THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirror site
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
x
Đại Tạng Số 1425
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
x
Thành kính đảnh lễ đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri
x
Quyển Thứ Ba

PHẦN CÒN LẠI CỦA GIỚI TRỘM CẮP

Lại nữa, khi Phật ở tại thành Vương Xá, nói rộng như trên, phép trị người có tội trong thời tổ tiên của Vua Bình Sa như sau:

- Nếu có kẻ ăn trộm thì dùng tay tát vào đầu để nghiêm trị, kẻ ấy sẽ thấy xấu hổ chẳng khác gì sắp chết, về sau không dám tái phạm.

Ðến đời ông nội của vua, phép trừng trị kẻ ăn trộm như sau: 

- Nếu có kẻ ăn trộm thì bắt đứng một chỗ, dùng tro rắc chung quanh, một lát thì thả đi, kẻ trộm đó sẽ rất xấu hổ (242c) chẳng khác gì người chết, về sau không tái phạm.

Ðến đời phụ vương của vua, phép trị tội kẻ ăn trộm như sau: 

- Nếu có kẻ ăn trộm thì đuổi ra khỏi thành, kẻ trộm sẽ lấy làm xấu hổ như người chết không khác, về sau không dám tái phạm nữa.

Còn phép trị tội của vua Bình Sa như sau:

- Nếu có kẻ ăn trộm thì đuổi ra khỏi nước, lấy đó làm điều răn đe.

Lúc bấy giờ có kẻ trộm đã bị trục xuất bảy lần, nhưng y vẫn trở lại cướp của giết người nơi các thành ấp. Khi ấy có người bắt được y trói lại, đem đến vua, tâu với vua rằng: "Tên trộm này đã bị trục xuất bảy lần, nhưng vẫn trở lại cướp của giết người tại các thành ấp, xin đại vương hãy nghiêm trị thật nặng"

Vua nói với vị đại thần ấy: "Ðem tên trộm này đi, tuỳ theo tội mà ttrừng rị ".

Vị đại thần bèn tâu: "Thôi đi, thôi đi đại vương. Ðại vương hãy tự trị tội y, chớ giao cho hạ thần. Hạ thần sao dám chuyên quyền qua mặt đại vương. Mệnh lệnh của đại vương giờ đây vẫn được tôn trọng, phép trừng trị phát xuất từ đại vương, hãy còn lâu dài".

Vua nói: "Hãy đem hắn ra chặt ngón tay út đi"

Bấy giờ quan hữu ty liền cấp tốc đem tội nhân ra chặt ngón tay út của hắn, vì sợ vua sẽ sinh hối hận. Khi ấy vua liền cắn thử ngón tay mình bèn cảm thấy đau đớn không chịu nổi, liền sai người đến truyền lệnh cho đại thần rằng: "Chớ chặt ngón tay của hắn".

Vị đại thần bèn trả lời với vua: "Ðã chặt ngón tay của hắn rồi".

Vua rất hối hận, âu sầu, liền tự nghĩ: "Ta nay chính là vị pháp vương cuối cùng, chứ chẳng phải là vị pháp vương đầu tiên. Phàm làm vua thì phải lo nghĩ đến dân chúng và muôn loài, chứ lẽ nào làm vua người ta mà lại chặt tay người ta".

Thế rồi, vua Bình Sa ra lệnh cấp tốc chuẩn bị xa giá đi đến Thế Tôn. Ðến nơi, vua đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi sang một bên, bạch với Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Phép trị những kẻ có tội của tằng tổ trẫm là dùng tay tát vào đầu, lần hồi trải qua các đời vua cho đến đời của trẫm, thì ác pháp mỗi ngày mỗi gia tăng, chánh lệnh dần dần suy giảm. Trẫm may mắn được làm vua, lại làm thương tổn đến thân người, tự trách mình vô đạo, thấy hổ thẹn, sợ hãi cực độ".

Phật hỏi: "Ðại vương! Theo phép nước thì kẻ ăn trộm bao nhiêu tiền bị tội tử hình? Ăn trộm bao nhiêu tiền thì bị trục xuất ra khỏi nước? Ăn trộm bao nhiêu tiền thì dùng đến hình phạt roi gậy?"

Bấy giờ vua Bình Sa bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Cứ một kế lợi sa bàn là mười chín tiền chia làm bốn phần, nếu ăn trộm một phần (4,75 tiền) hay hơn một phần thì đáng tội tử hình".

Khi ấy, đức Thế Tôn tùy thuận thuyết pháp giảng dạy cho vua Bình Sa, khiến vua được lợi ích, hoan hỷ, những mối hối hận phiền muộn liền trừ diệt, vua bèn lễ Phật, rồi từ biệt. 

Vua đi không lâu sau đó, Thế Tôn liền đi đến chỗ có đông các Tỉ-kheo, trải tòa mà ngồi, rồi nói với các Tỉ-kheo : "Vừa rồi vua Bình Sa đến chỗ ta, đảnh lễ ta rồi ngồi sang một bên, bạch với ta rằng: "Bạch Thế Tôn! Phép trị tội của tằng tổ Trẫm là dùng tay tát vào đầu tội nhân, và chánh lệnh giáo hóa được kế thừa cho đến đời của Trẫm". Ta liền hỏi nhà vua: "Ðại vương, ăn trộm bao nhiêu (243a) tiền thì đáng tội chết? Cho đến ăn trộm bao nhiêu thì bị hình phạt roi gậy?"Vua nói: "Cứ một kế lợi sa bàn là 19 tiền, trong 19 tiền chia là 4 phần, nếu ăn trộm một phần (4,75 tiền) hay hơn một phần thì đáng tội tử hình". Ta vì vua Bình Sa tùy thuận thuyết pháp, sau khi nghe pháp, nhà vua đã hoan hỉ, từ giã ra đi. Này các Tỉ-kheo ! Từ nay phải biết: Cứ 19 đồng tiền xưa được gọi là một kế lợi sa bàn, chia một kế lợi Sa bàn ra làm 4 phần, nếu lấy trộm một phần (4,75 tiền) hay hơn một phần thì phạm tội Ba La Di".

Bấy giờ, các Tỉ-kheo bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Vì sao vua Bình Sa sợ tội đến như thế?"

Phật nói với các Tỉ-kheo : "Vua Bình Sa không những đời này sợ tội như vậy, mà trong đời quá khứ cũng đã từng sợ tội".

Các Tỉ-kheo bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Ðã từng có như vậy sao?"

