IV. Phẩm
Chư Thiên
(I) (31) Không Phóng Dật
1. Bấy giờ có một Thiên nhân,
sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng
toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên nhân ấy
bạch Thế Tôn:
- Có bảy pháp này, bạch Thế Tôn,
không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn
kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính chúng Tăng; tôn
kính học tập; tôn kính định; tôn kính không phóng dật;
tôn kính nghinh đón. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa
Tỷ-kheo đến đọa lạc.
Thiên nhân ấy nói như vậy. Bậc
Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Thiên nhân ấy với ý nghĩ: "Bậc
Ðạo Sư đã chấp nhận ta", thân phía hữu hướng về Ngài
rồi biến mất tại chỗ.
2. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy
đã qua, liền bảo các vị Tỷ-kheo:
- Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một
Thiên nhân sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng
chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh
lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ-kheo,
Thiên nhân ấy thưa với Ta: "Có bảy pháp, bạch Thế Tôn,
không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn
kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính
học pháp; tôn kính định; tôn kính không phóng dật, tôn kính
nghinh đón. Bảy pháp này bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo
đến đọa lạc". Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như
vậy, sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về
Ta, rồi biến mất tại chỗ.
Kính trọng bậc Ðạo
Sư,
Kính trọng Pháp và Tăng,
Kính trọng định, nhiệt tâm,
Chí thành kính học tập,
Kính trọng không phóng dật,
Chí thành kính nghinh đón,
Không thể bị đọa lạc,
Tỷ-kheo gần Niết-bàn.
(II) (32) Xấu Hổ
1. - Ðêm này, này các Tỷ-kheo, một
Thiên nhân, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng
chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh
lễ Ta rồi đứng một bên, Thiên nhân ấy thưa với Ta: "Có
bảy pháp này, bạch Thế Tôn không đưa Tỷ-kheo đến đọa
lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp;
tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính định; tôn kính
xấu hổ, tôn kính sợ hãi. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn,
không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa". Này các Tỷ-kheo, Thiên
nhân ấy nói như vậy, nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân
bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
Kính trọng bậc Ðạo
Sư,
Kính trọng Pháp và Tăng,
Kính trọng định, nhiệt tâm,
Chí thành kính học pháp,
Ðầy đủ tàm và quý,
Tùy thuận và tôn kính,
Không thể bị đọa lạc,
Vị ấy gần Niết-bàn.
(III) (33) Dễ Nói (1)
... (Giống như kinh 32,
chỉ khác là thay thế hai pháp cuối cùng tàm và quý bằng
thiện ngôn (dễ nói) và thiện bằng hữu)...
(IV) (34) Dể Nói (2)
1. - Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một
Thiên nhân sau khi đêm ấy đã gần mãn, với dung sắc thù
thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến,
đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị ấy
thưa với Ta: "Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo
đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư,
tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính
định; tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu. Bảy
pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc".
Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, sau khi nói xong,
đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại
chỗ.
2. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả
Sàriputta bạch Thế Tôn:
3. - Lời nói vắn tắt này của
Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như
sau: Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc
Ðạo Sư, tán thán sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những
Tỷ-kheo khác không tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy khích lệ
họ tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác
tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy tán thán một cách chơn thật,
chơn chánh, đúng thời. Tự mình tôn kính Pháp... tự mình
tôn kính chúng Tăng... tự mình tôn kính học pháp... tự mình
tôn kính thiện ngôn... tự mình tôn kính thiện bằng hữu,
tán thán sự tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo
khác không tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy khích lệ họ
tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác Tôn
kính thiện bằng hữu, vị ấy tán thán một cách chơn thật,
chơn chánh, đúng thời. Lời nói vắn tắt này các Thế Tôn,
bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như vậy.
4. - Lành thay, lành thay, này Sàriputta!
Này Sàriputta, lời nói vắn tắt này của Ta, đã được Thầy
hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Ở đây, này Sàriputta,
Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư... (như trên, với
những thay đổi cần thiết)... một cách chơn thực, chơn chánh,
đúng thời. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Sàriputta, cần
phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
(V) (35) Bạn Hữu(1)
1. - Thành tựu bảy chi phần, này
các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải thân cận như một người
bạn. Thế nào là bảy?
2. Cho những gì khó cho, làm những
gì khó làm, nhẫn những gì khó nhẫn, nói lên những gì bí
mật của mình, che giấu bí mật của người khác, không từ
bỏ khi gặp bất hạnh, không có khinh rẽ khi tài sản khánh
tận.
Thành tựu bảy chi phần này, này
các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải thân cận như một người
bạn.
Bạn cho điều khó cho,
Làm những điều khó làm,
Kham nhẫn những lời nói,
Thật khó lòng kham nhẫn,
Nói lên bí mật mình,
Che giấu bí mật người,
Bất hạnh, không từ bỏ,
Khánh tận, không chê khinh,
Trong những trường hợp trên,
Tìm được người như vậy,
Với ai cần bạn hữu,
Hãy gần bạn như vậy.
(VI) (36) Bạn Hữu (2)
1. - Thành tựu bảy chi phần, này
các Tỷ-kheo, là người bạn cần phải thân cận, cần phải
giao thiệp, cần phải hầu cận, dầu có bị xua đuổi. Thế
nào là bảy?
2. Khả ái, khả ý; tôn trọng; đáng
được bắt chước; nhà thuyết giả; kham nhẫn lời nói; nói
lời sâu kín; không có hối thúc những điều không hợp lý.
Thành tựu bảy pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là người bạn, cần phải thân cận, cần
phải giao thiệp, cần phải hầu hạ, dầu có bị xua đuổi.
Khả ái và đáng kính,
Ðáng bắt chước, thuyết giả,
Kham nhẫn các lời nói,
Nói những lời thâm sâu,
Không hối thúc ép buộc,
Những điều không hợp lý,
Ai có những pháp này,
Ở đời, người như vậy,
Người ấy là bạn hữu,
Với ai cần bạn hữu,
Người mong muốn lợi ích,
Với lòng từ ai mẫn.
Dầu có bị đuổi xua,
Hãy thân cận bạn ấy.
(VII) (37) Vô Ngại Giải
1. - Thành tựu bảy pháp, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình chứng
ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là
bảy?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: "Ðây là tâm ta
thụ động"; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: "Nội
tâm ta muội lược"; khi nào tâm tán loạn, hướng ngoại".
Như thật rõ biết tâm ta tán loạn hướng ngoại. Vị ấy
nhận thức được các thọ khởi lên, nhận thức được các
thọ an trú, nhận thức được các thọ đi đến tiêu diệt;
nhận thức được các tưởng khởi lên, nhận thức được
các tưởng an trú, nhận thức được các tưởng tiêu diệt;
nhận thức được các tầm khởi lên, nhận thức được các
tầm an trú, nhận thức được các tầm tiêu diệt. Ðối với
các pháp thích hợp hay không thích hợp, đối với các pháp
hạ liệt hay thù thắng, đối với các pháp dự phần đen
hay dự phần trắng, vị ấy khéo nắm giữ tướng, khéo tác
ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.
Thành tựu bảy pháp này, này các
Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình
chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải.
3. Thành tựu bảy pháp này, này
các Tỷ-kheo Sàriputta với thắng trí tự mình chứng ngộ,
chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sàriputta
khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: "Ðây là tâm ta
thụ động"; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: "Nội
tâm ta muội lược";... (như trên, số 2,... chứng đạt và
an trú bốn vô ngại giải).
(VIII) (38) Ðiều Phục
1. - Thành tựu bảy pháp, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo điều phục tâm và không để mình bị tâm
điều phục. Thế nào là bảy?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
thiện xảo về định, thiện xảo nhập định, thiện xảo
an trú định, thiện xảo xuất khỏi định, thiện xảo trong
sự thoải mái của định, thiện xảo trong cảnh giới của
định, thiện xảo trong dẫn phát đến định.
Thành tựu bảy pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo điều phục tâm và không để mình bị tâm
điều phục.
3. Thành tựu bảy pháp, này các
Tỷ kheo, Sariputta điều phục tâm và Sariputta không để mình
bị tâm điều phục. Thế nào là bảy
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sàriputta
thiện xảo về định, thiện xảo nhập định, thiện xảo
an trú định, thiện xảo xuất khỏi định, thiện xảo trong
sự thoải mái về Thiền định, thiện xảo trong cảnh giới
định, thiện xảo trong dẫn phát đến định.
Thành tựu bảy pháp này, này các
Tỷ-kheo, Sàriputta điều phục tâm và Sàriputta không để mình
bị tâm điều phục.
(IX) (39) Sự Thù Diệu (1)
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì,
tại Jetavana, trong khu vườn ông Anathapindika. Bấy giờ Tôn
giả Sàriputta vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthì
để khất thực. Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: "Thật
là quá sớm để đi khất thực ở Sàvatthì, vậy ta hãy đi
đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo". Rồi Tôn giả
Sàriputta đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau
khi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến,
nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón hỏi
thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu,
liền ngồi xuống một bên.
2. Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại
đạo ấy đang ngồi tụ họp và câu chuyện sau đây được
khởi lên: "Này chư Hiền, ai sống mười hai năm hành trì Phạm
hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị
Tỷ-kheo đáng được tán thán". Rồi Tôn giả Sàriputta không
tùy hủy, không chỉ trích lời nói của các du sĩ ngoại đạo
ấy; không tùy hỷ, không chỉ trích, từ chỗ ngồi đứng
dậy và ra đi với ý nghĩ: "Ta sẽ rõ biết ý nghĩa này từ
Thế Tôn".
3. Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi
khất thực ở Sàvatthì xong, sau buổi ăn, trên con đường
đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên,
Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi
sáng, con đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthì để khất thực.
Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Thật là quá sớm
để đi khất thực ở Sàvatthì, vậy ta hãy đi đến khu vườn
của các du sĩ ngoại đạo". Rồi bạch Thế Tôn, con đi đến
khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên
với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm;
sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi,
con ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ, bạch Thế Tôn, các
du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tụ họp và câu chuyện sau
đây được khởi lên: "Này chư Hiền, ai sống mười hai năm
hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ
để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán". Rồi bạch Thế
Tôn, con không tùy hỷ, không chỉ trích lời nói của các du
sĩ ngoại đạo ấy; không tùy hỷ, không chỉ trích, con từ
chỗ ngồi đứng dậy và ra đi với ý nghĩ: "Ta sẽ rõ biết
ý nghĩa này từ Thế Tôn". Bạch Thế Tôn, trong Pháp và Luật
này, có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn
toàn do đếm số năm chăng?
- Này Sàriputta, trong Pháp, và Luật
này, không có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán,
hoàn toàn do đếm số năm. Bảy sự thù diệu này, này Sàriputta,
sau khi với thắng trí, Ta tự chứng ngộ, chứng đạt, an trú,
và tuyên thuyết. Thế nào là bảy?
4. Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo
tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành
trì học pháp; tha thiết quán pháp và trong tương lai khát vọng
quán pháp; tha thiết nhiếp phục lòng dục; và trong tương
lai khát vọng nhiếp phục lòng dục, tha thiết Thiền tịnh,
trong tương lai khát vọng Thiền tịnh; tha thiết tinh cần tinh
tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn; tha thiết
niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ; tha thiết
thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập
tri kiến.
Này Sàriputta, bảy thù diệu sự
này được Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt,
an trú và tuyên thuyết.
5. Thành tựu bảy thù diệu sự
này, này Sàriputta, Tỷ-kheo, nếu trong mười hai năm hành trì
Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói:
"Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!". Nếu trong hai mười bốn
năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa
đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!" Nếu trong
ba mươi sáu năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật
là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!".
Nếu trong bốn mươi tám năm hành trì Phạm hạnh viên mãn
thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng
được tán thán!"
(X) (40) Sự Thù Diệu (2)
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Kosambì,
tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp
y, cầm y bát, đi vào Kosambì để khất thực. Tôn giả Ananda
suy nghĩ: "Thật là quá sớm để đi khất thực ở Kosambì,
vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo".
Rồi Tôn giả Ananda đi đến khi vườn của các du sĩ ngoại
đạo, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy
những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời
chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
2-3. ... (Giống như 2-3 của kinh
trên, chỉ khác Tôn giả Ananda thế cho Tôn giả Sàriputta)...
Thế nào là bảy?
4. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo có
lòng tin, có lòng xấu hổ, có lòng sợ hãi, có nghe nhiều,
có tinh cần tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ.
Bảy thù diệu sự này, này Ananda,
được Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt,
an trú và tuyên thuyết.
5. Thành tựu bảy thù diệu sự
này, này Ananda, Tỷ-kheo nếu trong mười hai năm hành trì Phạm
hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói" Vị
Tỷ-kheo đáng được tán thán!". Nếu trong hai mười bốn năm
hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ
để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!" Nếu trong ba
mươi sáu năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật
là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!".
Nếu trong bốn mươi tám năm hành trì Phạm hạnh viên mãn
thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng
được tán thán!".
V. Phẩm Ðại
Tế Ðàn
(I) (41) Thức Trú
1. - Này các Tỷ-kheo, có bảy thức
trú này. Thế nào là bảy?
2. Có các loài hữu tình, này các
Tỷ-kheo, thân khác, tưởng khác như loài Người, một số
Thiên nhân, một số các loài ở trong đọa xứ. Ðây là thức
trú thứ nhất.
3. Có các loài hữu tình, này các
Tỷ-kheo, thân khác, tưởng là một Phạm chúng thiên được
sanh nhờ chứng sơ Thiền. Ðây là thức trú thứ hai.
4. Có các loài hữu tình, này các
Tỷ-kheo, thân là một, tưởng khác như chư Thiên Quang âm.
Ðây là thức trú thứ ba.
5. Có các loài hữu tình, này các
Tỷ-kheo, thân là một, tưởng là một như chư Thiên Biến
Tịnh. Ðây là thức trú thứ tư.
6. Có các loài hữu tính, này các
Tỷ-kheo, vượt hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các chướng
ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng, đạt đến Không
vô biên xứ, biết rằng: "Hư không là vô biên". Ðây là thức
trú thứ năm.
7. Có các loài hữu tình, này các
Tỷ-kheo, vượt hoàn toàn Không vô biên xứ, đạt đến Thức
vô biên xứ, biết rằng: "Thức là vô biên". Ðây là thức
trú thứ sáu.
8. Có các loài hữu tình, này các
Tỷ-kheo, vượt hoàn toàn Thức vô biên xứ, đạt đến Vô
sở hữu xứ, biết rằng: "Không có vật gì". Ðây là thức
trú thứ bảy.
Này các Tỷ-kheo, có bảy thức trú
này.
(II) (42) Tư Lương Cho Ðịnh
1. - Này các Tỷ-kheo, có bảy tư
lương này của định. Thế nào là bảy?
2. Chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm.
Nhất tâm, này các Tỷ-kheo, được bảy chi phần này làn tư
lương; đây được gọi là Thánh chánh định, này các Tỷ-kheo,
với các sở ý, với các tư lương.
(III) (43) Lửa (1)
1. - Này các Tỷ-kheo, có bảy loại
lửa này. Thế nào là bảy?
2. Lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa
những vị đáng cung kính, lửa gia chủ, lửa các vị đáng
cúng dường, lửa củi.
Này các Tỷ-kheo, có bảy loại lửa
này.
(IV) (44) Lửa (2)
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì,
tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ,
một tế đàn lớn đang được thiết lập cho Bà-la-môn Uggatasarìra,
năm trăm con bò đực được dắt đến trụ tế đàn, năm
trăm con nghé đực được dắt đến trụ tế đàn, năm trăm
con nghé cái được dắt đến trụ tế đàn, năm trăm con dê
được dắt đến trụ tế đàn, và năm trăm con cừu được
dắt đến trụ tế đàn. Rồi Bà-la-môn Uggatasarìra đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào
đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm
thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên,
Bà-la-môn Uggatasarìra thưa với Thế Tôn:
- Tôi được nghe như sau, thưa Tôn
giả Gotama: "Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn
có quả lớn, có lợi ích lớn".
- Này Bà-la-môn, Ta cũng có nghe:
"Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn,
có lợi ích lớn".
Lần thứ hai... Lần thứ ba, Bà-la-môn
Uggatasarìra thưa với Thế Tôn:
- Tôi được nghe như sau, thưa Tôn
giả Gotama: "Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn
có quả lớn, có lợi ích lớn".
- Này Bà-la-môn, Ta cũng có nghe:
"Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn,
có lợi ích lớn".
- Như vậy, thưa Tôn giả Gotama,
chúng ta đồng một mục đích, Tôn giả Gotama và chúng tôi;
thật vậy, chúng ta hoàn toàn đồng nhau.
2. Ðược nghe nói vậy, Tôn giả
Ananda nói với Bà-la-môn Uggatasarìra:
- Này Bà-la-môn, không nên hỏi Như
Lai rằng: "Tôi được nghe như sau, thưa Tôn giả Gotama: "Nhen
nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có
lợi ích lớn". Này Bà-la-môn, cần hỏi Như Lai như sau: "Bạch
Thế Tôn, con muốn nhen nhúm ngọn lửa, con muốn dựng lên
trụ tế đàn. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giáo giới cho con!
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hay thuyết dạy cho con, để con được
hạnh phúc an lạc lâu dài!"
3. Rồi Bà-la-môn Uggatasarìra bạch
Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, con muốn nhen
nhúm ngọn lửa, con muốn dựng trụ tế đàn. Thưa Tôn giả
Gotama, Tôn giả Gotama hãy giáo giới cho con; Tôn giả Gotama
hãy thuyết dạy cho con, để con được hạnh phúc, an lạc
lâu dài.
- Này Bà-la-môn, người nhen nhúm
ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi tế lễ đàn,
dựng lên ba cây kiếm bất thiện đưa đến khổ sanh khổ
dị thục. Thế nào là ba?
4. Thân kiếm, ngữ kiếm, ý kiếm.
Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế
đàn, trước khi lễ tế đàn, khởi lên ý nghĩ: "Chừng ấy
con bò đực cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con
nghé đực cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con
nghé cái cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con dê
cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con cừu cần phải
giết cho lễ tế đàn". Vị ấy nghĩ rằng: "Tôi làm công đức",
lại làm bất thiện; nghĩ rằng: "Tôi tìm con đường đưa
đến cõi lành", lại tìm con đường đưa đến cõi dữ. Này
Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn,
trước khi lễ tế đàn, dựng lên ý kiếm thứ nhất, bất
thiện đưa đến khổ sanh, khổ dị thục.
5. Lại nữa, này Bà-la-môn, người
nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ
tế đàn, nói như sau: "Hãy giết chừng ấy con bò đực cho
lễ tế đàn. Hãy giết chừng ấy con nghé đực cho lễ tế
đàn. Hãy giết chừng ấy con nghé cái cho lễ tế đàn. Hãy
giết chừng ấy con dê cho lễ tế đàn. Hãy giết chừng ấy
con cừu cho lễ tế đàn.". Vị ấy nghĩ rằng: "Tôi làm công
đức", lại làm phi công đức; nghĩ rằng: "Tôi làm thiện",
lại làm bất thiện; nghĩ rằng: "Tôi tìm con đường đưa
đến cõi lành", lại tìm con đường đưa đến cõi dữ. Này
Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn,
trước khi lễ tế đàn, dựng lên ngữ kiếm thứ hai, bất
thiện đưa đến khổ sanh, khổ dị thục.
