| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
6. GIỚI: LÀM NHÀ QUÁ MỨC QUY ÐỊNH. Khi Phật an trú tại tinh xá Khoáng Dã, nói rộng như trên. Bấy giờ, các Tỳkheo ở trong tinh xá này làm 500 cái phòng riêng, đều do họ tự đi xin vật liệu về làm. Có một Tỳkheo vào buổi sáng sớm khoác y, cầm bát vào thôn Khoáng Dã để xin vật liệu làm phòng. Lúc ấy, có một người bán tạp hóa mang những cái móc cửa ra tiệm tạp hóa mở cửa hàng định bán, thì trông thấy Tỳkheo từ xa đi nhanh đến. Người chủ tiệm liền suy nghĩ:"Vị Tỳkheo này đến đây chắc là để xin vật liệu làm phòng. Từ sáng sớm đến giờ ta chưa bán chác được gì, thì lại có người đến xin". Nghĩ thế ông bèn đóng cửa hàng trở về nhà. Rồi Tỳkheo suy nghĩ: "Ông khách buôn này thấy ta bèn đóng cửa hàng trở về nhà, chắc là biết ta đến xin vật liệu mà không muốn cho chớ gì?". Nghĩ thế rồi, thầy liền đi tắt một đường khác đón đầu ông ta, hỏi: "Lão trượng, ông định đi đâu mà không đợi tôi? Tôi biết nhờ ai để cất phòng, chỉ có nhờ ông thôi. Vì ông là người tin Phật pháp, biết có tội phước, hễ tạo nghiệp thì có quả báo..., mà không muốn cho, thì còn ai cho tôi? Lão trượng nên biết rằng đức Thế Tôn đã dạy: - Phải khởi từ tâm đối với người không muốn nghe, phải tạo phương tiện khiến cho họ nghe; Với những người không tin, phải làm cho họ tin; Thậm chí phải dùng tay kéo đầu họ, khuyên họ bố thí. Bởi lẽ, những người ấy sau khi mệnh chung sẽ sinh lên cõi trời, có sắc đẹp, sức khỏe, trường thọ và quyến thuộc đông đúc; đến khi sinh vào cõi người cũng được khoái lạc, có sắc đẹp, sức khỏe, sống lâu và bà con sum vầy, biết tu tập Phật pháp, làm tăng trưởng công đức, kiến tạo đạo quả. Này lão trượng, thế nên đức Thế Tôn nói kệ: "Làm
phước hưởng quả vui,
Khi Tỳkheo đọc bài kệ ấy rồi, lại nói: "Lão trượng! Ông giúp tôi cất phòng (276c) thì phước đức rất lớn". Sau khi nghe thuyết pháp, khách buôn liền bố thí ít nhiều. Thế rồi, ông suy nghĩ: "Nếu ta trở lại cửa hàng, thì sẽ có nhiều người đến xin, đã không được lợi mà còn bị lỗ vốn, chi bằng ngồi ở nhà thì mới bảo toàn được vốn liếng, hơn là ra sạp mua bán, vốn lời sẽ mất hết". Suy nghĩ như thế rồi, ông bèn trở về nhà ngồi nghỉ. Bà vợ thấy ông chồng như thế, nổi giận nói: "Vì sao ông ra chợ rồi lại quay về liền? Biếng nhác như thế thì lấy gì để nuôi sống các con, đóng tiền sưu dịch cho nhà nước?" Khách buôn đáp: - Bà chớ giận, hãy nghe đã. Sáng sớm hôm nay, tôi ra cửa hàng ngoài chợ.v.v.. nói rộng cho đến vì sợ mất vốn nên trở về nhà. Bà vợ biết rồi, liền im lặng không nói. Ðoạn nói về tôn giả Xá Lợi Phất, khi vào xóm làng khất thực tuần tự, liền đến đứng ngoài cửa nhà ấy. Bà vợ ông nhà buôn vốn là người có niềm tin sâu xa, cung kính, nên khi trông thấy Xá Lợi Phất, bèn lấy cái bát sạch bỏ đầy thức ăn, đem ra đổ vào trong bát Xá Lợi Phất, rồi đảnh lễ dưới chân, cung kính vấn an. Bấy giờ, Xá Lợi Phất an ủi, hỏi thăm: "Trong nhà sinh hoạt thế nào, có tốt đẹp không?" Bà ta đáp: "Trong nhà đều tốt cả, chỉ có việc sinh nhai bị đình đốn". Hỏi: "Vì sao như vậy?". Bà bèn đem các nhân duyên trên bạch đầy đủ với Xá Lợi Phất: "Các sinh hoạt trong nhà như ăn uống, y phục và cung cấp sưu dịch cho quan, đều trông cậy vào cái cửa hàng, nhưng nay ông chồng chỉ ở riết trong nhà, vì sợ người ta đến xin. Thực sự ông đang ở nhà mà ông bảo là đi, thực sự đang thức mà bảo là ngủ. Thầy là người mà nhà tôi cung kính, tôn trọng cúng dường, không dám giấu điều chi, nên mới thố lộ cùng thầy". Bấy giờ, Xá Lợi Phất bèn dùng nhiều cách thuyết pháp cho bà vợ ông khách buôn, khiến bà ta sinh tâm hoan hỷ. Rồi thầy trở về tinh xá, đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo: "Gọi Tỳkheo kinh doanh ấy đến đây?" Sau khi thầy được gọi đến, Phật bèn hỏi: "Có thật ông đi xin vật liệu về làm phòng, phiền lụy các thí chủ, khiến họ phiền trách với Xá Lợi Phất về việc của ông không?" Ðáp: "Có thật như vậy bạch Thế Tôn!" Phật liền khiển trách: "Ði xin vật liệu về làm phòng riêng, làm não loạn các thí chủ là ác pháp". Rồi Phật khuyến cáo các Tỳkheo: - Các thầy chớ có làm phòng riêng, khiến não loạn đến các thí chủ nữa. Vì tiền tài khó kiếm, (277a) việc bố thí cũng gian nan. Các Bà La Môn, cư sĩ xén bớt tài vật để cúng dường Sa môn y phục, ẩm thực, sàng tọa và các thứ thuốc men phòng trị bệnh, những việc đó thật rất gian nan. Phật bèn nói với các Tỳkheo kinh doanh: "Trong thời quá khứ, có một Tỳkheo tên Bạt Cừ sống ở trong rừng, đồng thời có nhiều con chim thích quân cũng đậu nơi rừng ấy, sớm chiều kêu inh ỏi, làm não loạn Tỳkheo ấy". Bấy giờ, Tỳkheo Bạt Cừ bèn đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng hầu một bên. Thế rồi, đức Thế Tôn bèn an ủi, hỏi Tỳkheo đang sống trong rừng ấy như sau: "Thế nào? Thầy ít bệnh, ít