THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirror site
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
x
Đại Tạng Số 1425
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
MỤC LỤC
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
x
Thành kính đảnh lễ đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri
x
Quyển Thứ Năm

(262a) GIỚI TĂNG TÀN.

1. GIỚI: CỐ Ý LÀM XUẤT TINH

Bấy giờ, Phật trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Khi ấy, có một Tỳkheo tên Thi Lợi Da Bà ở tại thành Xá Vệ, có niềm tin, từ bỏ gia đình xuất gia, đến giờ khất thực, thầy khoác y, cầm bát vào thành khất thực. Vì thầy không khéo nhiếp phục thân, miệng, ý, buông lỏng các căn, nhưng mới vào một nhà đã nhận được thức ăn đầy đủ, thầy bèn vào nhà thứ hai, tại nhà thứ hai này, có một phụ nữ đang cởi trần ngồi một mình. Thầy Tỳkheo thấy thế rồi trở về lại trú xứ, tưởng nhớ đến thân thể người phụ nữ ấy, tâm ý rối loạn, ưu sầu phát bịnh, sắc mặt tiều tụy. Khi ấy các Tỳkheo hỏi Thi Lợi Da Bà:"Nay thầy vì sao sắc mặt tiều tụy, ưu sầu không vui? Có cần đến sữa, dầu, đường phèn, thuốc thang gì chăng?". Ðáp: "Không cần, tự nhiên sẽ khỏi thôi".

Các Tỳkheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di thăm hỏi, thầy cũng đều nói thế. Thầy ấy nghỉ trưa, sau khi trở dậy, lòng tơ tưởng, nam căn khởi lên (262b), bèn dùng tay cọ xát, liền bị xuất tinh. Sau khi tinh xuất, thầy thấy an lạc, ưu sầu liền dứt, thầy bèn suy nghĩ: "Phương pháp này tốt thật, có thể dứt được mối lo mà không phương hại gì đến việc xuất gia tịnh tu phạm hạnh, nhận đồ thí chủ cúng dường". 

Ðức Thế Tôn vì năm việc lợi ích, nên cứ năm hôm đi tuần tra tăng phòng một lần. Năm việc lợi ích đó là:

1- Xem các đệ tử Thanh văn có vướng mắc vào các việc hữu vi hay không.

2- Xem họ có bàn luận việc thế tục không.

3- Xem họ có ham mê ngủ nghỉ làm phương hại đến việc hành đạo không.

4- Xem có Tỳkheo nào đau ốm không.

5- Ðể cho các Tỳkheo tuổi trẻ mới xuất gia thấy uy nghi tề chỉnh của đức Như Lai mà sinh tâm hoan hỷ.

Chính vì năm việc này mà đức Như Lai cứ năm hôm đi xem xét các phòng một lần.

Lúc ấy, trưởng lão Thi Lợi Da Bà ngủ trưa thức dậy, bèn ra phòng phía sau đi tiểu, thì nam căn cương cứng. Ðức Thế Tôn sợ thầy kinh sợ xấu hổ, nên lên tiếng đằng hắng để thầy hay biết. Khi Thi Lợi Da Bà thấy Thế Tôn, bèn vội vàng khoác y, bước theo đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng hầu.

Bấy giờ, Thế Tôn hỏi Thi Lợi Da Bà: "Trước đây thầy mắc bệnh, mặt mày tiều tụy, do duyên cớ gì mà nay hết bệnh?"

Thầy liền bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Con sinh ra tại thành Xá Vệ, con có niềm tin từ bỏ gia đình xuất gia. Bà con quen biết cung cấp cho con y phục giường nệm thuốc men không thiếu thứ gì. Một hôm con khoác y cầm bát vào thành khất thực, đến một nhà kia, thấy một phụ nữ cởi trần đang ngồi. Sau khi thấy thế con trở về lại tinh xá, lòng dục ray rứt, cảm thấy không vui, thân thể phát bịnh nên không muốn ăn uống gì cả. Lúc đó, các Tỳkheo, Tỳkheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di đến thăm hỏi an ủi con, ai cũng muốn cho con uống thuốc, nhưng con bảo không cần. Một hôm, con ngủ trưa thức dậy, thấy nam căn cương cứng, con dùng tay thủ dâm, tinh liền xuất ra. Sau khi xuất tinh, con ngủ an ổn, bệnh liền dứt hết. Con bèn suy nghĩ: "Phương pháp này rất tốt, có thể trừ được mối lo, mà không phương hại đến việc xuất gia, nhận đồ thí chủ cúng dường". Bạch Thế Tôn! Vì thế mà được lành bệnh, thân thể an ổn, tu phạm hạnh dễ dàng".

Phật nói: "Này kẻ ngu si, điều đó thật không thể được. Ðiều đó không phải phạm hạnh mà bảo là phạm hạnh, không phải an ổn mà cho là an ổn. Này kẻ ngu si! Vì sao dùng bàn tay ấy nhận đồ người ta bố thí, rồi lại dùng bàn tay ấy thủ dâm cho xuất tinh? Ngươi há không nghe ta dùng vô số phương tiện chê trách dục tưởng, ca ngợi sự đoạn dục sao? Nay ngươi đã làm một việc ác không tốt. Ðó là điều phi pháp, phi luật chẳng phải điều ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được".

Thế rồi Phật truyền cho các Tỳkheo (262c) sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỳkheo như sau:

- Nếu Tỳkheo cố ý làm xuất tinh, thì phạm Tăng già bà thi sa.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành xá Vệ nói rộng như trên, lúc ấy trưởng lão Thi Lợi Da Bà thường hay phạm tội Tăng già bà thi sa, hoặc Ba dật đề, hoặc Ba la đề đề xá ni hoặc tội Việt Tỳ Ni phải sám hối. Các Tỳkheo thấy trưởng lão thường hay phạm các tội phải sám hối như vậy, nên nói với trưởng lão: "Trưởng lão! Ðức Thế Tôn đã chế định các tội phạm sai biệt rồi, vì sao thầy còn khinh thường hay vi phạm như thế?". Thi Lợi Da Bà nói: "Thưa các trưởng lão! Tôi phạm tội phải sám hối mà không than mỏi mệt, quí ngài nhận sự sám hối của tôi thì có gì là vất vả?". 

