| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
16-
Vật ở trên không trung: Ðó là quả Am la (xoài) cho đến quả
cát tường. Nếu Tỉ-kheo dấy tâm lấy trộm các loại trái
cây ấy để ăn, nếu ăn một trái mà đủ số quy định,
thì phạm tội Ba La Di. Nếu
chưa đủ, thì cứ mỗi miếng phạm mỗi tội Thâu Lan Giá. Nếu
Tỉ-kheo đụng vào cây, trái rơi xuống đất, thì chưa phạm
Ba La Di. Nếu
nhặt trái mang đi, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. Nếu
hai người đi hái trộm quả, một người lên cây hái quả
ném xuống, một người dưới đất nhặt quả, thì chưa phạm
tội Ba La Di. Nếu
người trên cây đã xuống tới đất, mang quả đi, đủ số
quy định, thì phạm tội Ba La Di. Lấy trộm tất cả các loại
quả khác cũng như thế. Nếu
tại các nơi như Phật đản sinh, đắc đạo, chuyển pháp
luân, chỗ tôn giả A Nan mở đại hội, La Hầu La mở đại
hội, Ban Giá Vu Sắt mở đại hội, có trồng các hàng cây,
và trên các cây được trang trí các thứ châu báu và tám
loại vật, hoặc được che kín, hoặc không che kín. Nếu Tỉ-kheo
dấy tâm trộm cắp sờ vào các vật báu đó, thì phạm tội
Việt Tỳ Ni. Nếu
lay động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. Ðó
gọi là những vật ở trên không trung. Trong
mười sáu vật đã kể trên, nếu Tỉ-kheo dùng tâm trộm cắp
đụng vào chúng thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
lay động thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. -
Lại có mười ba trường hợp sai biệt.
Ðó là: 1-
Vật sai biệt.
1-
Vật sai biệt: Vật gồm có tám loại: a-
Thuốc (248a) dùng đúng thời.
Ðó
gọi là những vật sai biệt. Nếu
Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp chạm vào các vật ấy thì phạm
tội Việt Tỳ Ni. Nếu
di động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. 2-
Xứ sai biệt: Ðó là đất và những vật trong đất, nước
và những vật trong nước, thuyền và những vật trên thuyền,
xe và những vật trên xe, loài bốn chân và những đồ vật
trên loài bốn chân, loài hai chân và những đồ vật trên
loài hai chân, loài không chân và những đồ vật trên loài
không chân, không trung và những vật trên không trung. Ðó
gọi là xứ sai biệt. Nếu
Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp sờ vào những vật đó, thì phạm
tội Việt Tỳ Ni. Nếu
di động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. 3-
Bất định sai biệt: Có trường hợp biết mà nói dối, phạm
tội Ba Dạ Ðề. Có trường hợp không biết mà nói dối,
phạm tội Ba Dạ Ðề. Hoặc biết mà nói dối phạm tội Ba
La Di. Hoặc biết mà nói dối phạm tội Tăng Già Bà Thi Sa.
Hoặc biết mà nói dối phạm tội Thâu Lan Giá. Hoặc biết
mà nói dối phạm tội Việt Tỳ Ni. -
Biết mà nói dối phạm tội Ba La Di: Nếu Tỉ-kheo không thật
sự đạt được pháp siêu việt hơn người mà nói: "Tôi được
A La Hán", thì đó là biết mà nói dối, không phải phạm tội
Ba Dạ Ðề mà là phạm tội Ba La Di. -
Biết mà nói dối phạm tội Tăng Già Bà Thi Sa: Nếu Tỉ-kheo
vô cớ vu khống Tỉ-kheo khác phạm tội Ba La Di, thì đó là
biết mà nói dối, không phải phạm tội Ba Dạ Ðề mà là
phạm tội Tăng Già Bà Thi Sa. -
Biết mà nói dối phạm tội Thâu Lan Giá: Nếu Tỉ-kheo nói:
"Tôi là bậc A La Hán", thì đó là biết mà nói dối, nên không
phải phạm tội Ba Dạ Ðề mà là phạm tội Thâu Lan Giá. -
Biết mà nói dối phạm tội Việt Tỳ Ni: Nếu Tỉ-kheo tự
nói: "Tôi là A La Hán chăng?"Ðó là biết mà nói dối, không
phải phạm tội Ba Dạ Ðề, mà phạm tội Việt Tỳ Ni. -
Biết mà nói dối, phạm Ba Dạ Ðề: Trừ các việc trên, ngoài
ra tất cả những lời nói dối đều thuộc về biết mà nói
dối, phạm tội Ba Dạ Ðề. Lại
có các trường hợp: Tàn hại cây cỏ, phạm Ba La Di. Có trường
hợp tàn hại cây cỏ phạm Thâu Lan Giá. Có trường hợp tàn
hại cây cỏ phạm Ba Dạ Ðề. -
Trường hợp tàn hại cây cỏ phạm Ba La Di: Như cây cối hoa
quả có chủ giữ gìn mà Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp định
lấy rồi làm tàn hại chúng, nếu đủ số quy định, thì
không phải phạm tội Ba Dạ Ðề mà là phạm tội Ba La Di. -
Tàn hại cây cỏ phạm Thâu Lan Giá: Nếu cây cối hoa quả
có chủ giữ gìn mà Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp, lấy trộm
chúng, chưa đủ số quy định thì không phải tội Ba Dạ Ðề
mà là tội Thâu Lan Giá. -
Tàn hại cây cỏ phạm Ba Dạ Ðề: Tàn hại (248b) tất cả
cây cỏ đều phạm tội Ba Dạ Ðề. Có
trường hợp ăn phi thời phạm Ba La Di. Có trường hợp ăn
phi thời phạm Thâu Lan Giá. Có trường hợp ăn phi thời phạm
Ba Dạ Ðề. -
Ăn phi thời (không đúng giờ) phạm Ba La Di: Nếu Tỉ-kheo dấy
tâm trộm cắp lấy trộm thức ăn của người khác rồi ăn
phi thời, nếu đủ số quy định thì không phải phạm Ba Dạ
Ðề mà là phạm Ba La Di. -
Ăn phi thời phạm Thâu Lan Giá: Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm
cắp lấy thức ăn của người khác ăn lúc phi thời mà chưa
đủ số quy định thì không phải phạm Ba Dạ Ðề mà là
phạm Thâu Lan Giá. -
Ăn phi thời phạm Ba Dạ Ðề: Nếu Tỉ-kheo nhận thức ăn
hợp pháp nhưng ăn lúc phi thời, thì phạm Ba Dạ Ðề. Không
phải uống rượu chỉ phạm Ba Dạ Ðề, mà có trường hợp
uống rượu phạm Ba La Di. Có trường hợp uống rượu phạm
Thâu Lan Giá. Có trường hợp uống rượu phạm Ba Dạ Ðề. -
Trường hợp uống rượu phạm Ba La Di: Nếu Tỉ-kheo dấy tâm
trộm cắp, lấy rượu của người khác uống, đủ số quy
định, thì phạm tội Ba La Di. -
Trường hợp uống rượu phạm Thâu Lan Giá: Nếu Tỉ-kheo khởi
tâm trộm cắp lấy rượu của người khác uống, chưa đủ
số quy định, thì phạm tội Thâu Lan Giá. -
Trường hợp uống rượu phạm Ba Dạ Ðề: Nếu Tỉ-kheo nhận
được rượu hợp pháp mà uống thì phạm tội Ba Dạ Ðề. Nếu
Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp xúc chạm vào các vật bất định
sai biệt thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
di động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. Ðó
gọi là các vật bất định sai biệt. 4-
Tường vách sai biệt: Chuồng voi, chuồng ngựa, chuồng lạc
đà, chuồng lừa, bò, dê, vườn rau, vườn cải, vườn dưa,
vườn mía.v.v... Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp bắt voi của
người ta, voi dở lên một chân cho đến bốn chân, ra tới
cửa chuồng, nhưng thân nó chưa ra khỏi cửa thì phạm tội
Thâu Lan Giá, khi thân ra khỏi cửa thì phạm tội Ba La Di. Kể
cả các con vật khác kia cũng thế. Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm
cắp bắt dê của người ta, dê sợ bỏ chạy, bèn nổi giận
đánh chết thì phạm tội Ba Dạ Ðề. Nếu
Tỉ-kheo cắt thịt nó ném ra ngoài hàng rào thì chưa phạm
