I. Phẩm
Y Chỉ
(I) (1) Có Lợi Ích Gì
1. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế
Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, các thiện giới
có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
- Có ý nghĩa không hối tiếc, có
lợi ích không hối tiếc.
- Nhưng bạch Thế Tôn, không hối
tiếc có ý nghĩa gì? Có lợi ích gì?
- Này Ananda, không hối tiếc có
ý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan.
- Bạch Thế Tôn, nhưng hân hoan có
ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
- Này Ananda, hân hoan có ý nghĩa
hoan hỷ, có lợi ích hoan hỷ.
- Nhưng bạch Thế Tôn, hoan hỷ có
ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
- Nhưng Ananda, hoan hỷ có ý nghĩa
khinh an, có lợi ích khinh an.
- Nhưng bạch Thế Tôn, khinh an có
ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
- Này Ananda, khinh an có ý nghĩa an
lạc, có lợi ích an lạc.
- Nhưng bạch Thế Tôn, an lạc có
ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
- Này Ananda, an lạc có ý nghĩa định,
có lợi ích định.
- Nhưng bạch Thế Tôn, định có
ý nghĩa gì? Có lợi ích gì?
- Này Ananda, định có ý nghĩa gì
như thật tri kiến, có lợi ích như thật tri kiến.
- Nhưng bạch Thế Tôn, như thật
tri kiến có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
- Này Ananda, như thật tri kiến có
ý nghĩa nhàm chán, có lợi ích nhàm chán.
- Nhưng bạch Thế Tôn, nhàm chán
có ý nghĩa gì, có lợi ý gì?
- Này Ananda, nhàm chán có ý nghĩa
ly tham, có lợi ích ly tham.
- Nhưng bạch Thế Tôn, ly tham có
ý nghĩa gì, có lợi ích gì?
- Này Ananda ly tham có ý nghĩa giải
thoát tri kiến, có lợi ích giải thoát tri kiến.
2. Như vậy, này Ananda, các thiện
giới có ý nghĩa không hối tiếc, có lợi ích không hối tiếc.
Không hối tiếc có ý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan.
Hân hoan có ý nghĩa hoan hỷ, có lợi ích hoan hỷ. Hoan hỷ
có ý nghĩa khinh an, có lợi ích khinh an. Khinh an có ý nghĩa
an lạc, có lợi ích an lạc. An lạc có ý nghĩa định, có
lợi ích định. Ðịnh có ý nghĩa gì như thật tri kiến, có
lợi ích như thật tri kiến. Như thật tri kiến có ý nghĩa
nhàm chán, có lợi ích nhàm chán. Nhàm chán có ý nghĩa ly tham,
có lợi ích ly tham. Ly tham có ý nghĩa giải thoát tri kiến,
có lợi ích giải thoát tri kiến. Như vậy, này Ananda, các
thiện giới thứ lớp dẫn đến tối thượng.
(II) (2) Nghĩ Với Dụng Ý
(Giống như kinh số 2,
Chương Mười Pháp, chỉ khác "nibbidà viràgatthà", nhàm chán
ly tham, chia 2 nên thành 11 pháp)
(III) (3) Sở Y, Do Bậc Ðạo Sư Thuyết
(Tương tự kinh số 3,
Chương Mười Pháp, chỉ khác "nibbidà viràgatthà", nhàm chán
ly tham, chia 2 nên thành 11 pháp).
(IV) (4) Sở Y, Do Tôn Giả Sariputta
Thuyết
(Tương tự kinh số 4,
Chương Mười Pháp, chỉ khác "nibbidà viràgatthà", nhàm chán
ly tham, chia 2 nên thành 11 pháp).
(V) (5) Sở Y, Do Tôn Giả Ananda Thuyết
(Tương tự kinh số 5,
Chương Mười Pháp, chỉ khác "nibbidà viràgatthà", nhàm chán
ly tham, chia 2 nên thành 11 pháp).
(VI) (6) Tai Họa
1. Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo
nào mắng nhiếc, chỉ trích quở trách các bậc Thánh là những
vị đồng Phạm hạnh, thời không có sự kiện, không có cơ
hội người ấy không gặp một trong mười một tai họa. Thế
nào là mười một?
2. Không chứng điều chưa chứng,
đã chứng được thời mất đi, diệu pháp không được tỏ
rõ, hay là tự kiêu trong diệu pháp, hay là không hoan hỷ sống
Phạm hạnh, hay phạm một tội ô uế, hay từ bỏ Phạm hạnh
và hoàn tục, hay là thọ bệnh nặng, hay là đạt đến điên
cuồng loạn tâm, hay là bất tỉnh mệnh chung, sau khi thân hoại
mạng chung rơi vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục.
Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo
nào mắng nhiếc, chỉ trích, quở trách các bậc Thánh là những
đồng Phạm hạnh, thời không có sự kiện, không có cơ hội
rằng người ấy không gặp một trong mười một tai họa này.
(VII) (7) Tưởng Hay Tác Ý (1)
1. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có thể chăng một
Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định, như vậy, vị ấy có
thể trong đất không tưởng đến đất, trong nước không
tưởng đến nước, trong lửa không tưởng đến lửa, trong
gió không tưởng đến gió, trong Không vô biên xứ không tưởng
đến Không vô biên xứ, trong Thức vô biên xứ không tưởng
đến Thức vô biên xứ, trong Vô sở hữu xứ không tưởng
đến Vô sở hữu xứ, trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ không
tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, trong thế giới
hiện tại không tưởng đến thế giới hiện tại, trong thế
giới đời sau không tưởng đến thế giới đời sau, và phàm
điều gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được
thức tri, được đạt đến, được tầm cầu đến, được
ý suy nghĩ đến, trong ấy vị ấy không có tưởng đến. Tuy
vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
2. Này Ananda, có thể như vậy, một
Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, có thể trong
đất không tưởng đến đất, trong nước không tưởng đến
nước, trong lửa không tưởng đến lửa, trong gió không tưởng
đến gió, trong Không vô biên xứ, không tưởng đến Không
vô biên xứ, trong Thức vô biên xứ không tưởng đến Thức
vô biên xứ, trong Vô sở hữu xứ không tưởng đến Vô sở
hữu xứ, trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ không tưởng đến
Phi tưởng phi phi tưởng xứ, trong thế giới hiện tại không
tưởng đến thế giới hiện tại, trong thế giới đời sau
không tưởng đến thế giới đời sau. Và phàm điều gì được
thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được
đạt đến, được tầm cầu đến, được ý suy nghĩ đến,
trong ấy vị ấy không có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn
có tưởng.
3. Nhưng bạch Thế Tôn, như thế
nào một vị Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy,
vị ấy có thể trong đất, không tường đến đất... trong
thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau...
vị ấy có thể không có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn
có tưởng.
4. Ở đây, này Ananda, vị Tỷ-kheo
tưởng như sau: "Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức
là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh
y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn".
Như vậy, này Ananda, vị Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định
như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất,
trong nước không tưởng đến nước... trong thế giới đời
sau, không tưởng đến thế giới đời sau... vị ấy không
có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
(VIII) (8) Tưởng Hay Tác Ý (2)
Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế
Tôn, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi
đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về
Thế Tôn, rồi đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói
lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào ón hỏi thăm, sau
khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda thưa
với Tôn giả Sàriputta:
- Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể
chăng một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy,
vị ấy có thể trong đất không tưởng đến đất, trong nước
không tưởng đến nước, trong lửa không tưởng đến lửa,
trong gió không tưởng đến gió, trong Không vô biên xứ, không
tưởng đến Không vô biên xứ, trong Thức vô biên xứ không
tưởng đến Thức vô biên xứ, trong Vô sở hữu xứ không
tưởng đến Vô sở hữu xứ, trong Phi tưởng phi phi tưởng
xứ không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, trong thế
giới hiện tại không tưởng đến thế giới hiện tại, trong
thế giới đời sau không tưởng đến thế giới đời sau.
Và phàm điều gì được thấy, được nghe, được cảm giác,
được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu đến,
được ý suy nghĩ đến, trong ấy vị ấy không có tưởng
đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
2. Này Ananda, có thể như vậy, một
Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy... được ý
suy nghĩ đến, vị ấy không có tưởng đến. Tuy vậy, vị
ấy vẫn có tưởng.
3. Nhưng thưa Tôn giả Sàriputta,
như thế nào, một Tỷ-kheo, khi chứng được Thiền định
như vậy... được ý suy nghĩ đến, vị ấy không có tưởng
đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
4. Ở đây, này Hiền giả Ananda,
Tỷ-kheo tưởng như sau: "Ðây là An tịnh, đây là thù thắng,
tức là sự an tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả
sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn".
Như vậy, này Hiền giả Ananda, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền
định như vậy, có thể trong đất không tưởng đến đất...
trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời
sau... vị ấy không có tưởng đến. Tuy vậy, vị ấy vẫn
có tưởng.
5. Thật vi diệu thay, thưa Hiền
giả! Thật hy hữu thay, thưa Hiền giả! Sự giải thích của
Ðạo Sư và đệ tử tương hợp, tương hội không tương phản
nhau, nghĩa với nghĩa, lời với lời, tức là đối với câu
tối thượng. Thưa Hiền giả, vừa rồi tôi đã đi đến Thế
Tôn và hỏi ý nghĩa này, Thế Tôn với những câu thế này
với những lời thế này, đã trả lời về ý nghĩa này, giống
như Tôn giả Sàriputta. Thật vi diệu thay, Hiền giả! Thật
hy hữu thay, Hiền giả! Sự giải thích của Ðạo Sư và đệ
tử sẽ tương hợp, sẽ tương hội, không tương phản nhau
tức là về câu tối thượng.
(IX) (9) Tác Ý
1. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế
Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có thể chăng một
Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, có thể không
tác ý đến mắt, có thể không tác ý đến sắc, có thể
không tác ý đến tai, có thể không tác ý đến tiếng, có
thể không tác ý đến mũi, có thể không tác ý đến hương,
có thể không tác ý đến lưỡi, có thể không tác ý đến
vị, có thể không tác ý đến thân, có thể không tác ý đến
xúc, có thể không tác ý đến đất, có thể không tác ý
đến nước, có thể không tác ý đến lửa, có thể không
tác ý đến gió, có thể không tác ý đến Không vô biên xứ,
có thể không tác ý đến Thức vô biên xứ, có thể không
tác ý đến Vô sở hữu xứ, có thể không tác ý đến Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, có thể không tác ý đến đời
này, có thể không tác ý đến đời sau. Phàm điều gì được
thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được
đạt đến, được tầm cầu đến, được ý suy nghĩ đến,
vị ấy có thể không có tác ý. Tuy vậy, vị ấy vẫn có
tác ý.
2. Này Ananda, có thể như vậy: Một
Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, có thể không
tác ý đến mắt, có thể không tác ý đến sắc... (như trên,
9.1)... được ý suy nghĩ đến, vị ấy có thể không có tác
ý. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tác ý.
3. Bạch Thế Tôn, nhưng thế nào,
một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, có thể
không tác ý đến mắt, có thể không tác ý đến sắc... được
ý suy nghĩ đến, vị ấy có thể không có tác ý. Tuy vậy,
vị ấy vẫn có tác ý.
4. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo tác
ý như sau: "Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự
tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn
diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết bàn". Như vậy, này
Ananda, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị
ấy có thể không tác ý đến mắt, có thể không tác ý đến
sắc... được ý suy nghĩ đến, vị ấy có thể không có tác
ý. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tác ý.
(X) (10) Sandha
1. Một thời Thế Tôn trú ở Nàtika,
tại ngôi nhà có lợp ngói. Rồi Tôn giả Sandha đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sandha đang ngồi một bên:
2. Này Sandha, hãy tu Thiền với sự
Thiền định của con ngựa thuần thục, chớ có với Thiền
định của con ngựa chưa thuần thục. Và này Sandha, thế nào
là Thiền định của con ngựa chưa thuần thục?
3. Con ngựa chưa thuần thục, khi
bị cột vào máng ăn, liền Thiền tư: "Cỏ ăn, cỏ ăn". Vì
sao? Này Sandha, con ngựa chưa thuần thục, khi bị cột vào
máng ăn, không có nghĩ như sau: "Không biết hôm nay, người
đánh xe điều phục ngựa sẽ bảo ta làm việc gì? Nay ta có
thể làm gì để báo đáp? " Con ngựa bị cột vào máng ăn,
chỉ Thiền tư: "Cỏ ăn, cỏ ăn! " Cũng vậy, này Sandha, ở
đây có hạng người chưa được thuần thục, khi đi đến
ngôi rừng, hay khi đi đến gốc cây, hay khi đi đến ngôi nhà
trống, trú với tâm bị dục tham ám ảnh, bị dục tham chi
phối, không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham
đã khởi lên. Người ấy tàng trữ dục tham vào trong, rồi
Thiền tư, Thiền lự, Thiền liên tục, Thiền quán, trú với
tâm bị sân ám ảnh, bị sân chi phối... trú với tâm bị
hôn trầm thụy miên ám ảnh, bị hôn trầm thụy miên chi phối...
trú với tâm bị trạo hối ám ảnh, bị trạo hối chi phối...
trú với tâm bị nghi hoặc ám ảnh, bị nghi hoặc chi phối,
không như thật rõ biết sự xuất ly ra khỏi nghi hoặc đã
khởi lên. Người ấy tàng trữ nghi hoặc vào trong, rồi Thiền
tư, Thiền lự, Thiền liên tục, Thiền quán. Người ấy Thiền
tư, y chỉ vào đất, Thiền tư y chỉ vào nước, Thiền tư
y chỉ vào lửa, Thiền tư y chỉ vào gió, Thiền tư y chỉ
vào Không vô biên xứ, Thiền tư y chỉ vào Thức vô biên xứ,
Thiền tư y chỉ vào Vô sở hữu xứ, Thiền tư y chỉ vào
Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Thiền tư y chỉ vào đời này,
Thiền tư y chỉ vào đời sau, phàm điều gì được thấy,
được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt
đến, được tầm cầu đến, được ý suy tư, đều ý chỉ
vào đấy người ấy Thiền tư. Như vậy, này Sandha là người
Thiền tư không thuần thục. Và này Sandha, như thế nào là
Thiền tư như con ngựa thuần thục?
4. Con ngựa hiền lương, này Sandha,
con ngựa được thuần thục, khi bị cột vào máng ăn, không
có Thiền tư: "Cỏ ăn, cỏ ăn! " Vì sao? Này Sandha, con ngựa
đã thuần thục, khi bị cột vào máng ăn, suy nghĩ như sau:
"Không biết hôm nay, người đánh xe điều phục ngựa sẽ
bảo ta làm việc gì? Nay ta có thể làm gì để báo đáp? "
Con ngựa bị cột vào máng ăn, không có Thiền tư: "Cỏ ăn,
cỏ ăn! " Con ngựa hiền lương, này Sandha, được thuần thục,
nhìn sự áp dụng cây gậy thúc ngựa hiền lương như là món
nợ, như là trói buộc, như là một thiện hại, như là một
điềm xấu. Cũng vậy, này Sandha, con người hiền thiện, thuần
thục, khi đi đến khu rừng, khi đi đến gốc cây, khi đi đến
ngôi nhà trống, trú với tâm không bị dục tham ám ảnh, không
bị dục tham chinh phục, như thật quán tri sự xuất ly khỏi
dục tham đã khởi lên. Vị ấy an trú với tâm không bị sân
ám ảnh... Vị ấy an trú với tâm không bị si ám ảnh... Vị
ấy an trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên ám ảnh...
Vị ấy an trú với tâm không bị trạo hối ám ảnh... Vị
ấy an trú với không tâm bị nghi hoặc ám ảnh, không bị
nghi hoặc chinh phục, như thật rõ biết sự xuất ly ra khỏi
nghi hoặc đã khởi lên. Vị ấy Thiền tư không y chỉ vào
đất, Thiền tư không y chỉ vào nước, Thiền tư không y chỉ
vào lửa, Thiền tư không y chỉ vào gió, Thiền tư không y
chỉ vào Không vô biên xứ, Thiền tư không y chỉ vào Thức
vô biên xứ, Thiền tư không y chỉ vào Vô sở hữu xứ, Thiền
tư không y chỉ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Thiền tư
không y chỉ vào thế giới này, Thiền tư không y chỉ vào
thế giới sau, phàm điều gì được thấy, được nghe, được
cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm
cầu đến, được ý suy tư, thiền tư không y chỉ vào cái
ấy. Tuy vậy, vị ấy vẫn có Thiền tư. Lại nữa, này Sandha,
với vị ấy Thiền tư như vậy, chư Thiên với Thiên chủ,
các Phạm thiên với chúng Phạm thiên, dầu từ xa, đảnh lễ
con người hiền thiện thuần thục:
Chúng tôi đảnh lễ Ngài,
Con người hiền, thuần thục,
Chúng tôi đảnh lễ Ngài,
Con người bậc Thượng thủ,
Y chỉ gì Ngài Thiền,
Chúng tôi không được biết.
5. Khi nghe nói như vậy, Tôn giả Sandha
bạch Thế Tôn:
- Thiên như thế nào, bạch Thế
Tôn là con người hiền thiện thuần phục Thiền tư? Vị ấy
Thiền tư không y chỉ vào đất, Thiền tư không y chỉ vào
nước, Thiền tư không y chỉ vào lửa, Thiền tư không y chỉ
vào gió, Thiền tư không y chỉ vào Không vô biên xứ, Thiền
tư không y chỉ vào Thức vô biên xứ, Thiền tư không y chỉ
vào Vô sở hữu xứ, Thiền tư không y chỉ vào Phi tưởng
phi phi tưởng xứ, Thiền tư không y chỉ vào thế giới này,
Thiền tư không y chỉ vào thế giới sau, và phàm cái gì được
thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được
tầm cầu, được đạt đến, được ý suy tư, vị ấy Thiền
tư, không y chỉ vào cái ấy. Tuy vậy vị ấy vẫn thiền tư.
Thiền tư như thế nào, bạch Thế Tôn là con người hiền
thiện thuần thục, khiến chư Thiện với Thiên chủ, các Phạm
thiên với chúng Phạm thiên dầu từ xa, đảnh lễ con người
hiền thiện thuần thục:
Chúng tôi đảnh lễ Ngài,
Con người hiền, thuần thục,
Chúng tôi đảnh lễ Ngài,
Con người bậc Thượng thủ,
Y chỉ gì Ngài Thiền,
Chúng tôi không được biết.
6. Ở đây này Sandha, với con người
hiền thiện thuần thục, tưởng đất trong đất được sáng
tỏ, tưởng nước trong nước được sáng tỏ, tưởng lửa
trong lửa được sáng tỏ, tưởng Không vô biên xứ trong Không
vô biên xứ được sáng tỏ, tưởng Thức vô biên xứ trong
Thức vô biên xứ được sáng tỏ, tưởng Vô sở hữu xứ
trong Thức vô sở hữu xứ được sáng tỏ, tưởng Phi tưởng
phi phi tưởng xứ trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ được
sáng tỏ, tưởng thế giới này trong thế giới này được
sáng tỏ, tưởng thế giới sau trong thế giới sau được sáng
tỏ, phàm cái gì được thấy, được nghe, được cảm giác,
được thức tri, được tầm cầu, được đạt đến, được
ý suy tư, tưởng tại ấy được sáng tỏ. Thiền tư như vậy,
này Sandha là người đã hiền thiện thuần thục, vị ấy
Thiền tư không y chỉ vào đất, Thiền tư không y chỉ vào
nước, Thiền tư không y chỉ vào lửa, Thiền tư không y chỉ
vào gió, Thiền tư không y chỉ vào Không vô biên xứ, Thiền
tư không y chỉ vào Thức vô biên xứ, Thiền tư không y chỉ
vào Vô sở hữu xứ, Thiền tư không y chỉ vào Phi tưởng
phi phi tưởng xứ, Thiền tư không y chỉ vào thế giới này,
Thiền tư không y chỉ vào thế giới sau. Phàm cái gì được
thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được
đạt đến, được tầm cầu, được ý suy tư, Thiền tư không
y chỉ vào cái ấy. Tuy vậy vẫn có Thiền tư. Do Thiền tư
như vậy, này Sandha, là con người hiền thiện thuần thục,
khiến chư Thiện với Thiên chủ, các Phạm thiên với chúng
Phạm thiên dầu từ xa, đảnh lễ con người hiền thiện thuần
thục:
Chúng tôi đảnh lễ Ngài,
Con người hiền, thuần thục,
Chúng tôi đảnh lễ Ngài,
Con người bậc Thượng thủ,
Y chỉ gì Ngài Thiền,
Chúng tôi không được biết.
(XI) (11) Rừng Khổng Tước
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha
(Vương Xá) tại chỗ nuôi dưỡng khổng tước ở khu vườn
các du sĩ. Tại đấy, Thế Tôn gọi là Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
2. Thành tựu ba pháp, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh, cứu cánh an
ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh Phạm hạnh, cứu cánh mục
đích, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Thế
nào là ba?
3. Vô học giới uẩn, vô học định
uẩn, vô học tuệ uẩn.
Thành tựu với ba pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh,
cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh Phạm hạnh,
cứu cánh mục đích, bậc tối thượng giữa chư Thiên và
loài Người.
4. Lại thành tựu ba pháp, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh... chư
Thiên và loài Người. Thế nào là ba?
5. Thần biến thần thông, ký tâm
thần thông, giáo hóa thần thông.
Thành tựu với ba pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh...
chư Thiên và loài Người.
6. Lại thành tựu ba pháp khác, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh...
chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?
7. Với chánh tri kiến, với chánh
trí, với chánh giải thoát.
Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh... chư Thiên và
loài Người.
8. Thành tựu với hai pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh...
chư Thiên và loài Người. Thế nào là hai?
9. Với minh và với hạnh.
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh... chư
Thiên và loài Người.
10. Này các Tỷ-kheo, đây là những
bài kệ do Phạm thiên Sanamkumàra nói lên:
Sát-lỵ, chúng tối thắng,
Với người tin chủng tánh,
Bậc Minh Hạnh đầy đủ,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
Này các Tỷ-kheo, những bài kệ này
được khéo hát lên, không phải vụng hát, được khéo nói
lên, không phải vụng nói, liên hệ đến mục đích, không
phải không liên hệ đến mục đích, và được Ta chấp nhận.
Này các Tỷ-kheo, Ta cũng nói lên như vậy:
Sát-lỵ, chúng tối thắng,
Với người tin chủng tánh,
Bậc Minh Hạnh đầy đủ,
Tối thắng giữa chư Thiên.
II. Phẩm Tùy
Niệm
(I) (12) Mahànàma (1)
1. Một thời, Thế Tôn trú giữa
dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha. Lúc bấy
giờ, nhiều Tỷ-kheo đang may y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: "Y làm
xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi". Họ Thích Mahànàma
được nghe: "Nhiều Tỷ-kheo đang may y cho Thế Tôn, nghĩ rằng:
"Y làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi". Rồi
họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ
Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:
- Con nghe như sau, bạch Thế Tôn:
Có nhiều Tỷ-kheo đang may y cho Thế Tôn nghĩ rằng: "Y làm
xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi". Bạch Thế Tôn,
giữa các người an trú với những an trú khác nhau, chúng con
nên an trú với an trú nào?
2. Lành thay, lành thay, này Mahànàma!
Như vậy thật xứng đáng cho thiện nam tử các người, sau
khi đến Thế Tôn đã hỏi, đã thưa như vậy: "Bạch Thế
Tôn, giữa các người an trú với những an trú khác nhau, chúng
con nên an trú với an trú nào? " - "Hãy nhập cuộc này Mahànàma
với lòng tin, không phải với không lòng tin. Hãy nhập cuộc
với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc
với trú niệm, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với
định, không với không định. Hãy nhập cuộc với trí tuệ,
không với liệt tuệ".
Sau khi an trú trong năm pháp này,
này Mahànàma, hãy tu tập thêm sáu pháp nữa.
6. Ở đây, này Mahànàma, Ông hãy
tùy niệm Như Lai: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn".
Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, trong
khi ấy, tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh,
tâm không bị si ám ảnh, trong khi ấy, tâm được chánh trực
nhờ duyên Như Lai. Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma với tâm
chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín
thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan,
hỷ sanh; Khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm
giác được lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định
tỉnh. Này Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống
đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống
đạt được vô sản với chúng sanh có sân, nhập được pháp
lưu, tu tập Phật tùy niệm.
4. Lại nữa, này Mahànàma, Ông hãy
tùy niệm Pháp: "Khéo thuyết là pháp Thế Tôn thuyết giảng,
thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy,
có khả năng hướng thường, do người trí tự mình giác hiểu".
Này Mahànàma, trong khi vị Thánh đệ tử tùy niệm Pháp, trong
khi ấy, tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh,
tâm không bị si ám ảnh, trong khi ấy, tâm được chánh trực,
nhờ duyên Pháp. Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma, với tâm
chánh trực có được nghĩa tín thọ có được pháp tín thọ,
có được hân hoan liên hệ đến pháp; khi có hân hoan, hỷ
sanh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm
giác lạc thọ, khi có cảm giác lạc thọ, tâm được định
tỉnh. Này Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống
đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống
đạt được vô sân với chúng sanh có sân, nhập được pháp
lưu, tu tập Pháp tùy niệm.
5. Lại nữa, này Mahànàma, Ông hãy
tùy niệm Tăng: "Thiện hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, trực
hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, ứng lý hạnh là chúng đệ
tử Thế Tôn, tịnh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức
là bốn đôi, tám vị. Chúng đệ tử này của Thế Tôn là
đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được
cúng dường, đáng được chắp tay là ruộng phương vô thượng
ở đời". Này Mahànàma, trong khi vị Thánh đệ tử tùy niệm
Tăng, trong khi ấy, tâm không bị tham ám ảnh, tâm không bị
sân ám ảnh, tâm không bị si ám ảnh; trong khi ấy, tâm được
chánh trực nhờ duyên Tăng. Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma,
với tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được
pháp tín thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có
hân hoan, hỷ sanh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân
khinh an, cảm giác lạc thọ; khi có lạc tho, tâm được định
tỉnh. Này Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống
đạt được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống
đạt được vô sản với chúng sanh có sân, nhập được pháp
lưu, tu tập Tăng tùy niệm.
6. Lại nữa, này Mahànàma, Ông hãy
tùy niệm Giới của mình: "Không có bể vụn, không có cắt
xén, không có vết nhở, không có chấm đen, đưa đến giải
thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước,
đi đến Thiền định". Này Mahànàma, khi nào bậc Thánh đệ
tử tùy niệm Giới... trong khi ấy, tâm được chánh trực
nhờ duyên Giới... nhập được pháp lưu, tu tập Giới tùy
niệm.
7. Lại nữa, này Mahànàma, Ông hãy
tùy niệm Thí của mình: "Thật là được lợi cho ta! Thật
là khéo được lợi cho ta! (Vì rằng) với quần chúng bị
cấu uế xan tham chi phối, ta sống trong gia đình, với tâm
không bị cấu uế của xan tham chi phối, bố thí rộng rãi,
với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng, để được
yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí". Này Mahànàma, khi
nào bậc Thánh đệ tử tùy niệm Thí... Trong khi ấy, tâm được
chánh trực nhờ duyên Thí... nhập được pháp lưu tu tập
tùy niệm Thí.
8. Lại nữa, này Mahànàma, Ông hãy
tùy niệm Thiên: Có bốn Thiên vương thiên, có chư Thiên cõi
Trời Ba-mươi-ba, có chư Thiên Yàma, có chư Thiên Tusita (Ðâu-suất),
có chư Thiên Hóa lạc, có chư Thiên Tha hóa Tự tại, có chư
Thiên Phạm chúng, có chư Thiên cao hơn nữa. Ðầy đủ với
lòng tin như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này,
được sanh tại chỗ kia. Lòng tin như vậy cũng có đầy đủ
nơi Ta. Ðầy đủ với giới như vậy, chư Thiên ấy, sau khi
chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia, giới như vậy
cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầu đủ với nghe pháp như vậy,
chư Thiên ấy sau khi chết ở chỗ này, đựợc sanh tại chỗ
kia. Nghe như Pháp vậy cũng đầy đủ nơi Ta. Ðầy đủ với
thí như vậy, chư Thiên ấy sau khi chết ở chỗ này, được
sanh tại chỗ kia, thí như vậy cũng có đầy đủ nơi Ta. Ðầy
đủ với tuệ như vậy, chư Thiên ấy sau khi chết ở chỗ
này, được sanh tại chỗ kia. Tuệ như vậy cũng có đầy
đủ nơi Ta". Trong khi vị ấy tùy niệm tín, giới, nghe pháp,
thí và tuệ của tự mình và chư Thiên ấy, trong khi ấy, tâm
không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, không bị
si ám ảnh; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực nhờ
duyên chư Thiên... nhập được pháp lưu, tu tập chư Thiên
tùy niệm.
(II) (13) Mahànàma (2)
1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa
dân chúng Sakka tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Lúc bấy
giờ, họ Thích Mahànàma mới khỏi bệnh, khỏi bệnh không
bao lâu. Lúc bấy giờ, nhiềâu Tỷ-kheo đang may y cho Thế Tôn,
nghĩ rằng: "Y làm xong, Thế Tôn sẽ ra đi, bộ hành..." (Tới
đây, kinh này giống như kinh số 12 trước, từ số 1 đến
số 2, số 3 cho đến câu...) "Khi có lạc thọ, tâm được
định tỉnh. Tùy niệm Phật này, này Mahànàma, Ông cần phải
tu tập khi đi, Ông cần phải tu tập khi đứng, Ông cần phải
tu tập khi ngồi, Ông cần phải tu tập khi nằm, Ông cần phải
tu tập khi ngươi chú tâm vào các công việc, Ông cần phải
tu tập, khi Ông sống tại trú xứ đầy những con nít".
4. Lại nữa, này Mahànàma, , Ông
cần phải tu tập tùy niệm Pháp... tùy niệm Tăng... tùy niệm
Giới của mình... tùy niệm Thí của mình... tùy niệm chư
Thiên. Có bốn Thiên vương Thiên, có chư Thiên cõi trời Ba
mươi ba; có chư Thiên Dạ ma, có chư Thiên Ðâu suất đà,
có chư thiên Hóa Lạc, có chư Thiên Tha hóa Tự tại, có chư
Thiên Phạm chúng, có chư Thiên cao hơn nữa. Ðầy đủ với
lòng tin như vậy chư Thiên ấy, sau khi thân hoại mạng chung
được sanh tại chỗ kia. Lòng tin như vậy, cũng có đầy đủ
nơi Ta. Ðầy đủ với nghe Pháp như vậy, chư Thiên ấy, sau
khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia, nghe Pháp như
vậy cũng có đầy đủ ở nơi Ta. Ðầy đủ với thí như
vậy... đầy đủ với trí tuệ như vậy, chư Thiên ấy, sau
khi thân hoại mạng chung, được sanh tại chỗ kia. Trí tuệ
như vậy cũng có đầy đủ ở nơi Ta. Trong khi vị ấy tùy
niệm tín, giới, nghe pháp thí, tuệ của tự mình và chư Thiên
ấy, trong khi ấy, tâm không bị ám ảnh; trong khi ấy, tâm
không bị sân ám ảnh; trong khi ấy, tâm không bị si ám ảnh;
trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực nhờ duyên chư
Thiên. Này Mahànàma, vị Thánh đệ tử, với tâm chánh trực,
có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có được
hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan, hỷ sanh; khi có
hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm giác lạc thọ;
khi có lạc thọ, tâm được định tỉnh. Tùy niệm chư Thiên
này, này Mahànàma, Ông cần phải tu tập khi đi, Ông cần phải
tu tập khi đứng, Ông cần phải tu tập khi ngồi, Ông cần
phải tu tập khi nằm, Ông cần phải tu tập khi ngươi chú
tâm vào các công việc, Ông cần phải tu tập, khi Ông sống
tại trú xứ đầy những con nít.
(II) (14) Nandiya
1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa
dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Lúc bấy
giờ, Thế Tôn muốn an cư vào mùa mưa tại Sàvatthi. Họ Thích
Nandiya được nghe: "Thế Tôn muốn an cư vào mua mưa tại Sàvatthi".
Họ Thích Nandiya suy nghĩ như sau: "Ta hãy đến trú ở Sàvatthi
vào mùa mưa. Tại đây, ta sẽ chăm lo công việc, và thỉnh
thoảng có dịp được yết kiến Thế Tôn". Rồi Thế Tôn
đến trú ở Sàvatthi trong mùa mưa và họ Thích Nandiya cùng
đến trú ở Sàvatthi vào mùa mưa, và tại đấy chăm lo công
việc, và thỉnh thoảng có dịp được yết kiến Thế Tôn.
2. Lúc bấy giờ, nhiều vị Tỷ-kheo
làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: "Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba
tháng sẽ bộ hành ra đi". Họ Thích Nandiya được nghe: "Khi
y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ bộ hành ra đi". Họ Thích
Nandiya đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn
rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ Thích
Nandiya bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con nghe nói, nhiều
Tỷ-kheo làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: "Khi y làm xong, Thế
Tôn sau ba tháng sẽ bộ hành ra đi". Bạch Thế Tôn, giữa những
người an trú với những an trú khác nhau, chúng con nên an trú
với an trú của ai?
3. Lành thay, lành thay, này Nandiya.
như vậy thật xứng đáng cho thiện nam tử các Ông, sau khi
đi đến Thế Tôn đã hỏi như vậy: "Bạch Thế Tôn, giữa
các người an trú với các an trú khác nhau, chúng con nên an
trú với an trú của ai? ". Này Nandiya, hãy nhập cuộc với
lòng tin, không với không có lòng tin. Hãy nhập cuộc với
có giới, không phải với không giới. Hãy nhập cuộc với
tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc với
trú niệm, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với định,
không với không định. Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không
với liệt tuệ.
Sau khi an trú trong sáu pháp, này
Nandiya, hãy tu tập thêm nữa năm pháp này.
4. Ở đây, này Nandiya, Ông hãy tùy
niệm Như Lai: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Diều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn".
Như vậy, này Nandiya, duyên vào Như Lai, ông hãy an trú niệm
trong nội tâm.
5. Lại nữa, này Nandiya, Ông phải
tùy niệm Pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo nói, thiết thực
hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả
năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Như vậy, này Nandiya, duyên vào Pháp, Ông hãy an trú niệm trong
nội tâm.
6. lại nữa, này Nandiya, cần phải
tùy niệm bạn lành: "Thật có lợi cho ta! Thật khéo có lợi
cho ta, rằng ta có các bạn lành biết thương mến ta, muốn
ta được lợi ích, giáo giới giảng dạy". Như vậy, này Nandiya,
duyên vào bạn lành, Ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
7. Lại nữa, này Nandiya, cần phải
tùy niệm thí của mình: "Thật có lợi cho ta! Thật khéo có
lợi cho ta, rằng ta sống an trú với tâm ly cấu uế, xan tham,
cùng với quần chúng vị xan tham ám ảnh, bố thí rộng rãi,
với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được
yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí". Này Nandiya, như
vậy duyên vào thí, Ông hãy an trú niệm trong nội tâm.
8. Lại nữa, này Nandiya, hãy tùy
niệm chư Thiên: "Các chư Thiên ấy, vượt qua sự cộng trú
với chư Thiên dùng các món ăn đoàn thực, được sanh với
thân do ý tác thành, các chư Thiên ấy quán thấy tự mình
không có gì nữa phải làm, không cần phải làm lại những
gì đã làm. Ví như, này Nandiya, Tỷ-kheo được phi thời giải
thoát quán thấy tự mình không có gì nữa phải làm, không
cần phải làm lại những gì đã làm. Cũng vậy, này Nandiya,
các chư Thiên ấy vượt qua sự cộng trú với chư Thiên dùng
các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý tác thành,
các chư Thiên ấy quán thấy tự mình không có gì nữa phải
làm, không cần phải làm lại những gì đã làm. Như vậy,
này Nandiya, duyên mạnh vào chư Thiên, Ông hãy an trú niệm
trong nội tâm.
Thành tựu với mười một pháp
này, này Nandiya, vị Thánh đệ tử từ bỏ các ác bất thiện
pháp, không chấp thủ chúng. Ví như, này Nandiya, một cái ghè
bị chúc ngược, nước đã đổ ra, không thể đem hốt lại.
Ví như ngọn lửa đốt một khóm rừng đầy cỏ khô đã được
cháy lan tới, không có trở lui đốt lại vật đã bị cháy.
Cũng vậy, này Nandiya, thành tựu với mười một pháp này,
vị Thánh đệ tử từ bỏ các ác bất thiện pháp không có
chấp thủ chúng.
(VI) (15) Subhùti
1. Rồi Tôn giả Subhùti, cùng với
một Tỷ-kheo có lòng tin đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với
Tôn giả Subhùti đang ngồi một bên:
- Này Subhùti, Tỷ-kheo này tên là
gì?
- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này có
lòng tin, con một nam cư sĩ có lòng tin, đã vì lòng tin xuất
gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
- Này Subhùti, Tỷ-kheo có lòng tin
này, con một người an cư sĩ có lòng tin, đã xuất gia vì
lòng tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, người ấy
có được thấy sống trong những tiêu chuẩn về lòng tin của
một người có lòng tin không?
- Bạch Thế Tôn, nay là thời cho
vấn đề này! Bạch Thiện Thệ, nay là thời cho vấn đề
này, để Thế Tôn thuyết các tiêu chuẩn về lòng tin của
một người có lòng tin; nay con sẽ biết được: "Vị Tỷ-kheo
này có được thấy là sống trong những tiêu chuẩn về lòng
tin của một người có lòng tin hay không? "
- Vậy này Subhùti, hãy nghe và khéo
tác ý, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Subhùti vâng đáp Thế Tôn,
Thế Tôn nói như sau:
2. Ở đây, này Subhùti, Tỷ-kheo
có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn
Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong
những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học
pháp. Này Subhùti, vị Tỷ-kheo nào có giới, sống chế ngự
với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai
nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt,
chấp nhận và tu học trong các học pháp. Này Subhùti, đây
là tiêu chuẩn về lòng tin của một người có lòng tin.
3. Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo
nghe nhiều, thọ trì những gì đã nghe, tích tập những gì
đã nghe. Những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện,
có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn
viên mãn thanh tịnh, những pháp ấy, vị ấy đã nghe nhiều,
đã thọ trì, đã tụng đọc bằng lời, đã quán sát với
ý, đã thể nhập với chánh kiến. Này Subhùti, Tỷ-kheo nào
nghe nhiều... với chánh kiến. Này Subhùti, đây là tiêu chuẩn
về lòng tin của một người có lòng tin.
4. Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo
làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với
thiện. Này Subhùti, Tỷ-kheo nào làm bạn với thiện, thân
hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này Subhùti, đây là
tiêu chuẩn về lòng tin của một người có lòng tin.
5. Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo
là người dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người
dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới.
Này Subhùti, Tỷ-kheo nào dễ nói, thành tựu những pháp tác
thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những
lời giáo giới. Này Subhùti, đây là tiêu chuẩn về lòng tin
của một người có lòng tin.
6. Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo
phàm có những công việc gì cần phải làm, hoặc lớn, hoặc
nhỏ, đối với các vị đồng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy
khéo léo và tinh cần, thành tựu sự quán sát các phương tiện,
vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này Subhùti, Tỷ-kheo
nào, phàm có những công việc gì... vừa đầy đủ để tổ
chức. Này Subhùti, đây là tiêu chuẩn về lòng tin của mọi
người có lòng tin.
7. Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo
ưa pháp, lời nói dễ thương, hân hoan lớn trong thắng Pháp,
trong thắng Luật. Này Subhùti, phàm Tỷ-kheo nào ưa pháp, lời
nói dễ thương hân hoan lớn trong thắng Pháp, thắng Luật.
Này Subhùti, đây là tiêu chuẩn về lòng tin của một người
có lòng tin.
8. Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo
sống tinh cần, tinh tấn đoạn trừ các pháp bất thiện, làm
cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không bỏ
rơi gánh nặng đối với các thiện pháp. Này Subhùti, phàm
vị Tỷ-kheo nào sống tinh cần, tinh tấn đoạn trừ các pháp
bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực, kiên
trì không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp. Này
Subhùti, đây là tiêu chuẩn về lòng tin của một người có
lòng tin.
9. Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo
đối với bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại
lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc,
có được không phí sức. Này Subhùti, phàm vị Tỷ-kheo đối
với bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện hiện tại
lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc,
có được không phí sức. Này Subhùti, đây là tiêu chuẩn
về lòng tin của một người có lòng tin.
10. Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo
nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời,
ba đời, bốn đời, năm đời, sáu đời, bảy đời, tám đời,
chín đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn
mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời,
một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều
thành kiếp, nhiều hoại thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại
chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này,giai
cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ
đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được
sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này,
dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc
như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết
tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy, vị ấy
nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại
cương và các chi tiết. Này Subhùti, phàm Tỷ-kheo nhớ đến
nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời... vị
ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ với các nét đại
cương và các chi tiết. Này Subhùti, đây là tiêu chuẩn về
lòng tin của một người có lòng tin.
11. Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo
với thiện nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết
của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ
liệt, kẻ cao sang, người đẹp để, kẻ thô xấu, người
may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những
chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ngữ và ý, phỉ báng
các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến.
Những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào
cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh
nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ
báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh
kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung được
sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Này Subhùti,
phàm Tỷ-kheo với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự
sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng
sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô
xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp
của họ. Như vậy này Subhùti, là tiêu chuẩn về lòng tin
của người có lòng tin.
12. Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo
do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình
chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu
tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Nầy Subhùti, Tỷ-kheo do đoạn
diệt các lậu hoặc..., sau khi chứng ngộ, chứng đạt và
an trú, này Subhùt, đây là tiêu chuẩn về lòng tin của người
có lòng tin.
13. Khi nghe nói vậy, Tôn giả Subhùti
bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, các tiêu chuẩn
về lòng tin của người có lòng tin này được Thế Tôn thuyết
giảng, là có trong Tỷ-kheo này các Tỷ-kheo này được thấy
là có chúng. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này là có giới, sống
chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy
đủ uy nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ
nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp. Bạch Thế
Tôn, Tỷ-kheo này nghe nhiều, thọ trì những gì đã nghe, chất
chứa tích tập những gì đã nghe, những pháp nào sơ thiện,
trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống
Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Những pháp ấy,
vị ấy đã nghe nhiều, đã thọ trì, đã tụng đọc bằng
lời, đã quán sát với ý, đã thể nhập với chánh kiến.
Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này làm bạn với thiện, thân hữu
với thiện, giao thiệp với thiện. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo
này là người dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người
dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới.
Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này, phàm có những công việc gì cần
phải làm, hoặc lớn, hoặc nhỏ, đối với các vị đồng
Phạm hạnh, ở đây, vị ấy khéo léo và tinh cần, thành tựu
sự quán sát các phương tiện vừa đủ để làm, vừa đủ
để tổ chức. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này ưa pháp, lời nói
dễ thương, hân hoan lớn trong thắng Pháp, thắng Luật. Bạch
Thế Tôn, Tỷ-kheo này sống tinh cần tinh tấn, đoạn trừ
các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ
lực, kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện
pháp. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này, đối với bốn Thiền thuộc
tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó
khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.
Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này nhớ đến nhiều đời sống quá
khử, như một đời, hai đời... nhớ đến nhiều đời sống
quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết. Bạch Thế
Tôn, Tỷ-kheo này với thiên nhãn thần tịnh siêu nhân.... rõ
biết các chúng sanh, tùy theo hạnh nghiệp của họ. Bạch Thế
Tôn, Tỷ-kheo này do đoạn diệt các lậu hoặc... chứng ngộ,
chứng đạt và an trú. Bạch Thế Tôn, các tiêu chuẩn về
lòng tin này được Thế Tôn thuyết giảng là có trong Tỷ-kheo
này. Và Tỷ-kheo này được thấy là có chúng.
14. Lành thay, lành thay này Subhùti!
Vậy này Subhùti, Thầy hãy an trú với Tỷ-kheo, có lòng tin
này. Khi nào, này Subhùti Thầy muốn yết kiến Như Lai, hãy
cùng với Tỷ-kheo có lòng tin này đi đến yết kiến Như Lai.
(V) (16) Từ
1. Này các Tỷ-kheo, từ tâm giải
thoát được thực hành, được tu tập, được làm cho sung
mãn, được tác thành cỗ xe, được tác thành căn cứ địa,
được tiếp tục an trú, được tích tập, được khéo khởi
sự thời được chờ đợi là mười một lợi ích. Thế nào
là mười một?
2. Ngủ an lạc, thức an lạc, không
ác mộng được loài Người ái mộ, được phi nhân ái một,
chư Thiên bảo hộ, không bị lửa, thuốc độc, kiếm xúc
chạm, tâm được định mau chóng, sắc mặt trong sáng, mệnh
chung không hôn ám; nếu chưa thể nhập thượng pháp (A-la-hán
quả); được sanh lên Phạm thiên giới.
Này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát
được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn,
được tác thành cỗ xe, được tác thành căn cứ địa, được
tiếp tục an trú, được tích tập, được khéo khởi sự
thời được chờ đợi là mười một lợi ích.
(VI) (17) Gia Chủ Dasama
1. Một thời, Tôn giả Ananda trú
ở Vesàli, tại làng Beluvagàmaka. Lúc bấy giờ, gia chủ Dasama,
trú ở thành Atthaka, đã đi đến Pàtiliputta vì một vài công
việc. Rồi gia chủ Dasama, dân ở thành Atthaka đi đến một
Tỷ-kheo, sau khi đến, thưa với Tỷ-kheo ấy:
- Thưa Tôn giả, Tôn giả Ananda nay
trú ở đâu? Thưa Tôn giả, con muốn yết kiến Tôn giả Ananda.
- Này Gia chủ, Tôn giả Ananda nay
trú ở Vesàli, tại làng Beluvagàmaka.
2. Rồi gia chủ Dasama, dân ở thành
Atthaka, sau khi làm công việc xong ở Pàtiliputta, đi đến Vesàli,
Beluvagàmaka, đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, đảnh lễ
Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một
bên, gia chủ Dasama, dân ở thành Atthaka thưa với Tôn giả
Ananda:
- Có một pháp nào, thưa Tôn giả
Ananda được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khéo nói, chính ở nơi đây, Tỷ-kheo
trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sẽ giải thoát
tâm chưa được giải thoát, hay sẽ đưa đến chấm dứt các
lậu hoặc chưa được đoạn tận, hay đạt được vô thượng
an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được?
- Này Gia chủ, có một pháp, được
Thế Tôn bậc đã biết... hay đạt được vô thượng an ổn
khỏi các ách khổ chưa đạt được.
- Nhưng thưa Tôn giả Ananda, một
pháp ấy là gì, được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã
thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khéo thuyết, chính ở
nơi đây, Tỷ-kheo trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần,
sẽ giải thoát tâm chưa được giải thoát, hay sẽ đưa đến
chấm dứt các lậu hoặc chưa được đoạn tận, hay đạt
được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được?
3. Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo
ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiên thứ
nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có
tứ. Vị ấy quán sát như sau: "Thiền thứ nhất này thuộc
tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm". Phàm cái
gì thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm,
vị ấy quán tri: "Cái gì là vô thường, chịu sự đoạn diệt".
Vị ấy an trú ở đấy, đạt được sự đoạn diệt các
lậu hoặc. Nếu không đạt được sự đoạn diệt các lậu
hoặc, với tham ái ấy đối với Pháp, với hoan hỷ ấy đối
với Pháp, với sự đoạn diệt năm hạ hần kiết sử, vị
ấy được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn phải
trở lui thế giới ấy nữa. Này Gia chủ, đây là một pháp
này, được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác... vô thượng an ổn khỏi các khổ
ách chưa đạt được.
4. Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo,
làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền
thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm,
không tứ, nội tỉnh nhất tâm,... và an trú Thiền thứ ba...
và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy quán sát như sau: "Thiền
thứ tư này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng
tâm". Phàm cái gì... không còn phải trở lui thế giới ấy
nữa. Này Gia chủ, đây là một pháp này, được Thế Tôn,
bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác...
vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được.
5. Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo
với tâm câu hữu với từ an trú biến mãn một phương; như
vậy phương thứ hai; như vậy phương thứ ba; như vậy phương
thứ tư; như vậy cùng khắp thế giới trên, dưới, bề ngang,
hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an
trú biến mãn với tâm cầu hữu với từ, quảng đại, vô
biên, không hận, không sân. Vị ấy quán sát như sau: "Từ
tâm giải thoát này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng
thượng tâm". Phàm cái gì... không còn trở lui thế giới ấy
nữa. Này Gia chủ, đây là một pháp, được Thế Tôn, bậc
đã biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, , Chánh Ðẳng Giác...
vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được.
6. Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo
với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với
tâm câu hữu với xả, an trú biến mãn một phương; như vậy
phương thứ hai; như vậy phương thứ ba; như vậy phương thứ
tư; như vậy cùng khắp thế giới trên, dưới, bề ngang, hết
thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú
biến mãn với tâm cầu hữu với từ, quảng đại, vô biên,
không hận, không sân. Vị ấy quán sát như sau: "Xả tâm giải
thoát này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng
tâm". Phàm cái gì... không còn trở lui thế giới ấy nữa.
Này Gia chủ, đây là một pháp, được Thế Tôn, bậc đã
biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, , Chánh Ðẳng Giác... vô
thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được.
7. Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo
vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các
tưởng chướng ngại, không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ
rằng: "Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không vô
biên xứ. Vị ấy quán sát như sau: "Chứng đắc Không vô biên
xứ này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng
tâm". Phàm cái gì... không còn trở lui thế giới ấy nữa.
Này Gia chủ, đây là một pháp, được Thế Tôn, bậc đã
biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, , Chánh Ðẳng Giác... vô
thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được.
8. Lại nữa, này Gia chủ, sau khi
vượt Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: "Thức
là vô biên, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ... sau
khi vượt Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng:
"Vô sở hữu xứ", chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ.
Vị ấy quán sát như sau: "Chứng đắc Vô sở hữu xứ này
thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm". Phàm
cái gì... không còn trở lui thế giới ấy nữa. Này Gia chủ,
đây là một pháp, được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã
thấy, bậc A-la-hán, , Chánh Ðẳng Giác... vô thượng an ổn
khỏi các khổ ách chưa đạt được.
9. Khi nghe nói vậy, gia chủ Dasama,
dân ở thành Atthaka thưa với Tôn giả Ananda:
- Thưa Tôn giả Ananda, ví như một
người tìm một cái cửa vào chỗ chôn cấy, trong một lúc,
tìm ra được mười một cái cửa. Cũng vậy, thưa Tôn giả,
trong khi đi tìm một cửa bất tử, trong một lúc, con tìm ra
mười một cái cửa bất tử. Ví như, thưa Tôn giả, trong
một ngôi nhà chỉ có một cái cửa, và nhà ấy bị cháy,
người ấy chỉ có thể ra bằng một cửa để có thể được
an toàn cho mình. Cũng vậy, thưa Tôn giả, với mười một
cửa bất tử này, con có thể tạo được sự an toàn, cho
con với chỉ một cửa bất tử. Thưa Tôn giả, các ngoại
đạo này sẽ tìm cầu tài sản của sư cho sư, tại sao con
lại không đảnh lễ Tôn giả Aụnanda?
10. Rồi gia chủ Dasama, dân ở thành
phố Atthaka mời họp các Tỷ-kheo chúng ở Vesàli và Pàtaputta,
với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, tự
tay dân cúng cho đến khi chúng Tăng được thỏa mãn, và mỗi
Tỷ-kheo cúng một đôi y. Nhưng riêng đối với Tôn giả Ananda,
vị ấy cúng ba y đầy đủ và xây dựng một ngôi tinh xá
giá trị 500 đồng tiền.
(VII) (18) Người Chăn Bò
1. Thành tựu mười một chi phần,
này các Tỷ-kheo, một người chăn bò không có thể lãnh đạo
đàn bò và khiến đàn bò được tăng trưởng. Thế nào là
mười một?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người
chăn bò không biết sắc, không thiện xảo trong tướng; không
trừ khử trứng ruồi; không băng bó vết thương; không có
xông khói; không biết chỗ nước có thể lội qua; không biết
chỗ nước uống được; không biết đường; không thiện
xảo chỗ bò có thể ăn, nặn sữa đến kiệt quệ; đối
với các con bò đực, con bò cha, con bò lãnh đạo; không có
đặc biệt kính trọng.
Thành tựu mười một chi phần này,
người chăn bò không có thể lãnh đạo đàn bò và khiến
đàn bò được tăng trưởng.
3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành
tựu với mười một pháp, Tỷ-kheo không có thể được tăng
trưởng, tăng thịnh, tăng rộng rãi trong pháp luật này. Thế
nào là mười một?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không biết sắc, không thiện xảo trong tướng; không trừ
khử trứng ruồi; không băng bó vết thương; không có xông
khói; không biết chỗ nước có thể lội qua; không biết chỗ
nước uống được; không biết đường; không thiện xảo
chỗ bò có thể ăn, nặn sữa đến kiệt quệ; đối với
với Tỷ-kheo trưởng lão, kỳ cựu, xuất gia đã lâu ngày,
bậc cha trong Tăng chúng, bậc lãnh đạo trong Tăng chúng, không
có đặc biệt kính trọng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo không biết sắc?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo,
phàm sắc gì do bốn đại hay do bốn đại tác thành, vị ấy
không như thật quán trị sắc ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là Tỷ-kheo không biết sắc. Và này các Tỷ-kheo, như thế
nào là Tỷ-kheo không thiện xảo trong các tướng?
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không như thật quán tri nghiệp tướng của người ngu, nghiệp
tướng của người trí. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
không thiện xảo trong các tướng. Và này các Tỷ-kheo, như
thế nào là Tỷ-kheo không trừ khử trứng ruồi?
7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đối với dục tầm được khởi lên, chấp nhận, không từ
bỏ, không tẩy sạch, không chấm dứt, không đưa đến không
thể tái sanh. Ðối với sân tầm được khởi lên... đối
với hại tầm được khởi lên, chấp nhận không từ bỏ,
không tẩy sạch, không chấm dứt, không đưa đến không thể
tái sanh.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
không trừ khử trứng các loài ruồi. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là không có băng bó vết thương?
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi mắt thấy sắc, nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng
riêng. Những nguyên nhân gì khiến tham, ưu, các ác bất thiện
pháp khởi lên, Tỷ-kheo không tự chế ngự nguyên nhân ấy,
không hộ trì nhãn căn, không thực hành sự hộ trì nhãn căn.
Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương...... khi lưỡi nếm
vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận thức các pháp, vị ấy
nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. những nguyên
nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ưu, các
ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo không chế ngự nguyên
nhân ấy, không hộ trì ý căn, không thực hành sự hộ trì
ý căn.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
không băng bó vết thương. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo không xông khói?
9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không thuyết pháp rộng rãi cho các người khác, như đã được
nghe, như đã được hiểu biết.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
không xông khói. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo
không biết chỗ nước có thể lội qua.
10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, được trao truyền giáo
điển, là bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Tỷ-kheo
thỉnh thoảng đến thăm những vị ấy, nhưng không đặt câu
hỏi, không thẩm vấn: "Thưa Tôn giả, vấn đề này thế nào?
Nghĩa vấn đề này là gì? " Các vị Tôn giả ấy không có
khai mở những gì chưa khai mở, không có hiển lộ những gì
chưa hiển hộ, không có tẩy sạch sự nghi ngờ đối với
các pháp còn chỗ nghi ngờ.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không biết chỗ nước có thể lội qua được. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không biết chỗ nước uống?
11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi Pháp và Luật được thuyết giảng do Như Lai thuyết
giảng, không được nghĩa tín thọ atthaveda, không được pháp
tín thọ, không pháp tín thọ, không được hân hoan liên hệ
đến Pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không biết
chỗ nước uống. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
không biết con đường?
12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không như thật quán tri con đường Thánh đạo, Thánh đạo
tám ngành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không rõ
biết con đường. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
không thiện xảo trong các chỗ bò ăn cỏ?
13. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không như thậĩt quán tri Bốn niệm xứ. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không thiện xảo trong các chỗ bò ăn cỏ.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo nặn sữa bò
cho đến khô kiệt?
14. Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi
các tín nam, tín nữ cúng dường, đem lại cúng dường hết
sức đầy đủ các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực,
sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, ở đây Tỷ-kheo không biết
thâu nhận vừa phải.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
nặn sữa bò đến khô kiệt. Và này các Tỷ-kheo, như thế
nào, đối với các Tỷ-kheo Trưởng lão, kỳ cựu, xuất gia
đã lâu ngày, bậc cha trong Tăng chúng, bậc lãnh đạo trong
Tăng chúng, không có đặc biệt kính trọng?
15. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo nào là bậc Trưởng lão, kỳ cựu, xuất gia đã lâu
ngày, bậc chan trong Tăng chúng, bậc lãnh đạo trong Tăng chúng,
với các vị ấy, không có đối xử với từ thân hành, trước
mặt và sau lưng... với từ khẩu hành... với từ ý hành,
trước mặt và sau lưng.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đối với các Tỷ-kheo Trưởng lão, kỳ cựu, xuất gia đã
lâu ngày, là bậc cha trong Tăng chúng, là bậc lãnh đạo trong
Tăng chúng, đối với các vị ấy không có đặc biệt tôn
kính.
Thành tựu với mười một pháp
này, Tỷ-kheo không có thể tăng trưởng, tăng thịnh, tăng
rộng rãi trong Pháp và Luật này.
16. Thành tựu với mười một chi
phần, này các Tỷ-kheo, người chăn bò có thể lãnh đạo
đàn bò và khiến đàn bò được tăng trưởng. Thế nào là
mười môĩt?
17. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người
chăn bò biết sắc, thiện xảo trong tướng; trừ khử trứng
ruồi; băng bó vết thương; có xông khói; biết chỗ nước
có thể lội qua; biết chỗ nước uống được; biết đường;
thiện xảo chỗ bò có thể ăn, không nặn sữa đến kiệt
quệ; đối với các con bò đực, con bò cha, con bò lãnh đạo;
có đặc biệt kính trọng.
Thành tựu mười một chi phần này,
người chăn bò có thể lãnh đạo đàn bò và khiến đàn bò
được tăng trưởng.
18. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành
tựu với mười một pháp, Tỷ-kheo có thể được tăng trưởng,
tăng thịnh, tăng rộng rãi trong Pháp và Luật này. Thế nào
là mười một?
19. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
biết sắc, thiện xảo trong tướng; trừ khử trứng ruồi;
băng bó vết thương; có xông khói; biết chỗ nước có thể
lội qua; biết chỗ nước uống được; biết đường; thiện
xảo chỗ bò có thể ăn, không nặn sữa đến kiệt quệ;
đối với với Tỷ-kheo trưởng lão, kỳ cựu, xuất gia đã
lâu ngày, bậc cha trong Tăng chúng, bậc lãnh đạo trong Tăng
chúng, có đặc biệt kính trọng. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là Tỷ-kheo biết sắc?
20. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo,
phàm sắc gì do bốn đại hay do bốn đại tác thành, vị ấy
như thật quán trị sắc ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
Tỷ-kheo biết sắc. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo
thiện xảo trong các tướng?
21. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
như thật quán tri nghiệp tướng của người ngu, nghiệp tướng
của người trí. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo thiện
xảo trong các tướng. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là
Tỷ-kheo trừ khử trứng ruồi?
22. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đối với dục tầm được khởi lên, không chấp nhận, từ
bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đưa đến không thể tái sanh.
Ðối với sân tầm được khởi lên... đối với hại tầm
được khởi lên, không chấp nhận từ bỏ, tẩy sạch, chấm
dứt, đưa đến không thể tái sanh.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
trừ khử trứng các loài ruồi. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là có băng bó vết thương?
23. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm
giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến tham, ưu, các
ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên
nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn.
Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương...... khi lưỡi nếm
vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận thức các pháp, vị ấy
không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
Những nguyên nhân gì, vì ý căn được chế ngự, khiến tham
ưu, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên
nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
băng bó vết thương. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
xông khói?
24. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
thuyết pháp rộng rãi cho các người khác, như đã được
nghe, như đã được hiểu biết.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
xông khói. Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo biết
chỗ nước có thể lội qua?
25. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, được trao truyền giáo
điển, là bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Tỷ-kheo
thỉnh thoảng đến thăm những vị ấy, đặt câu hỏi, thẩm
vấn: "Thưa Tôn giả, vấn đề này thế nào? Nghĩa là vấn
đề này là gì? " Các vị Tôn giả ấy có khai mở những gì
chưa khai mở, hiển lộ những gì chưa hiển hộ, tẩy sạch
nghi vấn trong những vấn đề còn nghi vấn.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
biết chỗ nước có thể lội qua được. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là Tỷ-kheo biết chỗ nước uống được?
26. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi Pháp và Luật được thuyết giảng do Như Lai thuyết
giảng, được nghĩa tín thọ được pháp tín thọ, pháp tín
thọ, được hân hoan liên hệ đến Pháp. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết chỗ nước uống. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là Tỷ-kheo biết con đường?
27. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
như thật quán tri con đường Thánh đạo, Thánh đạo tám ngành.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo rõ biết con đường.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo trong các
chỗ bò ăn cỏ?
28. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
như thật quán tri Bốn niệm xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo thiện xảo trong các chỗ bò ăn cỏ. Và này các Tỷ-kheo,
như thế nào là Tỷ-kheo nặn sữa bò còn để sữa lại?
29. Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi
các tín nam, tín nữ cúng dường, đem lại hết sức đầy
đủ các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa,
dược phẩm trị bệnh, ở đây Tỷ-kheo biết thâu nhận vừa
phải.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
nặn sữa bò còn để lại sữa. Và này các Tỷ-kheo, như thế
nào, đối với các Tỷ-kheo Trưởng lão, kỳ cựu, xuất gia
đã lâu ngày, bậc cha trong Tăng chúng, bậc lãnh đạo trong
Tăng chúng, có đặc biệt kính trọng?
30. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo nào là bậc Trưởng lão, các bậc kỳ cựu, xuất
gia đã lâu ngày, bậc cha trong Tăng chúng, bậc lãnh đạo trong
Tăng chúng, với các vị ấy, có đối xử với từ thân hành,
trước mặt và sau lưng... với từ khẩu hành... với từ ý
hành, trước mặt và sau lưng.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đối với các Tỷ-kheo Trưởng lão, kỳ cựu, xuất gia đã
lâu ngày, là bậc cha trong Tăng chúng, là bậc lãnh đạo trong
Tăng chúng, với các vị ấy, có đặc biệt tôn kính.
Thành tựu với mười một pháp
này, Tỷ-kheo không có thể tăng trưởng, tăng thịnh, tăng
rộng rãi trong Pháp và Luật này.
(VIII) (19) Thiền Ðịnh (1)
1. Bấy giờ có một số đông Tỷ-kheo
đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo bạch Thế
Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có thể chăng một
Tỷ-kheo chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể
trong đất, không tưởng đến đất; trong nước, không tưởng
đến nước; trong lửa, không tưởng đến lửa; trong gió,
không tưởng đến gió; trong Không vô biên xứ, không tưởng
đến Không vô biên xứ; trong Thức vô biên xứ, không tưởng
đến Thức vô biên xứ; trong Vô sở hữu xứ, không tưởng
đến Vô sở hữu xứ; trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không
tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong thế giới
hiện tại, có thể không tưởng đến thế giới hiện tại;
trong thế giới đời sau, có thể không tưởng đến thế giới
đời sau; tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng?
- Này các Tỷ-kheo, có thể như vậy,
một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy
có thể trong đất, không tưởng đến đất; trong nước, không
tưởng đến nước; trong lửa, không tưởng đến lửa; trong
gió, không tưởng đến gió; trong Không vô biên xứ, không
tưởng đến Không vô biên xứ; trong Thức vô biên xứ, không
tưởng đến Thức vô biên xứ; trong Vô sở hữu xứ, không
tưởng đến Vô sở hữu xứ; trong Phi tưởng phi phi tưởng
xứ, không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong
thế giới hiện tại, không tưởng đến thế giới hiện tại;
trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời
sau; tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng.
- Nhưng bạch Thế Tôn, như thế
nào một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị
ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất...; trong thế
giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau; tuy
vậy vị ấy vẫn có tưởng?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
tưởng như sau: "Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức
là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh
y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền
định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến
đất; trong nước, không tưởng đến nước...; trong thế giới
đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau. Và trong những
gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức
tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý suy tư,
tại đấy, vị ấy có thể không có tưởng. Tuy vậy vị ấy
vẫn có tưởng?
(IX) (20) Thiền Ðịnh (2)
1. Tại đấy, Thế Tôn gọi các
Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, có thể chăng
một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy
có thể trong đất, không tưởng đến đất; trong nước, có
thể không tưởng đến nước; trong lửa, có thể không tưởng
đến lửa; trong gió, có thể không tưởng đến gió; trong
Không vô biên xứ, có thể không tưởng đến Không vô biên
xứ; trong Thức vô biên xứ, có thể không tưởng đến Thức
vô biên xứ; trong Vô sở hữu xứ, có thể không tưởng đến
Vô sở hữu xứ; trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, có thể
không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong thế
giới hiện tại, có thể không tưởng đến thế giới hiện
tại; trong thế giới đời sau, có thể không tưởng đến
thế giới đời sau. Phàm cái gì được thấy, được nghe,
được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được
tầm cầu, được ý suy tư. Tại đấy, vị ấy có thể không
có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng.
2. Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo
khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong
đất, không tưởng đến đất...; được ý suy tư. Tại đấy,
vị ấy không có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng.
- Như thế nào, bạch Thế Tôn, một
Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có
thể trong đất, không tưởng đến đất...; được ý suy tư.
Tại đấy, vị ấy không có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn
có tưởng?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo,. Tỷ-kheo
tưởng như sau: ""Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức
là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh
y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền
định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến
đất; trong nước, không tưởng đến nước...; được ý suy
tư, tại đấy, vị ấy có thể không có tưởng. Tuy vậy vị
ấy vẫn có tưởng.
(X) (21) Thiền Ðịnh (3)
1. Rồi một số đông Tỷ-kheo đi
đến Tôn giả Sàriputta... (như kinh số 7, chương mười
pháp, chỉ khác đây là Tôn giả Sàriputta).
(XI) (22) Thiền Ðịnh (4)
1. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta
nói với các Tỷ-kheo:
- Này chư Hiền, có thể chăng một
Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định... được ý suy tư.
Tại đấy, vị ấy có thể không có tưởng; tuy vậy, vị
ấy vẫn có tưởng?
- Thưa Hiền giả, chúng tôi từ
xa đi đến để được biết ý nghĩa của lời nói này từ
Tôn giả Sàriputta. Lành thay, nếu ý nghĩa lời nói này được
Tôn giả Sàriputta nói lên. Sau khi nghe Tôn giả Sàriputta, các
Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này chư Hiền, hãy nghe và
khéo tác ý, tôi sẽ nói.
- Thưa vâng, Hiền giả, các Tỷ-kheo
ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như
sau:
2. Này các Hiền giả, Tỷ-kheo khi
chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong
đất, không tưởng đến đất... được ý suy tư. Tại đấy,
vị ấy có thể không có tưởng. Tuy vậy, vị ấy vẫn có
tưởng.
- Như thế nào, thưa Hiền giả Sàriputta,
một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy
có thể trong đất, không tưởng đến đất... được ý suy
tư; tại đất, vị ấy có thể không có tưởng; tuy vậy,
vị ấy vẫn có tưởng?
- Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo
tưởng như sau... (như số 20 kinh trước)... tuy vậy, vị ấy
vẫn có tưởng.
III. Phẩm Ba
: Tổng Kết
(I) (23) Người Chăn Bó
1. Này các Tỷ-kheo, thành tựu với
mười một chi phần, người chăn bò không có thể là người
lãnh đạo bò và đưa đàn bò đến tăng trưởng. Thế nào
là mười một?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người
chăn bò không biết sắc, không thiện xảo trong tướng; không
trừ khử trứng ruồi; không băng bó vết thương; không có
xông khói; không biết chỗ nước có thể lội qua; không biết
chỗ nước uống được; không biết đường; không thiện
xảo chỗ bò có thể ăn, nặn sữa đến kiệt quệ; đối
với các con bò đực, bậc cha đàn bò, Bậc lãnh đạo đàn
bò ; không có đặc biệt kính trọng.
Thành tựu mười một chi phần này,
người chăn bò không có thể lãnh đạo đàn bò và khiến
đàn bò được tăng trưởng.
3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành
tựu với mười một pháp, vị Tỷ-kheo không có thể trú tùy
quán vô thường trong con mắt... không có thể trú tùy quán
khổ trong con mắt... không có thể trú tùy quán vô ngã trong
con mắt... không có thể trú tùy quán hoại diệt trong con mắt...
không có thể trú tùy quán hủy diệt trong con mắt.. không
có thể trú tùy quán ly tham trong con mắt... không có thể trú
tùy quán đoạn diệt trong con mắt... không có thể trú tùy
quán từ bỏ trong con mắt... trong lỗ tai... trong lỗ mũi...
trong lưỡi... trong thân... trong ý... trong các sắc... trong các
tiếng... trong các hương... trong các vị... trong các xúc...
trong các pháp... trong nhãn thức... trong nhĩ thức... trong tỷ
thức.... trong thiệt thức... trong thân thức... trong ý thức...
trong nhãn xúc... trong nhĩ xúc... trong tỷ xúc.... trong thiệt
xúc... trong thân xúc... trong ý xúc... trọng thọ do nhãn xúc
sanh... trọng thọ do nhĩ xúc sanh... trọng thọ do tỷ xúc sanh...
trọng thọ do thiệt xúc sanh... trọng thọ do thân xúc sanh...
trọng thọ do ý xúc sanh... trong sắc tưởng... trong thanh tưởng...
trong hương tưởng... trong vị tưởng... trong xúc tưởng...
trong pháp tưởng... trong sắc tư... trong thanh tư... trong hương
tư... trong vị tư... trong xúc tư... trong pháp tư... trong sắc
ái... trong thanh ái... trong hương ái... trong vị ái... trong
xúc ái... trong pháp ai... trong sắc tầm... trong thanh tầm...
hương tầm... trong vị tầm... trong xúc tầm... trong pháp tầm...
trong sắc tứ... trong thanh tứ... trong hương tứ... trong vị
tứ... trong xúc tứ... trú tùy quán... vô thường trong pháp
tứ... trú tùy quán khổ... trú tùy quán vô ngã... trú tùy
quán hoại diệt... trú tùy quán hủy diệt... trú tùy quán
ly tham... trú tùy quán đoạn diệt... trú tùy quán từ bỏ.
4. Thành tựu mười một pháp, này
các Tỷ-kheo, người chăm bò có thể lãnh đạo đàn bò và
khiến đàn bò tăng trưởng. Thế nào là mười một?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người
chăn bò biết sắc...
6. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành
tựu với mười một pháp, Tỷ-kheo có thể trú tùy quán vô
thường trong con mắt... có thể trú tùy quán từ bỏ.
(II) (24) Tham Ái (1)
1. Ðể thắng tri tham ái, này các
Tỷ-kheo, mười một pháp cần phải tu tập. Thế nào là mười
một?
2. Thiền thứ nhất. Thiền thứ
hai, Thiền thứ ba, Thiền thứ tư, từ tâm giải thoát, bi tâm
giải thoát, hỷ tâm giải thoát, xả tâm giải thoát, Không
vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ.
Ðể thắng tri tham ái, này các Tỷ-kheo,
mười một pháp cần phải tu tập.
(III) (25) Tham Ái (2)
1. Ðể thắng tri tham ái, này các
Tỷ-kheo, để liễu tri, để liễu diệt, để đoạn tận,
để hoại diệt, để hủy diệt, để ly tham, để đoạn diệt...
để xả ly, để từ bỏ... mười một pháp cần phải tu tập.
2. Ðể thắng tri sân... si... phẫn
nộ... hiềm hận.... gièm pha... não hại... tật đố... xan
tham... man trá... lừa đảo.... cứng đầu.... hung hăng... mạn...
quá mạn... say đắm... phóng dật... để liễu tri, để liễu
diệt, để đoạn tận, để hoại diệt, để hủy diệt, để
ly tham, để đoạn diệt, để xả ly, để từ bỏ... mười
một pháp này cần phải tu tập.
Thế Tôn thuyết như vậy, các Tỷ-kheo
ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy
[Hết Kinh Tăng Chi]
Chân thành cám ơn TS. Cư
Sĩ Bình Anson đã gửi tặng Thư Viện Hoa Sen phiên bản vi tính
quyển kinh này. (Tâm Diệu)