Các Tỳkheo bèn đem việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Thi Lợi Da Bà đến. Sau khi thầy đến, Phật liền hỏi: "Ông thường thường phạm các tội Tăng già bà thi sa .v.v... và nói với các Tỳkheo rằng: "Tôi phạm tội phải sám hối mà không còn thấy mỏi mệt, quý ngài nhận sự sám hối của tôi thì có gì là vất vả?". Có thực thế chăng?". Ðáp: "Có thực như vậy bạch Thế Tôn!"

Phật liền nói với Thi Lợi Da Bà: 

--"Ðó là việc ác, từ nay trở đi, nếu phạm tội Tăng già bà thi sa thì phải thi hành pháp Ma ha đỏa sáu ngày sáu đêm trong chúng Tỳkheo. Sau khi thi hành pháp Ma ha đỏa phải làm phép xuất tội giữa 20 vị Tỳkheo".

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá vệ, nói rộng như trên, Thi Lợi Da bà thường thường phạm các tội Tăng già bà thi sa, bèn suy nghĩ:"Thế Tôn chế giới phạm tội Tăng già bà thi sa thì phải thi hành pháp Ma ha đỏa sáu ngày sáu đêm. Sau khi thi hành pháp Ma ha đỏa rồi, phải làm phép xuất tội giữa 20 vị Tỳkheo. Nay ta phạm tội Tăng già bà thi sa mà không ai biết thì khỏi thi hành 6 ngày 6 đêm Ma ha đỏa, không thi hành 6 ngày 6 đêm Ma ha đỏa thì cũng khỏi làm pháp xuất tội giữa 20 vị Tỳkheo. Nay ta nên che giấu". 

Nhưng sau khi che giấu, thầy thấy nghi ngờ, hối hận liền thầm nghĩ:"Ta là kẻ bất thiện, rất trái với luật pháp. Vì sao kẻ thiện nam tử có lòng tin xuất gia, biết Phật chế giới mà cố ý vi phạm, rồi che giấu? Giả sử những người sống phạm hạnh không biết đi chăng nữa, thì chư Thiên biết được tâm người khác, há lại không biết hay sao? Giá như Chư thiên không biết thì đức Thế Tôn há lại không biết hay sao?. Thế rồi, thầy liền nói với các Tỳkheo: "Cho tôi pháp Ma ha đỏa". Các Tỳkheo hỏi: "Vì sao thầy cầu xin pháp Ma ha đỏa?"(263a). 

Ðáp: "Tôi phạm tội Tăng già bà thi sa". Các Tỳkheo hỏi: "Từ lúc phạm đến giờ đã bao lâu?". 

Ðáp: "Chừng ấy thời gian". 

Lại hỏi: "Vì sao không nói liền với người khác?". 

Ðáp: "Vì tôi hổ thẹn, nên không nói liền. Nhưng tôi lại nghĩ: "Ðức Thế Tôn chế giới, ai phạm tội Tăng già bà thi sa thì phải thi hành pháp Ma ha đỏa 6 ngày 6 đêm.v.v"... cho đến nghĩ: "Nếu Chư Thiên không biết đi chăng nữa, thì đức Thế Tôn há lại không biết hay sao? Vì lẽ đó mà nay tôi nói với các trưởng lão".

Các Tỳkheo bèn đem việc này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Phật dạy: "Hãy gọi Thi Lợi Da Bà đến". Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi đầy đủ các việc trên: "Ông có thật thế chăng?". Ðáp: "Có thật như thế, bạch Thế Tôn".

Phật nói: "Này kẻ ngu si! Ðó là việc ác. Ðã phạm giới mà không biết hổ thẹn, sám hối".

Thế rồi Thế Tôn đọc kệ:

Che giấu thì hoen ố.
Bày tỏ không hoen ố
Thế nên ai che giấu,
Phải khiến họ bày tỏ.

Phật liền nói với các Tỳkheo:

- Từ nay trở đi, ai phạm tội Tăng già bà thi sa mà che giấu thì phải bắt họ thực hiện pháp Ba Lợi Bà Sa. Thực hiện pháp Ba Lợi Bà Sa xong phải bắt họ thi hành 6 ngày 6 đêm pháp Ma ha đỏa. Sau khi thi hành pháp Ma ha đỏa phải cho họ xuất tội giữa 20 vị Tỳkheo. Nếu thiếu một người trong số 20 Tỳkheo mà làm pháp xuất tội, thì Tỳkheo ấy không khỏi tội, mà các Tỳkheo còn bị khiển trách.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá vệ, nói rộng như trên, lúc ấy có hai người còn phải học, hai người còn là phàm phu, nằm mộng xuất tinh. Họ đều suy nghĩ: "Ðức Thế Tôn chế giới, ai cố ý làm xuất tinh thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Nay chúng ta có lẽ đã phạm tội Tăng già bà thi sa chăng? Ta phải đem việc này thưa đầy đủ với tôn giả Xá Lợi Phất. Xá Lợi Phất sẽ hỏi Thế Tôn, Phật có dạy thế nào thì ta sẽ phụng hành". Thế rồi các Tỳkheo bèn đi đến chỗ tôn giả Xá Lợi Phất, đem mọi sự tình trình bày với Xá Lợi Phất. Xá Lợi Phất liền dẫn các Tỳkheo đến chỗ đức Thế Tôn.

Rồi tôn giả Xá Lợi Phất bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Bốn Tỳkheo này bị xuất tinh trong giấc mộng, liền sinh nghi ngờ rằng: "Thế Tôn đã chế giới, vậy có lẽ ta đã phạm tội Tăng già bà thi sa chăng?"Cho nên con đến đây bạch với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn! Vậy việc ấy như thế nào?". Phật liền bảo với Xá Lợi Phất: "Mộng vốn là hư vọng, không thật; nếu mộng mà chân thật, thì những người tu phạm hạnh trong giáo pháp của ta sẽ không có ai giải thoát. Này Xá Lợi Phất! Vì tất cả mộng mị đều không chân thật, cho nên những người tu phạm hạnh trong giáo pháp của ta dứt được cội nguồn đau khổ."Rồi Phật truyền lệnh cho các Tỳkheo (263b) đang sống tại thành Xá vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỳkheo như sau:

-- Nếu Tỳkheo cố ý làm xuất tinh thì phạm tội Tăng già bà thi sa, trừ ra trong giấc mộng.

