X. Phẩm
Nam Cư Sĩ
(I) (91) Người Hưởng Dục
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi,
tại Jetavana, khu vườn ông Anàhapindika. Rồi nam cư sĩ Anàthapindika
đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Thế tôn nói với Anàthapindika đang ngồi một
bên:
2. - Này Gia chủ, có mười người
hưởng dục này có mặt hiện hữu ở đời. Thế nào là mười?
3. Ở đây, này Gia chủ, có hạng
người hưởng dục, tầm cầu tài sản phi pháp với sứ mạnh.
Sau khi tầm cầu tài sản chi pháp với sức mạnh, vị ấy
không tự mình được an lạc, hân hoan, không có chia xẻ, không
làm các công đức.
4. Ở đây, này Gia chủ, có hạng
người hưởng dục, tầm cầu tài sản phi pháp với sức mạnh.
Sau khi tầm cầu tài sản phi pháp với sức mạnh, vị ấy
tự mình được an lạc, hân hoan, không có chia xẻ, không làm
các công đức.
5. Ở đây, này Gia chủ, có hạng
người hưởng dục, tầm cầu tài sản phi pháp với sức mạnh,
sau khi tầm cầu tài sản phi pháp với sức mạnh, tự mình
được an lạc, hân hoan, chia xẻ, làm các công đức.
6. Ở đây, này Gia chủ, có hạng
người hưởng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp
với sức mạnh và không với sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài
sản đúng pháp và phi pháp với sức mạnh và không với sức
mạnh, vị ấy không tự mình được an lạc, hân hoan, không
có chia xẻ, không làm các công đức.
7. Ở đây, này Gia chủ, có hạng
người hướng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp
với sức mạnh và không sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản
đúng pháp và phi pháp với sức mạnh và không với sức mạnh,
tự mình được an lạc hân hoan, nhưng không chia xẻ, không
làm các công đức.
8. Ở đây, này Gia Chủ, có hạng
người hưởng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp
với sức mạnh và không với sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài
sản đúng pháp và phi pháp với sức mạnh và không với sức
mạnh, vị ấy tự mình được an lạc, hân hoan, có chia xẻ,
có làm các công đức.
9. Ở đây, này Gia chủ, có hạng
người hưởng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp không với
sức mạnh; sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp không với
sức mạnh, vị ấy không tự mình được an lạc, hân hoan,
không chia xẻ, không làm các công đức.
10. Ở đây, này Gia chủ, có người
hưởng dục tầm cầu tải sản đúng pháp không với sức
mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức
mạnh, vị ấy tự mình được an lạc, hân hoan, không chia
xẻ, không làm các công đức.
11. Ở đây, này Gia chủ, có người
hưởng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức
mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức
mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ, làm các
công đức. Và vị này hưởng thụ các tài sản ấy với tâm
tham trước, đắm say, mê loạn, không thấy sự nguy hại, không
với trí tuệ xuất ly.
12. Ở đây, này Gia chủ, có người
hưởng dục, tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức
mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp không với sức
mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ, làm các
công đức. Và vị này hưởng thụ các tài sản ấy, không
với tâm tham trước, không đắm say, không mê loạn, thấy
sự nguy hại, với trí tuệ xuất ly.
13. Tại đây, này Gia chủ, vị hưởng
dục này, tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh; Sau
khi tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, vị ấy
không tự mình an lạc, hân hoan, không chia xẻ, không làm các
công đức. Này Gia chủ, vị hưởng dục này do ba điều bị
quở trách: "Tầm cầu tài sản phi pháp, dùng sức mạnh là
điều thứ nhất, bị khiển trách; không tự mình an lạc hân
hoan là điều thứ hai, bị khiển trách; không chia xẻ, không
làm công đức là điều thứ ba, bị khiển trách.
Này Gia chủ, vị hưởng dục này
có ba điều bị quở trách.
14. Tại đây, này Gia chủ, vị hưởng
dục này, tầm cầu tài sản phi pháp, dùng sức mạnh. Sau khi
tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, vị ấy tự
mình an lạc hân hoan, không chia xẻ, không làm các công đức.
Này gia chủ, vị hưởng dục này có hai điều bị quở trách,
và một điều được tán thán. Vị ấy tầm cầu tài sản
phi pháp và dùng sức mạnh do điều thứ nhất này, bị quở
trách. vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do một điều này
được tán thán. Vị ấy không san sẻ, không làm các công
đức, do điều thứ hai này, bị chỉ trích.
Vị hưởng dục này, này gia chủ,
có hai điều này bị chỉ trích, và một điều này được
tán thán.
15. Tại đấy, này Gia chủ, vị
hưởng dục này, tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh.
Sau khi tầm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, vị ấy
tự mình an lạc, hân hoan, san sẻ và làm các công đức. Vị
hưởng dục này, này Gia chủ, do một điều bị chỉ trích,
do hai điều được tán thán. Vị ấy tầm cầu tài sản một
cách phi pháp và dùng sức mạnh, do một điều này, bị chỉ
trích. Vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ nhất
này được tán thán. Vị ấy chia xẻ và làm các công đức,
do điều thứ hai này được tán thán.
Vị hưởng dục này, này Gia chủ,
có một điều bị chỉ trích, và hai điều được tán thán.
16. Tại đây, này Gia chủ, vị hưởng
dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp, dùng sức
mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng
pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh,
vị ấy không tự mình an lạc, hân hoan, không chia xẻ, không
làm các công đức. Vị hưởng dục này, này gia chủ, có một
điều được tán thán, có ba đièu bị chỉ trích. Vị ấy
tấm cầu tài sản đúng pháp không dùng sức mạnh, do một
điều này được tán thán. Vị ấy tầm cầu tài sản phi
pháp và dùng sức mạnh, do điều thứ nhất này bị chỉ trích.
Vị ấy không tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ hai này
bị chỉ trích. Vị ấy không chia xẻ, không làm các công đức,
do điều thứ ba này bị chỉ trích.
Vị hưởng dục này, này Gia chủ,
có một điều này được tán thán, và ba điều này bị chỉ
trích.
17. Tại đây, này Gia chủ, người
hưởng dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp,
dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài
sản đúng pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức
mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia sẻ và làm các
công đức. Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có ba điều
được tán thán, và một điều bị chỉ trích. Vị ấy tầm
cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh, do điều
thứ nhất này được tán thán. Vị ấy tầm cầu tài sản
phi pháp và dùng sức mạnh, do điều thứ nhất này bị chỉ
trích. Vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ hai
này được tán thán. vị ấy không san sẻ, không làm các công
đức đo điều thứ hai naỳ bị chỉ trích.
Vị hưởng dục này, này Gia chủ,
có hai điều này được tán thán, và hai điều này bị chỉ
trích.
18. Tại đây, này Gia chủ, người
hưởng dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và phi pháp,
dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi, tầm cầu
tài sản đúng pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng
sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ và làm
các công đức. Vị hưởng dục này, này Gia chủ, có ba điều
được tán thán, và một điều bị trích. Vị ấy tầm cầu
tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh, do điều thứ
nhất này được tán thán. Vị ấy tầm cầu tài sản phi pháp
và dùng sức mạnh, do điều thứ nhất này, bị chỉ trích.
Vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ hai này, được
tán thán. Vị ấy chia xẻ và làm các công đức, do điều
thứ ba này, được tán thán.
Vị hưởng dục này, này Gia chủ,
có ba điều này được tán thán, và một điều này trích.
19. Tại đây, này Gia chủ, vị hưởng
dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức
mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đứng pháp và không dùng sức
mạnh, vị ấy không tự mình an lạc, hân hoan, không chia xẻ
và làm các công đức. vị hưởng dục này, này Gia chủ, có
một điều được tán thán, và hai điều bị chỉ trích. Vị
ấy tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh,
do điều này được tán thán. Vị ấy không tự mình an lạc,
hân hoan, và điều thứ nhất này, bị chỉ trích. Vị ấy
không chia xẻ, không làm các công đức, do điều thứ hai này,
bị chỉ trích.
Vị hưởng dục này, này Gia chủ,
có một điều này được tán thán, và hai điều này bị chỉ
trích.
20. Tại đây, này Gia chủ, người
hường dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng
sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng
sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, không chia xẻ,
không làm các công đức. Vị hưởng dục này, này Gia chủ,
có hai điều được tán thán, và một điều bị chỉ trích.
Vị ấy tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức mạnh,
do điều thứ nhất này được tán thán. Vị ấy tự mình
an lạc, hân hoan, do điều thứ hai này, được tán thán. vị
ấy không chia xẻ, không làm các công đức, do điều thứ
nhất này, bị chỉ trích.
Vị hưởng dục này, này Gia chủ,
có hai điều được tán thán, và một điều bị chỉ trích.
21. Tại đây, này gia chủ, người
hưởng dục này tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng
sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng
sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ và làm
các công đức. Và người ấy thọ hưởng các tài sản ấy
tham đàm, đắm say, mê loạn, không thấy sự nguy hại, không
có xuất ly với trí tuệ. Người hưởng dục này, này Gia
chủ, có ba điều được tán thán, và một điều bị chỉ
trích. Vị ấy tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng
sức mạnh, do điều thứ nhất này, được tán thán. Vị ấy
tự mình an lạc, hân hoan, do điều thứ hai này, được tán
thán. Vị ấy chia xẻ các công đức, do điều thứ ba này,
được tán thán. Vị ấy thọ hưởng các tài sản ấy tham
đắm, đắm say, mê loạn, không thấy sự nguy hại, không có
xuất ly với trí tuệ, do một điều này bị chỉ trích
Vị hưởng dục này, này Gia chủ,
có ba điều này được tán thán, và một điều này bị chỉ
trích.
22. Tại đây, này Gia chủ, vị hưởng
dục này, tầm cầu tài sản đúng pháp và không dùng sức
mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đứng pháp và không dùng sức
mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia xẻ và làm các
công đức. Người ấy hưởng thọ các tài sản ấy, không
có tham đắm, không có đắm say, không có mê loạn, thấy được
sự nguy hại, có xuất ly với trí tuệ. Vị hưởng dục này,
này Gia chủ, có bốn điều được tán thán. Vị ấy tầm
cầu đúng pháp và không dùng sức mạnh, do điều thứ nhất
này, được tán thán. Vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, do
điều thứ hai này, được tán thán. Vị ấy chia xẻ và làm
các công đức, do điều thứ ba này, được tán thán. vị
ấy thọ hưởng các tài sản ấy, không tham đắm, không có
đắm say, không có mê loạn, thấy được sự nguy hại, có
xuất ly với trí tuệ, do điều thứ tư này, được tán thán
Vị hưởng dục này, này Gia chủ,
có bốn điều này được tán thán.
Này Gia chủ, mười hạng người
hưởng dục này có mặt, hiện ở đời.
23. Trong mười hạng người hưởng
dục này, này Gia củ, người hưởng dục tầm cầu tài sản
đúng pháp, không dùng sức mạnh, Sau khi tầm cầu tài sản
đúng pháp, không dùng sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc,
hân hoan, chia xẻ, làm các công đức, hưởng thọ các tài
sản ấy, không tham đắm, không đắm say, không mê loạn thấy
được sự nguy hại, có xuất ly với trí tuệ. Trong mười
hạng người hưởng dục này, hạng người này là tối thượng,
là tối thắng, là thượng thủ, là vô thượng, là tối tôn.
Ví như, này Gia chủ, từ con bò
có sữa, từ sữa có lạc, từ lạc có sanh tô, từ sanh tô
có thục tô, từ thục tô có tinh túy của thục tô, để hồ,
tinh túy thục tô được xem như tối thượng ở đây. Cũng
vậy, này gia chủ, trong mười hạng người hưởng dục này,
vị hưởng dục này tầm cầu tài sản đúng pháp và không
dùng sức mạnh. Sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp và không
dùng dùng sức mạnh, vị ấy tự mình an lạc, hân hoan, chia
xẻ và làm các công đức, thọ hưởng các tài sản ấy, không
tham đắm, không đắm say, không mê loạn, thấy được sự
nguy hại, có xuất ly với trí tuệ. Hạng người này là tối
thượng, tối thắng, thượng thủ, vô thượng và tối tôn.
(II) (32) Sợ Hãi Và Hận Thù
1. Bấy giờ có gia chủ Anàthapindika
đi đến Thế Tôn, ... Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika
đang ngồi xuống một bên.
2. - Này Gia chủ, khi nào vị Thánh
đệ tử làm cho lắng dịu năm sợ hãi hận thù, thành tựu
bốn chi phần Dự lưu, khéo thấy, khéo thể nhập Thánh lý
với trí tuệ; nếu vị ấy muốn, có thể tự trả lời với
mình rằng: "Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận
bàng sanh; ta đã đoạn tận ngạ quỷ; Ta đã đoạn tận các
cõi dữ, ác thú, đọa xứ; ta đã chứng Dự lưu, không còn
bị đọa lạc, quyết chắc cứu cánh được giác ngộ." Thế
nào là năm sợ hãi hận thù được làm cho lắng dịu?
3. Này Gia chủ, sát sanh, do duyên
sát sanh tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo
ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ
ưu. Người từ bỏ sát sanh, không tạo ra sợ hãi hận thù
trong hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong tương
lai, không khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát
sanh, làm lắng dịu sợ hãi hận thứ này.
4. Này Gia chủ, lấy của không cho...
tà hạnh trong các dục... nói láo... đắm say trong rượu men,
rượu nấu; do duyên đắm say trong rượu men, rượu nấu, tạo
ra sợ hãi hận ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù
trong tương lai, khiến cảm thọ khổ ưu về tâm. Người từ
bỏ không đắm say trong rượu men, rượu nấu, không tạo ra
sợ hãi thù hận ngay hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong
tương lai, không khiến cảm thọ khổ ưu về tâm. Với người
từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, như vậy sợ hãi hận
thù này được lắng dịu.
Năm sợ hãi hận thù này được
lắng dịu. Thế nào là thành tựu bốn Dự lưu phần?
5. - Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh
đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật.
Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian giải,
Vô thượng sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật,
Thế tôn. Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với
Pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện
tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng
hướng thượng, được người tri tự mình giác hiểu". Vị
ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng:
"Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng
đệ tử Thế Tôn; ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn.
Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi
tám chúng. Chúng đệ tử thế Tôn đáng được cung kính, đáng
được tôn trọng, đáng được đảng lễ, đáng được chắp
tay, là phước điền vô thượng ở đời." Vị ấy thành tựu
với những giới được các bậc Thánh ái kính, không bị
phá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không
bị uế nhiễm đưa đến giải thoát, được bậc trí tán
thán, không bị chấp trước, đưa đến Thiền định.
Ðây là thành tựu bốn chi phần
Dự lưu này. Thế nào Thánh chánh lý được khéo thấy, khéo
thể nhập với trí tuệ?
6. - Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh
đệ tử quán sát như sau: "Do cái này có, cái kia có. Do cái
này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có, cái kia không có.
Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là do duyên vô minh, có
các hành. Do duyên các hành có thức. Do duyên thức có danh
sắc. Do duyên danh sắc có sáu nhập. Do duyên sáu nhập có
xúc. do duyên xúc có thọ. Do duyên thọ có ái. Do duyên ái
có thủ. Do duyên thủ có hữu. do duyên hữu có sanh. Do duyên
sanh có già chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy, là sự
tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do vô minh diệt không
có dư tàn, nên các hành. Do các hành diệt nên thức diệt.
Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu
nhập diệt. Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên
thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do hữu diệt nên sanh
diệt. Do sanh diệt nên già chết sầu bi khổ ưu não diệt.
Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt. Ðây là Thánh lý
được khéo thấy và khéo thể nhập với trí tuệ."
Này Gia chủ, khi nào với vị Thánh
đệ tử, năm sợ hãi hận thủ này được lắng dịu, bốn
Dự lưu phần này được thành tựu, và Thánh lý này được
khéo thấy và khéo thể nhập với trí tuệ, thời nếu muốn,
vị ấy có thể tự mình trả lời về mình rằng: "Ta đã
đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận bàng sanh; ta đã
đoạn tận ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa
xứ; ta đã chứng được Dự lưu, không còn bị đọa lạc,
quyết chắc chứng đạt cứu cánh giác ngộ."
(III) (93) Kiến
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi,
Jetavana, tại khu vườn Anàthapindika. Bấy giờ có gia chủ Anàthapindika,
vào buổi sáng thật sớm đi ra hỏi Sàvatthi để yết kiến
Thế Tôn. Rồi gia chủ Anàthapindika suy nghĩ: "Nay không phải
thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang Thiền tịnh.
Cũng không phải thời để yến kiến các vị Tỷ-kheo đang
tu tập về ý, các Tỷ-kheo tu tập về ý đang Thiền tịnh.
Vậy ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo". Vậy
gia chủ Anàthapindika đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo.
2. Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại
đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp ồn ào, cao tiếng,
lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. các du sĩ
ngoại đạo ấy thấy gia chủ Anàthapindika từ xa đi đến,
khi thấy vậy liền dặn dò bảo với nhau: "Hãy bớt ồn ào,
các Tôn giả chớ có làm ồn, các tôn giả. Gia chủ Anàthapindika
này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, trong những
đệ tử của Sa-môn Gotama có gia đình mặc áo trắng ở Sàvatthi,
gia chủ Anàthapindika là một trong những vị ấy. Các vị ấy
ít ưa ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán
ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy
có thể nghĩ đến thăm ở đây". Rồi các du sĩ ngoại đạo
ấy giữ im lặng.
3. Rồi Gia chủ Anàthapinidika đi
đến các du sĩ đạo ấy, sau khi đến, nói lên với các du
sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi
nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi
xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Gia chủ
Anàthapidika đang ngồi một bên:
- Này Gia chủ, hãy nói lên Sa-môn
Gatama có kiến gì?
- Thưa các Tôn giả, tôi không biết
tất cả kiến của Thế Tôn.
- Này Gia chủ, Gia chủ có thể không
biết tất cả kiến của Sa-môn Gotama. Nhưng này Gia chủ, hãy
nói các Tỷ-kheo có kiến gì?
- Thưa các Tôn giả, tôi không biết
tất cả kiến của các Tỷ-kheo.
- Này Gia chủ, Gia chủ có thể không
biết tất cả kiến của Sa-môn Gotama, Gia chủ có thể không
biết tất cả kiến của các Tỷ-kheo. Vậy này Gia chủ, hãy
nói về kiến của gia chủ.
- Thưa các Tôn giả, thật không
khó gì để chúng tôi trả lời về kiến của chúng tôi. Nhưng
các Tôn hãy trả lời về kiến của các Tôn giả trước.
Rồi sau thật không khó gì để chúng tôi trả lời về kiến
của chúng tôi.
4. Khi được nói vậy, một du sĩ
ngoại đạo nói với gia chủ Anàthapindika: "Thường còn là
thể giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng.
Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi". Một du sĩ ngoại
đạo khác nói với gia chủ Anàthapindika: "Vô thường là thế
giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng.
Như vậy là kiến của tôi." Rồi một du sĩ ngoại đạo khác
nói với gia chủ Anàthapindika: "Có biên tế là thế giới...
không có biên tế là thế giới... mạng sống và thân thể
là một... mạng sống và thân thể là khác... Như Lai có tồn
tại sau khi chết... Như Lai không có tồn tại sau khi chết...
Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết... Như
Lai không có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Kiến
này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ,
như vậy là kiến của tôi".
5. Khi nghe nói vậy, gia chủ Anàthapindika
nói với các du sĩ ngoại đạo ấy:
- Thưa các Tôn giả, Tôn giả nào
nói như sau: "Thường còn là thế giới. Kiến này là sự thật.
Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến
của tôi". Kiến này của Tôn giả ấy, hoặc nhân tự mình
tác ý không hợp lý, hay do duyên nghe tiếng người khác nói.
Kiến ấy như vậy được sanh được tác thành (hữu vi) do
tâm suy tư, do duyên khởi lên. Và cái gì được sanh, được
tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên, cái ấy là vô
thường; cái gì vô thường, cái ấy là khổ; cái (khổ) ấy,
Tôn giả chấp trước (dính vào); cái (khổ) ấy, Tôn giả
chấp nhận. Thưa các Tôn giả, Tôn giả nào nói như sau: "Vô
thường là thế giới này... có biên tế là thế giới này...
không biên tế là thế giới này...sinh mạng và thân thể là
một... sinh mạng và thân thể là khác... Như Lai có tồn tại
sau khi chết... Như Lai không tồn tại sau khi chết... Như Lai
không có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Kiến này
là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như
vậy là kiến của tôi". Kiến này của Tôn giả ấy, hoặc
nhân tự mình tác ý không hợp lý, hoặc do duyên nghe tiếng
người khác nói. kiến như vậy được sanh, được tác thành,
do tâm suy tư, do duyên khởi lên. Và cái gì được sanh, được
tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên, cái ấy là vô
thường; cái gì vô thường, cái ấy là khổ; cái (khổ) ấy,
Tôn giả chấp trước; cái khổ ấy Tôn giả chấp nhận.
6. Khi được nói vậy, các du sĩ
ngoại đạo ấy nói với gia chủ Anàthapindika:
- Này Gia chủ, tất cả kiến của
chúng tôi đã được nói lên. Này Gia chủ, hãy nói lên kiến
của gia chủ là gì?
- Thưa các Tôn giả, phàm cái gì
được sanh, được tác thành do tâm suy tư, do duyên được
khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái
ấy là khổ. Cái gì là khổ, cái ấy là "Cái này không phải
của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự
ngã của tôi." Tôi có kiến như vậy, thưa các Tôn giả.
- Này Gia chủ, phàm cái gì được
sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên được khởi
lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là
khổ. Cái gì là khổ, cái ấy, này Gia chủ, Gia chủ lại chấp
trước, cái ấy, này Gia chủ, Gia chủ lại chấp nhận.
Thưa các Tôn giả, phàm cái gì được
sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên được khởi
lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là
khổ. Cái gì khổ, cái ấy là: "Cái này không phải của tôi,
cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của
tôi". Như vậy là như thật khéo thấy với chánh trí tuệ.
Và tư nơi khổ ấy, tôi như thật rõ biết sự xuất ly hơn
thế nữa. Khi nghe nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy
ngồi im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sững sờ, không
nói lên lời.
7. Rồi gia chủ Anàthapinika, sau khi
biết các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, hoang mang, thụt vai,
cúi đầu, sững sờ, không nói lên lời, tư chỗ ngồi đứng
dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế tôn rồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Anàthapindika,
câu chuyện với các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào thuật
lại tất cả cho Thế Tôn rõ:
- "Lành thay, lành thay, này Gia chủ.
Như vậy, này Gia chủ, những kẻ ngu si ấy thường cần phải
được bác bỏ với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp". Rồi
Thế Tôn với một bài pháp thuyết giảng, khích lệ, làm cho
phấn khởi, làm cho hoan hỷ Gia chủ Anàthapindika. Rồi Gia chủ
Anàthapindika, sau khi được Thế Tôn với bài pháp thuyết giảng,
khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi
đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài
rồi ra đi.
8. Rồi Thế Tôn, sau khi gia chủ
Anàthapindika ra đi không bao lâu, bảo các vị Tỷ-kheo:
- Tỷ-kheo nào dầu đã được đầy
đủ 100 năm an cư mùa mưa trong Pháp và Luật này, vị ấy
cần phải như vậy, thường thường bác bỏ các du sĩ ngoại
đạo, với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp, như gia chủ Anàhtapindika
đã khéo bác bỏ.
(IV) (94) Vajjiyamahita
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Campà
trên bờ ao Gaggarà. Rồi gia chủ Vajjiyamàhita, vào buổi sáng
sớm đi ra khỏi Campà, đến yết kiến Thế Tôn. rồi gia chủ
Vajjiyamàhita suy nghĩ: "Nay không phải thời để yết kiến
Thế tôn, Thế Tôn đang thiền tịnh. Cũng không phải thời
để yết kiến các Tỷ-kheo đang tu tập về ý, các Tỷ-kheo
đang tu tập về ý đang thiền tịnh. Vậy hãy đi đến khu
vườn các tu sĩ ngoại đạo" Rồi gia chủ Vajjiyamàhita đi
đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo.
2. Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại
đạo đang ngồi hội họp đang tụ họp, ồn ào, cao tiếng,
lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. các du sĩ
ngoại đạo ấy thấy gia chủ Vajjiyamàhita từ xa đi đến,
khi thấy vậy, liền dặn dò bảo với nhau: "Hãy bớt ồn ào,
các tôn giả, chớ làm ồn, các Tôn giả, gia chủ Vajjiyamàhita
này đang đến, một đệ tử của Sa-mô Gotama, có gia đình
mặt trắng ở Campà. Gia chủ Vajjiyamàhita là một trong những
vị ấy, các vị ấy ưa ít ồn ào, được huấn luyện trong
ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng
ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây." Rồi
các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng.
3. Rồi gai chủ Vajjiyamàhita đi đến
các du sĩ ngoại đạo ấy; sau khi đến, nói lên với các du
sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi
nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi
xuống một bên. Các di sĩ ngoại đạo ấy nói với gia chủ
Vajjiyamàhita đang ngồi một bên:
- Có đúng sự thật chăng này Gia
chủ, sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, nhất hướng
bài bác, chống đôí mọi khổ hạnh, mọi nếp sống kham khổ?
- Thưa các tôn giả, Thế Tôn không
chỉ trích mọi khổ hạnh, không nhất hướng bài bác chống
đối mọi khổ hạnh, mọi nếp sống kham khổ. Thưa các Tôn
giả, Thế tôn chỉ trích cái gì đáng chỉ trích, tán thán
cái gì đáng tán thán. Thưa các Tôn giả, Thế Tôn chỉ trích
cái gì đáng chỉ trích, tán thán cái gì đáng tán thán, như
vậy Thế Tôn là người phân tích luận, không phải là người
nhất hướng luận (nói một chiều).
4. Ðược nói vậy, một du sĩ nói
với gia chủ Vajjiyamàhita: "Thôi chờ ở đây, này Gia chủ,
Gia chủ tán thán Sa-môn Gotama và Sa-môn Gotama là người hư
vô, một người không bao giờ có định nghĩa rõ ràng.
- Ở đây, thưa các tôn giả, tôi
nói với các Tôn giả, tôi nói với các Tôn giả đúng pháp:
"đây là thiện, thưa các Tôn giả, Thế Tôn đã định nghĩa.
Ðây là bất thiện, thưa các Tôn giả, Thế Tôn đã định
nghĩa. Ðây là thiện, đây là bất thiện, Thế tôn đã định
nghĩa. Thế tôn là người có định nghĩa rõ ràng. Thế Tôn
không phải là người chủ trương hư vô, không phải là người
không có định nghĩa rõ ràng". Khi được nói vậy, các du
sĩ ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sững sờ, không
nói nên lời.
5. Rồi gia chủ Vajjiyamàhita, sau
khi biết các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, hoang mang, thụt
cai, cúi đầu, sững sờ không nói nên lời, từ chỗ ngồi
đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế
Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ
Vajjiyamàhita, câu chuyện với các du sĩ ngoại đạo như thế
nào, tất cả đều thuật lại cho Thế Tôn rõ.
6. - Lành thay, lành thay, này Gia chủ,
những kẻ ngu si ấy thường thường cần phải được bác
bỏ với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp. Này Gia chủ, Ta
không nói rõ rằng, tất cả khổ hạnh cần phải hành trì.
Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự chấp trì
cần phải được chấp trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói
rằng tất cả sự chấp trì không nên chấp trì. Này Gia chủ,
Ta cũng không nói rằng tất cả sự tinh cần phải tinh cần.
Này Gia chủ, ta cũng không nói rằng, tất cả sự tinh cần
không nên tinh cần. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng, tất
cả sự từ bỏ nên từ bỏ. Này Gia chủ, Ta cũng không nói
rằng tất cả sự từ bỏ không nên từ bỏ. Này Gia chủ,
Ta cũng không nói rằng tất cả sự giải thoát nên giải thoát.
Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng, tất cả sự giải thoát
không nên giải thoát.
7. Này Gia chủ, phàm hành trì khổ
hạnh nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện
tổn giảm, khổ hạnh ấy, Ta nói, không nên hành trì. Nhưng
này Gia chủ, phàm hành trì khổ hạnh nào, cá pháp bất thiện
tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, khổ hạnh ấy Ta
nói nên hành trì. Này Gia chủ, phàm chấp trì nào, các pháp
bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, chấp
trì ấy, Ta nói, không nêm chấp hành. Phàm chấp hành chấp
trì nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng
trưởng, thời chấp hành ấy, Ta nói nên chấp trì. Này Gia
chủ, phàm tinh cần nào được tinh cấn, các pháp bất thiện
tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, thời tinh cần ấy,
Ta nói rằng, không nên tinh tấn. Phàm tinh cần nào được
tinh tấn, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng
trưởng, thời tinh cần ấy, Ta nói nên tinh tấn. Này Gia chủ,
phàm từ bỏ từ bỏ nào, các pháp bất thiện tăng trưởng,
các pháp thiện tổn giảm, thời từ bỏ ấy, Ta nói, không
nên từ bỏ. Phàm từ bỏ từ bỏ nào, các pháp bất thiện
tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời từ bỏ ấy,
Ta nói, nên từ bỏ. Này Gia chủ, phàm giải thoát sự giải
thoát nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các thiện pháp
tổn giảm, thời giải thoát ấy, Ta nói, không nên giải thoát.
Phàm giải thoát giải thoát nào, các pháp bất thiện tổn
giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời giải thoát ấy,
Ta nói nên giải thoát.
Rồi gia chủ Vajjiyamàhita sau khi
được thế Tôn với một pháp thoại thuyết giảng, khích
lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng
dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi
ra đi.
8, Rồi Thế Tôn, sau khi gia chủ
Vajjiyamàhita ra đi không bao lâu, bảo các Tỷ-kheo:
- Phàm Tỷ-kheo nào, đã lâu ngày
với trần cầu ít trong Pháp và Luật này, vị ấy hãy như
vậy bài bác các du sĩ ngoại đạo với sự khéo bài bác nhờ
Chánh pháp, như gia chủ Vajjiyamàhita đã làm.
(V) (95) Uttiya
1 Bấy giờ có du sĩ ngoại đạo
Uttiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên với Thế Tôn
những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời
chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi
xuống một bên, du sĩ Uttiya nói với Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, có phải Tôn
giả chủ trương thế giới là vô thường. Kiến này là sự
thật, kiến nào khác là hư vọng?
- Này Uttiya. Ta không có nói như
sau: "Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến
nào khác là hư vọng".
- Này Tôn giả Gotama, có phải thế
giới là có biên tế...thế giới là không biên tế... sinh
mạng và thân thể là một... sinh mạng và thân thể là khác...
Như Lai có tồn tại sau chết... Như Lai không có tồn tại
sau khi chết... Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi
chết... Như Lai không tồn tại và không tại sau khi chết.
Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?
- Này Uttiya, Ta không có nói như
sau: "Như Lai không tồn tại và không tồn tại sau khi chết.
Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng".
2- Thưa Tôn giả Gotama, có phải
thế giới là vô thường, kiến này là sự thật, kiến nào
khác là hư vọng? Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: "Này
Uttiya, Ta không có nói: "Thế giới là vô thường. Kiến này
là sự thật, kiến nào khác là hư vọng."
- Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế
giới là vô thường? ... có phải thế giới là có biên tế?
... có phải thế giới không có biên tế? ... có phải sinh
mạng và thân thể là một? ... có phải sing mạng và thân
thể là khác? ... có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết?
... có phải Như Lai không có tồn tại sau khi chết? ... có
phải Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau chết?
... có phải Như Lai không tồn tại và không tồn tại sao khi
chết? Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?
Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: "Này Uttiya, Ta không có
nói: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi
chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng."
- Vậy cái gì được Tôn giả Gotama
nói lên?
- Với thắng trí, này Uttiya, Ta thuyết
pháp cho các đệ tử để họ được thanh tịnh, để sầu
bi được vượt qua, để khổ ưu dược chấm dứt, đế chánh
lý được chứng đạt, để Niết-bàn dược chứng ngộ.
- "Nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp
cho các đệ tử để họ được thanh tịnh... để Niết-bàn
được chứng ngộ", thời do vậy, cả thế giới này sẽ đi
ra khỏi, hay chỉ có một nữa, hay chỉ có một phần ba? Ðược
nghe nói vậy, Thế Tôn im lặng.
3. Rồi Tôn giả Ananda suy nghĩ như
sau: "Chớ có để cho du sĩ Uttiya có ác tà kiến rằng: "Sa-môn
Gotama khi được nghe ta hỏi câu hỏi tối ư quan trọng lại
tránh né, không có trả lời, không dám trả lời, và như vậy
là bất hạnh, là đau khổ lau dài cho du sĩ Uttiya." Rồi Tôn
giả Ananda nói với du sĩ Uttiya:
4.- Vậy này Uttiya, Ta sẽ dùng một
ví dụ, chính nhờ ví dụ, ở đây một số người có trí
có thể hiểu được ý nghĩa của lời nói. Ví như, này Hiền
giả Uttiya, ngôi thành biên địa của vua với những nền móng
vững chắc, với các thành lũy thác canh vững chắc, và chỉ
có một cửa vào. Tại đây, người giữ cửa là người sáng
suốt, thông minh, có trí, ngăn chận những người không quen
biết, cho vào những người quen biết. Khi đi tuần trên con
đường chạy vòng quanh thành trì ấy, người ấy có thể
không thấy một kẻ hở trong thành hay lỗ trống thành lớn
cho đến một con mèo có thể chui qua. Người ấy có thể không
biết được: "Từng ấy loài hữu tình đã đi vào hay đi ra
thành này, nhưng điều này cho biết: "Những loài hữu tình
thô lớn nào đi vào hay đi ra thành này", tất cả chúng phải
đi vào hay đi ra ngang qua cửa thành này. Cũng vậy, này Hiền
giả Uttiya, đối với Như Lai, không phải là một vấn đề
quan trọng (câu hỏi này của Thầy) là có phải toàn thế
giới do vậy được thoát ra khỏi hay nữa phần thế giới,
hay là một phần ba? Những điều Như Lai nói là như sau: "Những
ai đã được thoát ra khỏi thế giới, hay đang được thoát
ra, hay sẽ thoát ra, tất cả những vị ấy, sau khi đoạn tận
năm triền cái, những pháp làm ô nhiểm tâm, làm yếu ớt
trí tuệ, với tâm khéo an trú trên Bốn niệm xứ; sau khi như
thật tu tập Bảy giác chi, như vậy các vị ấy đã thoát
khỏi, đang thoát khỏi, sẽ thoát khỏi thế giới. Này Hiền
giả Uttiya, về câu hỏi mà Thầy đã hỏi Thế Tôn đứng
trên một lập trường khác. Ðó là lý do tại sao Thế Tôn
không trả lời câu hỏi ấy cho Thầy?
(VI) (96) Kokanuda
1. Một thời, Tôn giả Ananda trú
ở Ràjagaha, tại suối nước nóng Tapodàràma. Rồi Tôn giả
Ananda khi đêm vừa mới sáng, thức dậy đi đến Tapodàràma
để rửa tay chân. Rửa tay chân xong, ở Tapodà, sau khi ra khỏi,
Tôn giả đứng đắp một y để phơi tay chân cho khô. Bấy
giờ có tu sĩ Kokanuda, khi đêm vừa mới sáng, thức dậy đi
đến Tapodà để rửa tay chân. Du sĩ Kokanuda thấy Tôn giả
Ananda từ xa đi đến, sau khi thấy, nói với Tôn giả Ananda:
- Hiền giả là ai?
- Thưa Hiền giả, tôi là Tỷ-kheo.
- Này Hiền già, thuộc về các Tỷ-kheo
nào?
- Là Sa-môn Thích tử.
- Này Hiền giả, Hiền giả chúng
tôi muốn hỏi Hiền giả một vài vấn đề.
- Nếu Hiền giả cho tôi cơ hội
để trả lời câu hỏi, thì nay Hiền giả, hãy hỏi đi. Sau
khi nghe, chúng tôi sẻ được biết.
2. - Thưa Hiền giả, có phải: "Thế
giới là thường còn. Kiến này là sự thật, kiến nào khác
là hư vọng, kiến là như vậy." Có phải không Hiền giả?
- Thưa Hiền giả, tôi không có kiến
như vậy: " Thế giới là thường còn. Kiến này là sự thật,
kiến nào khác là hư vọng."
- Vậy có phải: "Thế giới là vô
thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng"?
Kiến là như vậy, có phải không Hiền giả?
- Thưa Hiền giả, tôi không có kiến
như vầy: "Thế giới là vô thường, kiến này là sự thật,
kiến nào khác là hư vọng:
- Có phải thưa Hiền giả: "Thế
giới là có biên tế... "Thế giới là không biên tế... "Sinh
mạng và thân thể là một... "Sinh mạng và thân thể là khác...
"Như Lai có tồn tại sau khi chết... "Như Lai không tồn tại
sau khi chết... "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau
khi chết... "Như Lai không có tồn tại và không tồn tại sau
khi chết... Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng"?
Kiến là như vậy, có phải không thưa Hiền giả?
- Thưa Hiền giả, tôi không có kiến
như vầy: "Như Lai không có tồn tại và không tồn tại sau
khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng".
- Vậy thưa Hiền giả, Hiền giả
không biết, Hiền giả không thấy.
- Thưa Hiền giả, không phải tôi
không hết, không phải tôi không thấy. Thưa Hiền giả, tôi
có biết, tôi có thấy.
3. - Có phải thưa Hiền giả, "Thế
giới là thường còn. Kiến này là sự thật, kiến nào khác
là hư vọng"? Ðược hỏi vậy, Hiền giả nói: "Thưa Hiền
giả, tôi không có kiến như vậy: "Thế giới là thường còn.
Kiến này là sự thật, kiến nào là khác là hư vọng". Có
phải thưa Hiền giả: "Thế giới là vô thường. Kiến này
là sự thật, kiến nào khác là hư vọng"? ... "Thế giới là
có biên tế... Thế giới là vô biên... "Sinh mạng và thân
thể là một... Sinh mạng và thân thể là khác... "Như Lai có
tồn tại sau khi chết... "Như Lai không có tồn tại sau khi
chết... "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết...
"Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi
chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng"?
Ðược hỏi vậy, Hiền giả nói: "Thưa Hiền giả, tôi không
có kiến như vầy: "Như Lai không tồn tại và không không tồn
tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là
hư vọng""? Vậy thưa Hiền giả: "Hiền giả không biết, Hiền
giả không thấy? " Ðược hỏi vậy, Hiền giả nói: "Thưa
Hiền giả, không phải tôi không biết, không phải tôi không
thấy. Thưa Hiền giả: tôi có biết, tôi có thấy". Vậy thưa
hiền giả, "cần phải hiểu như thế nào, ý nghĩa lời nói
này? "
4. - "Thế giới là thường còn.
Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng". Thưa Hiền
giả, đây là tà kiến. "Thế giới là vô thường. Kiến này
là sự thật, kiến nào khác là hư vọng". Thưa Hiền giả,
đây là tà kiến. "Thế giới có biên tế... "Thế giới không
biên tế... "Sinh mạng và thân thể là một... "Sinh mạng và
thân thể là khác... "Như Lai có tồn tại sau khi chết... "Như
Lai không có tồn tại sau khi chết... "Như Lai có tồn tại
và không tồn tại sau khi chết... "Như Lai có tồn tại và
không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật,
kiến nào khác là hư vọng". Thưa Hiền giả, đây là tà kiến.
Thưa hiền giả, xa cho đến như vậy là các tà kiến. Xa cho
đến như vậy là kiến xứ, kiến trú, kiến triền phược,
kiến khởi, kiến diệt, tôi có biết điều ấy, tôi có thấy
điều ấy. Do tôi có biết điều ấy, tôi có thấy diều ấy,
làm sao tôi lại trả lời : " Tôi không biết,, tôi không thấy"!
Thưa Hiền giả: "Tôi có biết, tôi có thấy".
- Hiền giả tên là gì? Và như thế
nào các vị đồng Phạm hạnh biết Hiền giả?
- Thưa Hiền giả, Ananda là tên của
tôi. Và các vị đồng Phạm hạnh biết tôi là Ananda.
- Ôi tôi đang nói chuyện với Tôn
giả Ðại sư, mà tôi không biết là Tôn giả Ananda. Nếu chúng
tôi biết là Tôn giả Ananda, tôi đã không nói nhiều như vậy,
mong Tôn giả Ananda tha lỗi cho.
(VII) (97) Ðáng Ðảnh Lễ
1. - Thành tựu mười pháp, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng,
đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, là phước
điền vô thượng ở đời. Thế nào là muời?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
có giới sống chế ngự với sự chế ngự cửa giới bổn
Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong
các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong học pháp.
3. Là vị nghe nhiều, thọ trì điều
đã nghe, cất chứa điều đã nghe. Các pháp nào sơ thiện,
trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán đời sống
Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, các pháp như vậy
nghe hiểu, được thọ trì, được tụng đọc bằng lời,
được quán sát với ý, được khéo thể nhập với chánh
kiến.
4. Là người bạn với thiện, là
thân hữu với thiện thiết với thiện.
5. Có chánh kiến, thành tựu chánh
tri kiến.
6. Chứng được nhiều loại thần
thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một
thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua
núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ, trồi lên qua đất
liền như ở trong nước; đi trong nước không chìm như đi
trên đất liền; ngồi kiết già du hành trên hư không như
con chim; với bàn tay chạm rờ mặt trăng và mặt trời, những
vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự
thân bay đến cõi Phạm thiên.
7. Có thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân,
có thể nghe hai loại tiếng chư thiên và Loài Người, xa và
gần.
8. Sau khi đi sâu vào tâm của chúng
sanh, của lời Người với tâm của mình, vị ấy được biết
như sau: "Tâm có tham biết là tâm có tham; tâm không tham biết
là tâm không tham." "Tâm có sân biết là tâm có sân; tâm không
sân biết là tâm không sân." "Tâm có si biết là tâm có si;
tâm không si biết biết là tâm không si." "Tâm chuyên chú biết
là tâm chuyên chú; tâm tán loạn biết là tâm tán loạn; "Ðại
hành tâm biết là đại hành tâm, không phải đạt hành tâm,
biết là không phải đại hành tâm." "tâm chưa vô thượng
biết là tâm vô thượng." "Tâm Thiền định biết là tâm không
Thiền định." "Tâm giải thoát biết là tâm tâm giải thoát;
tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát."
9. Vị ấy nhớ đến nhiều đời
sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời,
năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn
mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời,
một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều
thành kiếp, nhiều loại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng:
"Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này,
giai cấp như thế này, đồ ăn uống như thế này, thọ khổ
lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi
chết tại chỗ kia, ta được sanh tại chỗ nạo. Tại chỗ
ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp
như thế này, đồ ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế
này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ
nọ, ta được sanh ở đây". Như vậy, ta nhớ đến nhiều
đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các
chi tiết.
10. Vị ấy với thiên nhãn thanh
tịnh siêu nhân, biết trí tuệ về sanh tử của chúng sanh,
thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng
chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ,
kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh
nghiệp của họ. Này các Hiền giả, những vị này, làm những
ác hạnh về thân, ngữ và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo
tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những vị này, sau
khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào
làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng
các bậc Thánh, theo chánh kiến tạo các nghiệp theo chánh kiến.
Những người này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh
lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị
ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống
chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sang, người
hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người
may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
11. Do đoạn tận các lậu hoặc,
vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng
ngộ chứng đạt, và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải
thoát.
Này các Tỷ-kheo, thành tựu mười
pháp này vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn
trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường,
đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.
(VIII) (98) Vị Trưởng Lão
1. Thành tựu mười pháp này, này
các Tỷ-kheo, vị trưởng lão tại địa phương bài vị ấy
trú, vị ấy trú an ổn. Thế nào là mười?
2. Vị trưởng lão đã lâu ngày
được biết đến, xuất gia đã lâu ngày có giới... chấp
nhận và học hỏi trong các học pháp; là vị nghe nhiều....
khéo thể nhập với chánh kiến; cả hai giới bổn Pàtimokkha
được khéo truyền đạt một cách rộng rãi, được khéo
phân tích, khéo thông hiểu, khéo quốc doanh theo kinh, theo chi
tiết, vị ấy thiện xảo trong sự sanh khởi và chấm dứt
các tránh sự, ưa thích pháp; dùng lời ái ngữ, hết sức
hân hoan trong thắng pháp, thắng luật; biết đủ với bất
cứ vật dụng nào nhận được như y, đồ ăn khất thực,
sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; dễ mến, khéo chế ngự
trong khi đi tới đi lui, khi ngồi trong nhà; chứng được không
khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không
phí sức bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc
trú; do đoạn diệt các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện
tại, với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô
lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Thành tựu mười pháp này, các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo trưởng lão trú tại địa phương nào, tại địa
phương nào, sống được an ổn.
(IX) (99) Upàli
1. Bấy giờ có Tôn gia Upàli đi
đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch
Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con muốn sống
trong rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng.
2. Này Upàli, không dễ dàng là sống
tại các rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng, kk1 là đời
sống viễn ly, khó ưa thích là đời sống độc cư. Ta nghĩ
rằng: "Các ngôi rừng làm loạn ý Tỷ-kheo chưa được Thiền
định, tôi sẽ sống tại các rừng núi cao nguyên, tại các
trú xứ xa vắng", thời người ấy được chờ đợi như sau:
"Vị ấy sẽ chìm xuống (đáy) hay nổi lên (mặt nước)".
3. Ví như, này Upàli, một hồ nước
lớn, có con voi lớn đi đến, bảy thước hay tám thước cao.
Con voi ấy suy nghĩ: "Ta hãy lặn vào hồ nước này, rồi chơi
trò chơi rửa tai, rồi chơi trò chơi rửa lưng; sau khi chơi
trò rửa tai, sau khi chơi trò chơi rửa lưng, sau khi tắm, sau
khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, ta đi chỗ nào ta
muốn". Rồi con voi ấy lặn vào hồ nước ấy, có thể chơi
trò chơi rửa tai, có thể chơi trò chơi rửa lưng, sau khi chơi
trò chơi rửa tai, sau khi chơi trò rửa lưng, sau khi tắm, sau
khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, nó đi chỗ nào
nó muốn. VÌ sao? Vì tự ngã to lớn tìm được chân đứng
trong chỗ nước. Rồi có con thỏ hay con mèo đến, nó suy nghĩ:
"Ta là ai, con voi lớn là ai? Vậy ta sau khi lặn xuống hồ nước
này, có thể chơi trò chơi rửa tai, có thể chơi trò chơi
rửa lưng; sau khi chơi trò chơi rửa tai, sau khi chơi trò chơi
rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước
lên, ta sẽ đi chỗ nào ta muốn". Rồi con voi ấy lặn vào
hồ nước ấy, có thể chơi trò chơi rửa tai, sau khi chơi
trò chơi rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi
từ hồ bước lên, nó đi chỗ nào nó muốn. Vì sao? Vì tự
ngã to lớn tìm được chân đứng trong chỗ nước. Rồi có
con thỏ hay con mèo đến, nó suy nghĩ: "Ta là ai, con voi lớn
là ai? Vậy ta sau khi lặn xuống hồ nước này, có thể chơi
trò chơi rửa tai, có thể chơi trò chơi rửa lưng; sau khi chơi
trò chơi rửa tai, sau khi chơi trò chơi rửa lưng, sau khi tắm,
sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, ta sẽ đi chỗ
nào ta muốn". Rồi nó nhảy vào hồ nước ấy lập tức, không
có tính toán. Với nó, được chờ đợi rằng: "Nó sẽ chìm
hay nổi trên mặt nước" Vì sao? Này Upàli, vì tự ngã nhỏ
bé không tìm được chân đứng trong nước sâu. Cũng vậy,
này Upàli, ai nói rằng: "Dầu tôi không được định, tôi
sẽ sống trong các rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa
vắng: ". Với vị ấy, được chờ đợi rằng: "Nó sẽ chìm
xuống hay nổi trên mặt nước".
4. Ví như: này Upàli, một đứa
trẻ, còn nhỏ, còn yếu, nằm ngửa, chơi với phân và nước
tiểu của mình. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, trò chơi con
nít này có thiệt là toàn diện đầy đủ không?
- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
- Này Upàli, đứa con nít ấy, sau
một thời gian, sau khi lớn lên, sau khi các căn được thuần
thục, có được các đồ chơi của những con nít, như trẻ
con chơi, khăng, chơi nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi
với đồ đong bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, và nó chơi
với những đồ chơi ấy. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, trò
chơi này so sánh với trò chơi trước, có đi đến thù diệu
hơn, thù thắng hơn?
- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
- Rồi này Upàli, đứa trẻ ấy,
sau một thời gian, sau khi lớn lên, sau khi các cắn được
thuần thục, thọ hưởng đầy đủ năm món dục lạc, khả
hỷ, khả ý, khả ái, kích thúc lòng dục, hấp dẫn, với
các tiếng do tai nhận thức... với các hương do mũi nhận
thức... với các vị do lưởi nhận thức... với các xúc do
thân cảm giác, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, kích
thích lòng dục, hấp dẫn. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli,
trò chơi này, so sánh với các trò chơi trước có thù diệu
hơn, thù thắng hơn không?
- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
5. Ở đây, này Upàli, Như Lai xuất
hiện ở đồi, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự
chứng ngộ với thắng trí, tuyên bố cho biết về thế giới
này, các chư Thiên, các ma, các Phạm thiên, với chúng Sa-Môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Ngài thuyết pháp sơ thiện,
trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nêu rõ phạm hạnh
hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Người gia chủ, hay con người
gia chủ hay một người tái sanh trong một gia đình khác nghe
Pháp ấy, sau khi nghe Pháp, vị ấy sanh lòng tin vào Như Lai.
Vị ấy thành tựu với lòng tin ấy, suy xét như sau: "Ðời
sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy
những bụi đời, đời sống xuất gia phóng khoáng như hư
không. Thật rất khó cho một người sống ở giai đoạn có
thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh
tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc,
đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình. Vị ấy xuất gia như vậy, thọ lãnh đầy đủ sự
học tập và nếp sống của các Tỷ-kheo. Sau khi đoạn tận
sát sanh, sống từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết
tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của
tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Sau khí đoạn tận lấy
của không cho, vị ấy sống từ bỏ lấy của không cho, chỉ
lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự mình
sống thanh tịnh không có trộm cướp. Sau khi đoạn tận không
Phạm hạnh, vị ấy sống Phạm hạnh, sống đời sống viễn
ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Sau khi đoạn tận nói láo, vị
ất sống từ bỏ nói láo, nói lời chơn thật, nói lời liên
hệ đến chân thật, vững chắc đáng tin cậy, không lường
gạt lời hứa đối với đời. Sau khi đoạn tận nói hai lưỡi,
vị ấy sống từ bỏ nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ
này, không đi nói đến chỗ kia để sanh chia rẽ ở những
người kia. Như vậy, vị ấy sống kết hợp những kẻ bị
chia rẽ, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, ưa thích hòa
hợp, thích thú hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp. Sau khi đoạn
tận lời nói độc ác, vị ấy sống từ bỏ lời nói độc
ác; những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương,
thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, thích
ý nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy. Sau khi đoạn
tận nói lời phù phiếm, vị ấy sống từ bỏ nói lời phù
phiếm, nói lời đúng thời, nói lời chân thật, nói lời
có ý nghĩa, nói lời về Chánh pháp, nói lời về Luật, nói
những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời thuận
lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Vị ấy sống từ
bỏ làm hại các hột giống và các loại cây cỏ; dùng mỗi
ngày một bữa, từ bỏ ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời; từ
bỏ đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, từ bỏ trang sức bằng
vòng hoa, hương liệu, dâu thoa và các thời trang, từ bỏ dùng
giường cao và giường lớn, từ bỏ nhận vàng và bạc, từ
bỏ nhận các hạt sống, từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ
nhận đàn bà, con gái; từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai; từ
bỏ nhận cừu và dê; từ bỏ nhận gia cầm và heo; từ bỏ
nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ nhận ruộng nương
đất đai; từ bỏ việc phái người làm môi giới, hoặc tự
mình làm môi giới, từ bỏ buôn bán; từ bỏ các sự gian
lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh,
như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ làm thương tổn,
sát hại, câu thúc, bứt đoạt, trộm cắp, cướp phá. Vị
ấy, biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ
ăn khất thực để nuôi bụng, đi đến chỗ nào cũng mang
theo. Cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh;
cũng vậy, vị ấy bằng lòng với tấm y để che thân, với
đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi đến chỗ nào cũng
mang theo. Vị ấy thành tựu với thành tựu giới uẩn này,
nội tâm cảm thọ sự an lạc không có phạm lỗi.
6. Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không
nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng rei6ng. những
nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến
tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khỏi lên, vị ấy tự
chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự
hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi
nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy
không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
Những nguyên nhân gì ý căn không được chế ngự, khiến
tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế
ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì
ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nên hưởng
lạc thọ nội tâm, không có xen lẫn.
7. Vị ấy khi đi tới, khi đi lui
đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác;
khi co tay; khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình
bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai nuốt đều
tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng
đều tỉnh giác. Vị ấy thành tựu với Thánh giới uẩn này,
thành tựu với Thánh hộ trì các căn này, thành tựu với
Thánh chánh niệm tỉnh giác này, chọn một trú xứ thanh vắng
như rừng, gốc cây, khe đá, hang đá, bãi tha ma, khu rừng xa
vắng, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy đi đến rừng hay đi
đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-già,
lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy, sau
khi đoạn tận tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham
ái, gột rửa tâm khỏi tham ái. Sau khi đoạn tận sân, vị
ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót
tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Sau khi
đoạn tận hôn trầm thụy miên, sống với tâm thoát ly hồn
trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh
niệm tỉnh giác, vị ấy gột rửa tâm hết hôn trầm thụy
miên. Sau khi đoạn tận trạo hối, sống không trạo hối,
với nội tâm trầm lặng, vị ấy gột rửa hết tâm trạo
cử hối tiếc. Sau khi đoạn tận nghi ngờ, vị ấy sống thoát
ly nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết
nghi ngờ đối với thiện pháp.
8. Vị ấy sau khi đoạn tận năm
triền cái này, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm hèn yếu
trí tuệ, ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an
trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh,
có tầm, có tứ. Vì sao, này Upàli, có phải sự an trú này,
sánh với các an trú trước, được thù diệu hơn, thù thắng
hơn?
- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
- Này Upàli, các đệ tử của Ta,
thấy được Pháp này trong tự ngã, sống tại các rừng núi
cao nguyên, các trú xứ xa vắng, cho đến khi mục đích của
mình chưa đạt, thời họ vẫn trú (tại các chỗ ấy), (hay
như mục đích của mình chưa đạt, tức là định chưa đạt;
thời không sống trong rừng núi cao nguyên tại các trú xứ
xa vắng).
9. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo
làm cho tịnh chỉ tầm và tứ... chứng đạt và an trú Thiền
thứ hai. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú
này, sánh với những an trú trước, được thù diệu hơn,
được thù thắng hơn?
- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
- Này Upàli, các đệ từ của Ta,
khi quán thấy Pháp này trên tự ngã, họ mới đến ở các
rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ không trú
nếu mục đích của mình chưa đạt được.
10. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo
ly hỷ... chứng và trú Thiền thứ ba. Thầy nghĩ thế nào,
này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với những an trú
trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?
- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
- Này Upàli, các đệ từ của Ta,
khi quán thấy Pháp này trên tự ngã, họ mới đến ở các
rừng núi, cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ không trú
nếu mục đích của mình chưa đạt được.
11. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo
đoạn lạc... chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Thầy nghĩ
thế nào, này Upàli... chưa đạt được...? ...
12. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo
vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các
tưởng đối ngại, không tác ý đến các tưởng sai biệt,
nghĩ rằng: "Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không
vô biên xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli...? ... mục đích
của
mình chưa đạt được.
13. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo
vượt qua một cách hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng:
"Thức là vô biên", chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ.
Thầy nghĩ thế nào, này Upàli...? ... mục đích của mình chưa
đạt được.
Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt
qua một cách hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không
có sở hữu", chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứù. Thầy
nghĩ thế nào, này Upàli...? ... mục đích của mình chưa đạt
được.
Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt
qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: "Ðây là
tịch tịnh, đây là thù diệu", chứng đạt và an trú Phi tưởng
phi phi tưởng xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải
sự an trú này sanh với các an trú trước, được thù diệu
hơn, được thù thắng hơn?
- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn...
mục đích của mình chưa đạt được.
14. Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo
sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng
xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định, vị ấy
sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận.
Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này sánh
với các an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng
hơn?
- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
- Này Upàli, các đệ tử của Ta,
sau khi quán thấy Pháp này trên tự ngã đã đến ở trong các
rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng, họ không trú
nếu mục đích của mình chưa đạt được.
Vậy này Upàli, Thầy hãy sống giữa
chúng Tăng. Sống giữa chúng Tăng, Thầy sẽ được an ổn.
(X) (100) Không Thể Tăng Trưởng
1. Này các Tỷ-kheo, không đoạn
tận mười pháp này, không có thể chứng ngộ quả A-la-hán.
Thế nào là mười?
2. Tham, sân, si, phẫn nộ, hiềm
hận, gièm pha, não hại, tật đố, xan tham, mạn.
Không đoạn tận mười pháp này,
này các Tỷ-kheo, không có thể chứng ngộ quả A-la-hán.
3. Ðoạn tận mười pháp này, này
các Tỷ-kheo, có thể chứng ngộ quả A-la-hán. Thế nào là
mười?
4. Tham, sân, si, phẫn nộ, hiềm
hận, gièm pha, não hại, tật đố, xan tham, mạn.
Ðoạn tận mười pháp này, này
các Tỷ-kheo, có thể chứng ngộ quả A-la-hán.
XI. Phẩm Sa
Môn Tưởng
(I) (101) Tưởng
1. Có ba Sa-môn tưởng, này các Tỷ-kheo,
được tụ tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ
bảy pháp. Thế nào là ba?
2. Ta nay đã đến tình trạng mất
bản sắc; đời sống ta bị phụ thuộc vào người khác; hành
vi của ta cần phải thay đổi.
Ba Sa-môn tưởng này, này các Tỷ-kheo,
được tụ tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ
bảy pháp. Thế nào là bảy?
3. Luôn luôn là người làm liên
tục, thực hiện liên tục trong các Giới Luật; không có tham
ái; không có sân; không có quá mạn, ưa thích học tập; đối
với các vật dụng cần yếu cho đời sống, nó nghĩ: "Ðây
là mục đích sống tinh cần tinh tấn".
Này các Tỷ-kheo, có ba Sa-môn tưởng
này tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ bảy
pháp.
(II) (102) Giác Chi
1. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ ba
minh. Thế nào là bảy?
2. Niệm giác chi, trạch pháp giác
chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định
giác chi, xả giác chi.
Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ ba
minh. Thế nào là ba?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời,
ba đời... nhớ đến nhiều đời trước với các nét đại
cương và các chi tiết. Với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân...
rõ biết các chúng sanh, tùy thuộc hạnh nghiệp của họ. Do
đoạn diệt các lậu hoặc... sau khi chứng ngộ, chứng đạt,
vị ấy an trú.
Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho đầy đủ ba
minh này.
(III) (103) Tà Tánh
1. Do tà tánh, này các Tỷ-kheo, nên
thất bại, không thành công. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là do tà tánh, nên thất bại, không thành công?
2. Với người tà kiến, này các
Tỷ-kheo, có tà tư duy. Với người tà tư duy, có tà ngữ.
Với người tà ngữ, có tà nghiệp. Với người tà nghiệp,
có tà mạng. Với người tà mạng, có tà tinh tấn. Với người
tà tinh tấn, có tà niệm. Với người tà niệm, có tà định.
Với người tà định, có tà trí. Với người tà trí, có
tà giải thoát.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, do tà
tánh đưa đến thất bại.
3. Do chánh tánh, này các Tỷ-kheo,
nên thành công, không thất bại. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là do chánh tánh nên thành công, không thất bại?
4. Với người chánh kiến, này các
Tỷ-kheo, có chánh tư duy. Với người chánh tư duy, có chánh
ngữ. Với người chánh ngữ, có chánh nghiệp. Với người
chánh nghiệp, có chánh mạng. Với người chánh mạng, có chánh
tinh tấn. Với người chánh tinh tấn, có chánh niệm. Với
người chánh niệm, có chánh định. Với người chánh định,
có chánh trí. Với người chánh trí, có chánh giải thoát.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, do chánh
tánh đưa đến thành công, không đưa đến thất bại.
(IV) (104) Chủng Tử
1. Này các Tỷ-kheo, với người
đàn ông, với con người có tà kiến, có tà tư duy, có tà
ngữ, có tà nghiệp, có tà mạng, có tà tinh tấn, có tà niệm,
có tà định, có tà trí, có tà giải thoát; phàm có thân nghiệp
gì được thực hiện đầy đủ, được chấp nhận theo kiến
ấy; phàm có khẩu nghiệp gì... phàm có ý nghiệp gì được
thực hiện đầy đủ, được chấp nhận theo kiến ấy; phàm
có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước
nguyện nào và phàm có các hành nào, tất cả các pháp ấy
đưa đến bất khả lạc, bất khả hỷ, bất khả ý, bất
hạnh, đau khổ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì kiến là ác. Ví
như, này các Tỷ-kheo, hột giống cây nimba, hay hột giống
cây kosàtakì (một loại dây leo), hay hột giống cây mướp
đắng được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên
từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị
ấy đều đưa đến tánh đắng, tánh cay, tánh không lạc của
nó. Vì sao? Vì nó là tánh ác của hột giống, này các Tỷ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với người đàn ông, với con
người có tà kiến, có tà tư duy, có tà ngữ, có tà nghiệp,
có tà mạng, có tà tinh tấn, có tà niệm, có tà định, có
tà trí, có tà giải thoát, phàm có thân nghiệp gì được
thực hiện đầy đủ, được chấp nhận theo kiến ấy, phàm
có khẩu nghiệp gì... phàm có ý nghiệp gì được thực hiện
đầy đủ, và được chấp nhận theo kiến ấy; phàm có tư
tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện
nào, phàm có các hành nào, tất cả các pháp ấy đưa đến
bất khả lạc, bất khả hỷ, bất khả ý, bất hạnh, đau
khổ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì tà kiến là ác.
3. Này các Tỷ-kheo, với người
đàn ông, với con người có chánh kiến, có chánh tư duy, có
chánh ngữ, có chánh nghiệp, có chánh mạng, có chánh tinh tấn,
có chánh niệm, có chánh định, có chánh trí, có chánh giải
thoát; phàm có thân nghiệp gì được thực hiện đầy đủ,
được chấp nhận theo kiến ấy; phàm có khẩu nghiệp gì...
phàm có ý nghiệp gì được thực hiện đầy đủ, được
chấp nhận theo kiến ấy; phàm có tư tâm sở nào, phàm có
quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các
hành nào, tất cả các pháp ấy đưa đến khả năng lạc,
khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Vì sao? Này các Tỷ-kheo,
vì chánh kiến là hiền thiện. VÍ như, này các Tỷ-kheo, hột
giống cây mía, hay hột giống cây lúa, hay hột giống cây
nho được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ
đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy
đều đưa đến tánh ngon, tánh ngọt, tánh thuần chất của
nó. Vì sao? Vì hột giống là hiền thiện. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, đối với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo,
phàm mọi thân hành... vì tánh hiền thiện của kiến.
(V) (105) Với Mình
1. Khi nào vô minh dẫn đầu, này
các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các pháp bất thiện,
thời vô tàm, vô quý nối tiếp theo. Với kẻ bị vô minh chi
phối, vô trí, này các Tỷ-kheo, tà kiến sanh. Với kẻ có
tà kiến, tà tư duy sanh. Với kẻ tà tư duy, tà ngữ sanh. Với
kẻ tà ngữ, tà nghiệp sanh. Với kẻ tà nghiệp, tà mạng
sanh. Với kẻ tà mạng, tà tinh tấn sanh. Với kẻ tà tinh tấn,
tà niệm sanh. Với kẻ tà niệm, tà định sanh. Với kẻ tà
định, tà trí sanh. Với kẻ tà trí, tà giải thoát sanh.
2. Khi nào minh dẫn đầu, này các
Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các thiện pháp, thời tàm
và quý nối tiếp theo. Với kẻ được minh chi phối, có trí,
này các Tỷ-kheo, chánh kiến sanh. Với vị có chánh kiến,
chánh tư duy sanh. Với vị có chánh tư duy, chánh ngữ sanh.
Với vị có chánh ngữ, chánh nghiệp sanh. Với vị có chánh
nghiệp, chánh mạng sanh. Với vị có chánh mạng, chánh tinh
tấn sanh. Với vị có chánh tinh tấn, chánh niệm sanh. Với
vị có chánh niệm, chánh định sanh. Với vị có chánh định,
chánh trí sanh. Với vị có chánh trí, chánh giải thoát sanh.
(VI) (106) Nguyên Nhân Khiến Cho
Tổn Giảm
1. Này các Tỷ-kheo, có mười tổn
giảm sự này. Thế nào là mười?
2. Với người có chánh tri kiến,
này các Tỷ-kheo, tà kiến bị tổn giảm, các pháp ác, bất
thiện do duyên tà kiến sanh, các pháp ấy bị tổn giảm. Các
pháp thiện do duyên chánh kiến sanh, các pháp ấy đi đến
viên mãn trong tu tập. Với người có chánh tư duy, này các
Tỷ-kheo, tà tư duy bị tổn giảm, và các pháp ác, bất thiện
do duyên tà tư duy sanh, các pháp ấy bị tổn giảm. Các pháp
thiện do duyên chánh tư duy sanh, các pháp ấy được viên mãn
trong tư tập. Với người có chánh ngữ... có chánh nghiệp...
có chánh mạng... có chánh tinh tấn... có chánh niệm... có
chánh định... có chánh trí... có chánh giải thoát, này các
Tỷ-kheo, tà giải thoát bị tổn giảm, và các pháp ác, bất
thiện do duyên tà giải thoát sanh, các pháp ấy bị tổn giảm.
Do duyên chánh giải thoát, các thiện pháp đi đến viên mãn
trong tu tập.
Này các Tỷ-kheo, có mười tổn
giảm sự này.
(VII) (107) Tẩy Trần
1. Này các Tỷ-kheo, tại các quốc
độ miền Nam, có lễ tẩy trần. Tại đấy có các món ăn,
có các thức uống, các đồ ăn loại cứng, các đồ ăn loại
mềm, đồ nếm, đồ uống, múa, hát, nhạc. Này các Tỷ-kheo,
đây là lễ tẩy trần, Ta tuyên bố rằng không phải là không
có. Và này các Tỷ-kheo, lễ tẩy trần ấy là hạ liệt, thô
tục, phàm phu, không phải Thánh, không liên hệ đến mục
đích, không đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh,
thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Này các Tỷ kheo. Ta sẽ thuyết
về tẩy trần thuộc bậc Thánh, tẩy trần này đưa đến
nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng
trí, giác ngộ, Niết Bàn. Do duyên tẩy trần này, các chúng
sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị
già được giải thoát khỏi già; cách chúng sanh bị chết
được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi khổ,
ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Hãy
nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
2. Và này, các Tỷ-kheo, thế nào
là Thánh tẩy trần, do Thánh tẩy trần này đưa đến nhất
hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí,
giác ngộ, Niết-bàn? Do duyên Thánh tẩy trần này, các chúng
sanh bị sanh được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị
chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu,
bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu,
não.
3. Với người có chánh kiến, này
các Tỷ-kheo, tà kiến bị tẩy sạch, và những pháp ác bất
thiện nào do duyên tà kiến khởi lên, các pháp ấy của người
ấy được tẩy sạch. Và các pháp thiện do duyên chánh kiến,
đi đến viên mãn trong tu tập. Với người chánh tư duy, này
các Tỷ-kheo, tà tư duy bị tẩy sạch... Với người chánh
ngữ, này các Tỷ-kheo, tà ngữ được tẩy sạch..Với người
chánh nghiệp, này các Tỷ-kheo, tà nghiệp được tẩy sạch...
Với người chánh mạng, này các Tỷ-kheo, tà mạng được
tẩy sạch... Với người chánh tinh tấn, này các Tỷ-kheo,
tà tinh tấn được tẩy sạch... Với người chánh niệm, này
các Tỷ-kheo, tà niệm được tẩy sạch... Với người chánh
định, này các Tỷ-kheo, tà định được tẩy sạch... Với
người chánh trí, này các Tỷ-kheo, tà trí được tẩy sạch...
Với người chánh giải thoát, này các Tỷ-kheo, tà giải thoát
được tẩy sạch và những pháp ác bất thiện do duyên tà
giải thoát khởi lên, các pháp ấy của người ấy được
tẩy sạch. Và các pháp thiện do duyên chánh giải thoát, đi
đến viên mãn trong tu tập.
4. Này các Tỷ-kheo, đây là Thánh
tẩy trần ấy, tẩy trần này đưa đến nhất hướng nhàm
chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Do duyên tẩy trần này nên các chúng sanh bị sanh được giải
thoát khỏi sanh; những chúng sanh bị già được giải thoát
khỏi già, những chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi
chết; những chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải
thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.
(VIII) (108) Y Thuật
1. Các y sư, này các Tỷ-kheo, cho
thuốc xổ để chận đứng các bệnh khởi lên từ mật, để
chận đứng các bệnh khởi lên từ đàm, để chận đứng
các bệnh khởi lên từ gió. Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là
thuốc xổ. Ta tuyên bố rằng đây không phải là không có,
và này các Tỷ-kheo, thuốc xổ này có thành công và cũng có
thất bại. Và này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về thuốc xổ
các bậc Thánh, thuốc xổ này thành công, không có thất bại.
Do nhân thuốc xổ này nên các chúng sanh bị sanh được giải
thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi
già, các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết;
các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát
khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ
nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
2. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
thuốc xổ bậc Thánh, thuốc xổ này thành công không có thất
bại. Do duyên thuốc xổ bậc Thánh này nên các chúng sanh bị
sanh được giải thoát khỏi sanh... các chúng sanh bị sầu,
bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu,
não?
3. Với người có chánh kiến, này
các Tỷ-kheo, tà kiến bị xổ ra. Các ác bất thiện pháp do
duyên tà kiến sanh khởi nên các pháp ấy được xổ ra và
các pháp thiện do duyên với chánh kiến đi đến viên mãn
trong tu tập. Với người có chánh tư duy, này các Tỷ-kheo,
tà tư duy bị xổ ra... Với người có chánh ngữ, này các
Tỷ-kheo, tà ngữ bị xổ ra... Với người có chánh nghiệp,
này các Tỷ-kheo, tà nghiệp bị xổ ra... Với người có chánh
mạng, này các Tỷ-kheo, tà mạng bị xổ ra... Với người
có chánh tinh tấn, này các Tỷ-kheo, tà tinh tấn bị xổ ra...
Với người có chánh niệm, này các Tỷ-kheo, tà niệm bị
xổ ra... Với người có chánh định, này các Tỷ-kheo, tà
định bị xổ ra... Với người có chánh trí, này các Tỷ-kheo,
tà trí bị xổ ra... Với người có chánh giải thoát, này
các Tỷ-kheo, tà giải thoát bị xổ ra... Các pháp ác bất
thiện, do duyên tà giải thoát sanh khởi, các pháp ấy bị
xổ ra và các pháp thiện, duyên với chánh giải thoát đi đến
viên mãn trong tu tập.
4. Này các Tỷ-kheo, đây là thuốc
xổ bậc Thánh, thuốc xổ này chỉ thành công, không thất
bại. Do nhân thuốc xổ này nên các chúng sanh bị sanh được
giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát
khỏi già, các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi
chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải
thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.
(IX) (109) Mửa
(Giống như kinh 108, kinh
trước dùng chữ "xổ", kinh này dùng chữ "mửa").
(X) (110) Bài Tiết
1. Có mười pháp này, này các Tỷ-kheo,
cần phải bài tiết. Thế nào là mười?
2. Với người có chánh kiến, này
các Tỷ-kheo, tà kiến bị bài tiết ra, ... (giống như hai
kinh trước, chỉ chữ "bài tiết" thay cho chữ "xổ").
(XI) (111) Vô Học (1)
1. Bấy giờ có một Tỷ-kheo đi
đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế
Tôn:
- Vô học, vô học, bạch Thế Tôn,
được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế
Tôn, Tỷ-kheo là bậc vô học?
2. Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
thành tựu vô học chánh tri kiến, thành tựu vô học chánh
tư duy, thành tựu vô học chánh ngữ, thành tựu vô học chánh
nghiệp, thành tựu vô học chánh mạng, thành tựu vô học
chánh tinh tấn, thành tựu vô học chánh chánh niệm, thành
tựu vô học chánh định, thành tựu vô học chánh trí, thành
tựu vô học chánh giải thoát.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
vô học.
(XII) (112) Vô Học (2)
1. Này các Tỷ-kheo, có mười pháp
vô học này. Thế nào là mười?
2. Vô học chánh kiến, vô học chánh
tư duy, vô học chánh ngữ, vô học chánh nghiệp, vô học chánh
mạng, vô học chánh tinh tấn, vô học chánh chánh nhiệm, vô
học chánh định, vô học chánh trí, vô học chánh giải thoát.
Này các Tỷ-kheo, có mười pháp
vô học này.
XII. Phẩm Ði
Xuống
(I) (113) Phi Pháp
1. Phi pháp và phi mục đích này,
này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; pháp và mục đích
cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và phi mục đích,
sau khi biết pháp và mục đích, pháp như thế nào, mục đích
như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Này các
Tỷ-kheo, thế nào là phi pháp và phi mục đích?
2. Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ,
tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà
trí, tà giải thoát.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là phi
pháp và phi mục đích. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp
và mục đích?
3. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm,
chánh định, chánh trí, chánh giải thoát.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là pháp
và mục đích.
4. Và này các Tỷ-kheo, phi pháp và
phi mục đích cần phải hiểu biết; pháp và mục đích cần
phải hiểu biết. Sau khi hiểu biết phi pháp và phi mục đích
sau khi hiểu biết pháp và mục đích, pháp như thế nào, mục
đích như thế nào, như thế ấy, cần phải thực hành. Ðược
nói đến như vậy là do duyên này được nói đến.
(II) (114) Không Phải Mục Ðích
1. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo,
cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải
hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục
đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế
nào, như thế ấy cần phải thực hành. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là phi pháp? Thế nào là pháp, thế nào là phi mục
đích và thế nào là mục đích?
2. Tà kiến, này các Tỷ-kheo, là
phi pháp; chánh kiến là pháp. Những pháp ác bất thiện nào
do duyên tà kiến được sanh, đây là phi mục đích. Những
pháp thiện do duyên chánh kiến đi đến đầy đủ trong tu
tập, đây là mục đích. Tà tư duy, này các Tỷ-kheo, là phi
pháp; chánh tư duy là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do
duyên tà tư duy được sanh, đây là phi mục đích. Những pháp
thiện do duyên chánh tư duy đi đến đầy đủ trong tu tập,
đây là mục đích. Tà ngữ, này các Tỷ-kheo, là phi pháp;
chánh ngữ là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên
tà ngữ sanh khởi. Ðây là phi mục đích. Những pháp thiện
do duyên chánh ngữ đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là
mục đích. Tà nghiệp, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh
nghiệp là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà
nghiệp được sanh, đây là phi mục đích. Những pháp thiện
do duyên chánh nghiệp đi đến đầy đủ trong tu tập, đây
là mục đích. Tà mạng, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh
mạng là pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà mạng
sanh khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên
chánh mạng đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích.
Tà tinh tấn, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh tinh tấn là
pháp. Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà tinh tấn sanh
khởi, đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh
tinh tấn đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích.
Tà niệm, này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh niệm là pháp.
Những pháp ác bất thiện nào do duyên tà niệm sanh khởi,
đây là phi mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh niệm
đi đến đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà định,
này các Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh định là pháp. Những pháp
ác bất thiện nào do duyên tà định sanh khởi, đây là phi
mục đích. Những pháp thiện do duyên chánh định đi đến
đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Tà trí, này các
Tỷ-kheo, là phi pháp; chánh trí là pháp. Những pháp ác bất
thiện nào do duyên tà trí sanh khởi, đây là phi mục đích.
Những pháp thiện do duyên chánh trí đi đến đầy đủ trong
tu tập, đây là mục đích. Tà giải thoát, này các Tỷ-kheo,
là phi pháp; chánh giải thoát là pháp. Những pháp ác bất
thiện nào do duyên tà giải thoát sanh khởi, đây là phi mục
đích. Những pháp thiện do duyên chánh giải thoát đi đến
đầy đủ trong tu tập, đây là mục đích. Và những thiện
pháp do duyên chánh giải thoát đi đến đầy đủ trong tu tập,
đây là mục đích.
3. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo,
cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích cần phải
hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục
đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế
nào, như thế ấy cần phải thực hành. Ðược nói như vậy,
do duyên này được nói đến như vậy.
(III) (115) Phi Pháp
1. Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo,
cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích cần phải
hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục
đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế
nào, như thế ấy cần phải thực hành.
Thế Tôn thuyết như vậy. Thuyết
như vậy xong, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và
bước vào tinh xá.
2. Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi Thế
Tôn đi không bao lâu, suy nghĩ như sau: "Này chư Hiền, Thế
Tôn đã nói lên một cách vắn tắt lời tuyên bố này, không
phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng
dậy, đã đi vào tinh xá: "Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo,
cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải
hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục
đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế
nào, như thế ấy cần phải thực hành." Với lời tuyên bố
này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân
tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai là người có thể phân
tích một cách rộng rãi? " Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như
sau: "Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị
đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Tôn giả Ananda, với
lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn
tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, có thể
phân tích một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn
giả Ananda, sau khi đến, sẽ hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa
này. Tôn giả Ananda trả lời cho chúng ta như thế nào, chúng
ta sẽ như vậy thọ trì".
3. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến
Tôn giả Ananda, sau khi đến nói lên với Tôn giả Ananda những
lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón
hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ananda:
- Thưa hiền giả Ananda. Thế Tôn
sau khi nói lên một cách vắn tắt lời tuyên bố này, không
phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng
dậy, đã đi vào tinh xá: "Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo,
cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải
hiểu biết. Sau khi hiểu phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục
đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế
nào, như thế ấy cần phải thực hành." Này Hiền giả, sau
khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng tôi suy nghĩ như sau: "Này
chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên một cách vắn tắt lời
tuyên bố này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi,
từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: "Phi pháp và
pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích
và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và
pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế
nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực
hành." Với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một
cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi",
ai là người có thể phân tích một cách rộng rãi? Rồi thưa
Hiền giả, chúng tôi suy nghĩ như sau: "Tôn giả Ananda được
Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí
bắt chước. Tôn giả Ananda, với lời tuyên bố này được
Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa
một cách rộng rãi, có thể phân tích một cách rộng rãi.
Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, sẽ
hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này. Tôn giả Ananda trả lời
cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì". Thưa
Tôn giả Ananda, hãy phân tích cho.
4. Chư Hiền, cũng ví như một người
cần thiết lõi cây, tìm lõi cây, đi khắp mọi nơi tìm lõi
cây, đến một cây to lớn, đứng thẳng và có lõi cây. Người
này bỏ qua rễ, bỏ qua thân cây, nghĩ rằng: "Phải tìm lõi
cây ở nơi cành lá". Cũng vậy, là hành động của chư Tôn
giả, đứng trước mặt Thế Tôn, quí vị bỏ qua Thế Tôn,
nghĩ rằng: "Cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này". Chư Hiền,
Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần
phải thấy. Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị
có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Phạm thiên, vị thuyết
giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất
tử, vị Pháp chủ. Thế Tôn giải thích quý vị như thế nào,
quí vị hãy như vậy thọ trì.
5. Hiền giả Ananda, chắc chắn Thế
Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải
thấy. Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí,
trở thành Chánh pháp, trở thành Phạm thiên, vị thuyết giả,
vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử,
vị Pháp chủ, Như Lai. Chúng tôi phải tùy thời hỏi Thế
Tôn ý nghĩa này. Những gì Thế Tôn giải thích cho chúng tôi,
chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. nhưng Hiền giả Ananda được
Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí
bắt chước. Hiền giả Ananda có thể giải thích rộng rãi
ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên một cách
vắn tắt và giải thích rõ ràng ý nghĩa. Mong Hiền giả Ananda
giải thích, nếu không có sự gì phiền muộn.
6. Vậy chư Hiền, hãy nghe và suy
nghiệm kỹ, tôi sẽ giảng.
- Thưa vâng Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả
Ananda. Tôn giả Ananda giảng như sau:
- Thưa chư Hiền, Thế Tôn sau khi
nói lên lời tuyên bố một cách vắn tắt mà không có phân
tích ý nghĩa một cách rộng rãi, đã từ chỗ ngồi đứng
dậy và đi vào tinh xá: "Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo,
cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải
hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục
đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế
nào, như thế ấy cần phải thực hành." Và này chư Hiền,
thế nào là phi pháp, thế nào là pháp, thế nào là phi mục
đích và thế nào là mục đích?
7. Tà kiến, này chư Hiền, là phi
pháp; chánh kiến là pháp, những pháp ác bất thiện gì do
duyên tà kiến khởi lên, đây là phi mục đích. Và những
pháp thiện gì đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục
đích. Tà tư duy, này chư Hiền, là phi pháp; chánh tư duy là
pháp... Tà ngữ là phi pháp; chánh ngữ là pháp... Tà nghiệp
là phi pháp; chánh nghiệp là pháp... Tà mạng là phi pháp; chánh
mạng là pháp... Tà tinh tấn là phi pháp; chánh tinh tấn là
pháp... Tà niệm là phi pháp; chánh niệm là pháp... Tà định
là phi pháp; chánh định là pháp... Tà trí là phi pháp; chánh
trí là pháp... Tà giải thoát là phi pháp; chánh giải thoát
là pháp. Và những pháp ác bất thiện nào do duyên chánh giải
thoát khởi lên đây là phi mục đích, và những thiện pháp
do duyên chánh giải thoát đi đến viên mãn trong tu tập, đây
là mục đích. Thưa các Hiền giả, Thế Tôn sau khi nói lên
lời tuyên bố này một cách vắn tắt mà không phân tích ý
nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi
vào tinh xá: "Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, c