Phật dạy: "Ðúng như vậy! Trong đời quá khứ có một thành phố tên Ba La Nại, nước tên Ca Thi. Khi ấy, có một vị vua tên là Danh Xưng. Nhân dân trong nước lúc bấy giờ đều dùng những kỹ thuật khéo léo để sinh sống như kỹ nhạc, ca xướng, hoặc dùng các dụng cụ để trang sức như vàng bạc, châu báu vòng hoa anh lạc, hoặc điều khiển voi ngựa và làm các đạo thuật, thứ gì cũng khéo léo, không gì là không tinh xảo, dùng những phương tiện ấy làm kế sinh sống. Nếu kẻ nào không biết những kỹ thuật khéo léo, thì được xem là người ngu. Hoặc có kẻ nào ăn trộm cũng được gọi là người ngu si. Bấy giờ, có một người ăn trộm, dân chúng biết được, trói y đem lên vua, thưa rằng: "Tâu đại vương! Kẻ này làm việc ngu si, xin đại vương trừng trị hắn". Vua nói: "Thôi đi, thôi đi, người đời kẻ thì mất của, kẻ thì ăn trộm, lẽ nào ta lại thêm việc ác nữa". Thế rồi vua suy nghĩ: "Ta dùng phương tiện gì đây để chỉnh đốn quốc pháp, khiến cho quần thần không biết (việc này), ác pháp không sinh khởi?"Vua lại suy nghĩ: "Từ xưa đến nay, giờ đây mới có người ngu. Những người ngu không đến ngàn người. Ta phải sai kẻ hầu cận đem người ngu này giao lại cho một vị đại thần và bảo khi nào đủ ngàn người ngu, sẽ bảo lại cho ta hay, ta sẽ mở một đại hội". Viên đại thần ấy bèn nhận lấy người ngu, rồi giam vào một chỗ. Liền sau đó, vua suy nghĩ: "Kẻ ngu si kia chưa chết đói chăng?", liền bảo quan đại thần dẫn kẻ ngu đến, lại nhắc nhở ông: "Phải khéo trông nom người này chớ để cho y đau ốm, đem y vào sống trong vườn Vô ưu của ta, rồi cung cấp các thứ ngũ dục âm nhạc tiêu khiển". Viên đại thần tuân chỉ, đối xử với người ngu ấy như những gì vua đã căn dặn.

Lúc bấy giờ lại có một kẻ ngu khác nghe vua bắt được một người ngu, rồi đưa vào an trí trong vườn Vô Ưu, cung cấp các thứ kỹ nhạc, bèn dẫn thân đến chỗ quan viên đại thần thưa: "Tôi là kẻ ngu si". Viên đại thần vì muốn tuân thủ mệnh lệnh của vua, liền đưa y vào (243b) trong vườn Vô Ưu. Làm như vậy không bao lâu thì đã đủ số ngàn người. Viên đại thần liền tâu lên nhà vua: "Những kẻ ngu nay đã được ngàn người, bệ hạ muốn làm gì thì hãy làm gấp". Vua nghe lời tâu ấy rất đổi ưu sầu, tự nhủ: "Từ xưa lại đây lâu xa lắm mới có một kẻ ngu si, vì sao ngày nay trong thời gian không lâu mà đã có cả nghìn người, hay là đời mạt thế ác pháp tăng trưởng?". Thế rồi, vua ra lệnh quần thần quét dọn, đốt hương, treo tràng phan bảo cái, sửa soạn các thức ẩm thực ngon lành tại vườn Vô Ưu. Các bề tôi bèn tuân lệnh làm đầy đủ các việc mà vua đã ban truyền. Khi ấy, vua cùng các quan, 18 bộ chúng du hành đến vườn Vô Ưu. Ðến nơi, an tọa xong, vua hỏi các quan: "Những người ngu nay ở đâu hãy gọi cả đến đây". Những người ngu đều đến đầy đủ. Vua thấy những người ngu sống lâu trong vườn quần áo dơ bẩn, móng tay dài, tóc rối, liền ra lệnh các quan: "Dẫn những người ngu này đi tắm rửa, thay quần áo mới, hớt tóc, cắt móng tay, rồi mới dẫn đến đây". Khi họ đã trở lại, vua liền ban các thức ăn uống, đem cho của cải và các thứ cần thiết, rồi truyền lệnh: "Các ngươi hãy trở về nhà lo cung cấp cho cha mẹ, siêng lo nghiệp nhà, chớ có ăn trộm nữa". Bấy giờ, những người ngu nghe vua truyền lệnh, đều hoan hỷ phụng hành. Thế rồi, nhà vua ấy bèn đem ngôi báu truyền lại cho thái tử, xuất gia, vào núi, học pháp của tiên nhân. Khi ấy nhà vua đọc kệ:

"Xưa tìm ngàn người ngu,
Mở đại hội khó được.
Vì sao chẳng bao lâu,
Ðã đủ số ngàn người?
Ác pháp ngày đêm tăng
Ðại hội từ nay thôi.
Muốn lìa xa kẻ ác
Giờ đây nên xuất gia".

Phật nói với các Tỉ-kheo : "Quốc vương Danh Xưng thuở ấy đâu phải người nào khác mà chính là vua Bình Sa ngày nay vậy. Vua Bình Sa từ xưa đến nay thường sợ tội báo, ngày nay làm vua lại tiếp tục sợ tội".

Các Tỳ kheo liền bạch với Phật:

- Bạch Thế Tôn! Vì sao vua Bình Sa ra lệnh thi hành rồi, phút chốc lại hối hận?".

Phật bảo với các Tỉ-kheo : "Vua Bình Sa này không những ngày nay ra lệnh thi hành rồi liền hối hận, mà trong đời quá khứ cũng đã từng hối hận".

Các Tỳ kheo liền bạch với Phật: "Ðã từng có như thế sao?"

Phật dạy: "Ðúng như vậy. Trong đời quá khứ, có một người Bà la môn không có tiền của, lấy nghề ăn xin để nuôi sống. Vợ người Bà la môn này không sinh con, nhưng trong nhà có con Na Câu La (?) sinh được một con. Vì không có con nên người Bà la môn này xem (243c) con của Na Câu La như con trai của mình, đồng thời con của Na Câu La cũng xem ông Bà la môn như cha mình.

Bấy giờ ông Bà la môn đến chơi nhà người khác, nếu được sữa, bơ và bánh thịt đều đem về nhà cho Na Câu La. Sau đó vợ ông bỗng nhiên mang thai, khi đủ mười tháng liền sanh một con trai, bèn suy nghĩ: "Có lẽ nhờ Na Câu La sinh ra đứa con tốt lành (Cát tường) nên ta mới có con". Khi ấy, Bà la môn muốn đi khất thực, bèn bảo vợ: "Nếu bà có đi đâu, phải đem con theo, cẩn thận chớ để nó ở nhà". Người vợ Bà la môn cho con ăn xong bèn đến nhà láng giềng mượn cối giã gạo. Lúc ấy đứa con bà ăn tô lạc có mùi hương thơm, nên một con rắn độc đánh hơi bò đến, hả miệng nhả độc, muốn giết đứa bé. Na Câu La liền suy nghĩ: "Cha ta đã ra đi, mẹ ta cũng không có ở nhà, thế mà con rắn độc này lại muốn giết em ta, bèn đọc kệ:

"Ðộc xà, Na Câu La
Chim bay và chim kêu
Sa môn, Bà la môn
Mẹ kế, con đời trước
Thường mang lòng ganh ghét,
Muốn hãm hại lẫn nhau".