Giải thích

Cố ý: Cố tình tìm phương tiện.

Xuất tinh: Chảy ra những thứ bất tịnh.

Trừ ra trong giấc mộng: Ðức Thế Tôn nói: Xuất tinh trong giấc mộng không có tội.

Tăng già bà thi sa: Tăng già là bốn pháp Ba La Di (?); Bà thi sa là tội còn lại cần phải làm pháp yết ma trị phạt, nên gọi là Tăng già bà thi sa. Lại nữa, tội ấy phải phát lồ sám hối giữa tăng, nên cũng gọi là Tăng già bà thi sa.

Mộng: Gồm có năm thứ sau đây:

1- Mộng thật.
2- Mộng không thật.
3- Mộng không rõ ràng.
4- Mộng trong mộng.
5- Trước tưởng đến rồi sau mới có mộng. Ðó là năm thứ mộng. Nhưng thế nào là mộng thật?

Mộng thật: Ðó là đức Như Lai khi làm Bồ tát thấy năm giấc mộng như thật không khác chút nào. Ðó gọi là mộng thật.

Mộng không thật: Khi (người ta nằm ngủ) thấy mộng, nhưng lúc thức dậy thì không thật. Ðó gọi là mộng không thật.

Mộng không rõ ràng: Như giấc mộng không ghi nhớ được đầu, giữa và cuối. Ðó gọi là mộng không rõ ràng.

Mộng trong mộng: Như nằm thấy mộng rồi đem giấc mộng ấy nói với người khác cũng trong mộng. Ðó gọi là mộng trong mộng.

Trước tưởng đến rồi sau mới có mộng: Như ban ngày tưởng đến việc gì rồi ban đêm nằm thấy mộng việc đó. Ðó gọi là trước tưởng rồi sau mộng.

Bây giờ nói về năm nguyên nhân phát sinh dâm dục: Mắt thấy sắc đẹp sinh ra nhiễm trước, ưa thích, rồi tưởng đến sự dâm dục. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân trước tơ tưởng giao hoan với người nữ, rồi sau nung nấu liên tục mà sinh tâm dâm dục. Ðó gọi là năm nguyên nhân phát sinh sự dâm dục.

Còn nam căn (dương vật) cương cứng có năm nguyên nhân: Do tâm ham muốn mà cương cứng, do đi cầu mà cương cứng, do đi tiểu mà cương cứng, do bệnh phong mà cương cứng, hoặc do loài phi nhân xúc chạm mà cương cứng. Ðó gọi là năm nguyên nhân khiến cho nam căn cương cứng.

Thủ dâm cho xuất tinh có ba việc: Vì có tâm dâm dục, vì muốn lấy tinh dịch, hoặc vì muốn khoái lạc nên thủ dâm. Hoặc tự nghĩ: "Lâu nay không thông thoát nên sinh ra bệnh hoạn", hoặc vì muốn được thông thoát, hoặc vì đùa nghịch, hoặc để thí nghiệm, hoặc chưa từng làm nên làm thử, hoặc tự mình thủ dâm cho xuất tinh". Ðó gọi là thủ dâm cho xuất tinh. Tinh có các màu: màu sữa tươi, màu sữa chua, màu sữa đông lạnh, màu dầu, hoặc màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Nếu một trong các màu ấy vọt ra thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Trong tâm khởi dâm dục làm cho nam căn cương cứng, tưởng chừng như sẽ xuất tinh, nhưng nếu không thủ dâm thì tinh không xuất. Ðó là do lỗi của tâm. Nếu dục tâm sinh khởi nam căn như muốn xuất tinh, rồi thủ dâm nhưng tinh không xuất, thì phạm tội Thâu Lan Giá. (263c) Vì dục tâm sinh khởi, nam căn muốn xuất tinh, rồi thủ dâm mà tinh xuất thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu dục tâm sinh khởi, nam căn không muốn xuất tinh và không cố ý thủ dâm nên tinh không xuất, thì không có tội. Khi đi đại tiện, tiểu tiện, hoặc bị bệnh phong hoặc phi nhân xúc chạm mà nam căn cương cứng cũng đều như thế.

Nếu dục tâm sinh khởi, bèn tưởng đến nam căn xuất tinh, rồi cố ý thủ dâm, tinh sắp vọt ra, nhưng không vọt ra ngoài, thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dục tâm sinh khởi, rồi tưởng tượng nam căn xuất tinh, nhưng không thủ dâm, nên tinh không xuất, thì phải trách tâm.

Nếu dục tâm sinh khởi, nhưng không tưởng tượng nam căn xuất tinh, rồi thủ dâm mà tinh không xuất, thì cũng phải trách tâm.

Nếu dục tâm sinh khởi, nhưng không tưởng tượng nam căn xuất tinh, không cố ý thủ dâm mà tinh xuất, thì cũng phải trách tâm.

Nếu dục tâm sinh khởi, bèn tưởng đến xuất tinh, rồi thủ dâm mà tinh xuất, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Cho đến trường hợp phi nhân xúc chạm.v.v.. cũng như vậy.

Trường hợp xuất tinh hoặc thân, hoặc thân phần, hoặc thân hợp.

Thân: tất cả toàn thân dao động, khi ấy tạo điều kiện cho tinh xuất, và tinh xuất ra, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. 

Thân phần: Hoặc dùng tay, hoặc dùng gót chân, hoặc dùng bắp tay, khuỷu tay, tạo điều kiện cho tinh xuất thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Thân hợp: Gồm có các chất địa, thủy, hỏa, phong.