Ba La Di, nhưng khi mình ra khỏi hàng rào, rồi mang thịt rời
khỏi khu vực đó đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Hoặc
trở lại trong chuồng, ăn thịt, đủ số quy định, thì phạm
tội Ba La Di. Nếu
hai Tỉ-kheo đi bắt trộm dê, một người ở ngoài rào, một
người ở trong rào, người ở trong cắt thịt ném ra ngoài
rào, thì chưa phạm Ba La Di. Nếu
người ấy ra ngoài, mang thịt rời khỏi khu vực đó, đủ
số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp đi nhổ cải trộm, nếu nhổ một
cây mà đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu chưa
đủ, thì khi nhổ, cứ mỗi cây phạm mỗi tội Thâu Lan Giá. Nếu
nhổ chất lại một đống, thì chưa phạm Ba La Di, nhưng khi
mang ra khỏi vườn thì phạm tội Ba La Di. Nếu
nhổ những gốc lớn không thể mang đi được, dù kéo đi
hơi xa, cũng chưa phạm Ba La Di. Nếu
đã rời khỏi đám đất, đủ số quy định, thì phạm tội
Ba La Di. Tất cả các thứ rau cho đến dưa cũng như thế. Nếu
Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp, chặt trộm mía của người,
ăn đúng thời, (248c) dù một cây mà đủ số quy định, thì
phạm tội Ba La Di. Nếu
chưa đủ số quy định, thì cứ mỗi cây phạm mỗi tội Thâu
Lan Giá. Nếu
chặt vứt ra ngoài hàng rào thì chưa phạm Ba La Di, mà phạm
Ba Dạ Ðề. Nếu
ra khỏi vườn, mang đi, đủ số quy định, thì phạm tội
Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo có tâm trộm cắp, lại xảo trá lấy mía buộc dưới
gót chân kéo đi, dù đi hơi xa, vẫn chưa phạm Ba La Di. Nếu
rời khỏi khu đất, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. Nếu
Tỉ-kheo ở trong vườn chặt mía vứt ra cho Tỉ-kheo ở ngoài
vườn, thì chưa phạm Ba La Di. Nếu
người ấy ra rồi vác mía rời khỏi khu vườn, đủ số quy
định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
lúc Tỉ-kheo vác mía đi, tuy chạm vào cây và lá mía, nhưng
chưa rời khỏi vườn, thì chưa phạm Ba La Di. Sau
khi đã rời khỏi vườn, thì phạm Ba La Di. Tóm
lại, nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp, chạm vào các vật
kể trên, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
di động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. 5-
Lồng sai biệt: Ðó là các giống chim như Oanh vũ.v.v... các
giống thú như Sư tử.v.v... Nếu
Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp, khi lấy trộm chỉ muốn trộm
chim không muốn trộm lồng, nhưng sợ người ta phát giác nên
xách cả lồng đi, thì chưa phạm Ba La Di. Nếu
bỏ lồng lại bắt chim đi, đủ số quy định, thì phạm tội
Ba La Di. Nếu muốn trộm lồng, không trộm chim, nhưng sợ người
ta biết nên đem cả chim đi, thì chưa phạm Ba La Di. Nếu
thả chim ra, xách lồng đi, đủ số quy định, thì phạm tội
Ba La Di. Nếu
muốn lấy trộm cả lồng và chim đi, khi mang đi khỏi chỗ
cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp, khi tay còn đang bắt chim trong
lồng, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Khi
một chân chim ra khỏi lồng thì phạm tội Thâu Lan Giá. Khi
hai chân ra khỏi lồng mà cánh, đuôi chưa ra khỏi miệng lồng
thì chưa phạm tội Ba La Di. Khi
hoàn toàn rời khỏi lồng, đủ số quy định, thì phạm tội
Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo bắt trộm Sư tử mà tay còn ở trong chuồng thì phạm
tội Việt Tỳ Ni. Nếu
kéo ra được một chân (sư tử) thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nhưng
khi bốn chân ra khỏi chuồng mà đuôi chưa ra khỏi, thì chưa
phạm Ba La Di. Nếu
hoàn toàn ra khỏi, thì phạm tội Ba La Di. Tất cả các loài
thú khác cũng như vậy. Tóm
lại, nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp chạm vào các vật ở
trong lồng sai biệt như vậy, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
di động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. 6-
Ký gởi sai biệt: Nếu Hòa thượng, thầy, đệ tử bạn hữu
gởi vật nhờ ai đó giữ giúp, như bát, y và các vật khác,
mà người nhận suy nghĩ: "Người gởi đã đi xa, mà vật gởi
không biết thứ gì, vậy vật này ta phải xử dụng", bèn
sinh tâm trộm cắp lấy vật đó, từ dưới đất để lên
đầu gối, từ đầu gối đặt xuống đất, từ vai trái đặt
lên vai phải, cho đến từ đầu để lên vai, mỗi mỗi sự
di động, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo nhận gởi gấm rồi, bèn đi qua sông, hoặc lội qua
ao, hoặc qua chỗ nước xoáy, hoặc gặp mưa, sợ ướt (249a)
nên mở ra xem, thấy y ấy đẹp, liền suy nghĩ: "Người gởi
ấy đã đi xa, người hiện tiền không biết, vật này ta nên
sử dụng". Bèn sinh tâm trộm cắp lấy vật ấy, từ đất
để lên đầu gối, từ đầu gối đặt xuống đất, từ
vai trái đặt qua vai phải, hoặc từ vai để lên đầu, mỗi
mỗi sự di động, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. Vị
Tỉ-kheo nhận ký gởi đang đi trên đường, thấy vị Tỉ-kheo
khác từ chỗ ở trước kia đến, liền hỏi Tỉ-kheo ấy:
"Trưởng lão từ nơi nào đến vậy?" Ðáp:
"Từ chỗ nọ đến". Hỏi:
"Biết vị Tỉ-kheo kia chăng?" Ðáp:
"Biết". Liền
hỏi: "Vị Tỉ-kheo ấy có bình an không?" Ðáp:
"Chết"hoặc "Ðã nhập Niết bàn". Nếu
thế, thì các y phục và vật dụng ấy phải thuộc về hiện
tiền Tăng. Nhưng nếu vị Tỉ-kheo nhận vật ký gởi biết
pháp mà gian trá, liền suy nghĩ: "Tội gì mà ta chia cho vị
Tỉ-kheo này", liền im lặng bỏ vị Tỉ-kheo ấy, đi tới chỗ
khuất không thể nghe thấy, rồi nói: "Vị Tỉ-kheo mỗ giáp
kia đã quá cố, đã nhập Niết bàn. Các y bát và vật dụng
khác của vị ấy nên chia cho Tăng chúng hiện tiền, nhưng
hiện tiền không có Tăng chúng, nên tôi phải nhận lấy".
Vị Tỉ-kheo này dùng tâm gian trá để độc chiếm các vật
đó, nên phạm tội Việt Tỳ Ni. Hoặc
giả, vị Tỉ-kheo nhận đồ ký gởi muốn đi thuyền qua sông,
bỗng có vị Tỉ-kheo khác từ bờ kia đi qua. Vị này hỏi
vị ấy: "Thầy từ đâu đến?" Ðáp:
"Từ chỗ ấy đến". Lại
hỏi: "Có biết vị Tỉ-kheo kia chăng?" Ðáp:
"Biết". Lại
hỏi: "Vị Tỉ-kheo ấy bình an chăng?" Ðáp:
"Ðã chết, đã nhập Niết bàn". Bấy
giờ, y phục và vật dụng (của Tỉ-kheo quá cố) phải thuộc
về Tăng chúng hiện tiền, nhưng thầy Tỉ-kheo này biết pháp
mà gian trá, làm yết ma để độc chiếm y vật, thì phạm
tội Việt Tỳ Ni. Hoặc
vị Tỉ-kheo nhận đồ ký gởi đi thuyền đến giữa sông
thì gặp một Tỉ-kheo khác từ bên kia đi lại, thầy liền
hỏi: "Trưởng lão từ đâu đến?".v.v.. cho đến dùng tâm
yết ma gian trá thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Hoặc
giả thầy Tỉ-kheo nhận đồ ký gởi đến bờ bên kia, xuống
thuyền, liền gặp một Tỉ-kheo khác sắp lên thuyền.v.v..
