VII. Phẩm
Ðất Rung Ðộng
(I) (61) Dục
1. - Này các Tỷ-kheo, có tám hạng
người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là tám?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước
muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn tinh tấn
để được lợi dưỡng. Dầu cho hăng hái, phấn chấn, tinh
tấn để được lợi dưỡng, nhưng lợi dưỡng không khởi
lên. Do không thấy được lợi dưỡng ấy, vị ấy sầu muộn,
than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này các
Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là Tỷ-kheo sống muốn lợi dưỡng,
hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Do
không thấy được lợi dưỡng ấy, vị ấy sầu muộn, than
van, khóc lóc, bỏ rơi diệu pháp.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước
muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn tinh tấn
để được lợi dưỡng. Dầu cho hăng hái, phấn chấn, tinh
tấn để được lợi dưỡng. Do hăng hái, phấn chấn, tinh
tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với
lợi dưỡng ấy, vị ấy đắm say, phóng dật, rơi vào trạng
thái đắm say, phóng dật. Ðây gọi là Tỷ-kheo sống muốn
lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi
dưỡng; được lợi dưỡng, trở thành đắm say, phóng dật,
và bỏ rơi diệu pháp.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Có
vị Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi
lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không
phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị
ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được
lợi dưỡng, lợi dưỡng không khởi lên. Vị ấy do không
được lợi dưỡng, nên sầu muộn, than van, khóc lóc, đập
ngực, rơi vào bất tỉnh. Ðây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn
lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn
để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, vị ấy
sầu muộn, than van, khóc lóc, bỏ rơi diệu pháp.
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước
muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn
không tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu vị ấy không
hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi
dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Do không thấy được lợi dưỡng
ấy, vị ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, rơi
vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là Tỷ-kheo
sống lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được
lợi dưỡng. Do không thấy được lợi dưỡng ấy, vị ấy
sầu muộn, than van, khóc lóc, bỏ rơi diệu pháp. Với lợi
dưỡng ấy, vị ấy đắm say, phóng dật, rơi vào trạng thái
đắm say, phóng dật. Ðây gọi là Tỷ-kheo sống muốn lợi
dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để
được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, trở thành đắm say,
phóng dật, và bỏ rơi diệu pháp.
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước
muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn
để được lợi dưỡng. Dầu cho vị ấy hăng hái, phấn chấn,
tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng không khởi
lên. Vị ấy, do không được lợi dưỡng, không có sầu muộn,
không có than van, không có khóc lóc, không có đập ngực, không
có rơi vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là
Tỷ-kheo sống muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh
tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, không
có sầu muộn, không có than van, và không bỏ rơi diệu pháp.
7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước
muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn
để được lợi dưỡng. Do vị ấy hăng hái, phấn chấn,
tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với
lợi dưỡng ấy, vị ấy không đắm say, không phóng dật,
không có rơi vào trạng thái đắm say. Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là Tỷ-kheo sống muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn,
tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, không
đắm say, không phóng dật, và không bỏ rơi diệu pháp.
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước
muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn,
không tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy không hăng
hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng,
lợi dưỡng không khởi lên. Vị ấy được lợi dưỡng, không
có sầu muộn, không có than van, không có khóc lóc, không có
đập ngực, không có rơi vào bất tỉnh. Ðây gọi là Tỷ-kheo
sống muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn,
không tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi
dưỡng, vị ấy không sầu muộn, không than van, không khóc
lóc, và không bỏ rơi diệu pháp.
9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Có
Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên
ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn
chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho vị
ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được
lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với lợi dưỡng ấy,
vị ấy không đắm say, không phóng dật, không có rơi vào
trạng thái đắm say. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo
sống muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn,
không tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng,
không đắm say, không phóng dật, và không bỏ rơi diệu pháp.
Này các Tỷ-kheo, có tám hạng người
này sống có mặt, hiện hữu ở đời.
(II) (62) Vừa Ðủ
1.- Thành tựu sáu pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các
người khác. Thế nào là sáu?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người
thọ trì những pháp đã được nghe; là người suy tư ý nghĩa
các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu
pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói dễ nghe, phát âm
tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát ngôn không bập bẹ,
giải thích nghĩa lý xác minh; có khả năng thuyết giảng, khích
lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ
cho tự mình, vừa đủ cho các người khác.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người
khác. Thế nào là năm?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp;
là người thọ trì những pháp đã được nghe; là người
suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa,
sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói dễ
nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát ngôn không
bập bẹ, giải thích nghĩa lý xác minh; có khả năng thuyết
giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các đồng
Phạm hạnh.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho các người
khác.
5. Thành tựu bốn pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ
cho các người khác. Thế nào là bốn?
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người
thọ trì những pháp đã được nghe; là người suy tư ý nghĩa
các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu
pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói không dễ nghe, phát
âm không tốt, lời nói không tao nhã, không phân minh, phát
ngôn bập bẹ, giải thích nghĩa lý không xác minh; không có
khả năng thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm
cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.
Thành tựu bốn pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho
các người khác.
7. Thành tựu bốn pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không vừa đủ cho tự mình, vừa đủ
cho các người khác. Thế nào là bốn?
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người
thọ trì những pháp đã được nghe; không là người suy tư
ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; không có sau khi hiểu
nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói
dễ nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát ngôn
không bập bẹ, giải thích nghĩa lý xác minh; có khả năng
thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ
các đồng Phạm hạnh.
Thành tựu bốn pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không vừa đủ cho tự mình, vừa đủ cho
các người khác.
9. Thành tựu ba pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho
các người khác. Thế nào là ba?
10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp;
là người thọ trì những pháp đã được nghe; là người
suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi biết ý
nghĩa, sau khi biết pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng nói
không dễ nghe, phát âm không tốt, lời nói không tao nhã, không
phân minh, phát ngôn bập bẹ, giải thích nghĩa lý không xác
minh; không có khả năng thuyết giảng, không khích lệ, làm
cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.
Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho các người
khác. Thế nào là ba?
11. Thành tựu ba pháp này, này các
Tỷ-kheo, vừa đủ cho các người khác, Tỷ-kheo không vừa
đủ cho tự mình,. Thế nào là ba?
12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp;
là người thọ trì những pháp đã được nghe; không là người
suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; không là người
sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp;
giọng nói dễ nghe, giải thích nghĩa lý xác minh; có khả năng
thuyết giảng, làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.
Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo,
Tỳ kheo là vừa đủ cho các người khác, Tỷ-kheo không vừa
đủ cho tự mình.
13. Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho
các người khác. Thế nào là hai?
14. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp;
là người không thọ trì những pháp đã được nghe; là người
suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; là người sau
khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp;
giọng nói không dễ nghe, giải thích nghĩa lý không xác minh;
không có khả năng thuyết giảng, Ẩ, làm cho hoan hỷ các đồng
Phạm hạnh.
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho
các người khác.
15. Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vừa đủ cho các người khác, không vừa
đủ cho tự mình. Thế nào là hai?
16. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp;
là người không thọ trì những pháp đã được nghe; không
suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; không có sau khi
hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; giọng
nói dễ nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát
ngôn không bập bẹ, giải thích nghĩa lý xác minh; có khả
năng thuyết giảng pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn khởi,
làm cho hoan hỷ các đồng Phạm hạnh.
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lả vừa đủ cho các người khác, không vừa
đủ cho tự mình,.
(III) (63) Pháp Lược Thuyết
1. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Lành thay! bạch Thế Tôn, xin Thế
Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi nghe pháp của
Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần.
- Như vậy, ở đây, một số người
ngu si, thỉnh cầu Ta, sau khi pháp được giảng, họ nghĩ Ta
là người họ cần phải đi theo.
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết
pháp vắn tắt cho con, Thiện Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt.
Con có thể hiểu được ý nghĩa lời của Thế Tôn thuyết
giảng. Con có thể trở thành kẻ thừa tự lời Thế Tôn thuyết
giảng.
2.- Vậy này Tỷ-kheo, Thầy cần
phải học tập như sau:
"Nội tâm ta sẽ an trú, khéo vững
trú. Các pháp ác, bất thiện khởi không có xâm chiếm tâm
và không có chân đứng". Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần
phải học tập.
3. Này Tỷ-kheo, khi nào nội tâm
của Thầy được an trú, khéo vững trú, các pháp ác, bất
thiện sanh khởi xâm chiếm tâm và có chân đứng, khi ấy,
này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập như sau:
"Từ tâm giải thoát sẽ được
ta tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn
cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập,
được khéo tinh cần thực hành". Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy
cần phải học tập.
4. Này Tỷ-kheo, khi nào định này
của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy,
khi ấy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với
tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, chỉ với tứ;
cần phải tu tập không tầm không tứ; cần phải tu tập có
hỷ, cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu
với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này Tỷ-kheo,
khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho
sung mãn như vậy, khi ấy này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học
tập như sau:
"Bi tâm giải thoát sẽ được Thầy
tu tập ... Hỷ tâm giải thoát sẽ được Thầy tu tập ...
Xả tâm giải thoát sẽ được Thầy tu tập, làm cho sung mãn,
làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được làm cho kiên
trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành".
Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.
5. Này Tỷ-kheo, khi nào định này
của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy,
khi ấy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với
tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, chỉ với tứ;
cần phải tu tập không tầm không tứ; cần phải tu tập có
hỷ, cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu
với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này Tỷ-kheo,
khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho
sung mãn như vậy, khi ấy này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học
tập như sau:
"Ta sẽ sống quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở
đời". Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.
6. Này Tỷ-kheo, khi nào định này
của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy,
khi ấy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với
tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, với tứ; cần
phải tu tập không tầm, không tứ; cần phải tu tập có hỷ,
cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với
lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này Tỷ-kheo, khi
nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung
mãn như vậy, khi ấy này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập
như sau:
"Ta sẽ sống quán thọ trên các
cảm thọ ... quán tâm trên các tâm ... quán pháp trên các pháp,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở
đời". Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.
7. Này Tỷ-kheo, khi nào định này
của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy,
khi ấy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với
tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, với tứ; cần
phải tu tập không tầm, không tứ; cần phải tu tập có hỷ,
cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với
lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này Tỷ-kheo, khi
nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung
mãn như vậy, khi ấy này Tỷ-kheo, chỗ nào, chỗ nào Thầy
đi, chỗ ấy Thầy đi được an ổn; chỗ nào, chỗ nào Thầy
sẽ đứng, chỗ ấy Thầy đứng được an ổn; chỗ nào, chỗ
nào sẽ Thầy ngồi, chỗ ấy Thầy ngồi được an ổn; chỗ
nào, chỗ nào Thầy sẽ nằm, chỗ ấy Thầy sẽ nằm được
an ổn.
8. Tỷ-kheo ấy, được Thế Tôn
giáo giới với bài giáo giới này, từ chỗ ngồi, đứng dậy,
đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra
đi. Tỷ-kheo ấy sống một mình, thanh tịnh, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng đạt được mục
đích mà các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình. Ðây là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay
trong hiện tại, tự mình chứng tri với thắng trí, chứng
ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: "Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành. Những việc nên làm đã làm, không còn
trở lui trạng thái này nữa". Tỷ-kheo ấy trở thành một
vị A-la-hán.
(VI) (64) Tagayà
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Gayasisa.
Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" - "Thưa
vâng, bạch Thế Tôn. ".
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế tôn nói như sau:
2.- Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta
giác ngộ, chưa thành Chánh Ðẳng Giác, Ta còn làm Bồ Tát,
Ta tưởng tri ánh sáng, Ta không thấy sắc. Này các Tỷ-kheo,
rồi Ta suy nghĩ: "Nếu Ta có thể tưởng tri ánh sáng và Ta
có thể thấy được màu sắc, như vậy tri kiến của Ta được
thanh tịnh hơn lên". Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian
Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, Ta tưởng tri
ánh sáng và thấy được các sắc, nhưng Ta không giao thiệp
với chư Thiên ấy, không nói chuyện, không thảo luận".
3. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ
như sau: "Nếu Ta có thể tưởng tri ánh sáng có thể thấy
được các sắc, có thể giao thiệp với chư Thiên ấy, có
thể nói chuyện, có thể thảo luận, như vậy, tri kiến này
của Ta được thanh tịnh hơn lên". Và này các Tỷ-kheo, sau
một thời gian Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần,
tưởng tri ánh sáng và thấy được các sắc, và cùng chư
Thiên ấy giao thiệp, nói chuyện và thảo luận. Nhưng Ta không
biết về các chư Thiên ấy: "Chư Thiên này thuộc về Thiên
chúng này, thuộc về Thiên chúng này".
4. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ
như sau: "Nếu Ta tưởng tri ánh sáng, thấy được các sắc,
giao thiệp với chư Thiên ấy, nói chuyện, thảo luận với
chư Thiên ấy và biết được về chư Thiên ấy : "Chư Thiên
này thuộc về Thiên chúng này, thuộc về Thiên chúng này",
như vậy, tri kiến này của Ta được thanh tịnh hơn ". Rồi
này các Tỷ-kheo, sau một thời gian Ta sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, tưởng tri ánh sáng và thấy được các
sắc, và cùng chư Thiên ấy giao thiệp, nói chuyện, thảo luận
với chư Thiên ấy, biết được: "Chư Thiên này thuộc về
Thiên chúng này, Thiên chúng này", nhưng Ta không biết được:
"Chư Thiên này do quả dị thục của nghiệp này, chết từ
đây sanh ra tại chỗ ấy"; Ta biết được chư Thiên ấy: "Chư
Thiên này do quả dị thục của nghiệp này, chết từ đây
sanh ra tại chỗ ấy"; nhưng Ta không biết được: "Chư Thiên
này, do đồ ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế
này"; Ta biết được: "Chư Thiên này, do đồ ăn như thế này,
cảm thọ khổ lạc như thế này"; nhưng Ta không biết được
chư Thiên ấy: "Chư Thiên này, tuổi thọ dài như thế này,
tồn tại lâu dài như thế này", Ta biết được: "Chư Thiên
này, tuổi thọ dài như thế này, tồn tại lâu dài như thế
này"; nhưng Ta không biết chư Thiên ấy: "Trước đây Ta có
cùng ở với chư Thiên này, hay trước đây Ta không cùng ở
với chư Thiên này? "
5. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ
như sau: "Nếu ta nhận thức được ánh sáng, thấy được
các sắc, cùng với chư Thiên ấy giao thiệp, nói chuyện, thảo
luận, Ta có thể biết được chư Thiên ấy: "Chư Thiên này
thuộc Thiên chúng này, thuộc Thiên chúng này". Ta có thể biết
được chư Thiên ấy: "Chư Thiên này, do quả dị thục của
nghiệp này, chết tại chỗ này, sanh tại chỗ ấy". Ta có
thể biết được chư Thiên ấy: "Chư Thiên này, do ăn đồ
ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này"; Ta có thể
biết được chư Thiên ấy: "Chư Thiên này, tuổi thọ dài
như thế này, tồn tại lâu dài như thế này"; Ta có thể biết
được chư Thiên ấy: "Chư Thiên này, trước đây Ta có cùng
ở với chư Thiên này, hay trước đây Ta có cùng ở với chư
Thiên này"; như vậy, tri kiến của Ta được thanh tịnh hơn
trước". Này các Tỷ-kheo, sau một thời gian sống không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần, Ta tưởng tri ánh sáng, thấy được
các sắc, Ta giao thiệp, nói chuyện, thảo luận với các chư
Thiên ấy: Ta biết được chư Thiên ấy ," Chư Thiên này thuộc
Thiên chúng này, thuộc Thiên chúng này". Ta biết được chư
Thiên ấy: "Chư Thiên này, do quả dị thục của nghiệp này,
chết tại chỗ này, sanh tại chỗ ấy". Ta biết được chư
Thiên ấy: "Chư Thiên này, do ăn đồ ăn như thế này, cảm
thọ khổ lạc như thế này"; Ta biết được chư Thiên ấy:
"Chư Thiên này, tuổi thọ dài như thế này, tồn tại lâu
dài như thế này"; Ta biết được chư Thiên ấy: "Chư Thiên
này, trước đây Ta có cùng ở với chư Thiên này, hay trước
đây Ta không có ở cùng với chư Thiên này".
6. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi
nào tri kiến gồm có tám diễn tiến và thuộc thượng giới
Thiên này không được khéo thanh tịnh nơi ta, thời Ta không
có xác chứng trong thế giới chư Thiên với Ma giới, Phạm
Thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và
loài Người, rằng Ta đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Ðẳng
Giác. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào tri kiến gồm có tám
diễn tiến và thuộc thượng giới Thiên này được khéo thanh
tịnh nơi ta, thời Ta có xác chứng trong thế giới chư Thiên
với Ma giới, Phạm Thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn,
chư Thiên và loài Người, rằng Ta đã chứng ngộ Vô Thượng
Chánh Ðẳng Giác. Tri kiến khởi lên nơi Ta: "Bất động là
tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, không
còn tái sanh nữa".
(V) (65) Thắng Xứ
1.- Này các Tỷ-kheo, có tám thắng
xứ này. Thế nào là tám?
2. Một vị tưởng tri nội sắc,
thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng đẹp xấu. Vị
ấy tưởng tri rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta
thấy. Ðó là thắng xứ thứ nhất.
3. Một vị tưởng tri nội sắc,
thấy các loại ngoại sắc, không có hạn lượng đẹp xấu.
Vị ấy tưởng tri rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết,
ta thấy. Ðó là thắng xứ thứ hai.
4. Một vị tưởng tri vô sắc ở
nội tâm, thấy các loại ngoại sắc hạn lượng đẹp xấu.
Vị ấy tưởng tri rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết,
ta thấy. Ðó là thắng xứ thứ ba.
5. Một vị tưởng tri vô sắc ở
nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng đẹp xấu.
Vị ấy tưởng tri rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết,
ta thấy. Ðó là thắng xứ thứ tư.
6. Một vị tưởng tri vô sắc ở
nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh,
tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy tưởng
tri rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy. Ðó
là thắng xứ thứ năm.
7. Một vị tưởng tri vô sắc ở
nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng,
tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Vị ấy tưởng
tri rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy. Ðó
là thắng xứ thứ sáu.
8. Một vị tưởng tri vô sắc ở
nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ,
tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Vị ấy tưởng
tri rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy. Ðó
là thắng xứ thứ bảy.
9. Một vị tưởng tri vô sắc ở
nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng,
tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy
tưởng tri rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy.
Ðó là thắng xứ thứ năm.
Này các Tỷ-kheo, những pháp này
là tám thắng xứ.
(VI) (66) Các Giải Thoát
1.- Này các Tỷ-kheo, có tám giải
thoát này. Thế nào là tám?
2. "Tự mình có sắc, thấy các sắc".
Ðó là giải thoát thứ nhất.
3. "Tưởng tri nội sắc là vô sắc,
thấy các ngoại sắc". Ðó là giải thoát thứ hai.
4. "Chú tâm trên suy tưởng (sắc
là) tịnh". Ðó là giải thoát thứ ba.
5. "Vượt khỏi hoàn toàn sắc tướng,
chấm dứt các tưởng đối ngại, không tác ý đến các tưởng
khác biệt, với suy tư: "Hư không là vô biên", chứng và trú
Không vô biên xứ. Ðó là giải thoát thứ tư.
6. "Vượt khỏi hoàn toàn Hư không
vô biên xứ, với suy tư: "Thức là vô biên", chứng và trú
Thức vô biên xứ ". Ðó là giải thoát thứ năm.
7. "Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô
biên xứ, với suy tư: "Không có vật gì", chứng và trú Vô
sở hữu xứ". Ðó là giải thoát thứ sáu.
8. "Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở
hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là
giải thoát thứ bảy.
9. "Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng
phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng. Ðó là
giải thoát thứ tám.
Này các Tỷ-kheo, có tám giải thoát
này.
(VIII) (67) Phi Thánh Ngôn
1. - Này các Tỷ-kheo, có tám phi
thánh ngôn này. Thế nào là tám?
2. Không thấy nói thấy, không nghe
nói nghe, không nghĩ nói nghĩ, không biết nói biết, thấy nói
không thấy, nghe nói không nghe, nghĩ nói không nghĩ, biết nói
không biết.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám phi
Thánh ngôn.
(VIII) (68) Thánh Ngôn
1. - Này các Tỷ-kheo, có tám thánh
ngôn này. Thế nào là tám?
2. Không thấy nói không thấy, không
nghe nói không nghe, không nghĩ nói không nghĩ, không biết nói
không biết, thấy nói thấy, nghe nói nghe, nghĩ nói nghĩ, biết
nói biết.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám Thánh
ngôn.
(IX) (69) Các Hội Chúng
1. - Này các Tỷ-kheo, có tám hội
chúng này. Thế nào là tám?
2. Hội chúng Sát-đế-lỵ, hội
chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hội chúng Sa-môn, hội
chúng Bốn Thiên vương, hội chúng cõi trời Ba mươi ba, hội
chúng Màra, hội chúng Phạm thiên.
3. Này các Tỷ-kheo, Ta nhớ rằng
Ta đã đi đến hàng trăm hội chúng Sát-đế-lỵ. Tại đấy,
Ta lúc trước có hội họp, lúc trước có nói chuyện, lúc
trước có thảo luận; Tại đấy, dung sắc của họ như thế
nào, dung sắc của Ta trở thành như của họ; giọng nói của
họ như thế nào, giọng nói của Ta trở thành như của họ.
Và Ta, với pháp thoại, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn
khởi, làm cho hoan hỷ. Khi Ta nói, họ không biết Ta là ai.
Họ nói: "Người nói này là ai, Thiên nhân hay loài Người?
". Sau khi thuyết giảng với pháp thoại, thuyết giảng, khích
lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, Ta biến mất. Khi
ta biến mất, họ không biết Ta là ai. Họ nói: "Người biến
mất này là ai, Thiên nhân hay loài Người? "
4. Này các Tỷ-kheo, Ta nhớ rằng
Ta đã đi đến hàng trăm hội họ Bà-la-môn, ... hàng trăm
hội chúng Gia chủ, ... hàng trăm hội chúng Sa-môn, ... hàng
trăm hội chúng Bốn Thiên vương, ... hàng trăm hội chúng cõi
Trời Ba mươi ba,... hàng trăm hội chúng Màra.... hàng trăm
hội chúng Phạm thiên. Tại đấy, Ta lúc trước có hội họp,
lúc trước có nói chuyện, lúc trước có thảo luận; tại
đấy dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta trở
thành như của họ; giọng nói của họ như thế nào, giọng
nói của Ta trở thành như của họ. Và Ta, với pháp thoại,
thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
Khi Ta nói, họ không biết Ta là ai. Họ nói: "Người nói này
là ai, Thiên nhân hay loài Người? ". Sau khi thuyết giảng với
pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ,
Ta biến mất. Khi ta biến mất, họ không biết Ta là ai. Họ
nói: "Người biến mất này là ai, Thiên nhân hay loài Người?
"
Này các Tỷ-kheo, đây là tám hội
chúng.
(X) (70) Ðộng Ðất
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli,
tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào
buổi sáng đắp y, đem theo y và bát, vào Vesàli để khất
thực. Sau khi đi khất thực, ăn xong và trên đường khất
thực trở về, Ngài nói với Tôn giả Ananda:
2. - Này Ananda, hãy lấy tọa cụ,
chúng ta sẽ đi đến Càpàla để nghỉ trưa.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn,
lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.
3. Thế Tôn đi đến đền Càpàla,
sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi,
Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
4. - Này Ananda, khả ái thay Vesàli!
Khả ái thay đền Udena! Khả ái thay đền Gotamaka! Khả ái
thay đền Bahuputtaka! Khả ái thay đền Sattamba! Khả ái thay
đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla! Này Ananda, những
ai đã tu tập bốn thần túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ
xe, làm thành căn cứ địa, kiên trì, tích tập, khéo thực
hành, nếu muốn, này Ananda, người ấy có thể sống một
kiếp hay một phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã
tu tập bốn thần túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm
thành căn cứ địa, kiên trì, tích tập, khéo thực hành. Này
Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống một kiếp hay một phần
kiếp còn lại.
Như vậy, Tôn giả Ananda không thể
nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng của Thế Tôn, sự hiện
tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, Tôn giả không thỉnh cầu
Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn
kiếp, Thiện thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi
ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương
tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho
chư Thiên và loài người ", vì tâm của Tôn giả bị Ma vương
ám ảnh.
5. Lần thứ hai Thế Tôn ... lần
thứ ba, Thế Tôn nói vời Tôn giả Ananda:
6. - Này Ananda, khả ái thay Vesàli!
Khả ái thay đền Udena! Khả ái thay đền Gotamaka! Khả ái
thay đền Bahuputtaka! Khả ái thay đền Sattamba! Khả ái thay
đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla! Này Ananda, những
ai đã tu tập bốn thần túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ
xe, làm thành căn cứ địa, kiên trì, tích tập, khéo thực
hành, nếu muốn, này Ananda, người ấy có thể sống đến
một kiếp hay một phần kiếp còn lại. Này Ananda, Như Lai
đã tu tập bốn thần túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe,
làm thành căn cứ địa, kiên trì, tích tập, khéo thực hành.
Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống một kiếp hay một
phần kiếp còn lại.
Như vậy, Tôn giả Ananda không thể
nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng của Thế Tôn, sự hiện
tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, Tôn giả không thỉnh cầu
Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn
kiếp, Thiện thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi
ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương
tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho
chư Thiên và loài người ", vì tâm của Tôn giả bị Ác Ma
ám ảnh.
7. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả
Ananda:
- Này Ananda, hãy đi và làm những
gì Thầy nghĩ là phải thời.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn,
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng
về Thế Tôn rồi ra đi, ngồi xuống một gốc cây, không xa
Thế Tôn.
8. Rồi Tôn giả Ananda ra đi chưa
bao lâu, Ác ma nói với Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy
diệt độ. Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã
đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời
Thế Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ cho đến
khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử
tinh thông, có huấn luyện, có tin tưởng, đạt được an ổn
khỏi khổ ách, nghe nhiều, thọ trì pháp, thực hành pháp và
tùy pháp, sở hành chơn chánh, hành trì theo pháp; sau khi học
hỏi như bậc Sư trưởng của mình, chưa tuyên bố, thuyết
giảng trình bày xác định, khai minh, phân tích, và giải thích
rõ ràng chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể
bác bỏ, hàng phục với chánh pháp, chưa có thể thuyết pháp
thần diệu".
Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo
của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử tinh thông, có
huấn luyện, có tin tưởng, đạt được an ổn khỏi khổ
ách, nghe nhiều, thọ trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp,
sở hành chơn chánh, hành trì theo pháp; sau khi học hỏi như
bậc Sư trưởng của mình, chưa tuyên bố, thuyết giảng trình
bày xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng
chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, đã có thể bác bỏ,
hàng phục với chánh pháp, có thể thuyết pháp thần diệu".
Bạch Thế Tôn Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ. Bạch
Thế Tôn, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bac5h Thế Tôn, đây là
lời Thế Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ cho
đến khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ
tử tinh thông, có huấn luyện, có tin tưởng ... khi nào những
nam cư sĩ của Ta chưa trở thành, ... khi nào những nữ cư
sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử tinh thông, có huấn
luyện, có tin tưởng, đạt được an ổn khỏi khổ ách, nghe
nhiều, thọ trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, sở hành
chơn chánh, hành trì theo pháp; sau khi học hỏi như bậc Sư
trưởng của mình, chưa tuyên bố, thuyết giảng trình bày
xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng chánh
pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể bác bỏ,
hàng phục với chánh pháp, chưa có thể thuyết pháp thần
diệu".
Bạch Thế Tôn, nay những cư sĩ
của Thế Tôn đã trở thành đệ tử tinh thông, có huấn luyện,
có tin tưởng, đạt được an ổn khỏi khổ ách, nghe nhiều,
thọ trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, sở hành chơn chánh,
hành trì theo pháp; sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên
bố, thuyết giảng trình bày xác định, khai minh, phân tích,
và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên,
đã có thể bác bỏ, hàng phục với chánh pháp, có thể thuyết
pháp thần diệu".
Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy
diệt độ! Thiện Thệ hãy diệt độ! Bạch Thế Tôn, nay đã
đến thời Thế Tôn diệt độ! Bạch Thế Tôn, đây là lời
Thế Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào
Phạm hạnh Ta giảng dạy chưa thịnh đạt, phát triển, quảng
bá, biến mãn, phổ biến, khéo thuyết giảng cho chư Thiên
và loài Người ".
Nay bạch Thế Tôn, Phạm hạnh Thế
Tôn giảng dạy được thịnh đạt, phát triển, quảng bá,
biến mãn, phổ biến, khéo thuyết giảng cho chư Thiên và loài
Người. Nay Thế Tôn hãy diệt độ! Thiện Thệ hãy diệt độ.
Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ!
- Này Ác ma hãy yên tâm, không bao
lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay,
Như Lai sẽ diệt độ!
9. Và tại đền Càpàla, Thế Tôn
chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ hành (không duy trì mạng
sống lâu hơn nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ thọ hành, thời đại
địa chấn động ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời
vang dậy. Lúc bấy giờ, Thế Tôn hiểu ý nghĩa sự kiện này,
liền thốt ra lời cảm hứng như sau:
Mạng sống có hạn hay
vô hạn
Tu sĩ từ bỏ không kéo dài
Nội tâm an lạc, trú Thiền định
Như thoát áo giáp tự ngã mang.
10. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda suy
nghĩ: "Thật là lớn, đất chấn động này. Thật là to lớn,
đất chấn động này, đại địa chấn động ghê rợn, tóc
lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Do nhân gì, do duyên
gì, đại địa chấn động hiển lộ như vậy? "
Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn:
- Thật là lớn, đất chấn động
này. Thật là to lớn, đất chấn động này, đại địa chấn
động ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy.
Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động
hiển lộ như vậy?
11. - Này Ananda, có tám nhân, có
tám duyên, khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám?
12. Này Ananda, đại địa này thiết
lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở trên hư không.
Này Ananda, đến thời gió lớn khởi lên, khi gió lớn thổi
lên nước rung động, và khi nước rung động thì quả đất
rung động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại
địa chấn động.
13. Lại nữa, này Ananda, có Sa-môn
hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được tự tại, hay hàng
chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị
này tu tập địa tưởng có hạn, thủy tưởng vô lượng,
vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động,
chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ hai, duyên thứ
hai, khiến đại địa chấn động.
14. Lại nữa, này Ananda, khi Bồ-tát
từ bỏ thân chư Thiên Tusità (Ðâu-xuất), chánh niệm, tỉnh
giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động,
chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ
ba, duyên thứ ba, khiến đại địa chấn động.
15. Lại nữa, này Ananda, khi Bồ-tát,
chánh niệm, tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai; khi ấy quả đất
này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda,
đó là nhân thứ tư, duyên thứ tư, khiến đại địa chấn
động.
16. Lại nữa, này Ananda, khi Như
Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác; khi ấy quả đất
này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda,
đó là nhân thứ năm, duyên thứ năm, khiến đại địa chấn
động.
17. Lại nữa, này Ananda, khi Như
Lai chuyển bánh xe Pháp; khi ấy quả đất này rung động, chuyển
động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ sáu,
duyên thứ sáu, khiến đại địa chấn động.
18. Lại nữa, này Ananda, khi Như
Lai chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ không duy trì mạng sống
(thọ hành); khi ấy quả đất này rung động, chuyển động,
chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ bảy, duyên
thứ bảy, khiến đại địa chấn động.
19. Lại nữa, này Ananda, khi Như
Lai nhập Vô dư Niết-bàn; khi ấy quả đất này rung động,
chuyển động, chấn động mạnh. Này Ananda, đó là nhân thứ
tám, duyên thứ tám, khiến đại địa chấn động.
Này Ananda, có tám nhân này, tám
duyên này khiến đại địa chấn động.
VIII. Phẩm Song
Ðôi
(I) (71) Lòng Tin (1)
1. - Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo
có lòng tin nhưng có giới; như vậy, vị ấy không đày đủ
chi phần này. Do vậy, cần làm đầy đủ chi phần ấy: "Làm
thế nào để ta được đầy đủ cả lòng tin và giới?".
Và này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có lòng tin và giới, như
vậy, chi phần ấy được đầy đủ.
2. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng
tin, có giới, nhưng không nghe nhiều; như vậy, vị ấy không
đầy đủ chi phần này. Do vậy, cần phải làm đầy đủ
chi phần ấy: "Làm thế nào để ta được đầy đủ cả lòng
tin, giới và nghe nhiều?" Và này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo
có lòng tin, có giới và có nghe nhiều; như vậy chi phần ấy
đã được đầy đủ.
3. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng
tin, có giới, có nghe nhiều, nhưng không thuyết pháp... có
thuyết pháp nhưng không sống với hội chúng... sống với
hội chúng nhưng không vô úy thuyết pháp cho hội chúng... vô
úy thuyết pháp cho hội chúng, nhưng với bốn Thiền thuộc
tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được có khó
khăn, chứng được có mệt nhọc, chứng được có phí sức...;
với bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú,
chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc,
chứng được không phí sức, nhưng không đoạn diệt các lậu
hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng
ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải
thoát; như vậy, vị ấy không đầy đủ chi phần này. Do vậy
cần phải làm cho đầy đủ chi phần ấy : "Làm thế nào để
ta được đầy đủ lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết
pháp, có sống với hội chứng, có vô úy thuyết pháp cho hội
chúng, với bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại
lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không
mệt nhọc, chứng được không phí sức, do đoạn diệt các
lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng
ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải
thoát?" Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới,
có nghe nhiều, có thuyết pháp có sống với hội chúng có
vô úy thuyết pháp cho hội chúng, với bốn Thiền thuộc tăng
thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn,
chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức;
do diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng
trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm
giải thoát, tuệ giải thoát; như vậy, vị ấy được đầy
đủ chi phần ấy.
Thành tựu tám pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được tịnh tín hoàn toàn và được viên
mãn về mọi phương diện.
(II) (72) Lòng Tin (2)
1. - Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có
lòng tin, nhưng không có giới; như vậy, vị ấy không đầy
đủ chi phần này. Do vậy, cần phải làm cho đầy đủ chi
phần ấy: "Làm thế nào để ta có lòng tin và có giới?" Và
này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có lòng tin và có giới; như
vậy chi phần ấy đã được đầy đủ.
2. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng
tin, có giới, nhưng không nghe nhiều... có nghe nhiều nhưng
không thuyết pháp... có thuyết pháp nhưng không sống với
hội chúng... sống với hội chúng nhưng không vô úy thuyết
pháp cho hội chúng... vô úy thuyết pháp cho hội chúng, nhưng
đối với các tịch tịnh giải thoát, vượt qua các sắc thuộc
vô sắc ấy, sống với thân thấm nhuần...; Ðối với các
tịch tịnh giải thoát vượt qua các sắc thuộc vô sắc ấy,
sống với thân thấm nhuần; nhưng không đoạn diệt các lậu
hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng
trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải
thoát; như vậy, vị ấy không đầy đủ chi phần này. Do vậy,
cần phải làm cho đầy đủ chi phần ấy: "Làm thế nào để
ta có được lòng tin, có giới, có nghe nhiều, là vị thuyết
pháp sống với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng,
với các tịch tịnh giải thoát vượt qua các sắc thuộc vô
sắc ấy, sống với thân thấm nhuần, do đoạn diệt các lậu
hoặc,... chứng ngộ, chứng đạt và an trú?" Cho đến khi nào,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, nghe nhiều,
thuyết pháp, sống với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội
chúng, đối với các tịch tịnh giải thoát vượt qua các
sắc thuộc vô sắc ấy, sống với thân thấm nhuần, do đoạn
diệt các lậu hoặc, ... chứng ngộ, chứng đạt và an trú;
như vậy, vị ấy được đầy đủ chi phần ấy.
Thành tựu tám chi phần này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được tịnh tín hoàn toàn và được
viên mãn về mọi phương diện.
(III) (73) Niệm Chết (1)
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Nàtika,
tại Ginjakàvasatha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này
các Tỷ-kheo". "Thưa vâng, bạch Thế Tôn".
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
2. - Niệm chết, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm sung mãn, có quả lớn, có lợi
ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các
Tỷ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.
3. Ðược nói như vậy, một Tỷ-kheo
bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con có tu tập niệm
chết.
- Này các Tỷ-kheo, Thầy tu tập
niệm chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy
nghĩ như sau: "Mong rằng ta sống ngày và đêm tác ý đến lời
dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy,
bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
4. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập
niệm chết.
- Này các Tỷ-kheo, Thầy tu tập
niệm chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy
nghĩ như sau: "Mong rằng ta sống trọn ngày, tác ý đến lời
dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy,
bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
5. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập
niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm
chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy
nghĩ như sau: "Mong rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến
lời dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy,
bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
6. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập
niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm
chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy
nghĩ như sau: "Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn một phần
đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy
của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch
Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
7. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập
niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm
chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy
nghĩ như sau: "Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn nửa phần
đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy
của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch
Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
8. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập
niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm
chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy
nghĩ như sau: "Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt
bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời
dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy,
bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
9. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập
niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm
chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy
nghĩ như sau: "Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt
một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy
của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch
Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
10. Một Tỷ-kheo khác bạch Thế
Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập
niệm chết.
- Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm
chết như thế nào?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy
nghĩ như sau: "Cho đến khi nào sau khi thở vào, ta thở ra, hay
sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến
lời dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy,
bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
11. Ðược nghe nói như vậy, Thế
Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy:
- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu
tập niệm chết như sau: "Mong rằng ta sống ngày và đêm, tác
ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy".
- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu
tập niệm chết như sau: "Mong rằng ta sống trọn ngày tác
ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: "Mong
rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến lời dạy của Thế
Tôn, ta đã làm nhiều như vậy". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
này tu tập niệm chết như sau: "Mong rằng ta sống trọn nửa
ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều
như vậy". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết
như sau: "Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn phần đồ ăn
khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của
Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
này tu tập niệm chết như sau: "Mong rằng cho đến khi nào
ta còn ăn nửa phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy,
ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như
vậy". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như
sau: "Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm
miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của
Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy"... Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
này tu tập niệm chết như sau: "Mong rằng cho đến khi nào
khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến
khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm
nhiều như vậy". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi
là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo
niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. Do vậy, này các
Tỷ-kheo, cần phải tu học như sau: "Hãy sống không phóng dật.
Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết, để đoạn diệt
các lậu hoặc".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy
cần phải học tập.
(IV) (74) Niệm Chết (2)
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Nàtika,
tại Ginjakàvasatha. Tại đấy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được
tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích
lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Vậy tu tập
niệm chết như thế nào, làm cho sung mãn niệm chết như thế
nào để đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, nhập vào bất
tử, cứu cánh bất tử?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi ngày vừa tàn và đêm vừa an trú, suy tư như sau: "Các nhân
duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều: con rắn có thể
cắn ta; con bò cạp có thể cắn ta; hay con rít có thể cắn
ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung; như vậy sẽ chướng ngại
cho ta. Ta có thể vấp ngã và té xuống. Cơm ta ăn có thể
làm ta mắc bệnh khi ăn. hay mật có thể khuấy động ta, đàm
có thể khuấy động ta. Các gió như kiếm có thể khuấy động
ta. Người có thể công kích ta, hay phi nhân có thể công kích
ta, do vậy có thể làm ta mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng
ngại cho ta". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy xét
như sau: "Nếu ta còn có những pháp ác, bất thiện chưa được
đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là
chướng ngại cho ta". Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi
suy xét như vậy, biết được như sau: "Ta có những pháp ác,
bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung
đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta", thời này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các pháp ác, bất thiện
ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn,
tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển chánh niệm và tỉnh
giác. Ví như, này các Tỳ Kheo, áo bị cháy hay đầu bị cháy,
thời để dập tằt áo ấy hay đầu ấy, cần phải tận lực
tác động ước muốn, tinh tấn tinh cần nỗ lực, không có
thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các ác, bất thiện
pháp ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn,
tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm, và
tỉnh giác. Nếu Tỷ-kheo ấy, trong khi suy xét, biết được
như sau: "Ta không có những pháp ác, bất thiện chưa đoạn
tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng
ngại cho ta". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải sống
hoan hỷ hân hoan, ngày đêm cần phải học tập trong các thiện
pháp.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi đêm vừa tàn và ngày vừa an trú, suy tư như sau: "Các nhân
duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều: con rắn có thể
cắn ta; con bò cạp có thể cắn ta; hay con rít có thể cắn
ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng
ngại cho ta. Ta có thể vấp ngã và té xuống. Cơm ta ăn có
thể làm ta mắc bệnh khi ăn. hay mật có thể khuấy động
ta, hay đàm có thể khuấy động ta. Các gió như kiếm có thể
khuấy động ta. Người hay phi nhân có thể công kích ta. Và
như vậy có thể làm ta mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng
ngại cho ta."
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần
phải suy xét như sau: "Nếu ta còn những pháp ác, bất thiện
chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung trong ngày, chúng
có thể là chướng ngại cho ta". Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
trong khi suy xét như vậy biết được như sau: "Ta có những
pháp ác, bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh
chung ngày hôm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta". Này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các pháp ác, bất
thiện ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh
cần, tinh tấn, nỗ lực không có thối chuyển, chánh niệm
và tỉnh giác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy để
đoạn tận các ác, bất thiện pháp ấy, cần phải tận lực
tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không
có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Nếu vị Tỷ-kheo
ấy, trong khi suy xét biết được như sau: "Ta không có những
pháp ác, bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh
chung ngày hôm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta". Này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải sống hoan hỷ, hân hoan,
ngày đêm cần phải học tập trong các thiện pháp.
Này các Tỷ-kheo, niệm về chết
tu tập như vậy làm cho sung mãn như vậy, được quả lớn,
được lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là
bất tử.
(V) (75) Ðầy Ðủ (1)
1. - Này các Tỷ-kheo, có tám đầy
đủ này. Thế nào là tám?
2. Ðầy đủ tháo vát, đầy đủ
phòng hộ, làm bạn với thiện, sống thăng bằng điều hòa,
đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới, đầy đủ bố thí, đầy
đủ trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, có tám đầy đủ
này.
Tháo vát trong công việc,
Không phóng dật nhanh nhẹn,
Sống đời sống thăng bằng,
Giữ tài sản thâu được,
Có tín, đầy đủ giới,
Bố thí, không xan tham,
Rửa sạch đường thượng đạo,
An toàn trong tương lai,
Ðây chính là tám pháp,
Bậc tín chủ tầm cầu,
Bậc chân thật tuyên bố,
Ðưa đến lạc hai đời,
Hạnh phúc cho hiện tại,
Và an lạc tương lai,
Ðây trú xứ gia chủ,
Bố thí tăng công đức.
(VI) (76) Ðầy Ðủ (2)
1. - Này các Tỷ-kheo, có tám đầy
đủ này. Thế nào là tám?
2. Ðầy đủ tháo vát, đầy đủ
phòng hộ, làm bạn với thiện, sống thăng bằng điều hòa,
đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới, đầy đủ bố thí, đầy
đủ trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, có tám đầy đủ này. Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là đầy đủ về tháo vát?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện
nam tử phàm làm nghề gì để sinh sống, hoặc nghề nông,
hoặc đi buôn, hoặc nuôi bò, hoặc làm người bắn cung, hoặc
làm việc cho vua, hoặc bất cứ nghề gì, trong nghề ấy, người
ấy thiện xảo, không biết mệt, biết suy tư phương tiện
vừa đủ để tự làm và điều khiển người khác làm. Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ tháo vát. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là đầy đủ phòng hộ?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, những
tài sản của thiện nam tử, do tháo vát tinh tấn thâu hoạch
được, do sức mạnh cánh tay chất chứa được, do mồ hôi
đổ ra đúng pháp, thâu hoạch được đúng pháp, vị ấy gìn
giữ chúng, phòng hộ và bảo vệ. Làm thế nào các tài sản
này của ta không bị vua mang đi, không bị trộm cướp mang
đi, không bị lửa đốt, không bị nước cuốn trôi, không
bị các người con thừa tự không khả ái cướp đoạt. Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ phòng hộ. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là làm bạn với thiện?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện
nam tử sống tại làng hay tại thị trấn. Tại đấy có những
gia chủ, hay con người gia chủ, những người trẻ được
nuôi lớn trong giới đức, hay những người lớn tuổi được
lớn lên trong giới đức, đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới
đức, đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ
bố thí, đầy đủ trí tuệ, vị ấy giao thiệp, nói chuyện,
thảo luận với những người ấy. Với những người đầy
đủ lòng tin, vị ấy theo học đầy đủ lòng tin; với những
người đầy đủ bố thí, theo học đầy đủ bố thí; với
những người đầy đủ trí tuệ, theo học đầy đủ trí
tuệ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là làm bạn với thiện. Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là sống thăng bằng điều hòa?
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện
nam tử sau khi biết tài sản nhập, sau khi biết tài sản xuất,
sinh sống một cách thăng bằng điều hòa, không quá phung phí,
không quá bỏn xẻn. Người ấy suy nghĩ: "Ðây là tiền nhập
của ta, sau khi trừ đi tiền xuất, còn lại như sau: không
phải là tiền xuất của ta, sau khi trừ tiền nhập, còn lại
như vậy". Ví như, này các Tỷ-kheo, người cầm cân hay đệ
tử người cầm cân, sau khi cầm cân, biết rằng: "Với chừng
ấy, cân nặng xuống; hay với chừng ấy, cân bổng lên". Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử sau khi biết tài sản
nhập, sau khi biết tài sản xuất, sinh sống một cách điều
hỏa, không quá phung phí, không quá bỏn xẻn, người ấy nghĩ
rằng: "Ðây là tiền nhập của ta, sau khi trừ đi tiền xuất
còn lại như vậy; không phải là tiền xuất của ta, sau khi
trừ đi tiền nhập, còn lại như vậy. Này các Tỷ-kheo, nếu
thiện nam tử này, tiền nhập vào ít, nhưng sống nếp sống
rộng rãi (hoang phí), thời người ta nói về người ấy như
sau: "Người thiện nam tử này ăn tài sản của người ấy
như người ăn trái cây sung". Này các Tỷ-kheo, nếu người
thiện nam tử này có tiền nhập lớn, nhưng sống nếp sống
cơ cực, thời người ta sẽ nói về người ấy như sau: "Người
thiện nam tử này sẽ chết như người chết đói". Khi nào,
này các Tỷ-kheo, sau khi biết tài sản nhập, sau khi biết tài
sản xuất, sống nếp sống thăng bằng điều hòa, không quá
phung phí, không quá bỏn xẻn, nghĩ rằng: "Như vậy, tiền
nhập của ta, sau khi trừ đi tiền xuất, còn lại như vậy;
không phải là tiền xuất, sau khi trừ tiền nhập, còn lại
như vậy". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là nếp sống thăng bằng,
điều hòa. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đầy đủ lòng
tin?
7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện
nam tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ Của Như Lai:
"Ðây là Thế Tôn... bậc Ðạo Sư của chư Thiên và loài Người,
Phật, Thế Tôn". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ
lòng tin. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đầy đủ giới?
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện
nam tử từ bỏ sát sanh... từ bỏ không đắm say rượu men,
rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ giới.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đầy đủ bố thí?
9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện
nam tử sống ở gia đình, với tâm không bị c61u uế xan tham
chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay rộng mở, vui thích
từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, vui thích chia xẻ
vật bố thí. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ bố
thí. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đầy đủ, trí tuệ?
10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện
nam tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với
Thánh thể nhập (quyết trạch), chơn chánh, chấm dứt khổ
đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ trí tuệ.
Tháo vát trong công việc,
Không phóng dật, nhanh nhẹn,
Sống đời sống thăng bằng,
Giữ tài sản thâu được,
Có tín, đầy đủ giới,
Bố thí không xan tham,
Rửa sạch đường thượng đạo,
An toàn trong tương lai,
Ðây chính là tám pháp,
Bậc tín chủ tầm cầu,
Bậc chân thật tuyên bố,
Ðưa đến lạc hai đời,
Hạnh phúc cho hiện tại,
Và an lạc tương lai,
Ðây trú xứ gia chủ,
Bố thí tăng công đức.
(VII) (77) Dục
1. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta
gọi các Tỷ-kheo: "Này các Hiền giả Tỷ-kheo".
- Thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả
Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
2. - Này các Hiền giả, có tám hạng
người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là tám?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn khởi lên ước
muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn
để được lợi dưỡng. Dầu cho vị ấy hăng hái, phấn chấn,
tinh tấn để được lợi dưỡng, nhưng lợi dưỡng không
đến. Do không được lợi dưỡng, vị ấy sầu muộn, than
van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo,
vị ấy được gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng,
hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; không
được lợi dưỡng, vị ấy sầu muộn, than khóc, bỏ rơi
diệu pháp.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi
lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn,
tinh tấn để được lợi dưỡng. Do hăng hái, phấn chấn,
tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khơi lên. Với
lợi dưỡng ấy, vị ấy đắm say, phóng dật, rơi vào tình
trạng đắm say, phóng dật. Ðây gọi la Tỷ-kheo sống ham muốn
lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi
dưỡng; được lợi dưỡng, trở thành đắm say, phóng dật
và bỏ rơi diệu pháp.
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh không có tinh tấn, khởi lên
ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn
chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy không
hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn, lợi dưỡng không
khởi lên. Vị ấy do không được lợi dưỡng không khởi
lên. Vị ấy do không được lợi dưỡng, nên sầu muộn, than
van, khóc lóc, đập ngực, rơi và bất tỉnh. Ðây gọi là
Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn
chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; không được
lợi dưỡng, nên sầu muộn, than van và bỏ rơi diệu pháp.
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi
lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không
phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu vị
ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được
lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với lợi dưỡng ấy,
vị ấy đắm say phóng dật, rơi vào trạng thái đắm say,
phóng dật. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo sống ham
muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không
tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, bị
đắm say, bị phóng dật và bỏ rơi diệu pháp.
7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi
lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn,
tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho vị ấy hăng hái,
phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng
không khởi lên. Vị ấy. do không được lợi dưỡng, không
sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập ngực,
không rơi vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo,
sống ham muôn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn
để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, không sầu
muộn, không than van, và không bỏ rơi diệu pháp.
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi
lên ước muốn có lợi dưỡng, vị ấy hăng hái, phấn chấn,
tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy hăng hái, phấn
chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi
lên. Với lợi dưỡng ấy, vị ấy không đắm say, không phóng
dật, vị ấy không có rơi vào đắm say. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, hăng hái,
phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi
dưỡng, không đắm say, không phóng dật, không bỏ rơi diệu
pháp.
9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong
khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn
có lợi dưỡng. Vị ấy không hắng hái, không phấn chấn,
không tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng không
khởi lên. Vị ấy không được lợi dưỡng, không sầu muộn,
không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào
bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo sống ước
muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không
tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng,
không sầu muộn, không than van, không bỏ rơi diệu pháp.
10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi
lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không
phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho
vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để
được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Vị ấy, với lợi
dưỡng ấy, không đắm say, không phóng dật, không rơi vào
trạng thái đám say phóng dật. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không
phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; được
lợi dưỡng, không đăm say, không phóng dật, không bỏ rơi
diệu pháp.
Này các Tỷ-kheo, có tám hạng người
này sống có mặt, hiện hữu ở đời.
(VIII) (78) Vừa Ðủ
1. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta
gọi các Tỷ-kheo:
- Này chư Hiền, thành tựu sáu pháp,
Tỷ-kheo là vừa đủ, cho tự mình, là vừa đủ cho các kẻ
khác. Thế nào là sáu?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người
thọ trì những pháp đã được nghe; là người suy tư ý nghĩa
các pháp đã được thọ trì; sau khi biết ý nghĩa các pháp
đã được thọ trì; sau khi biết ý nghĩa, sau khi biết pháp,
thực hành pháp và tùy pháp; giọng nói dễ nghe, phát âm tốt,
lời nói tao nhã, phân minh, phát ngôn không bập bẹ, giải
thích nghĩa lý minh xác; có khả năng thuyết giảng, khích lệ,
làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vừa
đủ cho tự mình, là vừa đủ cho các người khác.
3. Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo là vừa đủ cho tự mình, là vừa đủ cho các người
khác. Thế nào là năm?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp;
là người thọ trì các pháp được nghe; là người suy tư
ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa; sau
khi hiểu pháp, thực hành pháp và tùy pháp; giọng nói dễ
nghe...; làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh.
Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo là vừa đủ cho tự mình, là vừa đủ cho người
khác.
5. Thành tựu bốn pháp, này các
Tỷ-kheo , Tỷ-kheo là vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ
cho các kẻ khác. Thế nào là bốn?
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
nhanh nhẹn, nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người
thọ trì các pháp được nghe; là người suy tư ý nghĩa các
pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa; sau khi hiểu pháp,
thực hành pháp và tùy pháp; giọng nói không dễ nghe; phát
âm không tốt, lời nói không tao nhã, không phân minh, phát
ngôn bập bẹ, giải thích lý không minh xác; không có khả
năng thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan
hỷ các vị đồng Phạm hạnh.
Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo là vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho các kẻ
khác.
7. Thành tựu bốn pháp, này các
Tỷ-kheo, vừa đủ cho các kẻ khác, không vừa đủ cho tự
mình. Thế nào là bốn?
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp; là người
thọ trì các pháp đã được nghe; không là người suy tư ý
nghĩa các pháp đã được thọ trì; không có sau khi hiểu nghĩa;
sau khi hiểu pháp, thực hành pháp và tùy pháp; giọng nói dễ
nghe; phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát minh không
bập bẹ, giải thích lý minh xác; có khả năng thuyết giảng,
khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị đồng
Phạm hạnh.
Thành tựu bốn pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vừa đủ cho các người khác, không vừa
đủ cho tự mình.
9. Thành tựu bốn pháp, này các
Tỷ-kheo, vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho kẻ khác.
Thế nào là ba?
10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp;
là người thọ trì các pháp đã được nghe; là người suy
tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi hiểu nghĩa;
sau khi hiểu pháp, thực hành pháp và tùy pháp; giọng nói không
dễ nghe ... giải thích nghĩa lý không minh xác; không có khả
năng thuyết giảng... làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh.
Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo là vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho các kẻ
khác
11. Thành tựu ba pháp, này các Tỷ-kheo,
vừa đủ cho các kẻ khác, không vừa đủ cho tự mình. Thế
nào là ba?
12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp;
là người thọ trì các pháp đã được nghe; không là người
suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; không là người
sau khi hiểu nghĩa; sau khi hiểu pháp, thực hành pháp và tùy
pháp; giọng nói dễ nghe ... giải thích nghĩa lý minh xác; có
khả năng thuyết giảng ... làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm
hạnh.
Thành tựu ba pháp này, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo là vừa đủ cho các kẻ khác, không vừa đủ cho tự
mình.
13. Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo là vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ cho người
khác. Thế nào là hai?
14. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp;
không là người thọ trì các pháp đã được nghe; là người
suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; là người sau
khi hiểu nghĩa; sau khi hiểu pháp, thực hành pháp và tùy pháp;
giọng nói không dễ nghe ... giải thích nghĩa lý không minh
xác; không có khả năng thuyết giảng... làm cho hoan hỷ các
vị đồng Phạm hạnh.
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vừa đủ cho tự mình, không vừa đủ
cho các người khác
15. Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo là vừa đủ cho các kẻ khác, không vừa đủ cho tự
mình. Thế nào là hai?
16. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không nhanh nhẹn nắm được ý nghĩa trong các thiện pháp;
không là người thọ trì các pháp đã được nghe; không suy
tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; không là người
sau khi hiểu nghĩa; sau khi hiểu pháp, thực hành pháp và tùy
pháp; giọng nói dễ nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân
minh, phát ngôn không bập bẹ, giải thích nghĩa lý minh xác;
có khả năng thuyết giảng pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn
khởi, làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh.
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vừa đủ cho người khác, không vừa đủ
cho tự mình.
(IX) (79) Thối Ðọa
1. - Này các Tỷ-kheo, có tám pháp
này đưa Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là tám?
2. Ưa thích công việc, ưa thích
nói chuyện, ưa thích ngủ nghỉ, ưa thích hội chúng, không
phòng hộ các căn, không tiết độ trong ăn uống, ưa thích
giao thiệp, ưa thích lý luận.
Này các Tỷ-kheo, tám pháp này đưa
Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa.
3. Này các Tỷ-kheo, có tám pháp
này đưa Tỷ-kheo hữu học đến không thối đọa. Thế nào
là tám pháp?
4. Không ưa thích công việc, không
ưa thích nói chuyện, không ưa thích ngủ nghỉ, không ưa thích
hội chúng, các căn được phòng hộ, tiết độ trong ăn uống,
không ưa thích giao thiệp, không ưa thích lý luận.
Này các Tỷ-kheo, có tám pháp này
đưa Tỷ-kheo hữu học đến không thối đọa.
(X) (80) Tám Căn Cứ Ðể Biếng
Nhác và Tinh Tấn
1. Này các Tỷ-kheo, có tám căn cứ
này để biếng nhác. Thế nào là tám?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
có việc phải làm, vị ấy nghĩ: "Có việc ta sẽ phải làm.
Nhưng nếu ta làm, thời thân sẽ mệt mỏi, vậy ta hãy nằm
xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng tinh tấn để
đạt được những gì chưa đạt, để chứng đắc những
gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng
ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác thứ nhất.
3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
có việc phải làm. Vị ấy suy nghĩ: "Có việc ta đã làm,
do ta đã làm, thân bị mệt mỏi, vậy ta hãy nằm xuống".
Vị ấy nằm xuống, không cố gắng tinh tấn để đạt những
gì chưa đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc,
để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo,
đây là căn cứ biếng nhác thứ hai.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có
con đường Tỷ-kheo cần phải đi. Vị ấy suy nghĩ: "Có con
đường ta sẽ phải đi. Nếu ta đi, thời thân sẽ mệt mỏi,
vậy ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng...
chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác
thứ ba.
5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có
con đường Tỷ-kheo đã đi. Vị ấy suy nghĩ: "Ta đã đi con
đường. Do ta đã đi con đường, nên thân bị mệt mỏi, vậy
ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng...
chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác
thứ tư.
6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đi khất thực trong làng hay trong thị trấn, không nhận được
các đồ ăn loại thô hay tế, đầy đủ như ý muốn. Vị
ấy suy nghĩ: "Ta đi khất thực trong làng hay trong thị trấn,
không nhận được các đồ ăn loại thô hay tế, đầy đủ
như ý muốn. Nay thân ta mệt mỏi, không có thể chịu đựng.
Vậy ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng...
chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác
thứ năm.
7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đi khất thực trong làng hay trong thị trấn, nhận được các
đồ ăn loại thô hay tế, đầy đủ như ý muốn. Vị ấy
suy nghĩ: "Ta đi khất thực trong làng hay trong thị trấn, nhận
được các đồ ăn loại thô hay tế, đầy đủ như ý muốn.
Nay thân ta nặng nề, không có thể chịu đựng, nặng nề
như loại đậu bị ngâm nước. Vậy ta hãy nằm xuống". Vị
ấy nằm xuống, không cố gắng... chưa chứng ngộ. Này các
Tỷ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác thứ sáu.
8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
bị bệnh nhẹ. Vị ấy suy nghĩ: "Nay bệnh nhẹ này khởi lên
nơi ta, có lý do để nằm xuống, vậy ta hãy nằm xuống".
Vị ấy nằm xuống, không cố gắng... chưa chứng ngộ. Này
các Tỷ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác thứ bảy.
9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đau bệnh mới khỏi, mới khỏi bệnh không bao lâu, vị ấy
suy nghĩ: "Ta đau bệnh mới khỏi, mới khỏi bệnh không bao
lâu, thân ta do bệnh bị yếu, không có thể chịu đựng, vậy
ta hãy nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không cố gắng...
chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là căn cứ biếng nhác
thứ tám.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám căn
cứ biếng nhác.
10. Này các Tỷ-kheo, có tám căn
cứ này để siêng năng. Thế nào là tám?
11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
có việc phải làm. Vị ấy nghĩ: "Có việc ta sẽ phải làm.
Nếu ta làm việc, thời không dễ gì để ta tác ý đến lời
dạy của các đức Phật. Vậy trước hết, ta bắt đầu tinh
tấn, để đạt được những gì chưa đạt, để chứng đắc
những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa
chứng ngộ". Vị ấy bắt đầu tinh tấn để đạt được
những gì chưa đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng
đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Này các
Tỷ-kheo, đây là căn cứ siêng năng thứ nhất.
12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đã làm một công việc. Vị ấy suy nghĩ: "Ta đã làm một
công việc. Do ta làm công việc, ta đã không có thể tác ý
đến lời dạy của các đức Phật. Vậy trước hết, ta bắt
đầu tinh tấn, để đạt được những gì chưa đạt, để
chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những
gì chưa chứng ngộ". Vị ấy bắt đầu tinh tấn để đạt
được... chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là căn cứ
siêng năng thứ hai.
13. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
con đường Tỷ-kheo cần phải đi. Vị ấy suy nghĩ: "Ta sẽ
cần phải đi con đường. Do ta đi con đường, không dễ gì
để ta tác ý đến lời dạy của các đức Phật. Vậy trước
hết, ta bắt đầu tinh tấn ... để chứng ngộ những gì chưa
chứng ngộ". Vị ấy bắt đầu tinh tấn để đạt được...
chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là căn cứ siêng năng
thứ ba.
14. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đã đi con đường. Vị ấy suy nghĩ: "Ta đã đi con đường.
Do ta đi con đường, ta đã không có thể nghĩ đến lời dạy
của các đức Phật. Vậy ta hãy bắt đầu tinh tấn... để
chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ". Vị ấy bắt đầu
tinh tấn để đạt được... chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo,
đây là căn cứ siêng năng thứ tư.
15. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi đi khất thực trong làng hay trong thị trấn, không nhận
được các đồ ăn loại thô và loại tế đầy đủ như ý
muốn. Vị ấy suy nghĩ: "Ta đi khất thực trong làng hay trong
thị trấn, không nhận được các đồ ăn loại thô hay loại
tế đầy đủ như ý muốn, thân ta (do vậy) được nhẹ nhàng,
có thể chịu đựng. Vậy ta hãy bắt đầu tinh tấn... để
chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ". Vị ấy bắt đầu
tinh tấn để đạt được... chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo,
đây là căn cứ siêng năng thứ năm.
16. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi đi khất thực trong làng hay trong thị trấn, nhận được
các đồ ăn loại thô và loại tế đầy đủ như ý muốn.
Vị ấy suy nghĩ: "Ta đi khất thực trong làng hay trong thị
trấn, nhận được các đồ ăn loại thô hay loại tế đầy
đủ như ý muốn. Thân ta có sức mạnh, có thể chịu đựng.
Vậy ta hãy bắt đầu tinh tấn... để chứng ngộ những gì
chưa chứng ngộ". Vị ấy bắt đầu tinh tấn ... chưa chứng
ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là căn cứ siêng năng thứ sáu.
17. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
mới khỏi một bệnh nhẹ. Vị ấy suy nghĩ: "Bệnh nhẹ này
khơi lên nơi ta. Sự kiện này có xảy ra: bệnh này có thể
tăng trưởng nơi ta. Vậy trước hết, ta hãy bắt đầu tinh
tấn... chưa chứng ngộ". Này các Tỷ-kheo, đây là căn cứ
siêng năng thứ bảy.
18. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
mới khỏi bệnh, được khỏi bệnh không bao lâu, vị ấy
suy nghĩ: "Ta mới khỏi bệnh, được khỏi bệnh không bao lâu.
Sự kiện này có xảy ra: bệnh này của ta có thể trở lại.
Vậy trước hết, ta hãy bắt đầu tinh tấn để đạt được
những gì chưa đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng
đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ". Vị ấy
bắt đầu tinh tấn, để đạt được những gì chưa đạt,
để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ
những gì chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là căn cứ
siêng năng thứ tám.
Này các Tỷ-kheo, có tám căn cứ
siêng năng này.
IX. Phẩm Niệm
(I) (81) Niệm
1. - Khi chánh niệm, tỉnh giác không
có, này các Tỷ-kheo, với người không có chánh niệm, tỉnh
giác, tàm quý đi đến hủy diệt. Khi tàm quý không có, này
các Tỷ-kheo, với người thiếu tàm quý, chế ngự các căn
đi đến hủy diệt. Khi chế ngự các căn không có, với người
thiếu chế ngự các căn, giới đi đến hủy diệt. Khi giới
không có, với người thiếu giới, chánh định đi đến hủy
diệt. Khi chánh định không có, với người không có chánh
định, tri kiến như thật đi đến hủy diệt. Khi tri kiến
như thật không có, với người thiếu tri kiến như thật,
nhàm chán, ly tham đi đến hủy diệt. Khi nhàm chán, ly tham
không có, với người thiếu nhàm chán, ly tham, giải thoát
tri kiến đi đến hủy diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
cây không có cành và lá, các mầm non của cây ấy không đi
đến thành mãn, vỏ cây, giác cây, lõi cây không đi đến
thành mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi chánh niệm, tỉnh
giác không có, với người không có chánh niệm, tỉnh giác
tàm quý đi đến hủy diệt... giải thoát tri kiến đi đến
hủy diệt.
2. Khi chánh niệm, tỉnh giác có
mặt, với người có chánh niệm, tỉnh giác, tàm quý đi đến
đầy đủ. Khi tàm quý có mặt, này các Tỷ-kheo, với người
đầy đủ tàm quý, chế ngự các căn, đi đến đầy đủ.
Khi chế ngự các căn có mặt, với người đầy đủ chế
ngự các căn, giới đi đến đầy đủ. Khi giới có mặt,
với người đầy đủ giới, chánh định đi đến đầy đủ.
Khi chánh định có mặt, với người đầy đủ chánh định,
tri kiến như thật đi đến đầy đủ. Khi tri kiến như thật
có mặt, với người đầy đủ tri kiến như thật, thời nhàm
chán, ly tham đi đến đầy đủ. Khi nhàm chán, ly tham có mặt,
với người đầy đủ nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến
đi đến đầy đủ. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có
cành và lá, các mầm non và lõi cây đi đến thành mãn, vỏ
cây, giác cây và lõi cây đi đến thành mãn. Cũng vậy, này
các Tỷ-kheo, khi chánh niệm, tỉnh giác có mặt, với người
đầy đủ chánh niệm, tỉnh giác... giải thoát tri kiến đi
đến đầy đủ.
(II) (82) Tôn Gỉả Punniya
1. Rồi Tôn giả Punniya đi đến
Thế Tôn, sau khi đến... Ngồi xuống một bên, Tôn giả Punniya
bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên
gì, có khi Thế Tôn thuyết pháp, có khi Thế Tôn không thuyết
pháp?
2. - Này Punniya, Tỷ-kheo có lòng
tin, không đi đến yết kiến, Thế Tôn không có thuyết pháp.
Khi nào Tỷ-kheo có lòng tin và đi đến yết kiến, như vậy
Thế Tôn có thuyết pháp. Này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, có
đi đến yết kiến, nhưng không có hầu hạ, có hầu hạ nhưng
không hỏi... có hỏi nhưng không lóng tai... có lóng tai nghe
pháp, nhưng nghe pháp không có thọ trì... nghe pháp có thọ
trì nhưng không suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp được thọ
trì... có suy nghĩ các pháp được thọ trì, nhưng sau khi biết
nghĩa, sau khi biết pháp, không thực hành pháp và tùy pháp.
Thế Tôn không thuyết pháp. Khi nào, này Punniya lòng tin , có
đi đến yết kiến, có hầu hạ, có hỏi, có lóng tai nghe,
có thọ trì pháp, có suy tư ý nghĩa các pháp được thọ trì,
sau khi biết nghĩa, sau khi biết pháp, thực hành pháp và tùy
pháp, như vậy, Như Lai có thuyết pháp.
Thành tựu những pháp này, này Punniya,
nhất định Như Lai thuyết pháp.
(III) (83) Cội rễ Của Sự Vật
1. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du
sĩ ngoại đạo đến hỏi: "Thưa Hiền giả, tất cả pháp
lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi?
Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì
làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ?
Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy
gì làm tối thượng? Tất cả này pháp lấy gì làm lõi cây?"
Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời các
du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào?
2. - Bạch Thế Tôn, đối với chúng
con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm
lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết ý nghĩa lời nói này. Sau khi
nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe
và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
3. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du
sĩ ngoại đạo có hỏi như sau: "Thưa Hiền giả, tất cả
pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khỏi?
Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì
làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ?
Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy
gì làm tối thượng? Tất cả này pháp lấy gì làm lõi cây?"
Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời như
sau: "Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả
pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm
tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất
cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm
làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng.
Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". Ðược hỏi như
vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy trả lời cho các du sĩ
ngoại đạo ấy như vậy.
(IV) (84) Ðại Ăn Trộm
1. - Thành tựu tám chi phần, này
các Tỷ-kheo, người ăn trộm lớn mau chóng đi đến đường
cùng, không tồn tại lâu dài. Thế nào là tám?
Ðập người không đập, lấy trộm
không để lại cái gì, giết nữ nhân, hiếp dâm thiếu nữ,
xâm phạm người xuất gia; xâm phạm ngân khố của vua; làm
việc quá gần nhà, và không khéo cất giấu.
Thành tựu tám chi phần này, này
các Tỷ-kheo, người ăn trộm lớn mau chóng đi đến đường
cùng, không tồn tại lâu dài.
3. Thành tựu tám chi phần, này các
Tỷ-kheo, người ăn trộm lớn không mau chóng đi đến đường
cùng, tồn tại được lâu dài. Thế nào là tám?
4. Không đập người không đập,
lấy trộm có để lại cái gì, không giết nữ nhân, không
hiếp dâm thiếu nữ; không xâm phạm người xuất gia, không
xâm phạm ngân khố của vua, không làm việc quá gần nhà,
và khéo léo cất giấu.
Thành tựu tám chi phần này, này
các Tỷ-kheo, một người ăn trộm không mau chóng đi đến
đường cùng, tồn tại được lâu dài.
(V) (85) Người Sa Môn
1. - Sa-môn, này các Tỷ-kheo, là
đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bà-la-môn,
này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác. Bậc Chánh trí, này các Tỷ-kheo, là đồng
nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Dược sư
là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
Bậc Ly cấu, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Như Lai,
bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Bậc Có trí, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
Bậc G