Khi ấy Na Câu La liền giết rắn độc, chặt làm bảy khúc, rồi suy nghĩ: "Nay ta giết rắn để em được sống, cha mẹ biết được ắt khen thưởng ta, rồi lấy máu bôi lên miệng ra đứng chờ ngoài cửa, mong rằng cha mẹ thấy thì sẽ rất vui mừng". Lúc ấy ông Bà la môn đang trên đường trở về, từ xa trông thấy bà vợ ở nhà hàng xóm, bèn nổi giận mắng: "Ta đã bảo bà có đi đâu thì đem con theo, vì sao lại đi một mình?".

Rồi ông định vào nhà, thì thấy trong miệng Na Câu La có máu, liền tự nghĩ: "Vợ chồng ta đi vắng, Na Câu La ở nhà đã bắt giết con ta ăn thịt rồi chăng?", bèn nổi giận nói: "Uổng công ta nuôi đồ súc vật này, đến nỗi bị nó làm hại", liến sấn đến dùng gậy đập chết Na Câu La. Ðoạn bước vào trong nhà, thì thấy đứa con trai đang mút tay vui đùa, lại thấy bên cạnh nó bảy khúc thân con rắn độc. Thấy sự việc như thế, ông rất ưu sầu, hối hận, bèn tự thống trách mình: "Na Câu La này rất có nhân tình, đã cứu mạng con ta, mà ta không xem xét cẩn thận, lại đập chết nó, thật đáng xót thương. Thế rồi, ông nằm lăn quay trên đất bất tỉnh. Lúc ấy có vị thiên nhân đang ở trên không trung đọc kệ:

"Nên quan sát cẩn thận, 
Chớ nổi giận bốc đồng
Lìa bạn tốt đáng yêu, 
Hại oai người lương thiện
(244a) Ví như Bà la môn
Giết Na Câu La nọ".

Phật bảo các Tỉ-kheo: "Người Bà la môn thuở ấy đâu phải ai khác mà chính là Vua Bình Sa. Ngày xưa ông đã từng làm việc khinh suất rồi sau lại hối hận, ngày nay cũng lại như vậy". Thế rồi, Phật bảo các Tỉ-kheo đang sống xung quanh thành Vương Xá phải tập họp lại tất cả, dù cho ai nghe rồi, cũng phải nghe lại, bèn chế giới như sau: 

"Nếu Tỉ-kheo ở trong xóm làng hoặc nơi vắng vẻ mà lấy vật người ta không cho, bị vua bắt, hoặc giết, hoặc trói, hoặc tẫn xuất, nói: "Ôi nam tử! Ngươi là kẻ trộm chăng? là kẻ ngu si chăng?"Tỉ-kheo ăn trộm như vậy thì phạm tội Ba la di, không được sống chung (với tăng chúng).

[Giới thứ hai (trộm cắp) đến đây là hết]

Giải thích:

Tỉ-kheo: Là người đã thọ giới cụ túc, đã khéo thọ giới cụ túc, tuổi đủ hai mươi, không bị các già nạn, thọ giới trước mười vị thầy (thập sư) hay hơn mười vị, trải qua một lần tác bạch và ba lần yết ma. Ðó gọi là Tỉ-kheo .

Xóm làng: (tụ lạc) là nơi có những bờ tường vây quanh hoặc có những hàng rào, bờ sông, kinh đào vây quanh.

Xóm làng còn có nghĩa: Vùng đất thả trâu, khu đất trẻ em vui chơi, bãi đậu xe, chỗ trâu nằm nghỉ, nới có từ bốn căn hộ và một chỗ chất củi cũng gọi là xóm làng.

Chỗ đất trống: (không địa): Chỗ đất trống là nơi ở ngoài bờ tường, ngoài thiền viện, trừ ranh giới của xóm làng, ngoài ra đều là chỗ đất trống.

Ranh giới của xóm làng: Không xa chỗ ở, nơi đường cái người ta đi lại, gọi là ranh giới của xóm làng, như ở bên ngoài bờ đê, hào mương, hàng rào, trừ ranh giới của xóm làng, ngoài ra đều là chỗ đất trống.

Vùng đất thả trâu: Ở ngoài xa ranh giới của nhà cửa xóm làng, trừ ranh giới của xóm làng, ngoài ra đều là chỗ đất trống.

Những công viên trẻ em vui chơi: Là chỗ ở rất xa bãi xe, trừ ranh giới của xóm làng, ngoài ra đều là vùng đất trống.

Bãi đậu xe (doanh xa tụ lạc): Những bãi đậu xe cách xa xóm làng, trừ ranh giới của xóm làng, ngoài ra đều là chỗ đất trống.

Chỗ trâu nằm nghỉ (ngưu miên tụ lạc): Ở bên ngoài rất xa nhà cửa, trừ ranh giới của xóm làng, ngoài ra đều là chỗ đất trống.

Xóm làng có từ bốn ngôi nhà và một chỗ để củi: Chỗ cách nhà cửa rất xa, trừ ranh giới của xóm làng, ngoài ra đều là chỗ đất trống.

Không cho: Hoặc là nam, hoặc là nữ, hoặc là kẻ hoàng môn phi nam phi nữ, hoặc là cư sĩ, hoặc người xuất gia, dùng tâm trộm cắp để lấy vật mà người ta không cho, thì tùy theo vật lấy trộm... Các vật ấy có tám loại:

1.- Thời dược (thuốc dùng đúng thời)
2.- Dạ phần dược (thuốc dùng ban đêm)
3.- Thất nhật dược (thuốc dùng trong vòng bảy ngày).
4.- Tận hình dược (thuốc dùng suốt đời)
5.- Tùy vật (vật tùy thân)
6.- Trọng vật (vật quan trọng)
7.- Bất tịnh vật (vật không thanh tịnh)
8.- Tịnh bất tịnh vật (vật vừa thanh tịnh vừa không thanh tịnh).

Ðó gọi là tám vật.

­Lấy: Nghĩa là cầm vật dời khỏi chỗ cũ, đó gọi là lấy.

Tùy theo ăn trộm: Không giống như mười sáu trường hợp giám hộ, chẳng hạn lấy trộm của nhà vua một món tiền nhỏ (244b)để mua dưa ăn mà bị vua bắt giết. Vì vua không có phép nhất định mà tùy theo ý mình, hoặc ăn trộm chút ít mà bị giết, hoặc ăn trộm nhiều mà không bị giết. 

Như trường hợp đức Thế Tôn hỏi về pháp của vua Bình Sa sau đây: "Ðại vương trị nước, ăn trộm chừng bao nhiêu tiền thì bị tử hình? Bao nhiêu tiền thì bị trục xuất? Bao nhiêu tiền thì bị đánh khảo?".

Vua Bình Sa trả lời Phật: "Cứ 19 tiền là một kế lợi sa bàn, một kế lợi sa bàn chia làm bốn phần, nếu lấy một phần, hay hơn một phần, thì đáng tội chết. Nay tùy theo mức độ ăn trộm mà lấy đó làm chuẩn".

Vua: Nghĩa là Sát đế lợi, Bà la môn, trưởng giả, cư sĩ nhận chức làm vua.

Vua bắt: Vua sai người bắt, hoặc họ nắm tay, hoặc nắm các chỗ khác, thì gọi là bắt.

Giết: Kết liễu mạng sống thì gọi là giết.

Hoặc giam: Hoặc giam trong nhà, hoặc giam trong thành, hoặc giam trong thôn, hoặc gông cùm, hoặc xiềng xích, thì gọi là giam.

Tẫn xuất: Trục xuất ra khỏi xóm làng, trục xuất ra khỏi thành thị, trục xuất ra khỏi nước, thì gọi là tẫn xuất.

Than ôi, kẻ nam tử: Nếu Tỉ-kheo bị những lời khiển trách như: Ngươi là kẻ trộm, ngươi là kẻ si mê, ngươi là kẻ ngu muội, thì phạm tội Ba la di, không được sống chung (với Tăng chúng).

Ba la di: Nghĩa là đối với giáo pháp, tâm trí bị lui sụt, đọa lạc, không được đạo quả. Ðó gọi là Ba la di. Như vậy cho đến tận trí, vô sinh trí, đối với các trí ấy bị lui sụt, đọa lạc, không được đạo quả, thì gọi là Ba la di.

Ba la di còn có nghĩa là: Ðối với đạo quả Niết bàn bị lui sụt, đọa lạc, không chứng đắc, thì gọi là Ba la di.

Ba la di còn có nghĩa là: Vi phạm giới không lấy trộm, lui sụt, đọa lạc, thì gọi là Ba la di.

Ba la di lại còn có nghĩa là: Những tội vi phạm không thể phát lồ sám hối, nên gọi là Ba la di.

Thời dược: Tất cả các rễ cây, tất cả các thứ ngũ cốc, tất cả các thứ thịt.

Rễ cây: Thuốc trị bệnh, rễ cỏ, rễ sen, rễ tre, rễ khoai nước, rễ nho, rẽ hành, thì gọi là rễ.

Ngũ cốc: Gồm mười bảy loại. Ðó là: 

1) Lúa. 2) Lúa đỏ. 3) Tiểu mạch. 4) Ðại mạch. 5) Ðậu nhỏ. 6) Ðậu hồ.7) Ðậu lớn. 8) Ðậu đăng. 9) Lúa tẻ. 10) Lúa mạ. 11) Mè. 12) Gừng. 13) Xà trí. 14) Ba tát đà. 15) Hạt cỏ lát. 16) Chỉ na câu. 17) Câu đà bà.

Ðó gọi là mười bảy loại mễ cốc.

Thịt: Thịt của các loài trên đất và dưới nước. 

Thế nào là loài vật ở dưới nước?

- Loài vật ở dưới nước là: Cá, rùa, đề di, chi la, tu la, tu tu la, tu tu ma la. Những loài ở trong nước có thể ăn thịt được như vậy gọi là các loài ở trong nước.

Thế nào là loài vật ở trên đất?

- Loài vật ở trên đất là: Loài hai chân, bốn chân, không (244c) chân, nhiều chân, như vậy đều gọi là loài vật ở trên đất.

Các thức ăn bằng rễ, bằng hạt, bằng thịt như vậy đều thuộc về thời thực (thức ăn đúng lúc). Vì sao vậy? - Vì đúng giờ mới được ăn, không đúng giờ thì không được ăn, nên gọi là thời thực. Nếu Tỉ-kheo với tâm trộm cắp, xúc chạm các thứ thuốc đúng thời (thời dược) thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu lay động vật ấy thì phạm tội Thâu lan giá. Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ (năm tiền) thì phạm tội Ba la di. 

Loại thuốc dùng ban đêm (dạ phần dược): Gồm 14 loại nước trái cây (tương) như sau: 

1) Nước trái Am la. 2) Nước trái lê. 3) Nước trái lựu. 4) Nước điện đa lê (?). 5) Nước nho. 6) Nước Ba lâu sa. 7) Nước kiền kiền. 8) Nước chuối. 9) Nước Kế già đề. 10) Nước kiết phả la. 11) Nước bù lung cừ. 12) Nước mía. 13) Nước Kha lê đà. 14) Nước Khư ba lê.

Các loại nước này, nếu nhận được vào lúc tối thì uống vào lúc tối, nếu nửa đêm nhận được thì uống vào lúc nửa đêm, nếu cuối đêm nhận được thì uống vào lúc cuối đêm, hoặc trước bữa ăn nhận được để đến chiều tối uống, thì gọi là thuốc dùng ban đêm (dạ phần dược). Nếu Tỉ-kheo có tâm lấy trộm xúc chạm vào loại thuốc dùng ban đêm này thì phạm tội Việt tỳ ni. 

Nếu làm lay động chúng thì phạm tội Thâu lan giá.

Nếu di chuyển khỏi chỗ cũ đủ số (quy định) thì phạm tội Ba la di.

- Thuốc dùng trong bảy ngày: Sữa, dầu, mật, đường phèn, mỡ, sữa tươi.

- Sữa: Các loại sữa như sữa bò, sữa trâu, sữa dê, sữa linh dương, sữa lạc đà.v.v..

- Dầu: dầu mè, dầu xà lách, dầu hoàng lam, dầu a đà tư, dầu tì ma, dầu tỉ lâu, dầu tỉ châu mạn đà, dầu ca lan giá, dầu sa la, dầu a đề mục đa, dầu mạn đầu, dầu đại ma, và các loại dầu khác thì gọi là dầu.

- Mật: Các thứ mật quân trà, mật bố để, mật ong ruồi, mật ong đất, đều gọi là mật.

- Ðường khối: Như đường bàn đà, đường na la, đường mạn xà, đường ma ha tì lê.v.v... thì gọi là đường khối.

- Mỡ: như mỡ cá, mỡ gấu, mỡ bi, mỡ tu tu la, mỡ heo. Những thứ mỡ này không có xương, không có thịt, không có máu, không có mùi hôi, không phải thức ăn chính, nếu Tỉ-kheo bệnh nhận được thì cho phép dùng trong bảy ngày. Ðó gọi là mỡ.

- Sữa tươi: Như các thứ sữa tươi của bò, dê.v.v... được lọc sạch, không phải thức ăn chính, nếu bỗng nhiên nhận được thì được phép uống trong bảy ngày. Ðó gọi là thuốc dùng trong bảy ngày.

Nếu Tỉ-kheo với tâm trộm cắp, xúc chạm loại thuốc dùng trong bảy ngày, thì phạm tội Việt Tì Ni. 

Nếu làm lay động vật đó, thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

- Thuốc dùng suốt đời: Ha lê lặc, Tỳ lê lặc, A ma lặc, cây lá lốt, tiêu, gừng, quả sống đời (trường thọ), quả đào tiên, quả vú sữa, quả đậu đỏ, quả Ba la tất đa, quả chuối, (bàn na); loại có năm rễ nhỏ, loại năm rễ lớn, (245a) tất cả các thứ muối, tất cả các loại tro trừ 8 loại tro, tất cả các thứ đất, trừ đường khối, đất sỏi; những loại thuốc này không phải là thức ăn.

Nếu vừa mới nhận thì Tỉ-kheo bệnh có thể để uống suốt đời. Ðó gọi là loại thuốc uống suốt đời.

Nếu Tỉ-kheo với tâm trộm cắp xúc chạm loại thuốc dùng suốt đời thì phạm tội Việt Tì Ni.

