XIII. Phẩm
Thanh Tịnh
(I) (123) Các Pháp Thanh Tịnh
1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
thanh tịnh, trong sáng, chỉ có trong Luật của bậc Thiện Thệ.
Thế nào là mười?
2. Chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm,
chánh định, chánh trí, chánh giải thoát.
Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
thanh tịnh, trong sáng, chỉ có trong Luật, của bậc Thiện
Thệ.
(II) (124) Pháp Chưa Khởi
1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
chưa khởi, chỉ khởi lên trong Luật của của bậc Thiện
Thệ. Thế nào là mười?
2. Chánh tri kiến... chánh giải thoát.
Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
chưa khởi, chỉ khởi lên trong Luật của bậc Thánh.
(III) (125) Pháp Có Quả Lớn
1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
có quả lớn, có lợi ích, chỉ có trong Luật của bậc Thiện
Thệ. Thế nào là mười?
2. Chánh tri kiến... chánh giải thoát.
Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
có quả lớn, có lợi ích lớn, chỉ có trong Luật của bậc
Thiện Thệ.
(IV) (126) Cứu Cánh Nhiếp Phục
Tham
1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
cứu cánh là nhiếp phục tham, cứu cánh là nhiếp phục sân,
cứu cánh là nhiếp phục si, chỉ có mặt trong Luật của bậc
Thiện Thệ. Thế nào là mười?
2. Chánh tri kiến... chánh giải thoát.
Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
cứu cánh là nhiếp phục tham, cứu cánh là nhiếp phục sân,
cứu cánh là nhiếp phục si, chỉ có mặt trong Luật của bậc
Thiện Thệ.
(V) (127) Nhất Hướng Nhàm Chán
1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh,
thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, chỉ có mặt trong Luật của
bậc Thiện Thệ. Thế nào là mười?
2. Chánh tri kiến... chánh giải thoát.
Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh,
thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, chỉ có mặt trong Luật của
bậc Thiện Thệ.
(VI) (128) Ðược Tu Tập (1)
Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, chưa khởi lên, chỉ
khởi lên trong Luật của bậc Thiện Thệ.
2. Chánh tri kiến... chánh giải thoát.
3. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, chưa được khởi lên,
chỉ khởi lên trong Luật của bậc Thiện Thệ.
(VII) (129) Ðược Tu Tập (2)
1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi
ích lớn, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ. Thế
nào là mười:
2. Chánh tri kiến... chánh giải thoát.
3. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi
ích lớn, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ.
(VIII) (130) Ðược Tu Tập (3)
1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi
ích lớn, cứu cánh là nhiếp phục tham, cứu cánh là nhiếp
phục sân, cứu cánh là nhiếp phục si, chỉ có được trong
Luật của bậc Thiện Thệ. Thế nào là mười?
2. Chánh tri kiến... chánh giải thoát.
Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi
ích lớn, cứu cánh là nhiếp phục tham, cứu cánh là nhiếp
phục sân, cứu cánh là nhiếp phục si, chỉ có được trong
Luật của bậc Thiện Thệ.
(IX) (131) Ðược Tu Tập(4)
1. Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng
nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ,
Niết-bàn, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ. Thế
nào là mười?
2. Chánh tri kiến... chánh giải thoát.
Mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng
nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ,
Niết-bàn, chỉ có mặt trong Luật của bậc Thiện Thệ.
(X) (132) Tà Tánh
1. Có mười tà tánh này, này các
Tỷ-kheo. Thế nào là mười?
2. Tà kiến... tà giải thoát.
Này các Tỷ-kheo, có mười tà tánh
này.
(XI) (133) Chánh Tánh
1. Có mười chánh tánh này, này
các Tỷ-kheo. Thế nào là mười?
2. Chánh kiến... chánh giải thoát.
Có mười chánh tánh này. này các
Tỷ kheo.
XIV. Phẩm Thiện
Lương
(I) (134) Lành Và Không Lành
1. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết
cho các Thầy về lành và không lành. Hãy nghe và khéo tác ý,
Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
2. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
không lành?
Tà kiến... tà giải thoát.
Này các Tỷ-kheo, như vậy là không
lành.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là lành?
Chánh kiến... chánh giải thoát.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là lành.
(II) (135) Thánh vả Phi Thánh
1. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng
về Thánh pháp và phi Thánh pháp. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta
sẽ nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn,
Thế Tôn nói như sau:
2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là phi Thánh pháp?
Tà kiến... tà giải thoát. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, gọi là phi Thánh pháp.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là Thánh pháp?
4. Chánh kiến... chánh giải thoát.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh
pháp.
(III) (136) Thiện và Bất Thiện
(Giống như kinh trước,
chỉ đổi thiện và bất thiện)
(IV) (137) Mục Ðích và Phi Mục Ðích
(Giống như kinh trước,
chỉ đổi mục đích và phi mục đích)
(V) (138) Pháp và Phi Pháp
(Giống như kinh trước,
chỉ đổi pháp và phi pháp)
(VI) (139) Hữu Lậu và Vô Lậu
(Giống như kinh trước,
chỉ đổi hữu lậu và vô lậu)
(VII) (140) Có Tội và Vô Tội
(Giống như kinh trước,
chỉ đổi có tội và vô tội)
(VIII) (141) Hối Hận và Không Hối
Hận
(Giống như kinh trước,
chỉ đổi hối hận và không hối hận)
(IX) (142) Ði Ðến Tích Tập và Không
Tích Tập
(Giống như kinh trước,
chỉ đổi có tích tập và không tích tập)
(X) (143) Dẫn Khổ và Không dẫn
lạc
(Giống như kinh trước,
chỉ đổi có dẫn khổ và không dẫn lạc)
(XI) (144) Khổ Dị Thục và Lạc
Dị Thục
(Giống như kinh trước,
chỉ đổi khổ dị thục và lạc dị thục)
XV. Phẩm Thánh
Ðạo
(I) (145) Thánh và Phi Thánh
(Như kinh trước, chỉ
đổi Thánh đạo và phi Thánh đạo)
(II) (146) Bạch Ðạo và Hắc Ðạo
(Như kinh trước, chỉ
đổi bạch đạo và hắc đạo)
(III) (147) Diệu Pháp và Phi Diệu
Pháp
(Như kinh trước, chỉ
đổi diệu pháp và phi diệu pháp)
(IV) (148) Chân Nhân Pháp, Phi Chân
Nhân pháp
(Như kinh trước, chỉ
đổi chân nhân pháp và phi chân nhân pháp)
(V) (149) Cần Khởi Lên và Không
Cần Khởi Lên
(Như kinh trước, chỉ
khác chữ cần khởi lên và không cần khởi lên)
(VI) (150) Cần Phải Thực Hhiện
và Không cần Phải Thực Hiện
(Như kinh trước, chỉ
khác chữ cần phải thực hiện và không cần phải thực hiện)
(VII) (151) Cần Phải Tu Tập Và Không
Cần Phải Tu Tập
(Như kinh trước, chỉ
khác chữ cần phải tu tập và không cần phải tu tập)
(VIII) (152) Cần Phải Làm Sung Mãn
và Không Cần Phải Làm Sung Mãn
(Như kinh trước, chỉ
khác chữ cần phải làm sung mãn và không cần phải làm sung
mãn)
(IX) (153) Cần Phải Nhớ và Không
Cần Phải Nhớ
(Như kinh trước, chỉ
khác chữ cần phải nhớ và không cần phải nhớ)
(X) (154) Cần Phải Chứng Ngộ và
Không Cần Phải Chứng Ngộ
(Như kinh trước, chỉ
khác chữ cần phải chứng ngộ và không cần phải chứng
ngộ)
XVI. Phẩm Người
(I) (155) Không Nên Thân Cận
1. Người thành tựu mười pháp
này, này các Tỷ-kheo, là người không nên thân cận. Thế
nào là mười?
2. Người có tà kiến, tà tư duy...
tà giải thoát.
Người thành tựu mười pháp này,
này các Tỷ-kheo, là người không nên thân cận.
3. Người thành tựu mười pháp
này, này các Tỷ-kheo, là người nên thân cận. Thế nào là
mười?
4. Người có chánh kiến... chánh
giải thoát.
Người thành tựu mười pháp này,
này các Tỷ-kheo, là người nên thân cận.
(II) (156-166) Những Người Sai
Khác
1. Thành tựu với mười pháp này,
này các Tỷ-kheo, một không nên giao thiệp... nên giao thiệp...
không nên hầu hạ... nên hầu hạ... không nên đảnh lễ...
nên đảnh lễ... không nên tán thán... nên tán thán... không
nên tôn trọng... nên tôn trọng... không nên tỏ sự cung kính...
nên tỏ sự cung kính... không thành công... thành công... không
thanh tịnh... có thanh tịnh... không có chinh phục mạn... có
chinh phục mạn... không tăng trưởng với trí tuệ... có tăng
trưởng với trí tuệ... tạo nhiều phi công đức... tạo nhiều
công đức. Thế nào là mười?
2. Chánh kiến... chánh giải thoát.
Thành tựu với mười pháp này,
người tạo nhiều công đức.
XVII. Phẩm Jànussoni
(I) (167) Sự Xuất Ly Của Bậc
Thánh (1)
1. (Xem kinh 119, đoạn số 1, từ:
Lúc bấy giờ... cho đến Thế Tôn nói như sau).