6. Lại nữa, này Bà-la-môn, người
nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ
tế đàn, tự mình bắt đầu khởi sự công việc: "Hãy giết
các con bò đực cho lễ tế đàn"; tự mình bắt đầu khởi
sự công việc: "Hãy giết các con nghé đực cho lễ tế đàn";
tự mình bắt đầu khởi sự công việc: "Hãy giết các con
nghé cái cho lễ tế đàn"; tự mình bắt đầu khởi sự công
việc: "Hãy giết các con dê cho lễ tế đàn"; tự mình bắt
đầu khởi sự công việc: "Hãy giết các con cừu cho lễ tế
đàn". Vị ấy nghĩ rằng: "Tôi làm công đức", lại làm phi
công đức; nghĩ rằng: "Tôi làm thiện", lại làm bất thiện;
nghĩ rằng: "Tôi tìm con đường đưa đến cõi lành", lại
tìm con đường đưa đến cõi dữ. Này Bà-la-môn, người nhen
nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế
đàn, dựng lên thân kiếm thứ ba, bất thiện đưa đến khổ
sanh, khổ dị thục.
Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn
lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, dựng
lên ba cây kiếm này, đưa đến khổ sanh, khổ dị thục.
7. Này Bà-la-môn, ba ngọn lửa này
cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa. Thế nào là ba?
8. Lửa tham, lửa sân, lửa si. Vì
sao, này Bà-la-môn, lửa tham cần phải đoạn diệt, cần phải
tránh xa, không nên thân cận?
9. Người bị tham làm cho ái nhiễm,
chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này Bà-la-môn, làm ác hạnh
với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý.
Người ấy sau khi làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với
lời nói, làm ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung, sanh
vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do vậy, lửa tham
này cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân
cận. Và này Bà-la-môn, vì sao lửa sân cần phải đoạn tận,
cần phải tránh xa, không nên thân cận?
10. Người bị sân làm cho tức giận,
chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này Bà-la-môn, làm ác hạnh
với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý.
Người ấy sau khi làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với
lời nói, làm ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung sanh
vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do vậy lửa sân
này cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân
cận. Và này Bà-la-môn, vì sao lửa si cần phải đoạn tận,
cần phải tránh xa, không nên thân cận?
11. Người bị si làm cho mê mờ,
chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này Bà-la-môn, làm ác hạnh
với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý.
Người ấy sau khi làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với
lời nói, làm ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung, sanh
vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do vậy lửa si
này cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân
cận.
Ba lửa này, này Bà-la-môn, cần
phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận.
12. Ba lửa này, này Bà-la-môn, được
cung kính, được tôn trọng, được cúng dường, phải đem
lại chánh lạc. Thế nào là ba?
13. Lửa đáng cung kính, lửa gia
chủ, lửa đáng cùng dường. Và này Bà-la-môn, thế nào là
lửa đáng cung kính?
14. Ở đây, này Bà-la-môn, những
người mẹ, những người cha của người ấy, này Bà-la-môn,
đây gọi là lửa đáng cung kính. Vì sao? Vì từ đó lửa đáng
cung kính này khiến cho mang lại, khiến cho sanh ra. Do vậy,
này Bà-la-môn, lửa đáng cung kính này được cung kính, được
tôn trọng, được cúng dường, phải đem lại chánh lạc.
Và này Bà-la-môn, thế nào là lửa gia chủ?
15. Ở đây, này Bà-la-môn, những
người con, những người vợ, những người phục dịch, những
người đưa tin, hoặc những người làm công cho người ấy,
này Bà-la-môn, đây gọi là lửa gia chủ. Do vậy lửa gia chủ
này được cung kính, được tôn trọng, được cúng dường,
phải đem lại chánh lạc. Và này Bà-la-môn, thế nào là lửa
đáng được cúng dường?
16. Ở đây, này Bà-la-môn, những
Sa-môn, Bà-la-môn nào từ bỏ kiêu mạn, phóng dật, sóng kham
nhẫn nhu hòa; mỗi người điều phục tự ngã; mỗi người
an chỉ tự ngã; mỗi người lắng dịu tự ngã. Này Bà-la-môn,
đây gọi là ngọn lửa đáng được cúng dường. Do vậy lửa
đáng được cúng dường này được cung kính, được tôn
trọng, đáng được cúng dường, phải đem lại chánh lạc.
Này Bà-la-môn, ba ngọn lửa này
được cung kính, được tôn trọng, đáng được cúng dường,
phải đem lại chánh lạc.
Còn lửa củi này, này Bà-la-môn,
cần phải thường thường nhen đốt nó lên, cần phải thường
thường chăm sóc duy trì, cần phải thường thường dập tắt,
cần phải thường thường để một bên.
17. Ðược nói như vậy, Bà-la-môn
Uggatasarìra bạch Thế Tôn:
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả
Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama
hãy nhận còn làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung,
con trọn đời quy ngưỡng. Và thưa Tôn giả Gotama, con sẽ
thả năm trăm con bò đực và cho chúng sống; con sẽ thả năm
trăm con nghé đực và cho chúng sống; con sẽ thả năm trăm
con nghé cái và cho chúng sống; con sẽ thả năm trăm con dê
và cho chúng sống; con sẽ thả năm trăm con cừu và cho chúng
sống. Hãy để chúng ăn cỏ xanh; hãy để chúng uống nước
mát; hãy để gió thổi chúng mát.
(V) (45) Tưởng (1)
1. - Có bảy tưởng này, này các
Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn,
có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm
cứu cánh. Thế nào là bảy?
2. Tưởng bất tịnh, tưởng chết,
tưởng nhàm chán đối với các món ăn, tưởng không hoan hỷ
đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng
khổ trong vô thường, tưởng vô ngã trong khổ.
Bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi
ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.
(VI) (46) Tướng (2)
1. - Có bảy tưởng này, này các
Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn,
có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm
cứu cánh. Thế nào là bảy?
2. Tưởng bất tịnh, tưởng chết,
tưởng nhàm chán đối với các món ăn, tưởng không hoan hỷ
đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng
khổ trong vô thường, tưởng vô ngã trong khổ.
3. Tưởng bất tịnh, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi
ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh,
được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như
vậy?
4. Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo
sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui,
tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục;
do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên
nhàm chán. Ví như, này các Tỷ-kheo, lông gà hay là dây gân
quăng vào lửa thời thối lui, trở lưng, quay lưng, và không
căng thẳng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo sống
nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm
trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó
tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống
nhiều với các tưởng bất tịnh, nhưng tâm lại chảy theo,
đắm vào dâm dục, không khởi lên nhàm chán, thời Tỷ-kheo
ấy cần phải hiểu rằng: "Tưởng bất tịnh không được
ta tu tập; ở nơi ta không có sự sai khác trước và sau. Ta
không đạt được quả tu tập". Ở đấy, vị ấy tỉnh giác
như vậy. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các
tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng
để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không
căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán, thời Tỷ-kheo
ấy cần phải hiểu rằng: " Tưởng bất tịnh không được
ta tu tập; ở nơi ta không có sự sai khác trước và sau. Ta
không đạt được quả tu tập". Ở đấy, vị ấy tỉnh giác
như vậy. Tưởng bất tịnh, này các Tỷ-kheo, được tu tập,
được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể
nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh, được nói
đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy.
5. Tưởng chết, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi
ích lớn, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói
đến như vậy?
6. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống
nhiều với tưởng chết, thời tâm thối lui, tâm trở lưng,
quay lưng không thích thú sự sống, do đó tâm vị ấy không
căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán, thời... (như số
4 ở trên, chỉ khác trước là tưởng bất tịnh, đây là
tưởng chết, với sự thay đổi cần thiết)... Do duyên gì
được nói đến như vậy.
7. Tưởng nhàm chán đối với món
ăn, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn,
có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được nói đến.
Do duyên gì được nói đến như vậy?
8. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
sống nhiều với các tưởng đối với các món ăn, thời tâm
thối lui... không tham ái các vị; do đó tâm vị ấy không
căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán, thời... (như số
4 ở trên, chỉ khác đây là tưởng nhàm chán đối với các
món ăn)... Do duyên gì được nói đến như vậy.
9. Tưởng không hoan hỷ đối với
các thế giới, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm
cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, như vậy được
nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
10. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
sống nhiều với tâm không hoan hỷ đối với các thế giới,
thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lòe loẹt
của thế giới; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh
thản, khởi lên nhàm chán, thời... (như số 4 ở trên, chỉ
khác đây là tâm không hoan hỷ đối với các thế giới và
những thay đổi cần thiết)... Do duyên gì được nói đến
như vậy.
11. Tưởng vô thường, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi
ích lớn, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói
đến như vậy?
12. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
sống nhiều với tưởng vô thường, thời tâm thối lui, tâm
trở lưng, quay lưng với các lợi dưỡng, cung kính danh vọng;
do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên
nhàm chán, thời... (như số 4 ở trên, chỉ khác đây là tưởng
vô thường với những thay đổi cần thiết)...
13. Tưởng khổ trên vô thường,
này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có
quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy
bất tử làm cứu cánh, được nói đến như vậy. Do duyên
gì được nói đến như vậy?
14. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
sống nhiều với các tưởng khổ trên vô thường, thời các
tưởng sợ hãi sắc bén được an lập trên thụ động, biếng
nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm, không quán sát;
ví như một kẻ giết người giơ đao lên. Này các Tỷ-kheo,
nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng khổ trên vô thường,
nhưng các tưởng sợ hãi sắc bén không được an lập trên
thụ động, biếng nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm,
không quán sát; thời giống như một kẻ giết người giơ
đao lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng:
"Tưởng khổ trên vô thường không được ta tu tập; ở nơi
ta không có sự sai khác trước và sau. Ta không đạt được
quả của sự tu tập." Ở đây, vị ấy tỉnh giác như vậy.
Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng
khổ trên vô thường, thời các tưởng sợ hãi sắc bén an
lập trên thụ động, biếng nhác, thả lỏng, phóng dật, không
chú tâm, không quán sát, ví như một kẻ giết người giơ
đao lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải hiểu rằng: "Tưởng
khổ trên vô thường không được ta tu tập; ở nơi ta không
có sự sai khác trước và sau. Ta đạt được quả của sự
tu tập." Ở đây, vị ấy tỉnh giác như vậy. Tưởng khổ
trên vô thường, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm
cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào
bất tử, lấy bất tử làm mục đích, được nói đến như
vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy.
15. Tưởng vô ngã trên khổ, này
các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả
lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất
tử làm mục đích, được nói đến như vậy. Do duyên gì
được nói đến như vậy?
16. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
sống nhiều với các tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỷ-kheo,
ý của vị ấy thoát khỏi các tư tưởng ngã, ngã sở, ngã
mạn, đối với cái thân có thức nầy và đối với tất
cả tướng ở ngoài, khéo giải thoát, được an tịnh, vượt
qua các thiên kiến. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều
với tâm chất chứa tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỷ-kheo,
ý của vị ấy không thoát khỏi các tư tưởng ngã, ngã sở,
ngã mạn, đối với cái thân có thức nầy và đối với tất
cả tướng ở ngoài, không khéo giải thoát, không được an
tịnh, không vượt qua các thiên kiến. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ấy cần phải hiểu rằng: "Tưởng vô ngã trên khổ không
được ta tu tập; ở nơi ta không có sự sai khác trước và
sau. Ta không đạt được quả của sự tu tập." Ở đây, vị
ấy tỉnh giác như vậy. Nhưng này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống
nhiều với các tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỷ-kheo,
ý của vị ấy thoát khỏi các tư tưởng ngã, ngã sở, ngã
mạn đối với cái thân có thức và đối với tất cả tướng
ở ngoài, khéo giải thoát, được an tịnh, vượt qua các thiên
kiến. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng:
"Tưởng vô ngã trên khổ được ta tu tập; ở nơi ta có sự
sai khác trước và sau. Ta đạt được quả của sự tu tập."
Ở đây, vị ấy tỉnh giác như vậy. Tưởng vô ngã trên khổ,
này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có
quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy
bất tử làm cứu cánh, được nói đến như vậy. Do duyên
gì được nói đến như vậy.
Bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo,
được tu tập, được làm cho viên mãn, có quả lớn, có lợi
ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.
(VII) (47) Dâm Dục
1. Bấy giờ có Bà-la-môn Jànussoni
đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những
lời chào đón hỏi thăm... Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn
Jànussoni bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, Tôn giả có
tự xem mình là sống Phạm hạnh không?
- Này Bà-la-môn, ai nói một cách
chơn chánh phải nói như sau: "Vị ấy sống Phạm hạnh, không
có bể vụn, không có khuyết phạm, không có nhiễm ô, không
bị điểm chấm, viên mãn, thanh tịnh". Này Bà-la-môn, nếu
nói về Ta một cách chơn chánh, thời phải nói như vậy: "Ta
sống Phạm hạnh, không có bể vụn, không có khuyết phạm,
không có nhiễm ô, không bị điểm chấm, viên mãn, thanh tịnh".
- Thưa Tôn giả Gotama, Phạm hạnh
như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, là bị bể vụn, bị khuyết
phạm, bị ô nhiễm, bị điểm chấm?
2. - Ở đây, này Bà-la-môn, có Sa-môn
hay Bà-la-môn, tự xem mình sống Phạm hạnh một cách chơn
chánh, tuy không có hành dâm với nữ nhân, nhưng hưởng thụ
được nữ nhân thoa, bóp, tắm, xức dầu. Vị ấy thích thú,
ước muốn, bị kích thích bởi nữ nhân. Này Bà-la-môn, đây
gọi là Phạm hạnh bị bể vụn, bị khuyết phạm, bị nhiễm
ô, bị điểm chấm. Này Bà-la-môn, đây gọi là hành Phạm
hạnh không thanh tịnh, bị liên hệ, bị hệ lụy với dâm
dục, không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ,
ưu, não. Ta nói rằng không thoát khỏi khổ.
3. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây
có Sa-môn hay Bà-la-môn, tự xem mình sống Phạm hạnh một
cách chơn chánh, tuy không có hành dâm với nữ nhân, không
có hưởng thụ được nữ nhân thoa, bóp, tắm, xức dầu,
nhưng cười giỡn, chơi đùa, vui chơi với nữ nhân... tuy không
cười giỡn, chơi đùa, vui chơi với nữ nhân, nhưng lấy mắt
nhìn mắt, trừng mắt nhìn theo nữ nhân... tuy không lấy mắt
nhìn mắt, trừng mắt nhìn theo nữ nhân, nhưng nghe tiếng của
nữ nhân, tiếng cười, tiếng nói, tiếng hát, tiếng khóc
ngang qua vách, ngang qua hàng rào... tuy không nghe tiếng của
nữ nhân, tiếng cười, tiếng nói, tiếng hát, tiếng khóc
ngang qua vách, ngang qua hàng rào, nhưng nhớ đến tiếng cười,
tiếng nói, tiếng đùa giỡn trước kia đã có với nữ nhân...
tuy không nhớ đến tiếng cười, tiếng nói, tiếng đùa giỡn
trước kia đã có với nữ nhân, nhưng xem gia chủ hay con gia
chủ thọ hưởng, thưởng thức thích thú trong năm dục công
đức... tuy không xem gia chủ hay con gia chủ thọ hưởng, thưởng
thức thích thú trong năm dục công đức, nhưng sống Phạm
hạnh với tâm nguyện hướng đến một thân chư Thiên, nguyện
rằng: "Với giới này hay với giới cấm này, hay với khổ
hạnh này, hay với Phạm hạnh này, ta sẽ thành một Thiên
nhân này hay một Thiên nhân khác". Vị ấy thích thú, ước
muốn, bị kích thích bởi nữ nhân. Này Bà-la-môn, đấy gọi
là Phạm hạnh bị bể vụn, bị khuyết phạm, bị nhiễm ô,
bị điểm chấm. Này Bà-la-môn, đấy gọi là hành Phạm hạnh
không thanh tịnh, bị liên hệ, bị hệ lụy với dâm dục,
không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não.
Ta nói rằng không giải thoát khỏi khổ.
Cho đến khi nào, này Bà-la-môn,
Ta còn tiếp tục thấy một hay một trong bảy hệ lụy đến
dâm dục này chưa được đoạn tận ở nơi Ta, cho đến khi
ấy, này Bà-la-môn, Ta không có xác chứng rằng, Ta đã chứng
ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác trong thế giới chư Thiên
với Ma giới, Phạm thiên giới, trong quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn,
chư Thiên và loài Người. Và cho đến khi nào, này Bà-la-môn,
Ta tiếp tục không còn thấy một hay một trong bảy hệ lụy
đến dâm dục này đã được đoạn tận ở nơi Ta, cho đến
khi ấy, này Bà-la-môn, Ta không có xác chứng rằng, Ta đã
chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác trong thế giới chư
Thiên với Ma giới, Phạm thiên giới, trong quần chúng Sa-môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Tri và kiến được khởi
lên nơi Ta: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là
đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa".
Ðược nói như vậy, Bà-la-môn Jànussoni
bạch Thế Tôn:
- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!...
Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ này cho
đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
(VIII) (48) Hệ Lụy
1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết
cho các Thầy pháp môn về hệ lụy, và ly hệ lụy, hãy lắng
nghe... Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn về hệ lụy
và ly hệ lụy?
2. Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo,
tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục,
nữ thanh, nữ trang sức, thời nữ nhân ấy tham đắm trong
ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú
tại đấy nên tác ý đến nam căn ở ngoài, nam hành, nam y
phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân
ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong
ấy, thích thú tại đấy nên nữ nhân ấy ước muốn có sự
hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc,
hỷ nên nữ nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy. Này các Tỷ-kheo,
do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi
đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, nữ nhân không có thoát được nữ tánh của mình.
3. Một nam nhân, này các Tỷ-kheo,
tác ý nội nam căn, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục,
nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy tham đắm trong ấy,
thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại
đấy nên tác ý đến nữ căn ở ngoài, nữ hành, nữ y phục,
nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức mà nam nhân ấy
tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong
ấy, thích thú tại đấy nên nam nhân ấy ước muốn có sự
hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc
hỷ nên nam nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy. Này các Tỷ-kheo,
do thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình đi
đến hệ lụy với những người đàn bà. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, nam nhân không thoát khỏi nam tánh của mình. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là hệ lụy. Và này các Tỷ-kheo, như thế
nào là không hệ lụy?
4. Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo,
không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại,
nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không
tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham
đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý
đến nam căn ở ngoài, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục,
nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy không tham đắm trong
ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy,
không thích thú tại đấy nữ nhân ấy không muốn có sự
hệ lụy ở ngoài. Do duyên hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ,
nữ nhân ấy không ước muốn lạc, hỷ ấy. Này các Tỷ-kheo,
do không thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình
không đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, nữ nhân thoát được nữ tánh của mình.
5. Một nam nhân, này các Tỷ-kheo,
không tác ý đến nội nam căn, nam hành, nam y phục, nam loại,
nam dục, nam thanh, nam trang sức thời nam nhân ấy không tham
đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm
trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý đến
nữ căn ở ngoài, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục,
nữ thanh, nữ trang sức mà nam nhân ấy không tham đắm trong
ấy, không thích thú tại đấy. Do không tham đắm trong ấy,
không thích thú tại đấy nên nam nhân ấy không ước muốn
có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi
lên lạc, hỷ nên nam nhân ấy ước muốn lạc, hỷ ấy. Này
các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nam tánh của mình, các
loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những nữ nhân.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, nam nhân thoát được nam tánh của
mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hệ lụy.
Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn
hệ lụy và ly hệ lụy.
(IX) (49) Bố Thí
1. Một thời, Thế Tôn ở Campà,
trên bờ hồ Gaggara. Bấy giờ có nhiều cư sĩ ở Campà đi
đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta
rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nam cư
sĩ ấy thưa với Tôn giả Sàriputta:
- Thưa Tôn giả, đã lâu lắm, chúng
con không được nghe pháp thoại từ miệng Thế Tôn. Lành thay,
thưa Tôn giả, nếu nay chúng con được nghe pháp thoại từ
miệng Thế Tôn!
- Vậy này chư Hiền, hãy đến trong
ngày lễ Trai giới (uposatha), các Thầy sẽ được nghe pháp
thoại từ miệng Thế Tôn.
- Thưa vâng, thưa Tôn giả!
Các nam cư sĩ ở Campà ấy vâng
đáp Tôn giả Sàriputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
Tôn giả Sàriputta, thân bên hữu hướng về Tôn giả rồi
ra đi. Rồi các nam cư sĩ ở Campà, đến ngày lễ Trai giới,
đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả
Sàriputta rồi đứng một bên. Rồi Tôn giả Sàriputta cùng
với các nam cư sĩ ở Campà đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
2. - Có thể, bạch Thế Tôn, ở
đây có hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn,
không được lợi ích lớn. Nhưng bạch Thế Tôn, có thể ở
đây có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được
lợi ích lớn.
- Này Sàriputta, có thể ở đây
có hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn,
không được lợi ích lớn. Có thể, này Sàriputta, ở đây
có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được
lợi ích lớn.
3. - Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do
duyên gì, ở đây có hạng người bố thí như vậy, không
được quả lớn, không được lợi ích lớn? Bạch Thế Tôn,
do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng người bố thí như
vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn?
- Ở đây, này Sàriputta, có người
bố thí với tâm mong cầu, bố thí với tâm trói buộc (về
kết quả), bố thí với tâm mong cầu được chất chứa, bố
thí với ý nghĩ: "Tôi sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau".
Vị ấy bố thí như vậy cho các Sa-môn, Bà-la-môn, bố thí
đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương thơm,
hương liệu, giường nằm, những trú xứ, đèn đuốc. Thầy
nghĩ thế nào, này Sàriputta, ở đây có thể có hạng người
bố thí như vậy không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Ở đây, này Sàriputta, có hạng
người bố thí với tâm mong cầu, bố thí với tâm trói buộc,
bố thí với tâm mong cầu được chất chứa, bố thí với
ý nghĩ: "Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau". Vị ấy
bố thí như vậy, khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng
trú với chư Thiện ở Bốn thiên vương. Và vị ấy, khi nghiệp
được đoạn tận, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền
ấy được đoạn tận, vị ấy trở thành "vị trở lui lại",
trở lui trạng thái này.
4. Ở đây, này Sàriputta, có người
bố thí với tâm không mong cầu, bố thí với tâm trói buộc,
bố thí với tâm mong cầu được chất chứa, bố thí với
ý nghĩ: "Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau", nhưng bố
thí với ý nghĩ: "Lành thay, sự bố thí"... bố thí không với
ý nghĩ: "Lành thay, sự bố thí", nhưng bố thí với không ý
nghĩ: "Cái này đã được cho trong quá khứ, đã được tổ
tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền thống gia
đình này bị bỏ quên"... Hay là người bố thí không với
ý nghĩ: "Cái này đã được cho trong quá khứ, đã được
tổ tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền thống
gia đình này bị bỏ quên", nhưng bố thí với ý nghĩ: "Ta
nấu ăn, các người này không nấu ăn. Ta không nên là người
nấu ăn, lại không bố thí cho người không nấu ăn...", bố
thí không với ý nghĩ: "Ta nấu ăn, các người này không nấu
ăn. Ta không nên là người nấu ăn, lại không bố thí cho
người không nấu ăn", nhưng bố thí với ý nghĩ: "Như các
vị ẩn sĩ thời xưa có những tế đàn lớn như Atthaka, Vàmaka,
Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angìrasa, Bhàradvàja, Vàsettha,
Kassapa, Bhagu; cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố
thí"... Vị ấy bố thí không với ý nghĩ: "Như các vị ẩn
sĩ thời xưa có những tế đàn lớn như Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva,
Vessàmitta, Yamataggi, Angìrasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu;
cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố thí này",
nhưng bố thí với ý nghĩ: "Do ta bố thí vật bố thí này,
tâm được tịnh tín, hỷ duyệt khởi lên"... Vị ấy bố
thí, không với ý nghĩ: "Do ta bố thí vật bố thí này, tâm
được tịnh tín, hỷ duyệt khởi lên". nhưng vị ấy bố
thí với ý nghĩ để trang nghiêm tâm, để trang bị tâm. Và
đối với Sa-môn hay Bà-la-môn, vị ấy bố thí đồ ăn, đồ
uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, hương liệu,
giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Thầy nghĩ thế nào, này
Sàriputta, ở đây, có hạng người có thể bố thí như vậy
không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sàriputta, ở đây, ai bố thí
không với tâm cầu mong, bố thí không với tâm trói buộc,
bố thí không với mong cầu được chất chứa, bố thí không
với ý nghĩ: "Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau", bố
thí không với ý nghĩ: "Lành thay, sự bố thí", bố thí không
với ý nghĩ: "Cái này đã được cho trong đời quá khứ, đã
được tổ tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền
thống gia đình này bị bỏ quên", bố thí không với ý nghĩ:
"Ta nấu ăn, các người này không nấu ăn. Ta không là người
nấu ăn, lại không bố thí cho người không nấu ăn", ... bố
thí không với ý nghĩ: "Như các vị ẩn sĩ thời xưa có những
tế đàn lớn như Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi,
Angìrasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu; cũng vậy, ta sẽ
là người san sẻ các vật bố thí...", bố thí không với
ý nghĩ: "Do ta bố thí vật bố thí này, tâm được tịnh tín,
hỷ duyệt khởi lên". Nhưng vị ấy bố thí với ý nghĩ để
trang nghiêm tâm, để trang bị tâm.. Do vị ấy bố thí như
vậy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với
chư Thiên ở Phạm chúng thiên. Và khi vị ấy, nghiệp được
đoạn tận, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy được
đoạn tận, vị ấy trở thành vị Bất lai, không trở lui
trạng thái này.
Này Sàriputta, đây là nhân, đây
là duyên, khiến cho ở đây, một hạng người bố thí như
vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn. Này
Sàriputta, nhưng đây cũng là nhân, là duyên khiến cho ở đây,
có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được
lợi ích lớn.
(X) (50) Mẹ Của Nanda
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Sàriputta và
Tôn giả Mahàmoggallàna đang du hành ở Dakkhinàgiri, cùng với
đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ
của Nanda thức dậy trước khi mặt trời mọc, và đọc lớn
tiếng bài "Pàràyana" (Con đường đưa đến bờ bên kia). Lúc
bấy giờ, Ðại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) đang đi từ phương
Bắc đến phương Nam vì một vài công việc. Ðại vương Vessavana
nghe nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng
đọc xong bài Pàràyana, liền đứng lại, chờ đợi cho bài
được đọc xong. Và nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi lớn
tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền im lặng. Rồi Ðại vương
Vessavana biết được nữ cư sĩ, mẹ của Nanda đã đọc xong
bài kệ, liền hết sức hoan hỷ và nói:
- Lành thay, này Chị! Lành thay, này
Chị!
- Ngài là ai, hỏi vị có bộ mặt
hiền?
- Này Chị, ta là anh của Chị, Ðại
vương Vessavana!
- Lành thay, hỏi vị có bộ mặt
hiền! Hãy lấy pháp môn được tôi nói đến hôm qua, làm
quà tặng đón khách cho Ngài.
- Lành thay, này Chị! Phải, pháp
môn này hãy là quà tặng đón khách của tôi! Ngày mai, chúng
Tỷ-kheo, với Sàriputta và Moggallàna là các vị cầm đầu,
sẽ đến Velukantaka, nhưng chưa ăn sáng. Sau khi Chị mời chúng
Tỷ-kheo dùng xong, hãy tuyên bố chính ta đã cúng dường.
2. Rồi cư sĩ, mẹ của Nanda, sau
khi đêm ấy đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà của mình
các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm. Rồi chúng
Tăng, với Sàriputta và Moggallàna là vị cầm đầu đi đến
Velukantaka nhưng chưa ăn sáng. Rồi nữ cư sĩ, mẹ của Nanda
bảo một người đi, nói rằng:
- Này Bạn, hãy đi đến khu vườn
và báo thời giờ cho chúng Tỷ-kheo: "Ðã đến giờ, thưa các
Tôn giả! Tại nhà của mẹ Nanda, các món ăn đã được sửa
soạn".
- Thưa vâng, thưa nữ cư sĩ.
Người ấy vâng đáp nữ cư sĩ,
mẹ của Nanda, đi đến khu vườn và báo thời giờ cho chúng
Tỷ-kheo:
- Ðã đến giờ, thưa các Tôn giả!
Tại nhà của mẹ Nanda, các món ăn đã được sửa soạn.
Rồi chúng Tỷ-kheo, với Sàriputta
mà Mahàmoggallàna là vị cầm đầu, vào buổi sáng đắp y,
cầm bát, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ, mẹ của Nanda,
sau khi đến, ngồi xuống trên các chỗ đã soạn sẵn. Rồi
nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, mời chúng Tỷ-kheo với Sàriputta
và Moggallàna là vị cầm đầu, với các món ăn thượng vị
loại cứng và loại mềm, và làm chúng Tỷ-kheo được thỏa
mãn. Rồi nữ cư sĩ, mẹ của Nanda thấy Tôn giả Sàriputta
ăn đã xong, tay đã rút lui khỏi bình bát, liền ngồi xuống
một bên. Tôn giả Sàriputta nói với cư sĩ, mẹ của Nanda
đang ngồi một bên:
- Này Mẹ của Nanda, ai bảo cho Bà
biết chúng Tỷ-kheo sẽ đi tới nhà?
- Ở đây, thưa Tôn giả, con thức
dậy trước khi trời sáng, đọc lớn tiếng bài kệ Pàràyana
rồi im lặng. Rồi thưa Tôn giả, Ðại vương Vessavana sau khi
biết được con đã đọc xong, liền hết sức hoan hỷ và
nói:
- "Lành thay, này Chị! Lành thay,
này Chị!"
- "Ngài là ai, hởi vị có bộ mặt
hiền?"
- "Này Chị, ta là anh của Chị,
Ðại vương Vessavana!"
- "Lành thay, hởi vị có bộ mặt
hiền! Hãy lấy pháp môn được tôi nói đến hôm qua, làm
quà tặng đón khách cho Ngài."
- "Lành thay, này Chị! Phải, pháp
môn này hãy là quà tặng đón khách của tôi! Ngày mai, chúng
Tỷ-kheo, với Sàriputta và Moggallàna là các vị cầm đầu,
sẽ đến Velukantaka, nhưng chưa ăn sáng. Sau khi Chị mời chúng
Tỷ-kheo dùng xong, hãy tuyên bố chính ta đã cúng dường."
Thưa Tôn giả, mong rằng mọi công
đức của buổi cúng dường này sẽ đem lại an lạc cho đại
vương Vessavana!
3. - Thật vi diệu thay, Mẹ của
Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà có thể nói chuyện,
mặt tận mặt với một Thiên tử có đại thần lực như
vậy, có đại uy lực như vậy.
- Thưa Tôn giả, không phải chỉ
có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con.
Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa
Tôn giả, Nanda, đứa con độc nhất của con, khả ái, khả
ý, vì một lý do gì đó, bị các vua dùng sức mạnh bắt giữ
và đoạn mạng sống. Thưa Tôn giả, trong khi đứa trẻ bị
bắt giữ hay đang bị bắt giữ, khi bị trói hay đang bị trói,
khi bị giết hay đang bị giết, con rõ biết tâm của con không
có đổi khác.
4. - Thật vi diệu thay, Mẹ của
Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà đã có thể làm
cho tâm khởi thanh tịnh như vậy.
- Thưa Tôn giả, không phải chỉ
có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con.
Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa
Tôn giả, người chồng của con, khi mạng chung, sanh vào sanh
loại Dạ-xoa, và vị ấy hiện lên trước mặt con, với một
tự ngã như lúc trước. Nhưng thưa Tôn giả, con rõ biết,
không vì nhân duyên ấy, tâm của con có đổi khác.
5. - Thật vi diệu thay, Mẹ của
Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Người dã có thể làm
cho tâm khởi thanh tịnh như vậy.
- Thưa Tôn giả, không phải chỉ
có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con.
Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác. Thưa Tôn giả,
khi còn là thiếu nữ, được đưa đến cho chồng con, con rõ
biết con không có một tâm vi phạm đối với chồng con, huống
nữa là về thân!
6. - Thật vi diệu thay, Mẹ của
Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà đã có thể làm
cho tâm khởi thanh tịnh như vậy.
- Thưa Tôn giả, không phải chỉ
có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con.
Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Thưa Tôn giả,
khi con tự chấp nhận là một nữ cư sĩ, con rõ biết con chưa
từng vi phạm một học pháp nào.
7. - Thật vi diệu thay, Mẹ của
Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Thưa Tôn giả, không
phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối
với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở
đây, thưa Tôn giả, nếu con muốn, con có thể ly dục, ly pháp
bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái
hỷ lạc do ly dục sanh, không tầm không tứ; làm cho tịnh
chỉ tầm và tứ, con chứng đạt và an trú Thiền thứ hai,
một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ,
nội tỉnh nhất tâm; ly hỷ, con trú xả, chánh niệm tỉnh
giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả
niệm lạc trú, con chứng đạt và an trú Thiền thứ ba; đoạn
lạc và đoạn khổ, chấm dứt các hỷ ưu đã cảm thọ trước,
con chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc,
xả niệm thanh tĩnh.
8. - Thật vi diệu thay, Mẹ của
Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda!
- Thưa Tôn giả, không phải chỉ
có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con.
Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa
Tôn giả, năm hạ phần kiết sử được Thế Tôn thuyết giảng,
con thấy rõ không còn pháp nào ở nơi con chưa được đoạn
tận.
9. - Thật vi diệu thay, Mẹ của
Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda!
Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi với
một pháp thoại, nói lên cho nữ cư sĩ mẹ của Nanda, khích
lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng
dậy rồi ra đi.
VI. Phẩm Không
Tuyên Bố
(I) (51) Không Tuyên Bố
1. Bấy giờ một Tỷ-kheo đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên
gì, đối với Thánh đệ tử có nghe nhiều, nghi ngờ không
khởi lên đối với những vấn đề không được tuyên bố?
2. - Này Tỷ-kheo, do kiến diệt,
với vị Thánh đệ từ có nghe nhiều, nghi ngờ không khởi
lên đối với những vấn đề không được tuyên bố: "Sau
khi chết, Như Lai có tồn tại", này Tỷ-kheo, là một tà kiến.
"Sau khi chết, Như Lai không tồn tại", này Tỷ-kheo, là một
tà kiến. "Sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không tồn
tại", này Tỷ-kheo, là một tà kiến. "Sau khi chết, Như Lai
không có tồn tại và không không tồn tại", này Tỷ-kheo,
là một tà kiến. Này Tỷ-kheo, kẻ phàm phu không có nghe nhiều,
không tuệ tri kiến, không tuệ tri kiến tập khởi, không tuệ
tri kiến đoạn diệt, không tuệ tri con đường đưa đến
kiến đoạn diệt; kiến ấy của người ấy tăng trưởng.
Người ấy không thoát khỏi khổ". Này Tỷ-kheo, vị Thánh
đệ tử có nghe nhiều, tuệ tri kiến, tuệ tri kiến tập khởi,
tuệ tri kiến đoạn diệt, tuệ tri con đường đưa đến kiến
đoạn diệt; kiến của người ấy tiêu diệt. Người ấy
giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta
nói rằng: "Người ấy thoát khỏi khổ". Này Tỷ-kheo, do biết
vậy, do thấy vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều không
có tuyên bố: "Sau khi chết, Như Lai có tồn tại", không có
tuyên bố: "Sau khi chết, Như Lai không có tồn tại", không
có tuyên bố: "Sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không tồn
tại", không có tuyên bố: "Sau khi chết, Như Lai không tồn
tại và không không tồn tại". Do biết vậy, do thấy vậy,
này Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều có một thái
độ không tuyên bố đối với những vấn đề không được
tuyên bố. Do biết vậy, do thấy vậy, này Tỷ-kheo, vị Thánh
đệ tử không có sợ hãi, không có rung động, không có chấn
động, không rơi vào hoảng sợ đối với các vấn đề không
được tuyên bố: "Sau khi chết, Như Lai có tồn tại", này
Tỷ-kheo, thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc về
tư duy, thuộc về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc về
truy hối. "Sau khi chết, Như Lai không tồn tại", này Tỷ-kheo,
thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc về tư duy, thuộc
về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc về truy hối. "Sau
khi chết, Như Lai có tồn tại và không tồn tại", này Tỷ-kheo,
thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc về tư duy, thuộc
về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc về truy hối. "Sau
khi chết, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại",
này Tỷ-kheo, thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc
về tư duy, thuộc về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc
về truy hối. Này Tỷ-kheo, kẻ phàm phu nghe ít, không tuệ
tri truy hối, không tuệ tri truy hối tập khởi, không tuệ
tri truy hối đoạn diệt, không tuệ tri con đường đưa đến
truy hối đoạn diệt. Truy hối của người ấy tăng trưởng.
Người ấy không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi,
khổ, ưu, não. Ta nói rằng: "Người ấy không thoát khỏi khổ".
Này Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có nghe nhiều, tuệ tri truy hối,
tuệ tri truy hối tập khởi, tuệ tri truy hối đoạn diệt,
tuệ tri con đường đi đến truy hối đoạn diệt. Truy hối
của vị ấy tiêu diệt. Vị ấy giải thoát khỏi sanh, già,
chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: "Người ấy thoát
khỏi khổ". Do biết vậy, do thấy vậy, này Tỷ-kheo, Thánh
đệ tử nghe nhiều, không tuyên bố: "Sau khi chết, Như Lai
có tồn tại", không tuyên bố: "Sau khi chết, Như Lai không
tồn tại", không tuyên bố: "Sau khi chết, Như Lai có tồn tại
và không tồn tại", không tuyên bố: "Sau khi chết, Như Lai
không tồn tại và không không tồn tại". Do biết vậy, do
thấy vậy, này Tỷ-kheo, Thánh đệ tử không có sợ hãi, không
có rung động, không có chấn động, không rơi vào hoảng sợ
đối với các vấn đề không được tuyên bố. Này các Tỷ-kheo,
đây là chơn, đây là duyên, đối với Thánh đệ có nghe nhiều,
nghi ngờ nhiều khởi lên đối với những vấn đề không
được tuyên bố.
(II) (52) Sanh Thú Của Loài Người
1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng
về bảy sanh thú của loài Người, và không chấp thủ Niết-bàn.
Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỷ-kheo. Thế nào là bảy
sanh thú của loài Người?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi thực hành như vậy suy nghĩ như sau: "Nếu cái này
không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này
sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì đó,
cái gì được thành, ta đều từ bỏ". Vị ấy có được
xả. Vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích
tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường
vô thượng tịch tịnh. Vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn
hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn
hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn
hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn
vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần
kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn. Ví như,
này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy
cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng
ra và trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: "Nếu cái này không có,
cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không
có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được
thành, ta đều từ bỏ". Vị ấy có được xả, vị ấy không
tham đắm hữu, không tham đắm hậu hữu; với chánh trí tuệ,
vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh. Và vị
ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị
ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị
ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên.
Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên.
Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được
Trung gian Niết-bàn.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong thực hành suy nghĩ như sau: "Nếu cái này không có, cái
này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có,
cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được
thành, ta đều từ bỏ". Vị ấy có được xả, vị ấy không
tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với
chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch
tịnh và vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường
ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy
miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham
tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô
minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy
chứng được Trung gian Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo,
một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được
đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên
và trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: "Nếu cái này không có,
cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không
có, cái này sẽ không phải của ta...". Vị ấy đoạn diệt
tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian
Niết-bàn.
4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo trong khi thực hành suy nghĩ như sau: "Nếu cái này không
có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không
có, cái này sẽ không phải của ta...". Vị ấy đoạn diệt
tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian
Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt
được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng
vụn có thể văng ra, có thể bay lên, sau khi chưa chạm vào
đất, có thể trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: "Nếu cái này
không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này
sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta...". Vị ấy,
sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được
Trung gian Niết-bàn.
5. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: "Nếu cái này
không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này
sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta...". Vị ấy,
do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Tổn hại
Bát-niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng
sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một
miếng vụn có thể văng ra , có thể bay lên, sau khi chưa chạm
vào đất, có thể trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: "Nếu
cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu
cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta...". Vị
ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Tổn
hại Bát-niết-bàn.
6. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo trong khi thực hành suy nghĩ như sau: "Nếu cái này không
có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không
có, cái này sẽ không phải của ta...". Vị ấy, do đoạn diệt
năm hạ phần kiết sử, chứng được Vô hành Niết-bàn. Ví
như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt
cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể
văng ra, có thể bay lên, có thể rơi xuống trên một đống
cỏ nhỏ, hay trên một đống củi nhỏ; miếng vụn ấy ở
đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói. Sau khi sanh ra ngọn lửa,
sau khi sanh ra khói, nó đốt chát tiêu hết đồng cỏ nhỏ
ấy, hay đống củi nhỏ ấy, rồi trở thành nguội lạnh vì
không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong
khi thực hành, suy nghĩ như sau: "Nếu cái này không có, cái
này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có,
cái này sẽ không phải của ta...". Vị ấy, do đoạn diệt
năm hạ phần kiết sử, chứng được Vô hành Niết-bàn.
7. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
vị Tỷ-kheo khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: "Nếu
cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu
cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta...". Vị
ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu
hành Bát-niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát
bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh,
một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, có thể rơi
xuống trên một đống cỏ , hay trên một đống củi rộng
lớn; miếng vụn ấy ở đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói.
Sau khi sanh ra ngọn lửa, sau khi sanh ra khói, nó đốt chát tiêu
hết đồng cỏ , hay đống củi rộng lớn ấy, rồi trở thành
nguội lạnh vì không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: "Nếu
cái này không có, cái này sẽ không phải của ta. Nếu cái
này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta...". Vị ấy,
do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu hành
Bát-niết-bàn.
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trong khi thực hành như vậy suy nghĩ như sau: "Nếu cái này
không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này
sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái
gì được thành, ta đều từ bỏ.". Vị ấy có được xả,
vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ
của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường
vô thượng tịch tịnh và vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn
hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn
hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn
hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn
vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần
kiết sử, vị ấy chứng được Thượng lưu, đi đến Sắc
cứu cánh. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt
được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng
vụn có thể văng ra, có thể bay lên, có thể rơi xuống trên
một đống cỏ, hay trên một đống củi to lớn; miếng vụn
ấy ở đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói. Sau khi sanh ra ngọn
lửa, sau khi sanh ra khói, nó đốt chát tiêu hết đồng cỏ,
hay đống củi to lớn ấy, thiêu cháy lùm cây, thiêu cháy rừng
rậm. Sau khi thiêu cháy thảo nguyên, sau khi thiêu cháy rừng
rậm, nó cháy lan đến đám ruộng xanh hay đến đám đất
cao, hay đến hòn đá, hay đến dòng nước, hay đến đám đất
khả ái, hay đến một phần đất nào rồi trở thành nguội
lạnh vì không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: "Nếu
cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu
cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta...". Vị
ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Thượng
lưu Bát-niết-bàn, đi đến Sắc cứu cánh.
Này các Tỷ-kheo, đây là bảy sanh
thú của loài Người. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Không
chấp thủ Bát-Niết-bàn?
9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Tỷ-kheo khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: "Nếu cái
này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái
này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có,
cái gì được thành, ta đều từ bỏ.". Vị ấy có được
xả, vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích
tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường
vô thượng tịch tịnh và vị ấy chứng đắc trọn vẹn hoàn
toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn
toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn
toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn
hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết
sử, vị ấy tự mình với thắng trí, ngay trong hiện tại,
chứng nhập, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát,
tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Không chấp
thủ Bát-niết-bàn. Và này các Tỷ-kheo, đây là bảy sanh thú
của loài Người và Không chấp thủ Bát-niết-bàn.
(III) (53) Tissa
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Rajagaha
(Vương Xá), tại núi Gijjihakuta (Linh Thứu). Bấy giờ có hai
Thiên nhân sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng
chói sáng toàn vùng Gijjihakuta, đi đến Thế Tôn, sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Sau khi đứng một
bên, một Thiên nhân bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, những Tỷ-kheo-ni
này được giải thoát.
Thiên nhân khác bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, những Tỷ-kheo-ni
này khéo giải thoát, không có dư y.
Các Thiên nhân ấy nói như vậy.
Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi các Thiên nhân ấy, sau khi được
biết: "Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận", đảnh lễ Thế Tôn,
thân bên hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ. Rồi
Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, bảo các Tỷ-kheo:
- Ðêm này, này các Tỷ-kheo, có
hai Thiên nhân sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng
chói sáng toàn vùng Gijjihakuta, đi đến Ta, sau khi đến, đảnh
lễ Ta rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, một Thiên
nhân bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, những Tỷ-kheo-ni này được
giải thoát". Thiên nhân khác bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn,
những Tỷ-kheo-ni này khéo giải thoát, không có dư y". Này
các Tỷ-kheo, các Thiên nhân ấy nói như vậy. Sau khi nói như
vậy, các Thiên nhân ấy đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng
về Ta, rồi biến mất tại chỗ.
2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahàmoggallàna
ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi Tôn giả Mahàmoggallàna
suy nghĩ như sau: "Những Thiên nhân nào có trí như sau: "Có
dư y là có dư y" hay "không có dư y là không có dư y"". Lúc
bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Tissa mạng chung không bao lâu và
được sanh lên một Phạm thiên giới. Tại đấy, họ được
biết vị ấy là Phạm thiên Tissa, có đại thần lực, có
đạt uy lực. Rồi Tôn giả Mahàmoggallàna, như người lực
sĩ duỗi cánh đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra;
cũng vậy, biến mất ở Gijjihakuta và hiện ra ở Phạm thiên
giới ấy. Phạm thiên Tissa thấy Tôn giả Mahàmoggallàna từ
xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Tôn giả Mahàmoggallàna:
- Hiền giả Moggallàna, hãy đến
đây! Thiện lai Hiền giả Moggallàna! Ðã lâu, Hiền giả Moggallàna
mới tạo cơ hội này, tức là đến đây. Hãy ngồi, Hiền
giả Moggallàna, đây là chỗ ngồi đã soạn sẵn!
Tôn giả Mahàmoggallàna ngồi xuống
trên chỗ đã soạn sẵn. Phạm thiên Tissa đảnh lễ Tôn giả
Mahàmoggallàna rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahàmoggallàna
nói với Phạm thiên Tissa đang ngồi xuống một bên:
- Những Thiên nhân nào có trí như
sau: "Có dư y là có dư y" hay "không có dư y là không có dư
y". Thưa Hiền giả Moggallàna, Phạm chúng thiên có trí như
sau: "Có dư y là có dư y" hay "không có dư y là không có dư
y".
- Này Tissa, có phải tất cả chư
Thiên ở Phạm chúng thiên đều có trí như vậy: "Có dư y
là có dư y" hay "không có dư y là không có dư y"?
3. - Thưa Hiền giả, không phải
tất cả chư thiên ở Phạm chúng thiên đều có trí như vậy:
"Có dư y là có dư y" hay "không có dư y là không có dư y".
Thưa Hiền giả Moggallàna, những Thiên nhân nào ở Phạm chúng
thiên bằng lòng với tuổi thọ Phạm thiên, bằng lòng với
dung sắc Phạm thiên, với an lạc Phạm thiên, với danh tiếng
Phạm thiên, với uy quyền Phạm thiên, không như thật rõ biết
sự xuất ly cao hơn trạng thái ấy. Những vị ấy không có
trí như sau: "Có dư y là có dư y" hay "không có dư y là không
có dư y". Và thưa Hiền giả Moggallàna, những Thiên nhân nào
ở Phạm chúng thiên, không bằng lòng với tuổi thọ Phạm
thiên, không bằng lòng với dung sắc Phạm thiên, với an lạc
Phạm thiên, với danh tiếng Phạm thiên, với uy quyền Phạm
thiên, như thật rõ biết sự xuất ly cao hơn trạng thái ấy;
những vị ấy có trí như sau: "Có dư y là có dư y" hay "không
có dư y là không có dư y".