Chất địa: Như giường, hoặc mền, hoặc vách tường, hoặc bộng cây, hoặc ống tre.v.v.. nếu dùng các vật cứng ấy chạm vào nam căn để cho xuất tinh, mà tinh xuất ra thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Chất nước: Hoặc dùng các dòng nước chảy ngược chạm vào nam căn, hoặc dùng nam căn nhúng vào các chất sữa dầu hay các vật ẩm ướt ở trong nước, muốn cho tinh xuất mà tinh xuất, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Chất lửa: Hoặc để nam căn vào chỗ nóng, hoặc áp vật nóng vào nam căn, hoặc hướng đến ngọn lửa, hướng về ánh nắng, muốn cho tinh xuất mà tinh xuất, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Chất gió: Hoặc dùng miệng thổi, hoặc dùng quạt quạt, hoặc dùng vải phất qua, chạm đến nam căn muốn cho tinh xuất, mà tinh xuất thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu Tỳkheo bảo người khác: "Ông hãy thủ dâm tôi để cho xuất tinh", mà tinh xuất, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Hoặc nói với người ta: "Ông chớ đợi tôi phải nói, ông từng biết việc đó mà". Sau đó, người ấy thủ dâm giúp mà tinh xuất, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu Tỳkheo ở những nơi thanh vắng, trông thấy cầm thú giao phối, thấy rồi dục tâm sinh khởi, rồi bị xuấ tinh thì phải trách tâm. Nếu vì thích hưởng khoái lạc mà tìm cách chạy theo xem cầm thú giao phối, muốn cho tinh xuất, mà tinh xuất thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu có người dùng sức mạnh thủ dâm Tỳkheo khiến cho xuất tinh, thì Tỳkheo phải tự trách tâm. Nếu vì muốn khoái lạc, bèn đến người kia bảo họ thủ dâm giúp, mà tinh xuất thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu Tỳkheo vào xóm làng, thấy kẻ nam nữ hành lạc, thấy rồi, dục tâm sinh khởi nên xuất tinh, thì phải tự trách tâm. Nếu vì muốn khoái lạc mà chạy theo xem, khiến cho tinh xuất, (264a) thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu Tỳkheo thấy thợ cất nhà cho dâm nữ, liền suy nghĩ : "Nơi đó chính là để làm việc dâm dục chứ đâu có việc gì khác nữa", do thế, dục tâm sinh khởi, rồi xuất tinh, thì phải tự trách tâm mình. Nhưng nếu vì ham vui cố ý đến xem, khiến cho tinh xuất, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu Tỳkheo trông thấy phụ nữ tắm lõa thể, thấy rồi dục tâm sinh khởi mà xuất tinh, thì phải tự trách mình. Nhưng nếu vì ham vui cố ý đến xem, khiến cho tinh xuất thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Hoặc thấy đàn ông lõa thể... cũng như thế.

Nếu Tỳkheo đang đi đường mà dục tâm sinh khởi, rồi xuất tinh thì phải tự trách tâm mình. Nhưng nếu trong khi đi cố tạo điều kiện khiến cho tinh xuất, rồi tinh xuất ra thì phạm tội Tăng già bà thi sa... Như lúc đi, đứng, ngồi, nằm... cũng như thế. Nếu do thoa dầu để tắm mà tinh xuất thì phải tự trách tâm mình. Bằng cố ý tạo phương tiện thoa dầu để tắm mà tinh xuất, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. 

Thế nên, đức Thế Tôn nói:

- Nếu Tỳkheo cố ý thủ dâm mà tinh xuất, thì phạm tội Tăng già bà thi sa, ngoại trừ trong giấc mộng.

(Hết giới tăng tàn thứ nhất).

2. GIỚI: XÚC CHẠM NỮ NHÂN. 

Khi Phật an trụ tại thành Vương xá, trong vườn Trúc Ca Lan Ðà, nói rộng như trên. Bấy giờ, Tỳkheo ni Ưu Bát La có một đệ tử Sa di ni tên là Chi Lê. Tỳkheo ni Ưu Bát La sai Sa di ni Chi Lê mang y đến cho Ưu Ðà Di. Khi ấy, Ưu Ðà Di đang vá y trước phòng mình, Chi Lê bèn đảnh lễ dưới chân Ưu Ðà Di, rồi đứng qua một bên, bạch Ưu Ðà Di rằng: "Thầy con là Ưu Bát La sai con đem y đến cho trưởng lão". Ưu Ðà Di đáp: "Tốt, hãy mang để vào trong phòng". Thế rồi Ưu Ðà Di liền bước theo sau, đi vào trong phòng, tiện tay ôm cô ấy vuốt ve một lát cho thỏa thích, rồi thả đi. Chi Lê nước mắt ràng rụa trở về với thầy. Ưu Bát La hỏi: "Vì sao con khóc?". Ðáp: "Trưởng lão Ưu Ðà Di đi theo con vào trong phòng, rồi ôm con đùa giỡn, xúc phạm con thậm tệ". Ưu Bát La nói: "Con đừng khóc nữa, ta sẽ thưa với Phật trừng phạt Ưu Ðà Di".

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên... Ðến giờ khất thực, trưởng lão Ưu Ðà Di khoác y cầm bát vào thành tuần tự khất thực. Thầy đi vào một nhà, thấy một phụ nữ đang giã đậu, bèn nắm tóc lôi kéo, ôm vào lòng đùa giỡn thích ý trong giây lát, rồi thả đi. Người phụ nữ ấy liền khiển trách: "Ông Ưu Ðà Di này là kẻ phi pháp, bất thiện. Ông cho rằng nhà tôi là phòng dâm nữ chăng? Tôi sẽ đem việc này bạch với các Tỳkheo". Ưu Ðà Di nói: "Bạch hay không bạch, tùy ý bà", rồi bỏ đi.

(264b). Lại nữa, khi Phật an trụ tại thành Xá vệ, nói rộng như trên. Lúc đến giờ khất thực, Ưu Ðà Di bèn khoác y cầm bát, vào thành tuần tự khất thực. Khi thầy vào một nhà, thấy một phụ nữ mang thai giã gạo mỏi mệt, bèn ngồi trên cối nghỉ ngơi. Thấy thế, Ưu Ðà Di bèn dùng chân đạp vào cối, cái cối chuyển động, khiến bà ta ngã kềnh ra đất, để lộ thân thể. Ưu Ðà Di liền dìu bà đứng dậy, nói: "Chị hãy đứng dậy, tôi đã thấy rồi". Khi ấy bà ta giận dữ nói: "Sa môn Thích tử! Ðó không phải là cách xin lỗi. Thà ngươi đập một chày giã gạo cho ta chết, còn hơn là trông thấy mặt ngươi ở chỗ vắng người thế này. Ta sẽ đem việc này thưa với các Tỳkheo". Ưu Ðà Di nói: "Thưa hay không thưa tùy ý bà", rồi bỏ đi.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá vệ, nói rộng như trên, bấy giờ, trưởng lão Ưu Ðà Di đến phiên canh giữ các phòng. Nhân vì có một người Bà La Môn quen biết dẫn vợ đến thăm Ưu Ðà Di. Bà này rất đoan chính. Ông chồng nói với Ưu Ðà Di: "Thầy hãy mở căn phòng để cho bà này xem". Ưu Ðà Di nói: "Dù ông không bảo thì tôi cũng muốn giới thiệu các căn phòng cho bà này xem huống gì ông đã yêu cầu", bèn đưa bà ấy lên trên gác chỉ cho xem các căn phòng có điêu khắc hoa văn, trang trí các hình ảnh đẹp đẽ, dưới đất thì tạo mô hình những hạt đậu xanh. Rồi đến một chỗ khuất, thầy bèn kéo bà ấy lại ôm chầm vào lòng.

Người đàn bà ấy suy nghĩ:"Ông Ưu Ðà Di này chắc muốn làm cái việc như vậy, như vậy". Thế nhưng, thầy đùa giỡn xong rồi bèn buông ra, rồi đến nói với ông Bà La Môn: "Tôi đã cho xem xong rồi". Ông Bà La Môn nói: "Tôát, vậy hãy cho xem các phòng khác". Khi ấy, vì Ưu Ðà Di không cùng giao hoan với người đàn bà ấy nên bà ta nổi giận nói: "Xem phòng ốc để làm gì? Ðó là kẻ xuất gia hoàng môn bạc phước, ôm ấp, vuốt ve thân tôi, mà không có việc tốt". Lúc ấy, ông Bà La Môn bèn nói với Ưu Ðà Di: "Ông là chỗ tri thức của tôi mà lại sinh ra xằng bậy không xứng đáng tri thức! Tại nơi đất bằng bỗng sinh ra gò nổng! Trong nước bỗng sinh ra lửa". Bèn xiết cổ Ưu Ðà Di dẫn đi. Ưu Ðà Di nói: "Bà La Môn hãy thả ta ra, đừng làm cho ta trong khoảnh khắc mà bị vỡ đầu". Bà La Môn nói: "Ta không thả ngươi. Ngươi đã phụ lòng tin cậy của ta". 

Các Tỳkheo nghe tiếng cãi cọ, liền ra xem, và nói với Bà La Môn: "Thôi, thôi, hãy thả Ưu Ðà Di ra". Bà La Môn nói: "Dứt khoát tôi không thả, phải dẫn đến chỗ Thế Tôn". 

Bấy giờ, Phật thấy thế, liền nói với Bà La Môn: "Thả Ưu Ðà Di đi". Bà La Môn liền bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Nay con không thả, cần phải nói rõ (264c) tội trạng của y rồi mới thả ra".

Bấy giờ, Ưu Ðà Di bèn dùng hết sức vùng vẫy thoát được, liền bỏ chạy. Thế rồi Bà La Môn đem các nhân duyên kể trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn.

Khi ấy, Thế Tôn liền tùy thuận thuyết pháp cho Bà La Môn, khiến ông được lợi ích, hoan hỉ, giận dữ bèn tiêu trừ, được con mắt pháp thanh tịnh, nên ông từ giã xin phép trở về. Phật nói: "Ông nên biết lúc nào phải làm gì". Rồi ông đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu bên phải ba vòng mà ra đi. Khi ông Bà La Môn đi chưa bao lâu, Phật bèn bảo các Tỳkheo gọi Ưu Ðà Di đến. Sau khi thầy đến, Phật liền đem việc trên hỏi rõ Ưu Ðà Di: "Ông có thật như thế chăng?". Ðáp: "Có thật như thế bạch Thế Tôn!". Phật nói: "Ưu Ðà Di! Ðó là việc xấu". Thế rồi, các Tỳkheo liền bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Ông Ưu Ðà Di này không những làm một việc xấu như hôm nay mà trước đây, tại thành Vương xá, trong vườn tre Ca Lan Ðà cũng đã từng làm việc xấu. Ðó là khi Tỳkheo ni Ưu Bát La sai Sa di ni Chi Lê đem y đến cho Ưu Ðà Di, Ưu Ðà Di liền ôm cô ấy vào lòng đùa giỡn thỏa thích rồi thả đi". Phật liền hỏi Ưu Ðà Di: "Ông có việc ấy thật chăng?". Thầy đáp: "Có thật bạch Thế Tôn!". Phật nói: "Ðó là việc xấu".

Lại có Tỳkheo khác bạch với Phật:

- Bạch Thế Tôn! Không những một việc xấu đó thôi, mà lúc ở tại thành Xá vệ cũng đã từng làm việc xấu. Ðó là khi đến giờ khất thực, Ưu Ðà Di khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực. Thầy vào một nhà kia, thấy trong nhà có một phụ nữ đang giã đậu, Ưu Ðà Di bèn nắm tóc cô ấy lôi kéo, đùa giỡn, xúc não, rồi thả đi. Phật liền hỏi Ưu Ðà Di: "Ông có việc ấy thật chăng?". Ðáp: "Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!". Phật nói: "Ðó là việc xấu."

Lại có một Tỳkheo khác nói:

- Bạch Thế Tôn! Ðâu phải chỉ có một việc xấu đó thôi, mà lúc Thế Tôn ở tại thành Xá vệ, đến giờ khất thực, Ưu Ðà Di liền khoác y, cầm bát vào thành khất thực, khi đến một nhà kia, thầy trông thấy một phụ nữ đang mang thai, do giã gạo mỏi mệt ngồi trên cối nghỉ ngơi, Ưu Ðà Di bèn dùng gót chân đạp vào cối giã khiến bà ta ngã kềnh trên đất, để lộ thân hình. Thầy bèn đứng xem mãn nhãn, rồi mới ra đi. Phật liền hỏi: "Ưu Ðà Di, ông có làm việc ấy thật chăng?". 

Ðáp: "Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!". Phật hỏi: "Vì cớ gì vậy!". 

Ðáp: "Bạch Thế Tôn! Vì con chưa từng trông thấy phụ nữ mang thai nên muốn xem thử vậy."

Phật khiển trách: "Này kẻ ngu si! Thà xem các cầu tiêu chứ không nên xem phụ nữ đang mang bầu. Ta há không từng dùng nhiều phương tiện chê trách dục tưởng, và khen ngợi ly dục là gì? Vì sao ông lại làm cái việc xấu bất thiện như vậy? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp".

Các Tỳkheo liền bạch với Phật:

- Bạch Thế Tôn! Vì sao ông Ưu Ðà Di này bị Bà La Môn kia thộp cổ, rồi nhờ ân huệ của Thế Tôn mà chạy thoát được?

(265a) Phật bảo với các Tỳkheo: "Ông Ưu Ðà Di này không những hôm nay nhờ ta mới được thoát, mà trong thời quá khứ cũng từng bị bắt và nhờ Ta mới thoát được".

Các Tỳkheo liền bạch với Phật: "Ðã từng có như vậy sao?". Phật nói: "Có như vậy. Trong thời quá khứ, ở trên núi Hương Sơn, có một vị tiên nhân ẩn cư. Cách núi ấy không xa, có một cái ao nước. Trong ao có một con Ba Ba, nó rời khỏi ao đi tìm thức ăn, khi ăn xong liền hướng về phía mặt trời, mở miệng ra mà ngủ. Khi ấy, trong Hương Sơn có một con khỉ đi xuống ao uống nước, uống xong bèn lên bờ, liền trông thấy con Ba Ba đang mở miệng nằm ngủ. Thấy vậy, con khỉ bèn muốn làm việc dâm dục, liền đút dương vật vào trong miệng con Ba Ba. Ba Ba bỗng thức giấc, liền ngậm miệng lại, thu rút sáu chi phần vào trong mai, như bài kệ sau đây trình bày:

"Kẻ ngu si chấp tướng,
Như Ba Ba ngậm mồm.
Họa chỉ có trời gầm,
Búa bổ mới chịu nhả".

Khi ấy, Ba Ba ngậm chặt dương vật của khỉ định chui xuống nước. Khỉ đột hoảng sợ liền suy nghĩ: "Nếu ta xuống nước chắc chết, không còn nghi ngờ gì nữa". Nhưng Ba Ba sức yếu, hai con giằng co nhau, dần dần lôi đến bờ vực.

Lúc ấy, con Ba Ba nằm ngữa, khỉ dùng hai tay ôm lấy Ba Ba, suy nghĩ và nói: "Không biết có ai giúp ta thoát được nạn này?"Vì khỉ đã biết chỗ ở của tiên nhân, nên nghĩ rằng ông ấy sẽ cứu ta, bèn ôm Ba Ba hướng đến nơi ấy. Tiên nhân từ xa trông thấy, liền suy nghĩ: "Ôi, thật là việc lạ lùng! Con khỉ này nay muốn giở trò gì đây?", bèn nói đùa với khỉ: "Bà La Môn! Vật quí gì đựng đầy bát mang đến đây vậy? Có tin tức gì vui mà đến tìm tôi thế?"

Bấy giờ, khỉ liền đọc kệ:

"Tôi, con khỉ ngu si
Vô cớ xúc não người.
Hiền sĩ hãy cứu giúp,
Tính mạng tôi sắp tiêu.
Hôm nay Bà La Môn,
Nếu không cứu lấy tôi.
Chốc lát đứt của quí,
Khốn khổ trờ về rừng."

Khi ấy, tiên nhân dùng kệ đáp lại:

"Nếu ta giải cứu ngươi,
Cho về lại núi rừng.
E rằng tánh khỉ đột
Chứng nào vẫn tật nấy".

Thế rồi, tiên nhân nói với chúng về sự tích thuở xưa:

"Ba Ba mi thuở xưa,

Từng có hiệu Ca Diếp.

(265b) Con khỉ trong quá khứ,
Hiệu là Kiều Trần Như.
Từng làm việc dâm dục
Nay là dịp đoạn trừ.
Ca Diếp thả Kiều Trần
Cho về lại núi rừng".

Bấy giờ, Phật bảo với các Tỳkheo: "Vị tiên nhân thời ấy nào phải ai khác đau mà chính là ta đây; còn Ba Ba là Bà La Môn, và con khỉ lúc ấy là Ưu Ðà Di. Xưa kia làm muông thú, y đã nhờ ta cứu thoát, nay lại cũng nhờ ta mà được giải thoát". 

Các Tỳkheo liền bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Vì sao Ưu Ðà Di đối với Sa di ni Chi Lê như con gái mình, lại sinh khởi dục tưởng?". Phật nói với các Tỳkheo: "Không những ngày nay Ưu Ðà Di đối với Chi Lê như con gái mình mà khởi dục tưởng, mà trong thời quá khứ đối với cô gái ấy cùng đã từng khởi dục tưởng." Các Tỳkheo liền bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Ðã từng có như vậy sao?". 

Phật đáp: "Ðúng như vậy! Trong thời quá khứ có một người Bà La Môn họ Tung Cừ, sống bằng nghề nông, ông cưới một bà vợ đoan chính đẹp đẽ, hai người ái ân nồng thắm, sinh một đứa con gái cũng đoan chánh không kém. Vì họ của ông là Tung Cừ nên ông đặt tên con gái là Tung Cừ. Ðến khi cô khôn lớn, các gia đình Bà La Môn liền sai mai mối đến xin cưới cô. Khi ấy, cô hỏi mẹ: "Những người khách đến là ai vậy?". Ðáp: "Họ xin cưới con đấy". Cô bèn thưa với mẹ: "Con không muốn lấy chồng, chỉ thích tu phạm hạnh". Bà mẹ nói: "Không được! Nguyên tắc con trai con gái là phải lấy vợ lấy chồng". Cô lại nói: "Nếu cha mẹ thương yêu con, thì xin đừng gả con cho ai". Vì cha mẹ quá thương yêu con gái nên không nở làm trái ý nó, liền đáp: "Ðồng ý". Lúc đó, bà con quen biết đều lấy làm kỳ quái, tự hỏi: "Vì sao người con gái ấy đoan chánh đẹp đẽ mà lại thủ chí thích tu phạm hạnh?". Thế nên, ai nấy đều yêu mến cô. Trong lúc Bà La Môn ra đồng cày ruộng, bà vợ thường mang đồ ăn. Bỗng một hôm, bà vợ bận việc, bèn sai Tung Cừ đem thức ăn ra đồng cho cha. Khi ấy, Bà La Môn vì không tư duy chân chánh nên phát sinh dục tưởng, mong mỏi vợ tới sẽ cùng hành lạc, nên trông thấy người mang thức ăn đến, liền bỏ cày lên đón. Do lòng dục làm mê loạn, ông không kiềm chế được, nên chỗ không nên vuốt ve mà cha lại vuốt ve con mình. Khi ấy, cô Tung Cừ liền chảy nước mắt đứng yên. Thế rồi, ông Bà La Môn bỗng sực nghĩ lại:"Con Tung Cừ này thường không ưa dục lạc, mọi người đều ca ngợi, nay ta vuốt ve nó mà nó chẳng kêu la gì, hình như nó có ý thích, liền đọc kệ:

"Nay ta vuốt ve con,
Con cúi đầu thở ra
(265c) Hình như con không muốn
Hành lạc cùng với ta.
Con từng tu phạm hạnh
Mọi người ai cũng kính
Mà nay lại yếu mềm
Dường có ý phàm tục".

Bấy giờ, cô Tung Cừ bèn dùng kệ đáp lại lời cha: 

"Trước gặp cảnh khủng bố,
Con nương cậy cha hiền
Nay cội gốc nương tựa
Lại gặp phải não phiền
Nhưng trong chỗ thâm tình
Biết tố cáo cùng ai.
Ví như chỗ nước sâu
Bỗng phát sinh ra lửa
Nơi cội gốc chở che,
Mà nay sinh khủng bố
Chỗ không sợ sinh sợ
Nơi trở về gặp nạn
Các thiên thần rừng cây
Chứng cho điều phi pháp
Ân sinh dưỡng không tròn
Một sớm thành ô nhục
Lòng đất không mở ra
Ta biết trốn vào đâu?"

Khi Bà La Môn nghe con gái mình đọc kệ, lòng đầy hổ thẹn, lập tức bỏ đi.

Phật nói với các Tỳkheo: "Bà La Môn thuở ấy nào phải ai khác đâu mà là Ưu Ðà Di ngày nay. Còn vợ Bà La Môn lúc ấy thì nay là Tỳkheo ni Ưu Bát La; và cô Tung Cừ thuở trước thì nay chính là Sa di ni Chi Lê vậy. Ngày xưa, ông đã từng khởi dục tưởng với cô gái này nên nay lại khởi trở lại". 

Rồi Phật truyền lệnh cho các Tỳkheo cư trú tại thành Xá vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười việc lợi ích mà chế giới cho các Tỳkheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

- Nếu Tỳkheo bị dâm dục biến tâm, rồi cọ xát với thân người nữ, hoặc nắm tay, hoặc nắm đuôi tóc và xúc chạm vào các bộ phận khác để tìm cảm giác êm ái, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Giải thích

Tỳkheo: Như trên đã nói.

Dâm dục: Tức là có tâm nhiễm ô.

Biến tâm: Tâm quá khứ diệt tận, thay đổi nên gọi là biến. Nhưng chỉ biến dịch trong các thứ này: căn, lực, giác chi và thánh đạo.

Tâm: Tức là ý thức.

Người nữ: Như mẹ, chị, em thân thích hoặc chẳng phải thân thích, hoặc lớn, hoặc nhỏ, hoặc tại gia, xuất gia.

Nắm tay: Hoặc nắm bàn tay, hoặc nắm cổ tay, cho đến nắm một ngón tay thì gọi là nắm tay.

Biên: Có 8 loại, đó là:

1- Ðuôi tóc.
2- Ngoài lề của hạt châu.
3- Phần chót của sợi tơ.
4- Trên chót vòng hoa.
5- Lớp ngoài vỏ cây.
6- Trên đầu ngọn cỏ.
7- Trên đầu sợi lông.
8- Bên ngoài da. 

Nếu nắm 8 loại biên này gồm luôn cả tóc thì phạm 8 tội Tăng già bà thi sa. Ngoài tóc ra, nếu nắm 7 loại biên kia thì phạm 7 tội Thâu Lan Giá.

Thân thể tiếp xúc: Hai thân thể tiếp xúc nhau.

Các bộ phận khác: Các bộ phận trong thân thể, trừ tóc ra.

Vuốt ve: Vuốt xuôi, vuốt ngược khắp nơi.

Tìm cảm giác êm ái: Trong khi vuốt xuôi, vuốt ngược thân thể có cảm giác êm ái.

Tăng già bà thi sa: Như trên đã nói, hoặc Tỳkheo có tâm nhiễm ô kéo mái tóc của phụ nữ, hoặc dở lên, hoặc đè xuống, hoặc kéo tới, hoặc đẩy lui, hoặc ôm vào, hoặc hôn, hoặc xô, hoặc vố, đều phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu Tỳkheo muốn nắm người này mà lại đụng nhằm người khác, hoặc muốn nắm người khác mà lại đụng phải người này, hoặc muốn xúc chạm người này mà xúc chạm người này, hoặc muốn xúc chạm những người khác rồi xúc chạm những người khác, cho đến lôi kéo, vuốt ve, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Trong ý tưởng người đó là phụ nữ, nhưng lại là hoàng môn rồi nắm tóc, cho đến lôi kéo, vuốt ve thì Tỳkheo phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu trong ý Tỳkheo tưởng người đó là hoàng môn, nhưng lại là phụ nữ, rồi lôi kéo, vuốt ve thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu trong ý Tỳkheo tưởng người đó là phụ nữ mà người đó đích thực là phụ nữ, rồi lôi kéo, vuốt ve, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu trong ý Tỳkheo tưởng người đó là hoàng môn mà người đó quả là hoàng môn, rồi lôi kéo, vuốt ve, thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu trong ý Tỳkheo tưởng người đó là phụ nữ nhưng lại là đàn ông, rồi lôi kéo, vuốt ve thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu trong ý Tỳkheo tưởng người đó là nam giới, nhưng lại là phụ nữ, rồi lôi kéo, vuốt ve, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu trong ý Tỳkheo tưởng người đó là nam giới, mà quả thực là nam giới, rồi lôi kéo, vuốt ve thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Ðối với hoàng môn thì cũng như nam giới.

Nếu Tỳkheo khởi tâm dâm dục đuổi bắt người nữ, rồi người nữ đó chạy vào trong đám phụ nữ, và Tỳkheo vào trong đó kéo người nữ ấy ra, thì phạm tội Tăng già bà thi sa. 

Hoặc khởi dục tâm chạm vào trong các phụ nữ ấy thì tùy xúc chạm vào ai đều phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nhưng nếu không xúc chạm thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu Tỳkheo khởi tâm dâm dục đuổi bắt người nữ, rồi người nữ ấy chạy vào trong đám hoàng môn, và Tỳkheo vào trong đó kéo người nữ ấy ra, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu Tỳkheo khởi tâm dâm dục xúc chạm các người hoàng môn, thì tùy theo sự xúc chạm, phạm tội Thâu Lan Giá.

Nhưng nếu không xúc chạm thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu Tỳkheo khởi tâm dâm dục đuổi bắt người nữ rồi người nữ ấy chạy vào trong đám đàn ông, và Tỳkheo vào trong đó lôi kéo người nữ ấy, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nếu Tỳkheo khởi tâm dâm dục xúc chạm vào các người đàn ông, thì tùy theo sự xúc chạm, phạm tội Việt Tỳ Ni. Bằng không xúc chạm, thì phạm tội Việt Tỳ Ni tâm niệm sám hối. 

Nếu Tỳ kheo khởi tâm dâm dục đuổi bắt người hoàng môn và người hoàng môn ấy chạy vào trong đám hoàng môn, rồi Tỳkheo vào trong đó lôi kéo người hoàng môn ấy, (266b) thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu Tỳkheo có dục tâm xúc chạm những người hoàng môn khác, thì tùy theo sự xúc chạm, phạm tội Thâu Lan Giá.

Nhưng nếu không xúc chạm, thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu Tỳkheo khởi tâm dâm dục đuổi bắt người hoàng môn, và người hoàng môn ấy chạy vào trong đám phụ nữ, rồi Tỳkheo vào trong đó lôi kéo người hoàng môn ấy, thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu Tỳkheo có dục tâm xúc chạm vào những phụ nữ khác, thì tùy theo sự xúc chạm, phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nhưng nếu không xúc chạm, thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu Tỳkheo khởi tâm dâm dục đuổi bắt người hoàng môn rồi người hoàng môn ấy chạy vào trong đám đàn ông, và Tỳkheo vào trong đó lôi kéo người hoàng môn ấy, thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu có dục tâm xúc chạm những đàn ông khác, thì tùy theo sự xúc chạm, phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nhưng nếu không xúc chạm, thì phạm tội Việt Tỳ Ni tâm niệm sám hối.

Nếu Tỳkheo khởi tâm dâm dục đuổi bắt một người nam, rồi người nam ấy chạy vào trong đám người nam, và Tỳkheo vào trong đó lôi kéo người nam ấy, thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu có dục tâm xúc chạm những người nam khác, thì tùy theo sự xúc chạm, phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nhưng nếu không xúc chạm, thì phạm tội Việt Tỳ Ni tâm niệm sám hối.

Nếu Tỳkheo khởi tâm dâm dục đuổi bắt một người nam và người nam ấy chạy vào trong đám phụ nữ rồi Tỳkheo vào trong đó lôi kéo người nam ấy, thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu có dục tâm xúc chạm những người nữ khác, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nhưng nếu không xúc chạm, thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu Tỳkheo khởi tâm dâm dục đuổi bắt một người nam, rồi người nam ấy chạy vào trong chúng hoàng môn và Tỳkheo vào trong đó lôi kéo người nam ấy, thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu có dục tâm xúc chạm những người hoàng môn khác, thì tùy theo sự xúc chạm, phạm tội Thâu Lan Giá.

Nhưng nếu không xúc chạm, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. 

Nếu Tỳkheo khởi tâm dâm dục, một lần xúc chạm nhiều phụ nữ, thì phạm tội Tăng già bà thi sa.

Nhưng nếu xúc chạm riêng từng người thì một lần xúc chạm phạm một tội Tăng già bà thi sa.

Nếu Tỳkheo đang ngồi, có phụ nữ đến đảnh lễ dưới chân, mà Tỳkheo khởi tâm dâm dục, thì phải đứng thẳng dậy nghiêm trang, nói với phụ nữ ấy: "Ðảnh lễ xa một tí".

Nhưng vì người phụ nữ ấy sùng tín, nên lại tiếp tục đảnh lễ dưới chân. Khi ấy, Tỳkheo phải cắn lưỡi, mím môi chịu đau đớn, chứ không được cảm nhận sự êm ái của người nữ.

Nếu phụ nữ đến Tỳkheo xin nước, thì Tỳkheo nên bảo người giữ nước cho họ, chứ không nên tự mình rót nước trực tiếp vào tay phụ nữ, mà phải đổ nước đầy xô rồi đưa. Nếu không có xô thì sai tịnh nhân (cư sĩ trong chùa) đưa cho họ. Nếu không có tịnh nhân thì Tỳkheo phải để chén nước trên giường, trên ghế rồi bảo: "Hãy lấy nước đấy uống". Nếu Tỳkheo ngồi cùng với phụ nữ trên một chiếc giường thì trái oai nghi. Nếu khởi dục tâm thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Còn như cố ý lay động cái giường, dù không xúc chạm trực tiếp, thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu cùng ăn chung một chén, một tô, hoặc cùng nằm chung một giường cũng như vậy.

Xem Tiếp Trang Kế 5B
x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
TVHS

x
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap