| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
VỀ PHẦN HAI CỦA BA MƯƠI PHÁP NI-TÁT-KỲ BA-DẠ-ÐỀ 17.
GIỚI: CẦM CỦA TIỀN VÀNG BẠC.
Khi
Phật an trú tại vườn Trúc Ca-lan-đà ở thành Vương Xá,
nói rộng như trên, bấy giờ thôn trưởng của thôn Châu-la
đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn,
rồi đứng qua một bên, bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn!
Trước đây các vị đại thần, Bà-la-môn, Cư sĩ, Trưởng
giả họp tại cung điện Vua cùng nhau nghị luận. Có người
thì nói Sa-môn Thích tử nên cất giữ vàng bạc. Có người
thì nói không nên cất giữ . Vậy ai nói thật, nói đúng pháp,
nói tùy thuận pháp, nghị luận không trái nghịch với phép
tắc hiện tại?" Phật
đáp: "Sa-mônThích tử không nên cất giữ vàng bạc. Nếu có
ai nói nên cất giữ, thì đó là phỉ báng ta, không thật,
không đúng pháp, không tùy thuận, là lời nghị luận trái
với phép tắc hiện tại. Vì sao vậy? Vì nếu được cất
giữ vàng bạc thì cũng được duy trì ngũ dục. Ngũ dục là:
Mắt phân biệt sắc pháp sinh ra ái nhiễm, cho đến thân xúc
chạm sinh ra ái nhiễm. Phải biết rằng đó không phải là
pháp của Sa-mônThích Tử". Vị
Thôn trưởng nói: "Thật là kỳ lạ, Bạch Thế Tôn! Chưa từng
có việc như thế. Bạch Thế Tôn! Như Thế Tôn nói Sa-môn
Thích tử không nên cất giữ vàng bạc. Nếu cất giữ vàng
bạc thì không phải pháp của Sa môn, không phải pháp của
dòng họ Thích. Vì thế, nay con xin quy y Phật, quy y pháp, quy
y Tăng. Con là đệ tử tại gia của Phật, xa lìa sát sinh,
Thế Tôn hãy chứng minh cho con. (nói như thế 3 lần) cho đến:
Không uống rượu. Trước đây con đã suy nghĩ: Sa-môn Thích
tử không nên cất giữ vàng bạc. Nếu ai cất giữ thì chẳng
khác gì người hưởng thụ ngũ dục". Bấy
giờ Thế Tôn liền tùy nghi thuyết pháp chỉ dạy Thôn trưởng
khiến ông được lợi ích, hoan hỉ, giống như tấm lụa sạch
dễ thấm màu nhuộm. Ông liền thấy được lý Tứ Ðế ngay
tại chỗ ngồi, bèn bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Người
thế tục có nhiều công việc, con xin từ biệt trở về". Phật
nói: "Ông nên tự biết đúng lúc". Ông
liền đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu bên phải
rồi ra đi. Sau
khi ông đi không bao lâu Phật bèn đến chỗ có đông Tỉ-kheo
trải tọa cụ ngồi, nói với các Tỉ-kheo: "Vừa rồi thôn
trưởng Thôn Chu La đến chỗ ta (như trên đã nói cho đến)
nhiễu bên phải rồi ra đi". Ðoạn
Phật nói với các Tỉ-kheo: "Các thầy (311a) phải học như
sau: "Không được cất giữ vàng bạc. Ta không có lý do gì
được phép cất giữ vàng bạc". Họ
liền đáp: "Bạch Thế Tôn! Con vừa đếm tiền, nên tay bị
dính đất". Phật
liền nói với Nan-đà: "Vì sao các thầy lại dùng tay để
cầm "sinh sắc", "tợ sắc"? Từ nay ta không cho phép các thầy
tự tay cầm "sinh sắc""tợ sắc". Lại
nữa, khi Phật an trú tại tinh xá có lầu gác trong rừng nơi
Tì-xá-li, nói rộng như trên. Khi ấy, Ưu-đà-diđến giờ khất
thực, bèn khoác y, cầm bát đi tới nhà một người thợ hồ.
Nhà ông Này vừa làm lễ khánh hạ xong, bà vợ bèn bước
ra nghênh đón làm lễ, hỏi: "Tôn giả, hôm qua vì sao không
đến? Nếu đến thì đã được thức ăn uống ngon rồi". Thầy
liền đáp: "Hôm qua, bữa nay thì có sao đâu? Nếu có thức
ăn ngon thì hãy mang ra đây". Bà
liền nói: "Thức ăn ngon hết rồi, nay con xin gởi tiền để
tôn giả đến quán ăn mua thức ăn ngon khác". Thầy
nói: "Ðức Thế Tôn chế giới, không cho ta tự tay cầm tiền.
Bà hãy đem tiền buộc vào chéo y của ta". Bà
theo lời chỉ bảo, đem tiền buộc vào chéo y, rồi thầy ra
đi, đến một quán bán bánh, nói với chủ quán: "Lão trượng,
hãy mang bánh cho tôi". Ông
ta nói: "Tôn giả cho tôi xem tiền đã". Ưu-đà-dinói:
"Ông chỉ cần đưa bánh cho ta, ta sẽ trao tiền cho ông ngay
tại đây thôi". Ông
liền nói: "Tôn giả hãy đưa bát ra". Thế
rồi, ông liền đem các thứ bánh bỏ vào đầy bát, và nói:
"Xin đưa tiền cho tôi". Ưu-đà-dibảo:
"Ông hãy mở chéo y của tôi ra mà lấy". Ông
chủ quán muốn đùa cợt nên không chịu mở, nói: "Ông hãy
tự mở lấy đưa cho tôi". Ưu-đà-diđáp:
"Phật không cho phép tôi cầm sinh sắc, tợ sắc, ông hãy tự
mở lấy". Ông
ta bèn mở lấy. Lấy xong, chê trách: "Vì sao Sa-môn Thích tử
lại dùng phương tiện sơ sài này, xem đây là thanh tịnh!
Chúng ta cũng ít khi dùng tay cầm nắm và đặt vào trong miệng,
cũng chẳng khi nào buộc vào chéo áo hoặc bỏ vào trong túi.
Thế này thì mất hết phép tắc Sa môn, nào có đạo hạnh
gì?" Thế
rồi, Ưu-đà-dimang bánh về phòng, mời các Tỉ-kheo khác cùng
ăn. Các Tỉ-kheo hỏi: "Thứ bánh này rất ngon, ở đâu mà
có được vậy? Loại này không phải là bánh làm ở nhà". Ưu-đà-diđáp:
"Này các trưởng lão! Trong đây lợi ít mà lỗi nhiều!" Các
Tỉ-kheo bèn hỏi: "[311b] Vì sao nhiều lỗi?" Ðáp:
"Tôi tạo nhân duyên như vậy như vậy cho nên nhiều lỗi". Các
Tỉ-kheo bèn đem việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Ưu-đà-diđến. Khi thầy đến rồi, Phật liền
hỏi: "Ông có làm như vậy thật chăng?" Thầy
đáp: "Có thật như vậy, bạch Thế Tôn". Phật
khiển trách: "Ðó là việc xấu. Từ nay về sau, dùng tiền
buộc vào chéo y, Ta cũng không cho". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Ca-duy-la-vệ, nói rộng như
trên. Vì năm việc lợi ích, nên Thế Tôn cứ năm hôm đi quan
sát phòng ở của các Tỉ-kheo một lần, bỗng thấy một Tỉ-kheo
mang bệnh huỳnh đãng ốm yếu. Phật biết mà vẫn hỏi: "Tỉ-kheo!
thầy có kham nhẫn nỗi khổ được chăng? Thầy có sống yên
ổn chăng?" Thầy
ấy đáp: "Bạch Thế Tôn! Con không được yên ổn, bị bệnh
tật khổ não". Phật
liền hỏi thầy: "Ông không thể đòi hỏi thức ăn hợp với
bệnh, thuốc hợp với bệnh được sao?" Thầy
đáp: "Con nghe Thế Tôn chế giới Tỉ-kheo không được tự
tay cầm sinh sắc, tợ sắc, lại không có ai đưa cho con, nên
con phải chịu khổ não". Phật
liền nói: "Từ nay về sau, ta cho phép người bệnh được
quyền sai tịnh nhân cất tiền bạc, nhưng chớ có tham trước". Thế
rồi, Phật truyền cho các Tỉ-kheo tại thành Ca-duy-la-vệ phải
tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho
các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ-kheo tự tay cầm sinh sắc, tợ sắc hoặc sai người cầm
nắm với ý tham trước thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề". Giải
thích (Một
số từ đã được giải thích ở trước) -
Sinh
sắc: Chỉ cho vàng. -
Tợ
sắc: Chỉ cho bạc. -
Sinh
sắc tợ sắc: Chỉ cho các loại tiền tệ dùng ở thị
trường. -
Cầm:
Hoặc tự mình cầm, hoặc bảo người khác cầm. -
Nắm:
Hoặc tự mình nắm, hoặc bảo người khác nắm. -
Tham
trước: Suy nghĩ như sau: "Ta sẽ dùng vật này để đạt
được năm thứ dục lạc như: Sắc, thanh, hương, vị, xúc".
Ðó gọi là tham trước. -
Không
tham trước: Như vị Tỉ kheo trì giới thanh tịnh tự
gánh lương thực như bún, bánh, gạo, bột gạo.v.v., khi ấy
suy nghĩ: "Ta không có phương tiện nào khác nên bất đắc
dĩ phải dùng đến thức ăn Này". Trái lại, nếu đối với
các vật bất tịnh Này mà tưởng là những vật thanh tịnh,
như sau: "Ta sẽ thọ dụng những thứ Này", thì phạm Ni-tát-kì
Ba-dạ-đề. -
Ni-tát-kì
Ba-dạ-đề: Các thứ tiền, vàng bạc Này phải đem
thí xả giữa chúng Tăng, rồi sám hối tội Ba-dạ-đề. Nếu
không thí xả [311c] mà sám hối thì phạm tội Việt tì-ni
. Các
thứ vàng bạc hay tiền, hoặc nhiều, hoặc ít, hoặc thuần,
hoặc tạp, hoặc đã làm thành dụng cụ, khi đem thí xả giữa
chúng Tăng, thì Tăng không nên cho lại Tỉ-kheo ấy, cũng không
được phân chia. Nếu nhiều thì nên bỏ vào quỹ tiết kiệm.
Sau khi bỏ vào quỹ tiết kiệm, nếu sinh lợi tức, thì được
dùng nó làm phòng xá, sắm y, mà không được mua sắm thức
ăn. Tỉ-kheo
khi nhận được tiền, và sau mùa an cư xong nhận được tiền
sắm y, không được đưa tay cầm lấy mà phải nhờ tịnh
nhân lấy giúp. Nếu
không có tịnh nhân thì hãy bảo thí chủ bỏ dưới đất
bên cạnh chân mình. Sau đó, mình dùng cỏ, lá, gạch, ngói
tủ lên trên, đợi tịnh nhân đến, chỉ cho họ thấy để
họ cầm lấy. Nếu tịnh nhân không đáng tin cậy, thì bảo
họ đi trước mình, và bảo để tiền tại nơi nào đó. Nếu
Tỉ-kheo làm tri sự trông coi việc của Phật, của Tăng có
nhiều tiền vàng bạc để tại chỗ sinh địa thì nên chỉ
cho tịnh nhân biết. Nếu để chỗ tử địa kín đáo thì
hoặc tự mình đào lấy, hoặc sai Tỉ-kheo trẻ tuổi đào
lấy. Nếu tịnh nhân không đáng tin, thì nên dùng khăn bịt
mắt họ ba vòng, rồi mới dẫn đến chỉ cho họ biết chỗ
đất, sau đó chỉ cho biết hầm để tiền, và cứ để mắt
bị bịt như thế bảo đi khỏi nơi đó. Nếu tiền rơi trên
bờ hầm, thì được dùng ngói gạch gạt cho tiền rớt xuống
hầm, và được tự tay đậy nắp hầm lại. Sau đó khi cần
lấy, nếu là chỗ sinh địa thì chỉ cho tịnh nhân biết;
nếu là chỗ tử địa thì được tự tay đào lên cho đến
khi gặp tiền, bèn sai tịnh nhân đến lấy. Nếu tịnh nhân
không đáng tin thì phải bịt mắt y 3 vòng rồi dẫn đến
lấy. Nếu trong cái khăn gói để trên đầu cây gậy có vàng,
bạc, tiền thì không được tự tay cầm lấy mà nên bảo
cho tịnh nhân biết. Nếu tịnh nhân bé nhỏ không sờ tới
thì được bồng y lên khiến y lấy. Khi bồng y nên nói như
sau: "Tôi bồng tịnh nhân, tôi bồng tịnh nhân". Lúc đem gói
đồ xuống rồi phải bảo y mở ra. Nếu y không biết mở
thì được phép cầm tay y chỉ cho y mở. Khi mở xong bảo y
đếm. Nếu y không biết đếm thì được phép cầm tay y mà
đếm. Khi đếm xong, số còn thừa bảo y bỏ lại vào túi.
Nếu y không biết cầm bỏ vào túi, thì được phép cầm [312a]
tay y dạy y bỏ vào túi. Khi bỏ vào túi xong nên bảo tịnh
nhân buộc túi lại. Nếu tịnh nhân không biết buộc, thì
bảo y nâng cái đáy túi, rồi Tỉ-kheo tự tay mình buộc. Khi
buộc xong nên đem để lại trên đầu gậy như trước. Nếu
tịnh nhân thấp để không tới thì Tỉ-kheo được phép bồng
y lên. Nếu
kho lẫm, rương, tủ để trên gác, trên cột trụ, thì khi
lấy, khi mở ra, khi đậy lại cũng như thế. Nếu
khi đi đường, tịnh nhân mang vàng bạc, mà y còn bé, thì
ta được phép dùng tay dắt y đi. Nếu khi lội nước, thì
ta được phép dìu y lội qua, nhưng phải nói: "Tôi dìu tịnh
nhân, tôi dìu tịnh nhân". Nếu
Tỉ-kheo dẫn tịnh nhân theo, lúc đi qua đò mà y còn bé không
lên đò được, thì Tỉ-kheo được phép đỡ y lên đò, nhưng
phải nói: "Tôi đỡ tịnh nhân, tôi đỡ tịnh nhân". Khi xuống
đò, cũng như vậy. Trên đường đi, Tỉ-kheo dừng lại ở
trên bờ sông, bên giếng hoặc trên ao hồ để ăn uống nghỉ
ngơi, rồi lúc ra đi, tịnh nhân để quên túi xách. Bấy giờ
có vị trưởng lão Tỉ-kheo đi sau, xem có ai để quên vật
gì không, thì thấy có một gói đồ sót lại, bèn suy nghĩ:
"Cái Này ắt là của vị Tỉ-kheo kia", bèn cầm lấy mang đi,
khi đi kịp chúng bạn, bèn hỏi: "Vật Này của ai vậy?"Lúc
ấy có người nói: "Ðó là gói đồ của tịnh nhân". Vị
trưởng lão bèn bỏ gói đồ xuống đất. Bấy giờ, tịnh
nhân nên cầm lấy mang đi, nhưng không được gọi tên gói
đồ. Nếu
Tỉ-kheo cùng đi đường với tịnh nhân, khi đêm đến dừng
nghỉ tại một chỗ, rồi tờ mờ sáng ra đi. Bấy giờ, tịnh
nhân cầm nhầm gói đồ của Tỉ-kheo, Tỉ-kheo cầm nhầm gói
đồ của tịnh nhân. Khi đến nơi, Tỉ-kheo mới nhận ra gói
đồ mình cầm là của Tịnh nhân, thì nên bỏ xuống đất,
và tịnh nhân phải đến lấy mà không được gọi tên gói
đồ (tức không được gọi là túi đựng bạc). Nếu
Tỉ-kheo nhiều vàng, bạc, tiền bị mất, và nghi bị rơi ở
bên cạnh giường, nên muốn tìm lại, thì khi rời khỏi giường,
phạm tội Việt tì-ni . Nếu tìm lại được thì phạm tội
Ni-tát-kì. Nếu
Tỉ-kheo có nhiều tiền bạc, nghi là cất trong mền len, nên
định tìm kiếm thì khi mở chiếc mền ra, phạm tội Việt
tì-ni . Khi được tiền, phạm tội Ni-tát-kì. Nếu
Tỉ-kheo có nhiều tiền bạc, nghi bị rơi trên đất, muốn
tìm kiếm thì khi cầm chổi quét đất, phạm tội Việt tì-ni
. Nếu tìm lại được, thì phạm tội Ni-tát-kì. Nếu
Tỉ-kheo có nhiều tiền bạc, nghi bị rơi trong đống rác,
nên định tìm kiếm, thì khi bươi đống rác, phạm tội Việt
tì-ni, khi được tiền phạm tội Ni-tát-kì. Nếu
Tỉ-kheo lâm bệnh, có đàn việt cúng dường tiền thuốc,
vì bệnh nên được nhận tiền, đem cất dưới mền. Khi cần
tìm lấy, nhưng vì trong tối mắt không trông thấy, dùng tay
rờ đụng tiền, thì không có tội. Nếu
đàn Việt làm giường ghế mới bằng vàng bạc, vì có lòng
tin, nên muốn để Tỉ-kheo sử dụng trước nhất, rồi Tỉ-kheo
nói: "Tôi là người xuất gia, luật không cho phép dùng". Ðàn
việt lại nói: "Tôn giả vì tôi mà khai thông có được thọ
dụng không?" Tỉ-kheo nên nói: "Hãy xếp một tọa cụ cho dày
lót lên, thì tôi mới ngồi được". Nhưng khi Tỉ-kheo ngồi
rồi thì không được [312b] lay động cái giường, cũng không
được khen ngợi. Nếu
đàn việt làm xe, máy móc mới bằng vàng bạc, vì có tín
tâm nên muốn để Tỉ-kheo sử dụng trước tiên, khi ấy Tỉ-kheo
nói: "Tôi là người xuất gia luật không cho phép sử dụng
vật ấy". Người kia lại nói: "Tôn giả hãy vì tôi mà phương
tiện khai thông thọ dụng giúp cho". Tỉ-kheo nên bảo: "Nếu
trên xe có lót lá cây, hoặc lót tấm vải lên trên, thì tôi
mới đặt chân lên được". Nhưng sau khi đặt chân lên, không
nên động chân, cũng không được khen ngợi. Có
người đàn việt làm cái mâm vàng bạc, vì có tín tâm nên
muốn để Tỉ-kheo sử dụng trước nhất, Tỉ-kheo nói: "Tôi
là người xuất gia, không được phép dùng vật ấy". Người
kia nói: "Tôn giả có thể vì tôi mà khai thông phương tiện
thọ dụng được không?"Tỉ-kheo nên nói: "Nếu dùng cỏ, lá
cây hay tấm vải phủ lên trên đó thì có thể được". Nhưng
không được dùng tay cầm mà nên bảo họ bưng để xuống
đất. Nếu
đàn việt làm chén bát mới bằng vàng bạc, vì tín tâm nên
muốn nhờ Tỉ-kheo sử dụng trước nhất. Rồi Tỉ-kheo nói:
"Tôi là người xuất gia không được phép dùng nó". Người
ấy lại nói: "Tôn giả có thể vì tôi mà khai thông phương
tiện thọ dụng được không?"Tỉ-kheo nên đáp: "Ngươi nên
rửa sạch, đặt trên mâm, đem thức ăn bỏ vào, rồi đưa
tay chỉ bát nói: "Dùng, dùng... ". Nói 3 lần như vậy, đó
gọi là dùng. Nhưng khi ăn, Tỉ-kheo chỉ ăn thức ăn trong bát,
không được động đến xung quanh bát. Nếu
ngày mồng tám tháng tư hay các ngày đại hội cúng dường,
tất cả các tháp, tượng Bồ tát, cờ phướn bảo cái, những
dụng cụ cúng dường ấy có thếp vàng bạc thì Tỉ-kheo không
được cầm đến mà nên bảo tịnh nhân cầm. Nếu bị rơi
xuống đất, thì nên cầm chỗ nào không có vàng bạc nhặt
lên. Nếu được thếp vàng khắp cả thì nên dùng vải bọc
tay rồi mới cầm. Nếu không có vật gì bọc tay mà trên tượng
có chỗ chưa thếp vàng thì nên cầm chỗ ấy. Tất cả các
thứ như lư hương, đèn, cán phất trần mà có thếp vàng,
đều không được cầm. Khi tắm rửa tượng Bồ tát bằng
vàng bạc thì không được tự tay mình tắm mà phải bảo
tịnh nhân làm. Vào những ngày đại hội, Tỉ-kheo bảo tịnh
nhân lấy ra các tượng bằng vàng bạc, Tỉ-kheo chỉ được
đỡ giúp tịnh nhân, không được cầm. Và trên tượng có
thếp vàng, Tỉ-kheo không được trước cầm rồi sau thả
ra. Tùy theo mỗi nước, có nước dùng tiền bằng đồng, hoặc
tiền bằng vỏ ốc, hoặc tiền bằng sắt, hoặc tiền bằng
hồ dao, hoặc tiền bằng thẻ tre, hoặc tiền bằng da... Tất
cả các loại tiền ấy, Tỉ-kheo không được cầm. Hoặc có
những nước người ta sử dụng tiền tệ mà chưa thành hình
tướng của tiền tệ, Tỉ-kheo cầm nó thì phạm tội Việt
tì-ni . Có những nước người ta dùng loại tiền tệ không
có hình dạng của tiền tệ, mà Tỉ-kheo cầm nó thì phạm
tội Việt tì-ni . Có những nước người ta dùng loại tiền
tệ có hình dạng của tiền tệ mà Tỉ-kheo cầm nó thì phạm
tội Ni-tát-kì Ba-dạ-đề. [312c] Có những nước người ta
dùng loại tiền tệ không có hình dáng của tiền tệ, Tỉ-kheo
xem nó như loại đồng, sắt mà cầm, thì không có tội. Thế
nên nói (như trên). (Hết
giới Ni-tát-kì 17) Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên, bấy giờ,
nhóm 6 Tỉ-kheo mua các thứ sinh tô, dầu, mật, đường phèn,
sữa, sữa chua tại giữa chợ để dùng, nên bị người đời
chê trách rằng: "Vì sao Sa-mônthích tử không chịu khất thực
mà đến các chợ mua thức ăn để ăn, mất hết cả phép
tắc Sa môn, có đạo nào như thế?" Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi nhóm 6 Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật
liền hỏi: "Có thật các ông mua các thức ăn tại chợ nên
bị người đời chê trách không?" Họ
đáp:"Có thật như vậy, bạch Thế Tôn". Phật
khiển trách: "Ðó là việc xấu, đáng bị người chê trách.
Các ông không nghe ta thường khen ngợi thiểu dục, khiển trách
đa dục hay sao?. Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời
ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp". Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho tất cả các Tỉ-kheo đang sống
tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười
lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi, cũng
phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ-kheo mua bán các thứ thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề". Giải
thích -
Các
thứ: Hoặc tự hỏi giá, hoặc nhờ người khác hỏi
giá, hoặc tự thách giá, hoặc nhờ người khác thách giá,
hoặc tự hạ giá, hoặc nhờ người khác hạ giá. -
Tự
hỏi giá: Như hỏi: "Vật này giá bao nhiêu?". Và họ
đáp: "Bán cho ông giá chừng đó". Rồi hỏi: "Tôi mua với
giá đó được không?"Vì cách hỏi không thanh tịnh, nên phạm
tội Việt tì-ni . Nếu mua được vật ấy thì phạm Ni-tát-kì. -
Sai
người khác hỏi: Như bảo: "Ngươi đến hỏi xem vật
ấy họ đòi bao nhiêu". Hoặc bảo: "Nếu họ đòi giá chừng
đó thì ngươi nên trả cho họ". Vì sai người ta hỏi những
lời bất tịnh nên phạm tội Việt tì-ni . Nếu mua được
vật đó thì phạm Ni-tát-kì. -
Thách
giá: Chẳng hạn họ hỏi: "Vật Này giá bao nhiêu?" Rồi
mình đáp: "Tôi bán cho ông với giá đó". Và người kia nói:
"Tôi muốn mua với giá đó". Do tranh nhau thách trả nói những
lời bất tịnh nên phạm tội Việt tì-ni . Nếu bán được
vật đó, thì phạm Ni-tát-kì. -
Sai
người thách giá: Như bảo tịnh nhân: "Ngươi đến
thách giá như vậy. Nếu được giá đó thì bán". Vì nói lời
bất tịnh nên phạm tội Ni-tát-kì. -
Hạ
giá: Như hỏi: "Giá vật Này bao nhiêu?"Rồi Họ đáp:
"Một nghìn", và mình nói: "Tôi trả cho ông 800". Nếu họ đòi
900, rồi mình nói: "Tôi trả 700"... cho đến 10. Vì mong mua
được vật của người ta mà bớt giá một cách bất tịnh,
nên phạm tội Việt tì-ni . Nếu mua được thì phạm Ni-tát-kì. -
Sai
ngưòi hạ giá: Cũng như vậy. Nếu căn cứ theo thời
giá mà đi mua các vật, như vật dùng ban đêm, [313a] vật dùng
trong 7 ngày, vật dùng suốt đời, vật tùy thân, vật nặng,
vật bất tịnh, vật vừa thanh tịnh vừa bất tịnh, khi nói
thì phạm tội Việt tì-ni, khi mua được thì phạm tội Ni-tát-kì.
Nếu hỏi mua các vật dùng 7 ngày, trọn đời, tùy thân, vật
nặng, vật vừa thanh tịnh vừa bất tịnh ..., thì khi hỏi
mua cũng phạm tội như vật dùng ban đêm kể trên. Tại
chợ, giá vải đã được quy định sẵn, Tỉ-kheo đem tiền
đến mua vải, khi đặt tiền xuống sạp thì nên nói với
chủ sạp: "Ðây là giá tiền của tấm vải đó". Nếu không
nói (mà đặt tiền xong) im lặng cầm vải đi thì phạm tội
Việt tì-ni . Nếu mua dù lọng, rương, giày da, quạt, mía,
cá, sữa chua, dầu, mật... các vật ấy cũng như vậy. Có
những quốc gia, việc mua bán tại các chợ đã có phép nhất
định, người mua chỉ cần cầm tiền đặt ở chỗ vật cần
mua, và người chủ sạp gật đầu, thì biết là đồng ý
bán. Nhưng Tỉ-kheo khi mua cũng phải nói: "Giá tiền của vật
Này đây". Người chủ sạp biết hay không biết, đều phải
nói như thế. Nếu không nói như thế mà im lặng cầm món
hàng đi thì phạm tội Việt tì-ni . Nếu
món hàng đáng giá 50 đồng mà người chủ sạp thách giá
100 đồng, rồi Tỉ-kheo nói: "Tôi chỉ trả 50 đồng". Chỉ
mong mua với giá như vậy, thì không gọi là bớt (hạ) giá. Nếu
Tỉ-kheo biết người đứng trước mình đang muốn mua vật
nào đó thì không được tranh mua mà nên hỏi: "Bà đã thôi
chưa?"Nếu họ nói: "Tôi đang cố mua với giá đó". Bấy giờ
Tỉ-kheo không nên xen vào tranh mua với họ. Nếu mua thì phạm
tội Việt tì-ni . Nhưng nếu người mua nói: "Tôi dừng rồi",
thì Tỉ-kheo nên nói với người chủ sạp: "Tôi muốn mua vật
kia với giá đó". Nếu
Tỉ-kheo trao đổi y bát với nhau thì không được làm trung
gian tranh giành. Nếu tranh giành thì Phạm tội Việt tì-ni .
Nếu người trước đã bỏ cuộc, rồi mình đổi lấy thì
không có tội. Nếu
bán đồ vật giữa chúng tăng thì được phép ra giá, khi bán
được thì không có tội. Nếu
Hòa thượng, A-xà-lê muốn mua lấy thì không được tranh giành.
Nếu Tỉ-kheo với Tỉ-kheo mua bán đổi chác, nói những lời
bất tịnh để mua thì không có tội. Ðối với 96 hạng người
xuất gia, dùng những lời bất tịnh trao đổi với họ để
mua được vật thì không có tội. Nếu
Tỉ-kheo thấy người ta bán bát bèn suy nghĩ: "Cái bát Này
đẹp, nếu đem đến nơi kia bán sẽ được lời", rồi mua,
thì phạm tội Việt tì-ni . Trái lại, nếu suy nghĩ: "Ta có
vật Này mà không có tịnh nhân, đây là vật thanh tịnh",
thì được mua mà không có tội. Khi đến đó, hoặc Hòa thượng,
A-xà-lê cần đến, hoặc mình bị bệnh, hoặc muốn làm công
đức, được giá cao bèn bán đi mà không vụ lợi, thì không
có tội. Ðối với tất cả các vật khác cũng như vậy. Nếu
Tỉ-kheo khi cất giữ lúa suy nghĩ: "[313b] Loại Này về sau
sẽ quí giá", thì khi cất giữ phạm tội Việt tì-ni, khi đem
bán, phạm Ni-tát-kì. Nếu suy nghĩ: "Sợ lúc nào đó giá lúa
đắt đỏ, bấy giờ ta sẽ bán lúa Này và nhờ đó mà ta
yên tâm tụng kinh ngồi thiền, hành đạo". Ðến khi đó, quả
nhiên lúa đắt đỏ, thì hoặc dùng để ăn, hoặc cho Hoà
Thượng, A-xà-lê, hoặc dùng làm công đức, còn thừa ra đem
bán được lời, thì không có tội. Nếu
Tỉ-kheo cất thảo dược với suy nghĩ: "Sau Này giá đắt ta
sẽ bán", thì phạm tội Việt tì-ni. Về sau đem bán thật
thì phạm tội Ni-tát-kì. Nếu
Tỉ-kheo mua thuốc với suy nghĩ: "Về sau Này khi có bệnh sợ
giá thuốc đắt đỏ khó mua", nhưng sau đó nếu không bệnh,
hoặc uống còn thừa đem bán có lợi, thì không có tội. Nếu
Tỉ-kheo kinh doanh thuê thợ làm đồ gốm, thợ mộc làm việc,
nói những lời bất tịnh, thì phạm tội Việt tì-ni . Nếu
đi thuê các loại thợ như thợ hồ, thợ vẽ, thì cũng như
vậy. Nếu đi thuê xe ngựa, bò, lừa, lạc đà, người, thuyền
... cũng như vậy. Nếu
Tỉ-kheo phụ trách công việc hằng tháng cho chúng Tăng, ra
chợ mua các loại sữa, dầu, gạo, đậu, lúa mạch, bún, bột
mì, khi đi tìm mua các thứ đó, nói những lời bất tịnh,
thì phạm tội Việt tì-ni . Hoặc tự mua cho chính mình các
thứ sữa, dầu ... nói những lời bất tịnh thì phạm tội
Việt tì-ni . Khi đã mua được thì phạm Ni-tát-kì. Nếu
Tỉ-kheo lúc đi mua đồ khen chê một cách trung thực về những
vật ở trước người rằng: "Cái Này tốt, cái Này xấu,
hoặc thô, hoặc tế, hoặc cân lượng lớn, nhỏ, thơm, thối
... thì không có tội. Nếu người bán hàng nói: "Tôi sẽ cân
đo đầy đủ". Tỉ-kheo nên nói: "Ông bán đúng với giá Này
thì thôi". Nếu
Tỉ-kheo khất thực có mì, bún, thừa đem ra cửa hàng đổi
sữa, dầu, tô lạt, nói những lời bất tịnh thì phạm tội
Việt tì-ni . Khi đổi được thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề. Tỉ-kheo
không được đến những cửa hàng của những người tại
chợ búa ồn náo để mua đồ, mà được đến những cửa
hàng ít người, nói: "Nên biết rằng tôi mua với giá Này
đây". Tất cả đều nên nói như thế. Nếu
Tỉ-kheo khất thực có bún dư thừa, đem cho người khác để
nhờ họ sửa chữa giày dép, nói những lời bất tịnh thì
phạm tội Việt tì-ni. Nếu trước đó cho người ta bún, sau
đó người ta sửa chữa giày giúp, hoặc nguời ta sửa chữa
trước, sau đó mình cho họ bún thì không có tội. Nếu
Tỉ-kheo dùng thức ăn thừa trong bát đem thuê người bảo
họ sửa chỗ đi kinh hành, nói những lời bất tịnh, thì
phạm tội Việt tì-ni . Chỉ nên nói rằng: "Hãy biết cái
Này". Nếu trước cho ăn, sau nhờ họ làm, hoặc trước nhờ
họ làm, sau cho họ ăn, thì không có tội. Có
đàn việt muốn giúp đỡ Tỉ-kheo bèn đưa tiền cho chủ quán,
nói: "Nếu Tỉ-kheo mỗ giáp hằng ngày đến đây có cần thứ
gì thì tùy ý đưa cho thầy ấy". Về sau, khi cần đến đòi
hỏi, nói những lời bất tịnh, thì không có tội. Thầy Tỉ-kheo
ấy đòi đồ vật mà ở sạp hàng không có [313c], nên chủ
quán đưa tiền cho Tỉ-kheo đến chỗ khác tìm mua, rồi Tỉ-kheo
đến chỗ khác tìm mua vật mình cần, nói những lời bất
tịnh, khi được vật thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề. Tỉ-kheo
đến cửa hàng dùng bất tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ
thủ, hoặc tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ,
hoặc bất tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ,
hoặc tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ. -
Bất
tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ: Như hỏi
người chủ sạp: "Vật Này đòi giá bao nhiêu? Tôi muốn biết
giá của nó". -
Tịnh
ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ: Biết vật
đó đề giá như thế, nhưng trả: "Tôi muốn mua với giá đó". -
Bất
tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ: Vật
đó họ đòi giá như thế, nhưng nói: "Tôi mua với giá đó". -
Tịnh
ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ: Biết vật ấy
giá chừng đó và mình mua đúng với giá đó. Hai
trường hợp Bất tịnh ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ
và tịnh ngữ phân biệt giá, bất tịnh ngữ thủ, phạm tội
Việt tì-ni. Trường hợp bất tịnh ngữ phân biệt giá, bất
tịnh ngữ thủ, phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề. Trường hợp Tịnh
ngữ phân biệt giá, tịnh ngữ thủ không có tội. Thế nên
nói (như trên). (Hết
giới Ni-tát-kì 18) Khi
Phật an trú tại tinh xá có lầu gác trong rừng Ðại lâm,
nơi thành Tì-xá-li, nói rộng như trên. Bấy giờ Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà
mua vàng từ các nhà hoàng tộc rồi bảo thợ kim hoàn của
các hoàng tộc làm dụng cụ trang sức bằng chuỗi anh lạc.
Khi làm xong đem mài giũa phát sáng, cất vào trong va li, dùng
tấm lụa màu hoa sen xanh phủ lên trên, rồi đưa cho Sa-di,
dặn rằng: "Ta dẫn ngươi đến các nhà hào quí, nếu ta bảo
ngươi mở nắp va li, thì ngươi chỉ mở lộ ra một góc".
Thế rồi, họ dẫn Sa-di đến các nhà hào quí. Phụ nữ các
nhà ấy trông thấy họ đến, liền ra cúi đầu đảnh lễ
dưới chân, đứng hầu một bên, và hỏi: "Vật gì đựng
trong va li Này vậy?" Họ
đáp: "Hỏi cái Này làm gì? Ðó không phải là điều các người
nên hỏi". Vì
không cho xem, nên các bà ân cần nói với Sa-di: "[314a] Mở
ra cho chúng tôi xem với". Sa-di
bèn mở hé ra cho xem một góc. Màu xanh càng giúp cho xâu chuỗi
nổi rõ màu sắc, và ánh mặt trời chiếu vào càng làm rực
rỡ chói mắt. Mấy bà liền hỏi: "Vật Này của ai vậy?" Họ
đáp: "Hỏi cái Này làm gì? Ai có vàng đem chế tạo ra tức
là chủ nhân". Mấy
bà lại hỏi: "Giá vàng bao nhiêu?" Họ
liền đáp đúng như thật: "Giá vàng chừng đó, tiền công
chừng đó". Mấy
bà liền tán thán: "Thực là đại quí!" Họ
nói: "Vì sao bà lại "chê"của quí? Tôi đưa cho bà giá tiền
chừng đó liệu bà có làm được không?" Trong
số đó có người thành tín nói: "Ðúng như thầy dạy, làm
cũng thật là khó, không thể nào làm nhanh được" Trong
số đó có một phụ nữ, hoặc là có của riêng hoặc là
của của cha mẹ, hoặc là tài sản của mẹ chồng, hoặc
là tài sản của chú Ưu Ba Nan bác, hoặc là tài sản của
chồng, hoặc là của giữ riêng cho gia đình, bèn lấy mua chuỗi
anh lạc đó. Vì lúc ấy người Này không mua vàng tại cửa
hàng, cũng không thuê thợ kim hoàn làm, cho nên chủ nhân các
tiệm vàng và những thợ kim hoàn đều chỉ trích rằng: "Vì
sao Sa-mônThích tử lại đoạt mất nguồn lợi tức của người
ta?" Các
Tỉ-kheo liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
bảo đi gọi Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến. Khi họ đến rồi,
Phật liền hỏi: "Có thật các ông mua vàng từ các nhà hoàng
tộc, rồi bảo thợ kim hoàn làm thành đồ trang sức không?" Ho
đáp: "Có thật như vậy, bạch Thế Tôn". Phật
khiển trách: "Ða, đó là việc xấu. Ông không từng nghe ta
dùng vô số phương tiện chê trách đa dục, ca ngợi thiểu
dục hay sao? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy,
không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp". Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang ở tại Tì-xá-li
phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới
cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ-kheo mua bán các thứ sinh sắc, tợ sắc thì phạm Ni-tát-kì
Ba-dạ-đề". Giải
thích -
Sinh
sắc: Vàng. -
Tợ
sắc: Bạc. Hoặc
dùng vàng đổi lấy vàng, dùng vàng đổi lấy bạc, dùng vàng
đổi lấy vàng bạc; hoặc dùng bạc đổi lấy bạc, dùng
bạc đổi lấy vàng, dùng bạc đổi lấy vàng bạc; hoặc
dùng vàng bạc đổi lấy bạc, hoặc dùng vàng bạc đổi lấy
vàng bạc. Hoặc dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy
loại không thể làm ra vàng; hoặc dùng loại không thể làm
ra vàng đổi lấy loại làm ra vàng; hoặc dùng loại không
thể làm ra vàng đổi lấy loại có thể hay không thể làm
ra vàng; hoặc dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại
làm ra vàng hay không thể làm ra vàng. Dùng
loại làm ra vàng đổi lấy loại làm ra vàng trong 4 trường
hợp; dùng loại làm ra vàng đổi lấy loại không thể làm
ra vàng trong 4 trường hợp; dùng loại làm ra vàng không làm
ra vàng và làm, hoặc không thể làm ra vàng trong 4 trường
hợp, đều như trên. Hoặc dùng loại không thể làm ra vàng
đổi lấy loại không thể làm ra bạc, hoặc dùng loại không
thể làm ra vàng đổi lấy loại làm ra bạc; dùng loại không
thể làm ra vàng đổi lấy loại có thể hay không thể làm
ra bạc; dùng loại không thể làm ra vàng đổi lấy loại làm
ra bạc hay không làm ra bạc và có thể hay không thể làm ra
bạc. Các loại làm ra vàng trong 4 trường hợp [314b] làm hay
không làm ra vàng 4 trường hợp, làm ra vàng hay không làm ra
vàng và vừa có thể vừa không thể làm ra vàng trong 4 trường
hợp, cũng như trên. Hoặc dùng loại không thể làm ra vàng
đổi lấy loại không thể làm ra vàng bạc; dùng loại không
thể làm ra vàng đổi lấy loại làm ra vàng bạc; dùng loại
không thể làm ra vàng đổi lấy loại có thể hoặc không
thể làm ra vàng bạc; dùng loại không thể làm ra vàng đổi
lấy loại có thể làm và không thể làm ra vàng bạc. Ngoài
ra, làm dụng cụ bằng vàng, làm không làm dụng cụ bằng
vàng, làm thành vàng không làm thành vàng và làm không làm
dụng cụ bằng vàng 4 trường hợp, đều như trên. Về những
dụng cụ được làm bằng bạc theo 12 cách trong 4 trường
hợp và những kim hoàn hợp chế bằng vàng bạc theo 12 cách
trong 4 trường hợp cũng được nói rộng như trên. (Hết
phần hai của Ni-tát-kì.) Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có một Tỉ-kheo đến giờ khất thực, liền khoác y, cầm
bát đi đến nhà một người thợ gốm tên Pháp Dự. Pháp
Dự trông thấy liền cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi
đứng qua một bên. Tỉ-kheo nói: -
Tôi cần bát. Pháp
Dự bèn làm bát cúng dường. Bát Này không lớn, không nhỏ,
vừa cỡ trung bình, được nung chín nhẵn bóng. Sau
khi được bát, thầy mang về tinh xá Kỳ Hoàn, các Tỉ-kheo
hỏi: -
Trưởng lão, thầy được bát đó ở đâu mà không lớn, không
nhỏ, vừa trung bình, được nung chín nhẵn bóng như thế? Thầy
đáp: -
Thợ gốm Pháp Dự bố thí cho tôi đấy. Các
Tỉ-kheo hỏi thế rồi, đi đến nhà Pháp Dự xin, đều được
tất cả. Quá nhiều người đến xin như thế, nên Pháp Dự
suy nghĩ: "Có nhiều Tỉ-kheo cần đến bát, chi bằng ta mời
chúng Tăng về nhà cúng dường bát, vì chúng Tăng là phước
điền tốt nhất, phước báo vô lượng". Nghĩ
thế rồi, ông bèn đi đến tinh xá Kỳ Hoàn, tới trước Thượng
tọa, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, quỳ gối chắp tay bạch: -
Con là thợ gốm Pháp Dự, xin mời đại đức chúng Tăng tới
nhà con nhận cúng dường bát. Ai cần thì đến lấy. Khi
ấy, các Tỉ-kheo người thì lấy 1 cái, hoặc 2, 3, 4 thậm
chí có người lấy 10 cái. Pháp Dự cung cấp không đủ. Bấy
giờ, tôn giả Xá-lợi-phất đến giờ khất thực, bèn khoác
y, cầm bát vào thành Xá-vệ tuần tự khất thực, lần lượt
đến gia đình ấy. Người vợ của Pháp Dự vốn có tín tâm,
nên rất hoan hỉ, hơn nữa, bà đã từng quen biết Tôn giả
Xá-lợi-phất từ trước nên đem cái bát bằng đồng rửa
sạch múc đầy thức ăn, bưng ra sớt vào bát của Xá-lợi-phất,
rồi cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên.
Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi bà: "Nghề nghiệp sinh kế trong
nhà thế nào?" Bà
đáp: "Việc sinh kế trong nhà không được phát đạt". Tôn
giả hỏi: "Vì sao thế?" Bà
đáp: "Chồng con mời Chư Tăng về cúng dường bát. Các Tỉ-kheo
người thì lấy 1 cái, 2 cái thậm chí có người lấy 10 cái.
Thế nên, làm bát cung cấp không đủ, việc sinh kế trong nhà
không xoay xở nổi. Tại vì sao? Vì gia đình con, lớn nhỏ,
ăn uống, trang phục, cung cấp cho vua chúa, thuế khoá đều
dựa vào nghề làm đồ gốm mà sinh hoạt. Thầy là người
được gia đình con tôn trọng, cúng dường, nên mới dám bộc
bạch như thế". Khi
ấy, tôn giả Xá-lợi-phất thuyết pháp rộng rãi cho bà ta
sinh tâm hoan hỉ, rồi ra về. [314c] Khi về đến tinh xá, tôn
giả bèn đem sự việc ấy bạch lên Thế Tôn. Phật liền
bảo gọi các Tỉ- kheo tới. Khi họ tới rồi, Phật hỏi:
"Các ông có việc đó thật không?" Họ
đáp:"Có thật như vậy, bạch Thế Tôn". Phật
nói với các Tỉ-kheo: "Nếu thí chủ không biết tính toán,
thì người thọ nhận phải biết cân nhắc". Rồi
Phật nói: "Từ nay trở đi, Tỉ-kheo có bát thừa, chỉ cho
phép cất trong một ngày mà thôi". Thế
rồi, họ đi đến Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân
Phật, rồi đứng hầu một bên, bạch với Phật: "Bạch Thế
Tôn! Hằng năm chúng con mời chư Tăng thọ trai rồi cúng dường
bát, nhưng các Tỉ-kheo không thọ nhận và nói: "Tôi nhận
cái bát Này làm gì, vì chưa dùng đến mà thành ra bất tịnh
rồi". Lành thay, bạch Thế Tôn! Có phương tiện nào giúp khai
thông để cho người bố thí được công đức, và người
thọ dụng được lợi ích hay không?". Phật
nói: "Ta cho phép một ngày (đã cho phép) trước kia thêm chín
ngày nữa". Thế
rồi, các Tỉ-kheo chứa bát dư đủ mười ngày, bèn cầm bát
đến chỗ Phật bạch rằng: "Cái bát Này đã đủ mười ngày,
giờ đây phải làm sao?" Phật
dạy: "Này các Tỉ-kheo, cái bát ấy nên tác tịnh cho các Tỉ-kheo
quen biết, cứ mười hôm cất cái cũ, dùng cái mới thay đổi
một lần". Rồi
Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại Tì-xá-li
tập họp lại tất cả, vì mười việc lợi ích mà chế giới
cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ-kheo có bát thừa được chứa trong mười ngày, nhưng để
quá mười ngày thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề ". Giải
thích: -
Mười
ngày: Ðược cất chứa trong khoảng mười ngày. -
Bát
thừa: Cái bát được phép sử dụng ngoài cái bát (đã
qui định). -
Bát:
Có các loại: 1 - bát Tham-bà; 2 - bát Ô-ca-tư-ma; 3- bát
Ưu-ca-tra-da; 4- bát Ða-kì-da; 5 - bát Sắt; 6 - bát Trí-diệp-ni;
7 - bát Tất-lệ-thâu; 8 - bát Thượng; 9 - bát Trung; 10 - bát
Hạ; 11 - Quá-bát; 12 - Phi-bát; 13 - Tùy-bát. 8-
Bát thượng: Tại nước Ma-kiệt-đề, cứ một A-la-gạo được
nấu thành cơm và canh rau thì đựng vừa đầy bát. Một A-la
bằng một đấu 6 thăng của Trung Quốc. 9-
Bát trung: Cứ nửa A-la-gạo nấu thành cơm và cả canh rau thì
đựng vừa đầy bát. 10-
Bát hạ: Chứa được một Bát-tha-gạo nấu thành cơm và canh
rau, cứ 3 phần cơm thì một phần canh rau. 11-
Quá bát: Một A-la-gạo được nấu thành cơm [315a] và cả
canh rau vẫn đựng không đầy bát Này. Ðó gọi là quá bát. 12-
Phi bát: Chứa không hết một bát tha gạo được nấu thành
cơm và canh rau. Ðó gọi là phi bát. 13-
Tùy bát: Tùy theo những thứ cần thiết mà đựng vào trong
đó. Ở
đây, nếu cất bát thượng, bát trung, bát hạ quá 10 ngày,
thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề, ngoài ra cất các loại bát
khác không phạm. -
Ni-tát-kì
Ba-dạ-đề: Như trên đã giải thích. Nếu
Tỉ-kheo vào ngày mồng một đầu tháng nhận được 10 cái
bát mà không tác tịnh, để qua khỏi ngày thứ 10, thì tất
cả các bát ấy đều phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề. Giá như
ai không hiểu cách thọ trì, không hiểu cách tác tịnh, thì
nên dạy họ thọ trì như thế, tác tịnh như thế. Nghĩa là
như trong giới trường y thứ nhất đã trình bày rõ, ở đây
chỉ khác là bát thay vì y mà thôi. Thế nên nói (như trên). (Hết
giới Ni-tát-kì 20) Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
ở thành Này có một người thợ gốm tên Pháp Dự mời chư
Tăng về cúng dường bát. Các Tỉ-kheo vì ưa đẹp nên đem
bát cũ đổi bát mới, rất nhiều người làm như vậy. Do
đó, thí chủ không cung cấp nổi. Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất
đến giờ khất thực, khoác y, cầm bát vào thành tuần tự
khất thực, đến gia đình Pháp Dự, đứng trước cửa. Bà
vợ của Pháp Dự với Tôn giả Xá-lợi-phất vốn là chỗ
quen biết nhau từ trước, bà lại có lòng kính tín, nên rất
hoan hỉ, cho đến nói: "Thưa tôn giả, chồng con mời chư Tăng
đến cúng dường bát. Các Tỉ-kheo vì thích bát đẹp nên
đem bát cũ đến đổi bát mới, khiến nhà con chứa bát cũ
chất cao như núi. Gia đình con là nhà thế tục, bát mới còn
không dùng, huống gì là bát cũ. Thưa Tôn giả, mọi sinh hoạt
trong gia đình con chỉ trông cậy vào nghề làm bát". Thế
rồi, Xá-lợi-phất tùy thuận thuyết pháp, khiến bà sinh tâm
hoan hỉ, đảnh lễ dưới chân rồi cáo lui. Ðoạn thầy trở
về tinh xá, đem sự tình ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn.
Phật bèn bảo gọi các Tỉ-kheo đến. Sau khi họ đã đến,
Phật liền hỏi: "Các ông có làm việc đó thật chăng?" Các
Tỉ-kheo đáp: "Có thật như thế, bạch Thế Tôn". Phật
dạy: "Từ hôm nay trở đi, ta không cho các Tỉ-kheo xin bát
(nơi đàn việt)". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ có 60 Tỉ-kheo ở phương Bắc muốn đến tinh xá
Kỳ Hoàn đảnh lễ Phật, nhưng giữa đường bị bọn cướp
lấy mất hết bát, nên không có bát để tới Kỳ Hoàn. Lúc
ấy, các vị phạm hạnh mỗi người cho một cái bát. Khi họ
được bát rồi bèn đi đến Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ
chân Phật, rồi đứng hầu một bên. Phật biết nhưng vẫn
hỏi: "Này các Tỉ-kheo, các ông từ đâu đến?". Họ
đáp: "Từ phương Bắc đến". Phật
lại hỏi các Tỉ-kheo: "Ði đường có an ổn không?" Họ
đáp: "Không an ổn, giữa đường gặp bọn cướp nên mất
hết bát, [315b] do đó, không có bát để đi vào Kỳ Hoàn,
may nhờ các vị Phạm-hạnh mỗi người cho chúng con một cái
bát". Phật
lại hỏi: "Dọc đường không có thành ấp xóm làng hay sao?" Họ
đáp: "Có". Phật
lại hỏi: "Vì sao không xin bát?" Họ
đáp: "Vì chúng con nghe Thế Tôn chế giới không cho xin bát,
lại không có thí chủ". Phật
tán thán: "Lành thay! Lành thay các Tỉ-kheo! Các ông là những
người có lòng tin xuất gia, đúng phép phải như vậy, dù
cho mất mạng cũng không được phạm giới. Từ nay trở đi,
Ta cho phép khi mất bát được quyền xin bát". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ 60 Tỉ-kheo ở phương Bắc bị mất bát, đi đến
Kỳ Hoàn, Tôn giả Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà nói với họ: "Các
Trưởng lão, Ðức Thế Tôn cho phép ai mất bát được quyền
xin bát, vì sao không xin?" Họ
đáp: "Các vị phạm hạnh đã cho chúng tôi bát rồi". Nan-đà,
Ưu-ba-nan-đà lại nói: "Các Vị không xin những gì mình được
phép xin, thành ra thất lợi". Họ
đáp: "Chúng tôi đã được bát rồi, thất lợi với chẳng
thất, không thành vấn đề". Nan-đà
nói: "Tôi sẽ xin giúp cho các vị". Họ
đáp: "Thầy tự biết phải làm gì", cho đến Ưu-bà-tắc nói:
"Tôn giả muốn làm cửa hàng đồ gốm chăng?", như đã được
nói rõ ở mục xin y. Các
Tỉ-kheo nghe việc ấy, bèn đến bạch với Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến. Khi họ đến rồi,
Phật hỏi: "Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà, các ông có việc đó thật
chăng?" Họ
đáp: "Có thật như vậy, bạch Thế Tôn". Phật
hỏi: "Vì lý do gì mà xin?" Họ
đáp: "Con xin cho các Tỉ-kheo bị mất bát". Phật
bảo gọi các Tỉ-kheo bị mất bát đến. Khi họ đến rồi,
Phật hỏi: "Các Tỉ-kheo, các ông bảo Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà
xin bát phải không?" Các
Tỉ-kheo đáp: "Không có, bạch Thế Tôn". Phật
nói: "Vậy thì vì lý do gì mà xin?". Họ
liền trình bày lại sự việc kể trên . Phật
nói với các Tỉ-kheo: "Hai ông Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà Này việc
không nên xin lại xin, việc đáng xin lại không xin". Thế
rồi, Phật nói với Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà: "Ðó là việc xấu,
các ông không từng nghe ta dùng vô số phương tiện tán thán
thiểu dục, khiển trách đa dục hay sao? Ðó là việc phi pháp,
phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc Này để
nuôi lớn thiện pháp được". Ðoạn
Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ
phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới
cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ-kheo dùng bát chưa vá đến 5 lần mà vì thích đẹp, xin
bát mới, thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề. Cái bát ấy phải
thí xả giữa chúng Tăng, rồi Tăng đem cái bát chót nhất
trao cho thầy ấy, dạy như sau: 'Này Tỉ-kheo, thầy hãy nhận
cái bát này sử dụng cho đến khi vỡ', nguyên tắc phải như
vậy". Giải
thích: -
Chưa
đủ 5 miếng vá: Nếu có một miếng vá, hoặc [315c]
từ 2 miếng cho đến 4 miếng thì gọi là chưa đủ 5 miếng
vá. -
Ðủ
5 miếng vá: Ðã có 5 miếng vá, và mức độ đã đủ.
Mức độ ở đây được quy định là chỗ vỡ được vá
lại xấp xỉ bằng ngón chân cái. -
Bát:
Như trên đã nói. -
Mới:
Vừa hoàn thành. -
Lại
tìm thêm nữa: Hoặc xin, hoặc khuyến hóa, vì thích
đẹp, rồi chê bát của mình đang dùng là lớn quá, nhỏ quá,
nặng quá, nhẹ quá, hoặc thô kệch quá ..., tự nghĩ: "Ta có
đàn việt, có đất sét, có tay nghề, ta nên làm cái bát khác
cho đẹp". Nếu như thế thì vị Tỉ-kheo Này phải cầm cái
bát mới ấy đến thí xả giữa chúng Tăng. Rồi chúng Tăng
chọn một cái bát kém nhất đưa cho Tỉ-kheo Này và căn dặn:
"Này trưởng lão, thầy phải nhận cái bát Này sử dụng cho
đến khi vỡ không được cố ý đập bể; lại phải sám
hối tội Ba-dạ-đề". Nếu không đem cái bát mới ấy xả
giữa chúng Tăng mà sám hối tội Ba-dạ-đề thì phạm tội
Việt tì-ni . -
Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Thầy Tỉ-kheo ấy dùng bát chưa vá (hàn)
đủ 5 chỗ mà vì thích đẹp, đi tìm bát mới nên phạm Ni-tát-kì.
Tỉ-kheo ấy phải mời một vị trì luật, biết làm Yết-ma
và thành tựu 5 pháp, rồi Tăng làm Yết-ma cử vị Này đứng
ra xử lý công việc. Vị Này phải hội đủ 5 yếu tố: Không
thiên vị, không giận dữ, không sợ sệt, không si ám, ai đưa,
ai không đưa đều biết. Ðó gọi là 5 yếu tố. Người làm
Yết-ma nên nói như sau: "Xin
đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu 5 pháp,
nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, nay Tăng sai Tỉ-kheo
mỗ giáp làm người hành bát (giải quyết công việc).Ðây
là lời tác bạch: Xin
đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu 5 pháp,
Tăng nay sai Tỉ-kheo mỗ giáp làm người hành bát. Các đại
đức nào bằng lòng Tỉ-kheo mỗ giáp làm người hành bát
thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Tăng đã bằng lòng
sai Tỉ-kheo mỗ giáp làm người hành bát xong, vì tất cả
đều im lặng. Việc ấy cứ như thế mà thi hành". Khi
làm Yết-ma xong, nên tuyên bố giữa chúng Tăng: "Những cái
bát mà đại đức Tăng đang sử dụng phải đem đến tất
cả". Nếu không tuyên bố như vậy thì phạm tội Việt tì-ni
. Thế
rồi, mỗi Tỉ-kheo đều phải mang cái bát mà mình đang sử
dụng đến. Nếu có Tỉ-kheo nào để cái bát mình đang sử
dụng ở nhà, rồi đem cái bát kém nhất đến, thì phạm tội
Việt tì-ni . Người làm Yết-ma nên bảo Tỉ-kheo Này đặt
cái bát ấy xuống, trật vai áo bên phải, quỳ gối bên phải
xuống đất, nói: "Con là Tỉ-kheo mỗ giáp, dùng cái bát chưa
đủ 5 miếng vá mà vì ưa đẹp, đi tìm bát mới, nay con đem
thí xả giữa chúng Tăng". Vị
luật sư nên hỏi: "Ông đã sử dụng chưa?" Nếu đáp rằng
đã sử dụng thì nên nói: "Ông đã sử dụng bát bất tịnh
(không đúng pháp) nên đã phạm vô lượng tội Việt tì-ni,
phải sám hối". Thế
rồi, vị Này phải nói: "Thưa trưởng lão, [316a] con là mỗ
giáp, có cái bát dùng chưa đủ 5 miếng vá mà con lại xin
bát mới, nay đem thí xả giữa chúng Tăng, trong đây phạm
tội Ba-dạ-đề vì dùng bát bất tịnh, lại phạm vô lượng
tội Việt tì-ni, con xin sám hối tất cả". Người
làm Yết-ma hỏi: "Ông có thấy tội không?" Ðáp:
"Thấy". -
Cẩn thận chớ có tái phạm. -
Xin cúi đầu chấp hành. Người
hành bát (được Tăng sai) phải đem cái bát Này đến đưa
cho vị lớn nhất trong Tăng (Thượng tọa). Nếu Thượng tọa
thứ nhất nhận, thì phải đem cái bát của Thượng tọa đưa
cho Thượng tọa thứ hai, cứ tuần tự như thế cho đến vị
Tỉ-kheo không có tuổi hạ. Nếu hoàn toàn không có ai lấy,
thì cái bát kia nên trao lại cho chủ cũ. Nhưng nếu cái bát
ấy quí giá thì nên đem bán rồi mua 10 cái, 9 cái đem cất
vào nhà bếp của chúng Tăng, một cái giao lại cho chủ cũ
và bảo: "Thầy hãy sử dụng cái bát Này cho đến khi vỡ". Thầy
Tỉ-kheo cầm cái bát vá vào thôn xóm khất thực, và khi ăn
xong nên gỡ miếng vá ra, rồi dùng tro, đất rửa cho sạch.
Khi rửa, không được dùng vật cứng xoi vào lỗ hủng khiến
nó bể vỡ, mà nên dùng lông chim xoi vào. Khi rửa bát, cũng
không được dùng cát chà xát khiến nó phai màu mà phải dùng
bùn đất để chà, hoặc dùng nước rễ cây, nước lá cây,
nước trái cây, nước hoa cây để rửa. Khi rửa, không được
đến trên bờ hố, chỗ nguy hiểm, hoặc dưới cây xoài có
trái chín, hoặc dưới cây dừa, trên tảng đá, trên gạch,
chỗ đường đi, chỗ cửa mở. Khi rửa xong phải để vào
trong túi rồi đem cất trên vách, trong tủ, dùng vật gì đậy
lên miệng bát. Nếu
có việc gấp gáp không rửa sạch được thì nên dùng nước
rễ, nước lá chùi qua, để khi xong việc sẽ rửa. Sáng sớm,
rửa xong mới mang vào làng khất thực. Giá như bát vá khó
dùng, thì mỗi ngày dùng xong phải rửa sạch. Nếu cố ý đập
bể thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu Hoà thượng, A-xà-lê,
những bạn bè quen biết suy nghĩ: "Vị Tỉ-kheo hiền thiện
Này vì việc rửa bát mà phương hại đến sự ngồi thiền,
trì kinh, tụng kinh". Rồi đập vỡ, hoặc đem giấu đi khiến
Tỉ-kheo tìm không thấy, rồi xin cái khác, thì không có tội.
Khi không có bát mà xin được môït cái thì phải sử dụng.
Nếu xin được 2 cái, thì dùng một cái, một cái nên đem
cất vào nhà bếp của chúng Tăng. Thậm chí, nếu xin được
10 cái thì nên dùng một cái, cò 9 cái kia nên đem cất vào
nhà bếp của chúng Tăng. Nếu
Tỉ-kheo không có bát rồi đi tìm bát, bèn nhận được giá
tiền của một cái bát, cũng được xem là có bát. Nếu xin
được giá tiền của 2 cái bát, thì phải bỏ vào ngân quỹ
của chúng Tăng giá tiền một cái. [316b] Thậm chí, nếu được
giá tiền của 10 cái bát, thì nên bỏ vào ngân quỷ của chúng
Tăng giá tiền của 9 cái. Thế nên nói (như trên). (Hết
giới Ni-tát-kì 21) Khi
Phật an trú tại tinh xá Kỳ Hoàn nơi thành Xá-vệ, nói rộng
như trên. Vì 5 việc lợi ích nên cứ 5 hôm, Thế Tôn đi thị
sát phòng xá các Tỉ-kheo một lần, Phật thấy chỗ ở của
Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà để đầy các bình sữa, dầu, mật,
đường phèn, nước rỉ ra, và các thứ rễ thuốc, cây thuốc,
lá thuốc, hoa thuốc và trái thuốc. Phật biết nhưng vẫn
hỏi: "Này các Tỉ-kheo, chỗ ở của ai đây mà để đầy
các bình sữa, dầu, mật ... nước rỉ ra khắp cả thế này?" Các
Tỉ-kheo đáp: "Bạch Thế Tôn! Ðó là chỗ ở của Nan-đà,
Ưu-ba-nan-đà". Khi
ấy, Thế Tôn nói: "Ðợi họ đến ta sẽ hỏi". Lại
nữa, khi Phật an trú tại tinh xá có lầu gác trong rừng Ðại
Lâm ở Tì-xá-li, nói rộng như trên. Ðến giờ khất thực,
Thế Tôn khoác y cầm bát cùng với nhiều Tỉ-kheo sắp vào
thành Tì-xá-li khất thực thì thấy Ưu-ba-nan-đà cầm một
bát mật đầy đi ra. Thấy thế, Phật biết mà vẫn hỏi:
"Trong bát này đựng thứ gì vậy?". Thầy
đáp: "Bạch Thế Tôn! Ðó là mật". Phật
lại hỏi: "Dùng để làm gì?" Thầy
đáp: "Nan-đà bệnh đang cần nó". Phật
hói: "Nhiều quá". Thầy
đáp: "Phải uống suốt ngày". Phật
nói: "Vì sao chứa thuốc uống suốt ngày? Từ nay trở đi không
được chứa thuốc để uống suốt ngày nữa". Lại
nữa, khi Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích bên cây
Ni-câu-luật, trong thành Ca Duy La Vệ, vì 5 việc lợi ích nên
cứ 5 hôm Thế Tôn đi tuần tra phòng xá các Tỉ-kheo một lần.
Năm việc lợi ích đó là: 1.
Xem các đệ tử Thanh văn có bận tâm đến các việc hữu
vi không;
Chính
vì 5 việc ấy mà cứ 5 hôm Như Lai đi xem xét các phòng. Khi
ấy Phật thấy một Tỉ-kheo đang bệnh, nhan sắc tiều tụy,
vàng vọt ốm yếu, Ngài biết nhưng vẫn hỏi: -
Tỉ-kheo, ông có được điều hòa không? -
Bạch Thế Tôn! Con bị bệnh, đau khổ, không điều hòa. -
Ông không thể đòi thức ăn hợp với bệnh và thuốc trị
bệnh sao? -
Vì Thế Tôn chế giới có thuốc phải uống liền không được
cất lâu, nên con mới bị khổ. Thế
rồi, Phật nói với các Tỉ-kheo: "Từ hôm nay trở đi ta cho
phép Tỉ-kheo bệnh được cất thuốc qua một ngày". Khi
ấy Phật hỏi Nan-đà: "Lúc ở Xá-vệ ông thường cất chứa
nhiều sữa, dầu, mật, đường phèn phải không?" Thầy
đáp: "Có thật như vậy, bạch Thế tôn". Phật
liền khiển trách: "[316c] Vì sao ông lại đa dục không biết
chán? Từ nay trở đi Ta không cho phép cất chứa nhiều thức
ăn". Lại
nữa, khi Phật trú tại Ba-la-nại trong vườn nai của tiên
nhân, nói rộng như trên. Bấy giờ có một y sĩ xuất gia hành
đạo, chữa bệnh cho 60 Tỉ-kheo đau ốm. Thầy đi đến thăm
viếng Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng
hầu một bên. Phật biết mà vẫn hỏi: "Này Tỉ-kheo y sĩ,
các Tỉ-kheo bệnh có điều hòa không? Thầy
đáp: "Bạch Thế Tôn! Các Tỉ-kheo bệnh an ổn, nhưng con thì
lao khổ". Phật
hỏi: "Vì sao vậy?" Thầy
đáp: "Bạch Thế Tôn! Thành Ba La Nại cách đây nửa do tuần,
vì phải tìm những thứ cần dùng, hằng ngày con phải đi
về, vì thế mà lao khổ. Vả lại, Thế Tôn chỉ cho phép Tỉ-kheo
bệnh cất thuốc trong một ngày mà bệnh tật thì chưa khỏi". Phật
lại hỏi Tỉ-kheo y sĩ: "Vậy thì nên chứa thuốc chừng bao
nhiêu ngày là an ổn?" Thầy
đáp: "Bạch Thế Tôn! Dùng liên tục 7 ngày thì mới có thể
biết rõ hiệu lực của thuốc". Phật
dạy: "Từ hôm nay trở đi, Ta cho phép được cất thêm 6 ngày
nữa, với một ngày trước kia, thành ra 7 ngày". Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại Ba
La Nại phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ-kheo bị bệnh cần phải uống các thứ sữa, dầu, mật,
đường phèn, sinh tô, mỡ, thì được phép cất 7 ngày để
uống. Nếu để quá 7 ngày mà còn cất thuốc để uống không
xả bỏ thì phạm tội Ni-tát-kì Ba-dạ-đề ". Giải
thích: -
Bệnh
cần uống thuốc: Như sữa, dầu, mật, đường phèn,
sinh tô, mỡ như đã nói trong giới ăn trộm. -
Bệnh:
Gồm có 404 bệnh, bệnh phong có 101, bệnh hỏa có 101, bệnh
thủy có 101 và bệnh tạp cũng có 101. Nếu gặp bệnh phong,
nên dùng dầu, mỡ để chữa trị; gặp bệnh nhiệt, nên dùng
sữa để trị; gặp bệnh thủy, nên dùng mật chữa trị;
gặp bệnh tạp, nên dùng cả 3 loại thuốc trên để trị. -
Bảy
ngày: Mức độ tối đa. -
Cất
trong 7 ngày: Nhận thuốc về dùng trong 7 ngày, nếu để
quá 7 ngày uống thì phạm Ni-tát-kì Ba-dạ-đề . -
Ni-tát-kì
Ba-dạ-đề: Thứ thuốc ấy phải đem ra thí xả giữa
chúng Tăng rồi sám hối tội Ba-dạ-đề. Nếu không thí xả
mà sám hối, thì phạm tội Việt tì-ni . -
Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ-kheo một ngày được 10 loại thuốc như sữa, dầu, mật,
đường phèn, sinh tô và 5 thứ mỡ thì được uống tất cả
7 ngày không cần tác tịnh, nếu để quá 7 ngày thì tất cả
phạm Ni-tát-kì. Nếu
Tỉ-kheo một ngày được 10 loại thuốc, một nửa tác tịnh,
[317a] một nửa không tác tịnh, trong đó, loại được tác
tịnh thì đúng pháp, loại không tác tịnh mà để quá 7 ngày
thì phạm Ni-tát-kì. Nếu
Tỉ-kheo một ngày được 10 loại thuốc, thì như trong giới
y thừa ở trên đã nói rõ, trong đây khác nhau là thời gian
của thuốc chỉ có 7 ngày. Cho đến không nhớ rõ mà tưởng
nhớ rõ, đó không gọi là tác tịnh. Dầu thắp đèn, dầu
thoa chân, dầu thoa mình không nhớ rõ, không tác tịnh, để
quá 7 ngày, phạm Ni-tát-kì. -
Tác
tịnh không đúng pháp: Nếu tác tịnh với người không
có tâm ý (không hay biết), để quá 7 ngày phạm Ni-tát-kì. Nên
tác tịnh với Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-ni, Sa-di, Sa-di-ni,
người thế tục, súc sinh . Có
các trường hợp: Súc dược lợi, súc dược lợi tương
ô; súc dược lợi, bất súc dược lợi tương ô; bất súc
dược lợi, súc dược lợi bất tương ô; bất súc dược
lợi, bất súc dược lợi bất tương ô; tục nhân dược lợi
ô Tỉ-kheo dược lợi; Tỉ-kheo dược lợi ô tục nhân dược
lợi; tục nhân dược lợi ô tục nhân dược lợi; Tỉ-kheo
dược lợi ô Tỉ-kheo dược lợi; Khách Tỉ-kheo lợi ô cựu
Tỉ-kheo lợi; Cựu Tỉ-kheo lợi ô khách Tỉ-kheo lợi; Khách
Tỉ-kheo lợi ô khách Tỉ-kheo lợi; Cựu Tỉ-kheo lợi ô cựu
Tỉ-kheo lợi; Tăng lợi ô Tỉ-kheo lợi; Tỉ-kheo lợi ô tăng
lợi; Tăng lợi ô Tăng lợi; Tỉ-kheo lợi ô Tỉ-kheo lợi;
Hữu thực gian, phi thọ gian; hữu thọ gian, phi thực gian; hữu
thực gian, hữu thọ gian; hữu phi thực gian, phi thọ gian; bình
đường phèn; dầu thắp đèn; sữa lạc; mỡ. -
Súc
dược lợi, súc dược lợi tương ô: Nếu Tỉ-kheo trước
bữa ăn được đường phèn, tạp thực còn thừa không tác
tịnh, sau bữa ăn lại được đường phèn cũng không tác
tịnh mà lấy cất; đó gọi là súc dược lợi súc dược
lợi tương ô (thức ăn cất trước, thức ăn cất sau hoen
ố lẫn nhau). -
Súc
dược lợi, bất súc dược lợi tương ô: Tỉ-kheo trước
bữa ăn được đường phèn, tạp thực, bèn ăn không tác
tịnh, sau bữa ăn lại được đường phèn đem tác tịnh rồi
lấy cất. Ðó gọi là súc dược lợi bất súc dược lợi
tương ô. -
Bất
súc dược lợi, súc dược lợi bất tương ô: Nếu
Tỉ-kheo trước bữa ăn được đường phèn, không ăn tạp
đem tác tịnh, sau bữa ăn lại được đường phèn thừa không
tác tịnh mà nhận lấy. Ðó gọi là bất súc dược lợi súc
dược lợi bất tương ô. -
Bất
súc dược lợi, bất súc dược lợi, bất tương ô:
Nếu Tỉ-kheo trước bữa ăn được đường phèn, không ăn
tạp, liền đem tác tịnh mà ăn, sau đó lại được đường
phèn tác tịnh rồi nhận lấy. Ðó gọi là bất súc dược
lợi, bất súc dược lợi, bất tương ô. -
Tục
nhân (dược) lợi ô Tỉ-kheo (dược) lợi: Bấy giờ
có Ưu-bà-tắc đến đảnh lễ [317b] chân Tỉ-kheo, Tỉ-kheo
có đường phèn cất đến ngày thứ 7, bèn hỏi Ưu-bà-tắc:
"Ông muốn uống nước đường phèn không?"Ông ta đáp: "Muốn
uống". Thế rồi, ông ta mang đường phèn ấy đi đến đảnh
lễ các Tỉ-kheo khác, hỏi: "Tôn giả muốn uống nước đường
phèn không?"Tỉ-kheo ấy đáp: "Muốn uống". Tỉ-kheo Này được
đường phèn trong ngày không tác tịnh mà lấy. Ðó gọi là
tục nhân lợi ô Tỉ-kheo lợi. -
Tỉ-kheo
(dược) lợi ô tục nhân (dược) lợi: Có một Ưu-bà
- tắc đem đường phèn đến, đảnh lễ chân Tỉ-kheo, Tỉ-kheo
có đường phèn cất đến ngày thứ 7, bèn hỏi Ưu-bà-tắc:
"Ông có muốn uống nước đường phèn không?". Ông ta đáp:
"Muốn uống"liền lấy đổ chung vào trong bình rồi đi. Lại
có một Ưu-bà-tắc khác đem đường phèn đến, hai người
gặp nhau giữa đường. Ưu-bà-tắc trước hỏi Ưu-bà-tắc
sau: "Ông định đi đâu đó?". Ông ta đáp: "Tôi muốn đem đường
phèn Này đến cho Tỉ-kheo mỗ giáp". Ông Này liền nói: "Ông
hãy mang phần đường phèn Này đến cho Tỉ-kheo mỗ giáp ấy
giúp tôi". Ông ta liền nhận mang đi. Ðó gọi là Tỉ-kheo lợi
ô tục nhân lợi. -
Tục
nhân (dược) lợi ô tục nhân (dược) lợi: Cả 2 người
đều khác biệt nhau(?) -
Tỉ-kheo
(dược) lợi ô Tỉ-kheo (dược) lợi: Tỉ-kheo có nước
đường phèn cất đến ngày thứ 7, bèn hỏi Tỉ-kheo khác:
"Thầy muốn uống nước đường phèn không? "Thầy ấy đáp:
‘Muốn uống". Rồi Tỉ-kheo ấy ngay trong ngày được đường
phèn, không tác tịnh mà nhận lấy. Ðó gọi là Tỉ-kheo lợi
ô Tỉ- kheo lợi. - Khách Tỉ-kheo lợi ô cựu Tỉ-kheo lợi: Tỉ-kheo khách có đường phèn cất đến ngày thứ 7, bèn hỏi Cựu Tỉ-kheo: "Thầy muốn uống nước đường phèn không?"Vị kia đá |