụ nữ? Từ
nay về sau, ta không cho phép Tỉ-kheo tự xem mình như người
đàn ông vô tâm, trong sạch mà thuyết pháp cho phụ nữ". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Lúc ấy Ưu-đà-di đến giờ khất thực, liền khoác y, cầm
bát đi vào thành Xá-vệ..., cho đến đáp tôn giả A-nan: "Ông
không thấy đứa trẻ được bồng trên tay kia, đứa trẻ
đang bú, đứa trẻ đang nằm hay sao? Một người cũng đủ,
huống chi nhiều người". Tôn
giả A-nan sau khi khất thực trở về, ăn xong, bèn đem sự
kiện ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi
Ưu - đà- di đến. Khi Thầy đến rồi, Phật liền hỏi: "Ông
có điều đó thật chăng?" Thầy
đáp: "Có thật như vậy". Phật
nói: "Này Ưu-đà-di , vì sao ông lại tự ví mình trong sạch
như đứa trẻ con mà thuyết pháp cho phụ nữ? Từ nay về
sau, các Tỉ-kheo không được tự xem mình như đứa bé đang
bú mà thuyết pháp cho phụ nữ". [336a]
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như
trên. Bấy giờ, Tì-xá-khư Lộc-mẫu bị bệnh. Do đó, tôn
giả A-nan sáng sớm khoác y đi đến đó thăm bệnh, hỏi: "Ưu-bà-di,
bệnh tình thế nào? Có khổ não lắm không?" Bà
đáp: "Bệnh tình không thuyên giảm, không thể chịu nổi,
xin Tôn-giả hãy thuyết pháp cho con nghe". A-nan
đáp: "Ðức Thế Tôn không cho phép Tỉ-kheo không có tịnh
nhân mà thuyết pháp cho phụ nữ". -
Nếu không được nói nhiều, thì có thể nói cho con chừng
5, 6 lời được không?". -
Tôi không biết có được hay không, nên không dám tự tiện
nói. -
Xin cảm ơn Thầy. -
Cầu mong bệnh tật chóng hết. Tôn
giả A-nan nói xong, bèn từ giã, trở về chỗ Phật, cúi đầu
đảnh lễ chân Phật rồi đứng hầu một bên. Phật biết
mà vẫn hỏi: "A-nan, ông từ đâu trở về?" A-nan
bèn đem sự kiện trên bạch đầy đủ với Phật, Phật liền
nói với A-nan: "Tì-xá-khư Lộc-mẫu là người trí tuệ. Nếu
ông nói 5, 6 lời thì bệnh bà ấy liền bớt, được sống
an lạc. Từ nay về sau, ta cho phép (Tỉ-kheo) khi không có đàn
ông, được thuyết pháp cho phụ nữ 5, 6 lời". Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại thành
Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì 10 lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
"Nếu Tỉ-kheo, không có tịnh nhân mà thuyết pháp cho phụ
nữ quá 5, 6 lời thì phạm Ba-dạ-đề, ngoại trừ trường
hợp có đàn ông hiểu biết tham dự". Giải
thích: -
Không
có đàn ông hiểu biết: Nếu người đó mù, hoặc điếc
thì cũng được xem là không có tịnh nhân. Nếu có 2 người
mà một mù, một điếc, thì được xem là một tịnh nhân.
Nhưng có tịnh nhân đang nằm ngủ thì cũng được xem là không
có đàn ông. -
Phụ
nữ: Những người ấy hoặc là mẹ, chị em, hoặc lớn,
hoặc nhỏ, hoặc tại gia, xuất gia. -
Pháp:
Những điều Phật nói, hoặc được Phật ấn chứng.
Những điều Phật nói nghĩa là chính miệng Phật tự nói
ra. Phật ấn chứng nghĩa là những điều do đệ tử Phật
hoặc người khác nói, rồi Phật chuẩn nhận. -
Nói:
Dạy, đọc tụng, hoặc giải thích. -
Năm,
sáu lời: Gồm có 2 loại câu dài và câu ngắn. Câu
dài như "Tất cả việc ác chớ làm". Câu ngắn như "Mắt là
vô thường". -
Ngoại trừ có người đàn ông hiểu biết:
Nếu trẻ em dưới 7 tuổi không hiểu được ý nghĩa của
lời nói tốt, xấu thì không thể gọi là đàn ông hiểu biết.
Nhưng nếu hơn 7 tuổi mà không hiểu được ý nghĩa của lời
nói tốt xấu thì cũng gọi là người đàn ông vô tri. Trái
lại, nếu 7 tuổi hoặc hơn 7 tuổi mà hiểu được ý nghĩa
của lời nói tốt xấu, thì gọi là người đàn ông hiểu
biết. Lại
nữa, nếu có phụ nữ sáng sớm đến lễ tháp, rồi sang đảnh
lễ Tỉ-kheo, [336b] bạch rằng: "Thưa Tôn-giả, tôi muốn nghe
pháp, xin Tôn-giả thuyết pháp cho tôi nghe", thì khi ấy, Tỉ-kheo
được nói một câu rưỡi kệ. Thế rồi, Tỉ-kheo ấy đi
vào thôn xóm, nếu lại nói 5,6 lời nữa cho người phụ nữ
ấy thì phạm Ba-dạ-đề. Sở dĩ đức Thế Tôn chế ra giới
nói 5,6 lời, là nói về số lượng lời nói trong một ngày. Nếu
Tỉ-kheo sống tại A-luyện-nhã mà có phụ nữ đến lễ tháp,
rồi sang đảnh lễ Tỉ-kheo, bạch rằng: "Thưa Tôn-giả, xin
Tôn-giả thuyết pháp cho tôi nghe", thì Tỉ-kheo nên nói với
phụ nữ ấy rằng: "Ðức Thế Tôn chế giới, không có tịnh
nhân, thì không được thuyết pháp cho phụ nữ". Thế rồi,
người phụ nữ ấy bạch với Tỉ-kheo: "Tôi biết Phật pháp,
vậy xin hãy nói cho tôi nghe trong mức độ mà Thế Tôn cho
phép", thì khi ấy Tỉ-kheo được nói với phụ nữ ấy một
câu kệ rưỡi. Nếu 2 người thì được nói 3 câu kệ, không
có tội. Nếu
Tỉ-kheo vào xóm làng để giáo hóa, rồi có nhiều phụ nữ
đến muốn nghe pháp, thì mỗi mỗi được nói 6 câu. Trước
hết, nên nói với phụ nữ thứ nhất: "Tôi nói cho cô 6 câu",
rồi nói với phụ nữ thứ 2: "Tôi nói cho cô 6 câu". Như vậy
thì nói cho nhiều người vẫn không có tội. Thế rồi, Tỉ-kheo
từ giã, các phụ nữ liền đảnh lễ dưới chân Tỉ-kheo
để tiễn biệt. Nếu khi ấy, Tỉ-kheo chú nguyện: "Mong cho
cô nhanh chóng chấm dứt khổ đau", thì phạm Ba-dạ-đề. Nhưng
nếu nói: "Mong cho cô không đau ốm, được sống an lạc",
thì không có tội. Tỉ-kheo
rời khỏi nhà ấy liền đến nhà khác thuyết pháp, rồi người
phụ nữ trước đó bèn đi theo, đứng ở bên ngoài nghe, thấy
thế, Tỉ-kheo hỏi: "Cô cũng đi theo nghe sao?". Cô ta đáp: "Vâng".
Nếu Tỉ-kheo nói: "Cô đã thâm tín, ưa thích pháp như vậy,
thì có thể nghe", thì phạm tội Ba-dạ-đề. Trái lại, tuy
thấy người phụ nữ ấy mà không hỏi chỉ lo thuyết pháp
cho các phụ nữ khác, thì dù phụ nữ ấy nghe pháp Tỉ-kheo
cũng không có tội. Nếu
Tỉ-kheo thuyết pháp cho phụ nữ trong khi không có tịnh nhân
ngồi trong phòng nghe pháp, nhưng có người giúp việc đi qua
lại, vào ra, hoặc có người ở bên ngoài , trên gác dưới
gác nghe thấy được nhau, thì không có tội. Nếu
nhà của người thế tục hướng về mặt đường, Tỉ-kheo
ở trong đó thuyết pháp cho phụ nữ, dù không có tịnh nhân,
nhưng người đi trên đường không dứt, họ đều có thể
nghe thấy được, thì cũng không có tội. Trái lại, nếu người
đi trên đường gián đoạn, không nghe thấy được, thì không
nên thuyết. Nếu
có phụ nữ đến lễ tháp, rồi tới bạch với Tỉ-kheo: "Thưa
Tôn-giả, đây là tháp gì vậy? Xin nói cho tôi biết tên chỗ
này". Khi ấy, Tỉ-kheo được phép nói: "Ðó là tháp chỗ (Phật)
đãn sinh, tháp chỗ Phật đắc đạo, tháp chỗ Phật Chuyển
pháp luân, tháp chỗ Phật Niết-bàn", tùy họ hỏi việc gì,
đều được phép trả lời, mà không có tội. -
Có 4 loại tịnh nhân:
Hoặc thấy mà không nghe, hoặc nghe mà không thấy, hoặc vừa
thấy vừa nghe, hoặc chẳng thấy chẳng nghe. [336c]
- Thấy mà không nghe: Mắt trông thấy Tỉ-kheo với
phụ nữ mà không nghe tiếng nói. (cũng tương tự như vậy
đối với 3 trường hợp kia). Trong trường hợp này (Tỉ-kheo)
phạm tội Việt-tì-ni. Nghe mà không thấy cũng như vậy. Không
thấy, không nghe thì phạm Ba-dạ-đề. Vừa thấy vừa nghe
thì không có tội. Thế nên nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Khoáng Dã, nói rộng như trên. Bấy
giờ có Thầy Tỉ-kheo quản sự dạy nhiều đồng tử (nhi
đồng) đọc từng câu, từng câu Ba-la-da-na (?). Khi nghe thế,
một Bà-la-môn suy nghĩ: "Nơi nào mà có pháp thuần thiện thù
thắng như thế! Ta nên đến đó xin xuất gia". Suy nghĩ thế
rồi, ông bèn đi đến tinh xá Khoáng dã, định xin xuất gia,
nhưng thấy Tỉ-kheo dạy các đồng tử đọc tụng, giống
như âm thanh đọc tụng của các em học sinh trong các trường
học, nên ông suy nghĩ: "Nay ta muốn cầu pháp thù thắng, theo
họ xuất gia, thế mà nghe giọng đọc ê, a ở đây giống
như giọng đọc của các em học sinh trong các trường học,
lại không thể nhận ra ai là Thầy, ai là học trò". Thấy
vậy, nên ông sinh tâm không kính tín, do đó cũng không yết
kiến Phật, mà trở về nhà, không xuất gia nữa. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch đầy đủ với Thế
Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo quản sự đến. Khi Thầy
đến rồi, Phật hỏi: "Ông có thật như vậy chăng?". Thầy
đáp: "Có thật như vậy, bạch Thế Tôn". Phật
liền khiển trách: "Ðó là việc xấu. Vì sao ông dạy người
chưa thọ giới cụ túc tụng cú pháp? Từ nay về sau ta không
cho phép Tỉ-kheo dạy người chưa thọ giới cụ túc tụng
cú pháp". Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang
sống tại thành khoáng Dã phải tập họp lại tất cả, vì
10 lợi ích mà chế giới cho các Ðà-phiêu-ma-la-tử , dù ai
nghe rồi cũng phải nghe lại: --
"Nếu Tỉ-kheo dạy người chưa thọ giới cụ túc đọc cú
pháp thì phạm Ba-dạ-đề". Giải
thích: -
Người
chưa thọ giới cụ túc: Chưa trở thành Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni;
tuy Tỉ-kheo-ni đã thọ giới cụ túc nhưng cũng không được
dạy. -
Cú:
Cùng đọc tụng từng câu chữ, câu chữ. -
Pháp:
Những gì do Phật nói, do Phật ấn chứng. Những gì do Phật
nói nghĩa là do Phật tự nói ra. Những gì do Phật ấn chứng
nghĩa là những điều do đệ tử thanh văn và những người
khác nói được Phật chuẩn nhận, chẳng hạn các pháp thiện
cho đến Niết-bàn. Ðó gọi là pháp. -
Dạy:
Vì họ mà nói, chỉ dạy bằng lời. Nếu
Tỉ-kheo dạy người chưa thọ giới cụ túc đọc câu "Mắt
là vô thường", rồi một lần đọc lên, một lần lập lại
và một lần gián đoạn, mà Thầy trò cùng đọc vui vẻ, lưu
loát, thì phạm Ba-dạ-đề. Ðối với tai, mũi, lưỡi, thân,
ý, 18 giới, 5 ấm, 6 giới, cho đến các pháp khổ, không, vô
thường, vô ngã cũng như vậy. [337a]
Nếu Tỉ-kheo dạy đệ tử đồng hành, đệ tử y chỉ các
loại kinh như kinh Ba-la-da-na, kinh Luận nạn, kinh A nậu đạt
trì, kinh Duyên giác ..., mà đệ tử cùng đọc lên, cùng lập
lại, cùng gián đoạn, thì Thầy nên bảo đệ tử như sau:
"Ngươi đợi ta đọc dứt câu rồi ngươi mới đọc". Nếu
dạy như vậy mà đệ tử không vâng lời, thì không nên dạy
nữa. Nếu đệ tử nói: "Xin Thầy dạy cho con kinh khác", thì
lúc ấy, Thầy nên bảo: "Nếu ngươi không đọc theo ta, thì
ta sẽ dạy ngươi tiếp". Ðối với các đệ tử như vậy,
cho đến các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, gặp trường hợp như thế,
cũng không được dạy. Nếu
các Tỉ-kheo cùng tụng kinh, thì Thượng tọa nên tụng, còn
Hạ tọa nên chú tâm im lặng theo dõi. Nếu Thượng Tọa tụng
không lưu loát, thì Hạ tọa nên tụng, còn Thượng tọa, nên
chú tâm âm thầm tụng theo, cho đến Ưu-bà-di cũng như vậy. Khi
trong Tăng chúng cùng xướng đọc kệ, thì (mọi người) không
được cùng đọc một bài kệ, mà lúc ấy mỗi người nên
đọc một bài kệ khác nhau (?). Thế nên nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên, cũng như
trong giới vọng ngữ thứ tư đã nói rõ nhân duyên các sự
việc, chỗ khác nhau là ở đây nói thật, cho đến chỗ Phật
nói với các Tỉ-kheo: "Ðó là việc xấu, ví như dâm nữ bán
nhan sắc để tự nuôi sống. Các ông cũng vậy, dùng pháp
chân thật vi diệu để nói với người, thì chẳng khác gì
dâm nữ vì miệng, bụng mà bán nhan sắc để nuôi mạng sống".
Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại
thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì 10 lợi ích
mà chế giới cho các Tỉ- kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe
lại: --
"Nếu Tỉ-kheo tự xưng mình đã được pháp hơn người, rằng:
"Tôi biết như vậy, thấy như vậy", dù đó là nói thật,
cũng phạm tội Ba-dạ-đề". Giải
thích: -
Tự
xưng được pháp hơn người: Pháp hơn người như trước
đã nói. Nếu tự nói: "Tôi được pháp trí chăng?", thì phạm
tội Việt-tì-ni tâm niệm sám hối. Nếu nói: "Tôi được
pháp trí", thì phạm tội việt-tì-ni. Nếu nói: "Tôi đã chứng
đắc pháp trí", thì phạm Ba-dạ-đề, từng câu, từng câu
như trên đã nói rõ, cho đến nói thật về 10 pháp vô học,
thì phạm Ba-da-đề. Nếu
Tỉ-kheo nói với người nữ: "Các Tỉ-kheo an cư tại chỗ
kia đều chẳng phải là phàm phu", thì phạm tội Việt- tì-ni
tâm niệm sám hối. Nếu họ hỏi: "Tôn giả cũng ở trong đó
chăng?", rồi đáp: "Cũng ở trong đó", thì phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu Ưu-bà-di hỏi: "Tôn giả cũng được pháp ấy chăng?",
rồi đáp: "Ðược", thì dù là nói thật, cũng phạm Ba-dạ-đề. Nếu
Tỉ-kheo nói với Ưu-bà-di: "Tỉ-kheo tự tứ tại chỗ kia chẳng
phải phàm phu, đều là A-la-hán", thì phạm tội Việt-tì-ni
tâm niệm sám hối. Nếu Ưu-bà-di hỏi: "[337b]Tôn giả cũng
tự tứ tại đó chăng?", rồi đáp: "Ðúng vậy", thì phạm
tội Việt-tì-ni. Nếu lại hỏi: "Tôn giả cũng đắc quả
A-la-hán chăng?", mà đáp: "Ðắc", thì dù cho nói thật cũng
phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
Tỉ-kheo nói: "Tỉ kheo Thắng-lí ở nơi kia thường đến nhà
của vua, nhà của Ðại thần, nhà của trưởng giả, nhà cư
sĩ, nhà của ngươi và nhà bà con ngươi dạy kinh, Thầy ấy
đi, đứng, nằm, ngồi như vậy, ăn thức ăn như vậy(đắc
quả A-la-hán)"Thì cũng như vậy (tức là phạm Ba-dạ-đề). Nếu
dùng lời nói ở trung tâm đất nước mà nói với người
ở biên thùy, hoặc dùng lời nói của biên thùy mà nói với
người ở trung tâm đất nước, hoặc dùng lời nói ở trung
tâm đất nước nói với người ở trung tâm đất nước,
hoặc dùng lời nói ở biên thùy, nói với người ở biên
thùy, nếu nói nghĩa mà không nói ẩn ý, thì phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu nói ẩn ý mà không nói nghĩa, thì phạm tội Việt-tì-ni
tâm niệm sám hối. Nếu nói nghĩa và nói cả ẩn ý thì phạm
tội Ba-dạ-đề. Nếu không nói nghĩa cũng không nói ẩn ý
thì không có tội. Nếu viết ra chữ, dùng tay ra dấu, biểu
thị nghĩa mà không biểu thị ẩn ý, thì phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu biểu thị ẩn ý mà không biểu thị nghĩa, thì phạm
tội Việt-tì-ni tâm niệm sám hối. Nếu biểu thị nghĩa và
biểu thị ẩn ý, thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu không biểu
thị nghĩa, không biểu thị ẩn ý, thì không có tội. Cuối
cùng cho đến hiện tướng A-la-hán, thì phạm tội Việt-tì-ni
tâm niệm sám hối. Thế nên nói (như trên). LUẬT
MA HA TĂNG KỲ Hết
quyển thứ mười ba.
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||