cho đến dùng tâm yết ma gian trá thì phạm tội Việt Tỳ
Ni. Hoặc
Tỉ-kheo nhận đồ ký gởi đã lên khỏi bờ, gặp một Tỉ-kheo
khác từ bên kia đi lại, liền hỏi: "Trưởng lão từ đâu
đến?"Ðáp: "Từ nơi ấy đến".v.v... cho đến dùng tâm gian
trá làm phép yết ma thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Thầy
Tỉ-kheo ấy hoặc suy nghĩ: "Hiện tại thấy có nhiều người
cùng tên, vậy phải làm cách nào đến được nơi ấy?"Ðến
nơi ấy rồi, liền hỏi vị Tỉ-kheo kia có được bình an
không thì được biết, hoặc đã chết, hoặc đã nhập Niết
bàn. Khi ấy y vật đương nhiên thuộc về Tăng chúng hiện
tiền. Thầy Tỉ-kheo này tuy biết pháp, nhưng gian trá suy nghĩ:
"Y ấy vì sao phải chia cho nhiều người?" Liền gọi riêng
(249b) thầy Tỉ-kheo quen biết ra ngoài giới trường, bảo:
"Thầy Tỉ-kheo mỗ giáp đã quá cố, đã nhập Niết bàn, y
bát và các tạp vật nên chia cho Tăng hiện tiền, giờ đây
hai chúng ta là người hiện diện, nên nhận lấy". Cách nhận
ấy là phép yết ma gian trá, nên phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
Tỉ-kheo này suy nghĩ: "Trước đây (vị ấy) bảo ta tặng y
này cho tháp, cho Tăng, mà nay thầy đã mất, đã nhập Niết
bàn", liền mang vật ấy trở về lại chỗ cũ (trú xứ của
Tỉ-kheo đã mất), thì không phạm tội. Ðó gọi là ký gởi
sai biệt. Tóm
lại, nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp chạm vào vật ký gởi
thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Cho đến dời khỏi chỗ cũ, đủ
số quy định, thì phạm tội Ba La Di. 7-
Tạp vật sai biệt: Như người chăn nuôi, chăn các loài súc
vật như: voi, ngựa, bò, lạc đà, lừa, dê.v.v... -
Voi: Voi có nhiều thứ, như voi tốt, thuần dưỡng, đẹp đẽ,
khỏe mạnh, chạy nhanh. Nếu
Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp bắt lấy voi, leo lên cưỡi rồi
thúc voi về một phương nào đó như phương Ðông, nhưng voi
nổi khùng chạy về phương Nam, Tây, Bắc thì chưa phạm Ba
La Di. Hoặc muốn dắt voi về phương Nam, nhưng voi phát khùng
chạy về phương Tây, Bắc, Ðông, thì chưa phạm Ba La Di; hoặc
về phương Tây, Bắc cũng thế. Nhưng
nếu muốn dắt trộm voi về phương Ðông mà voi đi về phương
Ðông, thì phạm Ba La Di; phương Nam, Tây, Bắc cũng thế. Nếu
lúc đầu không định phương hướng, tùy nơi mà đi, thì khi
voi dở lên đủ bốn chân, phạm tội Ba La Di. -
Ngựa: Ngựa có nhiều loại, có loài thuần dưỡng, sắc đẹp,
chạy nhanh. Nếu
Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp, bắt con ngựa ấy, rồi leo lên
ngựa thúc về phương Ðông, nhưng ngựa nổi cuồng chạy về
phương Nam, Tây, Bắc thì chưa phạm Ba La Di. Cũng
vậy, các phương Nam, Tây, Bắc kia cũng thế,ngựa tùy phương
đi như trên đã nói. Nếu không định phương hướng, tùy
chỗ mà đi, thì khi ngựa đã dở lên cả bốn chân, phạm
Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo trộm con ngựa tốt, cưỡi chạy, rồi chủ ngựa hay
được, lên ngựa đuổi theo, nhưng chủ chưa cho là đã mất
ngựa, Tỉ-kheo không nghĩ là mình đã được, thì chưa phạm
Ba La Di. Nếu
chủ ngựa nghĩ là đã mất ngựa, Tỉ-kheo tưởng là đã được
ngựa, thì phạm Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp, dùng mồi hoặc cỏ nhử ngựa
người ta đem đến chỗ không thấy, không ghe được nữa,
thì phạm tội Ba La Di. -
Bò: Bò có nhiều loại, có loại thuần dưỡng, lông mịn,
sắc đẹp, chạy nhanh. Nếu
Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp, cầm roi đuổi bò về phương
Ðông, phạm và không phạm như đã nói trong trường hợp voi.
Cho đến, nếu chủ bò hay được, đuổi theo, mà chủ không
nghĩ là đã mất bò, Tỉ-kheo cũng không nghĩ là đã được,
thì chưa phạm Ba La Di. Nhưng
nếu chủ bò nghĩ là đã mất, Tỉ-kheo nghĩ mình đã được,
(249c) thì phạm Ba La Di. Nếu
khởi tâm trộm cắp dùng mồi hay cỏ nhử bò người ta dắt
đi, hoặc dùng dây dài buộc dắt tới chỗ không còn ai trông
thấy nữa, thì phạm Ba La Di. Trường hợp trộm lạc đà,
lừa, dê cũng như thế. Ðó
gọi là tạp vật sai biệt. Tóm
lại, nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp, chạm vào các vật
kể trên thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Cho đến rời khỏi chỗ
cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. 8-
Tràng phan sai biệt: Nếu tại các nơi Phật đản sinh, đắc
đạo, chuyển pháp luân, chỗ A Nan mở đại hội, La Hầu La
mở đại hội, Ban Giá Vu Sắt mở đại hội, được trang
các thứ như treo biểu ngữ, che lọng và các thứ linh quí;
nếu Tỉ-kheo dấy tâm lấy trộm tràng phan, mở được một
đầu dây thì chưa phạm Ba La Di. Khi
mở cả hai đầu, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp nói gạt là mình đi treo tràng
phan các nơi thì chưa phạm Ba La Di. Khi
lấy rồi mang đi luôn, đủ số quy định, thì phạm tội Ba
La Di. Nếu
Tỉ-kheo lấy trộm vòng hoa, mới mở một đầu thì chưa phạm
Ba La Di. Khi
mở cả hai đầu xong, đủ số quy định, thì phạm Ba La Di. Nếu
hai Tỉ-kheo cùng đi lấy trộm tràng phan trong chỗ tối không
thấy nhau, mỗi người mở một đầu cuốn lại, gặp nhau
ở chỗ giữa, liền hỏi: "Ông là ai?"Người nghe hỏi hoảng
sợ bỏ tràng phan mà chạy, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
hai Tỉ-kheo đụng độ, hỏi nhau, mỗi người đều nói mình
lấy trộm tràng phan, rồi lấy mang đi, đủ số quy định,
thì phạm tội Ba La Di. Nếu
nhiều lá cờ có nhiều màu cùng cột một dây nặng nề, mỗi
người mở một đầu rơi xuống đất, nhưng vì nặng mang
không nổi, kéo lê đi, tuy xa chỗ cũ, vẫn chưa phạm tội
Ba La Di. Khi
đã dở lên khỏi đất, cả hai đều phạm tội Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo này suy nghĩ: "Ðây là vật trang trí tháp mà lấy đi,
thì mang tội nặng. Ta chỉ cần một cái hai màu". Rồi lấy
cái ấy, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
nghĩ: "Ta chỉ cần nửa màu", rồi lấy cái ấy, chưa đủ
số quy định, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu đủ số quy
định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
hai Tỉ-kheo lấy trộm cờ trong chỗ tối, cả hai không biết
nhau, mỗi người mở một đầu cuốn lại, đến chỗ giữa