4. Ở đây, thưa Hiền giả Moggallàna,
Tỷ-kheo được giải thoát cả hai phần. Chư Thiên ấy biết
về vị ấy như sau: "Tôn giả này được giải thoát cả hai
phần". Khi thân còn tồn tại, các Thiên nhân và loài Người
thấy được vị ấy. Khi thân hoại, các Thiên nhân và loài
người không thấy được vị ấy. Như vậy, thưa Hiền giả
Moggallàna, các Thiên nhân ấy, có trí như sau: "Không có dư
y là không có dư y".
5. Nhưng ở đây, thưa Hiền giả
Moggallàna, Tỷ-kheo được tuệ giải thoát, chư Thiên ấy biết
về vị ấy như sau: "Tôn giả này được tuệ giải thoát".
Khi thân còn tồn tại, các Thiên nhân và loài Người thấy
được vị ấy. Khi thân hoại, các Thiên nhân và loài Người
không thấy được vị ấy. Như vậy, thưa Hiền giả Moggallàna,
các Thiên nhân ấy có trí như sau: "Không có dư y là không
có dư y".
6. Nhưng ở đây, thưa Hiền giả
Moggallàna, Tỷ-kheo thân chứng, chư Thiên ấy biết về vị
ấy như sau: "Tôn giả này là vị thân chứng. Rất có thể
Tôn giả này, do sử dụng các sàng tọa thích đáng, do thân
cận các thiện bằng hữu, do chế ngự các căn, vị ấy có
thể ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ,
chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, mà
các thiện nam tử vì mục đích ấy chơn chánh xuất gia, từ
bỏ gia đình, sống không gia đình". Như vậy, thưa Hiền giả
Moggallàna, các Thiên nhân ấy có trí như sau: "Có dư y là có
dư y".
7. Nhưng ở đây, thưa Hiền giả
Moggallàna, Tỷ-kheo kiến chí... tín giải thoát... tùy pháp
hành. Chư Thiên ấy biết về vị ấy như sau: "Tôn giả này
là vị tùy pháp hành. Rất có thể Tôn giả này, do sử dụng
các sàng tọa thích đáng, do thân cận các thiện bằng hữu,
do chế ngự các căn, vị ấy có thể ngay trong hiện tại tự
mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú vô
thượng cứu cánh Phạm hạnh, mà các thiện nam tử vì mục
đích ấy chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình". Như vậy, thưa Hiền giả Moggallàna, các Thiên nhân
ấy có trí như sau: "Hay trong các vị có dư y, vị ấy là vị
có dư y".
8. Rồi Tôn giả Moggallàna hoan hỷ
tín thọ lời nói của Phạm thiên Tissa. Như một người lực
sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi
ra; cũng vậy, Tôn giả biến mất ở Phạm thiên giới, hiện
ra ở núi Gijjihakùta. Rồi Tôn giả, Mahàmoggallàna đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàmoggallàna, đem
câu chuyện nói với Phạm thiên Tissa như thế nào, tường
thuật hết tất cả cho Thế Tôn nghe.
- Nhưng này Moggallàna, Phạm thiên
Tissa không nói cho Thầy về hạng người vô tướng trú thứ
bảy.
- Bạch Thế Tôn, nay là thời, bạch
Thiện Thệ, nay là thời để Thế Tôn nói về người trú
vô tướng thứ bảy. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ
thọ trì.
- Này Moggallàna, hãy lắng nghe.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahàmoggallàna vâng đáp
Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
9. - Ở đây, này Moggallàna, Tỷ-kheo
không tác ý tất cả tướng, chứng đạt vô tướng tâm định
và an trú. Các Thiên nhân ấy biết về vị ấy như sau: "Tôn
giả này, do không tác ý tất cả tướng, chứng đạt và an
trú vô tướng tâm định. Rất có thể Tôn giả này do sử
dụng các sàng tọa thích đáng, do thân cận các thiện bằng
hữu, do chế ngự các căn, vị ấy có thể ngay trong hiện
tại tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an
trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà các thiện nam tử
vì mục đích ấy chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình". Như vậy, này Moggallàna, các Thiên nhân ấy
có trí ấy như sau: "Có dư y là có dư y".
(IV) (54) Sìha
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Vesali,
tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi tướng quân
Sìha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi
ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tướng quân Sìha
bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể
nêu rõ kết quả hiện tại của sự bố thí?
2. - Này Sìha, ở đây Ta sẽ hỏi
Ông. Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy. Ông
nghĩ thế nào, này Sìha, ở đây có hai người: một người
không có lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu; một người
có lòng tin là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ,
nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán có lòng từ mẫn,
sẽ có lòng từ mẫn với ai trước, với người không có
lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu hay với người có lòng
tin, là người chí thủ, không có chấp thủ?
- Bạch Thế Tôn, hạng người không
có lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu, làm sao các vị A-la-hán
có lòng từ mẫn, sẽ có lòng từ mẫn với hạng người này
trước được? Và bạch Thế Tôn, người nào có lòng tin,
là người thí chủ, không có chấp thủ, các vị A-la-hán có
lòng từ mẫn, sẽ có lòng từ mẫn với hạng người này
trước.
3. - Ông nghĩ thế nào, này Sìha,
các vị A-la-hán đi đến thăm, có thể đến thăm ai trước,
hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu,
hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích
không chấp thủ?
- Bạch Thế Tôn, hạng người không
có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu, làm sao các vị A-la-hán
đi đến thăm, có thể đến thăm trước được? Và bạch
Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, không
có chấp thủ, các vị A-la-hán đi đến thăm sẽ đi đến
hạng người này trước.
4. - Ông nghĩ thế nào, này Sìha,
các vị A-la-hán thọ lãnh đồ ăn khất thực, có thể thọ
lãnh của ai trước, hạng người không có lòng tin, xan tham,
keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người
thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
- Bạch Thế Tôn, hạng người không
có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao các vị A-la-hán
thọ lãnh, có thể thọ lãnh của hạng người ấy trước
được? Và bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người
thí chủ, ưa thích không chấp thủ, các vị A-la-hán có thể
thọ lãnh của hạng người này trước.
5. - Ông nghĩ thế nào, này Sìha,
các vị A-la-hán thuyết pháp cho ai trước, hạng người không
có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có
lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
- Bạch Thế Tôn, hạng người không
có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao các vị A-la-hán
thuyết pháp sẽ thuyết pháp cho hạng người ấy trước được?
Và bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí
chủ, ưa thích không chấp thủ, các vị A-la-hán thuyết pháp
có thể thuyết pháp cho hạng người này trước.
6. - Ông nghĩ thế nào, này Sìha,
danh tiếng tốt đẹp của ai được truyền rộng ra, hạng
người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng
người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp
thủ?
- Bạch Thế Tôn, hạng người không
có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao danh tiếng tốt
đẹp của hạng người ấy được truyền rộng ra? Bạch Thế
Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích
không chấp thủ, danh tiếng tốt đẹp của hạng người này
có thể được truyền rộng ra.
7. - Ông nghĩ thế nào, này Sìha,
ai đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly,
hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc
hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè, hạng
người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng
người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp
thủ?
- Bạch Thế Tôn, hạng người không
có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao hạng người
ấy đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly,
hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc
hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè được?
Bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ,
ưa thích không chấp thủ, hạng người ấy đi đến bất cứ
hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng
Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn,
đi đến không sợ hãi, không rụt rè.
8. - Ông nghĩ thế nào, này Sìha,
sau khi thân hoại mạng chung, ai có thể sanh lên thiện thú,
thiên giới, cõi đời này, hạng người không có lòng tin,
xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là
người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
- Bạch Thế Tôn, hạng người không
có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao hạng người
ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ có thể sanh lên thiện
thú, thiên giới, cõi đời này? Bạch Thế Tôn, hạng người
có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ,
hạng người này, sau khi thân hoại mạng chung, ai có thể sanh
lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này
9. Bạch Thế Tôn, sáu kết quả
hiện tại của bố thí này được Thế Tôn tuyên bố không
phải vì họ, con đi đến lòng tin đối với Thế Tôn. Con
biết họ. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người
thí chủ. Các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, có lòng từ mẫn
với con trước. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là
người thí chủ. Các vị A-la-hán có đi đến thăm, đi đến
thăm con trước. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là
người thí chủ. Các vị A-la-hán có nhận lãnh đồ ăn khất
thực, nhận lãnh của con trước. Bạch Thế Tôn, con là người
bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có thuyết pháp,
thuyết pháp cho con trước. . Bạch Thế Tôn, con là người
bố thí, là người thí chủ, tiếng đồn tốt đẹp về con
được truyền rộng ra: "Tướng quân Sìha là người bố thí,
là người hành động, là người ủng hộ chúng Tăng". Bạch
Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ; con đi
đến hội chứng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội
chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng
Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè. Bạch Thế Tôn,
sáu kết quả hiện tại của bố thí này được Thế Tôn
tuyên bố, không phải vì họ, con đi đến lòng tin đối với
Thế Tôn. Con biết họ. Nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã
nói về con như sau: "Sìha là người bố thí, là thí chủ,
sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên
giới, cõi đời này". Con không biết vấn đề này, ở đây,
con đi đến lòng tin nơi Thế Tôn.
- Như vậy là phải, này Sìha! Như
vậy là phải, này Sìha! Sìha là người bố thí, là người
thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện
thú, thiên giới, cõi đời này.
(V) (55) Không Có Che Ðậy
1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn điều
Như Lai không phải che đậy, và đối với ba điều, Ngài không
có phạm lỗi. Thế nào là bốn điều Như Lai không phải che
đậy?
2. Này các Tỷ-kheo, thân hành của
Như Lai là thanh tịnh. Như Lai không có thân ác hành, khiến
Như Lai phải che đậy: "Ðừng để cho người khác biết việc
này của Ta!". Này các Tỷ-kheo, khẩu hành của Như Lai là thanh
tịnh. Như Lai không có khẩu ác hành, khiến Như Lai phải che
đậy: "Ðừng để cho người khác biết việc này của Ta!".
Này