Nếu làm lay động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu di chuyển khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

- Vật tùy thân: Ba y, tọa cụ, y che ghẻ, áo mưa, bát, đại kiền tư, tiểu kiền tư, đãy đựng bát, túi đựng đồ tắm, đãy lọc nước, hai loại đai thắt lưng, dao cạo, muỗng bằng đồng, bát nhỏ, ống đựng kim, bình nước, cái gáo để tắm, bình đựng dầu, bình con, tích trượng, giày da, dù, quạt và các vật dụng cần thiết khác, đó gọi là vật tùy thân, lại có những vật tùy thân của người thế tục như khí giới, dao, gậy, quần áo và các vật dụng cần thiết khác của người bạch y cũng gọi là vật tùy thân.

Nếu Tỉ-kheo dùng tâm trộm cắp xúc chạm vào các vật ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu lay động vật đó thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

- Vật nặng (trọng vật): Như giường, vật dùng để nằm và các vật nặng khác.

- Giường, vật dùng để nằm: Giường nằm, giường để ngồi, mền nhỏ, mền lớn, khúc gỗ, tấm ra, cái gối, và các vật nặng khác như các vật bằng đồng, bằng gỗ, bằng tre, bằng gạch.v.v....

- Các vật bằng đồng: Bình đồng, nồi đồng, chảo đồng, muỗng đồng và các dụng cụ bằng đồng khác, gọi là dụng cụ bằng đồng.

- Các vật bằng gỗ và tre: Hộp bằng gỗ, bình gỗ, chậu bằng gỗ, chén gỗ, thìa bằng gỗ, cái giỏ tre, chiếu tre, cái sọt bằng tre, và tất cả các vật bằng gỗ, bằng tre khác, gọi là các vật bằng gỗ và bằng tre.

- Vật bằng đất: Từ cái vò lớn cho đến cái chén dùng làm đèn đều gọi là vật bằng đất, gạch.

Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp rờ vào các vật nặng ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu lay động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

- Vật bất tịnh: Tiền, vàng, bạc; vì Tỉ-kheo không được chạm đến nên gọi là vật bất tịnh (vật không tinh khiết).

Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp sờ vào các vật bất tịnh thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu lay động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. 

- Vật thanh tịnh và không thanh tịnh: Trân châu, lưu ly, ngọc trai, san hô, pha lê, xà cừ, mã não, ngọc bích. Vì các bảo vật ấy có thể rờ đụng mà không thể mang vào mình, nên gọi là vật thanh tịnh và không thanh tịnh.

Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp sờ vào vật thanh tịnh và không thanh tịnh thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu lay động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

- Lại có mười sáu loại vật khác: Ðất, vật trong đất, nước, vật trong nước, thuyền, vật trong thuyền, xe, vật trên xe, loài bốn chân, (245b) vật ở trên loài bốn chân, loài hai chân, vật ở trên loài hai chân, loài không chân, vật ở trên loài không chân, hư không, vật ở trên hư không.

1- Thế nào là đất?

- Mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ đồng, mỏ thiết, mỏ bạch lạp, không thanh thư (?), đá vàng, đá diêm sinh, bụi, đất đỏ, đất trắng dẻo và các thứ đất thợ gốm dùng đều gọi là đất.

Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp sờ vào các loại đất ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni. 

Nếu lay động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

2- Vật ở trong đất: Nếu người ta chôn dấu các thứ vào trong đất như: Tiền, vàng, bạc, pha lê, ngọc trai, trân châu, xa cừ, mã não, bình sữa, bình dầu, bình đường khối và các loại cây, rễ, cành, lá, quả dùng làm thuốc.v.v... cho đến tám vật cất giấu vào trong đất thì gọi là vật trong đất.

Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp sờ vào các vật trong đất ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu lay động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

3- Nước: Nước gồm có mười loại: Nước sông, nước ao, nước giếng, nước đầm sâu có rồng ở, nước trong, nước suối nóng, nước không nhiễm bệnh, nước mưa đã lọc, nước trên không trung, nước đang chảy; có nơi thì nước rất quí, có nơi thì nước không quí, hoặc một đồng được bốn năm bình, hoặc đổi tất cả vật sở hữu mới được một bình, như ở gần thôn ấp thành thị mà có nước tốt, thì một đồng được năm sáu bình.

Như có người khách buôn phải đi qua những con đường xa xôi hoang vắng, hoặc năm do tuần, hoặc mười do tuần, cho đến năm trăm do tuần, trên đường đi không có nước, các vị khách buôn ấy đều phải đem nước theo, hoặc tự tìm lấy, hoặc phải mua lấy. Khi ấy có một khách buôn còn một ít nước, không đủ dùng, vì khát bức bách, suy nghĩ: "Nếu ta còn sống, sẽ kiếm ra tiền, còn nếu ta khát nước mà chết thì tiền dùng để làm gì?", bèn đem tất cả tài vật đổi lấy một bình nước. Bấy giờ, có Tỉ-kheo đi theo người khách buôn, người này thường cung cấp nước cho Tỉ-kheo ; nhưng khi chưa đến nơi thì nước sắp hết, lúc ấy người khách buôn nói với Tỉ-kheo : "Ðường đi còn xa mà nước lại sắp hết, vậy xin hiến số nước này cho tôn giả, và số nước này để tôi uống". Tỉ-kheo phải lượng số nước mà khách buôn đã cho để dùng, nếu dấy tâm ăn trộm uống nhiều nước, đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Nếu chưa đủ số quy định thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu khách buôn nói: "Nước tôi cung cấp cho tôn giả, xin chớ cho người khác". Nhưng nếu lúc ấy có người già cả bệnh hoạn bị khát bức bách, đến Tỉ-kheo xin nước uống, vì lòng từ bi, Tỉ-kheo muốn cung cấp nước cho người bệnh ấy, bèn suy nghĩ: "Chủ nhân tuy đã nói như thế, nhưng người bệnh này đáng thương, nay ta nên đem nước cho ông". Nếu chủ nhân cũng có lòng chiếu cố, đồng ý, không khiển trách (245c) thì không phạm.

Có người dùng thuyền chở nước, Tỉ-kheo vì khát nước bức bách, dấy tâm trộm cắp chạm vào nước trên thuyền của ông ta thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu dùng bát hoặc gáo múc nước ấy mà chưa rời khỏi thuyền thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu đã mang nước đi mà thân thể và y phục đều rời khỏi thuyền, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

Nếu Tỉ-kheo khoét bình chứa nước của người ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu dùng ống đút qua lỗ trống uống nước, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

Nếu thoắt uống thoắt nghỉ, thì mỗi hớp phạm mỗi tội Thâu Lan Giá.

Nếu đồ đựng nước trước đó được đậy nắp mà Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp mở nắp ra thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Khi đang rót nước thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Rót xong mà đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Nếu lúc đang rót nước, liền sanh tâm hối hận, sợ phạm tội nặng, bèn đổ nước vào lại trong bình, thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu muốn kéo thuyền đi để lấy trộm nước, khi kéo thuyền tới, đuôi thuyền quá chỗ đầu thuyền thì phạm tội Ba La Di. Hoặc kéo ngược thuyền về phía sau, khi đầu thuyền qua khỏi chỗ đuôi thuyền, hoặc kéo qua bên phải, khi bên trái thuyền qua khỏi chỗ bên phải, hay ngược lại, liền phạm tội Ba La Di.