gặp nhau, bèn hỏi: "Ông là ai?"Rồi hoảng sợ bỏ cờ mà
chạy, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Một
Tỉ-kheo khác buổi sáng sớm đi nhiễu tháp, thấy cờ ấy
rơi xuống đất, liền khởi tâm trộm cắp lấy đi, nếu đủ
số quy định, thì phạm Ba La Di. Có
người dùng bảy thứ báu trang trí cúng dường cây Bồ đề
như: vàng, bạc, trân châu, các lá cờ hoa dây vàng, kim tuyến,
móc vàng, linh treo, ánh vàng rực rỡ cả núi. Nếu Tỉ-kheo
dấy tâm trộm cắp, lấy các vật ấy, đủ số quy định,
thì phạm tội Ba La Di. Lại
nữa, các tháp của ngoại đạo cũng có các thứ lụa là rực
rỡ cúng dường. Nếu Tỉ-kheo dùng tâm trộm cắp để lấy,
đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
gió thổi làm rơi (các vật kia) xuống đất, (mà Tỉ-kheo)
biết đó là các vật cúng dường của tháp (250a), thì không
nên lấy. Nếu bị gió thổi bay xa bụi bặm vấy bẩn, mình
tưởng là vật phấn tảo (vứt bỏ) mà lấy, thì không có
tội. Hoặc trong Thiên Tự (chùa thờ trời) có các y vật,
Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp để lấy, đủ số quy định,
thì phạm tội Ba La Di. Nếu
(các vật ấy) bị gió thổi bay xa, bụi bặm vấy bẩn, mình
tưởng là đồ bỏ mà lấy, thì không có tội. Ðó
gọi là tràng phan sai biệt. Tóm
lại, nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp chạm vào các thứ tràng
phan sai biệt ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
di động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. 9-
Tướng sai biệt: Nếu có nhà trưởng giả để y phục, chuỗi
anh lạc bừa bãi chưa thu cất, khi ấy Tỉ-kheo dẫn Sa di đến
nhà, trông thấy rồi sinh tâm trộm cắp, lấy y vật đó bỏ
vào trong xách, bảo Sa di mang đi, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Khi
Sa di đem đi khỏi phạm vi nhà, thì (Tỉ-kheo) phạm tội Thâu
Lan Giá. Nếu
(Tỉ-kheo) nghĩ mình đã được, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
khi ấy chủ nhân phát hiện, liền hỏi Tỉ-kheo : "Trưởng
lão làm gì thế?" Ðáp:
"Lão gia, tôi sờ thử đó mà". Thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
Tỉ-kheo bảo người thế tục mang đi, thì cũng phạm tội
như trên đã nói. Như trường hợp dẫn dê lông dài đi cũng
thế. Nếu
Tỉ-kheo vào nhà trưởng giả, dê con thấy sắc y của Tỉ-kheo
tưởng là mẹ nó,nó bèn chạy tới, thì Tỉ-kheo phải đuổi
nó trở lại, nhược bằng dùng mồi hay cỏ nhử nó chạy
theo, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Khi
dẫn nó đi chưa khỏi ranh giới, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Khi
ra khỏi ranh giới thì phạm tội Ba La Di. Nếu
trong lúc thọ trai, Tỉ-kheo sinh tâm trộm cắp, bỏ chén, thìa
vào trong bát mình, rồi bảo đệ tử mang đi thì phạm tội
Việt Tỳ Ni. Khi
đệ tử ra khỏi ranh giới thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
nghĩ là mình đã được, thì phạm tội Ba La Di. Nếu Tỉ-kheo
đệ tử biết được, liền hỏi: "Trưởng lão làm gì thế?" Ðáp:
"Ta đùa đấy mà", thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
Tỉ-kheo cùng với khách buôn đi đường, giữa đường lại
gặp một đoàn khách buôn từ bên kia đi lại. Rồi hai đoàn
cùng nghỉ một chỗ. Nửa đêm, Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp,
đem xe của người này đổi xe của người khác, đem đàn
ông của người này hoán vị đàn ông của người kia, đem
phụ nữ của người này hoán vị phụ nữ của người kia,
đem trẻ con của người này hoán vị trẻ con của người
kia, muốn hai đoàn khách mang đi lẫn lộn. Khi làm như vậy,
thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Khi họ rời khỏi ranh giới chỗ
tạm trú, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
nghĩ là mình đã được, thì phạm tội Ba La Di. Ðó
gọi là tướng trạng sai biệt của vật. Tóm
lại, nếu Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp, chạm vào các tướng
sai biệt của vật thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
di động chúng, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. 10-
Cây cọc sai biệt: Các nơi như chỗ Phật đản sinh (250b),
chỗ Phật thành đạo, chỗ chuyển pháp luân, chỗ A Nan mở
đại hội, chỗ La Hầu La mở đại hội, chỗ Ban Giá Vu Sắt
đại hội, có các vật trang trí đẹp đẽ tại các tinh xá,
các cờ lọng nhiều màu sắc treo trên các cây cọc đó đây,
các loại châu báu treo trên các cây cọc.v.v..., nếu Tỉ-kheo
khởi tâm trộm cắp định lấy các báu vật trên các cây
cọc ấy, đưa tay lấy báu vật mà chưa gỡ khỏi dây buộc
vào cọc, thì chưa phạm tội Ba La Di. Nhưng khi rời khỏi cọc
thì phạm tội Ba La Di. Nếu
dây buộc cứng chắc, khi lấy báu vật dây buộc rời khỏi
cây cọc, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
muốn lấy trộm cả cọc, thì khi tay chạm vào sẽ phạm tội
Việt Tỳ Ni. Nếu
làm lay động cây cọc ấy thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. Nếu
trên cọc treo các bình sữa, bình dầu, bình mật, hoặc bát,
tơ lụa mà Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp lấy bình sữa ấy,
thì khi dùng tay dở lên, do dây mềm cọc thẳng, nên tuy dở,
chưa phạm Ba La Di. Khi tất cả rời khỏi cọc, thì phạm Ba
La Di. Nếu
dây cứng chắc cọc cong, tuy dở chưa phạm Ba La Di. Khi
tất cả đều rời khỏi cọc đủ số quy định, thì phạm
tội Ba La Di. Nếu dây cứng chắc mà cọc lại thẳng, thì
khi dở lên liền phạm Ba La Di. Nếu
khoét cho lủng bình thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Khi
rót từ bình kia qua bình mình thì phạm tội Thâu Lan Giá. Khi
ngưng rót, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
khi đang rót mà bỗng hối hận, sợ phạm tội nặng, bèn trút
lại vào trong bình thì phạm tội Thâu Lan Giá. Các
bình dầu, bình mật kia cũng thế. Nếu
Tỉ-kheo muốn lấy trộm bát, khi dùng tay dở lên, do dây mềm
cọc thẳng, nên dù dở vẫn chưa phạm Ba La Di. Khi
bát rời khỏi cọc thì phạm Ba La Di. Nếu
dây cứng chắc mà cọc cong, thì dù dở vẫn chưa phạm Ba
La Di. Khi
rời khỏi cọc thì phạm Ba La Di. Nếu
dây mềm trụ cong, thì dù dở cầm vẫn chưa phạm Ba La Di. Khi
rời khỏi cọc thì phạm Ba La Di. Nếu
dây cứng chắc, cọc thẳng, thì dở lên liền phạm Ba La Di. Nếu
lấy trộm tơ lụa thì cũng giống như trường hợp đã nói
ở trên. Lại nữa, khi ăn trộm tơ lụa, nếu suy nghĩ: "Ta
cần một ít lụa", rồi leo lên cọc cuốn lấy lụa thì khi
cuốn chưa xong chưa phạm Ba La Di. Khi
đã cắt đứt lụa, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. Khi
Tỉ-kheo cuốn lấy lụa, nhưng cuốn chưa xong, liền hối hận,
sợ phạm tội nặng, bèn để lại chỗ cũ, thì phạm tội
Thâu Lan Giá. Ðó
gọi là cây cọc sai biệt. Tóm
lại, nếu Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp chạm vào những cây
cọc sai biệt, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
lay động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. 11-
Vườn sai biệt: Bấy giờ, có một trưởng giả thuộc hàng
đại phú, có một Tỉ-kheo tên (250c) Câu Lô thường vào ra
nhà ông. Gia đình ông, cha mẹ anh em thường sống chung một
nhà, nhưng khi cha mẹ chết thì trong nhà bất hòa, người em
muốn chia gia tài mà người anh không bằng lòng, muốn sống
chung cho có tình nghĩa. Người em đòi chia gia tài mãi, người
anh bất đắc dĩ phải đồng ý. Thế rồi họ bàn bạc: "Ai
có thể chia được?", và cùng nhau nhất trí là chỉ có thầy
Câu Lô, vì khi cha mẹ còn sống, cúng dường thầy rất trọng
hậu, trong nhà có gì hay không thầy biết rất rõ. Lúc ấy,
người em gian manh liền đến Câu Lô lễ bái rồi thưa: "Thưa
thầy, thầy được cha mẹ tôi tôn trọng, anh em tôi kính mến,
trong nhà có gì hay không thầy đều biết rõ. Khi cha mẹ còn
sinh tiền, anh em sống với nhau, nay cha mẹ đã qua đời, trong
nhà bất hòa, muốn chia gia tài, nên tôi đến đây thưa với
thầy, sau khi ở riêng tôi sẽ cúng dường thầy, và sẽ tự
nuôi sống với những vật cúng dường còn lại, mong khi chia
gia tài, thầy dành phần tốt cho tôi". Nếu Tỉ-kheo nhận lời
người ấy, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Khi
giữ lại vật tốt thì phạm tội Thâu Lan Giá. Khi
đã chia vật dụng xong, thì phạm tội Ba La Di. Lúc
sắp chia vật dụng, Tỉ-kheo hỏi: "Nên chia vật gì trước
hết?"Chủ nhân đáp: "Trước hết chia loài hai chân và bốn
chân". Tỉ-kheo liền chia loài hai chân trước. Trong hàng nô
tỳ những người già cả khó sai bảo, không tin cậy được
chia thành một phần, còn những người trai trẻ, không bệnh,
dễ sai bảo, tin cậy được chia thành một phần. Khi chia loài
bốn chân thì trong đàn bò những con già nua mất sức, xấu
xí, khó dùng, không sinh sản, ít sữa, hoặc có sữa mà không
vắt được, chia thành một phần, còn những con răng nhỏ,
mập mạp, lanh lẹ, dễ sử dụng, mắn đẻ, nhiều sữa, hiền
lành, dễ dạy, chia thành một phần. Khi
chia phòng xá thì xếp các loại cũ kỹ, mục nát, thành một
phần, còn những ngôi nhà mới đẹp đẽ, xếp thành một
phần. Về
lầu gác, hàng quán cũng như thế. Cho
đến chia ruộng thì xếp những đám cằn cỗi, đất xấu
thành một phần, những đám phì nhiêu, đất tốt thành một
phần. Trong vườn, những chỗ đất chết, ít hoa trái chia
thành một phần, còn chỗ đất tốt, hoa trái sum sê chia thành
một phần. Lại sắp chia lúa thóc, vàng bạc, của cải. Bấy
giờ, người anh nói với Tỉ-kheo : "Thầy là người mà cha
mẹ tôi kính mến, anh em tôi tôn trọng, vì sao chia của lại
chia như thế?" Thầy
ấy bèn suy nghĩ lại về Phật dạy: "Nếu Tỉ-kheo đem cái
tâm như thế mà chia của cho người ta, thì dù chủ không đồng
ý nhận phần, cũng phạm tội Việt Tỳ Ni". Khi
Câu Lô trở về rồi, hai anh em người ấy bèn bàn bạc: Vậy
thì ai là người mà cha mẹ kính trọng, là bậc kỳ cựu đại
đức biết trong nhà có gì hay không có, để nhờ họ chia
của? Nếu không chia nhanh, sợ vua nghe được (251a) hoặc có
thể đánh thuế đoạt mất". Họ nghĩ lại thì thấy Câu Lô
không có lỗi, nên anh em bàn nhau mời Câu Lô chia gia tài trở
lại. Thế rồi, họ đi đến Câu Lô, lễ bái thăm hỏi, rồi
ngồi sang một bên, bạch với Câu Lô: "Thầy là người mà
cha mẹ tôi kính trọng, trong nhà có gì hay không thầy đều
biết, nay hãy vì chúng tôi mà chia giúp gia tài này". Lúc
ấy, Câu Lô tức giận, vì trước đó họ không chịu nhận
sự phân chia, nên bảo: "Anh em ngươi bạc nghĩa, đa nghi, bất
tín, ai còn nhẫn nại để chia gia tài cho bọn ngươi nữa?" Anh
em họ liền thưa: "Trước đây vì chúng tôi bồng bột nên
cảm thấy hổ thẹn với thầy, trong nhà của cải nhiều ít
thầy đều biết rõ, nay xin thầy hãy chia giúp tài sản này.
Nếu để quan thuế biết được, e họ đánh thuế cướp mất,
cho nên chúng tôi muốn chia cho nhanh". Tỉ-kheo
hỏi lại: "Các ngươi nhất định muốn nhờ ta chia sao?" Ðáp:
"Ðúng thế thưa thầy!" Tỉ-kheo
ấy liền bảo: "Nếu đã nhất quyết thì phải cam kết, sau
khi chia của, được phần liền nhận, không ai được nói
gì nữa, thì ta mới chia cho các ngươi". Họ đồng thanh đáp:
"Xin vâng lời dạy, không dám trái lời nữa". Thầy Tỉ-kheo
ấy khi đã nhận lời thỉnh cầu của họ phải chia phần
bằng nhau. Khi chia ruộng phải dùng dây căng ra đo đất, nếu
đem tâm thiên vị mà đo đất thì dù chênh lệch nhau một
buội lúa, Tỉ-kheo này liền phạm tội Ba La Di. Vì đất vốn
là vật vô giá. Ðó
gọi là vườn (đất) sai biệt. Tóm
lại, nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp chạm vào các vườn
sai biệt này thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Cho đến đủ số
quy định, thì phạm tội Ba La Di. 12-
Ăn trộm sai biệt: Có các Tỉ-kheo đang đi đường bị bọn
cướp cướp của, nhưng bọn cướp ít, Tỉ-kheo đông. Lúc
ấy, các Tỉ-kheo bèn bảo nhau: "Nay bọn cướp ít mà chúng
ta đông, ta phải hợp nhau lấy lại vật đã mất", bèn cùng
nhau cầm gạch, đá, đuổi theo bọn cướp ấy mà mắng lớn:
"Quân trộm cướp tệ ác tội lỗi kia! Chúng ta đã tự mình
cạo bỏ râu tóc, các ngươi tưởng ta cắt bỏ luôn cả tay
rồi ư?". Lúc ấy, bọn cướp liền vứt y bát, tìm đường
tẩu thoát. Nếu các Tỉ-kheo ấy chưa nghĩ là mình đã mất
của, rồi lấy lại vật cũ thì không có tội. Nếu nghĩ là
mình đã mất, rồi lấy lại vật ấy, tức là kẻ cướp
lấy đồ của kẻ cướp, hễ đủ số quy định, thì phạm
tội Ba La Di. Có
các Tỉ-kheo đang đi đường bị bọn cướp cướp đoạt.
Các Tỉ-kheo mất y bát rồi, vào núp trong rừng, bọn cướp
suy nghĩ: "Ðồ đảng chúng ta đông mà vật này thì ít, chia
nhau sao đủ? Ta phải tìm thêm chút ít nữa". Liền đem y bát
cất giấu một chỗ, rồi cướp của những người đang đi
đường khác. Khi ấy các Tỉ-kheo thấy được các vật bọn
chúng cất giấu, rình bọn cướp đi khỏi, bèn lấy lại y
bát. Nếu các Tỉ-kheo ấy trước đó không nghĩ là mình đã
mất của, rồi lấy lại vật cũ, thì không có tội. Nếu
nghĩ là đã mất (251b) thì không nên lấy. Nếu lấy tức là
đi cướp đồ của kẻ cướp, hễ đủ số quy định, thì
phạm tội Ba La Di. Lại
có Tỉ-kheo đi đường bị bọn cướp cướp đoạt y bát của
Tỉ-kheo, rồi thuận đường đi tiếp. Khi ấy, Tỉ-kheo trông
chừng xem chúng đi đâu, rồi theo sát chúng không ngừng. Ðến
một làng kia, bọn cướp liền chia đồ vật. Tỉ-kheo bèn
nói với chúng: "Các lão trượng! Tôi là người xuất gia,
xin của người khác để nuôi sống. Các vị có thể xin y
bát của tôi, nhưng các vị đâu có dùng y bát này làm gì?"Nếu
Tỉ-kheo nói như thế mà đòi lại được, thì không có tội. Nếu
bọn cướp mắng rằng: "Này kẻ Samôn tệ ác! Ta định xin
cả tính mạng của ngươi. Sao ngươi còn dám tới đây mong
đòi lại y bát?" Tỉ-kheo
suy nghĩ: "Ở đây gần làng xóm, bọn cướp này ắt không
dám hại ta, ta phải dọa chúng". Liền
nói với bọn cướp: "Các ngươi tưởng ta không có ai che chở
sao? Ta sẽ tâu với vua và các quan đại thần biết các ngươi
là bọn cướp". Nếu đe dọa chúng mà được, thì không có
tội. Nếu
quân cướp nổi giận nói: "Ta nhất định không cho, ngươi
muốn đi thưa tùy ý". Nếu Tỉ-kheo trình báo với xã trưởng,
rồi ông ta bắt bọn cướp hoặc trói, hoặc giết, thì không
nên báo. Nếu báo với xã trưởng tìm phương tiện khuyến
dụ họ mà được y bát, thì không có tội. Lại
có thầy Tỉ-kheo có nhiều y bát, nuôi đệ tử đông đúc,
mà đệ tử của thầy thì không tu giới hạnh, nên họ nghĩ
như sau: "Hãy đến phòng của thầy Hòa thượng lấy trộm
các y bát. Y bát của tôi cũng để trong phòng của thầy".
Bèn hẹn nhau: "Nếu ông được y bát thì chia cho tôi, nếu
tôi được cũng chia cho ông", rồi vào trong phòng, đến chỗ
móc y, lấy y của Hòa thượng đem để vào chỗ y của mình.
Nếu chưa rời khỏi móc y cũ, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
đã lấy y của thầy ra khỏi móc y, đem để vào chỗ y của
mình, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
y của thầy còn vướng ở móc y, hoặc là dây tơ chưa rời
khỏi móc y thì chưa phạm tội Ba La Di, khi tất cả đều rời
khỏi móc y, thì phạm tội Ba La Di. Nếu thầy Hòa thượng
nghi đệ tử có thể lấy trộm y bát của mình, bèn lấy y
bát đó đem cất một chỗ khác. Người đệ tử bèn vào trong
phòng tối ăn trộm nhầm y bát của mình, khi ra ngoài không
phân biệt được. Nếu trong nửa số y đó mà đủ số quy
định, thì phạm tội Ba La Di. Có
một Tỉ-kheo ma ha la (bán thế xuất gia), đã xuất gia mà không
khéo giữ giới hạnh, nên có một Tỉ-kheo khác rủ: "Trưởng
lão! Chúng ta hãy đi ăn trộm". Ma
Ha La đáp: "Lúc còn ở nhà, tôi không làm kẻ trộm, nay đã
xuất gia lẽ nào lại làm kẻ trộm?". Tỉ-kheo
kia nói: "Thầy không muốn ăn trộm thì chỉ cần giữ cửa,
tôi sẽ chia phần cho thầy". Ma
Ha La suy nghĩ: "Ta không ăn trộm mà được chia phần bằng
nhau, vì sao không (251c) đi", bèn đáp: "Ðược". Thế
rồi hai người cùng đi. Ma Ha La giữ cửa, thầy Tỉ-kheo kia
vào nhà ăn trộm đồ đạc. Lúc chạm vào đồ đạc, thì
cả hai cùng phạm tội Việt Tỳ Ni. Khi
di động đồ đạc thì cả hai phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì cả hai phạm tội
Ba La Di. Nếu
có Tỉ-kheo khách đến, rồi nghỉ tại phòng ăn, hoặc tại
phòng tọa thiền, đến sáng sớm ra đi, bèn quên y bát và
các vật khác. Bấy giờ, Tỉ-kheo tri khách (ma ma đế) đi tuần
hành các phòng ốc để xem Tỉ-kheo khách kia đi hay chưa, bỗng
thấy y bát liền sinh tâm trộm cắp, lấy y bát dời sang một
chỗ khác (cất giấu), thì phạm tội Ba La Di. Lại
có Tỉ-kheo khác đến trông thấy y bát cũng sinh tâm trộm
cắp, liền lấy dời một chỗ khác cất giấu, cũng phạm
Ba La Di. Lại
một người thứ ba đến trông thấy lại sinh tâm trộm cắp,
đem cất giấu một chỗ khác nữa, cũng phạm Ba La Di. Tùy
số người nhiều ít khởi tâm trộm cắp di chuyển (các vật
ấy), tất cả đều phạm tội Ba La Di. Nhưng nếu người chủ
y vật khi đã đi xa bỗng nhớ lại, bèn quay về chỗ tạm
trú, nhận lại được y vật, thì không có tội. Có
Tỉ-kheo quên y bát, Tỉ-kheo khác thấy, liền sinh tâm trộm
cắp, nhưng không tự tay lấy mà khiến Tỉ-kheo thị giả (Ma
ha la) lấy. Tỉ-kheo thị giả tưởng là y bát của thầy ấy
bèn cầm lấy. Khi chạm vào y bát thì Tỉ-kheo có tâm trộm
cắp kia phạm tội Việt Tỳ Ni. Khi
di động thì phạm tội Thâu Lan Giá. Khi
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. Còn
Tỉ-kheo thị giả vì không có tâm trộm cắp, nên cả ba lúc
đều không có tội. Nếu vị kia ban đầu bảo thị giả lấy
y bát rồi sẽ chia phần, mà thị giả sinh tâm trộm cắp chạm
vào thì ngay lúc ấy cả hai đều phạm tội Việt Tỳ Ni. Khi
di động, cả hai phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì cả hai phạm tội
Ba La Di. Nếu
thị giả thấy rồi, suy nghĩ: "Việc gì phải chia phần cho
ông ấy? Ta hãy độc chiếm", rồi lấy đi thì phạm tội Ba
La Di. Còn
vị Tỉ-kheo kia phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
Tỉ-kheo muốn làm tháp Phật mà không có vật liệu, trong khi
chúng Tăng có vật liệu, liền suy nghĩ: "Trời người sở
dĩ cúng dường chúng Tăng là đều mong ân Phật, cúng dường
Phật tức là cúng dường chúng Tăng", bèn đem vật của chúng
Tăng sửa chữa tháp, thì Tỉ-kheo kiến thiết ấy phạm tội
Ba La Di. Nếu tháp có vật liệu mà chúng Tăng không có,liền
suy nghĩ: "Cúng dường Tăng thì Phật cũng có trong đó", liền
đem vật của tháp cúng dường chúng Tăng, thì vị Tỉ-kheo
kiến thiết này phạm tội Ba La Di. Nếu
tháp không có vật liệu mà chúng Tăng có vật liệu thì được
phép mượn dùng, nhưng phải làm biên bản ghi rõ: Lúc nào
mượn dùng, lúc nào trả lại; trái lại, nếu Tăng không có
vật liệu mà tháp có vật liệu, thì được phép (252a) mượn
dùng cũng như thế. Khi bàn giao, thầy tri sự phải đọc biên
bản bàn giao rõ ràng giữa chúng Tăng, nếu không đọc biên
bản, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Ðó
gọi là mượn dùng tạm. Hai
Tỉ-kheo có tài vật chung phải chia nhau, nhưng một Tỉ-kheo
sinh tâm trộm cắp độc chiếm, thì trừ ra phần của thầy,
phần kia đủ số quy định sẽ phạm tội Ba La Di. Nếu
thầy kia đồng ý, thì giữ lấy không có tội. Hoặc suy nghĩ:
"Nay tôi mượn dùng, sau này sẽ trả lại", thì không có tội. Có
hai Tỉ-kheo chuyên giáo hóa cùng cam kết với nhau: "Từ nay
trở đi nếu tôi hoặc thầy được phẩm vật thì phải chia
hai". Nhưng sau đó, một người được một tấm y đẹp, bèn
suy nghĩ: "Nếu sau này được cái khác chưa chắc được như
thế này", liền nói với bạn: "Từ nay trở đi lộc của ai
thì thuộc về người ấy. Nếu thầy được thì thầy tự
giữ lấy, nếu tôi được thì tôi tự giữ lấy". Vì
chiếc y vừa được kia trái với cam kết, nên một nửa trong
đó mà đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo này nhận bố thí, chú nguyện xong rồi, nói với thí
chủ: "Hãy để vật này ở chỗ ông, sau này tôi sẽ lấy",
bèn nói với bạn: "Trưởng lão! Từ nay trở đi lộc của
ai thì người ấy giữ lấy. Nếu thầy được thì thầy giữ,
nếu tôi được thì tôi giữ". Khi
nói lời ấy thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
Tỉ-kheo này nghe có người kia định bố thí y, liền nói trước
với bạn: "Trưởng lão! Từ nay trở đi lộc của ai thì người
ấy giữ lấy. Nếu tôi được thì tôi giữ, nếu thầy được
thì thầy giữ". Khi nói như thế thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Có
hai Tỉ-kheo theo hạnh phấn tảo y, cùng cam kết: "Từ nay trở
đi nếu được phấn tảo y, thì chúng ta chia nhau". Lúc
ấy một Tỉ-kheo được y phấn tảo đẹp, liền suy nghĩ:
"Y này rất đẹp, sau này nếu được nữa thì chưa chắc được
như vậy", bèn nói với bạn: "Trưởng lão! Từ nay trở đi
lộc của ai thì người ấy giữ lấy. Nếu thầy được thì
thầy giữ, nếu tôi được thì tôi giữ". Vì Tỉ-kheo này
trái lời cam kết trước, nên trong nửa phần y ấy mà đủ
số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo này được y phấn tảo đẹp mà không mang về, lại
đem cất giấu, lấy cỏ, gạch phủ lên, rồi trở về giải
lời cam kết như trên đã nói, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
Tỉ-kheo này thấy y phấn tảo đẹp nhưng không lấy cũng không
cất giấu mà trở về giải lời cam kết như trên đã nói,
thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Các
Tỉ-kheo phải biết vật của Tăng có trường hợp nên cho,
có trường hợp không nên cho. Thế nào là nên cho? Hoặc là
vì tổn hại, hoặc là vì lợi ích. Thế
nào là vì tổn hại? Có
bọn cướp đến chùa đòi các thức ẩm thực, nếu không
cho, thì chúng có thể đốt chùa cướp của, nên dù không
đáng cho mà vì sợ chúng gây sự tổn hại, do đó, ta phải
tùy nghi cho chúng nhiều ít. (252b)
Thế nào là vì lợi ích? Khi
sửa chữa phòng ốc của chúng Tăng, nên cho các thợ nề,
thợ mộc, thợ vẽ, cai thầu ăn bữa sáng và bữa chiều,
và cho các thứ dầu thoa, nước giải khát v.v... Hoặc vua và
các người có thế lực lớn, ta phải cho họ ăn uống. Ðó
gọi là vì lợi ích nên phải cho. Có
Tỉ-kheo mất y bát, vật dụng, nếu chưa nghĩ xả bỏ nó,
mà sau đó biết nó ở đâu rồi đến đó tìm, tìm được
thì không phạm. Trái lại, nếu đã nghĩ đã xả bỏ nó, thì
dù biết nó ở đâu cũng không nên đến tìm, vì tìm thì phạm
tội Việt Tỳ Ni. Nếu
khi mất, bụng thầm nhủ: Sau này nếu biết nó ở đâu ta
sẽ đến tìm, thì khi tìm được sẽ không có tội. Có
hai Tỉ-kheo cùng cam kết: Cùng thọ trì kinh chung, cùng tụng
kinh chung. Nhưng về sau, không thọ trì, không đọc tụng thì
phạm tội Việt Tỳ Ni. Ðó
gọi là vật ăn trộm sai biệt. Nếu
Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp chạm vào những vật ăn trộm
sai biệt ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
di động chúng, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. 13-
Thuế sai biệt: Có một Tỉ-kheo đi đường cùng với khách
buôn. Tỉ-kheo này có đồ chúng đông đảo. Khi ấy khách buôn
nói với một Tỉ-kheo : "Thầy của ông là bậc đại đức,
đến chỗ thuế quan, ai mà dám kiểm tra. Ông hãy vì tôi cầm
vật này bỏ vào trong xách y của thầy ông, đi qua chỗ thuế
quan". Người đệ tử ấy bằng lòng, cầm vật kia bỏ vào
trong xách y của thầy, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Còn thầy
không biết nên không có tội. Nếu
đi qua chỗ thuế quan thì đệ tử phạm tội Thâu Lan Giá.
Thầy không phạm. Nếu
qua khỏi chỗ thuế quan thì đệ tử phạm tội Ba La Di. Thầy
không phạm. Nếu
khách buôn nói với vị thầy rằng: "Thầy là người phước
đức, đồ chúng cùng đi ai dám kiểm tra, xin thầy vì tôi
đem ít vật này bỏ vào túi xách của đệ tử thầy để
qua chỗ quan thuế". Thầy ấy liền đồng ý, lấy bỏ vào
trong túi xách của đệ tử, thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Ðệ
tử không biết nên không có tội. Nếu
đến chỗ quan thuế, thì thầy phạm tội Thâu Lan Giá. Ðệ
tử không có tội. Nếu
qua khỏi chỗ quan thuế, thì thầy phạm tội Ba La Di. Ðệ
tử không có tội. Nếu
khách buôn nói với cả hai thầy trò và hai người đều đồng
ý, thì cả hai phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu
đến chỗ quan thuế, thì cả hai phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
qua khỏi chỗ quan thuế, thì cả hai phạm tội Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo đi đường cùng với khách buôn, đến nơi xóm làng,
Tỉ-kheo rửa tay, khách buôn hỏi: "Trưởng lão định đi đâu?".
Ðáp: "Ta định đi khất thực". Khách buôn nói: "Thầy khỏi
đi khất thực, tôi sẽ cho đồ ăn", bèn cho Tỉ-kheo các thức
ăn ngon. Khi
ăn xong, nói với Tỉ-kheo : "Thầy hãy vì (252) tôi cầm một
ít vật này qua chỗ quan thuế". Tỉ-kheo
nói: "Ðức Thế Tôn chế giới không cho phép ta mang vật phải
đóng thuế qua cửa thuế quan". Khách
buôn suy nghĩ: "Qua cửa thuế quan cũng mất, cho Tỉ-kheo cũng
mất, cả hai đều mất, nhưng cho Tỉ-kheo có thể được phước
đức", bèn nói với các Tỉ-kheo : "Hãy đứng theo thứ tự,
tôi muốn bố thí", liền tuần tự bố thí. Trong bát của
mỗi người đều đầy những vật báu. Khi bố thí xong, khách
buôn bèn đi qua cửa khẩu, dừng lại đợi các Tỉ-kheo . Các
Tỉ-kheo sau đó đi đến. Người khách buôn ấy liền đảnh
lễ dưới chân các Tỉ-kheo, bạch rằng: "Các tôn đức có
biết không?" Các
Tỉ-kheo đáp: "Biết". Lại
hỏi:"Có biết trước đây tôi bố thí không?" Ðáp: "Biết". Hỏi:
"Nếu biết, thì vì sao tôi bố thí?" Ðáp:
"Vì ông muốn làm phước". Khách
buôn nói: "Ðúng vậy! Nhưng vợ con tôi đang cần đến cơm
áo. Mắc nợ thì phải trả. Vậy xin trả lại các vật trước
đây". Tỉ-kheo
nên nói: "Kẻ tệ ác! Sao ngươi dám khinh thường chúng tôi
đến thế? Trước đây bảo là làm phước, bây giờ thì đòi
lại". Nói
thế rồi mà kẻ ấy vẫn cố đòi, Tỉ-kheo trả lại thì
không phạm. Nếu trước kia biết họ không thật bố thí mà
Tỉ-kheo vẫn nhận, đem hàng qua cửa thuế quan, thì dù trả
lại vẫn phạm tội Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo
đi cùng khách buôn, cho đến nói: "Phật không cho mang giúp
vật phải đóng thuế, qua cửa thuế quan". Mà khách buôn nói
với Tỉ-kheo : "Tôi không nhờ thầy mang vật này qua cửa khẩu,
mà chỉ nhờ thầy giữ giúp cho tôi, tôi muốn gặp người
giữ cửa khẩu một tí, giây lát sẽ trở lại". Thế
rồi, Tỉ-kheo nhận vật gởi gấm, khách buôn đi qua khỏi
cửa khẩu, dừng lại đợi Tỉ-kheo . Tỉ-kheo chờ lâu, không
biết giao vật đó cho ai, bèn mang qua cửa khẩu, thì phạm
tội Ba La Di. Nếu
Tỉ-kheo cùng đi đường chung với khách buôn... cho đến "Phật
không cho mang giúp vật phải đóng thuế qua cửa khẩu". Rồi
khách buôn nói: "Tôi không bảo Tỉ-kheo mang vật này qua cửa
khẩu, mà chỉ nhờ giữ giúp cho tôi, tôi đi gặp người giữ
cửa khẩu một tí rồi trở lại". Tỉ-kheo liền giữ giúp,
và nói: "Nếu ông không trở lại, tôi sẽ bỏ vật của ông
mà đi". Khách buôn lại suy nghĩ: "Tỉ-kheo tuy nói vậy, nhưng
sẽ không bỏ vật của ta mà đi đâu", liền đi qua khỏi cửa
khẩu, dừng lại đợi Tỉ-kheo . Tỉ-kheo dừng lại lâu mà
không thấy Y trở lại, bèn bỏ vật tại đó, đi qua cửa
khẩu. Khách buôn bèn hỏi Tỉ-kheo : "Hàng hóa của tôi đâu
rồi?". Tỉ-kheo
nổi giận nói: "Ngươi dám đùa cợt với ta sao? Trước đây
ta há không bảo: "Nếu trong chốc lát ngươi không trở lại,
thì ta bỏ hàng hóa của ngươi mà đi là gì? Hàng hóa của
ngươi vẫn còn tại chỗ cũ hãy trở lại mà lấy". Nếu Tỉ-kheo
làm như vậy thì không phạm. Tỉ-kheo
cùng đi chung đường với khách buôn... cho đến "Phật không
cho mang giúp hàng hóa phải đóng thuế qua cửa khẩu"(253a)
rồi khách buôn nói với Tỉ-kheo : "Tôi không bảo Tỉ-kheo
mang hàng hóa qua cửa khẩu, mà chỉ nhờ giữ giùm tôi, tôi
đến gặp người giữ cửa khẩu một lát rồi trở lại".
Tỉ-kheo bèn giữ giúp, và nói: "Nếu ông không trở lại thì
tôi sẽ đem hàng hóa của ông gởi cho người giữ cửa khẩu".
Khách buôn suy nghĩ: "Tỉ-kheo tuy nói vậy, nhưng lẽ nào lại
đang tâm đem hàng hóa của ta gởi cho người giữ cửa khẩu?",
bèn đi qua cửa khẩu, dừng lại đợi Tỉ-kheo . Tỉ-kheo chờ
lâu không thấy Y trở lại, bèn đem hàng hóa của Y gởi cho
người giữ cửa khẩu, nói: "Có khách buôn diện mạo như
thế, tên họ như thế thì ông hãy thâu thuế theo hàng hóa
và trả hàng lại cho Y"... Rồi
Tỉ-kheo đi qua cửa khẩu. Khách buôn hỏi: "Hàng hóa của tôi
đâu rồi?’ Tỉ-kheo nổi giận nói: "Ngươi dám đùa cợt
với ta sao? Trước đây ta há không bảo, nếu trong chốc lát
ngươi không trở lại, thì ta đem hàng hóa của ngươi gởi
cho người giữ cửa khẩu là gì? Hàng hóa của người giờ
đây ở chỗ người giữ cửa khẩu, hãy đến đó mà lấy".
Nếu Tỉ-kheo làm như vậy thì không phạm. Tinh
xá của Tỉ-kheo ở gần đại lộ, có một Tỉ-kheo đang đi
kinh hành (trong ấy), rồi khách buôn (trông thấy) nói với
Tỉ-kheo : "Tôi có món hàng phải đóng thuế, xin trưởng lão
mang vào thành giúp tôi". Tỉ-kheo
đáp: "Ðức Thế Tôn không cho phép ta mang hàng hóa phải đóng
thuế qua cửa thuế quan. Nhưng nay ta bày cho ngươi một cách:
Ngươi hãy đi băng qua đường, hoặc đi ngang qua hàng rào,
hoặc đi ngang qua cái ngòi, hoặc có thể chất lên xe hàng
đã đóng thuế, hoặc có thể gởi vào trong xe hàng của nhà
vua, hoặc gởi vào trong thùng nước của nô tỳ, hoặc giấu
dưới lông của con dê mà đi qua". Nếu chỉ vẽ cho họ như
vậy thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Từ trong thành chỉ vẽ cho
họ ra ngoài thành cũng như thế. Nếu
Tỉ-kheo biết hàng phải đóng thuế mà không biết rằng đem
hàng phải đóng thuế qua cửa khẩu sẽ phạm Ba la di, thì
khi đem hàng ấy qua cửa khẩu, đủ số quy định, sẽ phạm
tội Ba la di. Hoặc
Tỉ-kheo biết đem hàng phải đóng thuế qua cửa khẩu sẽ
phạm Ba la di, mà không biết hàng ấy phải đóng thuế, thì
khi đem hàng ấy qua khỏi cửa khẩu, đủ số quy định, phạm
tội Ba la di. Hoặc
Tỉ-kheo biết hàng phải đóng thuế, cũng biết rằng đem hàng
phải đóng thuế qua cửa khẩu phạm Ba la di, thì khi món hàng
ấy qua khỏi cửa khẩu, đủ số quy định, phạm tội Ba la
di. Tỉ-kheo
không biết hàng phải đóng thuế, cũng không biết đem hàng
phải đóng thuế qua cửa khẩu phạm Ba la di, thì đem qua không
phạm. -
Thế nào là vật không phải đóng thuế? -
Thế nào là vật phải đóng thuế? Các
vật của Tỉ-kheo, Tỉ-kheo ni đệ tử của Thế Tôn, và vật
của tất cả những người ngoại đạo xuất gia, đó là vật
không phải đóng thuế. Nếu mua bán các vật đó thì phải
nộp thuế. Ðó
gọi là thuế sai biệt. Tóm
lại, nếu Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp chạm vào các vật
phải đóng thuế sai khác này, (253b)thì phạm tội Việt tỳ
ni. Nếu như đủ số quy định, thì phạm tội Ba la di. Nếu
một Tỉ-kheo có tâm trộm cắp chạm vào thuốc đúng thời,
thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu
di động chúng, thì phạm tội Thâu lan giá. Nếu dời khỏi
chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba la di. Hoặc
hai, hoặc ba cho đến nhiều Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp, chạm
vào thuốc đúng thời thì phạm tội Việt tỳ ni. Cho
đến đủ số quy định, thì phạm tội Ba la di. Nếu
Tỉ-kheo sai một Tỉ-kheo có tâm trộm cắp, chạm vào thuốc
đúng thời, thì phạm tội Việt tỳ ni. Cho đến đủ số
quy định, thì phạm tội Ba la di. Nếu
sai hai người, ba người, cho đến sai nhiều Tỉ-kheo có tâm
trộm cắp chạm vào thuốc đúng thời, thì phạm tội Việt
Tỳ Ni. Cho đến đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.
Nếu Tỉ-kheo được sai khiến lại sai một Tỉ-kheo khác, hoặc
sai hai người, ba người, cho đến nhiều Tỉ-kheo có tâm trộm
cắp, chạm vào thuốc đúng thời thì phạm tội Việt Tỳ
Ni. Nếu
di động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu
dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La
Di. Kể cả các loại thuốc (thức ăn) dùng ban đêm, dùng bảy
ngày, dùng suốt đời, cho đến những vật thanh tịnh và không
thanh tịnh cũng như vậy. Tỉ-kheo
có năm pháp đầy đủ, lấy của không cho, đủ số quy định,
thì phạm tội Ba La Di. -
Ðủ năm yếu tố sau đây, phạm Ba La Di: Ðó là: 1-
Ðủ số quy định (đủ năm tiền).
-
Lại đủ năm yếu tố lấy của không cho, đủ số quy định,
thì phạm tội Ba La Di. Ðó là: 1-
Biết là vật của người ta không cho.
|