phiền não, sống trong rừng vui vẻ chứ?". Thầy liền đáp: "Bạch Thế Tôn! Ít bệnh, ít phiền não, sống trong rừng ui vẻ, nhưng vào buổi sớm mai và chiều tối, bị các con chim thích quân kêu inh ỏi, làm não loạn không thể suy nghĩ được". Phật liền hỏi Tỳkheo ấy: "Ông muốn tất cả các con chim thích quân không đến chăng?". Ðáp: "Con mong như vậy, bạch Thế Tôn!". Phật nói: "Này Tỳkheo, cứ vào buổi chiều, bầy chim thích quân bay về. Ông xin mỗi con một cái lông, rồi sáng sớm chúng bay đi, ông cũng xin như thế". Tỳkheo ấy liền bạch với Phật: "Lành thay đức Thế Tôn", bèn trở lại trong rừng, ngồi ngay ngắn suy nghĩ. Ðến khi mặt trời về chiều, bầy chim bay về kêu inh ỏi, thầy liền nói: "Này các con chim thích quân, mỗi chú cho ta mỗi cái lông, vì ta đang có việc cần dùng". Khi ấy, bầy chim bèn im lặng trong giây lát, rồi mỗi con nhổ một cái lông bỏ xuống đất. Vào buổi sáng sớm thầy cũng xin như thế. Do vậy bầy chim bèn di chuyển đến nơi khác, ngủ lại một đêm, nhưng chúng không thích chỗ ấy, nên bay về lại. Thế rồi, Tỳkheo lại xin lông chúng như trước. Mỗi con cũng đều nhổ lông cho thầy. Rồi chúng suy nghĩ: "Nay ông Sa môn này, xin một cách thật là kỳ quặc. E rằng không bao lâu nữa lông của chúng ta sẽ hết sạch và từng thớ thịt cũng sẽ rơi xuống đất, hết bay nổi nữa, biết làm sao đây?"Rồi cùng nhau bàn bạc: "Tỳkheo này thường sống trong rừng này, vậy chúng ta nên đi tìm một nơi khác để đậu, không nên trở về đây nữa". Thế rồi Phật nói với các Tỳkheo: "Loài chim là giống súc sinh, còn ghét xin nhiều, huống chi người đời. Này các Tỳkheo! Chớ có kinh doanh sự nghiệp, khiến cho các Bà La Môn, cư sĩ có tín tâm phải bỏ ra tài vật một cách đau khổ để cung cấp cho Sa môn y phục, ẩm thực, giường nằm và các thuốc men phòng trị bệnh". Các Tỳkheo liền bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Vì sao thầy Tỳkheo ở trong rừng ấy lại khiếp sợ sự hỗn loạn, chán ghét tiếng chim?" Phật nói với các Tỳkheo: "Thầy Tỳkheo ấy không những ngày nay khiếp sợ mà trong quá khứ cũng đã từng khiếp sợ". Các Tỳkheo hỏi: "Ðã có như vậy sao?" Phật liền bảo với các Tỳkheo: "Trong thời quá khứ có một con voi sống nơi thanh vắng trong rừng. Rồi có một cơn gió lốc thổi mạnh, làm gãy cây cối. Voi nghe (277b) tiếng cây cối đổ gãy, liền sợ hãi tuôn chạy. Sau đó, nổi sợ hãi vơi dần, voi liền đến đứng dưới một cội cây, nưhng cây ấy lại gãy nữa, voi liền bôn tẩu. Bấy giờ, có một vị thiên nhân, thấy voi hoảng chạy, liền suy nghĩ: "Vì sao con voi này lại điên cuồng chạy loạn xạ như thế?", bèn đọc kệ: "Gió
trốt thổi lên cây đổ gãy,
Thế rồi, Phật nói với các Tỳkheo: "Con voi thuở ấy chính là Tỳkheo ở trong rừng ngày nay". Ðoạn Phật lại nói với các Tỳkheo kinh doanh: "Trong thời quá khứ có 500 vị tiên nhân ở trong núi tuyết. Một tiên nhân ở riêng tại một chỗ có suối nước ngọt, hoa trái sum sê. Cách đó không xa, tại đầm Tát La có một con rồng đang sống. Nó thấy vị tiên nhân oai nghi tề chỉnh, sinh lòng yêu mến, bèn đến chỗ tiên nhân, thì gặp lúc vị tiên nhân đang ngồi kiết già. Rồng liền dùng thân quấn quanh vị tiên nhân 7 vòng và dùng đầu che trên đỉnh tiên nhân, rồi đứng yên.... Ngày nào cũng như thế. Chỉ có lúc ăn là không đến. Vị tiên nhân bị rồng quấn lấy thân, nên ngày đêm ngồi thẳng, không nghỉ ngơi được. Do đó, thân thể tiều tụy, sinh ra ghẻ chốc. Bấy giờ, có một người sống gần đó, thong thả mang đồ đến cúng dường tiên nhân, thấy tiên nhân gầy ốm và ghẻ chốc, bèn hỏi: "Vì sao ông như thế?". Tiên nhân liền trình bày đầy đủ sự việc kể trên. Người ấy liền nói với ông: "Ông có muốn con rồng này không trở lại nửa chăng?". Ðáp: "Muốn như vậy". Người ấy lại hỏi tiên nhân: "Con rồng ấy có đeo thứ gì không?". Ðáp: "Nó chỉ đeo chuỗi ngọc anh lạc trên cổ". Người ấy liền bảo: "Ông chỉ cần xin nó xâu chuỗi ngọc. Vì tính của rồng rất keo kiệt, nên nó sẽ không cho ông và do đó nó không đến nữa". Bày kế xong rồi, ông ta liền đi. Trong khoảnh khắc con rồng lại đến, tiên nhân bèn xin chuỗi ngọc. Rồng nghe đến việc xin ngọc, trong lòng không vui, liền từ từ bỏ đi. Hôm sau, rồng bèn trở lại. Từ xa trông thấy, tiên nhân bèn đọc kệ: "Chuỗi
Ma ni ngời sáng,
Khi ấy, con rồng liền đọc kệ đáp lại: "Sợ
mất chuỗi Ma ni
Bấy giờ, có vị trời đang ở trên hư không, liền đọc kệ: "Nhàm
chán sở dĩ sinh
Thế rồi, Phật liền nói với các Tỳkheo kinh doanh: "Rồng là loài súc sinh còn ghét sự tham cầu nhiều, huống gì là người. - Này các Tỳkheo! Chớ có kinh doanh nhiều việc, đòi hỏi hoài không biết chán, khiến cho Bà La Môn, cư sĩ có lòng tin phải đau xót bỏ tài vật ra cung cấp cho Sa môn như y phục, ẩm thực, giường nằm và các thứ thuốc men chữa bệnh. Ðoạn, Phật nói với các Tỳkheo: "Có mười việc làm cho người ta không thích. Ðó là: 1-
Không thường gần nhau.