Nếu thuyền nhỏ dễ lay động mà Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp đụng vào thuyền thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu di động nó thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cu,õ đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

Nếu có người đắp bờ ngăn nước (chảy vào ruộng) mỗi đêm đáng giá một tiền cho đến 2,3,4,5 tiền mà Tỉ-kheo vì Phật Pháp Tăng khởi tâm trộm cắp phá hoại bờ của họ thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu nước chảy vào ruộng mình thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Nếu Tỉ-kheo không muốn trực tiếp phá hoại mà dùng phương tiện kéo gạch, cây đi qua khiến cho bờ vỡ, nước chảy thì lúc kéo qua phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu chảy vào ruộng thì phạm tội Thâu Lan Giá

Ðủ số quy định, phạm tội Ba La Di.

Nếu dùng phương tiện lùa bò, dê, lạc đà đi qua làm hư bờ cũng như thế. 

Nếu Tỉ-kheo có tâm ganh tỵ, phá bờ cho nước chảy thoát thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu Tỉ-kheo cùng với khách buôn đi qua vùng hoang dã, có người nói: "Ngày mai sẽ tới chỗ có nước". Lúc ấy có người khách buôn đang gánh nước đi, Tỉ-kheo vì khát nước, đến xin Y mà không được, liền nổi giận mắng: "Kẻ tệ ác kia! Vì sao ngươi keo kiệt quá thế? Mang nước đi nhiều mà không dám uống, cũng không cho loài súc vật, cũng không cho Sa môn, Bà la môn, chẳng bao lâu cũng phải bỏ, chớ dùng nó làm gì nữa?". Tỉ-kheo liền phá thùng nước của y, vì tâm ác nên phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu có người dùng bồn chứa nước để tại nhà, rồi những bà con, bạn bè của Tỉ-kheo bị cháy nhà, Tỉ-kheo dấy tâm lấy trộm nước để chữa lửa, nếu đụng vào nước thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu làm lay động bồn nước của họ thì phạm tội (246a) Thâu Lan Giá.

Nếu dùng nước tưới lên lửa đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Nếu tự suy nghĩ: "Sẽ trả lại đủ số nước đã lấy dùng", thì không phạm.

Nếu nhà của người ấy bị cháy dùng nước của Y để tưới lửa tắt thì không phạm. Nếu gặp lúc hạn hán mười năm, hai mươi năm, nước ao hoặc nước giếng có người giữ gìn mà Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp mang thùng đến lấy nước, chạm vào nước ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu múc nước thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu gánh nước rời khỏi ao, đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Nếu hồ nằm ở trong vườn, họ đóng cổng lại, mà Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp, dùng ống từ xa hút nước uống, khi nước đang chảy liên tục không ngừng mà đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Nếu uống từng hớp từng hớp rồi dừng lại, thì mỗi hớp phạm mỗi tội Thâu Lan Giá.

Nếu nước ở dưới giếng, Tỉ-kheo dấy tâm lấy trộm, thì khi múc nước, phạm tội Việt Tỳ Ni.

Khi đã múc nước đổ vào thùng thì phạm tội Thâu Lan Giá. Và khi mang nước rời khỏi giếng, đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Có những nhà ngoại đạo dùng bình chứa nước, khi nhà bị cháy, họ hoảng sợ mà khi ấy Tỉ-kheo suy nghĩ: "Kẻ ngoại đạo tà ác như thế, như thế thường đố kỵ Phật pháp, hủy báng Sa môn Thích Tử, nay ngươi đang bị họa". Liền đi tới dùng gậy đập vỡ bình nước, vì ác tâm phá hoại đồ của người ta nên phạm tội Việt Tỳ Ni.

Có các loại nước danh tiếng như nước Chiêm Ba có nước của sông Hằng, tại thành Vương Xá có nước suối nóng, tại ấp Ba Liên Phất có sông Thứ Nô, tại nước Ba La Nại có nước ao Phật Du Hành, tại nước Sa Kỳ có nước Huyền chú, tại thành Xá Vệ có nước Bổ Ða Lê, tại nước Ma Thâu La có loại nước Diêu Bồ Na, tại nước Tăng Già Xá có nước Thạch mật. Có những nhà quyền quí sai người đi lấy các thứ nước ấy, trên đường về nhà, nghỉ ở dọc đường, nếu Tỉ-kheo vì khát nước bức bách, dấy tâm trộm cắp rờ vào nước ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu rót nước ấy vào bình của mình thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu rót vừa dứt mà đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Nếu lúc đang rót mà sanh tâm hối hận, sợ phạm tội nặng, bèn đổ nước vào bình trở lại thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Có những hàng quí tộc đi chơi ở hoa viên, bèn xây cái hồ, pha dầu thơm vào nước, rồi có Tỉ-kheo dấy tâm lấy trộm, lấy nước ấy, nhưng nước không đáng giá tiền, thì tính theo thời giá dầu thơm (pha vào nước) mà quy định mức phạm tội.

Ðó gọi là các thứ nước.

4- Vật ở trong nước: Ðó là các thứ sinh trong nước như: Ưu bát la, Bát đàm ma, Câu vật đầu, Phân đà lợi, Tu kiền đề, rễ sen.v.v.. và các vật sinh ra trong nước khác, nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp, đụng chạm vào các vật sinh trong nước này thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu làm lay động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di. (246b) Nếu chỉ lấy một hoa mà trị giá đủ số quy định, cũng phạm tội Ba La Di.

Nếu chưa đủ số quy định thì mỗi hoa phạm mỗi tội Thâu Lan Giá.

Nhưng hái hoa để trên đất thì chưa phạm tội Ba La Di. Hoặc vì bó hoa lớn nặng không dỡ lên nổi, dù kéo đi hơi xa cũng không phạm Ba La Di. Nhưng nếu đã dỡ lên khỏi đất, thì phạm tội Ba La Di. Kể cả các vật sinh trong nước cũng như thế.

Nếu các nhà quyền quí làm các loại hoa bằng vàng bạc và các loại thuyền có hình các giống chim như le le, nhạn, uyên ương, để ở hồ tắm, khu giải trí, mà Tỉ-kheo dấy tâm lấy trộm, đụng vào các vật đó, thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu di động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Hoặc có người đem các vật như vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, ngọc trai, xích châu và tám loại khác cất giấu dưới nước mà Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp, chạm vào các vật ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu di động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá. 

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Ðó gọi là những vật ở trong nước.

5- Thuyền: Thuyền có các loại như: Thuyền Tỳ câu la, thuyền Câu ha tra, thuyền Bạt cù lê, thuyền Tỳ thi già, thuyền mặt ngựa, thuyền mặt voi, thuyền mặt dê, thuyền mặt cá, hoặc một tầng cho đến bảy tầng, hoặc có vách ngăn, hoặc không có vách ngăn, hoặc dùng chở voi, hoặc dùng chở ngựa, hoặc dùng chở của cải, hoặc chở gạch ngói, hoặc chở da, hoặc chở kim loại, cho đến những cái bè chở liếp. Nếu những thuyền bè ấy buộc tại một chỗ mà Tỉ-kheo sinh tâm trộm cắp chạm vào chúng, thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu di động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, thì phạm tội Ba La Di.

Nếu cắt dây buộc thuyền mà chưa dời khỏi chỗ cũ, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Hoặc đã đời khỏi chỗ cũ mà chưa cắt dây buộc, cũng phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu đã cắt dây buộc và rời khỏi chỗ cũ thì phạm tội Ba La Di.

Nếu ý muốn trộm thuyền, không định trộm vật, nhưng sợ người ta biết, bèn lấy cả vật mang đi, thì dù rời khỏi chỗ cũ cũng chưa phạm Ba La Di.

Nhưng nếu bỏ vật lại, chỉ lấy thuyền, thì rời khỏi chỗ cũ, liền phạm tội Ba La Di.

Nếu có ý định trộm vật, không trộm thuyền, mà sợ người ta phát giác, nên mang cả thuyền đi thì chưa phạm Ba La Di.

Nhưng bỏ thuyền lại lấy vật mang đi, thì phạm tội Ba La Di.

Nếu muốn lấy trộm cả thuyền và vật, thì khi thuyền rời khỏi chỗ cũ liền phạm Ba La Di.

Nếu muốn bỏ vật xuống đáy sông để lấy trộm thì lúc vật chìm khuất, phạm Ba La Di.

Nếu có người buộc thuyền bên bờ sông, lên ngồi nghỉ một chỗ khuất, có Tỉ-kheo định lấy trộm thuyền, bấy giờ có người khác nói với chủ thuyền: "Có người xuất gia muốn lấy trộm thuyền của ông đấy". Khi ấy chủ thuyền hỏi: "Người xuất gia ấy theo đạo nào?"

Ðáp: "Sa môn Thích Tử".

Chủ thuyền nói: "Khỏi lo, Sa môn Thích tử không lấy của không cho".

Nhưng lúc ấy thân Tỉ-kheo đã chạm đến thuyền, người kia lại nói (246c) với chủ thuyền: "Thầy Tỉ-kheo kia đã lấy thuyền của ông rồi". Chủ thuyền liền sanh nghi: Lẽ nào vị Tỉ-kheo kia lại muốn lấy trộm thuyền của ta sao?, bèn hỏi: "Tôn giả định làm gì đấy?"Lúc ấy Tỉ-kheo im lặng, không đáp liền dùng sào chèo thuyền đi. Chủ thuyền liền đuổi theo gọi: "Tôn giả! Thuyền ấy là thuyền của vua, của đại thần, của Bà la môn, trưởng giả cư sĩ, là thuyền để làm phước, thuyền để chở người". Lại hăm dọa Tỉ-kheo, nói: "Quân tệ ác, nếu ngươi lấy thuyền ta đi, thì ta sẽ trừng trị ngươi thích đáng". Thầy Tỉ-kheo ấy tuy chèo thuyền đi xa, nhưng nếu chủ thuyền không nghĩ là thuyền đã mất, và Tỉ-kheo cũng không nghĩ là đã được, thì chưa phạm tội Ba La Di. Trái lại nếu chủ thuyền nghĩ là thuyền đã mất và Tỉ-kheo nghĩ là đã được, thì phạm tội Ba La Di.

Nếu chủ thuyền buộc thuyền bên bờ sông, rồi có khách Tỉ-kheo đến nói với chủ thuyền: "Lão trượng (trường thọ) chở giúp tôi đi". Chủ thuyền đáp: "Chỉ có một người mà tôi chở thế nào được!".Tỉ-kheo lại nói: "Lão trượng, giờ ăn của tôi đã đến, chớ làm cho tôi mất bữa ăn. Nay ông chở tôi tức là cho tôi ăn, là bố thí niềm vui cho tôi. Nay tôi với ông nguyện đời này đời sau giúp đỡ lẫn nhau". Chủ thuyền lại nói: "Ông không có đồng xu nào, thì làm sao muốn giúp đỡ người ta? Chân ông như con quạ đói, không đậu nhất định chỗ nào, thì ai sẽ giúp ông?"Tỉ-kheo bèn hạ giọng khẩn cầu. Chủ thuyền lại hỏi: "Tôi tự độ (giúp mình) được. Tôn giả giờ đây chỉ có một mình, thì bảo chở làm sao?" Tỉ-kheo đáp: "Lão trượng! Ông chỉ cần cầm lái, để tôi chèo cho". Chủ thuyền bèn đồng ý, liền bảo Tỉ-kheo lên thuyền. Khi đến giữa sông, thầy Tỉ-kheo bèn cầm mái chèo đánh chủ thuyền, mắng: "Quân tệ ác, dám hủy nhục Sa môn Thích Tử!". Mắng rồi lại đánh chủ thuyền, làm cho tay chân bị thương tích trầm trọng, đoạn đem vứt xuống nước, thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu chủ thuyền chết, mà trước đó Tỉ-kheo có tâm giết hại, thì phạm tội Ba La Di.

Nếu trước không có tâm sát hại, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Lúc ấy, nếu Tỉ-kheo lấy trộm thuyền của Y, hoặc lấy trộm hành lý, mà đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Nếu chưa đủ số thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu Tỉ-kheo có ác tâm nhận chìm thuyền của Y, hoặc phá hủy, hoặc thả trôi đi, vì làm hư hỏng, mất mát vật của người khác nên phạm tội Việt Tỳ Ni.

Có người muốn tạo phước nên dùng thuyền chở người, nếu Tỉ-kheo tự chèo thuyền ấy qua sông, thì phải buộc thuyền vào bờ để người sau còn đi nữa; nếu Tỉ-kheo lấy trộm thuyền hoặc hành trang của họ mà đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Nếu nhận chìm trong nước, hoặc phá hỏng, hoặc thả cho trôi đi, thì phạm (247a) tội Việt Tỳ Ni. Tỉ-kheo nếu chèo thuyền đến bờ bên kia, thì phải buộc thuyền vào bờ ở chỗ trống trải để người sau còn sử dụng, không được buộc thuyền ở chỗ khuất.

Ðó gọi là Thuyền.

6- Vật ở trên thuyền: Các vật ở trên thuyền như vàng, bạc, trân châu, tiền của, hổ phách, lưu ly, ngọc trai, san hô, xa cừ, xích châu, kiếp bối, cho đến tất cả y phục, ngũ cốc và tám thứ vật, hoặc được che phủ, hoặc không che phủ mà Tỉ-kheo dấy tâm lấy trộm rờ vào các vật ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu di động các vật ấy thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

7- Xe: Hoặc xe hành khách, hoặc xe chở hàng, hoặc xe ba gác, hoặc xe xích lô, cho đến các loại xe trẻ con chơi, đó gọi là xe.