2. Ở đây, này Bà-la-môn, vị Thánh
đệ tử suy xét như sau: "Sát sanh đưa đến ác dị thục trong
đời này và trong đời sau". Sau khi suy xét như vậy, vị ấy
từ bỏ sát sanh, ra khỏi sát sanh... "Lấy của không cho đưa
đến ác dị thục... từ bỏ lấy của không cho, ra khỏi lấy
của không cho.. Tà hạnh trong cái dục, đưa đến ác dị thục
trong đời này và trong đời sau... từ bỏ tà hạnh trong các
dục, ra khỏi tà hạnh trong các dục... Nói láo đưa đến
ác dị thục... từ bỏ nói láo, ra khỏi nói láo... Nói hai
lưỡi đưa đến đưa đến ác dị thục... từ bỏ nói hai
lưỡi, ra khỏi nói hai lưỡi... Nói ác khẩu đưa đến ác
dị thục... từ bỏ nói ác khẩu, ra khỏi nói ác khẩu...
Nói lời phù phiếm đưa đến ác dị thục... từ bỏ nói
lời phù phiếm, ra khỏi nói lời phù phiếm... Tham dục đưa
đến ác dị thục... từ bỏ tham dục, ra khỏi tham dục...
Sân đưa đến ác dị thục trong đời này và trong đời này
và trong đời sau". Vị ấy sau khi suy xét như vậy, từ bỏ
tà kiến, ra khỏi tà kiến. Như vậy, này Bà-la-môn, là sự
xuất ly trong Luật của bậc Thánh.
3. Thưa Tôn giả, sai khác là sự
xuất ly của các Bà-la-môn, sai khác là sự xuất ly trong Luật
của bậc Thánh. Thưa Tôn giả Gotama, sự xuất ly của các
Bà-la-môn không đánh giá một phần mười sáu sự xuất ly
trong Luật của bậc Thánh. Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama...!
Xin Tôn giả Gotama bắt đầu từ nay nhận con làm đệ tử
cư sĩ. Từ này cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
(II) (168) Sự Xuất Ly Của Bậc
Thánh (2)
1. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng
về sự xuất ly của bậc Thánh...
Thế Tôn nói như sau:
- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
sự xuất ly của bậc Thánh?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử suy xét như sau: "Sát sanh đưa đến ác dị thục
ngay trong hiện tại và trong tương lai". Sau khi suy xét như vậy,
vị ấy từ bỏ sát sanh, ra khỏi sát sanh... Tà kiến đưa
đến ác dị thục ngay trong hiện tại và trong tương lai. Sau
khi suy xét như vậy, vị ấy từ bỏ tà kiến, ra khỏi tà
kiến.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự xuất
ly của bậc Thánh.
(III) (169) Sangàrava
1, Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến
Thế Tôn. Sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào
đón hỏi thăm... ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava
bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là
bờ bên này, thế nào là bờ bên kia?
2. Này Bà-la-môn, sát sanh là bờ
bên này, từ bỏ sát sanh là bờ bên kia. Lấy của không cho,
này Bà-la-môn, là bờ bên này, từ bỏ lấy của không cho
là bờ bên kia. Tà hạnh trong các dục là bờ bên này, từ
bỏ tà hạnh trong các dục là bờ bên kia. Nói láo là bờ
bên này, từ bỏ nói láo là bờ bên kia. Nói hai lưỡi là
bờ bên này, từ bỏ nói hai lưỡi là bờ bên kia. Nói lời
độc ác là bờ bên này, từ bỏ nói lời độc ác là bờ
bên kia. Nói phù phiếm là bờ bên này, từ bỏ nói lời phù
phiếm là bờ bên kia. Tham là bờ bên này, không tham là bờ
bên kia. Sân là bờ bên này, không sân là bờ bên kia. Tà kiến
là bờ bên này, chánh kiến là bờ bên kia.
Này các Tỷ-kheo, đây là bờ bên
này, đây là bờ bên kia.
Ít người giữa nhân loại,
Ðến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này,
Những ai hành trì pháp,
Theo Chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma giới khó thoát.
Vị từ bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng,
Bỏ nhà sống không nhà,
Sống viễn ly khổ lạc,
Hãy cầu vui Niết-bàn,
Bỏ dục không chướng ngại.
Kẻ trí tuệ rửa sạch,
Cầu uế từ nội tâm,
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm,
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.
(IV) (170) Bờ Bên Này và Bờ Bên
Kia
1. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết
về bờ bên này và bờ bên kia, hãy nghe... và này các Tỷ-kheo,
thế nào là bờ bên này, và thế nào là bờ bên kia?
2. Sát sanh, này các Tỷ-kheo, là
bờ bên này...
(Như kinh trước, kể cả
bài kệ).
(V) (171) Pháp và Phi Pháp (1)
1. Phi pháp và phi mục đích, này
các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết. Pháp và mục đích cần
phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và phi mục đích, sau
khi biết pháp và mục đích, pháp như thế nào, mục đích
như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp và phi mục đích?
2. Sát sanh, lấy của không cho, tà
hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc
ác, nói lời phù phiếm, tham, sân, tà kiến.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là phi
pháp và phi mục đích. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp
và mục đích?
3. Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy
của không cho... từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham, không
sân, chánh kiến.
Này các Tỷ-kheo, đây là pháp và
mục đích.
Phi pháp và phi mục đích, này các
Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết. Pháp và mục đích cần phải
hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và phi mục đích, sau khi biết
pháp và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế
nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Lời đã nói như
vậy, chính duyên này, đã nói như vậy.
(VI) (172) Pháp và Phi Pháp (2)
(Giống như kinh số 115,
có hai sự sai khác: Một là trong kinh trước nói đến Tôn
giả Ananda, trong kinh này nói đến Tôn giả Mahàkaccàna. Hai
là trong kinh trước nói đến phi pháp là chỉ cho tà kiến
đến tà giải thoát, nói đến pháp là chỉ cho chánh kiến
đến chánh giải thoát. Trong kinh này, nói đến phi pháp và
chỉ cho sát sanh cho đến tham, sân và tà kiến, Nói đến pháp
là chỉ cho từ bỏ sát sanh cho đến không tham, không sân,
chánh kiến).
(VII) (173) Pháp và Phi Pháp (3)
1. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo,
cần phải hiểu biết. Phi mục đích và mục đích, cần phải
hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và phi mục đích, sau khi biết
pháp và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế
nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là phi pháp, thế nào là pháp, thế nào là phi mục
đích, thế nào là mục đích?
2. Sát sanh, này các Tỷ-kheo, là
phi pháp, từ bỏ sát sanh là pháp. Những pháp ác bất thiện
do duyên sát sanh khởi lên, đây là phi mục đích. Những pháp
thiện do duyên từ bỏ sát sanh, đi đến viên mãn trong tu tập,
đây là mục đích. Lấy của không cho... tà hạnh trong các
dục... nói láo... nói hai lưỡi... nói lời độc ác... nói
phù phiếm... tham... sân... tà kiến, này các Tỷ-kheo là phi
pháp, từ bỏ kiến là pháp. Những pháp ác bất thiện, do
duyên tà kiến khởi lên, đây là phi mục đích. Những pháp
thiện, do duyên chánh kiến đi đến viên mãn trong tu tập,
đây là mục đích.
3. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo,
cần phải hiểu biết. Phi mục đích và mục đích, này các
Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp,
sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào,
mục đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành.
(VIII) (174) Do Tham Sân Si
1. Này các Tỷ-kheo, Ta nói sát sanh
có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỷ-kheo,
Ta nói lấy của không cho có ba: do nhân tham, do nhân sân, do
nhân si.
Này các Tỷ-kheo, Ta nói tà hạnh
trong các dục có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si.
Này các Tỷ-kheo, Ta nói, nói láo
có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỷ-kheo,
Ta nói, nói hai lưỡi có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân
si. Này các Tỷ-kheo, Ta nói, nói lời độc ác có ba: do nhân
tham, do nhân sân, do nhân si. Này các Tỷ-kheo, Ta nói, nói lời
phù phiếm có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si. Này các
Tỷ-kheo, Ta nói, nói tham dục có ba: do nhân tham, do nhân sân,
do nhân si. Này các Tỷ-kheo, Ta nói, nói sân có ba: do nhân tham,
do nhân sân, do nhân si. Này các Tỷ-kheo, Ta nói, nói tà kiến
có ba: do nhân tham, do nhân sân, do nhân si.
2. Như vậy, này các Tỷ-kheo, tham
là nhân duyên cho nghiệp sanh khởi, sân là nhân duyên cho nghiệp
sanh khởi, si là nhân duyên cho nghiệp sanh khởi, do tham đoạn
diệt, là nhân duyên cho nghiệp đoạn diệt, do si đoạn diệt,
là nhân duyên cho nghiệp đoạn diệt, do si đoạn diệt, là
nhân duyên cho nghiệp đoạn diệt.
(IX) (175) Thoát Ly
1. Pháp này, này các Tỷ-kheo, có
con đường thoát ly, pháp này không phải không có con đường
thoát ly. Và này các Tỷ-kheo, thế nào pháp này có con đường
thoát ly, pháp này không phải không có con đường thoát ly?
2. Từ bỏ sát sanh, này các Tỷ-kheo,
là con đường thoát ly sát sanh. Từ bỏ lấy của không cho,
này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly lấy của không cho.
Từ bỏ tà hạnh trong các dục, này các Tỷ-kheo, là con đường
thoát ly tà hạnh trong các dục. Từ bỏ nói láo, này các Tỷ-kheo,
là con đường thoát ly nói láo. Từ bỏ nói hai lưỡi, là
con đường thoát ly nói hai lưỡi. Từ bỏ nói lời độc ác,
này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly nói lời độc ác.
Từ bỏ nói lời phù phiếm, này các Tỷ-kheo, là con đường
thoát ly nói lời phù phiếm. Không tham dục, này các Tỷ-kheo,
là con đường thoát ly tham dục. Không sân, này các Tỷ-kheo,
là con đường thoát ly sân. Chánh kiến, này các Tỷ-kheo, là
con đường thoát ly tà kiến.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con
đường thoát ly.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp
này có con đường thoát ly, pháp này không phải không có con
đường thoát ly.
(X) (176) Cunda Người Thợ Rèn
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Pàvà,
trong vườn xoài của Cunda, con người thợ rèn. Rồi Cunda,
con người thợ rèn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với
Cunda, còn người thợ rèn đang ngồi một bên:
- Này Cunda, trong những tịnh hạnh
của ai, Ông cảm thấy thích thú?
- Bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn ở
phương Tây, những người có mang theo bình nước những người
có đeo vòng hoa huệ, những người thờ lửa, những người
đi xuống nước tắm, những vị này có tổ chức những lễ
tịnh hạnh. Con ưa thích những lễ tịnh hạnh của những
người ấy.
- Này Cunda, các Bà-la-môn trú ở
phương Tây, những người có mang theo bình nước, những người
có đeo vòng hoa huệ, những người thờ lửa, những người
đi xuống nước tắm, như thế nào, những người này có tổ
chức những lễ tịnh hạnh?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, những
người Bà-la-môn trú ở phương Tây, những người có mang
bình nước, những người có đeo vòng hoa huệ, những người
thờ lửa, những người đi xuống nước tắm, những vị này
khích lệ đệ tử như sau: "Hãy đến, này Bạn. Hãy dậy thật
sớm và từ nơi giường chạm xuống đất. Nếu Bạn không
chạm xuống đất thì chạm phân bò ướt; nếu Bạn không
chạm phân bò ướt thời Bạn chạm cỏ xanh; nếu Bạn không
chạm cỏ xanh thời Bạn hãy cúng dường lửa; nếu Bạn không
cúng dường lửa, thời Bạn hãy chắp tay đảnh lễ mặt trời,
nếu Bạn không chắp tay đảnh lễ mặt trời, thời Bạn hãy
xuống nước lần thứ ba vào buổi chiều". Như vậy, bạch
Thế Tôn, các Bà-la-môn trú ở phương Tây, những người có
mang theo bình nước, những người có đeo vòng hoa huệ, những
người thờ lửa, những người đi xuống nước tắm, những
vị này ấy tổ chức những lễ tịnh hạnh. Con thích thú
lễ tịnh hạnh của những vị ấy.
- Sai khác này Cunda, là những lễ
tịnh hạnh do những Bà-la-môn trú ở phương Tây, những người
có mang bình nước, những người có đeo vòng hoa huệ, những
người thờ lửa, những người đi xuống nước tắm tổ chức.
Sai khác là lễ tịnh hạnh trong Luật của bậc Thánh.
- Như thế nào, bạch Thế Tôn, là
lễ tịnh hạnh trong Luật của bậc Thánh? Lành thay, bạch
Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con về lễ tịnh hạnh
trong Luật của bậc Thánh.
- Vậy này Cunda, hãy nghe và khéo
tác ý, Ta sẽ nói:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Cunda con người thợ rèn vâng đáp
Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
2. Này cunda, thân không tịnh hạnh
có ba, lời không tịnh hạnh có bốn, ý không tịnh hạnh có
ba. Và này Cunda, thế nào là thân không tịnh hạnh có ba?
3. Ở đây, này Cunda, có người
sát sanh, hung bạo, tay lắm máu, tâm chuyên sát hại, đả thương,
tâm không từ bi đối với các loại hữu tình. (Người này)
lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác,
hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người
ấy; người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống
tà hạnh đối với các dục, tà hạnh với các hạng nữ nhân
có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh
che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở,
đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến
những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới).
Như vậy, này Cunda, bất tịnh hạnh
về thân có ba. Và này Cunda, thế nào là bất tịnh hạnh về
lời có bốn?
4. Ở đây, này Cunda, có người
nói láo, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng tôi, hay
đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay
đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và
được hỏi: "Này người kia, hãy nói những gì ông biết".
Dầu cho vị ấy không biết, vị ấy nói: "Tôi biết". Dầu
cho vị ấy biết, vị ấy nói: "Tôi không biết". Hay dầu cho
vị ấy không thấy, vị ấy nói: "Tôi thấy". Hay dầu cho vị
ấy thấy, vị ấy nói: "Tôi không thấy". Như vậy lời nói
của người ấy trở thành cố ý nói láo, hoặc nguyên nhân
vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì
một vài quyền lợi gì. VA người ấy là người nói hai lưỡi,
nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia nói, để sanh chia
rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói
với những người này để sanh chia rẽ, ở những người
kia. Như vậy, vị ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi giục
những kẻ ly gián, ưa thích chia rẽ, vui thích chia rẽ, thích
thú chia rẽ, nói những lời đưa đến chia rẽ. Và người
ấy là người nói lời thô ác, bất cứ lời gì thô bạo,
thô tục, khiến người đau khổ, khiến người tức giận,
liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định. Người
ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời
phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những
lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời
phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời,
nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống,
không có lợi ích.
Như vậy, này Cunda, không tịnh hạnh
về lời có bốn. Và này Cunda, thế nào là không tịnh hạnh
về ý có ba?
5. Ở đây, này Cunda, có người
có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: "Ôi, mong
rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!
". Có người có sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm như
sau: "Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị
tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tai hại, hay mong chúng không
còn tồn tại! ". Lại có người có tà kiến, có tưởng điên
đảo, như: "không có bố thí, không có cúng dường, không
có tế lễ, các hành vi thiện ác không có kết quả dị thục,
không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không
có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các
Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu,
sau khi tự tri, tự chứng, lại tuyên bố cho đời này và cho
đời sau".
Như vậy, này Cunda, không tịnh hạnh
về ý có ba.
6. Này Cunda, có mười bất thiện
nghiệp đạo này. Này Cunda, với ai thành tựu mười bất thiện
nghiệp đạo này, có thể dậy sớm và từ giường nếu vị
ấy chạm đất, vị ấy vẫn bất tịnh. Dầu cho vị ấy không
chạm xuống đất, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy chạm
phân bò ướt, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy không
chạm phân bò ướt, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy
chạm cỏ xanh, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy không
chạm cỏ xanh, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy cúng dường
lửa, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy không cúng dường
lửa, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy chắp tay đảnh
lễ mặt trời, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu vị ấy không
chắp tay đảnh lễ mặt trời, vị ấy vẫn bất tịnh. Nếu
vị ấy vào buổi chiều xuống nước lần thứ ba, vị ấy
vẫn bất tịnh. Vì sao? Này Cunda, mười bất thiện nghiệp
đạo này là bất tịnh, không tạo ra tịnh. Này Cunda, do nhân
thành tựu mười bất thiện nghiệp đạo này, địa ngục
được trình bày, bàng sanh được trình bày, ngạ quỉ được
trình bày hay là ác thú khác.
7. Này Cunda, tịnh hạnh về thân
có ba, tịnh hạnh về lời có bốn, tịnh hạnh về ý có ba.
Này Cunda, thế nào là tịnh hạnh về thân có ba?
8. Ở đây, này Cunda, có người
đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm,
biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc
tất cả chúng sanh, và loài hữu tình. Ðoạn tận lấy của
không cho, từ bỏ lấy của không cho; bất cứ vật gì của
người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không
có người ấy, người ấy không lấy với ý niệm trộm cắp.
Ðoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh tong các
dục, với hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có
anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che
chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ,
cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám
cưới).
Như vậy, này Cunda, tịnh hạnh về
thân có ba. Và này Cunda, thế nào là tịnh hạnh về lời có
bốn?
9. Ở đây, này Cunda có người đoạn
tận nói láo, từ bỏ nói láo, đến chỗ tập hội hay đến
chỗ chúng tội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa
các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất
làm chứng và được hỏi: "Này người kia, hãy nói những
gì người biết". Nếu không biết, người ấy nói: "Tôi không
biết". Nếu biết, người ấy nói: "Tôi biết". Hay nếu không
thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy". Nếu thấy, người
ấy nói: "Tôi thấy". Như vậy lời nói của người ấy không
trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc
nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền
lợi gì. Ðoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi,
nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói, để
sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia,
không đi nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những
người kia. Như vậy người ấy sống hòa hợp những kẻ ly
gián, tăng trưởng những kẻ hòa hiệp, thích thú hòa hợp,
nói những lời đưa đến hòa hợp. Ðoạn tận lời nói độc
ác, từ bỏ lời nói độc ác, những lời nói nhu hòa, êm
tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều
người, vui ý nhiều người, người ấy nói những lời như
vậy. Ðoạn tận lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói
chân thật, nói có ý nghĩa, nói Pháp, nói Luật, nói những
đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận
lý, có mạch lạc, hệ thống, lợi ích.
Như vậy, này Cunda, tịnh hạnh về
lời nói có bốn. Và này Cunda, thế nào là tịnh hạnh về
ý có ba?
10. Ở đây, này Cunda, có người
không tham ái, không tham lam tài vật kẻ khác, không nghĩ rằng:
"Ôi! Mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của
mình". Không có sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng
nghĩ rằng: "Mong rằng những loài hữu tình này sống lo tự
ngã, không thù hận, không sân hận, không nhiễm loạn, được
an lạc". Có chánh kiến, không có tư tưởng điên đảo: "Có
bố thí, có cúng thí, có tế lễ, các hành vi thiện ác, có
kết quả dị thục, có đời này, có đời sau, có mẹ, có
cha, có các loại hóa sanh, trong đời có các Sa-môn, Bà-la-môn
chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự
chứng, lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau".
Như vậy, này Cunda, tịnh hạnh về
ý có ba.
11. Này Cunda, có mười thiện nghiệp
đạo này. Này Cunda, ai thành tựu mười bất thiện nghiệp
đạo này, Nếu có dậy sớm và từ giường chạm đất, vị
ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không chạm xuống đất,
vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy chạm phân bò ướt,
vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không chạm phân bò ướt,
vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy chạm cỏ xanh, vị ấy
vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không chạm cỏ xanh, vị ấy
vẫn trong sạch. Nếu vị ấy thờ lửa, vị ấy vẫn trong
sạch. Nếu vị ấy không thờ lửa, vị ấy vẫn trong sạch.
Nếu vị ấy chắp tay đảnh lễ mặt trời, vị ấy vẫn trong
sạch. Nếu vị ấy không chắp tay đảnh lễ mặt trời, vị
ấy vẫn trong sạch. Nếu vào buổi chiều, vị ấy xuống nước
lần thứ ba, vị ấy vẫn trong sạch. Vì sao? Này Cunda, mười
thiện nghiệp đạo này là trong sạch, tác thành trong sạch.
Do nhân thành tựu mười thiện nghiệp đạo này, chư Thiên
được tuyên bố loài Người được tuyên bố, hay bất cứ
thiện thú nào khác.
12. Ðược nói vậy, Cunda, con người
thợ rèn thưa với Thế Tôn:
- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn...!
Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến
mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
(XI) (177) Jànussoni
1. Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào
đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm
thân hữu, liền ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch
Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi
Bà-la-môn, cho bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong
rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được
lợi ích! Mong rằng các bà con huyết thống đã chết, thọ
hưởng bố thí này! Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích
gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết
thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?
- Này Bà-la-môn, nếu có tương ưng
xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương
ưng xứ.
- Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là
tương ưng xứ, thế nào là không tương ưng xứ?
2. Ở đây, này Bà-la-môn, có người
sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục,
nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm,
có tham ái, có sân, có tà kiến. Vị ấy, sau khi thân hoại
mạng chung, sanh vào địa ngục ăn. Món ăn của chúng sanh ở
địa ngục ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn
ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn,
đây là không tương ưng xứ, trú ở nơi đây, vị ấy không
được lợi ích của bố thí ấy.
3. Ở đây, này Bà-la-môn, có người
sát sanh... có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy
sanh vào loại bàng sanh. Món ăn của chúng sanh ở bàng sanh
ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy,
vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là
không tương ưng xứ; trú ở đây, vị ấy không được lợi
ích của bố thí ấy.
4. Ở đây, này Bà-la-môn, có người
từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh
trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ
bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có
tham ái, không có tâm sân hận, có chánh kiến. Người ấy,
sau khi thân hoại mạng chung, sanh cộng trú với loài Người.
Món ăn của loài người như thế nào, tại đấy, vị ấy
nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với
món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú
ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
5. Ở đây, này Bà-la-môn, có người
từ bỏ sát sanh... có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân
hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên. Món ăn
của chư Thiên như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống
với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn
ấy. Này Bà La môn đây là không tương ưng xứ, trú ở đây,
vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
6. Ở đây, này Bà-la-môn, có người
từ bỏ sát sanh... có tà kiến. Người ấy, sau khi thân hoại
mạng chung, sanh vào cõi ngạ qủy. Món ăn của chúng sanh ngạ
qủy như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món
ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món
ăn nào các bạn bè , hoặc than hữu, hoặc bà con, hoặc người
cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy,
tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy , vị
ấy tồn tại với món ăn ấy.Này Bà-la-môn, đây là không
tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của
bố thí ấy.
7. Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con
huyết thống ấy đã chết, không sanh vào chỗ ấy, thời ai
hưởng bố thí ấy?
- Này Bà-la-môn, các bà con huyết
thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người
ấy được hưởng bố thí ấy.
- Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con
huyết thống đã chết, không sanh vào chỗ ấy, và các bà
con huyết thống khác cũng không sanh vào chỗ ấy, thời ai
hưởng bố thí ấy?
- Không có trường hợp ấy, không
có cơ hội ấy, này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống
không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết
thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không
phải có hưởng quả.
- Có phải Tôn giả Gotama nói một
giả thuyết không thế xảy ra?
- Này Bà-la-môn, Ta nói một giả
thuyết không thể xảy ra. Ở đây, này Bà-la-môn, có người
sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục,
nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm,
có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy bố thí cho
Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ,
vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn
đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh
cộng trú với các loài voi. Tại đây, vị ấy được đồ
ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Vì rằng,
ở đây, này Bà-la-môn, có sát sanh, lấy của không cho, tà
hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc
ác, nói lời phù phiếm, do vậy người ấy, sau khi thân hoại
mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi. Vì rằng
vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn đồ ăn, đồ uống,
vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm,
trú xứ, đèn đuốc; do vậy, tại đấy vị ấy được các
món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. Ở
đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho,
tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc
ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến.
Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn,
đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp,
giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Sau khi thân hoại mạng
chung, vị ấy sanh cộng trú với các loài ngựa... sanh cộng
trú với các loài bò... Cộng trú với các loài gia cầm. Vị
ấy tại đấy, được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa,
các đồ trang sức khác. Vì rằng, này Bà-la-môn, có sát sanh,
có lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, có nói láo,
có nói hai lưỡi, có nói lời độc ác, có nói lời phù phiếm,
có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Do vậy, sau khi thân hoại
mạng chung, vị ấy sanh vào cộng trú với các loài gia cầm.
Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với các
đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu,
phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc, nên tại
đấy vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại
trang sức khác. Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người từ
bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh
trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ
bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ
tham ái, từ bỏ sân tâm, có chánh kiến. Người ấy có bố
thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc,
xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm,
trú xứ, đèn đuốc. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung,
được sanh cộng trú với loài Người. Tại đấy, vị ấy
được năm loại dục công đức sai khác, thuộc về loài Người.
Vì rằng, này Bà-la-môn, vị ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ
lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ
nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác,
từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có sân
tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được
sanh cộng trú với loài Người. Vì rằng vị ấy có bố thí
cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc,
xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm,
các trú xứ, đèn đuốc; do vậy, ở đấy vị ấy được
năm dục công đức của loài Người. Ở đây, này Bà-la-môn,
có người từ bỏ sát sanh... có chánh kiến, người ấy bố
thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc,
xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm,
trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung,
được sanh cộng trú với chư Thiên. Vị ấy tại đấy được
năm loại dục công đức của chư Thiên. Vì rằng ở đây
có từ bỏ sát sanh... có chánh kiến, cho nên sau khi thân hoại
mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với chư Thiên. Vì
rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn,
đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn
sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Do vậy, tại đấy
vị ấy được năm dục công đức của chư Thiên. Tuy nhiên,
này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có kết quả.
8. Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Cho đến như thế này, thưa
Tôn giả Gotama, là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để
tổ chức các tín thí. Vì rằng, ở đấy, người bố thí
không phải không có kết quả (như đã được nói).
- Như vậy, này Bà-la-môn, người
bố thí này không phải không có kết quả.
- Thật kỳ diệu thay Tôn giả Gotama...
Xin Tôn giả Gotama hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay
cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
XVIII. Phẩm
Thiện Lương
(I) (178) Thiện , Bất Thiện
1. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết
về lành và không lành. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
2. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
không lành? Sát sanh, lấy của không cho... tà kiến. Này các
Tỷ-kheo đây gọi là không lành.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là lành? Từ bỏ sát sanh... có chánh kiến.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là lành.
(II-XI) (179-188)
- Thánh và phi thánh. Thiện và bất
thiện. Mục đích, phi mục đích. Pháp và phi pháp. Với lậu
hoặc hay không với lậu hoặc. Phạm tội, không phạm tội.
Hối quá và không hối quá. Tăng trưởng và tổn giảm. Ðưa
đến khổ và đưa đến lạc. Quả khổ, quả lạc.
XIX. Phẩm Thánh
Ðạo
(I-X) (189-198)
(Như kinh trên. Các đề
kinh khác như sau: Thánh đạo và phi Thánh đạo, Hắc đạo
và bạch đạo. Diệu pháp, phi diệu pháp. Chân nhân pháp, phi
chân nhân pháp. Cần làm cho sanh khởi, không cần làm cho sanh
khởi. Cần phải thân cận. Cần phải tu tập. Cần phải làm
cho sung mãn. Cần phải ức niệm... Cần phải cảnh giác ngộ
(191, Diệu pháp). (192) Chân nhân pháp... (198) Cần phải chứng
ngộ...
XX. Phẩm Các
Hạng Người
(I) (199) Không Nên Thân Cận
(Giống như phẩm XVI, kinh
155, 156-166 không nên thân cận...).
XXI. Phẩm Thân
Do Nghiệp Sanh
(I) (200) Ðịa Ngục, Thiên Giới
1. Thành tựu mười pháp, tương
xứng như vậy, như vậy bị rơi vào địa ngục. Thế nào
là mười?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người sát sanh, hung bạo, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại
đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả loài hữu
tình sinh vật. (Người này) lấy của không cho, bất cứ tài
vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại
rừng núi, không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài
vật ấy. Người ấy sống tà hạnh trong các dục, tà hạnh
với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có
anh em che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp
che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ,
cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám
cưới). Người ấy nói láo, đến chỗ tập hội hay đến
chỗ chúng tôi, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa
các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi bị dẫn xuất
làm chứng và được hỏi: "Này người kia, hãy nói những
gì ông biết"; dầu không biết, người ấy nói: "Tôi biết";
dầu biết, người ấy nói: "Tôi không biết"; hay dầu không
thấy, người ấy nói: "Tôi thấy"; hay dầu cho thấy, người
ấy nói: "Tôi không thấy". Như vậy lời nói của người ấy
trở thành cố ý nói láo, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc
nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền
lợi gì. Người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì
ở chỗ này, đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những
người này. Nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người
này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người
ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi giục những kẻ ly
gián, ưa thích chia rẽ, vui thích chia rẽ, thích thú chia rẽ,
nói những lời đưa đến chia rẽ. Và người ấy là người
nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô bạo, thô tục, khiến
người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn
nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời
như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi
thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích,
nói những lời phi pháp, nói những lời phi Luật, nói những
lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không
có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi
ích. Người ấy có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ
rằng: "Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành
của mình! ". Có sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm như
sau: "Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị
tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng
không còn tồn tại! ". Người ấy có tà kiến, có tưởng
điên đảo, như: "Không có bố thí, không có cúng thí, không
có thiện thí, các hành vi thiện ác không có kết quả dị
thục, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ,
không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có
các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành
tựu, sau khi tự minh chứng ngộ với thắng trí, lại tuyên
bố cho đời này và cho đời sau".
Thành tựu mười pháp này, người
ấy như vậy tương xứng rơi vào địa ngục.
3. Thành tựu mười pháp, này các
Tỷ-kheo, như vậy tương xứng, được sanh lên cõi Trời. Thế
nào là mười?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng,
bỏ kiếm; biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến
hạnh phúc tất cả chúng sanh và các loài hữu tình và sinh
vật; đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không
cho, bất cứ vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng,
hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy không
lấy trộm tài vật ấy; đoạn tận tà hạnh trong các dục,
từ bỏ tà hạnh trong các dục, không hành tà hạnh với các
hạng nữ nhân, có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở,
có chị che chở, có bà con che chở, có pháp che chở, đã có
chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những
nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám cưới). Người
ấy đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, đến chỗ tập hội
hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay
đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi
bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: "Này ông kia, hãy
nói những gì ông biết". Nếu biết, người ấy nói: "Tôi
biết". Nếu không biết, người ấy nói: "Tôi không biết";
hay nếu không thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy"; nếu
thấy, người ấy nói: "Tôi thấy". Như vậy lời nói của
người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc nguyên
nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân
vì một vài quyền lợi gì. Ðoạn tận nói hai lưỡi, từ
bỏ nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến
chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều
gì ở chỗ kia, không đi đến nói với những người này,
để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy
sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa
hiệp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp.
Ðoạn tận lời nói thô ác, từ bỏ lời nói thô ác. Những
lời nói nhu hòa, êm tai, dễ thương, thông cảm đến tâm,
tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, người
ấy nói những lời như vậy. Ðoạn tận lời nói phù phiếm,
nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói đúngPháp,
nói đúng Luật, nói những đáng được gìn giữ. Vì nói hợp
thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có
lợi ích. Ở đây có người không tham ái, không tham lam tài
vật kẻ khác, không nghĩ rằng: "Ôi! Mong rằng mọi tài vật
của người khác trở thành của mình! ". Lại có người không
có sân tâm, không khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ
rằng: "Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù
hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ
tự thân". Có chánh kiến, không có tư tưởng điên đảo,
nghĩ rằng: "Có bố thí, có cúng thí, có tế tự, các hành
vi thiện ác, có kết quả dị thục, có đời này, có đời
sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trong đời có các
Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu,
sau khi tự tri, tự chứng, lại tuyên bố cho đời này và cho
đời sau".
"Thành tựu mười pháp này, này
các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.
(II) (201) Ðịa Ngục Và Thiên
Giới
(Giống như kinh trước)
(III) (202) Nữ Nhân
1. Này các Tỷ-kheo, thành tựu mười
pháp, nữ nhân như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
Thế nào là mười?
2. Sát sanh... lấy của không cho...
tà hạnh trong các dục... nói láo... nói hai lưỡi... nói lời
thô ác... nói lời phù phiếm... tham ái... sân tâm... tà kiến...
Thành tựu mười pháp này, này các
Tỷ-kheo, nữ nhân như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
3. Thành tựu mười pháp này, này
các Tỷ-kheo, nữ nhân như vậy tương xứng được sanh lên
Thiên giới. Thế nào là mười?
4. Ðoạn tận sát sanh... đoạn tận
lấy của không cho... đoạn tận tà hạnh trong các dục...
đoạn tận nói láo... đoạn tận nói hai lưỡi... đoạn tận
nói lời thô ác... đoạn tận nói lời phù phiếm... đoạn
tận tham ái... đoạn tận sân tâm... chánh kiến...
Thành tựu mười pháp này, này các
Tỷ-kheo, nữ nhân như vậy tương xứng được sanh lên Thiên
giới.
(IV) (203) Nữ Cư Sĩ
(Như kinh trên, chỉ thế
nữ cư sĩ cho nữ nhân).
(204) Sợ Hãi Và Vô Úy
1. Thành tựu mười pháp, này các
Tỷ-kheo, người nữ cư sĩ sống ở gia đình không có vô úy.
Thế nào là mười?
2. Sát sanh... có tà kiến...
Thành tựu mười pháp, này các Tỷ-kheo,
người nữ cư sĩ sống ở gia đình không có vô úy.
3. Thành tựu mười pháp này, này
các Tỷ-kheo, người nữ cư sĩ sống ở gia đình, không có
sợ hãi.
4. Ðoạn tận sát sanh... có chánh
tri kiến.
Thành tựu mười pháp này, này các
Tỷ-kheo, người nữ cư sĩ sống ở gia đình không có sợ
hãi.
(VI) (205) Pháp Môn Quanh Co
1. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết
về pháp môn quanh co và pháp môn Chánh pháp. Hãy nghe và khéo
tác ý, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
2. Thế nào là pháp môn quanh co,
này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn Chánh pháp?
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là
chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của
nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp.
Phàm họ làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa
tự của nghiệp ấy.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người sát sanh, bạo ngược, bàn tay lấm máu, tâm chuyên sát
hại đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả loài
hữu tình, sinh vật. Vị ấy quanh co với thân, quanh co với
lời, quanh co với ý. Thân nghiệp của vị ấy quanh co, ngữ
nghiệp của vị ấy quanh co, ý nghiệp của vị ấy quanh co,
sanh thú quanh co, sanh thành quanh co. Với người có sanh thú
quanh co, này các Tỷ-kheo, có sanh thành quanh co. Ta nói rằng
có một trong hai sanh thú sau đây: Các địa ngục nhất hướng
đau khổ hay các loài bàng sanh thuộc loại trường bò. Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là các loài bàng sanh thuộc loại
trường bò? Loại rắn, bò cạp, rết, con ăn rắn, con mèo,
con chuột, con cú, và bất cứ loài súc vật nào, khi thấy
người, trường bò mà đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo là các
sinh vật, sự sanh khởi của sinh vật. Do làm như thế nào,
như vậy được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có
những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các
chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người lấy của không cho... có tà hạnh trong các dục... nói
láo... nói hai lưỡi... nói lời thô ác... nói lời phù phiếm...
có tham ái... có sân tâm... có tà kiến, có kiến điên đảo
rằng: "Không có bố thí, không có cúng thí, không có tế tự;
không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác; không có
đời này, không có đời sau; không có mẹ; không có cha; không
có các loài hóa sanh; ở đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn
chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, những vị này,
sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ đời này, đời
sau và tuyên bố. Người ấy quanh co với thân, quanh co với
lời, quanh co với ý. Thân nghiệp quanh co, ngữ nghiệp quanh
co, ý nghiệp quanh co, sanh thú quanh co, sinh thành quanh co. Với
người có sanh thú quanh co, này các Tỷ-kheo, có sanh thành quanh
co, Ta nói rằng... Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các
chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là
chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của
nghiệĩp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp.
Phàm là nghiệp gì, thiện hay ác, họ thừa tự nghiệp ấy.
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người sau khi đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng,
bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến
hạnh phúc của tất cả chúng sanh và các loài hữu tình. Vị
ấy không quanh co với ý, thân nghiệp của vị ấy chánh trực,
ngữ nghiệp chánh trực, ý nghiệp chánh trực, sanh thú chánh
trực, sanh thành chánh trực. Với người có sanh thú chánh
trực, này các Tỷ-kheo, có sanh thành chánh trực, Ta nói rằng
một trong hai sanh thú sau đây: Các thiên giới nhất hướng
lạc, hoặc các gia đình cao quý, các Sát-đế-ly đại gia,
các Bà-la-môn đại gia, các Gia chủ đại gia, giàu có tài
sản lớn, vật thọ dụng lớn, vàng bạc nhiều, tài vật
nhiều, tài sản lúa gạo nhiều. Do làm như thế nào, như vậy
được sanh ra, và được sinh như thế nào, thời có những
cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng
sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người đoạn tận lấy của không cho. từ bỏ lấy của không
cho... đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh
trong các dục... đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo... đoạn
tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi... đoạn tận nói
lời thô ác, từ bỏ nói lời thô ác... đoạn tận nói lời
phù phiếm, từ bỏ nói lời phù phiếm... không có tham dục...
không có sân tâm, có chánh kiến, không có các kiến điên
đảo. Có bố thí, có cúng thí, có tế tự; có kết quả dị
thục các nghiệp thiện ác; có đời này, có đời sau; có
mẹ; có cha; có các loài hóa sanh. Ở đời có các Sa-môn, Bà-la-môn
chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, những vị này,
sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ đời này, đời
sau và tuyên bố. Vị ấy không quanh co với thân, không quanh
co với lời, không quanh co với ý. Thân nghiệp vị ấy chánh
trực, ngữ nghiệp chánh trực, ý nghiệp chánh trực, sanh thú
chánh trực, sanh thành chánh trực. Với người có sanh thú
chánh trực, này các Tỷ-kheo, có sanh thành chánh trực, Ta nói
rằng có một trong hai sanh thú sau đây: Các thiên giới nhất
hướng lạc, hoặc các gia đình cao quý, các Sát-đế-ly đại
gia, các Bà-la-môn đại gia, các gia chủ đại gia, giàu có
tài sản lớn, vật thọ dụng lớn, vàng bạc nhiều, tài vật
nhiều, tài sản lúa gạo nhiều. Do làm như thế nào, như vậy
được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có những
cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng chúng sanh
ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là
chủ của nghiệp, là những kẻ thừa tự của nghiệp, là
sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương
tựa của nghiệp. Phàm làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là
những kẻ thừa tự của nghiệp ấy.
(VII) (206) Ngọc Ma-Ni
1. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo,
các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu không
cảm thọ (kết quả) thời không có chấm dứt, dầu kết quả
ấy sanh khởi ngay trong đời hiện tại hay trong đời sau. Ta
tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các nghiệp đã tư niệm,
đã làm, đã tích tập, nếu không cảm thọ (kết quả), thời
khổ không có thể chấm dứt được.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, ba phần
là lầm lỗi, phạm tội của thân nghiệp đã bất thiện tư
niệm, dẫn đến khổ đưa đến khổ dị thục. Bốn phần
là lầm lỗi, phạm tội của ngữ nghiệp, đã bất thiện
tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Ba phần
là lầm lỗi, phạm tội của ý nghiệp, đã bất thiện tư
niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là ba phần lầm lỗi, phạm tội của thân
nghiệp đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến
khổ dị thục?
2. Ở đây, này các này các Tỷ-kheo,
có người sát sanh hung bạo, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại
đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả các loài
hữu tình, các sinh vật. Lấy của không cho, bất cứ tài vật
gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng
núi, không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy.
Sống tà hạnh trong các dục vọng, tà hạnh với hạng nữ
nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mệ cha che chở, có
anh em che chở, có chị che chở, có bà con che chở, có pháp
che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ,
cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa (đám
cưới).
Như vậy, này các Tỷ-kheo, ba phần
là lầm lỗi phạm tội của thân nghiệp, đã bất thiện tư
niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Như thế
nào, này các Tỷ-kheo, bốn phần là lầm lỗi, phạm tội của
ngữ nghiệp, đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa
đến khổ dị thục?
3. Người ấy nói láo, đến chỗ
tập hội, hay đến chỗ chúng tôi, hay đến giữa các thân
tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương
tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: "Này người
kia, hãy nói những gì người biết"; dầu cho vị ấy
không
biết, vị ấy nói: "Tôi biết"; dầu cho vị ấy biết, vị
ấy nói: "Tôi không biết". Hay dầu cho vị ấy không thấy,
vị ấy nói: "Tôi có thấy"; hay dầu cho vị ấy thấy, vị
ấy nói: "Tôi không thấy". Như vậy lời nói của người ấy
trở thành cố ý nói láo, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc
nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân vì một vài quyền
lợi. Người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở
chỗ này, đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người
này; nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này,
để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy ly
gián những kẻ hòa hợp, hay xúi giục những kẻ ly gián, ưa
thích chia rẽ, vui thích chia rẽ, thích thú chia rẽ, nói những
lời đưa đến chia rẽ. Và người ấy nói lời thô ác, bất
cứ lời gì thô bạo, thô tục, khiến người đau khổ, khiến
người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến
Thiền định. Người ấy nói những lời như vậy. Và người
ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời
phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi
pháp, nói những lời phi Luật, nói những lời không đáng
gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý,
không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, bốn
phần là lầm lỗi, phạm tội của ngữ nghiệp, đã bất thiện
tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Như thế
nào, này các Tỷ-kheo, ba phần là lầm lỗi, và phạm tội
của ý nghiệp, đã bất thiện tư niệm, đã dẫn đến khổ,
đưa đến khổ dị thục.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người ấy có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng:
"Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của
mình! ". Có sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: "Mong
rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát,
hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn
tồn tại! ". Người ấy có tà kiến, có tưởng điên đảo,
như: "Không có bố thí, không có cúng thí, không có tế tự,
các hành vi thiện ác không có kết quả dị thục, không có
đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không
có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn
chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự mình
với thắng trí, giác ngộ đời này và đời sau, và tuyên
bố". Như vậy, này các Tỷ-kheo, ba phần là lầm lỗi, phạm
tội của ý nghiệp, đã bất thiện tư niệm, đã dẫn đến
khổ, đưa đến khổ dị thục.
5. Này các này các Tỷ-kheo, do nhân
bất thiện tư niệm, sự lầm lỗi và phạm tội của thân
nghiệp có ba phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung
sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Hay là này
các Tỷ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm, lầm lỗi phạm tội
của ngữ nghiệp có bốn phần, các chúng sanh, sau khi thân
hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa
ngục. Hay là này các Tỷ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm,
lầm lỗi phạm tội của ý nghiệp có ba phần, các chúng sanh,
sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục.
6. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
hòn ngọc ma ni viên mãn, được quăng lên và rơi xuống chỗ
nào, tại chỗ ấy nó khéo an lập. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
do nhân bất thiện tư niệm, lầm lỗi phạm tội của thân
nghiệp có ba phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung,
sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Hay là này
các Tỷ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm, lầm lỗi phạm tội
của ngữ nghiệp có bốn phần, các chúng sanh, sau khi thân
hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa
ngục. Hay là này các Tỷ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm,
lầm lỗi phạm tội của ý nghiệp có ba phần, các chúng sanh,
sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục.
7. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo,
các nghiệp được tư niệm, được làm, được tích tập,
nếu không cảm thọ (kết quả) thời không có chấm dứt,
dầu quả ấy thuộc trong đời hiện tại, hay trong đời sau.
Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các nghiệp được tư
niệm, được làm, được tích tập, nếu không cảm thọ (kết
quả) thời khổ không có chấm dứt. Ở đây, này các Tỷ-kheo,
ba phần là thành đạt của thân nghiệp đã thiện tư niệm,
dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục, bốn phần là thành
đạt của ngữ nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc,
đưa đến lạc dị thục, ba phần là thành đạt của ý nghiệp
đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục.
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, ba phần là thành đạt của
thân nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến
lạc dị thục?
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng,
bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến
hạnh phúc của tất cả chúng sanh và các loài hữu tình. Ðoạn
tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, bất cứ
vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại
rừng núi, không cho người ấy, người ấy không lấy trộm
tài vật ấy. Ðoạn tận Sống tà hạnh trong các dục , không
hành tà hạnh với hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che
chở, có mẹ cha che chở, có anh em che chở, có chị che chở,
có bà con che chở, có pháp che chở, đã có chồng, được
hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được
trang sức bằng vòng hoa (đám cưới). Như vậy, này các Tỷ-kheo,
ba phần la 2thành đạt của thân nghiệp, dẫn đến lạc, đưa
đến lạc dị thục. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn
phần là thành đạt của ngữ nghiệp, dẫn đến lạc, đưa
đến lạc dị thục?
9. Ở đây, này các Tỷ-kheo có người
đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, đến chỗ tập hội
hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay
đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa các vương tộc, khi
bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: "Này người kia,
hãy nói những gì người biết", nếu biết, người ấy nói:
"Tôi biết", nếu không biết, người ấy nói: "Tôi không biết";
hay nếu không thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy"; nếu
thấy, người ấy nói: "Tôi thấy". Như vậy lời nói của
người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc nguyên
nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc nguyên nhân
vì một vài quyền lợi gì. Ðoạn tận lời nói hai lưỡi,
từ bỏ nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi
đến chỗ kia nói, để sanh chia rẽ ở những người này;
nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người
này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người
ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ
hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa
hợp. Ðoạn tận lời nói thô ác, từ bỏ lời nói thô ác,
những lời nói nhu hòa, êm tai, dễ thương, thông cảm đến
tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui ý nhiều người,
người ấy nói những lời như vậy. Ðoạn tận lời nói phù
phiếm, từ bỏ lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những
lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời
về chánh Pháp, nói những lời về Luật, nói những đáng
được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý,
có mạch lạc, hệ thống, có lợi ích. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
bốn phần là sự thành đạt của ngữ nghiệp đã thiện tư
niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là ba phần là thành đạt của ý nghiệp
đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục?
10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người không tham ái, không tham lam tài vật của kẻ khác,
không có nghĩ rằng: "Ôi! Mong rằng món tài vật của người
khác trở thành của mình! ". Lại có người không có sân tâm,
không khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: "Mong rằng
những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù,
không nhiễm loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân! ". Có chánh
kiến, không có tư tưởng điên đảo, nghĩ rằng: "Có bố
thí, có cúng thí, có tế tự, các hành vi thiện ác, có kết
quả dị thục, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha,
có các loại hóa sanh, trong đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân
chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự mình chứng
ngộ với thắng trí đời này và đời sau, rồi tuyên bố".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, ba phần
là thành đạt của ý nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến
lạc, đưa đến lạc dị thục.
11. Này các Tỷ-kheo, do nhân ba phần
là thành đạt của thân nghiệp, đã thiện tư niệm, dẫn
đến lạc, đưa đến lạc dị thục, các chúng sanh sau khi
thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi
đời này. Này các Tỷ-kheo, do nhân bốn phần là thành đạt
của ngữ nghiệp, đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa
đến lạc dị thục, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng
chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Này
các Tỷ-kheo, do nhân ba phần là thành đạt của ý nghiệp,
đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục,
các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện
thú, Thiên giới, cõi đời này.
12. Ví như, này các Tỷ-kheo, hòn
ngọc ma-ni viên mãn, được quăng lên và rơi xuống chỗ nào,
tại chỗ ấy nó khéo an lập. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
do nhân thiện tư niệm, thành đạt của thân nghiệp có ba
phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào thiện
thú, thiên giới, cõi đời này. Hay là do nhân thiện tư niệm,
thành đạt của ngữ nghiệp có bốn phần, các chúng sanh,
sau khi thân hoại mạng chung sanh vào thiện thú, Thiên giới,
cõi đời này. Hay là do nhân thiện tư niệm, thành đạt của
ý nghiệp có ba phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng
chung sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
13. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố
rằng các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu
chưa lãnh thọ (kết quả) thời không chấm dứt, dầu cho quả
ấy thuộc đời hiện tại, hay trong đời sau, và này các Tỷ-kheo,
Ta tuyên bố rằng các nghiệp đã tư niệm, đã được làm,
đã được tích tập, nếu chưa lãnh thọ (kết quả) thời
khổ không được chấm dứt.
(VIII) (207) Tổn Giảm và Tăng
Trưởng
(kinh này giống hẳn như
kinh trước 206).
(IX) (208) Phạm Thiên Trú
1. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo,
các nghiệp được tư niệm, được làm, được tích tập,
nếu không cảm thọ (kết quả) thời không có chấm dứt,
dầu quả ấy thuộc trong đời hiện tại, hay thuộc trong đời
sau. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các nghiệp được
tư niệm, được làm, được tích tập, nếu không cảm thọ
(kết quả) thời không có chấm dứt. Vị Thánh đệ tử ấy,
này các Tỷ-kheo, như vậy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ
si, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với từ, an trú
biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy
phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy phía trên,
phía dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô
biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với
từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy biết
rõ như sau: "Trước kia, tâm này của ta là nhỏ, không tu tập.
Nhưng nay, tâm này của ta là vô lượng, khéo tu tập. Lại
nữa, phàm nghiệp gì được làm có giới hạn, nay nó sẽ
không sống trong giới hạn ấy nữa, nó sẽ không đứng trong
giới hạn ấy nữa". Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo,
nếu đứa trẻ này, từ tuổi trẻ trở lên tu tập từ tâm
giải thoát, nó có thể làm nghiệp ác không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Do không làm điều ác, nó có cảm
giác khổ hay không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn. Không
làm điều ác, bạch Thế Tôn, từ đâu nó sẽ cảm giác khổ
được?
2. Này các Tỷ-kheo, từ tâm giải
thoát này cần phải tu tập bởi nữ nhân hay nam nhân. Này
các Tỷ-kheo, thân này không bị nam nhân hay nữ nhân cầm lấy
rồi mang đi. Này các Tỷ-kheo, con đường phải chết này ở
giữa những tư tưởng. Vị ấy rõ biết như sau: "Phàm ác
nghiệp nào do ta làm từ trước với cái thân do nghiệp làm
ra này, tất cả cần phải cảm thọ ở đây, nó không thể
theo ta và được hiện hữu về sau". Như vậy, này các Tỷ-kheo,
từ tâm giải thoát được tu tập đưa đến không có trở
lui, đối với Tỷ-kheo có trí tuệ, có được trong đời này,
nhưng vị ấy chưa thể nhập sự giải thoát hơn thế nữa.
3. Với tâm câu hữu với bi... với
tâm hầu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, vị ấy
biến mãn một phương và an trú, như vậy phương thứ hai,
như vậy phương thứ ba, như vậy phương thứ tư. Như vậy
phía trên, phía dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng
khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu
hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Vị ấy biết rõ như sau: "Trước kia, tâm này của ta là nhỏ,
không tu tập. Nhưng nay, tâm này của ta là vô lượng, khéo
tu tập. Lại nữa, phàm nghiệp gì được làm có giới hạn,
nay nó sẽ không sống trong giới hạn ấy nữa, nó không đứng
trong gìới hạn ấy nữa". Các Thầy nghĩ thế nào, này các
Tỷ-kheo, nếu đứa trẻ này, từ tuổi trẻ trở lên tu tập
xả tâm giải thoát, nó có thể làm nghiệp ác không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Do không làm điều ác, nó có cảm
giác khổ hay không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn. Không
làm điều ác, bạch Thế Tôn, từ đâu nó sẽ cảm giác khổ
được.
4. Này các Tỷ-kheo, xả tâm giải
thoát này cần phải tu tập bởi nữ nhân hay nam nhân. Này
các Tỷ-kheo, thân này không bị nam nhân hay nữ nhân cầm lấy
rồi đem đi. Này các Tỷ-kheo, con người phải chết này ở
giữa những tư tưởng. Vị ấy rõ biết như sau: "Phàm ác
nghiệp nào do ta làm từ trước với cái thân do nghiệp làm
ra này, tất cả cần phải cảm thọ ở đây, nó không thể
theo và được hiện hữu về sau". Như vậy, này các Tỷ-kheo,
xả tâm này được tu tập, đưa đến không có trở lui, đối
với Tỷ-kheo có trí tuệ, có được trong đời này, nhưng
vị ấy chưa thể nhập sự giải thoát hơn thế nữa.
(X) (209) Sau Khi Chết
1. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón
hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân
hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vị
Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
- Do nhân gì, do duyên gì, ở đây
có hạng chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào
cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?
- Do nhân phi pháp hành và bất bình
đẳng hành, này Bà-la-môn, như vậy ở đây, một số chúng
sanh sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú,
đọa xứ, địa ngục.
- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì,
do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi thân hoại mạng
chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?
- Do nhân pháp hành và bình đẳng
hành, này Bà-la-môn, như vậy ở đây, một số chúng sanh sau
khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Thiện thú, Thiên
giới, cõi đời này.
- Lời tuyên bố vắn tắt này của
Sa-môn Gotama, con không hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi. Lành
thay, nếu Tôn giả Gotama, như vậy thuyết pháp cho con, để
con có thể như vậy hiểu được ý nghĩa một cách rộng rãi
lời nói vắn tắt này của Sa-môn Gotama.
- Vậy này Bà-la-môn, hãy nghe và
khéo tác ý, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, Tôn giả.
Vị Bà-la-môn ấy vâng đáp Tôn
giả Gotama. Tôn giả Gotama nói như sau:
2. Này Bà-la-môn, phi pháp hành, bất
bình đẳng hành về thân có ba; phi pháp hành, bất bình đẳng
hành về lời có bốn; phi pháp hành, bất bình đẳng hành
về ý có ba. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp hành,
bất bình đẳng hành về thân có ba? ... (Xem kinh 206, đoạn
2).
Như vậy, này Bà-la-môn, phi pháp
hành, bất bình đẳng hành về thân có ba. Như thế nào, này
Bà-la-môn, phi pháp hành, bất bình đẳng hành về lời có
bốn? ... (Xem kinh 206, đoạn 3).
Như vậy, này Bà-la-môn, phi pháp
hành, bất bình đẳng hành về lời có bốn. Và như thế nào,
này Bà-la-môn, phi pháp hành, bất bình đẳng hành về ý có
ba? ... (Xem kinh 206, đoạn 4).
Như vậy, này Bà-la-môn, phi pháp
hành, bất bình đẳng hành về ý có ba.
Như vậy, do nhân phi hành pháp, bất
bình đẳng hành, này Bà-la-môn như vậy ở đây có các loài
chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ,
ác thú, đọa xứ, địa ngục.
3. Này Bà-la-môn, pháp hành, bình
đẳng hành về thân có ba; pháp hành, bình đẳng hành về
lời có bốn; pháp hành, bình đẳng hành về ý có ba. Như
thế nào, này Bà-la-môn, pháp hành, bình đẳng hành về thân
có ba? ... (như kinh trước 206, đoạn 8)...
Như vậy, này Bà-la-môn, pháp hành,
bình đẳng hành về thân có ba. Và này Bà-la-môn, như thế
nào pháp hành, bình đẳng hành về lời có bốn? ... (Xem
kinh 206, đoạn 9).
Như vậy, này Bà-la-môn, pháp hành,
bình đẳng hành về lời có bốn. Và này Bà-la-môn, như thế
nào pháp hành, bình đẳng hành về ý có ba? ... (Xem kinh
206, đoạn 10).
Như vậy, này Bà-la-môn, pháp hành,
bình đẳng hành về ý có ba.
Như vậy, này Bà-la-môn, do nhân
pháp hành, bình đẳng hánh, như vậy, một số chúng sanh sau
khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên
giới, cõi đời này.
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả
Gotama! ... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ,
từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
XXII. Không Có
Ðầu Ðề
(I) (210) Mười Pháp
1. Thành tựu mười pháp, này các
Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục Thế
nào là mười?
2. Sát sanh, lấy của không cho, tà
hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời thô ác,
nói lời phù phiếm, tham ái, sân tâm, tà kiến.
Thành tựu mười pháp này, này các
Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
3. Thành tựu mười pháp, này các
Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.
Thế nào là mười?
4. Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy
của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói
láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ
nói lời phù phiếm, không tham, không sân, tâm chánh kiến.
Thành tựu mười pháp này, này các
Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.
(II) (211) Hai Mươi Pháp
1. Thành tựu hai mươi pháp, như
vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là hai mươi?
2. Tự mình sát sanh, khuyến khích
người khác sát sanh; tự mình lấy của không cho, khuyến khích
người khác lấy của không cho; tự mình tà hạnh trong các
dục; khuyến khích người khác tà hạnh trong các dục; tự
mình nói láo và khuyến khích người khác nói láo; tự mình
nói hai lưỡi; tự mình nói lời thô ác và khuyến khích người
khác nói lời thô ác; tự mình nói lời phù phiếm và khuyến
khích người khác nói lời phù phiếm ; tự mình tham và khuyến
khích người khác tham; tự mình có sân tâm và khuyến khích
người khác có sân tâm; tự mình có tà kiến và khuyến khích
người khác có tà kiến.
Thành tựu hai mươi pháp này, này
các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
3. Thành tựu hai mươi pháp này,
này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên
giới. Thế nào là hai mươi?
4. Tự mình từ bỏ sát sanh và khuyến
khích người khác từ bỏ sát sanh; tự mình từ bỏ lấy của
không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không
cho; tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục; khuyến khích
người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục; tự mình từ bỏ
nói láo và khuyến khích người khác từ bỏ nói láo; tự
mình từ bỏ nói hai lưỡi và khuyến khích người khác từ
bỏ nói hai lưỡi; tự mình từ bỏ nói lời thô ác và khuyến
khích người khác từ bỏ nói lời thô ác; tự mình từ bỏ
nói lời phù phiếm và khuyến khích người khác từ bỏ nói
lời phù phiếm; tự mình không tham và khuyến khích người
khác không tham; tự mình không có sân tâm và khuyến khích
người khác không có sân tâm; tự mình có chánh kiến và khuyến
khích người khác có chánh kiến.
Thành tựu hai mươi pháp này, này
các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.
(III) (212) Ba Mươi Pháp
1. Thành tựu ba mươi pháp, này các
Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế
nào là ba mươi?
2. Tự mình sát sanh, khuyến khích
người khác sát sanh, và tùy thuận sát sanh; tự mình lấy
của không cho, khuyến khích người khác lấy của không cho,
và tùy thuận lấy của không cho; tự mình tà hạnh trong các
dục; khuyến khích người khác tà hạnh trong các dục, và
tùy thuận tà hạnh trong các dục; tự mình nói láo; khuyến
khích người khác nói láo, và tùy thuận nói láo; tự mình
nói hai lưỡi; khuyến khích người khác nói hai lưỡi, và
tùy thuận nói hai lưỡi; tự mình nói lời thô ác; khuyến
khích người khác nói lời thô ác, và tùy thuận nói lời
thô ác; tự mình nói lời phù phiếm; và khuyến khích người
khác nói lời phù phiếm, và tùy thuận nói lời phù phiếm;
tự mình có tham, khuyến khích người khác có tham, và tùy
thuận có tham; tự mình có sân tâm và khuyến khích người
khác có sân tâm, và tùy thuận sân tâm; tự mình có tà kiến
và khuyến khích người khác có tà kiến, và tùy thuận tà
kiến.
Thành tựu với ba mươi pháp này,
này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
3. Thành tựu với ba mươi pháp này,
này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên
giới. Thế nào là ba mươi?
4. Tự mình từ bỏ sát sanh, khuyến
khích người khác từ bỏ sát sanh, và không tùy thuận sát
sanh; tự mình từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người
khác từ bỏ lấy của không cho, và không tùy thuận lấy của
không cho; tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục; khuyến
khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, và không
tùy thuận tà hạnh trong các dục; tự mình từ bỏ nói láo;
khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, và không tùy thuận
nói láo; tự mình từ bỏ nói hai lưỡi; khuyến khích người
khác từ bỏ nói hai lưỡi, và không tùy thuận nói hai lưỡi;
tự mình từ bỏ nói lời thô ác; khuyến khích người khác
từ bỏ nói lời thô ác, và không tùy thuận nói lời thô
ác; tự mình từ bỏ nói lời phù phiếm; và khuyến khích
người khác từ bỏ nói lời phù phiếm, và không tùy thuận
nói lời phù phiếm; tự mình từ bỏ tham, khuyến khích người
khác từ bỏ tham, và không tùy thuận từ bỏ tham; tự mình
từ bỏ sân tâm và khuyến khích người khác từ bỏ sân tâm,
và không tùy thuận sân tâm; tự mình có chánh kiến và khuyến
khích người khác có chánh kiến, và tùy thuận chánh kiến.
Thành tựu với ba mươi pháp này,
này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên
giới.
(IV) (213) Bốn Mươi Pháp
1. Thành tựu với bốn mươi pháp,
này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
Thế nào là bốn mươi?
2. Tự mình sát sanh, khuyến khích
người khác sát sanh, tùy thuận sát sanh, và tán thán sát sanh;
tự mình lấy của không cho, khuyến khích người khác lấy
của không cho, tùy thuận lấy của không cho, và tán thán lấy
của không cho; tự mình tà hạnh trong các dục; khuyến khích
người khác tà hạnh trong các dục, tùy thuận tà hạnh trong
các dục, và tán thán tà hạnh trong các dục; tự mình nói
láo; khuyến khích người khác nói láo, tùy thuận nói láo,
và tán thán nói láo; tự mình nói hai lưỡi; khuyến khích
người khác nói hai lưỡi, tùy thuận nói hai lưỡi, và tán
thán nói hai lưỡi; tự mình nói lời thô ác; khuyến khích
người khác nói lời thô ác, tùy thuận nói lời thô ác, và
tán thán nói lời thô ác; tự mình nói lời phù phiếm; và
khuyến khích người khác nói lời phù phiếm, tùy thuận nói
lời phù phiếm, và tán thán nói lời phù phiếm; tự mình
có tham, khuyến khích người khác có tham, tùy thuận có tham,
và tán thán có tham; tự mình có sân tâm và khuyến khích người
khác có sân tâm, tùy thuận sân tâm, và tán thán có sân tâm;
tự mình có tà kiến và khuyến khích người khác có tà kiến,
tùy thuận có tà kiến, và tán thán có tà kiến.
Thành tựu bốn mươi pháp này, này
các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
3. Thành tựu với bốn mươi pháp,
như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới. Thế nào
là bốn mươi?
4. Tự mình từ bỏ sát sanh, không
khuyến khích người khác sát sanh, không tùy thuận sát sanh,
và không tán thán sát sanh; tự mình từ bỏ lấy của không
cho, không khuyến khích người khác lấy của không cho, không
tùy thuận lấy của không cho, và không tán thán lấy của
không cho; tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục; không khuyến
khích người khác tà hạnh trong các dục, không tùy thuận
tà hạnh trong các dục, và không tán thán tà hạnh trong các
dục; tự mình không nói láo; không khuyến khích người khác
nói láo, không tùy thuận nói láo, và không tán thán nói láo;
tự mình từ bỏ nói hai lưỡi; không khuyến khích người
khác nói hai lưỡi, không tùy thuận nói hai lưỡi, và không
tán thán nói hai lưỡi; tự mình không nói lời thô ác; không
khuyến khích người khác nói lời thô ác, không tùy thuận
nói lời thô ác, và không tán thán nói lời thô ác; tự mình
từ bỏ nói lời phù phiếm; không khuyến khích người khác
nói lời phù phiếm, không tùy thuận nói lời phù phiếm, và
không tán thán nói lời phù phiếm; tự mình từ bỏ tham, không
khuyến khích người khác tham, không tùy thuận tham, và không
tán thán tham; tự mình từ bỏ sân tâm và không khuyến khích
người khác sân tâm, không tùy thuận sân tâm, và không tán
thán sân tâm; tự mình có chánh kiến và khuyến khích người
khác có chánh kiến, tùy thuận có chánh kiến, và tán thán
có chánh kiến.
Thành tựu bốn mươi pháp này, này
các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.
(V) (214) Tổn Hại
- Thành tựu với mười pháp, này
các Tỷ-kheo, đem theo mình một tự ngã bị tổn hại, bị
hủy hoại... đem theo mình một tự ngã không bị tổn hại...
không bị hủy hoại... thành tựu với hai mươi pháp, này các
Tỷ-kheo... thành tựu với ba mươi pháp, này các Tỷ-kheo...
thành tựu với bốn mươi ph