Ðó là mười việc làm cho người ta không thích". Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỳkheo đang sống tại những nơi khoáng dã phải tập họp lại tất cả, vì mười việc lợi ích mà chế giới cho các Tỳkheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỳkheo tự mình đi xin vật liệu về xây phòng ốc, không
có thân chủ, tự bản thân mình làm, thì phải làm đúng qui
định, tức là: Chiều dài 12 gang tay tu già đà, bên trong rộng
7 gang tay, phải dẫn các Tỳkheo đến xem chỗ xây phòng, nơi
ấy không nguy hiểm, không có phương hại. Trái lại, nếu
Tỳkheo tự đi xin vật liệu về làm phòng, không có thí chủ,
tự mình làm lấy mà làm tại những nơi nguy hiểm, có phương
hại, làm quá qui định, cũng không dẫn các Tỳkheo đến xem
chỗ làm phòng, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Giải thích Tự xin: Tự mình đi xin nhà này, nhà kia, hoặc một đồng, hai đồng cho đến trăm ngàn đồng. Phòng xá: Mức độ căn phòng mà Phật cho phép. Làm: Hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm. Không có thân chủ: Không có thân chủ nghĩa là không có người đàn ông, đàn bà, tại gia hay xuất gia là thân chủ. Tự thân: Tự chính mình. Ðúng qui định: Qui định đúng pháp. Dài: Ðo theo chiều dọc. Rộng: Ðo theo chiều ngang. Tu già đà: Vượt qua một cách khéo léo. (ám chỉ Phật) 12 gang tay: Gồm hai thước bốn tấc. Bên trong 7 gang tay: Phép làm phòng phải đo ở trong và ở ngoài, nghĩa là tính chiều dọc và chiều ngang bên trong bức tường. Ðo mức độ cao thấp của căn phòng: Tường phải cao 1 trượng 2 thước. Dẫn các Tỳkheo đến xem chỗ làm phòng: Nghĩa là chỉ chỗ đất (qui định làm phòng). Các Tỳkheo: (278a) Hoặc là chúng Tăng, hoặc là sứ giả của chúng Tăng. Tăng: Vị Tỳkheo làm phòng trước hết vào trong Tăng làm pháp yết ma xin Tăng nghe mình trình bày, rồi mới làm pháp yết ma xin cất phòng. Người làm yết ma nói như sau: - Xin đại đức Tăng lắng nghe: Vị Tỳkheo mổ giáp tự xin làm phòng, không có người giúp đỡ, tự mình làm lấy, muốn xin chúng Tăng chỉ cho chỗ (để làm). Nếu chúng Tăng thấy hợp thời, thì hãy chỉ chỗ cho Tỳkheo muốn xây phòng: - Các đại đức Tăng lắng nghe: Tỳkheo mổ giáp xin Tăng chỉ chỗ, nay Tăng đã nhận lời, nên im lặng. Việc này hãy cứ như thế mà thi hành. Thế rồi, vị Tỳkheo ấy vào trong Tăng, quì gối chấp tay nói như sau: "Ðại đức Tăng nhớ nghĩ cho! Con là Tỳkheo mổ giáp tự xin làm phòng, không người giúp đỡ, tự mình làm lấy. Nay đến trong Tăng xin phép làm phòng. Mong Tăng chỉ cho con chỗ làm phòng". Thầy phải xin ba lần như vậy. Rồi Tỳkheo làm yết ma phải nói như sau: "Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỳkheo mỗ giáp tự xin cất phòng, không có người giúp đỡ, tự mình làm lấy, đã ở trước Tăng xin chỉ chỗ làm phòng. Nếu Tăng thấy hợp thời, thì Tăng hãy chỉ chỗ làm phòng cho Tỳkheo mổ giáp này!" Rồi bạch như thế này: - Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỳkheo mỗ giáp tự xin làm phòng, không có người giúp, tự mình làm lấy, đã ở trước Tăng xin chỉ chỗ làm phòng. Nay Tăng vì Tỳkheo mỗ giáp chỉ chỗ làm phòng. Ðại đức nào đồng ý thì im lặng, ai không đồng ý hãy nói. Vì Tăng đã đồng ý chỉ chỗ làm phòng cho Tỳkheo mổ giáp, nên tất cả đều im lặng. Vậy việc này hãy cứ như thế mà thi hành". Nếu tất cả trong Tăng không có ai làm yết ma, thì tất cả Tăng phải đi đến chỗ làm phòng, rồi một Tỳkheo xướng lên giữa Tăng rằng: - Tất cả Tăng vì Tỳkheo mỗ giáp chỉ chỗ làm phòng. (nói như thế ba lần). Sứ giả của Tăng: Nếu chỗ làm phòng xa xôi, hoặc bị nước ngăn cách, hoặc lúc trời lạnh, lúc nóng bức, lúc mưa lớn, hoặc lúc tuyết rơi nhiều, hoặc trong Tăng có nhiều Tỳkheo già bệnh không đến đầy đủ được, thì khi vị Tỳkheo ấy xin Tăng chỉ chỗ làm phòng xong, Tăng phải sai 1, 2, tối đa là 3 Tỳkheo (đại diện cho Tăng). Vì không thể làm yết ma cho tất cả chúng (từ 4 người trở lên). Rồi thầy yết ma nên nói như sau: - Ðại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳkheo mỗ giáp tự xin làm phòng, mà không có người giúp, tự mình làm lấy, đã ở giữa Tăng xin chỉ chỗ làm phòng. Nếu Tăng thấy hợp thời, thì Tăng sai Tỳkheo A, Tỳkheo B chỉ chỗ làm phòng cho Tỳkheo mỗ giáp. Rồi bạch như sau: - Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỳkheo mỗ giáp tự xin làm phòng mà không có người giúp, tự mình làm lấy, đã ở giữa Tăng xin chỉ chỗ làm phòng. Nay Tăng hãy sai (278b) Tỳkheo A, Tỳkheo B chỉ chỗ làm phòng cho Tỳkheo mỗ giáp. Các đại đức nào bằng lòng sai Tỳkheo A, Tỳkheo B chỉ chỗ làm phòng cho Tỳkheo mỗ giáp, thì im lặng, ai không bằng lòng thì nói. Vì Tăng im lặng, như vậy chứng tỏ Tăng đã bằng lòng sai Tỳkheo A, Tỳkheo B chỉ chỗ làm phòng cho Tỳkheo mỗ giáp. Việc này cứ như thế mà thi hành. Bấy giờ, các Tỳkheo sứ giả đến chỗ làm phòng quan sát. Nếu tại chỗ ấy có nhiều côn trùng và những cây nhiều hoa trái, thì không nên chấp nhận. Ngoại trừ sau khi quan sát mà không có những thứ đó thì như trên đã nói. Một Tỳkheo xướng rằng: - Tăng đã xem chỗ làm phòng rồi. (Nói như thế ba lần) Chỗ không nguy hiểm: Nơi ấy không có các giống côn trùng rắn rít, không có cây cối nhiều hoa trái. Chỗ không phương hại: Bốn bên mỗi bên phải dung chứa được một cái thang có 12 nấc, và khoảng cách của mỗi nấc thang là 1 khuỷu tay. Cần phải sai người làm công dọn dẹp những cỏ tranh che phủ các lối đi lại xung quanh. Nếu tại những chỗ nguy hiểm, có cây cối nhiều hoa trái, và chỗ có các loại trùng độc, rắn rít, xung quanh không dung chứa được một cái thang 12 nấc, không sai người dọn dẹp lối đi lại xung quanh bị cỏ tranh che khuất, mà Tỳkheo tự xin làm phòng, không ai giúp, tự làm lấy, cũng không dẫn các Tỳkheo đến chỉ chỗ để làm, và làm quá mức qui định, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Tăng già bà thi sa: Như trên đã nói. Nếu Tỳkheo tự xin làm phòng tại những chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, cũng không dẫn các Tỳkheo đến chỉ chỗ cần làm, hoặc làm dưới mức qui định, hoặc nhờ người khác làm, đến khi làm xong, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Khi sử dụng thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Từ 2 Tỳkheo cho đến nhiều Tỳkheo cũng như thế. Nếu một Tỳkheo tự xin làm phòng, không ai giúp, tự làm lấy, lại làm tại chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, lại không dẫn các Tỳkheo đến chỉ chỗ cần làm, hoặc tự làm đúng mức qui định, hoặc bảo người khác làm, đến khi làm xong, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Khi sử dụng thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Từ 2 người trở lên đến nhiều người cũng đều như thế. Nếu Tỳkheo tự xin làm phòng, không có người giúp, tự mình làm lấy, làm nhằm chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, lại không dẫn các Tỳkheo đến chỉ chỗ cần làm, làm quá mức qui định, hoặc bảo người khác làm. Khi phòng làm xong thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Khi sử dụng thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Từ 2 Tỳkheo trở lên đến nhiều Tỳkheo cũng như thế. Nếu Tỳkheo làm phòng tại chỗ không được chỉ định, hoặc ngoài phạm vi Tăng chỉ định, hoặc chỗ dự kiến chỉ định từ năm trước, hoặc tại các cù lao không phải đất cát, không phải đất có đá cuội, không phải ở trên tảng đá, không phải chỗ đất bị lửa đốt cháy; hoặc trong Tăng có một người không làm phòng, hoặc 2, 3 người không làm phòng đều không nên chỉ chỗ. (278c) Nếu những người không làm phòng trong chúng số đông thì cho phép chỉ chỗ. Nếu Tỳkheo muốn làm phòng vệ sinh mà phải dùng cái phòng đang ở để làm, thì không nên làm; hoặc phải dùng cái phòng đang chất củi để làm, thì không nên làm; hoặc phải dùng đến cái phòng ở trung tâm để làm, thì không nên làm; hoặc phải dùng cái phòng tắm để làm, thì không nên làm. Nếu Tỳkheo làm phòng riêng tại những nơi nguy hiểm, nơi có thể phương hại, chỗ không được Tăng chỉ định, làm quá mức cho phép, hoặc xây toàn bằng đất sét đều phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu Tỳkheo dùng gạch xây tường để làm phòng thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Khi làm vừa xong cửa lớn, cửa sổ thì phạm tội Thâu Lan Giá. Hoặc căn phòng được xây bằng gạch cho đến khi xây xong viên gạch cuối cùng, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Hoặc được lợp bằng ngói, hoặc được lợp bằng cây, hoặc lợp bằng ván, hoặc lợp bằng xi măng, hoặc lợp bằng những viên đất sét, hoặc lợp bằng cỏ, cho đến khi lợp xong lọn cỏ cuối cùng, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Nếu làm phòng chưa xong, nửa chừng dừng lại, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nhưng nếu làm cho đến khi hòan thành, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Hoặc trường hợp người làm phòng hay chủ phòng ở trước trong phòng, rồi sai người khác làm, cho đến lúc hoàn thành thì Tỳkheo làm phòng phạm tội Tăng già bà thi sa. Hoặc trường hợp chủ phòng ở trước trong phòng, rồi sau đó người khác làm hoàn thành, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu Tỳkheo làm phòng ở chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, không dẫn các Tỳkheo chỉ chỗ cần làm, làm quá mức qui định và Tỳkheo chủ phòng, không xả giới, không chết, không hiến cho Tăng, rồi có một Tỳkheo nào đó hoặc nhuộm bát, may y trong đó, hoặc tụng kinh, ngồi thiền, thì tất cả những người sử dụng đều phạm tội Việt Tỳ Ni. Hai người, nhiều người làm phòng cũng như vậy. Nếu Tỳkheo tự xin làm phòng tại chỗ không nguy hiểm, chỗ không phương hại, có dẫn các Tỳkheo đến chỉ chỗ cần làm, làm dưới mức qui định, hoặc bảo người khác làm, cho đến khi làm xong, thì Tỳkheo ấy không có tội. Người sử dụng cũng không có tội. Hai người, nhiều người cũng như vậy. Nếu Tỳkheo tự xin làm phòng tại chỗ không nguy hiểm, chỗ không có phơng hại, có dẫn các Tỳkheo đến chỉ chỗ làm phòng, và làm đúng mức qui định, hoặc bảo người khác làm cho đến khi phòng hoàn thành, thì Tỳkheo ấy không có tội. Người sử dụng cũng không có tội. Hoặc hai người, hoặc nhiều người cũng như vậy. Nếu Tỳkheo dẫn các Tỳkheo chỉ chỗ làm phòng, chỗ không ngoài ranh giới mà Tăng đã chỉ định, cũng không phải chỗ đã chỉ định từ năm trước, không phải các chỗ ở trong nước như : chỗ đất cát, chỗ đất có đá cuội, hoặc trên tảng đá, không phải chỗ đất bị lửa thiêu và những người không làm phòng trong chúng Tăng không phải là 1 người, 2 người, 3 người mà nhiều người thì cho phép làm. Hoặc giả dự định làm phòng ở, (279a) dự định làm phòng rửa ráy, dự định làm hội trường, dự định làm phòng tắm, thì cho phép làm. Hoặc giả Tỳkheo ấy làm cái phòng tại chỗ không nguy hiểm, chỗ không phương hại, làm không quá mức qui định, thầy cũng có dẫn các Tỳkheo đến xem chỗ làm phòng, các Tỳkheo ấy hoặc giúp tô vách tường, hoặc trợ giúp thầy đúc gạch, chung quy tất cả những Tỳkheo trợ giúp này đều không có tội. Nếu xây (gạch) một hàng, hai hàng cho đến khi đặt cửa lớn và cửa sổ, thì Tỳkheo ấy không có tội. Hoặc dùng gạch để lợp, cho đến khi lợp viên cuối cùng, thì Tỳkheo ấy không có tội. Hoặc lợp bằng ngói, lợp bằng cây, lợp bằng ván, lợp bằng cỏ, lợp bằng xi măng, lợp bằng những viên đất sét, khi lợp đến viên đất sét cuối cùng, cũng không có tội. Nếu làm nửa chừng rồi dừng lại, thì Tỳkheo ấy cũng không có tội. Hoặc làm cho đến khi hoàn thành, thì Tỳkheo ấy cũng không có tội. Hoặc tạo phương tiện để cho người khác làm hoàn thành, thì Tỳkheo ấy không có tội. Hoặc tự làm, rồi sau đó người khác hoàn thành, thì Tỳkheo ấy không có tội. Nếu Tỳkheo tự xin làm phòng tại chỗ không nguy hiểm, chỗ không phương hại, có dẫn các Tỳkheo đến chỉ chỗ, làm không quá mức qui định, rồi Tỳkheo này không xả giới, không chết, không hiến cho chúng Tăng, các Tỳkheo hoặc nhuộm bát, may y, tụng kinh, ngồi thiền ở trong đó, thì tất cả những người sử dụng này đều không có tội. Nếu Tỳkheo làm các rạp tạm tại chỗ Phật đản sinh, chỗ Phật đắc đạo, chỗ chuyển pháp luân, chỗ năm năm đại hội một lần, vì để cúng dường những chỗ tôn quí ấy mà làm rạp bằng tranh, rạp bằng lá cây, rạp bằng các thứ cờ màn trướng thì cho phép làm. Thế nên nói: - Nếu Tỳkheo tự xin làm phòng, không ai giúp, tự mình làm lấy, mà làm quá mức qui định, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. (Hết giới Tăng tàn thứ 6)
7.GIỚI: KHÔNG MỜI TĂNG CHỈ CHỖ LÀM THẤT Khi Phật an trú tại nước Câu Xá Di, nói rộng như trên. Bấy giờ, tại nước Câu Xá Di có 500 Tỳkheo mỗi người đều làm phòng riêng. Lúc ấy, Tỳkheo Xiển Ðà không có người ủng hộ làm phòng, nhưng thầy có một thí chủ thân tín tên A Bạt Tra. Thế rồi, thầy khoác y thường dùng để đi vào xóm làng, tới gia đình ấy. Chủ nhân trông thấy thầy đến, liền cung kính đảnh lễ dưới chân, rồi cùng nhau vấn an. Ðoạn, chủ nhân hỏi: "Thưa thầy, tôi nghe nói 500 Tỳkheo tại Câu Xá Di làm 500 căn phòng riêng, vậy có ai làm phòng giúp cho thầy không?" Ðáp: "Ðúng như đạo hữu đã nghe, ai có thân chủ thì đều được phòng, riêng tôi đức hèn, phước mỏng, giống như chim kiêu trơ trụi, không có thân nhân, thì ai làm phòng cho?" Chủ nhân liền nói: "Thưa thầy, thầy đừng hận, tôi sẽ làm cho thầy", bèn cúng dường 500 đồng và bạch: "Thưa thầy, thầy hãy đem về làm phòng". Bấy giờ, Xiền Ðà liền cầm tiền ra về, tìm chỗ thuận tiện, yên ổn để làm một cái phòng lớn. Thầy dùng 500 đồng để đổ nền và xây một ít tường vách, thì tiền vật hết sạch. Thầy lại đi đến nhà ấy. Chủ nhân (279b) bèn lễ dưới chân, cùngnhau an ủi, rồi nói: "Thưa thầy, làm phòng xong chưa? Ðáp: "Mới đổ xong nền và làm được một ít tường vách thì tiền vật đều hết cả". Lúc ấy, chủ nhân lại cúng thêm 500 đồng. Xiển Ðà mang số tiền ấy về xây xong tường vách và đặt xong các cửa lớn cửa sổ, thì tiền vật cũng lại hết sạch, nên thầy đi đến thân nhân một lần nữa. Chủ nhân bèn lễ dưới chân rồi hỏi: "Thưa thầy, phòng làm xong rồi chăng?" Ðáp: "Tường vách, cửa lớn, cửa sổ làm xong, thì tiền vật cũng hết". Bấy giờ, chủ nhân hết tin tưởng, bèn nói với Xiển Ðà: "Thầy là người xuất gia mà làm căn phòng lớn làm chi. Số tiền 1000 đồng đủ để xây một căn lầu mà chỉ làm một căn phòng, vì sao không đủ? Tôn giả hãy trở về. Tôi không thể cho thêm nữa". Khi ấy, Xiển Ðà ưu sầu thầm nhủ: "Không biết dùng phương tiện gì để làm cho xong căn phòng đây". Thầy bèn nhớ đến rừng cây tát La liền tối đó định chặt cây đem về làm cho căn phòng hoàn thành. Bấy giờ, có một con quỉ đang nương thân nơi cây ấy, nói với Xiển Ðà: "Chớ có chặt cây này, nếu thầy chặt thì các đứa con trai, con gái bé thơ của tôi bị nắng mưa sương gió, không nơi nương tựa." Xiển Ðà liền nói: "Ðồ quỉ chết tiệt, hãy xéo gấp, đừng ở đây nữa, ai mà muốn thấy mặt ngươi", rồi đốn lấy cây. Khi ấy, con quỉ này liền khóc rống lên, rồi dắt các con đến chỗ Thế Tôn. Phật thấy thế, tuy biết nhưng vẫn hỏi: "Vì sao mà ngươi khóc lóc?". Ðáp: "Bạch Thế Tôn! Tôn giả Xiển Ðà chặt cái cây trong rừng mà con nương trú đem về làm phòng. Bạch Thế Tôn! Các con trai, con gái thơ dại, bé bỏng của con phải phơi thân ngoài nắng mưa sương gió, biết nương vào chỗ nào đây?" Bấy giờ, Thế Tôn bèn tùy thuận thuyết pháp cho con quỉ ấy nghe, chỉ dạy về những điều lợi ích vui vẻ, khiến mọi sầu khổ đều được đoạn trừ. Rồi Thế Tôn chỉ cho nó đến nương thân một rừng cây gần đó. Ðoạn, Phật bảo các Tỳkheo gọi Xiển Ðà đến. Họ liền đi gọi. Sau khi Xiển Ðà đến, Phật bèn hỏi rõ các việc trên: "Có thật ông làm như thế chăng?". Ðáp: "Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!". Phật nói: "Này kẻ ngu si! Ðó là việc ác. Ông không biết rằng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri hễ an trú một đêm tại nơi nào thì người ta xem cây cối xung quanh nơi ấy như là những tháp miếu. Cho nên quỉ thần thích đến cư trú. Vì sao Tỳkheo lại ác khẩu mắng họ? Xiển Ðà! Hành vi đó là phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy; không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp". Các Tỳkheo liền bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Vì sao Xiển Ðà này khéo dùng phương tiện kinh doanh khiến cho chủ nhân ấy cúng 1000 đồng tiền cũ?". Phật nói với các Tỳkheo: "Ðó chẳng phải là phương tiện khéo léo. Nếu là phương tiện khéo léo thì chỉ 500 đồng đã làm xong căn phòng, đâu phải dùng đến cả 1000 đồng!" Các Tỳkheo liền bạch với Phật: "Ðúng như Thế Tôn nói! Xét kỹ thì Tỳkheo Xiển Ðà này (279c) không có phương tiện tốt". Phật liền nói với các Tỳkheo: "Không phải ngày nay mới biết ông Tỳkheo này không có phương tiện tốt mà trong thời quá khứ cũng đã biết Tỳkheo Xiển Ðà không có phương tiện tốt". Rồi Phật tiếp: "Trong thời quá khứ có một thành phố tên Ba La Nại, nước tên Già Thi. Lúc bấy giờ, vị quốc vương dùng luật pháp cai trị muôn dân, khiến cho dân chúng an lạc không bị tai ương. Quốc vương không có con, rồi hoàng hậu bỗng nhiên mang thai, đủ mười tháng liền sinh được một bé trai, nhưng không có mắt và mũi. Sinh con được 7 ngày, nhà vua liền mở đại hội triệu tập quần thần, thầy tướng và đạo sĩ đến để đặt tên cho con. Theo phong tục của vương quốc lúc bấy giờ người ta thường dựa vào phước tướng, vào tinh tú, hoặc vào cha mẹ để đặt tên cho con. Thế nên Bà La Môn bèn hỏi mọi người: "Thân thể của vương tử có những dị tướng gì?" Một người ngồi bên cạnh đáp: "Ngày nay, vương tử này mặt mày phương phi, đoan chánh nhưng không có mắt và mũi". Bà La Môn liền nói: "Thế thì nên đặt tên cho vương tử là Kính Diện, và giao cho 4 bà vú trông nom nuôi dưỡng: Một bà lo việc xoa bóp, tắm rửa; Một bà lo việc vệ sinh; Một bà lo việc bồng bế và một bà lo việc bú mớm. Thế rồi, 4 bà vú này ngày đêm cung cấp và hầu hạ khiến vương tử như đóa hoa sen mỗi ngày mỗi tăng trưởng. Ðến lúc vương tử khôn lớn, thì vua cha mệnh chung, triều đình bèn tôn Kính Diện lên kế vị ngôi vua. Vị thái tử này vốn đã gieo trồng phước đức từ đời trước, nên tuy sinh ra không có mắt mà lại có thiên nhãn. Do đó mà có thể làm vua đủ phước đức và uy lực lớn. Nhân dân trong nước nghe thái tử Kính Diện làm vua không ai là không lấy làm kỳ quái. Bấy giờ, có một đại thần muốn thử nhà vua mà chưa gặp cơ hội, thì gặp lúc vua xuất du, đồng ra lệnh quần thần làm lại cung điện mới, cho điêu khắc chạm trổ và vẽ vời nhiều cảnh trí. Ðại thần suy nghĩ: "Bấy lâu nay ta muốn thử nhà vua, hôm nay mới gặp được cơ hội". Ông bèn dùng một con khỉ cho mặc y phục, rồi làm những dụng cụ tinh xảo (của thợ mộc), bỏ vào trong túi da, buộc vào vai nó, đoạn đem đến trước vua, nói: - Tâu đại vương, đại vương ra lệnh lập cung điện, nay thợ khéo đã đến, xin đại vương hãy chỉ bảo về phương pháp xây cất cung điện. Vua thầm nhủ: "Ông ấy muốn thử ta", liền đọc kệ: "Xem
loài chúng sinh này,
Thế rồi, Phật nói với các Tỳkheo: "Quốc vương Kính Diện thuở ấy, nay chính là Ta đây; và con khỉ thuở ấy, nay là Tỳkheo Xiển Ðà. Vào thời ấy ta sinh ra không có 2 mắt (280a) mà còn biết được ông ta không làm được việc, huống gì ngày nay. Rồi Phật truyền lệnh cho các Tỳkheo sống tại thành Câu Xá Di phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại và chế giới như sau: --
Nếu Tỳkheo làm phòng ốc lớn, có thân chủ giúp đỡ làm
cho mình, phải dẫn các Tỳkheo đến chỉ chỗ để làm, và
làm tại chỗ không nguy hiểm, không phương hại. Trái lại,
nếu Tỳkheo có thân chủ làm phòng cho mình, lại làm nhằm
chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, cũng không dẫn các Tỳkheo
đến chỉ chỗ để làm, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Giải thích Lớn: Quá mức qui định. Phòng: Phòng ở mà Phật cho phép. Làm: Hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm. Có chủ: (Trước đã giải thích). Vì mình: Vì bản thân mình, không phải vì chúng Tăng. Dẫn các Tỳkheo chỉ chỗ để làm: Nghĩa là dẫn cả chúng Tăng, hoặc là dẫn sứ giả của Tăng, như đã nói trong trường hợp phòng nhỏ ở trên. Chỗ không nguy hiểm, chỗ không phương hại: Cũng như đã nói ở trên. Nếu Tỳkheo làm phòng tại các nơi nguy hiểm, nơi có phương hại, và không dẫn các Tỳkheo đến chỉ chỗ để làm phòng thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Nếu một Tỳkheo làm phòng lớn tại chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm, cho đến khi phòng hoàn thành, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Khi sử dụng thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Từ 2 người trở lên đến nhiều người cũng như thế. Trừ trường hợp làm quá mức qui định, các vấn đề có tội, không có tội cũng giống như trường hợp phòng nhỏ đã nói ở trên. Thế nên nói: - Nếu Tỳkheo làm phòng ốc lớn, có thân nhân giúp làm cho mình mà không dẫn các Tỳkheo đến chỉ chỗ để làm, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. (Hết giới Tăng tàn thứ 7).
8. GIỚI: VÌ TỨC GIẬN MÀ VU KHỐNG. Khi Phật an trú tại thành Xá vệ như trên đã nói. Bấy giờ, có thầy Tỳkheo tên Ðà Phiêu Ma La Tử được chúng Tăng đề cử coi sóc 9 việc sau đâỳ: 1-
Coi sóc theo thứ tự mà trao giường ghế.
Ðó gọi là Tăng đề cử coi sóc 9 việc. Khi giao giường ghế cho ai thì trưởng lão dùng ngón tay út bên phải khều tim đèn cho sáng để thấy rõ các dụng cụ, rồi mới giao cho. Ðoạn, thầy sắp xếp: -
Người ưa yên tĩnh thì cho ở chung với người ưa yên tĩnh.
Bấy giờ, Tỳkheo Từ Ðịa và nhóm 6 Tỳkheo (Lục quần Tỳkheo) đến đòi phòng ở. Tôn giả Ðà Phiêu Ma La Tử đáp: - Chờ một tí, đợi các thầy ngồi ổn định, rồi tôi sẽ tuần tự giao phòng cho các thầy. Ðến khi họ ngồi xong, Ðà Phiêu bèn theo thứ lớp giao phòng cho họ. Khi nhận được phòng, nhóm 6 Tỳkheo thấy các vật dụng trong phòng như giường nằm, ghế ngồi, mền gối đều cũ kỹ, mục nát và căn phòng ăn riêng cũng xấu xí bèn cùng nhau bàn tính: - Hình như trưởng lão Ðà Phiêu Ma La Tử có tư thù với chúng ta, nên cho chúng ta căn phòng tồi tàn và thức ăn thô xấu. Nếu trưởng lão này còn sống đời phạm hạnh lâu dài, thì chúng ta sẽ phải chịu nhiều đau khổ. Nay chúng ta hãy vu cáo ông ta phạm tội Ba La Di. Ðoạn, họ nói với Ðà Phiêu: "Trưởng lão! Ông phạm tội Ba La Di. Chúng tôi sẽ vạch tội ông". Ðáp: "Tôi không phạm tội ấy". Họ bèn nói: "Có ai ăn trộm mà tự xưng mình ăn trộm bao giờ! Nhưng nay ông đã phạm tội Ba La Di. Thế rồi, họ đến chỗ đông người vu khống, lại đến giữa chúng Tăng vu khống tôn giả Ðà Phiêu Ma La Tử phạm tội Ba La Di. Ðà Phiêu Ma La Tử bèn đi đến bạch với Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn! Tỳkheo Từ Ðịa đã vu khống con phạm tội Ba La Di một cách vô căn cứ". Phật hỏi: "Ông có việc ấy không?" Ðáp: "Không có, bạch Thế Tôn!" Phật nói: "Này Tỳkheo, Như Lai biết ông thanh tịnh, nhưng người khác vu khống ông, vậy phải làm sao đây?" Ðà Phiêu nói: "Tuy Thế Tôn biết con thanh tịnh, không có tội, nhưng xin Thế Tôn hãy nói với ông ta khiến ông ta sinh khởi lòng tin, để khỏi chuốc lấy sự bất hạnh lâu dài". Phật liền bảo: "Hãy gọi nhóm 6 Tỳkheo đến đây". Thầy liền đi gọi đến. Ðoạn, Phật hỏi nhóm 6 Tỳkheo: "Có thật các ông vu khống Tỳkheo Ðà Phiêu Ma La Tử phạm tội Ba La Di một cách vô căn cứ không?" Ðáp: "Thật như vậy, bạch Thế Tôn!" Phật hỏi: "Vì sao thế?" Ðáp: Vì trưởng lão ấy giao cho chúng con căn phòng cũ kỹ đổ nát.v.v... cho đến: Nếu trưởng lão ấy còn sống đời phạm hạnh lâu dài, thì chúng ta còn phải chịu nhiều đau khổ. Do thế, chúng con vu khống ông ta phạm tội Ba La Di. Phật liền khiển trách nhóm Tỳkheo 6 người: - Ðó là việc ác. Há ta không thường bảo phải cung kính và thể hiện sự từ ái của thân, khẩu, ý đối với các bậc phạm hạnh hay sao? Nay vì sao các ông lại vu khống một Tỳkheo sống phạm hạnh vô tội, rằng ông ta phạm tội Ba La Di một cách vô căn cứ như thế? Ðó là phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. (280c) Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỳkheo đang sống tại thành Xá vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỳkheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỳkheo vì sân hận, không vui, mà vu khống một Tỳkheo
vô tội thanh tịnh rằng phạm tội Ba La Di một cách vô căn
cứ, chỉ vì muốn phá rối Tỳkheo phạm hạnh ấy, sau đó
hoặc có người tra xét lại, hoặc không ai tra xét, mà tự
nói: "Việc đó không có căn cứ, vì tôi tức giận nên nói
như thế", thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Giải thích: Sân: 9 sự não loạn hoặc giận dữ vô cớ và cái thứ 10 là hận. Hận nghĩa là phàm phu và người còn đang học cảm thấy không vui, cho đến đối với A La Hán. Không có căn cứ: Sự việc ấy hoàn toàn không xuất hiện, cũng không thấy việc của người ấy, không nghe việc của người ấy, không nghi việc của người ấy. Ba La Di: Mỗi mỗi điều trong 4 Ba La Di. Vu khống: Việc không có mà dựng đứng lên nói là có. Ðó gọi là vu khống. Muốn phá sự thanh tịnh của người ấy: Muốn làm cho họ không phải là Tỳkheo, không phải là Sa môn, không phải là con dòng họ Thích. Hoặc muốn họ làm Sa di, làm người thế tục, làm kẻ giữ vườn, làm ngoại đạo... Sau đó hoặc có người tra xét, hoặc không ai tra xét. Tra xét: Như hỏi rằng: - "Ông thấy việc gì? Việc dâm dục chăng? Lấy trên 5 tiền chăng? Cố giết người chăng? Không có thật mà tự xưng được pháp hơn người phải không? Vì sao mà thấy? Nhân lý do gì mà thấy? Thấy ở đâu?"Ðó gọi là tra xét. Trái lại, nếu không hỏi như thế, thì gọi là không tra xét. Nếu việc ấy không có căn cứ mà chỉ vì sân hận nên nói như thế, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Nếu Tỳkheo vì sân hận mà vu khống 2 người tương tự: Người bất tịnh và người thanh tịnh. Rồi người thanh tịnh hỏi: - Thầy thấy tôi phạm tội gì? Trong 4 việc (4 tội Ba La Di), phạm tội thứ nhất hay thứ hai? Trong 13 việc (13 tội Tăng già bà thi sa) phạm tội thứ nhất hay thứ hai? Hoặc không thấy, không nghe, không nghi, không quyết định mà đem ra vu khống người ta tại chỗ vắng hoặc giữa nhiều người, hoặc giữa chúng Tăng rằng: - Tôi thấy thầy ấy phạm tội Ba La Di. Tôi nghe thầy ấy phạm tội Ba La Di. Tôi nghi thầy ấy phạm tội Ba La Di. Nhưng thấy không thật thấy, căn bản không thật; Nghe không thật nghe, căn bản không thật; Nghi không thật nghi, căn bản không thật. Sự thấy đó là sai lầm, nghe sai lầm, nghi sai lầm, không phải thấy như vậy; không phải nghe như vậy, không phải nghi như vậy; thế mà hai người đối diện, 4 mắt nhìn nhau, vu khống trực tiếp, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Nếu Tỳkheo vu khống Tỳkheo khác phạm các điều trong 4 tội Ba La Di, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Nếu Tỳkheo vu khống Tỳkheo khác phạm các điều trong 13 tội Tăng già bà thi sa, thì phạm tội Ba Dạ Ðề. Nếu Tỳkheo vu khống Tỳkheo khác phạm các tội trong Ba Dạ Ðề, (281a) thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu vu khống về các tội Ba la đề đề xá ni, chúng học pháp và tội Việt Tỳ Ni, thì phạm tội Việt Tỳ Ni tâm niệm sám hối. Nếu vu khống Tỳkheo ni phạm các tội trong 8 Ba La Di, trong 19 Tăng già bà thi sa, thì phạm tội Ba Dạ Ðề. Nếu vu khống Tỳkheo ni phạm các tội thuộc trong 30 Ni Tát Kỳ, trong 141 Ba Dạ Ðề, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu vu khống Tỳkheo ni phạm các tội trong 8 giới Ba la đề đề xá ni, trong chúng học pháp và oai nghi, thì phạm tội Việt Tỳ Ni tâm niệm sám hối. Nếu vu khống học giới ni phạm các tội trong 18 pháp, rồi nói rằng: "Phải cho học giới trở lại". thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu vu khống Sa di, Sa di ni phạm các tội trong 10 giới, rồi nói rằng: "Phải cho xuất gia trở lại", thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Sau cùng đến những người thế tục, nếu Tỳkheo vu khống họ phạm các tội trong 5 giới, thì phạm tội Việt Tỳ Ni tâm niệm sám hối. Thế nên nói: - Nếu Tỳkheo vì sân hận, không vui..., cho đến nói như vậy, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. (Hết giới Tăng tàn thứ 8) LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hết quyển thứ sáu.
x |