Nếu Tỉ-kheo lấy trộm xe hai bánh, đẩy tới trước mà đuôi xe qua khỏi đầu xe, đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di. Hoặc đẩy lui mà đầu xe qua khỏi đuôi xe, thì phạm tội Ba La Di. Hoặc đẩy sang hai bên mà bánh trái qua khỏi bánh phải hay bánh phải qua khỏi bánh trái, cũng phạm tội Ba La Di. Hoặc Tỉ-kheo đập phá xe ấy, rồi lấy trộm từng khúc gỗ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Chưa đủ số quy định thì phạm tội Thâu Lan Giá. Hoặc xe nhỏ có thể mang đi, nếu chạm đến thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu di động nó thì phạm tội Thâu lan giá. Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

Ðó gọi là các loại xe.

8- Vật ở trên xe: Hoặc da sư tử dùng để che, hoặc da cọp, hoặc hoàng khâm bà la (?) và các vật dùng để che khác, tất cả các vật dùng để lót và tất cả các vật dùng để trang trí xe. Ðó gọi là các vật ở trên xe.

- Tất cả những vật để trong xe: Ðó là: vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mã não, trân châu, ngọc trai, san hô, hổ phách, xích bảo.v.v..., y phục, ẩm thực và tám thứ vật, hoặc được che kín, hoặc không được che kín, nếu Tỉ-kheo dùng tâm trộm cắp sờ vào những vật ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu di động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Ðó gọi là những vật để trong xe.

9- Loài vật bốn chân: Ðó là voi, ngựa, lạc đà, bò, lừa, la, dê, cả đến chuột, chó sói.v.v... Nếu Tỉ-kheo muốn ăn trộm voi, dắt nó đi, khi nó đã dỡ lên từ một chân cho đến ba chân, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Khi nó đã dỡ lên cả bốn chân, rời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di. Kể cả ngựa, lạc đà cho đến dê cũng như vậy. Nếu con vật ấy nhỏ có thể vác đi được thì khi chạm vào nó phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu di động nó phạm tội Thâu Lan Giá, nếu rời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Ðó gọi là các con vật bốn chân.

10- Những vật dụng ở trên loài bốn chân: Ðó là các dụng cụ dùng để trang bị cho voi, kể cả các dụng cụ trang bị cho chuột, chó sói và tám loài vật khác, hoặc được che kín, hoặc không che kín; nếu Tỉ-kheo dùng tâm trộm cắp sờ vào các vật đó, thì phạm tội Việt Tỳ Ni; nếu di động chúng, thì phạm tội Thâu Lan Giá. (247b); nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Ðó gọi là những vật dụng ở trên loài bốn chân.

11- Loài vật hai chân: Ðó là người và chim.v.v.. Nếu Tỉ-kheo trộm người (thuộc quyền quản lý) của người khác, hoặc quyến rũ di theo, hoặc dùng dao gậy bức hiếp, khi người ấy dở lên một chân thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu dở cả hai chân thì phạm tội Ba La Di. Nếu người ấy nhỏ có thể cõng, vác đi, mà chạm đến họ thì phạm tội Việt Tỳ Ni; nếu di động họ thì phạm tội Thâu Lan Giá; nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Kể cả các loài chim cũng như thế. Ðó gọi là loài vật hai chân.

12- Những vật dụng ở trên loài hai chân: Ðó là những vật trang điểm của phụ nữ, những vật trang điểm của nam giới, cho đến những thứ trang điểm trên mình chim oanh vũ.

- Những vật trang điểm của phụ nữ: Ðó là xoa, xuyến, y phục.v.v...

- Những vật trang điểm của nam giới: Như áo, mão ngọc, anh lạc.v.v...

Cho đến những thứ trang điểm trên chim oanh vũ như vàng, ngọc, lục lạc đeo vào cổ, chân của chúng, và tám thứ vật khác, hoặc được che kín, hoặc không che kín. Nếu Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp chạm vào các vật trên loài hai chân ấy thì phạm tội Việt Tỳ Ni. Nếu di động chúng, thì phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu rời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di.

Ðó gọi là những vật dụng ở trên loài hai chân.

13- Loài vật không chân: Ðó là rắn, trăn, hoặc ăn hoa, ăn trái, ăn thịt, hay chỉ thở bằng không khí, hoặc rắn được nhốt trong lọ hay trong lồng.

Có một Tỉ-kheo vốn là người nuôi rắn, về sau xuất gia. Vị này muốn bắt trộm con rắn của một người khác, nhưng sợ người chủ hay biết, liền xách cả cái lồng đi, thì chưa phạm tội Ba La Di. Nhưng nếu bắt rắn, bỏ lồng lại, đủ số quy định thì phạm tội Ba La Di. Nhưng nếu chỉ có ý trộm lồng, không trộm rắn, mà vì sợ chủ biết, nên lấy luôn cả rắn thì chưa phạm tội Ba La Di. Nếu bỏ rắn lấy lồng, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di. Nếu định trộm cả lồng và rắn, thì khi xách đi khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, phạm tội Ba La Di. Nếu bắt trộm con rắn trong lọ mà đuôi rắn chưa ra khỏi miệng lọ thì chưa phạm Ba La Di. Nếu cả đầu và đuôi đều ra khỏi lọ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

Nếu tức giận, khiển trách kẻ ấy, mắng rằng: "Quân ác độc, vì sao lại dùng lồng để nhốt chúng sinh!"Liền mở lồng để cho rắn bò ra, thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp chạm vào loài không chân, thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu di động chúng, thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

Ðó gọi là những loài vật không chân.

14- Những đồ vật ở trên loài không chân: Ðó là vàng, bạc, trân châu, xà cừ, hổ phách, san hô, ngọc trai, lưu ly, xích châu cho đến tám loài vật, hoặc được che kín, hoặc không che kín, vì người ta sợ loài vật không chân này nên không dám lấy (vật trên nó). Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp chạm vào những đồ vật ở trên loài không chân này thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu di động các vật ấy thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định (247c) thì phạm tội Ba La Di.

Ðó gọi là những vật ở trên loài không chân.

15- Vật không trung: Ðó là cây Am la, cây Chim bặc, cây Diêm phù, cây Da tử, cây Chỉ ba la, cây Long hoa, cây Cát tường, quả, cho đến tất cả cây có hoa trái. Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp lấy trộm các cây đó, khi lấy một cây mà đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

Nếu chưa đủ số quy định, tùy theo mức độ, như nhổ các cây con thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu nhổ cây con để lại một chỗ thì chưa phạm tội Ba La Di.

Nếu mang đi khỏi khu đất ấy, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

Nếu cây nặng, kéo đi mà chưa rời khu đất dù đã đi xa thì chưa phạm tội Ba La Di.

Nếu đem đi khỏi khu đất thì phạm tội Ba La Di.

Nếu Tỉ-kheo dấy tâm trộm cắp đụng vào vật trên hư không thì phạm tội Việt Tỳ Ni.

Nếu lay động chúng thì phạm tội Thâu Lan Giá.

Nếu dời khỏi chỗ cũ, đủ số quy định, thì phạm tội Ba La Di.

Ðó gọi là vật không trung.

Xem Tiếp Trang Kế

x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
TVHS

x
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap