VII. Phẩm
Ước Nguyện
(I) (71) Ước Nguyện
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi,
tại Jetavana, khu vườn Anàthapindika. Ở đây, Thế Tôn gọi
các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn,
Thế Tôn nói như sau:
2. - Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy
đủ giới, đầu đủ giới bổn Pàtimokkha. Hãy sống chế
ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ
uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt,
chấp nhận và học tập các học pháp.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có
ước nguyện: "Mong rằng ta được các đồng Phạm hạnh thương
mến, yêu quý, cung kính và bắt chước". Tỷ-kheo ấy phải
thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh,
không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích
sống tại các xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
có ước nguyện: "Mong rằng ta được các vật dụng như y
phục, các món ăn khất thực, sàng tọa và các dược phẩm
trị bệnh", Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật,
kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định,
thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng
ta hưởng thọ các vật dụng như y áo, các món ăn khất thực,
sàng tọa và các dược phẩm trị bệnh. Mong rằng hành động
của những vị ấy tạo ra các vật dụng ấy được quả
báo lớn, được lợi ích lớn", Tỷ-kheo ấy phải thành tựu
viên mãn giới luật... (như trên)... trú xứ không tịnh. Này
các Tỷ kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng những
bà con huyết thống với ta, khi chết và mệnh chung nghĩ (đến
ta) với tâm hoan hỷ, (và nhờ vậy) được quả báo lớn,
được lợi ích lớn". Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn
giới luật... (như trên)... trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo,
nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng ta biết đủ với
bất cứ vật dụng gì như y áo, đồ ăn khất thực, sàng
tọa, dược phẩm trị bệnh", Tỷ-kheo ấy phải sống đầy
đủ giới... trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
có ước nguyện: "Mong rằng ta kham nhẫn với lạnh, nóng, đói
khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời,
của loài bò sát, kham nhẫn những cách nói mạ ly phỉ báng,
kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ,
khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không
thích thú, chết điếng người", thời Tỷ-kheo ấy phải sống
đầy đủ giới... trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng ta nhiếp phục lạc và
bất lạc, chớ không để lạc, bất lạc nhiếp phục ta. Mong
rằng ta sống luôn luôn nhiếp phục lạc, bất lạc được
khởi lên", Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật...
(như trên).... trú xứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
có ước nguyện: "Mong rằng ta nhiếp phục khiếp đảm và
sợ hãi, chớ không phải khiếp đảm và sợ hãi nhiếp phục
ta. Mong rằng ta sống luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm và
sợ hãi được khởi lên". Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên
mãn giới luật... (như trên)... trú xứ không tịnh. Này các
Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Mong rằng tùy theo
ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí
sức, ta chứng được bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm,
hiện tại lạc trú". Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn
giới luật... (như trên)... trú cứ không tịnh. Này các Tỷ-kheo,
nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: "Với sự đoạn tận các lậu
hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và
an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải
thoát". Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên
trì nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành
tựu quán hạnh, thích sống trong các trú xứ không tịnh.
Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy
đủ giới hạnh, đầy đủ giới bổn, sống chế ngự với
sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh,
thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và
tu học trong các học pháp. Như vậy được nói đến, chính
do duyên này được nói đến như vậy.
(II) (72) Cây Gai
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli,
tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nó nhọn, với rất nhiều các
Thượng tọa có danh tiếng, có danh tiếng như Tôn giả Càla,
Tôn giả Upàcàla. Tôn giả Kakkata, Tôn giả Kalimbha, Tôn giả
Nikata, Tôn giả Katissaha, cùng nhiều Tôn giả có danh tiếng
khác.
2. Lúc bấy giờ có nhiều Licchavì
có danh tiếng, có danh tiếng lớn đang cỡi các cỗ xe lộng
lẫy, tranh đua cao tiếng, lớn tiếng đi vào Ðại Lâm để
yết kiến Thế Tôn. Rồi các trưởng lão ấy suy nghĩ: "Có
nhiều Licchavì có danh tiếng, có danh tiếng lớn đang cỡi
các cỗ xe lộng lẫy, tranh đua, cao tiếng, lớn tiếng đi vào
Ðại lâm để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn có dạy: "Tiếng
ồn là cây gai cho Thiền." Vậy chúng ta hãy đi đến Gosinga,
khu rừng cây sàla. Tại đây, chúng ta có thể sống an ồn,
không ồn ào, không có chen chúc."
3. Rồi các Tôn giả ấy đi đến
Gosinga, ngôi rừng các cây sàla. Tại đây, các Tôn giả ấy
sống an ổn, không ồn ào, không chen chúc. Rồi Thế Tôn bảo
các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, Càla ở đâu?
Upacàla ở đâu? Kakkata ở đâu? Kalimbha ở đâu? Nikata ở đâu?
Katissaha ở đâu? Này các Tỷ-kheo, các trưởng lão đệ tử
ấy đi đâu?
- Ở đây bạch Thế Tôn, các Tôn
giả ấy suy nhĩ như sau: "Có nhiều Licchavì có danh tiếng có
danh tiếng lớn đang cỡi các cỗ xe lộng lẫy, tranh đua, cao
tiếng, lớn tiếng, đi vào Ðại Lâm để yết kiến Thế Tôn,
Thế Tôn có dạy: "Tiếng ồn là cây gai cho thiền". Vậy chúng
ta hãy đi đến Gosinga khu rừng cây sàla. Tại đây, chúng ta
có thể sống an ổn, không ồn ào, không chen chúc". Bạch Thế
Tôn, các Tôn giả ấy đã đi đến Gosinga, khu rừng cây sàla.
Tại đây, các bậc Tôn giả ấy sống an ổn, không ồn ào,
không chen chúc.
4. - Lành thay, lành thay, này các
Tỷ-kheo. Trả lời như các đại đệ tử đã trả lời, là
trả lời một cách chơn chánh. Này các Tỷ-kheo, "Tiếng ồn
là gai cho thiền", đã được Ta nói như vậy. Này các Tỷ-kheo,
có mười loại cây gai này. Thế nào là mười?
5. Với người ưa thích viễn ly,
ưa thích hội chúng là cây gai. Với người chuyên chú tu tập
tướng bất tịnh, tu tập tịnh tướng là cây gai. Với người
phòng hộ các căn, đi xem văn nghệ trình diễn là cây gai.
Với người sống Phạm hạnh, thân cận với phụ nữ là cây
gai. Với người chứng Thiền thứ nhất, tiếng ồn là cây
gai. Với người chứng Thiền thứ hai, tầm tứ là cây gai.
Với người chứng Thiền thứ ba, hỷ là cây gai. Với người
chứng Thiền thứ tư, hơi thở là cây gai. Với người đã
đạt được Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ là cây
gai. Tham là cây gai. Sân là cây gai. Si là cây gai.
Này các Tỷ-kheo, hãy sống không
phải là cây gai. Này các Tỷ-kheo, hãy sống rời khỏi cây
gai. Này các Tỷ-kheo, hãy sống không phải là cây gai và rời
khỏi cây gai. Này các Tỷ-kheo, không có cây gai là bậc A-la-hán.
Này các Tỷ-kheo, rời khỏi cây gai là bậc A-la-hán. Này các
Tỷ-kheo, vị không có gai và rời khỏi cây gai là bậc A-la-hán
(III) (73) Khả Lạc
1. - Có mười pháp này khả lạc,
khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời. Thế nào là mười?
2. Tài sản khả lạc, khả hỷ,
khả ý, khó tìm được ở đời, dung sắc... không bệnh...
các giới đức... Phạm hạnh... các bạn bè... nhiều trí....
các pháp... thiên giới, khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm
được ở đời.
Này các Tỷ-kheo, mười pháp khả
lạc, khả lạc, khả hỷ, khả này khó tìm ở đời.
3. Này các Tỷ-kheo, đối với mười
pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở này, mười
pháp là những chướng ngại.
4. Thụ động và không hăng hái
là chướng ngại cho tài sản. Không trang sức, không tô điểm
là chướng ngại cho dung sắc. Hành động không thích ứng
là chướng ngại cho không bệnh. Ác bằng hữu là chướng
ngại cho giới đức. Không chế ngự các căn là chướng ngại
cho Phạm hạnh. Lừa dối là chướng ngại cho các bạn bè.
Không học tập là chướng ngại cho nhiều trí. Không nghe,
không hỏi là chướng ngại cho trí tuệ. Không có chú tâm,
không có quán sát là chướng ngại cho các pháp. Tà hạnh là
chướng ngại cho Thiên giới.
Này các Tỷ-kheo, đối với mười
khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm ở đời này, mười pháp
này là những chướng ngại.
5. Này các Tỷ-kheo, đối với mười
pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này,
mười pháp là những thức ăn.
6. Không thụ động, hăng hái là
món ăn cho các tài sản. Trang sức, tô điểm là món ăn cho
dung sắc. Hành động thích ứng là món ăn cho không bệnh.
bạn bè với thiện là thức ăn cho các giới đức. Chế ngự
các căn là thức ăn cho Phạm hạnh. Không có lừa dối là
thức ăn cho bạn bè. Học tập là thức ăn cho trí tuệ. Chú
tâm quán sát là thức ăn cho các pháp. Chánh hạnh là thức
ăn cho Thiên giới.
Này các Tỷ-kheo, đối với mười
pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này,
mười pháp này là những thức ăn.
(VI) (74) Tăng Trưởng
1. - Này các Tỷ-kheo, do tăng trưởng
với mười tăng trưởng, vị Thánh đệ tử tăng trưởng Thánh
tăng thưởng, nắm được tinh hoa và nắm được tối thắng
của thân. Thế nào là với mười sự tăng trưởng?
2. Tăng trưởng ruộng đất, tăng
trưởng tài sản lúa gạo, tăng trưởng vợ và con, tăng trưởng
những người nô lệ, kẻ làm công, tăng trưởng các loài
bốn chân, tăng trưởng lòng tin, tăng trưởng giới, tăng trưởng
nghe nhiều, tăng trưởng thí, tăng trưởng trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, do tăng trưởng
với mười tăng trưởng này, vị Thánh đệ tử tăng trưởng
Thánh tăng trưởng, nắm được tinh hoa và nắm được tối
thắng của thân.
Ai đời này tăng trưởng,
Tài sản và lúa gạo,
Tăng trưởng vợ và con,
Cùng các loài bốn chân,
Ðược danh, được kính trọng,
Như người nhiều tài sản,
Từ bà con bạn bè,
Và những người quyền thế,
Ai ở đời tăng trưởng,
Lòng tin và giới đức,
Trí tuệ và cả hai,
Bố thí và nghe nhiều,
Người như vậy là người,
Chân nhân và có mắt,
Ngay ở trong đời này,
Tăng trưởng cả hai phần.
(V) (75) Migasàlà
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi,
tại Jetavana, khu vườn ông Anathapindika. Rồi Tôn giả Ananda
vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của nữ
cư sĩ Migasàlà; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn
sẵn. Rồi nữ cư sĩ Migasàlà đi đến Tôn giả Ananda, sau
khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, nữ cư sĩ Magasàlà bạch Tôn giả Ananda:
2. - Thưa Tôn giả Ananada, như thế
nào cần phải hiểu pháp được Thế Tôn thuyết giảng, rằng
người sống phạm hạnh và người sống không phạm hạnh
cả hai sẽ đồng một chỗ thọ sanh trong đời sau? Thưa Tôn
giả, phụ thân con Puràna sống phạm hạnh, sống viễn ly,
từ bỏ dâm dục hèn hạ. Vị ấy, khi mệnh chung được Thế
Tôn trả lời: "Là bậc Nhất lai sanh với thân ở Tusita". Còn
Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh,
tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế
Tôn trả lời: "Là bậc Nhất lai, sanh với thân ở Tusita".
Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu
pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): "Cả hai, sống
phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về
sanh thú trong tương lai"?
- Này Chị, chính như vậy là câu
trả lời của Thế Tôn.
3. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi nhận
đồ khất thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasàlà, từ chỗ
ngồi đứng dậy rồi ra đi. rồi Tôn giả Ananda sau buổi ăn,
trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn,
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi
sáng, con đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của nữ cư sĩ
Migasàlà, sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn
sẵn. Rồi nữ cư sĩ Migasàlà đi đến con, sau khi đến, đảnh
lễ con ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế
Tôn, nữ cư sĩ Magasàlà thưa với con:
- "Như thế nào, thế nào, thưa Tôn
giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn thuyết (nói
rằng): "Cả hai sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh
đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai. "Puràna thân
phụ con, thưa Tôn giả, sống phạm hạnh, sống viễn ly, tránh
xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung, được Thế Tôn trả
lời: "Là bậc Nhất Lai, sanh với thân ở Tusita". Còn Isidatta,
cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng
lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả
lời: "Là bậc Nhất Lai, sanh với thân ở Tusita", Như thế
nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này
do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): "Cả hai, sống phạm hạnh
và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong
tương lai"? Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với nữ
cư sĩ Migasàlà:
- "Này Chị, chính như vậy là câu
trả lời của Thế Tôn".
- Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ
Migasàlà, lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ,
với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt
giữa các người.
Này Ananda, có mười hạng người,
có mặt hiện hữu ở đời. Thế nào là mười?
4. Ở đây, này Ananda, có hạng người
ác giới, không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải
thoát ấy; ở đây, ác giới ấy của người ấy được diệt
trừ, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không
có học nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không
chứng được nhất thời giải thoát. Người ấy sau khi thân
hoại mạnh chung, hướng về thối đọa, không về thù thắng,
chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
5. Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng
người ác giới, như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải
thoát ấy; ở đây, ác giới ấy của người được trừ diệt,
không có dư tàn. Người ấy có nghe pháp, có học nhiều, có
khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được thời giải
thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù
thắng, không hướng vê thối đọa, chỉ đi đến thù thắng,
không đi đến thối đọa.
Ở đây, này Ananda, ai là người
đo lường, đo như sau: "Những pháp ấy có mặt trong người
này, những pháp ấy cũng có mặt trong người kia. Vì sao, giữa
hai người ấy, một là hạ liệt, một là thù thắng?". Nhận
xét như vậy đem lại đau khổ lâu dài cho họ. Ở đây này
Ananda, người này là ác giới và như vậy rõ biết tâm giải
thoát, tuệ giải thoát ấy, chính ở nơi đây, ác giới ấy
của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Với vị
ấy, có nghe pháp, có học hỏi nhiều, có khéo thể nhập với
chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Này Ananda,
hạng người này, so sánh với hạng người trước là vì diệu
hơn. Là thù thắng hơn. Vì sao? Vì dòng pháp đưa người này
ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được
sự khác biệt. Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường
các hạng người. Chớ có làm sự đo lường các hạng người.
Tự đào hố cho mình là người đi làm sự đo lường các
hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo
lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
6. Ở đây, này Ananda, có hạng người
có giới nhưng không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ
giải thoát ấy; ở đây, giới ấy của người ấy được
đoạn diệt, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp,
không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến,
nên không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau
khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không huớng
về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù
thắng.
7. Nhưng ở dây này Ananda, co hạng
người có giới và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ
giải thoát ấy; ở đây, giới ấy của người ấy được
trừ diệt, không có dư tàn. Vị ấy có nghe pháp, có học
hỏi nhiều, và khéo thể nhập với chánh kiến, vị ấy chứng
được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng
chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa.
Chỉ đi đến thù thắng, không đi đến tối đọa. Ở đây,
này Ananda... chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo
lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
8. Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng
người có tham rất sắc sảo người ấy không như thật rõ
biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, tham ấy
của người ấy được trừ diệt, không có tàn dư. Người
này không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có
thể nhập với chánh kiến, không có chứng được nhất thời
giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về
thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối
đọa, không đi đến thù thắng.
9. Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng
người có tham rất sắc sảo, người ấy như thật rõ biết
tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, ở đây, lòng tham ấy
của người ấy được trừ diệt, không cò dư tàn. Người
ấy nghe pháp, học hỏi nhiều, khéo thể nhập với chánh kiến,
chứng được thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân mạng chung,
hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi
đến thù thắng, không đi đến thối đọa.
10. Nhưng ở đây, này Ananda, có
hạng người phẫn nộ, không như thật rõ biết tâm giải
thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, lòng phẫn nộ ấy của
người ấy được trừ diệt trừ không có tàn dư. Vị ấy
không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể
nhập với chánh kiến, không chứng được thời giải thoát.
Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa,
không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không
đi đến thù thắng.
11. Nhưng ở đây, này Ananda, có
hạng người có phẫn nộ và như thật rõ biết tâm giải
thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, lòng phẫn nộ ấy của
người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Vị ấy lại
nghe pháp, học hỏi nhiều, và khéo thể nhập với chánh kiến,
chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại
mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa,
chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây,
này Ananda... chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo
lường các hạng người. Ai có thể dược như Ta?
12. Nhưng ở đây, này Ananda, có
hạng người có trạo cử, nhưng không như thật rõ biết tâm
giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, trạo cử của người
ấy được trừ diệt không có học hỏi nhiều, không có thể
nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải
thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối
đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa,
không đi đến thù thắng.
13. Nhưng ở đây, này Ananda, có
hạng người có trạo cử, và như vậy thật rõ biết tâm
giải toát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, trạo cử của người
ấy được trừ diệt không có tàn dư. Và vị này có nghe
pháp, có học hỏi nhiều, khéo thể nhập với chánh kiến,
chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại
mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa,
chỉ đi đến thù thắng, không hướng về thối đọa. Ở
đây, này Ananda, ai là người đo lường, đo lường như sau:
"Những pháp ấy có mặt trong người này, những pháp ấy cũng
có mặt trong người kia. Vì sao giữa hai người ấy, một là
hạ liệt, một là thù diệu? " Nhận xét như vậy, đem lại
đau khổ lâu dài cho họ. Ở đây, này Ananda, người này là
trạo cử, và như vậy rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải
thoát ấy, chính ở đây, trạo cử của người ấy được
trừ diệt không có dư tàn. Và vị ấy có nghe pháp, có học
hỏi nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được
nhất thời giải thoát. Này Ananda, hạng người này so sánh
với hạng người trước, là vi diệu hơn, là thù thắng hơn.
Vì sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng
ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt. Do vậy,
này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người.
Chớ có làm sự đo lường các hạng người. Tự đào hố
cho mình là người làm sự đo lường các hạng người. Chỉ
có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng
người. Ai có thể được như Ta?
Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ
Migasàlà lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với
trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa
các người?
Này Ananda, có mười hạng người
này có mặt, hiện hữu ở đời.
Giới như thế nào, này Ananda, Puràna
được thành tựu, giới ấy Isidatta chưa thành tựu. Do vậy,
ở đây, Puràna có sanh thú khác với sanh thú của Isidatta.
Tuệ như thế nào, này Ananda, Isidatta được thành tựu, tuệ
ấy Puràna chưa thành tựu. Do vậy, ở đây, Isidatta có sanh
thú khác với sanh thú của Puràna. Như vậy, này Ananda, cả
hai người này đều có thể thiếu sót một chi phần.
(VI) (76) Không Thể Tăng Trưởng
1. - Này các Tỷ-kheo, nếu ba pháp
không có mặt ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác không xuất hiện ở đời và Pháp, Luật được Như Lai
thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Thế nào là ba?
2. Sanh, già và chết. Này các Tỷ-kheo,
nếu ba pháp này không hiện hữu ở đời, thời Như Lai, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp,
Luật do Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời.
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, ba pháp này có mặt ở đời, do
vậy Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở
đời, do vậy, Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng được nêu
rõ ở đời.
3. Này các Tỷ-kheo, không đoạn
tận ba pháp thời không có thể đoạn tận sanh, thời không
có thể đoạn tận già, thời không có thể đoạn tận chết.
Thế nào là ba?
4. Không đoạn tận tham, không đoạn
tận sân, không đoạn tận si. Do không đoạn tận ba pháp này,
không có thể đoạn tận sanh, không có thể đoạn tận già,
không có thể đoạn tận chết.
5. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn
tận ba pháp, thời không có thể đoạn tận tham, không có
thể đoạn tận sân, không có thể đoạn tận si. Thế nào
là ba?
6. Không đoạn tận thân kiến, không
đoạn tận nghi, không đoạn tận giới cấm thủ. Do không
đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đoạn
tận tham, không có thể đoạn tận sân, không có thể đoạn
tận si.
7. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn
tận ba pháp, không có thể đoạn tận thân kiến, không có
thể đoạn tận nghi, không có thể đoạn tận giới cấm thủ.
Thế nào là ba?
8. Không đoạn tận phi như lý tác
ý, không đoạn tận tu tập tà đạo, không đoạn tận tánh
thụ động. Do không đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo,
không có thể đoạn tận thân kiến, không có thể đoạn tận
nghi, không có thể đọan tận giới cấm thủ.
9. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn
tận ba pháp, không có thể đoạn tận phi như lý tác ý, không
có thể đoạn tận đoạn tu tập tà đạo, không có thể đoạn
tận tánh thụ động. Thế nào là ba?
10. Không đoạn tận vọng niệm,
không đoạn tận không tỉnh giác, không đoạn tận tâm loạn
động. Do không đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không
có thể đoạn tận phi như lý tác ý, không có thể đoạn
tận tu tập tà đạo, không có thể đoạn tận tánh thụ động.
11. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn
tận ba pháp, không có thể đoạn tận vọng niệm, không có
thể đoạn không tỉnh giác, không có thể đoạn tận tâm
loạn động. Thế nào là ba?
12. Không đoạn tận không muốn
yết kiến các bậc Thánh, không đoạn tận không muốn nghe
Thánh pháp, không đoạn tận bới lông tìm vết. Do không đoạn
tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đoạn tận
vọng niệm, không có thể đoạn tận không tỉnh giác, không
có thể đoạn tận tâm loạn động.
13. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn
tận ba pháp, không có thể đoạn tận không muốn yết kiến
các bậc Thánh, không có thể đoạn tận không muốn nghe Thánh
pháp, không có thể đoạn tận bới lông tìm vết. Thế nào
là ba?
14. Không đoạn tận trạo cử, không
tận không chế ngự, không đoạn tận ác giới. Do không đoạn
tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đoạn tận
không muốn yết kiến các bậc Thánh, không có thể đoạn
tận không muốn nghe Thánh pháp, không có thể đoạn tận tâm
bới lông tìm vết.
15. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn
tận ba pháp, không có thể đoạn tận trạo cử, không có
thể đoạn tận không chế ngự, không có thể đoạn tận
ác giới. Thế nào là ba?
16. Không đoạn tận không có lòng
tin, không đoạn tận xan tham, không đoạn tận biếng nhác,
do không đoạn tận ba pháp này, này cá Tỷ-kheo, không có thể
đoạn tận trạo cử, không có thể đoạn tận không chế
ngự, không có thể đoạn tận ác giới.
17. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn
tận ba pháp, không có thể đoạn tận không có lòng tin, không
có thể đoạn tận xan tham, không có thể đoạn tận biếng
nhác. Thế nào là ba?
18. Không đoạn tận không cung kính,
không đoạn tận khó nói, không đoạn tận ác bằng hữu.
Do không đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không có
thể đoạn tận không có lòng tin, không có thể đoạn tận
xan tham, không có thể đoạn tận biếng nhác.
19. Này các Tỷ-kheo, do không đoạn
tận ba pháp, không có thể đoạn tận không cung kính, không
có thể đoạn tận khó nói, không có thể đoạn tận ác bằng
hữu. Thế nào là ba?
20. Không đoạn tận không xấu hổ,
không đoạn tận không sợ hãi, không đoạn tận phóng dật,
do ba pháp này không đoạn tận, này các Tỷ-kheo, không có
thể đoạn tận không cung kính, không có thể đoạn tận khó
nói, không có thể đoạn tận ác bằng hữu.
21. Người này không có xấu hổ,
này các Tỷ-kheo, không có sợ hãi, có phóng dật. Người ấy
do phóng dật, không có thể đoạn tận không cung kính, không
có thể đoạn tận khó nói, không có thể tận ác bằng hữu.
Người ấy do ác bằng hữu, không có thể đoạn tận không
có lòng tin, không có thể đoạn tận xan tham, không có thể
đoạn tận biếng nhác. Vị ấy do biếng nhác, không có thể
đoạn tận trạo cử, không có thể đoạn tận không chế
ngự, không có thể đoạn tận ác giới. Vị ấy do ác giới,
không có thể đoạn tận không ưa yết kiến các bật Thánh,
không có thể đoạn tận không ưa nghe Thánh pháp, không có
thể đoạn tận bới lông tìm yết. Vị ấy do bới lông tìm
vết, không có thể đoạn tận vông niệm, không có thể đoạn
tận không có tỉnh giác, không có thể đoạn động tâm loạn
động. Vị ấy do tâm loạn động, không có thể đoạn tận
phi như lý tác ý, không có thể đoạn tận tu tập tà đạo,
không có thể đoạn tận tánh thụ động. Vị ấy do tâm thụ
động, không có thể đoạn tận thân kiến, không có thể
đoạn tận nghi, không có thể đoạn tận giới cấm thủ.
Vị ấy do nghi hoặc, không có thể đoạn tận tham, không có
thể đoạn tận sân, không có thể đoạn tận si. Vị ấy
do không đoạn tận tham, không đoạn tận sân, không đoạn
tận si, không có thể đoạn tận sanh, không có thể đoạn
tận giá, không có thể đoạn tận chết.
22. Do đoạn tận ba pháp, này các
Tỷ-kheo, có thể đoạn tận sanh, có thể đoạn tận già,
có thể đoạn tận chết. Thế nào là ba?
23. Do đoạn tận tham, do đoạn tận
sân, do đoạn tận si, do đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo,
có thể đoạn tận sanh, có thể đoạn tận già, có thể đoạn
tận chết.
24. Này các Tỷ-kheo, do ba pháp được
đoạn tận, có thể đoạn tận tham, có thể đoạn tận sân,
có thể đoạn tận si. Thế nào là ba?
25. Do đoạn tận thân kiến, do đoạn
tận nghi do đoạn tận giới cấm thủ, do đoạn tận ba pháp
này, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận tham, có thể đoạn
tận sân, có thể đoạn tận si.
26. Này các Tỷ-kheo, do ba pháp được
đoạn tận, có thể đoạn tận thân kiến, có thể đoạn
tận nghi, có thể đoạn tận giới cấm thủ. Thế nào là
ba?
27. Do đoạn tận phi như lý tác
ý, do đoạn tận thực hành tà đạo, do đoạn tận tánh thụ
động, do đoạn tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể
đoạn tận thân kiến, có thể đoạn tận nghi, có thể đoạn
tận giới cấm thủ.
28. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận
ba pháp, có thể đoạn tận phi như lý tác ý, có thể đoạn
tận thực hành tà đạo, có thể đoạn tận tánh thụ động.
Thế nào là ba?
29. Do đoạn tận vọng niệm, do
đoạn tận không tỉnh giác, do đoạn tận tâm loạn động,
do đoạn tận ba pháp, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận
phi như lý tác ý, có thể đoạn tận không tỉnh giác, có
thể đoạn tận tánh thụ động.
30. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận
ba pháp, có thể đoạn tận vọng niệm, có thể đoạn tận
không tỉnh giác, có thể đoạn tận tâm loạn động. Thế
nào là ba?
31. Do đoạn tận không muốn yết
kiến các bậc Thánh, do đoạn tận không muốn nghe Thánh pháp,
do đoạn tận bới lông tìm vết, do đoạn tận ba pháp này,
này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận vọng niệm, có thể đoạn
tận không tỉnh giác, có thể đoạn tận tâm loạn động.
32. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận
ba pháp, có thể đoạn tận không muốn yết kiến các bậc
Thánh, có thể đoạn tận không muốn nghe Chánh pháp, có thể
đoạn tận bới lông tìm vết. Thế nào là ba?
33. Do đoạn tận trạo cử, do đoạn
tận không chế ngự, do đoạn tận ác giới, do đoạn tận
ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đoạn tận không muốn nghe Thánh
pháp, có thể đoạn tận bới lông tìm vết.
34. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận
ba pháp, có thể đoạn tận trạo cử, có thể đoạn tận
không chế ngự, có thể đoạn tận ác giới. Thế nào là
ba?
35. Do đoạn tận không có lòng tin,
do đoạn tận xan tham, do đoạn tận biếng nhác, do đoạn tận
ba pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận trạo cử,
có thể đoạn tận không chế ngự, có thể đoạn tận ác
giới.
36. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận
ba pháp, có thể đoạn tận không có lòng tin, có thể đoạn
tận xan tham, có thể đoạn tận biếng nhác. Thế nào là ba?
37. Do đoạn tận không cung kính,
do đoạn tận khó nói, do đoạn tận ác bằng hữu, do đoạn
tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận không
có lòng tin, có thể đoạn tận xan tham, có thể đoạn tận
biếng nhác.
38. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận
ba pháp, có thể đoạn tận không cung kính, có thể đoạn
tận khó nói, có thể đoạn tận ác bằng hữu. Thế nào là
ba?
39. Do đoạn tận không xấu hổ,
do đoạn tận không sợ hãi, do đoạn tận phóng dật, do đoạn
tận ba pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đoạn tận khó
nói, có thể đoạn tận ác bằng hữu.
40. Này các Tỷ-kheo, người này
có xấu hổ có sợ hãi, có phóng dật. Người ấy do không
phóng dật, có thể đoạn tận không cung kính, có thể đoạn
tận khó nói, có thể đoạn tận ác bằng hữu. Người ấy
do thiện bằng hữu, có thể đoạn tận không có lòng tin,
có thể đoạn tận xan tham, có thể đoạn tận biếng nhác.
Người ấy do tinh cần tinh tấn, có thể đoạn tận trạo
cử, có thể đoạn tận không chế ngự, có thể đoạn tận
ác giới. Người ấy do giới đức, có thể đoạn tận không
muốn yết kiến các bậc Thánh, có thể đoạn tận không muốn
nghe Thánh pháp, có thể đoạn tận bới lông tìm vết. Người
ấy do không bới lông tìm vết, có thể đoạn tận vọng niệm,
có thể đoạn tận không tỉnh giác, có thể đoạn tận tâm
không loạn động. Người ấy do tâm không loạn động, có
thể đoạn tận phi như ly tác ý, có thể đoạn tận tu tập
tà đạo, có thể đoạn tận tâm thụ động. Người ấy do
tâm không thụ đông, có thể đoạn tận thân kiến, có thể
đoạn tận nghi, có thể đoạn tận giới cấm thủ. Người
ấy do không có nghi hoặc, có thể đoạn tận tham, có thể
đoạn tận sân, có thể đoạn tận si. Vị ấy do đoạn tận
tham, do đoạn tận sâu, do đoạn tận si, có thể đoạn tận
sanh, có thể đoạn tận già, có thể đoạn tận chết.
(VII)(77) Con Quạ
1.- Này các Tỷ-kheo, con quạ thành
tựu với mười tà pháp. Thế nào là mười?
2. Ngạo nghể, hung hãn, cường dục,
ăn lớn, độc ác, không từ bi, khiếp nhược, giọng chót
tai, vọng niệm và cất chứa tài sản.
Này các Tỷ-khao, con quạ thành tựu
với mười tà pháp này.
3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị
ác Tỷ-kheo thành tựu với mười tà pháp. Thế nào là mười?
4. Ngạo nghễ, hung hãn, cường dục,
ăn lớn, đọc ác, không từ bi, khiếp nhược, giọng chói
tai, vọng niệm và cất chứa tài sản.
Này các Tỷ-kheo, vị ác Tỷ-kheo
thành tựu với mười tà pháp này.
(VIII)(78) Ni Kiền Tử
1.- Này các Tỷ-kheo, các Ni-kiền
tử (Niganthàputta) thành tựu với mười tà pháp. Thế nào
là mười?
2. Không có lòng tin, này các Tỷ-kheo,
là các Ni-kiền tử. Ác giới, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền
tử. Không có xấu hổ, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử.
Không có sợ hãi, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Không
làm bạn các bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền
tử. Khen mình chê người, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền
tử. Chấp thủ các vấn đề hiện tại, không từ bỏ những
gì đã chấp thủ, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Gian
xảo, này các Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Ác dục, này các
Tỷ-kheo, là các Ni-kiền tử. Theo tà kiến, này các Tỷ-kheo,
là các Ni-kiền tử.
Này các Tỷ-kheo, thành tựu với
mười tà pháp này là các Ni-kiền tử.
(IX) (79) Những Trường Hợp Hiềm
Hận.
1. - Này các Tỷ-kheo, có mười trường
hợp hiềm hận. Thế nào là mười?
2. Hiềm hận được kết thành,
khi nghĩ rằng: "Nó đã làm hại ta". Hiềm hận được kết
thành, khi nghĩ rằng: "Nó đang làm hại ta". Hiềm hận được
kết thành, khi nghĩ rằng: "Nó sẽ làm hại tận. Hiềm hận
được kết thành, khi nghĩ rằng: "Nó đã hại người ta yêu,
người ta mến..." "Nó đang hại người ta yêu, hại người
ta mến..." "Nó sẽ hại người ta yêu, người ta mến". Hiềm
hận được kết thành, khi nghĩ rằng: " Nó đã làm lợi cho
người ta yêu, người ta mến". Hiềm hận được kết thành,
khi nghĩ rằng: " Nó đang làm lợi cho người ta không yêu, người
ta không mến". Hiềm hận được kết thành, khi nghĩ rằng:
"Nó sẽ làm lợi cho người ta không yêu, người ta không mến".
Làm cho vị ấy tức giận không có lý do.
Này các Tỷ-kheo, có mười trường
hợp hiềm hận này.
(X) (80) Nhiếp Phục Hiềm Hận
1. - Này các Tỷ-kheo, có mười nhiếp
phục hiềm hận này, Thế nào là mười ?
2.-Hiềm hận được nhiếp phục,
khi nghĩ rằng: "Nó đã làm hại tôi, nhưng lợi ích từ đâu
đến khi nghĩ như vậy? "Hiềm hận được nhiếp phục, khi
nghĩ rằng: "Nó đang làm hại ta, nhưng lợi ích từ đâu đến
khi nghĩ như vậy. "Hiềm hận được nhiếp phục khi nghĩ rằng:
"Nó sẽ làm hại ta, nhưng lợi ích từ đâu đến khi ta nghĩ
như vậy? . "Hiềm hận được nhiếp phục, khi nghĩ rằng:
"Nó đã làm hại người ta yêu, người ta mến.. Nó đang làm
hại người ta yêu... người ta mến... Nó sẽ làm hại người
ta yêu, người ta mến, nhưng lợi ích từ đâu đến khi nghĩ
như vậy? Không làm cho vị ấy tức giận không có lý do.
Này các Tỷ-kheo, có mười trường
hợp nhiếp phục được hiềm hận.
IX. Phẩm Trưởng
Lão
(I) (81) Bàhuna
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Campá,
trên bờ hồ Gaggarà. Rồi Tôn giả Bàhuna đi đến Thế Tôn,
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bàhuna bạch Thế Tôn:
- Từ bao nhiêu pháp, Như Lai sống
xuất ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc.
2. - Từ mười pháp, này Bàhuna,
Như Lai sống xuất ly, ly hệ. giải thoát với tâm không hạn
cuộc. Thế nào là mười?
3. Từ sắc, này Bàhuna, Như Lai sống
xuất ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc. Từ
thọ, này Bàhuna... Từ tưởng, này Bàhuna... Từ các hành,
này Bàhuna... Từ thức, này Bàhuna... Từ sanh, này Bàhuna...
Từ già, này Bàhuna...Từ chết, này Bàhuna...Từ các khổ này
Bàhuna.... Từ các phiền não, này Bàhuna, Như Lai sống xuất
ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc.
4. Ví như, này Bàhuna, hoa sen xanh,
hay hoa sen hồng, hay hoa sen trắng, sanh ra trong nước, lớn lên
trong nước, vươn lên mặt nước và đứng, không có dính
nước. Cũng vậy, này Bàhuna, từ mười pháp này, Như Lai sống
xuất ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc.
(II) (82) Ananda
1. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Thế Tôn với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:
2. - Này Abada, Tỷ-kheo nào không
có lòng tin, sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng
trong pháp luật này, sự kiện này không xảy ra. Này Ananda,
Tỷ-kheo nào ác giới... không nghe pháp... khó nói... làm bạn
với ác... biếng nhác... thất niệm... không biết đủ... ác
dục.. này Ananda, Tỷ-kheo nào có tà kiến sẽ được tăng
trưởng lớn mạnh, lớn rộng trong pháp luật này, sự kiện
không xảy ra.
Này Ananda, Tỷ-kheo nào thành tựu
mười pháp này, sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn
rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.
3. Này Ananda, Tỷ-kheo nào có lòng
tin, sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp
và Luật này, sự kiện này có xảy ra, Này Ananda, Tỷ-kheo
nào có giới... nghe pháp, thọ trì điều đã nghe... dễ nói...
làm bạn với thiện... tinh thần, tinh tấn... trú niệm... biết
đủ... ít dục... Này Ananda, Tỷ-kheo nào có chánh tri kiến,
sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và
Luật này, sự kiện này có xảy ra.
Này Anada, Tỷ-kheo nào thành tựu
mười pháp này sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng
trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.
(III) (83) Punniya
1. Rồi Tôn giả Punniya đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một
bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Punniya bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên
gì, có khi Thế Tôn thuyết pháp, có khi Thế Tôn không thuyết
pháp?
2.- Này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin,
không đi đến yết kiến, Như Lai không có thuyết pháp. Khi
nào, này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin , đi đến yết kiến,
như vậy Thế Tôn thuyết pháp. Và này Punniya, Tỷ-kheo có lòng
tin, có đi đến yết kiến, nhưng không có hầu hạ... có hầu
hạ nhưng không hỏi.. có hỏi nhưng không có lóng tai nghe pháp...
có lóng tai nhưng nghe pháp, nhưng sau khi, không thọ trì pháp...
sau khi nghe, có thọ trì pháp, nhưng không suy nghĩ ý nghĩa các
pháp đã được thọ trì... suy nghĩ ý nghĩa các pháp đã được
thọ trì, nhưng không có sau khi biết ý nghĩa, sau khi biết
pháp, thực hành pháp đúng pháp... sau khi biết ý nghĩa, sau
khi biết pháp, có thực hành pháp đúng pháp, nhưng không nói
thiện, phát ngôn thiện, thành tựu các lời tao nhã, nói lên
ý nghĩa phân biệt rõ ràng... khéo nói, khéo phát ngôn, thành
tựu các lời tao nhả, nói lên ý nghĩa phân biệt rõ ràng,
nhưng không có thuyết trình, không có khích lệ, không có làm
cho phấn chấn, không có làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm
hạnh, cho đến như vậy, Như lai không thuyết pháp.
3. Và này Punniya, Tỷ-kheo có lòng
tin, có đi đến yết kiến, có hầu hạ, có hỏi, có lóng
tai nghe; sau khi nghe, có thọ trì pháp, có suy nghĩ ý nghĩa các
pháp đã được thọ trì; sau khi biết ý nghĩa, sau khi biết
pháp, có thực hành pháp đúng pháp, khéo nói, khéo phát ngôn,
thành tựu các lời tao nhã, nói lên ý nghĩa phân biệt rõ
ràng và có thuyết trình, có khích lệ, có làm cho phấn chấn,
có làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh, cho đến như
vậy Như Lai có thuyết pháp.
Thành tựu mười pháp này, này Punniya
Như Lai thế nào cũng thuyết pháp.
(VI) (84) Nói Lên Chánh Trí
1. Ở đây, Tôn giả Mahàmoggallàna
gọi các Tỷ-kheo:
- Này các hiền giả Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả
Mahàmoggallàna. Tôn giả Mahàmoggallàna nói như sau:
2. - Ở đây, này các Hiền giả,
Tỷ-kheo nói lên chánh trí: "Tôi rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm
hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở
lui trạng thái này nữa"". Rồi Như Lai hay đệ tử Như Lai,
là vị hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo
trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người
khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy bị Như Lai
hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong
thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thẩm vấn,
gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trong trống rỗng (sa mạc),
rơi vào trong rối ren (rừng rậm), rơi vào trong bế tắc, rơi
vào trong bất hạnh, rơi vào trong bế tắc và bất hạnh. Như
Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo
trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người
khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác tâm mình,
tác ý đến tâm của người ấy như sau: "Như thế nào, Tôn
giả này nói lên chánh trí: "Tôi rõ biết rằng: "Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn
trở lui trạng thái này nữa."? " Như Lai hay đệ tử Như Lai,
những vị hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện
xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm
người khác, với tâm mình biết rõ tâm người ấy như sau:
"Có phẫn nộ là Tôn giả này, sống nhiều với tâm bị phẫn
nộ thấm nhuần. Với tâm bị phẫn nộ thấm nhuần, nghĩa
là tổn giảm trong Pháp Luật do Như Lai thuyết giảng. Có hiềm
hận là Tôn giả này... có gièm pha là Tôn giả này... có não
hại là Tôn giả này... có tật đố là Tôn giả này... có
xan tham là Tôn giả này... có lừa đảo là Tôn giả này...
có man trá là Tôn giả này... có ác dục là Tôn giả này...
có thất niệm là Tôn giả này... Dầu cho còn nhiều việc
(cao thượng hơn) cần phải làm thêm, tuy có chứng được
thù thắng nhưng chỉ là phần nhỏ lại đứng lại giữa đường;
đứng lại giữa đường này nghĩa là tổn giảm trong Pháp
Luật do Như Lai thuyết giảng."
3. Tỷ-kheo ấy, chư Hiền, do không
đoạn tận mười pháp này, đi đến được tăng trưởng,
lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này
không xảy ra. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, do đoạn tận mười
pháp này, đi đến được tăng trưởng lớn mạnh, lớn rộng
trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.
(V) (85) Khoe Khoang
1. Một thời, Tôn giả Mahàcunda
trú giữa dân chúng Cetì, tại Sahajati. Tại đây, Tôn giả
Mahàcunda bảo các Tỷ-kheo:
- Này chư Hiền Tỷ-kheo!
- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả
Mahàcunda. Tôn giả Mahàcunda nói như sau:
2. - Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo
là hạng khoe khoang, khoa trương những chứng đắc của mình:
"Tôi chứng nhập, tôi xuất ly sơ thiền. Tôi chứng nhập,
tôi xuất ly thiền thư hai. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly thiền
thứ ba. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly thiền thư tư. Tôi chứng
nhập, tôi xuất ly Không vô biên xứ. Tơi chứng nhập, tôi
xuất ly Thức vô biên xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Vô
sở hữu xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Phi tưởng phi phi
tưởng xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ tưởng
định." Như Lai hay đệ tử Như Lai là bậc Thánh hiền, thiện
xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện
xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi,
thảo luận. Vị ấy khi bị Như Lai hay đệ tử Như Lai là
những bậc hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện
xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm
người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trống
không, rơi vào rối ren, rơi vào bế tắc, rơi vào bất hạnh,
rơi vào bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như lai,
những vị hành thiền... thiện xảo trong hành tướng tâm của
người khác, với tâm của mình tác ý đến tâm của người
ấy như sau: "Như thế nào, Tôn giả này khoe khoang, khoa trương
những chứng đắc của mình: "Tôi chứng nhập, tôi xuất ly
Thiền thứ nhất... tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ
tưởng định." Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành
thiền... thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với
tâm mình rõ biết tâm người ấy như sau: "Ðã lâu rồi, Tôn
giả này có những hành động phá nát, có những hành động
bể vụn, có những hành động chấm đen, có những hành động
uế nhiễm, có những hành động không phù hợp, có những
tập quán không phù hợp trong các giới luật. Phá giới là
Tôn giả này, và phá giới nghĩa là tổn giảm trong Pháp và
Luật do Như Lai thuyết giảng. Không có lòng tin là Tôn giả
này, và không có lòng tin, nghĩa là tổn giảm trong Pháp và
Luật do Như Lai thuyết giảng. Nghe ít là Tôn giả này, theo
tà hạnh, học ít nghĩa là tổng giảm trong Pháp Luật do Như
Lai thuyết giảng. Khó nói là Tôn giả này, và tánh khó nói...
do Như Lai thuyết giảng. Bạn bè với ác là Tôn giả này,
và tánh bạn bè với ác... biếng nhác là Tôn giả này, và
tánh biếng nhác... thất niệm là do Tôn giả này, và tánh
thất niệm... do Như Lai thuyết giảng. Gian xảo là Tôn giả
này, và tánh gian xảo... khó nuôi dưỡng là Tôn giả này,
và tánh khó nuôi dưỡng... ác tuệ là tôn giả naỳ, và tánh
ác tuệ có nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai
thuyết giảng.""
3. Ví như, này chư Hiền, một người
bạn nói với người của mình: "Này Bạn, khi nào Bạn cần
đến tài sản, hãy xin tôi tài sản và tôi sẽ cho Bạn tài
sản." Người bạn kia khi cần đến tài sản liền nói với
người bạn như sau: "Này Bạn, nay tôi cần đến tài sản,
hãy cho tôi tài sản". Vị ấy trả lời như sau: "Vậy này
Bạn, hãy đào ở đây". Vị kia tại đấy đào lên và không
tìm được gì. Vị kia nói: "Này Bạn, Bạn đã nói láo với
tôi. Này Bạn, Bạn đã nói những lời trống rỗng với tôi."
"Hãy đào ở đây". Vị ấy nói: "Này Bạn, tôi không nói láo
với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng với Bạn.
Vậy này Bạn, hãy đào ở đây". Vị kia tại đấy đào lên
và không tìm được gì. Vị kia nói: "Này Bạn, Bạn đã nói
láo với tôi. Này Bạn, Bạn đã nói những lời trống rỗng
với tôi". "Hãy đào ở đây". Vị ấy nói: "Này Bạn, tôi
không nói láo với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng.
Vậy này Bạn, hãy đào ở đây". Vị kia tại đấy đào lên
và không tìm được gì. Vị kia nói: "Này Bạn, Bạn đã nói
láo với tôi. Bạn đã nói những lời trống rỗng với tôi".
"Hãy đào ở đây". Vị kia nói: "Này Bạn, tôi không nói láo
với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng với Bạn
nhưng tôi bị điên loạn, tâm tôi bị đảo lộn. Cũng vậy,
này chư Hiền, Tỷ-kheo là hạng khoe khoang, khoa trương những
chứng đắc của mình: "Tôi chứng nhập, Tôi xuất ly sơ thiền...Thiền
thứ hai... thiền thứ ba... Thiền thứ tư... Không vô biên
xứ...Thức vô biên xứ... vô sở hữu xứ... Phi trưởng phi
phi trưởng xứ... Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ
tưởng định". Như Lai hay đệ tử Như Lai là bậc hành thiền,
thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người
khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn,
gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy, khi bị Như Lai hay đệ tử
Như Lai là những bậc hành thiền... thiện xảo trong hành tướng
tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào
trống không, rơi vào rối ren, rơi vào bế tắc, rơi vào bất
hạnh, rơi vào bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử
Như Lai, những bậc hành thiền... thiện xảo trong hành tướng
tâm người khác, với tâm của mình, tác ý đến tâm của
người khác, với tâm của mình, tác ý đến tâm của người
ấy như sau: "Như thế nào, Tôn giả này khoa trương, khoe khoang,
những chứng đắc của mình: "Tôi chứng nhập và xuất ly
sơ thiền... tôi chứng nhập và xuất ly diệt thọ tưởng
định". Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền...
thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác như sau:
"Ðã lâu rồi, Tôn giả này có những hành động phá nát,
có những hành động bể vụn, có những hành động chấm
đen, có những hành động uế nhiễm, có những hành động
không phù hợp, có những tập quán không phù hợp trong cắc
giới. Phá giới là Tôn giả, và phá giới có nghĩa là tổn
giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Không có
lòng tin là Tôn giả này và tánh không có lòng tin... nghe ít
là Tôn giả này và tánh nghe ít... khó nói là Tôn giả này,
và tánh khó nói... bạn bè với ác là Tôn giả này và tánh
làm bạn với ác...biếng nhác là Tôn giả này, và tánh biếng
nhác..... thất niệm là Tôn giả này và tánh thất niệm...
gian xảo là Tôn giả này và tánh gian xảo... khó nuôi dưỡng
là Tôn giả này và tánh khó nuôi dưỡng... Ác tuệ là Tôn
giả này và tánh ác tuệ là tổn giảm trong Pháp và Luật
do Như Lai thuyết giảng."
4. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, không
đoạn tận mười pháp này sẽ tăng trưởng, lớn mạnh, lớn
rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra Tỷ-kheo
ấy, này chư Hiền, sau khi đoạn tận mười pháp này, sẽ
được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật
này, sự kiện này có xảy ra.
(VI) (86) Câu Hỏi Về Chánh Trí
1. Một thời, Tôn giả Mahàkassapa
ở tại Ràjagaha (Vương Xá), Trúc Lâm, tại vườn nuôi dưỡng
các con sáo. Tại đấy, Tôn giả Kassapa gọi các Tỷ-kheo:
- Này chư Hiền Tỷ-kheo
- Thưa vâng Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả
Mahàkassapa. Tôn giả Mahàkassapa nói như sau:
2. - Ở đây, này chư Hiền Tỷ-kheo
nói lên chánh tri, nói rằng: "Tôi biết rõ như sau: "Sanh đã
tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không
còn trở lui trạng thái này nữa"". Như Lai hay đệ tử Như
Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong thiện chứng, thiện
xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm
người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy khi
bị Như Lai, hay đệ tử Như Lai,, là những vị hành thiền...
thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn
hỏi, thảo luận, rơi vào trống không, rơi vào bối rối,
rơi vào bế tắc, rơi vào bất hạnh, rơi vào bế tắc và
bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như Lai, là những vị hành
thiền... thiền xảo trong hành tường tâm của người khác,
với tâm của mình, tác ý đến tâm người ấy như sau: "Như
thế nào, vị Tôn giả này nói lên chánh trí, nói rằng: "Tôi
rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc
nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"".
Như Lai hay đệ tử Như Lai, là những bậc hành thiền... thiện
xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm của mình,
biết được tâm người ấy như sau: "Tăng thượng mạn la
Tôn giả này, xem tăng thượng mạn của mình như là sự thật,
chưa chứng đạt tưởng rằng đã chứng đạt, chưa làm tưởng
rằng đã làm, chưa chứng đắc tưởng rằng đã chứng đắc,
với tăng thượng mạn đã tuyên bố về chánh trí", nói rằng:
"Tôi rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên
làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"". Như
Lai hay đệ tử Như Lai là những vị hành thiền... thiện xảo
trong hành tướng tâm của người khác, với tâm của mình,
tác ý đến tâm người ấy: "Dựa trên gì, Tôn giả này tăng
thượng mạn, xem tăng thượng mạn của mình như là sự thật,
chưa chứng đạt tưởng rằng đã chứng đạt... chưa chứng
đắc tưởng rằng đã chứng đắc, với tăng thượng mạn,
đã tuyên bố về chánh trí", nói rằng: "Tôi rõ biết: "Sanh
đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa""? ". Như
lai hay đệ tử Như Lai, là những vị hành thiền... thiện
xảo trong hành tường tâm của người khác, với tâm của
mình biết được tâm của người ấy: "Nghe nhiều là Tôn
giả này, thọ trì điều đã nghe, cất chứa điều đã nghe.
những pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa,
có văn, tán thán đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn
trong sạch, những pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì
điều được nghe, thọ trì đọc tụng bằng lời, với ý
khéo quán sát, khéo thể nhập, với chánh kiến. Do vậy, Tôn
giả này, tăng thượng mạn, xem tăng thượng mạn của mình
như là sự thật, chưa chứng đạt tưởng rằng đã chứng
đạt, chưa làm tưởng rằng đã làm, chưa chứng đắc tưởng
rằng đã chứng đắc, với tăng thượng mạn, đã tuyên bố
về chánh trí, nói rằng: "Tôi rõ biết: "Sanh đã tận... không
còn trở lui trạng thái này nữa"". Như Lai hay đệ tử Như
Lai là những vị hành thiền... thiện xảo trong hành tướng
tâm người khác, như vậy với tâm của mình, biết rõ tâm
của người ấy: "Tham là Tôn giả này, sống nhiều với tâm
bị tham chi phối, và bị tham chi phối nghĩa là tổn giảm
trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Sân là vị Tôn
giả này, sống nhiều với tâm bị sân chi phối, và bị sân...Hôn
trầm thụy miên là vị Tôn giả này và sống nhiều với tâm
bị hôn trầm thụy miên chi phối, và bị hôn trầm thụy miên
chi phối nghĩa là tổn giảm... Trạo cử là tôn giả này,
và vị ấy sống nhiều với tâm bị trạo cử chi phối, và
tâm bị trạo cử chi phối nghĩa là tổn giảm... Nghi là vị
Tôn giả này, sống nhiều với tâm bị nghi hoặc chi phối...
ưa thích công việc là vị Tôn giả này, thích thú công việc,
chuyên chú trong thích thú công việc, và ưa thích công việc
nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.
Ưa thích nói chuyện là Tôn giả này, thích thú nói chuyện,
chuyên chú trong thích thú nói chuyện, thích thú nói chuyện
là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Ưa
thích ngủ nghỉ là Tôn giả này, thích thú ngủ nghỉ, và
tánh thích thú ngủ nghỉ nghĩa là tổn giảm trong Pháp và
Luật do Như Lai thuyết giảng. Ưa thích hội chúng, là vị
Tôn giả này, thích thú hội chúng, chuyên chú ưa thích hội
chúng, ưa thích hội chúng có nghĩa là tổn giảm trong Pháp
và Luật do Như Lai thuyết giảng. Thất niệm là vị Tôn giả
này, đối với các Pháp cao thượng chỉ được phần nhỏ,
dầu cho có chứng được thù thắng nhưng chỉ là phần nhỏ,
lại đứng lại giữa đường; đứng lại giữa đường, có
nghĩa là tổn giảm trong Pháp Luật do Như Lai thuyết giảng."
3. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, không
đoạn tận mười pháp này, sẽ được tăng trưởng, lớn
mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng,
sự kiện này không xảy ra. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, đoạn
tận mười pháp này, sẽ được tăng trưởng lớn mạnh, lớn
rộng trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, sự kiện
này có xảy ra.
(VII) (87) Tỷ Kheo Kàlaka
1. Tại đấy, nhân việc của Tỷ-kheo
Kàlaka Thế tôn gọi các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo.
- Vâng bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn,
Thế Tôn nói như sau:
2. - Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ưa thích kiện tụng, không tán thán làm lắng dịu các cuộc
kiện tụng. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích kiện tụng,
không tán thán làm lắng dịu các cuộc kiện tụng, pháp này
không đưa đến thân ái, không đưa đến kính trọng, không
đưa đến bắt chước (được làm quen), không đưa đến hòa
đồng, không đưa đến nhất trí.
3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo không
ưa học tập, không tán thán chấp nhận các học pháp. Này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không ưa học tập, không tán thán chấp
nhận các học pháp, pháp này không đưa đến thân ái... không
đưa đến nhất trí.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ác dục, không tán thán nhiếp phục ác dục. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo ác dục, không tán thán nhiếp phục ác dục, pháp
này không đưa đến thân ái... không đưa đến nhất trí.
5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
phẫn nộ không tán thán nhiếp phục phẫn nộ. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo phẫn nộ, không tán thán nhiếp phục phẫn nộ, pháp
này không đưa đến thân ái... không đưa đến nhất trí.
6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
gièm pha không tán thán nhiếp phục gièm pha. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo gièm pha, không tán thán nhiếp phục gièm pha, pháp
này không đưa đến thân ái... không đưa đến nhất trí.
7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
lừa đảo, không tán thán nhiếp phục lừa đảo. Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lừa đảo, không tán thán nhiếp phục lừa
đảo, pháp này không đưa đến thân ái... không đưa đến
nhất trí.
8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
man trá không tán thán nhiếp phục man trá. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo man trá, không tán thán nhiếp phục man trá, pháp này
không đưa đến thân ái... không đưa đến nhất trí.
9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
tánh không vâng theo Chánh pháp, tánh tán thán vâng theo Chánh
pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tánh không vâng theo Chánh pháp,
tánh không tán thán vâng theo Chánh pháp, pháp này không đưa
đến thân ái... không đưa đến nhất trí.
10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không thiền tịnh, không tán thán thiền tịnh. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo không thiền tịnh, không tán thán thiền tịnh, pháp
này không đưa đến thân ái... không đưa đến nhất trí.
11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không có tiếp đón các vị đồng Phạm hạnh, không tán thán
việc đón tiếp tốt đẹp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không
có tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh, không tán
thán việc tiếp đón tốt đẹp, pháp này không đưa đến
thân ái... không đưa đến nhất trí.
12. Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo
như vậy, nếu có ước muốn nào khởi lên: "Ôi mong rằng
các vị đồng phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ,
cúng dường tôi", nhưng các vị đồng Phạm hạnh không có
cung kính, không có tôn trọng, không có đảnh lễ cúng đường
vị ấy. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì rằng các vị đồng Phạm
hạnh có trí quán thấy các pháp ác bất thiện không được
đoạn tận trong vị ấy.
13. Ví như, này các Tỷ-kheo, có
loại ngựa không thuần phục, dầu cho có khởi lên ý muốn
như sau: "Mong rằng loài Người sẽ đặt ta trong vị trí của
con ngựa đã được thuần thục, cho ta ăn với các đồ ăn
dành cho con ngựa thuần phục, điều phục ta với sự điều
phục dành cho con ngựa thuần thục". Nhưng loài Người không
đặt nó trong vị trí của con ngựa thuần thục, không cho
nó ăn trong vị trí của con ngựa thuần thục, không điều
phục nó với sự điều phục dành cho con ngựa thuần thục.
Vì sao? Vì những người có trí thấy rõ được những tánh
hạ liệt, sự lừa đảo, giả dối, xảo trá, xảo quyệt.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo như vậy, nếu có
ước muốn nào khởi lên: "Ôi mong rằng các vị đồng Phạm
hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng đường ta", nhưng
các vị đồng Phạm hạnh không có cung kính, không có tôn
trọng, không có đảnh lễ, không có cúng dường vị ấy.
Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì rằng các vị đồng Phạm hạnh
có trí quán thấy các pháp ác bất thiện không được đoạn
tận trong vị ấy.
14. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo không ưa thích kiện tụng, tán thán làm lắng dịu
các cuộc kiện tụng. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không ưa thích
kiện tụng, tán thán làm lắng dịu các cuộc kiện tụng.
Pháp này đưa đến thân ái, đưa đến kính trọng, đưa đến
muốn làm quen, đưa đến hòa đồng, đưa đến nhất trí.
15. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ưa thích họa tập, tán thán chấp nhận học pháp. Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa thích học tập, tán thán chấp nhận học
pháp. Pháp này đưa đến thân ái... đưa đến nhất trí.
16. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ít dục, tán thán nhiếp phục các dục. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ít dục, tán thán nhiếp nhục phục các dục. Pháp này đưa
đến nhất trí.
17. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không phẫn nộ, tán thán nhiếp phục phẫn nộ. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo không phẫn nộ, tán thán nhiếp phục phẫn nộ. Pháp
này đưa đến thân ái... đưa đến nhất trí.
18. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không gièm pha, tán thán nhiếp phục gièm pha. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo không gièm pha, tán thán nhiếp phục gièm pha. Pháp
này đưa đến thân ái... đưa đến nhất trí.
19. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không lừa đảo, tán thán nhiếp phục lừa đảo. Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không lừa đảo, tán thán nhiếp phục lừa
đảo. Pháp này đưa đến thân ái... đưa đến nhất trí.
20. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không man trá, tán thán nhiếp phục man trá. Này cá Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo không man trá, tán thán nhiếp phục man trá. Pháp này
đưa đến thân ái... đưa đến nhất trí.
21. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
vâng theo Chánh pháp, tán thán vâng theo Chánh pháp. Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vâng theo Chánh pháp, tán thán vâng theo Chánh
pháp. Pháp này đưa đến thân ái... đưa đến nhất trí.
22. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
thiền tịnh, tán thán thiền tịnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
thiền tịnh, tán thán thiền tịnh. Pháp này đưa đến thân
ái... đưa đến nhất trí.
23. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
tiếp đón tốt đẹp các vị đồng phạm hạnh, tán thán việc
tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh, tán
thán việc tiếp đón tốt đẹp các vị đồng Phạm hạnh.
Pháp này đưa đến thân ái... đưa đến nhất trí.
24. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như
vậy, nếu không có ước muốn nào khởi lên: "Ôi mong rằng
các vị đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ,
cúng dường ta", nhưng các vị đồng Phạm hạnh cũng vẫn
cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy. Vì sao?
Này các Tỷ-kheo, vì rằng các vị đồng Phạm hạnh có trí
quán thấy các pháp ác bất thiện đã được tận nơi vị
ấy.
25. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
con ngựa thuần phục, dầu cho không khởi lên ý muốn như
sau: "Mong rằng loài Người sẽ đặt ta trong vị trí của con
ngựa đã thuần thục, cho ta ăn với các đồ ấm dành cho
con ngựa thuần thục, điều phục ta với điều phục dành
cho ngựa thuần thục". Nhưng loài Người vẫn đặt nó trong
vị trí của con ngựa thuần thục, điều phục. Vì sao? Vì
những người có trí thấy rõ được những tánh hạ liệt,
gian dối, giả dối, xảo trá, xảo quyệt của nó đã được
đoạn tận. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo với Tỷ-kheo như vậy,
nếu không có khơi lên ước muốn: "Ôi mong rằng các vị đồng
Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường ta",
nhưng các vị đồng Phạm hạnh vẫn cung kính, tôn trọng,
đảnh lễ, cúng dường vị ấy. Vì sao? Vì rằng, này các
Tỷ-kheo, các vị đồng Phạm hạnh có trí thấy rằng các
pháp ác bất thiện ấy đã được tận nơi vị ấy.
(VIII) (88) Tai Nạn
1. - Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
nào mạ ly, khiến trách, nhiếc mắng các vị Thánh và những
vị đồng Phạm hạnh, thật sự không thể không xảy ra được,
không thể không có lúc để vị ấy khỏi phải gặp một
trong mười tai nạn này. Thế nào là mười?
2. Không chứng đắc điều chưa
được chứng đắc, điều đã chứng đắc bị thối thất,
không được sáng suốt đối với diệu pháp, tăng thượng
mạn trong diệu pháp, sống Phạm hạnh không được hoan hỷ,
vi phạm một uế tội, cảm xúc bệnh nặng, đạt đến điên
cuồng loạn tâm, khi chết bị bất tỉnh (hôn mê), hay sau khi
thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ,
địa ngục.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào mạ
lỵ, khiến trách, nhiếc mắng các vị Thánh và những vị
đồng Phạm hạnh, thật sự không thể không xảy ra được,
không thể không có lúc để vị ấy phải gặp một trong mười
tai nạn này.
(IX) (89) Tỷ Kheo Kokàlika
1. Bấy giờ có Tỷ-kheo Kokàlika
đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn ngồi xuống
một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kokàlika bạch Thế
Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna
là ác dục, bị ác dục chinh phục.
- Này Kokàlika, chớ có nói vậy!
Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh
tín đối với Sariputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta
và Moggallàna.
Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokàlika bạch
Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có lòng tin và tin
tưởng, đối với con Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị
ác dục chinh phục."
- Này Kokàlika, chớ có nói vậy!
Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh
tín đối với Sáriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta
và Moggallàna.
- Này Kokàlika, chớ có nói vậy!
Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlikaa, tâm hãy tịnh
tín đối với Sàripuuta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta
và Moggallàna.
Lần thứ ba, Tỷ-kheo Kokàlika bạch
Thế Tôn: ... Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
2. Rồi Tỷ-kheo Kokàlika từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng
về Thế Tôn rồi đi ra. Tỷ-kheo Kokàlika ra đi không bao lâu,
toàn thân củ Tỷ-kheo Kokàlika nổi lên những mụt to bằng
hạt cải: sau khi lớn bằng hạt cải, chúng lớn lên bằng
hột đậu; sau khi lớn lên bằng hột đậu, chúng lớn lên
bằng hạt đậu lớn; sau khi lớn bằng hột đậu lớn, chúng
lớn lên bằng hòn sỏi; sau khi lớn bằng hòn sỏi Kolatthi,
chúng lớn lên bằng hột táo; sau khi lớn lên bằng hột táo,
chúng lớn lên bằng trái Amala (A-ma-lặc); sau khi lớn lên bằng
trái Amala, chúng lớn lên bằng trái dưa (trái vilva); sau khi
lớn lên bằng trái dưa vilva, chúng lớn lên bằng trái billa
(trái dưa đã chín); sau khi lớn lên bằng trái billa, chúng
bị phá vỡ, mủ và máu chảy ra. Tại đây, nó nằm trên lá
chuối, như con cá ăn phải đồ độc.
3. Lúc ấy có độc giác Phạm thiên
Tudu đi đến Tỷ-kheo Kokàlika, sau khi đến, đứng trên hư
không và nói với Tỷ-kheo Kokàlika:
- Này Kokàlika, hãy đặt tâm tịnh
tín nơi Sàriputta và Moggallàna! Hiền thiện là Sàriputta và
Moggallàna.
- Ông là ai?
- Ta là độc giác Phạm thiên Tudu.
- Thưa Hiền giả, có phải Hiền
giả là người được Thế Tôn trả lời là đã chứng Bất
lai? Sao người lại đến đây? Hãy xem như thế nào người
đã lầm lạc trong vấn đề này.
Rồi độc giác Phạm thiện Tudu
nói lên với Tỷ-kheo Kokàlika bài kệ này:
Con người được sanh
ra,
Sanh với búa trong miệng,
Người ngu nói điều xấu,
Là tự chém vào mình.
Ai khen người đáng chê,
Ai chê người đáng khen,
Ðều chất chứa bất hạnh,
Do từ miệng tạo thành,
Và chính do bất hạnh,
Nên không được an lạc.
Nhỏ thay, bất hạnh này,
Chính do cờ bạc sanh,
Khiến tài sản tiêu hao,
Bất hạnh này lớn hơn,
Không những mất tất cả,
Lại mất cả tự mình,
Là người khởi ác ý
Ðối với chư Thiện Thệ.
Ai chỉ trích bậc Thánh,
Với lời, với ác ý,
Trải qua trăm ngàn thời,
Với ni-ra-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Phải sanh vào địa ngục
Chịu khổ đau tại đấy.
4. Rồi Tỷ-kheo Kokàlika, do chứng bệnh
ấy mệnh chung. Sau khi chết, Tỷ-kheo Kokàlika sanh vào địa
ngục sen hồng vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna.
Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc
thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên, đứng một
bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo
Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika mệnh
chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý
đối với Sàriputta và Moggallàna". Phạm thiên Sahampati nói
như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía
hữu hướng về Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ.
5. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm đã
qua, bảo các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, đêm nay Phạm
thiên Sahampati khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng
chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta; sau khi đến, đảnh
lễ Ta rồi đứng một bên, đứng một bên, này các tỷ-kheo,
Phạm thiên Sahampati thưa với Ta: "Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika
đã mệnh chung ", "Bạch Thế Tôn Tỷ-kheo Kokàika đã mệnh
chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý
đối với Sàripuuta và Moggallàna". Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên
Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân
phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
6. Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo
bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, lâu dài bao nhiêu,
là tuổi thọ ở địa ngục sen hồng?
- Này Tỷ-kheo, tuổi thọ ở địa
ngục sen hồng, rất khó mà tính được. Có chừng ấy năm,
hay có chừng ấy trăm năm, hay có chừng ấy ngàn năm, hay có
chừng ấy trăm ngàn năm.
- Bạch Thế tôn, có thể cho một
ví dụ được chăng?
- Có thể được, này Tỷ-kheo, một
cỗ xe chở hai mươi cân kosala chở đầy hột mẻ. Rồi một
người cứ sau một trăm năm, một trăm năm, một trăm năm
lấy lên một hột mè. Mau hơn này Tỷ-kheo là cỗ xe chở hai
mươi cân kosala chở đầy hột mè, do phương pháp này, đi
đến tận sạch, không còn gì nữa, cũng chưa đủ là một
abbuda địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi abbuda địa
ngục là bằng một Nirabbuda địa ngục. Ví như này Tỷ kheo
hai mươi nirabbuda địa ngục bằng một ababà địa ngục. Ví
như, này Tỷ-kheo, hai mươi ababà địa ngục bằng một ahaha
địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi ahaha địa ngục
là bằng một atato địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi
atato địa ngục bằng một kumodo địa ngục. Ví như này Tỷ-kheo,
hai mươi kumodo địa ngục là bằng một sogandhika địa ngục.
Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi sogandhika địa ngục bằng một
uppalako địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo hai mươi uppalako địa
ngục bằng một pundarika địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo,
hai mươi pundarika địa ngục bằng một paduma địa ngục .
Này Tỷ kheo , TYỷ kheo Kokàlika phải sanh vào địa ngục paduma
(sen hồng), vì khởi lên ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna.
Thế Tôn nói như vậy. Thiện Thệ
nói như vậy xong, bậc đạo Sư lại nói thêm:
Con người được sanh
ra
Sanh với búa trong miệng,
Người ngu nói điều xẩu,
Là tự chém vào mình.
Ai khen người đáng chê,
Ai chê người đáng khen,
Ðều chất chứa bất hạnh,
Do từ miệng tạo thành,
Và chính do bất hạnh,
Nên không được an lạc
Nhỏ thay bất hạnh này,
Chính do cờ bạc sanh,
Khiến do cờ bạc sanh,
Khiến tài sản tiêu hao,
Bất hạnh này lớn hơn,
Không những mất tất cả,
Lại mất cả tự mình.
Là người khởi ác ý,
Ðối với chư Thiện thệ.
Ai chỉ trích bậc Thánh,
Với lời, với ác ý,
Trải qua trăm ngàn thời,
Với ni-rab-bu-da,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Phải sanh vào địa ngục,
Chịu khổ đau tại đấy.
(X) (90) Những Sức Mạnh
1. Bấy giờ có Tôn giả Sàriputta
đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi
xuống một bên:
- Này Sàriputta, Tỷ-kheo đã đoạn
tận các lậu hoặc, có bao nhiêu sức mạnh? Thành tựu với
những sức mạnh ấy. Tỷ-kheo đã đoạn tận các lâu hoặc
tự nhận biết sự đoạn diệt các lậu hoặc: "Các lậu hoặc
đã được đoạn tận nơi ta"
- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn
tận các lậu hoặc, có mười sức mạnh. Thành tựu với những
sức mạnh ấy, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận
biết sự đoạn diệt các lậu hoặc: "Các lậu hoặc đã được
đoạn tận nơi ta". Thế nào là mười?
2. Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo
đoạn tận các lậu hoặc, đã khéo như thật thấy với chánh
trí tuệ, các hành là vô thường. Bạch thế Tôn, Tỷ-kheo
đoạn tận các lậu hoặc, đã khéo thấy như thật với chánh
trí tuệ, tất cả các hành là vô thường. Bạch Thế Tôn,
Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã khéo thấy như thật
với chánh trí tuệ, tất cả các hành là vô thường. Bạch
Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đoạn tận các lậu
hoặc. Dựa trên sức mạnh này, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu
hoặc tự nhận biết sự đoạn tận diệt các hoặc: "Các
lậu hoặc đã được tận nơi ta."
3. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo
đoạn tận các lậu hoặc đã khéo thấy như thật với chánh
trí tuệ, các dục được ví như hố than hừng. Bạch thế
Tôn, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, đã khéo thấy như
thật với chánh trí tuệ, các dục được ví như hố than
hừng. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đoạn
tận các lậu hoặc. do sức mạnh này, Tỷ kheo đoạn tận
các lậu hoặc tự nhận biết sự đoạn diệt các lậu hoặc:
"Các lậu hoặc đã được đoạn tận nơi ta."
4. Lại nữa, bạch Thế tôn, Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, với tâm hướng về viễn
ly, thiên về viễn ly, xuôi về viễn ly, trú vào viễn ly, ưa
thích xuất ly, chấm dứt hoàn toàn các pháp làm trú xứ cho
các lậu hoặc. Bạch Thế Tôn, ... đây là sức mạnh của
Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc... "... được đoạn tận
nơi ta."
5. Lại nữa, bạch thế Tôn, Tỷ-kheo
đoạn tận các lậu hoặc tu tập, khéo tu tập Bốn niệm xứ.
Bạch Thế tôn, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc tu tập,
khéo tu tập Bốn niệm xứ. Bạch Thế tôn đây là sức mạnh
của tỷ-khoe đoạn tận các lậu hoặc... "... đã được đoạn
tận nơi ta."
6. Lại nữa, bạch thế Tôn, Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc khéo tu tập Bốn chánh cần...
tu tập khéo tu tập Bốn như ý túc... tu tập, khéo tu tập
Năm căn... tu tập, khéo tu tập Năm lực... tu tập, khéo tu
tập Bảy giác chi... tu tập, khéo tu tập Thánh đạo tám ngành.
Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo đoạn tận các lậu hoặc tu tập,
khéo tu tập Thánh đạo tám ngành. Bạch Thế Tôn, đây là
sức mạnh của tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc. Do sức
mạnh này, Tỷ kheo đoạn tận các lậu hoặc tự nhận biết
sự đoạn diệt các lậu hoặc: "Các lậu hoặc được đoạn
tận nơi ta."
Bạch Thế Tôn, có mười sức mạnh
này của Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc. Thành tựu những
lực này, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc nhận biết sự
đoạn tận diệt các lậu hoặc: "Các lậu hoặc đã được
đoạn tận nơi ta".
-ooOoo-
