IV. Ðại
Phẩm
(I) (32) Chín Thứ Ðệ Trú (1)
1. - Này các Tỷ-kheo, có chín thứ
đệ trú này. Thế nào là chín?
2. Này Hiền giả, ở đây có Tỷ-kheo
ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và an trú Thiền thứ nhất,
một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh có tầm và tứ. Diệt
tầm và tứ... Thiền thứ hai... Thiền thứ ba... chứng và
trú Thiền thứ tư. Sau khi vượt qua sắc tưởng một cách
hoàn toàn, sau khi chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác
ý các tưởng sai biệt, biết rằng: "Hư không là vô biên",
chứng và trú Không vô biên xứ. Sau khi vượt qua Không vô
biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: "Thức là vô biên",
chứng và trú Thức vô biên xứ. Sau khi vượt qua Thức vô
biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: "Không có sự gì",
chứng và trú Vô sở hữu xứ. Sau khi vượt qua Vô sở hữu
xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng
xứ. Sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách
hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định.
Này các Tỷ-kheo, đây là chín thứ
đệ trú.
(II) (33) Chín Thứ Ðệ Trú (2)
1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết
về chín Thiền chứng thứ đệ trú này. Hãy lắng nghe... Này
các Tỷ-kheo, thế nào là chín thứ đệ trú Thiền chứng?
2. Chỗ nào các dục đoạn diệt,
và những ai sau khi đoạn diệt các dục, sống an trú, Ta nói
rằng: "Chắc chắn Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch
tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy".
Chỗ nào các dục được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn
diệt các dục, sống an trú: "Ta không biết vậy, Ta không thấy
vậy", ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau:
"Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly các dục... chứng và an
trú Thiền thứ nhất. Tại đây, các dục được đoạn diệt
các dục, sống an trú". Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người
không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với
lời nói "Lành thay". Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói
"Lành thay" người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
3. Chỗ nào các tầm và tứ được
đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt tầm
và tứ, sống không an trú, Ta nói rằng: "Chắc chắn các Tôn
giả ấy không bỏ dục ái, được tịch tịnh, đã vượt
qua , đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy". Chỗ nào các
tầm và tứ được đoạn diệt ? Những ai sau khi đoạn diệt
tầm và tứ, sống an trú? "Ta không biết vậy, Ta không thấy
vậy", ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau:
"Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo được nói như sau: "Ở đây,
này Hiền giả, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ... chứng và trú
Thiền thứ hai. Tại đây, các tầm và tứ được đoạn diệt,
các vị ấy sau khi đoạn diệt, đoạn diệt tầm và tứ, sống
an trú". Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường
gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói "Lành
thay". Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói "Lành thay" sẽ
đảnh lễ, chắp tay và hậu hạ.
4. Chỗ nào hỷ được đoạn diệt,
và những ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt hỷ, sống an trú,
Ta nói rằng: "Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái,
được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với
Thiền chi ấy". Chỗ nào hỷ được đoạn diệt? Những ai
sau khi đoạn diệt, đoạn diệt hỷ, sống an trú. "Ta không
biết vậy, ta không thấy vậy", ai nói như vậy, người ấy
cần được nói như sau: "Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo
ly hỷ trú xả, chứng và trú Thiền thứ ba. Tại đây, hỷ
được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt, đoạn
diệt hỷ, sống an trú". Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người
không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với
lời nói "Lành thay". Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời
nói "Lành thay" sẽ đảnh lễ, chắp tay và hậu hạ.
5. Chỗ nào xả lạc được đoạn
diệt, và những ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt xả lạc,
sống an trú, Ta nói rằng: "Chắc chắn các Tôn giả ấy không
có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ
bên kia với Thiền chi ấy". Chỗ nào xả lạc được đoạn
diệt? Những ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt xả lạc, sống
an trú. "Ta không biết vậy, ta không thấy vậy", ai nói như
vậy, người ấy cần được nói như sau: "Ở đây, này Hiền
giả, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ,... chứng và trú Thiền thứ
tư. Tại đây, xả lạc được đoạn diệt. Các vị ấy sau
khi đoạn diệt, đoạn diệt xả lạc, sống an trú". Chắc
chắn, này các Tỷ-kheo, người không giả dối, không lường
gạt sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói "Lành thay". Sau
khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói "Lành thay" sẽ đảnh
lễ, chắp tay và hậu hạ.
6. Chỗ nào sắc tưởng được đoạn
diệt, và những ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt sắc tưởng,
sống an trú, Ta nói rằng: "Chắc chắn các Tôn giả ấy không
có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ
bên kia với Thiền chi ấy". Chỗ nào sắc tưởng được đoạn
diệt? Những ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt sắc tưởng,
sống an trú. "Ta không biết vậy, ta không thấy vậy", ai nói
như vậy, người ấy cần được nói như sau: "Ở đây, này
Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn,
chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý các sai biệt
tưởng, biết rằng: "Hư không là vô biên", chứng đạt và
an trú "Không vô biên xứ". Ở đây, các sắc tưởng được
đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt, đoạn diệt hỷ,
sống an trú". Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường
gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói
"Lành thay". Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói "Lành
thay" sẽ đảnh lễ, chắp tay và hậu hạ.
7. Chỗ nào Không vô biên xứ tưởng
được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt, đoạn
diệt Không vô biên xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng:
"Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch
tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy".
Chỗ nào Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt? Những
ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt Không vô biên xứ tưởng,
sống an trú. "Ta không biết vậy, ta không thấy vậy", ai nói
như vậy, người ấy cần được nói như sau: "Ở đây, này
Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Không vô biên xứ tưởng một
cách hoàn toàn, biết rằng: "Thức là vô biên", chứng và trú
"Thức vô biên xứ". Tại đây, Không vô biên xứ tưởng được
đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt Không vô biên
xứ tưởng, sống an trú". Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người
không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với
lời nói "Lành thay". Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời
nói "Lành thay" sẽ đảnh lễ, chắp tay và hậu hạ.
8. Chỗ nào Thức vô biên xứ tưởng
được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt, đoạn
diệt Thức vô biên xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng:
"Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch
tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy".
Chỗ nào Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt? Những
ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt Thức vô biên xứ tưởng,
sống an trú. "Ta không biết vậy, ta không thấy vậy", ai nói
như vậy, người ấy cần được nói như sau: "Ở đây, này
Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên xứ tưởng một
cách hoàn toàn, biết rằng: "Không có vật gì", chứng và trú
"Vô sở hữu xứ". Tại đây, Thức vô biên xứ tưởng được
đoạn diệt. Các vị ấy, sau khi đoạn diệt, đoạn diệt
Thức vô biên xứ tưởng, sống an trú". Chắc chắn, này các
Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ,
sẽ tùy hỷ với lời nói "Lành thay". Sau khi hoan hỷ, sau khi
tùy hỷ với lời nói "Lành thay" sẽ đảnh lễ, chắp tay và
hậu hạ.
9. Chỗ nào Vô sở hữu xứ tưởng
được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt, đoạn
diệt Vô sở hữu xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: "Chắc
chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh,
đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy". Chỗ
nào Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau
khi đoạn diệt, đoạn diệt Thức vô sở hữu xứ tưởng,
sống an trú?
"Ta không biết vậy, ta không thấy
vậy", ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau:
"Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt Vô sở hữu xứ một
cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ".
Tại đây, Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt. Các
vị ấy, sau khi đoạn diệt, đoạn diệt Vô sở hữu xứ tưởng,
sống an trú. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường
gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói
"Lành thay". Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói "Lành
thay" sẽ đảnh lễ, chắp tay và hậu hạ.
10. Chỗ nào Phi tưởng phi phi tưởng
xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt,
đoạn diệt Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, sống an trú,
Ta nói rằng: "Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái,
được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với
Thiền chi ấy". Chỗ nào Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng
được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt
Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, sống an trú. "Ta không
biết vậy, ta không thấy vậy", ai nói như vậy, người ấy
cần được nói như sau: "Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo
vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn... chứng
và trú Diệt thọ tưởng định". Tại đây, Phi tưởng phi
phi tưởng xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy, sau
khi đoạn diệt, đoạn diệt Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng,
sống an trú. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường
gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói
"Lành thay". Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói "Lành thay"
sẽ đảnh lễ, chắp tay và hậu hạ.
Này các Tỷ-kheo, đây chín là thứ
đệ trú Thiền chứng.
(III) (34) Niết Bàn
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Sàriputta trú
ở Ràjagaha, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Tại
đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:
- Này các Hiền giả, lạc là Niết-bàn
này; này các Hiền giả, lạc là Niết-bàn này.
2. Khi nghe nói vậy, Tôn giả Udàyi
nói với Tôn giả Sàriputta:
- Thưa Hiền giả Sàriputta, sao đây
là lạc, khi ở đây không có cái gì được cảm thọ?
3. - Này Hiền giả, cái này ở đây
là lạc, dầu rằng lạc ấy ở đây không được cảm thọ.
Này Hiền giả, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là
năm?
Các sắc do mắt nhận thức, khả
lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp
dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... Các hương do mũi nhận
thức... Các vị do lưỡi nhận thức... Các xúc do thân nhận
thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến
dục, hấp dẫn.
Này Hiền giả, có năm dục trưởng
dưỡng này. Này Hiền giả do duyên năm dục trưởng dưỡng
này khởi lên lạc hỷ, này Hiền giả, đây gọi là dục lạc.
4. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo
ly các dục, ly ác, bất thiện pháp... chứng đạt và an trú
sơ Thiền. Này Hiền giả, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với
an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với dục vẫn hiện
hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh.
Ví như, này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau
có thể khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo
ấy, các tưởng tác ý, câu hữu với dục vẫn hiện hành;
như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này
chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với
pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là
lạc.
5. Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo
diệt tầm và tứ... đạt được Thiền thứ hai và an trú.
Này chư Hiền, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này,
các tưởng tác ý câu hữu với tầm vẫn hiện hành; như vậy,
đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư
Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể khởi
lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các
tưởng tác ý câu hữu với tầm vẫn hiện hành; như vậy
đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này chư Hiền,
chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với pháp môn này,
này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
6. Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo
ly hỷ.... chứng và trú Thiền thứ ba. Này chư Hiền, nếu
trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng tác ý
câu hữu với hỷ vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo
ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư Hiền, với một
người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như một chứng
bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý câu hữu
với hỷ vẫn hiện hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là
một chứng bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn
gọi là khổ. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải
hiểu Niết-bàn là lạc.
7. Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo
đoạn lạc... đạt được Thiền thứ tứ. Này chư Hiền,
nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng tác
ý câu hữu với xả vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo
ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư Hiền, với một
người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như một chứng
bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý câu hữu
với xả vẫn hiện hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là
một chứng bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn
gọi là khổ. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải
hiểu Niết-bàn là lạc.
8. Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo
vượt khỏi các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt
các chướng ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai
biệt, biết rằng: "Hư không là vô biên" chứng đạt và an
trú Không vô biên xứ. Này chư Hiền, nếu trong khi Tỷ-kheo
ấy trú với an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với sắc
vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng
bệnh. Ví như, này chư Hiền, với một người sung sướng,
khổ đau có thể khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy,
với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý câu hữu với sắc vẫn
hiện hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng
bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là
khổ. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn
là lạc.
9. Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo
vượt khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng:
"Thức là vô biên" chứng và an trú Thức vô biên xứ. Này
chư Hiền, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các
tưởng tác ý câu hữu với Không vô biên xứ vẫn hiện hành;
như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như,
này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể
khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy,
các tưởng tác ý câu hữu với Không vô biên xứ vẫn hiện
hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh.
Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với
pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là
lạc.
10. Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo
vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng:
"Không có vật gì" chứng và an trú Vô sở hữu xứ. Này chư
Hiền, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng
tác ý câu hữu với Thức vô biên xứ vẫn hiện hành; như
vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như,
này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể
khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy,
các tưởng tác ý câu hữu với Thức vô biên xứ vẫn hiện
hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh.
Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với
pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là
lạc.
11. Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo
vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và
trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này chư Hiền, nếu trong
khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng tác ý câu
hữu với Vô sở hữu xứ vẫn hiện hành; như vậy, đối
với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư Hiền,
với một người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như
một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng
tác ý câu hữu với Vô sở hữu xứ vẫn hiện hành; như vậy
đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này chư Hiền,
chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với pháp môn này,
này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
12. Này chư Hiền, Tỷ-kheo vượt
khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng
và trú Diệt thọ tưởng định. Vị ấy, sau khi thấy với
trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Với pháp môn
này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
(IV) (35) Con Bò Cái
1. - Ví như, này các Tỷ-kheo, một
con bò cái sống ở rừng núi, ngu si, không thông minh, không
biết đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi non hiểm
trở. Nó suy nghĩ: "Ta hãy đi đến phương hướng trước kia
chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa được ăn, ta sẽ uống
nước trước kia chưa được uống", và con bò cái ấy đã
giơ chân sau lên, trước khi nó khéo đặt một cách tốt đẹp
bàn chân trước, và nó không có thể đi đến phương hướng
trước kia chưa đi, không có thể ăn cỏ trước kia chưa được
ăn, và không có thể uống nước trước kia chưa được uống.
Tại chỗ mà trước kia nó đặt chân, nó nghĩ: "Ta hãy đi
đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước
kia chưa ăn ta sẽ uống nước trước kia chưa uống", nó không
có thể trở lui chỗ ấy một cách an toàn. Vì sao? Ở đây,
này các Tỷ-kheo, vì con bò cái ấy sống ở rừng núi, ngu
si, kho6ng tho6ng minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện
xảo đi đến các núi con hiểm trở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
ở đây có một số Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không biết
chỗ đồng ruộng, không thiện xảo, ly dục, ly ác pháp...
chứng và trú Thiền thứ nhất. Vị ấy không thực hành, không
tu tập tướng ấy không làm cho sung mãn, không trú một cách
khéo trú, vị ấy lại suy nghĩ: "Ta hãy diệt tầm và tứ...
chứng và trú Thiền thứ hai". Vị ấy không có thể diệt
các tầm và tứ... không có thể chứng và trú Thiền thứ
hai. Dầu cho vị ấy có suy nghĩ: "Ta hãy ly dục... chứng và
an trú Thiền thứ nhất", vị ấy cũng không thể ly dục...
chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là Tỷ-kheo rơi vào cả hai phía, đọa vào cả hai phía,
ví như con bò cái ấy sống ở rừng núi, ngu si , không thông
minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện xảo đi đến
các núi non hiểm trở.
2. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
con bò cái sống ở rừng núi, hiền trí, thông minh, biết đồng
ruộng, biết thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở. Nó
suy nghĩ: "Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi,
ta hãy ăn cỏ trước kia chưa được ăn, ta sẽ uống nước
trước kia chưa được uống", và con bò cái ấy, sau khi nó
khéo đặt một cách tốt đẹp bàn chân trước rồi giơ chân
sau lên, và nó có thể đi đến phương hướng trước kia chưa
đi, ăn cỏ trước kia chưa được ăn, và uống nước trước
kia chưa được uống. Tại chỗ mà trước kia nó đặt chân,
nó nghĩ: "Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi,
ta hãy ăn cỏ trước kia chưa ăn ta sẽ uống nước trước
kia chưa uống", nó có thể trở lui chỗ ấy một cách an toàn.
Vì sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vì con bò cái ấy sống ở
rừng núi, hiền trí, thông minh, biết chỗ đồng ruộng, thiện
xảo đi đến các núi con hiểm trở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
ở đây có một số Tỷ-kheo hiền trí, thông minh, biết chỗ
đồng ruộng, biết thiện xảo, ly dục, ly ác pháp... có thể
chứng và trú Thiền thứ nhất. Vị ấy thực hành, tu tập
làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy
lại suy nghĩ: "Ta hãy diệt tầm và tứ... chứng và trú Thiền
thứ hai". Vị ấy không lẫn lộn Thiền thứ hai, diệt các
tầm và tứ... chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Vị ấy
thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách
khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: "Ta hãy ly hỷ... chứng đạt và
an trú Thiền thứ ba". Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung
mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: "Ta
hãy đoạn lạc, đoạn khổ... chứng đạt và an trú Thiền
thứ tư". Vị ấy không lẫn lộn Thiền thứ tư, đoạn lạc,
đoạn khổ... chứng và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy thực
hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo
trú. Vị ấy suy nghĩ: "Ta hãy vượt qua các sắc tưởng một
cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không
tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: "Hư không là
vô biên", chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Vị ấy
không lẫn lộn Không vô biên xứ, vượt qua các sắc tưởng
một cách hoàn toàn... không tác ý đến các tưởng sai biệt,
biết rằng: "Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không
vô biên xứ. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng
ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: "Ta hãy vượt
qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: "Thức
là vô biên", chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ". Vị
ấy không lẫn lộn Thức vô biên xứ, vượt qua Không vô biên
xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: "Thức là vô biên", chứng
đạt và an trú Thức vô biên xứ. Vị ấy thực hành, tu tập
làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy
suy nghĩ: "Ta hãy vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn
toàn", biết rằng "Không có vật gì", chứng đạt và an trú
Vô sở hữu xứ. Vị ấy không lẫn lộn Vô sở hữu xứ,
vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng:
"Không có vật gì", chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ.
Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú
một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: "Ta hãy vượt qua Vô sở
hữu xứ một cách hoàn toàn", chứng đạt và an trú Phi tưởng
phi phi tưởng xứ. Vị ấy không lẫn lộn Phi tưởng phi phi
tưởng xứ, vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn,
chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy
thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách
khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: "Ta hãy vượt qua Phi tưởng phi
phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt
thọ tưởng định. Vị ấy không lẫn lộn Diệt thọ tưởng
định, vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn
toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định.
3. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo
nhập vào và xuất ra khỏi Thiền chứng ấy, tâm vị ấy trở
thành như nhuyến, kham nhậm. Với tâm nhu nhuyến kham nhậm,
định được khéo tu tập, trở thành vô lượng. Vị ấy với
định vô lượng khéo tu tập, tùy theo pháp gì, pháp gì cần
được chứng ngộ với thắng trí, vị ấy hướng tâm về
sự chứng ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy, vị
ấy có được khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại
xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể chứng đắc nhiều loại
thần thông, một thân có thể trở thành nhiều thân... với
thân có thể đạt đến cõi Phạm thiên. Tại đấy, tại đấy,
vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại
xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể chứng đắc Thiên nhĩ
thông... Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng
đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy
có thể chứng Tha tâm thông, với tâm của mình biết được
tâm của các loại chúng sanh và các loại hữu tình: Tâm có
tham biết là tâm có tham, tâm không tham biết là tâm không
tham... tâm giải thoát biết là tâm giải thoát. Tại đấy,
tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu
thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể: 'Ta sẽ nhớ
lại nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời...
có thể nhớ được nhiều đời quá khứ, với các nét đại
cương và các chi tiết". Tại đấy, tại đấy vị ấy có
khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu
vị ấy muốn, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân...
"Ta có thể rõ biết các loài hữu tình theo nghiệp lực của
chúng". Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng
đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy
có thể, do đoạn tận các lậu hoặc... sau khi chứng ngộ,
chứng đạt, vị ấy an trú. Tại đấy, tại đấy, vị ấy
có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào.
(V) (36) Thiền
1. - Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng:
"Y chỉ nơi sơ Thiền, các lậu hoặc được diệt tận". Này
các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: "Y chỉ vào Thiền thứ hai, các lậu
hoặc được diệt tận". Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng" Y chỉ
vào Thiền thứ ba, các lậu hoặc được diệt tận". ". Này
các Tỷ-kheo, Ta nói rằng" Y chỉ vào Thiền thứ tư, các lậu
hoặc được diệt tận". Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: "Y
chỉ vào không vô biên xứ... y chỉ vào Thức vô biên xứ...
y chỉ vào Vô sở hữu xứ... Ta nói rằng: "Y chỉ vào Phi tưởng
phi phi tưởng xứ, các lậu hoặc được đoạn tận".
2. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng:
"Y chỉ vào sơ Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận", như
vậy được nói đến. Do duyên gì, được nói đến như vậy?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo
ly dục... chứng và trú sơ Thiền. Vị ấy, ở đây đối với
cái gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng,
thuộc về hành, thuộc về thức, các pháp ấy, vị ấy tùy
quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là mụt nhọt, là mũi
tên, là va chạm, là tật bệnh, là khách lạ, là biến hoại,
là trống không, là vô ngã. Vị ấy tránh né tâm mình khỏi
những pháp ấy, sau khi tránh né tâm mình khỏi những pháp
áy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất tử: "Ðây là tịch
tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành,
sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham,
đoạn diệt Niết-bàn". Vị ấy trú ở đây đạt đến sự
diệt tận các lậu hoặc, nếu không diệt tận các lậu hoặc,
với pháp ái ấy, với pháp hỷ ấy, do đoạn diệt năm hạ
phần kiết sử, là vị hóa sanh, tại đấy chứng được Niết-bàn,
không còn trở lui thế giới này nữa. Vị như người bắn
cung, hay đệ tử người bắn cung tập bắn trên một hình
nộm bằng cỏ hay trên đồng đất sét, rồi người ấy có
thể trở thành một người bắn xa, bắn nhanh, bắn thủng
qua vật dày lớn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị
Tỷ-kheo ly dục... chứng đạt và an trú sơ Thiền. Vị ấy
ở đây, đối với cái gì thuộc về sắc, thuộc về thọ,
thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, các pháp
ấy, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là
mụt nhọt, là mũi tên, là va chạm, là tật bệnh, là khác
lạ, là biến hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy tránh
né tâm mình khỏi những pháp ấy, sau khi tránh né tâm mình
khỏi những pháp ấy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất
tử: "Ðây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự
chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt
tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn". Vị ấy trú
ở đây, đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu không
diệt tận các lậu hoặc, với pháp ái ấy, với pháp hỷ
ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là vị
hóa sanh, tại đấy chứng được Niết-bàn, không còn trở
lui thế giới này nữa.
Này các Tỷ-kheo, Ta nói y chỉ vào
sơ Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận, như vậy được
nói đến. Do duyên này, được nói đến.
3. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng
y chỉ Thiền thứ hai... y chỉ Thiền thứ ba... y chỉ Thiền
thứ tư, các lậu hoặc được đoạn tận, như vậy được
nói đến. Do duyên gì được nói đến?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
do đoạn tận lạc, đoạn tận khổ, chấm dứt hỷ ưu đã
cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư,
không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh. Vị ấy ở đây,
đối với cái gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về
tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, các pháp ấy, vị
ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là mụt nhọt,
là mũi tên, là va chạm, là tật bệnh, là khách lạ, là biến
hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy tránh né tâm mình
khỏi những pháp ấy, sau khi tránh né tâm mình khỏi những
pháp áy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất tử: "Ðây là
tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất
cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái,
ly tham, đoạn diệt Niết-bàn". Vị ấy trú ở đây, đạt
đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu không diệt tận các
lậu hoặc, với pháp ái ấy, với pháp hỷ ấy, do đoạn diệt
năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, tại đấy chứng
được Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa. Ví
như người bắn cung, hay đệ tử người bắn cung tập bắn
trên một hình nộm bằng cỏ hay trên đồng đất sét, rồi
người ấy có thể trở thành một người bắn xa, bắn nhanh,
bắn thủng qua vật dày lớn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
do đoạn tận lạc... chứng đạt và an trú sơ Thiền... thứ
tư. Vị ấy ở đây, đối với cái gì thuộc về sắc, thuộc
về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức,
các pháp ấy, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là
bệnh, là mụt nhọt, là mũi tên, là va chạm, là tật bệnh,
là khách lạ, là biến hoại, là trống không, là vô ngã. Vị
ấy tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, sau khi tránh né
tâm mình khỏi những pháp ấy. Sau khi tránh né tâm khỏi những
pháp ấy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất tử: "Ðây là
tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất
cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái,
ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn". Vị ấy trú ở đây, đạt
đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu không diệt tận các
lậu hoặc, với pháp ái ấy, với pháp hỷ ấy, do đoạn tận
năm hạ phần kiết sử, vị ấy là vị hóa sanh, tại đấy
chứng được Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa.
Này các Tỷ-kheo, Ta nói y chỉ vào
sơ Thiền, thứ hai... thứ tư, các lậu hoặc được đoạn
tận, như vậy được nói đến. Do duyên này, được nói đến.
4. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng:
"Y chỉ vào Không vô biên xứ Thiền, các lậu hoặc được
đoạn tận, được nói đến như vậy. Do duyên gì được
nói đến như vậy?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vượt
khỏi các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng
ngại tưởng, không tác ý đến tưởng sai biệt, biết rằng:
"Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không vô biên
xứ. Vị ấy ở đây, đối với cái gì thuộc về thọ, thuộc
về tưởng, thuộc về hành... vị ấy... do đoạn tận năm
hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, tại đấy chứng được
Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa.
Này các Tỷ-kheo, ta nói rằng: "Y
chỉ vào Không vô biên xứ, các lậu hoặc được đoạn tận",
như vậy được nói đến. Do duyên này, được nói đến.
5. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng:
"Y chỉ vào Thức vô biên xứ... y chỉ vào Vô sở hữu xứ...
các lậu hoặc được đoạn diệt", được nói đến như vậy.
Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng:
"Không có vật gì", chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ.
Vị ấy ở đây, đối với cái gì thuộc về thọ, thuộc
về tưởng... vị ấy... do đoạn tận năm hạ phần kiết
sử, là vị hóa sanh, tại đấy chứng được Niết-bàn, không
còn trở lui thế giới này nữa.
Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: "Y
chỉ vào Vô sở hữu xứ, các lậu hoặc được đoạn diệt",
được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến.
Như vậy, xa cho đến các tưởng
Thiền chứng, cho đến như vậy, cần phải lấy trí để thể
nhập. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các xứ này, như Phi tưởng
phi phi tưởng Thiền chứng và Diệt thọ tưởng là những
xứ, các Tỷ-kheo Thiền quán, khéo léo chứng nhập, khéo léo
khởi xuất thiền chứng. Ta nói rằng : "Sau khi chứng nhập
và khởi xuất, các xứ ấy cần phải được chơn chánh làm
cho biết rõ".
(VI) (37) Tôn Giả Ananda
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Ananda trú ở
Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Tại đấy, Tôn giả Ananda bảo
các Tỷ-kheo:
- Này chư Hiền Tỷ-kheo.
- Vâng, thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả
Ananda . Tôn giả Ananda nói như sau:
2. - Thật vi diệu thay, thưa các
Hiền giả! Thật hi hữu thay, thưa các Hiền giả, như thế
nào là con đường thoát ly, thoát khỏi sự trói buộc, được
Thế Tôn, bậc Trí giả, bậc Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác tùy giác để các loài hữu tình được thanh tịnh,
vượt khỏi sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh
lý, giác ngộ Niết-bàn. Ðây sẽ chỉ có mắt, chớ không
có cảm thọ các sắc ấy và các xứ ấy; đây chỉ có tai,
chớ không có cảm thọ, các tiếng ấy và các xứ ấy; đây
chỉ có mũi chớ không có cảm thọ các hương ấy, và các
xứ ấy; đây chỉ có lưỡi, chớ không có cảm thọ các vị
ấy và các xứ ấy; đây chỉ có thân, chớ không có cảm
thọ các xúc ấy và các xứ ấy.
3. Khi được nói vậy, Tôn giả
Udàyi nói với Tôn giả Ananda:
- Này Hiền giả Ananda, người không
cảm thọ xứ ấy, người ấy có tưởng hay không có tưởng?
- Này Hiền giả, người không cảm
thọ xứ ấy, người ấy có tưởng, không phải không có tưởng.
Nhưng thưa Hiền giả, người không
cảm thọ xứ ấy, người ấy tưởng cái gì?
4. - Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo
vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các
chướng ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt,
biết rằng: "Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không
vô biên xứ. Này Hiền giả, vị ấy có tưởng như vậy, nhưng
không cảm thọ xứ ấy.
5. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo
vượt khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng:
"Thức là vô biên", chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ.
Này Hiền giả, vị ấy có tưởng như vậy, nhưng không cảm
thọ xứ ấy.
6. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo
vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng:
"Không có vật gì", chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ.
Này Hiền giả, vị ấy có tưởng như vậy, nhưng không cảm
thọ xứ ấy.
7. Này Hiền giả, một thời tôi
sống ở Sàketa, rừng Anjanavana tại vườn nai. Rồi này Hiền
giả, có một Tỷ-kheo-ni ở Jatilàgàha đến tôi, đảnh lễ
tôi và đứng một bên. Ðứng một bên, này các Hiền giả,
Tỷ-kheo-ni ở Jatilàgàha thưa với tôi:
- Thưa Tôn giả Ananda, Thiền định
này không thiên tà dục, không hướng dưỡng hận tâm; trong
ấy, sự chế ngự không phải do hữu hành nhiếp phục, nhờ
giải thoát, được vững chắc, nhờ vững chắc, được tri
túc; nhờ tri túc, không có âu lo. Thưa Tôn giả Ananda , Thiền
định này được Thế Tôn dạy, có quả gì?"
Ðược nói vậy, này Hiền giả,
tôi nói với Tỷ-kheo-ni ở Jatilàgàha như sau: "- Thưa Chị,
Thiền định này không thiên tà dục, không dưỡng hận tâm;
trong ấy, sự chế ngự không phải do hữu hành nhiếp phục,
nhờ giải thoát được vững chắc; nhờ vững chắc, được
tri túc; nhờ tri túc, không có âu lo... Này Chị, Thiền định
này được chánh trí là quả".
Thế Tôn nói như vậy, này Hiền
giả, vị ấy có những tưởng như vậy, nhưng không cảm thọ
xứ ấy.
(VII) (38) Các Bà-La-Môn
1. Rồi hai vị Thuận thế Bà-la-môn
đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những
lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón
hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, các Bà-la-môn ấy thưa với Thế Tôn:
2. - Thưa Tôn giả Gotama, Pùrana Kassapa,
bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận mình là có tri kiến toàn
bộ không dư, nói rằng: "Khi ta đi, ta đứng , ta ngủ, ta thức,
tri kiến được an trú liên tục thường hằng". Vị ấy nói
như sau: "Với trí vô biên, ta sống, biết và thấy thế giới
hữu biên". Thưa Tôn giả Gotama, Nigantha Nàtaputta, bậc toàn
tri, toàn kiến, tự nhận mình là có tri kiến toàn bộ không
dư, nói rằng: "Khi ta đi, ta đứng , ta ngủ, ta thức, tri kiến
được an trú liên tục thường hằng". Vị ấy nói như sau:
"Với trí hữu biên, ta sống, biết và thấy thế giới hữu
biên". Thưa Tôn giả Gotama, giữa hai bậc tuyên bố về trí
này, giữa hai lời tuyên bố mâu thuẫn này, ai nói đúng sự
thật, ai nói lái?
3. - Thôi vừa rồi, này các Bà-la-môn,
hãy dừng lại ở đây: "Giữa hai bậc tuyên bố về trí này,
giữa hai lời tuyên bố mâu thuẫn này, ai nói đúng sự thật,
ai nói láo?"
Này các Bà-la-môn, Ta sẽ thuyết
pháp cho các Ông, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, Tôn giả.
Các Bà-la-môn ấy vâng đáp Thế
Tôn. Thế Tôn nói như sau:
4. - Này các Bà-la-môn, ví như bốn
người đàn ông đứng bốn phương, đầy đủ với bước
đi, với tốc lực tối thắng, với bước chân dài tối thắng.
Họ đầy đủ tốc lực như sau: Ví như một người cầm cung,
điêu luyện khéo được huấn luyện với bàn tay thiện xảo,
bách phát bách trúng, có thể bắn một cách nhẹ nhàng một
mũi tên ngang qua bóng của cây tàla. Như vậy là tốc lực
của họ. Còn bước chân dài của họ, thời như sau: từ biển
phía Ðông đến biển phía Tây. Rồi người đứng ở phương
Ðông nói như sau: "Ta sẽ đi và đạt đến tận cùng của
thế giới". Dầu cho tuổi thọ của người này là một trăm
năm, và người ấy sống môt trăm năm, và bước đi trong một
trăm năm - trừ khi người ấy ăn, người ấy uống, người
ấy nhai, người ấy nếm, trừ khi người ấy đi đại tiện
tiểu tiện, trừ khi người ấy ngủ để lấy lại sức, người
ấy sẽ chết trước khi người ấy đạt đến tận cùng của
thế giới". Rồi người đứng ở phương Tây... rồi người
đứng ở phương Bắc... rồi người đứng ở phương Nam nói
như sau: "Ta sẽ đi và đạt đến tận cùng của thế giới".
Dầu cho tuổi thọ... người ấy sẽ chết trước khi người
ấy đạt đến tận cùng của thế giới". Vì cớ sao? Này
các Bà-la-môn, Ta nói rằng, không phải với sức chạy như
vậy, có thể biết được, có thể thấy được, có thể
đạt được tận cùng thế giới. Này các Bà-la-môn, Ta nói
rằng nếu không đạt được tận cùng thế giới, thời không
thể chấm dứt đau khổ ở đời.
5. Này các Bà-la-môn, năm dục trưởng
dưởng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc
Thánh. Thế nào là năm?
6. Các sắc do con mắt nhận thức
khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục,
hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... các hương do mũi
nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân
nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ
đến dục, hấp dẫn.
Này Bà-la-môn, năm dục trưởng
dưỡng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc
Thánh.
7. Ở đây, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo
ly các dục... chứng đạt và an trú sơ Thiền. Này các Bà-la-môn,
Tỷ-kheo này được gọi là vị đã đến tận cùng thế giới,
và sống trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác nói
về vị ấy như sau: "Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế
giới, vị này chưa thoát ly khỏi thế gian". Này các Bà-la-môn,
Ta cũng nói như sau: "Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế
giới, vị này chưa thoát ly khỏi thế gian".
8. Lại nữa, này các Bà-la-môn,
Tỷ-kheo diệt các tầm và tứ... chứng đạt và an trú Thiền
thứ hai... Thiền thứ ba... Thiền thứ tư. Này các Bà-la-môn,
đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú
trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác nói về vị
ấy như sau: "Vị này còn bị hạn chế trong thế giới, vị
này chưa xuất ly khỏi thế gian". Này các Bà-la-môn, Ta cũng
nói như sau: "Vị này còn bị hạn chế trong thế giới, vị
này chưa xuất ly khỏi thế gian".
9. Lại nữa, này các Bà-la-môn,
Tỷ-kheo vượt qua khỏi các sắc tưởng một cách hoàn toàn,
chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng
sai biệt, biết rằng: "Hư không là vô biên", chứng đạt và
an trú Không vô biên xứ. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo
sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới.
Nhưng các người khác, nói về vị ấy như sau: "Vị này vẫn
còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi
thế gian". Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: "Vị này
vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất
ly khỏi thế gian".
10. Lại nữa, này các Bà-la-môn,
Tỷ-kheo vượt qua khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn,
biết rằng: "Thức là vô biên", chứng đạt và an trú Thức
vô biên xứ... Sau khi vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách
hoàn toàn, biết rằng: "Không có vật gì", chứng đạt và
an trú Vô sở hữu xứ... Sau khi vượt qua Vô sở hữu xứ
một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi
tưởng xứ. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi
đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Nhưng
các người khác, nói về vị ấy như sau: "Vị này vẫn còn
bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế
gian". Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: "Vị này vẫn
còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi
thế gian".
11. Lại các Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt
qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng
đạt và an trú Diệt thọ tưởng định, thời sau khi thấy
với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Này các Bà-la-môn,
đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú
trong tận cùng thế giới. Vị này đã vượt khỏi sự triền
phược của thế giới.
(VIII) (39) Chư Thiên
1. - Thuở xưa, này các Tỷ-kheo,
có trận chiến kịch liệt giữa chư Thiên và các loài Asurà.
Trong trận chiến này, này các Tỷ-kheo, các Asurà thắng, chư
Thiên bị bại trận. Chư Thiên thất trận bỏ chạy, các Asurà
mặt hướng về phía Bắc đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo,
chư Thiên suy nghĩ sau: "Các Asurà đang đuổi theo. Vậy chúng
ta hãy đánh một trận thứ hai với các Asurà".
2. Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo,
chư Thiên đánh với các Asurà. Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo,
các Asurà lại thắng trận, chư Thiên bại trận. Này các Tỷ-kheo,
chư Thiên thất trận sợ hãi bỏ chạy, các Asurà mặt hướng
về phía Bắc đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên suy
nghĩ như sau: "Các Asurà đang đuổi theo. Vậy chúng ta hãy đánh
một trận thứ ba với các Asurà".
3. Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo,
chư Thiên đánh với các Asurà. Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo,
các Asurà lại thắng trận, chư Thiên bại trận. Này các Tỷ-kheo,
chư Thiên thất trận sợ hãi bỏ chạy vào thành phố chư
Thiên. Và này các Tỷ-kheo, chư Thiên đi vào trong thành của
chư Thiên suy nghĩ như sau :" Nay ta hãy đi đến chỗ ẩn náu
của những người sợ hãi. Hiện nay chúng ta sống với chúng
ta, không có gì phải làm với các Asurà". Này các Tỷ-kheo,
các Asurà cũng suy nghĩ như sau: "Này chư Thiên đã đi đến
chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng sống
với chúng nó, không có gì phải làm với chúng ta."
4. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có
trận chiến kịch liệt xảy ra giữa chư Thiên và các loài
Asurà. Trong trận chiến này, này các Tỷ-kheo, chư Thiên thắng,
các Asurà bị bại trận. Các Asurà thất trận bỏ chạy, chư
Thiên mặt hướng về phía Nam đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo,
các Asurà suy nghĩ như sau: "Chư Thiên đang đuổi theo. Vậy
chúng ta hãy đánh trận thứ hai với chư Thiên".
5. Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo,
các Asurà đánh trận với chư Thiên. Lần thứ hai, này các
Tỷ-kheo, chư Thiên thắng trận, các Asurà bại trận. Này các
Tỷ-kheo, các Asurà thất trận sợ hãi bỏ chạy, chư Thiên
mặt hướng về phía Nam đuổi theo. Rồi này các Tỷ-kheo,
các Asurà suy nghĩ như sau: "Chư Thiên đang đuổi theo. Vậy
chúng ta hãy đánh một trận thứ ba với chư Thiên".
6. Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo,
các Asurà đánh với chư Thiên. Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo,
chư Thiên thắng trận, các Asurà bại trận. Này các Tỷ-kheo,
các Asurà thất trận sợ hãi bỏ chạy vào thành phố Asurà.
Rồi này các Tỷ-kheo, các Asurà đi vào trong thành phố của
các Asurà suy nghĩ như sau: " Nay chúng ta đã đi đến chỗ ẩn
náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng ta sống với
chúng ta, không có gì phải làm với chư Thiên". Này các Tỷ-kheo,
chư Thiên cũng suy nghĩ như sau: "Này các Asurà đã đi đến
chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng sống
với chúng nó, không có gì phải làm với chúng ta."
7. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong
khi Tỷ-kheo ly dục... chứng đạt và an trú sơ Thiền, trong
khi ấy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Với sự
đi đến chỗ ẩn náu của sợ hãi, nay ta sống với tự ngã,
không có việc gì phải làm với Màra". Và này các Tỷ-kheo,
chính Ác ma cũng suy nghĩ như sau: "Với sự đi đến chỗ ẩn
náu của sợ hãi, Tỷ-kheo sống với tự ngã, không có việc
gì phải làm với ta".
8. Này các Tỷ-kheo, trong khi vị
Tỷ-kheo diệt các tầm và tứ... chứng đạt và an trú Thiền
thứ hai... Thiền thứ ba... Thiền thứ tư, trong khi ấy này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Với sự đi đến chỗ
ẩn náu của sợ hãi, nay ta sống với tụ ngã, không có việc
gì phải làm với Màra". Và này các Tỷ-kheo, chính Ác ma cũng
suy nghĩ như sau: "Với sự đi đến chỗ ẩn náo của sợ hãi,
Tỷ-kheo sống với tự ngã, không có việc gì phải làm với
ta".
9. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo
vượt khỏi các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt
các chướng ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai
biệt, biết rằng: "Hư không là vô biên", chứng đạt và an
trú Không vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Tỷ-kheo
này làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Màra, không còn
dấu tích, khiến Ác ma không thấy đường đi lối về.
10. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo
vượt khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng:
"Thức là vô biên", chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ...
Vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng:
"Không có vật gì" chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ...
Vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt
và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Trong khi Tỷ-kheo vượt
Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt
và an trú Diệt thọ tưởng định; vị ấy thấy với trí
tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, như
vậy gọi là Tỷ-kheo này làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt
của Màra, không còn dấu tích, khiến Ác ma không thấy đường
đi lối về. Vị ấy đã vượt qua triền phược ở đời.
( IX) (40) Con Voi Lớn
1. - Này các Tỷ-kheo, khi nào các
con voi, các con voi cái, các con voi trẻ, các con voi con đi đến
trước, đến trước chỗ ăn của con voi lớn ở rừng cắt
đứt các ngọn cỏ, thời này các Tỷ-kheo, con voi rừng lo
âu, xấu hổ, nhàm chán. Khi nào, này các Tỳ kheo, Các con voi,
các con voi cái, các con voi trẻ, các con voi con nhai ăn các bó
cây gãy, các cành cây tại chỗ ăn của con voi lớn ở rừng,
thời này các Tỷ-kheo, con voi rừng lo âu, xấu hổ, nhàm chán.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, các con voi , các con voi cái, các con
voi trẻ, các con voi con đi trước, đi trước, xuống trũng
nước của con voi rừng, dùng vòi quấy động, thời này các
Tỷ-kheo, con voi rừng lo ấu, xấu hổ, nhàm chán. Khi nào, này
các Tỷ-kheo, các con voi cái bước xuống trũng nước của
con voi rừng, cọ xát thân của con voi rừng, thời này các
Tỷ-kheo, con voi rừng lo ấu, xấu hổ, nhàm chán.
2. Trong khi ấy, này các Tỷ-kheo,
con voi rừng suy nghĩ như sau: "Này ta sống lẫn lộn với các
con voi, các con voi cái, các con voi trẻ, các con voi con. Ta ăn
các loại cỏ đầu ngọn bị cắt đứt, chúng nhai ăn các
bó cây gãy và các cành cây của ta, ta uống nước bị vẩn
đục; khi ta đi xuống trũng nước, các con voi cái đến cọ
xát thân ta. Vậy ta hãy sống một mình, xa rời bầy voi". Rồi
sau một thời gian, con voi ấy sống một mình, xa rời bầy
voi, ăn các loại cỏ đầu ngọn không bị cắt đứt, nó không
ăn các bó cây gãy, và các cành cây, nó uống nước không
vẩn đục, khi bước xuống trũng nước, các con voi cái không
đi đến cọ xát thân. Trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, con voi
rừng suy nghĩ như sau: "Trước đây, ta sống lẫn lộn với
các voi, các con voi cái, các con voi trẻ, các con voi con. Ta ăn
các loại cỏ đầu ngọn bị cắt đứt, chúng ăn các bó cây
gãy và các cành cây của ta, ta uống nước bị vẩn đục.
Khi ta bước xuống trũng nước, các con voi cái đến cọ xát
thân ta. Nay ta sống một mình, xa rời bầy voi, ta ăn các loại
cỏ đầu ngọn không bị cắt đứt, chúng không ăn các bó
cây gãy, và các cành cây của ta. Ta uống nước không vẩn
đục. Khi ta bước xuống trũng nước, các con voi cái không
đi đến cọ xát thân ta. Con voi rừng ấy với cái vòi bẻ
gẫy cành cây, lấy cành cây cọ xát thân mình, và hoan hỷ
làm cho nhẹ bớt cơn ngứa".
3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong
khi Tỷ-kheo sống lẫn lộn với các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam
cư sĩ, nữ cư sĩ, với vua và đại thần của vua, với các
ngoại dạo sư và đệ tử của ngoại đạo, trong khi ấy,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Ta sống lẫn lộn
với các Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni, các nam cư sĩ và nữ cư sĩ,
vua và các đại thần của vua, các ngoại đạo sư và các
đệ tử của ngoại đạo. Vậy ta hãy sống một mình, xa rời
họ", vị ấy sống tại trú xứ xa vắng, ngôi rừng, gốc
cây, núi non ghềnh đá, hang núi, bãi tha ma, rừng cao nguyên,
ngoài trời, đống rơm. Vị ấy đi đến rừng, đi đến gốc
cây, đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng,
an trú niệm trước mặt. Vị ấy sau khi đoạn tận tham ở
đời, sống với tâm ly tham, gạn lọc tâm khỏi tham. Sau khi
đoạn tận sân, vị ấy sống với tâm ly sân, có lòng thương
tưởng tất cả chúng sanh và loài hữu tình, gạn lọc tâm
khỏi sân. Sau khi đoạn tận hôn trầm thụy miên, vị ấy
sống với tâm ly hôn trầm thụy miên, tưởng đến ánh sáng,
chánh niệm, tỉnh giác, gạn lọc tâm khởi hồn trầm thụy
miên. Sau khi đoạn tận trạo cử hối quá, vị ấy không có
dao động, nội tâm an tịnh, gạn lọc tâm khởi trạo cử
hối quá. Sau khi đoạn tận nghi, vị ấy sống vượt qua nghi
ngờ, không có nghi ngờ do dự, gạn lọc tâm khỏi nghi ngờ
trong các thiện pháp. Vị ấy sau khi đoạn tận năm triền
cái làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ này, ly các dục...
chứng đạt và an trú sơ Thiền; vị ấy hoan hỷ vì đã đối
trị được cơn ngứa. Sau khi diệt tầm và tứ... chứng đạt
và an trú Thiền thứ hai... Thiền thứ ba... chứng đạt và
an trú Thiền thứ tư; vị ấy hoan hỷ vì đã đối trị được
cơn ngứa. Vị ấy sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách
hoàn toàn, sau khi chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác
ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: "Hư không là vô
biên", chứng đạt và an trú Không vô biên xứ; vị ấy hoan
hỷ vì đã đối trị được cơn ngứa. Sau khi vượt qua Không
vô biên xứ một cách hoàn toàn, vị ấy biết rằng: "Thức
là vô biên", chứng đạt vàn an trú Thức vô biên xứ... sau
khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, vị ấy
biết rằng: "Không có vật gì", chứng đạt và an trú Vô sơ
hữu xứ... sau khi vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn
toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ...
sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn
toàn, vị ấy chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định,
sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận,
vị ấy hoan hỷ vì đã đối trị được cơn ngứa.
(X) (41) Tapussa
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở giữa
dân chúng Malla, tại một thị trấn của dân chúng Malla tên
là Uruvelakappa. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm
y bát, đi vào Uruvelakappa để khất thực. Khất thực ở Uruvelakappa
xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Thế
Tôn bảo Tôn giả Ananda, nói rằng:
- Này Ananda, Thầy hãy ở đây, chờ
cho Ta vào trong rừng Ðại Lâm để nghỉ ban ngày.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn đi vào rừng Ðại Lâm ngồi nghi ban ngày tại một
gốc cây.
2. Rồi gia chủ Tapussa đi đến Tôn
giả Ananda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda và ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Tapussa thưa
với Tôn giả Ananda:
- Thưa Tôn giả Ananda, chúng tôi
là người gia chủ, thụ hưởng các dục, vui thích các dục,
ưa thích các dục, hoan hỷ các dục. Ðối với chúng tôi,
thưa Tôn giả, là những gia chủ thụ hưởng các dục, vui
thích các dục, hoan hỷ các dục, thật giống như một cái
vực thẳm cho chúng tôi là sự xuất ly này. Tuy vậy, thưa
Tôn giả, chúng tôi được nghe rằng trong Pháp và Luật này,
tâm của các Tỷ-kheo trẻ tuổi hứng khởi trong sự xuất
ly, tịnh tính, an trú, giải thoát, vì thấy rằng đây là an
tịnh. Chính ở nơi đây, thưa Tôn giả, là sự sai khác trong
Pháp và Luật này giữa các vị Tỷ-kheo và phần đông quần
chúng, tức là sự xuất ly này.
- Này Gia chủ, đây là một vấn
đề để nói chuyện. Này Gia chủ, chúng ta hãy đi đến yết
kiến Thế Tôn, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến,
hãy hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời như
thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.
- Thưa vâng, Tôn giả.
Gia chủ Tapussa vâng đáp Thế Tôn
Ananda.
3. Rồi Tôn giả Ananda cùng với
gia chủ Tapussa đi đến Thế Tôn, sau khi đến... bạch Thế
Tôn:
- Bạch Thế Tôn, gia chủ Tapussa
này nói như sau: "Thưa Tôn giả Ananda, chúng tôi là người
gia chủ thụ hưởng các dục, vui thích các dục, ưa thích
các dục, hoan hỷ các dục. Ðối với chúng tôi, thưa Tôn
giả, là những gia chủ, thọ hưởng các dục, vui thích các
dục, ưa thích các dục, hoan hỷ các dục, thật giống như
một cái vực thẳm cho chúng tôi là sự xuất ly này. Tuy vậy,
thưa Tôn giả, chúng tôi được nghe rằng trong Pháp và Luật
này, tâm của các Tỷ-kheo trẻ tuổi hứng khởi trong sự xuất
ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì được thấy rằng đây
là an tịnh. Chính ở nơi đây, thưa Tôn giả, là sự sai khác
trong Pháp và Luật này giữa các Tỷ-kheo và phần đông quần
chúng, tức là sự xuất ly này".
4. - Như vậy là phải, này Ananda!
Như vậy là phải, này Ananda! Này Ananda, trước khi Ta giác
ngộ, chưa chứng được Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát,
Ta suy nghĩ như sau: "Lành thay, sự xuất ly! Lành thay, sống
viễn ly". Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi trong sự xuất
ly ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải
thoát, dầu Ta có thấy "Ðây là an tịnh". Này Ananda, về vấn
đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Do nhân gì, do duyên gì, tâm Ta
không hứng khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tín,
không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy: "Ðây
là an tịnh?". Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: "Vì Ta không
thấy nguy hiểm trong các dục, vì Ta không làm cho sung mãn sự
nguy hiểm ấy, lợi ích của xuất ly chưa được chứng đắc,
Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không
hứng khởi trong xuất ly ấy, không tịnh tín, không an trú,
không giải thoát". Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ
như sau: Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho
sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong
sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy", thời sự kiện
này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi trong xuất ly, tịnh
tín, an trú, giải thoát, vì Ta có thấy: "Ðây là an tịnh".
Rồi này Ananda, sau một thời gian,
sau khi thấy sự nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn
sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất
ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng
khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta thấy:
"Ðây là an tịnh". Này Ananda, sau một thời gian Ta ly dục...
chứng đạt và an trú sơ Thiền. Do Ta trú với sự an trú này,
các tưởng tác ý câu hữu với dục vẫn hiện hành. Như vậy,
đối với Ta, đây là một chứng bệnh. Ví như, này Ananda,
đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi lên,
như là một chứng bệnh. Cũng vậy, các tưởng tác ý câu
hữu với dục vẫn hiện hành ở nơi Ta. Như vậy đối với
Ta, đây là một chứng bệnh.
5. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như
sau: "Vậy Ta hãy chỉ tức các tầm và tứ... chứng đạt và
an trú Thiền thứ hai". Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi
đối với không có tầm ấy, không có tịnh hứng khởi đối
với không có tầm ấy, không có tịnh tín, không có an trú,
không có giải thoát, dầu Ta có thấy: "Ðây là an tịnh". Này
Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Do nhân gì, do
duyên gì, Tâm Ta không hứng khởi đối với không có tầm
ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát,
dầu Ta có thấy: "Ðây là an tịnh?" Rồi Ananda, Ta suy nghĩ
như sau: "Vì Ta không thấy nguy hiểm trong các tầm, vì Ta không
làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, lợi ích không có tầm chưa
được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích
ấy". Do vậy, tâm Ta không hứng khởi đối với không có tầm,
không tịnh tín, không an trú, không giải thoát. Này Ananda,
về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu sau khi thấy nguy
hiểm trong các tầm, Ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy. Sau khi
chứng được lợi ích không có tầm, Ta thưởng thức lợi
ích ấy", thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng
khởi trong không có tầm, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì
Ta thấy: "Ðây là an tịnh".
Rồi này Ananda, sau một thời gian,
sau khi thấy nguy hiểm trong các tầm. Ta làm cho sung mãn nguy
hiểm ấy; sau khi chứng được lợi ích không có tầm, Ta thưởng
thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng khởi trong không
có tầm, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta thấy: "Ðây là
an tịnh". Này Ananda, sau một thời gian Ta diệt tầm và tứ...
chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Do Ta trú với sự an
trú này, các tưởng tác ý câu hữu với tầm vẫn hiện hành.
Như vậy, đối với Ta, đây là một chứng bệnh. Cũng vậy,
các tưởng tác ý câu hữu với tầm vẫn hiện hành ở nơi
Ta. Như vậy đối với Ta, đây là một chứng bệnh.
6. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như
sau: "Vậy ta hãy ly hỷ... chứng đạt và an trú Thiền thứ
ba. Nhưng này Ananda , tâm của Ta không hứng khởi đối với
không có hỷ ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không
có giải thoát, dầu Ta có thấy: "Ðây là an tịnh". Này Ananda,
về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau như sau: "Do nhân gì do
duyên gì, tâm Ta không hứng khởi đối với không có hỷ ấy,
không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu
Ta có thấy: "Ðây là an tịnh?". Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ
như sau: "VÌ Ta không thấy sự nguy hiểm trong hỷ, vì Ta không
làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, lợi ích không có hỷ chưa
được chứng đắc. Ta chưa được thưởng thức lợi ích
ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi đối với không có hỷ
ấy, không tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát".
Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu sau khi
thấy nguy hiểm trong hỷ, Ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy.
Sau khi chứng được lợi ích trong không có hỷ, Ta thưởng
thức được lợi ích trong không có hỷ, Ta thưởng thức lợi
ích ấy", thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng
khởi trong không có hỷ, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì
Ta có thấy: "Ðây là an tịnh".
Rồi này Ananda, sau một thời gian,
sau khi thấy nguy hiểm trong hỷ, Ta làm cho sung mãn sự nguy
hiểm ấy; sau khi chứng được lợi ích trong không có hỷ,
Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng khởi
trong không có hỷ, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta thấy:
"Ðây là an tịnh". Này Ananda, sau một thời gian, Ta ly hỷ...
chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Do Ta trú với sự an trú
này, các tưởng tác ý câu hữu với hỷ vẫn hiện hành. Ðây
đối với Ta, đây là một chứng bệnh. Ví như, này Ananda,
đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi lên như
là một chứng bệnh. Cũng vậy các tưởng, tác ý câu hữu
với hỷ vẫn hiện hành ở nơi Ta. Như vậy đối với Ta,
đây là một chứng bệnh.
7. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như
sau: "Vậy ta hãy đoạn lạc, đoạn khổ... chứng đạt và
an trú Thiền thứ tư". Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi
đối với không khổ, không lạc, không có tịnh tín, không
có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy: "Ðây là
an tịnh". Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau như
sau: "Do nhân gì do duyên gì, tâm Ta không hứng khởi đối với
không khổ, không lạc, không có tịnh tín, không có an trú,
không có giải thoát, dầu Ta có thấy: "Ðây là an tịnh?".
Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: "Vì Ta không thấy nguy hiểm
trong xả lạc, vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy.
Lợi ích không khổ, không lạc chưa được chứng đắc. Ta
chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không
hứng khởi đối với không khổ, không lạc ấy, không tịnh
tín, không có an trú, không giải thoát". Này Ananda, về vấn
đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong
xả lạc, Ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được
lợi ích trong không khổ, không lạc, Ta thưởng thức sự lợi
ích ấy", thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng
khởi trong không khổ, không lạc, tịnh tín, an trú, giải thoát,
vì Ta có thấy: "Ðây là an tịnh".
Rồi này Ananda, sau một thời gian,
sau khi thấy nguy hiểm trong xả lạc, Ta làm cho sung mãn sự
nguy hiểm ấy; sau khi chứng được lợi ích trong không có
hỷ, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng
khởi trong không khổ, không lạc, tịnh tín, an trú, giải thoát,
vì Ta thấy: "Ðây là an tịnh". Này Ananda, sau một thời gian,
Ta xả lạc, xả khổ... chứng đạt và an trú Thiền thứ tư.
Do Ta trú với sự an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với
xả lạc vẫn hiện hành. Như vậy, đối với Ta, đây là một
chứng bệnh. Ví như, này Ananda, đối với người sung sướng,
đau khổ có thể khởi lên như là một chứng bệnh. Cũng vậy
các tưởng, tác ý câu hữu với hỷ vẫn hiện hành ở nơi
Ta. Như vậy đối với Ta, đây là một chứng bệnh.
8. Rồi này Aụnanda, Ta suy nghĩ như
sau: "Vậy Ta hãy vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn,
chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng
sai biệt, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Nhưng tâm
của Ta không có hứng khởi đối với Không vô biên xứ, không
có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta
có thấy: "Ðây là an tịnh". Này Ananda, về vấn đề ấy,
Ta suy nghĩ như sau như sau: "Do nhân gì do duyên gì, tâm Ta không
hứng khởi đối với Không vô biên xứ, không có tịnh tín,
không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy: "Ðây
là an tịnh?". Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: "Vì Ta không
thấy sự nguy hiểm trong các sắc, Ta không làm cho sung mãn
nguy hiểm ấy, lợi ích của Không vô biên xứ chưa được
chứng đắc. Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do
vậy tâm Ta không hứng khởi đối với Không vô biên xứ,
không tịnh tín, không an trú, không giải thoát". Này Ananda,
về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu sau khi thấy nguy
hiểm trong các sắc, Ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy. Sau khi
chứng được lợi ích trong Không vô biên xứ, Ta thưởng thức
lợi ích ấy", thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể
hứng khởi trong Không vô biên xứ, tịnh tín, an trú, giải
thoát, vì Ta có thấy: "Ðây là an tịnh".
Rồi này Ananda, sau một thời gian,
sau khi thấy nguy hiểm trong các sắc, Ta làm cho sung mãn nguy
hiểm ấy; sau khi chứng được lợi ích trong Không vô biên
xứ, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng
khởi trong Không vô biên xứ, tịnh tín, an trú, giải thoát,
vì Ta thấy: "Ðây là an tịnh". Này Ananda, sau một thời gian,
Ta vượt qua các sắc tưởng... chứng đạt và an trú Không
vô biên xứ. Do Ta trú với sự an trú này, các tưởng tác
ý câu hữu với các sắc vẫn hiện hành. Ðây đối với Ta,
đây là một chứng bệnh. Ví như, này Ananda, đối với người
sung sướng, đau khổ có thể khởi lên như là một chứng
bệnh. Cũng vậy các tưởng, tác ý câu hữu với sắc vẫn
hiện hành ở nơi Ta. Như vậy đối với Ta, đây là một chứng
bệnh.
9. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như
sau: "Vậy Ta hãy vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn
toàn, biết rằng: "Thức là vô biên", chứng đạt và an trú
Thức vô biên xứ. Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi đối
với Thức vô biên xứ, không có tịnh tín, không có an trú,
không có giải thoát, dầu Ta có thấy: "Ðây là an tịnh". Này
Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau : "Do nhân gì do
duyên gì, tâm Ta không hứng khởi đối với Thức vô biên
xứ, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát,
dầu Ta có thấy: "Ðây là an tịnh?". Rồi này Ananda, Ta suy
nghĩ như sau: "Vì Ta không thấy sự nguy hiểm trong Không vô
biên xứ, vì Ta không làm cho sung mãn nguy hiểm ấy, lợi ích
của Thức vô biên xứ chưa được chứng đắc. Ta chưa được
thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi
đối với Thức vô biên xứ, không tịnh tín, không an trú,
không giải thoát". Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ
như sau: "Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong Không vô biên xứ,
Ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi
ích trong Thức vô biên xứ, Ta thưởng thức lợi ích ấy",
thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi
trong Thức vô biên xứ, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta
có thấy: "Ðây là an tịnh".
Rồi này Ananda, sau một thời gian,
sau khi thấy nguy hiểm trong Không vô biên xứ, Ta làm cho sung
mãn nguy hiểm ấy; sau khi chứng được lợi ích trong Thức
vô biên xứ, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm
Ta hứng khởi trong Thức vô biên xứ, tịnh tín, an trú, giải
thoát, vì Ta thấy: "Ðây là an tịnh". Này Ananda, sau một thời
gian, Ta vượt qua Không vô biên xứ... chứng đạt và an trú
Thức vô biên xứ. Do Ta trú với sự an trú này, các tưởng
tác ý câu hữu với Không vô biên xứ vẫn hiện hành. Ðây
đối với Ta, đây là một chứng bệnh. Ví như, này Ananda,
đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi lên như
là một chứng bệnh. Cũng vậy các tưởng, tác ý câu hữu
với Không vô biên xứ vẫn hiện hành ở nơi Ta. Như vậy
đối với Ta, đây là một chứng bệnh.
10. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như
sau: "Vậy Ta hãy vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn
toàn, biết rằng: "Không có vật gì", chứng đạt và an trú
Vô sở hữu xứ. Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi đối
với Vô sở hữu xứ , không có tịnh tín, không có an trú,
không có giải thoát, dầu Ta có thấy: "Ðây là an tịnh". Này
Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau : "Do nhân gì do
duyên gì, tâm Ta không hứng khởi đối với Vô sở hữu xứ
, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát,
dầu Ta có thấy: "Ðây là an tịnh?". Rồi này Ananda, Ta suy
nghĩ như sau: "Vì Ta không thấy sự nguy hiểm trong Thức vô
biên xứ, vì Ta không làm cho sung mãn nguy hiểm ấy, lợi ích
của Vô sở hữu xứ chưa được chứng đắc. Ta chưa được
thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi
đối với Vô sở hữu xứ, không tịnh tín, không an trú, không
giải thoát". Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau:
"Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong Thức vô biên xứ, Ta làm
cho sung mãn nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong
Vô sở hữu xứ, Ta thưởng thức lợi ích ấy", thời sự
kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi trong Vô sở
hữu xứ, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta có thấy: "Ðây
là an tịnh".
Rồi này Ananda, sau một thời gian,
sau khi thấy nguy hiểm trong Thức vô biên xứ, Ta làm cho sung
mãn nguy hiểm ấy; sau khi chứng được lợi ích trong Vô sở
hữu xứ, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda, tâm
Ta hứng khởi trong Vô sở hữu xứ, tịnh tín, an trú, giải
thoát, vì Ta thấy: "Ðây là an tịnh". Này Ananda, sau một thời
gian, Ta vượt qua Thức vô biên xứ... chứng đạt và an trú
Vô sở hữu xứ. Do Ta trú với sự an trú này, các tưởng
tác ý câu hữu với các Thức vô biên xứ vẫn hiện hành,
như vậy đối với Ta, đây là một chứng bệnh. Ví như, này
Ananda, đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi
lên như là một chứng bệnh. Cũng vậy các tưởng, tác ý
câu hữu với Thức vô biên xứ vẫn hiện hành ở nơi Ta.
Như vậy đối với Ta, đây là một chứng bệnh.
11. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như
sau: "Vậy Ta hãy vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn,
chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nhưng tâm
của Ta không có hứng khởi đối với Phi tưởng phi phi tưởng
xứ, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát,
dầu Ta có thấy: "Ðây là an tịnh". Này Ananda, về vấn đề
ấy, Ta suy nghĩ như sau như sau: "Do nhân gì do duyên gì, tâm
Ta không hứng khởi đối với Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu
Ta có thấy: "Ðây là an tịnh?". Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ
như sau: "Vì Ta không thấy sự nguy hiểm trong Vô sở hữu xứ,
vì Ta không làm cho sung mãn nguy hiểm ấy, lợi ích của Phi
tưởng phi phi tưởng xứ chưa được chứng đắc. Ta chưa
được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng
khởi đối với Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không tịnh tín,
không an trú, không giải thoát". Này Ananda, về vấn đề ấy,
Ta suy nghĩ như sau: "Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong Vô sở
hữu xứ, Ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được
lợi ích trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ta thưởng thức
lợi ích ấy", thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể
hứng khởi trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tịnh tín, an
trú, giải thoát, vì Ta có thấy: "Ðây là an tịnh".
Rồi này Ananda, sau một thời gian,
sau khi thấy nguy hiểm trong Vô sở hữu xứ, Ta làm cho sung
mãn nguy hiểm ấy; sau khi chứng được lợi ích trong Phi tưởng
phi phi tưởng xứ, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda,
tâm Ta hứng khởi trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tịnh
tín, an trú, giải thoát, vì Ta thấy: "Ðây là an tịnh". Này
Ananda, sau một thời gian, Ta vượt qua Vô sở hữu xứ một
cách hoàn toàn... chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng
xứ. Do Ta trú với sự an trú này, các tưởng tác ý câu hữu
với các Vô sở hữu xứ vẫn hiện hành, như vậy đối với
Ta, đây là một chứng bệnh. Ví như, này Ananda, đối với
người sung sướng, đau khổ có thể khởi lên như là một
chứng bệnh. Cũng vậy các tưởng, tác ý câu hữu với Vô
sở hữu xứ vẫn hiện hành ở nơi Ta. Như vậy đối với
Ta, đây là một chứng bệnh.
12. Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như
sau: "Vậy Ta hãy vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một
cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định.
Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi đối với Diệt thọ
tưởng định, không có tịnh tín, không có an trú, không có
giải thoát, dầu Ta có thấy: "Ðây là an tịnh". Này Ananda,
về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau như sau: "Do nhân gì do
duyên gì, tâm Ta không hứng khởi đối với Diệt thọ tưởng
định, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải
thoát, dầu Ta có thấy: "Ðây là an tịnh?". Rồi này Ananda,
Ta suy nghĩ như sau: "Vì Ta không thấy sự nguy hiểm trong Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, vì Ta không làm cho sung mãn nguy hiểm
ấy, lợi ích của Diệt thọ tưởng định chưa được chứng
đắc. Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm
Ta không hứng khởi đối với Diệt thọ tưởng định, không
tịnh tín, không an trú, không giải thoát". Này Ananda, về vấn
đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong
Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy.
Sau khi chứng được lợi ích trong Diệt thọ tưởng định,
Ta thưởng thức lợi ích ấy", thời sự kiện này xảy ra:
Tâm của Ta có thể hứng khởi trong Diệt thọ tưởng định,
tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta có thấy: "Ðây là an tịnh".
Rồi này Ananda, sau một thời gian,
sau khi thấy nguy hiểm trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ta
làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy; sau khi chứng được lợi
ích trong Diệt thọ tưởng định, Ta thưởng thức lợi ích
ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng khởi trong Diệt thọ tưởng
định, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta thấy: "Ðây là
an tịnh". Này Ananda, sau một thời gian, Ta vượt qua Phi tưởng
phi phi tưởng xứ... chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng
định, ta thấy với trí tuệ và các lậu hoặc đi đến đoạn
diệt.
13. Cho đến khi nào, này Ananda, chín
thứ đệ trú Thiền chứng này chưa được Ta thuận thứ nghịch
thứ chứng đạt và xuất khởi, thời này Ananda, trong thế
giới, với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần
chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta chưa
xác chứng rằng ta đã chứng Chánh Ðẳng Chánh giác. Cho đến
khi nào, này Ananda, chín thứ đệ trú Thiền chứng này đã
được Ta thuận thứ nghịch thứ chứng đạt và xuất khởi,
thời này Ananda, trong thế giới này, với Thiên giới, Ma giới,
Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư
Thiên và loài Người, cho đến khi ấy, Ta mới xác chứng rằng
Ta đã chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tri và
Kiến khởi lên nơi Ta. Ta biết rằng: "Bất động là tâm giải
thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn
tái sanh nữa".
V. Phẩm Pancala
(I) (42) Pancalacanda
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời Tôn giả Ananda trú ở
Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Udàyi đi đến
Tôn giả Ananda, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những
lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón
hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Ananda:
- Thưa Hiền giả, lời này được
Thiên tử Pancàlacanda nói như sau:
"Bậc thiện trí tìm được,
Giải thoát trong triền phược,
Vị giác tỉnh với Thiền,
Bậc giác giả Mâu-ni,
Bậc từ bỏ, không chấp
Bậc anh hùng ẩn sĩ."
Thưa Hiền giả, thế nào là triền
phược? Thế nào là giải thoát khỏi triền phược được
Thế Tôn nói đến?
2. - Này Hiền giả, năm dục trưởng
dưỡng này được Thế Tôn gọi là triền phược. Thế nào
là năm?
Các sắc do mắt nhận thức, khả
lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp
dẫn; các tiếng do tai nhận thức... các hương do mũi nhận
thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân nhận
thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến
dục, hấp dẫn.
Này Hiền giả, năm dục trưởng
dưỡng này là triền phược, được Thế Tôn nói đến.
3. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo
ly các dục... chứng và t rú sơ Thiền. Cho đến như vậy,
này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền phược được Thế
Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược.
Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là tầm và tứ chưa
diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
4. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo
diệt tầm và tứ... chứng đạt và an trú Thiền thứ hai.
Cho đến như vậy, này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền
phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây
vẫn có triền phược. Và ở đây triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là hỷ chưa diệt. Chính
cái ấy ở đây là triền phược.
5. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo
ly hỷ trú xả... chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Cho đến
như vậy, này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền phược
được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn
có triền phược. Và ở đây triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là xả lạc chưa diệt.
Chính cái ấy ở đây là triền phược.
6. Lại nữa, này Hiền giả, vị
Tỷ-kheo đoạn lạc... chứng và trú Thiền thứ tư. Cho đến
như vậy, này Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược
được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn
có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là sắc tưởng chưa
diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
7. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo
vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các
đối ngại tưởng, không tác ý đến sai biệt tưởng, biết
rằng: "Hư không là vô biên, chứng đạt và an trú Không vô
biên xứ. Cho đến như vậy, này Hiền giả là giải thoát
khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn.
Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược
ấy là gì?
Cái ở đây là Không vô biên xứ
chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
8. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo
biết rằng: "Thức là vô biên", vượt qua Không vô biên xứ
một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ.
Cho đến như vậy, thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền
phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây
vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là Thức vô biên xứ
chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
9. Lại nữa, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo
vượt Thức là vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng:
"Không có vật gì", chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ.
Cho đến như vậy, thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền
phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây
vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là Vô sở hữu xứ
chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
10. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo
vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt
và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Cho đến như vậy,
thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế
Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược.
Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là Phi tưởng phi phi
tưởng xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
11. Lại nữa, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo
vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú
Diệt thọ tưởng định. Sau khi thấy với trí tuệ, các lậu
hoặc được đoạn diệt. Cho đến như vậy, này Hiền giả
là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến
với phi pháp môn.
(II) (43) Vị Thân Chứng
1. - "Thân chứng, thân chứng", này
Hiền giả, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào,
này Hiền giả, thân chứng được Thế Tôn nói đến?
2. - Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo
ly dục... chứng và trú Thiền thứ nhất. Như thế nào, như
thế nào, sau khi cảm xúc với thân, vị ấy như vậy, như
vậy an trú xứ ấy. Cho đến như vậy, này Hiền giả, thân
chứng được Thế Tôn nói đến pháp môn.
3. - Lại nữa, này các Hiền giả,
Tỷ-kheo diệt tầm và tứ... Thiền thứ hai... Thiền thứ ba...
Chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Như thế nào, như thế
nào, sau khi cảm xúc với thân, vị ấy như vậy, như vậy
an trú xứ ấy. Cho đến như vậy, này Hiền giả, thân chứng
được Thế Tôn nói đến pháp môn.
4. - Lại nữa, này các Hiền giả,
Tỷ-kheo, sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn,
chấm dứt các tưởng đối ngại, không tác ý đến các tưởng
sai biệt, biết rằng: "Hư không là vô biên", chứng đạt và
an trú Không vô biên xứ. Như thế nào, như thế nào, sau khi
cảm xúc với thân, vị ấy như vậy, như vậy an trú xứ ấy.
Cho đến như vậy, này Hiền giả, thân chứng được Thế
Tôn nói đến pháp môn... (như trên) ...
5. - Lại nữa, này các Hiền giả,
Tỷ-kheo, sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một
cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định.
Như thế nào, như thế nào, sau khi cảm xúc với thân, vị
ấy như vậy, như vậy an trú xứ ấy. Cho đến như vậy, này
Hiền giả, thân chứng được Thế Tôn nói đến pháp môn.
(III) (44) Tuệ Giải Thoát
1. - "Tuệ giải thoát, tuệ giải
thoát", này Hiền giả, được nói đến như vậy. Cho đến
như thế nào, này Hiền giả, tuệ giải thoát được Thế
Tôn nói đến?
2. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo
ly dục... chứng đạt và an trú sơ Thiền; với trí tuệ vị
ấy rõ biết. Cho đến như vậy, này các Hiền giả, tuệ giải
thoát được Thế Tôn nói đến với pháp môn... (như trên).
3. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo
vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú
Diệt thọ tưởng định; sau khi thấy với trí tuệ, các lậu
hoặc được đoạn tận. Với trí tuệ, vị ấy rõ biết.
Cho đến như vậy, này Hiền giả, tuệ giải thoát được
Thế Tôn nói đến với phi pháp môn.
(IV) (45) Giải Thoát Cả Hai Phần
1. - "Giải thoát cả hai phần, giải
thoát cả hai phần", này Hiền giả, được nói đến. Cho đến
như thế nào, này Hiền giả, giải thoát cả hai phần được
Thế Tôn nói đến?
2. - Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo
ly dục... chứng đạt và an trú sơ Thiền. Như thế nào, như
thế nào, sau khi cảm xúc với thân, vị ấy như vậy, như
vậy an trú xứ ấy; với trí tuệ, vị ấy rõ biết. Cho đến
như vậy, này Hiền giả, là giải thoát cả hai phần được
Thế Tôn nói đến với pháp môn... (như trên)...
3. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo
vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú
Diệt thọ tưởng định; sau khi thấy với trí tuệ, các lậu
hoặc được diệt trừ. Như thế nào, như thế nào, sau khi
cảm xúc với thân, vị ấy như vậy, như vậy an trú xứ ấy;
với trí tuệ, vị ấy rõ biết. Cho đến như vậy, này Hiền
giả, tuệ giải thoát cả hai phần được Thế Tôn nói đến
với phi pháp môn.
(V) (46) Chính Thực Mình Thấy
(1)
- "Pháp là chính thực mình thấy,
pháp là thiết thực hiện tại", này Hiền giả, được nói
đến như vậy.
(VI) (47) Chính Thực Mình Thấy
(2)
- "Niết-bàn là chính thực mình
thấy, Niết-bàn là chính thực mình thấy", này Hiền giả,
được nói đến như vậy.
(VII) (48) Niết Bàn
- "Niết-bàn, Niết-bàn", này Hiền
giả, được nói đến như vậy.
(VIII) (49) Hoàn Mãn Niết Bàn
- "Hoàn mãn Niết-bàn, hoàn mãn Niết-bàn",
này Hiền giả, được nói đến như vậy.
(IX) (50) Hoàn Mãn Niét Bàn
- "Chi phần Niết-bàn, chi phần Niết-bàn",
này Hiền giả, được nói đến như vậy.
(X) (51) Thiết Thực Hiện Tại
Niết Bàn
1. - "Thiết thực hiện tại Niết-bàn,
Thiết thực hiện tại Niết-bàn", này Hiền giả, được nói
đến như vậy. Cho đến như thế nào, này Hiền giả, là thiết
thực hiện tại Niết-bàn được Thế Tôn nói đến?
2. - Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo
ly dục... chứng đạt và an trú sơ Thiền. Cho đến như vậy,
này Hiền giả, là thiết thực hiện tại Niết-bàn được
Thế Tôn nói đến với pháp môn.
3. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo
sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ môĩt cách hoàn
toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định, sau khi
thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được tận. Cho đến như
vậy, này Hiền giả, là thiết thực hiện tại Niết-bàn được
Thế Tôn nói đến với phi pháp môn.
VI. Phẩm An
Ổn
(I) (52) An Ổn
- "An ổn, an ổn", này Hiền giả,
được nói đến như vậy.
(II) (53) Người Ðạt An Ổn
- "Người đạt an ổn, người đạt
an ổn", này Hiền giả, được nói đến như vậy.
(III) (54) Bất Tử
- "Bất tử, bất tử", này Hiền
giả, được nói đến như vậy.
(IV) (55) Người Ðạt Ðược Bất
Tử
- "Người đạt được bất tử,
người đạt được bất tử", này Hiền giả, được nói
đến như vậy.
(V) (56) Vô Úy
- "Vô úy, vô úy", này Hiền giả,
được nói đến như vậy.
(VI) (57) Người Ðạt Vô Úy
- "Người đạt vô úy, người đạt
vô úy", này Hiền giả, được nói đến như vậy.
(VII) (58) Khinh An
- "Khinh an, khinh an", này Hiền giả,
được nói đến như vậy.
(VIII) (59) Thứ Ðệ Khinh An
Thứ đệ khinh an, thứ đệ khinh
an, này Hiền giả, được nói đến như vậy.
(IX) (60) Ðoạn Diệt
- "Ðoạn diệt, đoạn diệt", này
Hiền giả, được nói đến như vậy.
(X) (61) Thứ Ðệ Ðoạn Diệt
1. - "Thứ đệ đoạn diệt, thứ
đệ đoạn diệt", này Hiền giả, được nói đến như vậy.
Cho đến như thế nào, này Hiền giả, thứ đệ đoạn diệt
được Thế Tôn nói đến?
2. - Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo
ly dục... chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, ... cho đến
như vậy, này Hiền giả, thứ đệ đoạn diệt được Thế
Tôn nói đến với pháp môn.
3. Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo
vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn,
chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định; sau khi thấy
với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Cho đến
như vậy, này Hiền giả là thứ đệ đoạn diệt được Thế
Tôn nói đến với phi pháp môn.
(XI) (62) Có Khả Năng
1. - Này các Tỷ-kheo, có chín pháp
không đoạn trừ thì không có thể chứng ngộ quả A-la-hán.
Thế nào là chín?
2. Tham sân, si, phẫn nộ, hiềm hận,
giả dối, não hại, tật đố, xan tham.
Chín pháp này, này các Tỷ-kheo,
không đoạn trừ thì không có thể chứng ngộ quả A-la-hán.
3. Chín pháp này, này các Tỷ-kheo,
được đoạn trừ thì có thể chứng ngộ quả A-la-hán. Thế
nào là chín?
4. Tham, sân, si, phẫn nộ, hiềm
hận, giả dối, não hại, tật đố, xan tham.
VII. Phẩm Niệm
Xứ
(I) (63) Học Tập
1. - Này các Tỷ-Kheo, có năm pháp
làm suy yếu học tập này. Thế nào là năm?
2. Sát sanh, lấy của không cho, tà
hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu.
Này các Tỷ-kheo, đây là năm pháp làm suy yếu học tập.
3. Này các Tỷ-kheo, để đoạn tận
năm pháp làm suy yếu học tập này, Bốn niệm xứ cần phải
tu tập. Thế nào là bốn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trú tùy quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm,
để nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú tùy quán thọ
trên các cảm thọ.... trú tùy quán pháp trên các pháp, nhiệt
tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này các Tỷ-kheo, để đoạn tận
năm pháp làm suy yếu học tập này, Bốn niệm xứ cần phải
tu tập
(II) (64) Triền Cái
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm triền
cái này. Thế nào là năm?
2. Dục tham triền cái, sân triền
cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo hối triền cái,
nghi triền cái. Này các Tỷ-kheo, có năm triền cái này.
3. Này các Tỷ-kheo, để đoạn tận
năm triền cái này, Bốn niệm xứ cần phải tu tập. Thế
nào là bốn?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trú quán thân trên thân... trú quán pháp trên các pháp, nhiệt
tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này các Tỷ-kheo, để đoạn tận năm triền cái, Bốn niệm
xứ cần phải tu tập
(III) (65) Dục Trưởng Dưỡng
1.- Này các Tỷ-kheo, có năm dục
trưởng dưỡng này. Thế nào là năm?
2. Các sắc do mắt nhận thức, khả
lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp
dẫn, các tiếng do tai nhận thức khả lạc... hấp dẫn. Này
các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này.
3. Này các Tỷ-kheo, để đoạn tận
năm dục trưởng dưỡng này, Bốn niệm xứ này phải tu tập.
(IV) (66) Thủ Uẩn
1. - Này các Tỷ-kheo có năm thủ
uẩn này. Thế nào là năm?
2. Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn,
tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức uẩn. Này các Tỷ-kheo,
có năm thủ uẩn này.
3. Này các Tỷ-kheo, để đoạn tận
năm thù uẩn này, Bốn niệm xứ cần phải tu tập. Thế nào
là bốn? .... Bốn niệm xứ cần phải tu t