VI. Ðại
Phẩm
(I) (55) Sona
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú tại Ràjagaha
(Vương Xá) núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ Tôn giả
Sona trú ở Ràjagaha, tại rừng Sìta. Rồi Tôn giả Sona, trong
khi độc cư Thiền tịnh, tư tưởng sau đây được khởi lên:
"Những ai là đệ tử Thế Tôn, sống tinh cần tinh tấn, ta
là một trong những vị ấy. Nhưng ta còn chấp thủ, tâm chưa
giải thoát khỏi các lậu hoặc. Gia đình ta có tài sản, và
ta có thể hưởng thọ tài sản và làm điều công đức. Vậy
ta hãy từ bỏ học pháp, hoàn tục, thọ hưởng tài sản và
làm các công đức". Rồi Thế Tôn với tâm của mình biết
được tâm của Tôn giả Sona, như một người lực sĩ duỗi
cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến
mất từ núi Gijjhakùta, hiện ra trước mặt Tôn giả Sona,
ở rừng Sìta. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Tông giả Sona đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Tôn giả Sona đang ngồi một bên:
- Này Sona, có phải trong khi thầy
độc cư Thiền tịnh, tư tưởng sau đây được khởi lên:
"Những ai là đệ tử Thế Tôn, sống tinh cần tinh tấn, ta
là một trong những vị ấy. Nhưng ta còn chấp thủ, tâm chưa
giải thoát các lậu hoặc. Gia đình ta có tài sản, ta có thể
hưởng thọ tài sản ấy và làm các công đức. Vậy ta hãy
từ bỏ học pháp, hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm
các công đức"?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Thầy nghĩ thế nào, này Sona? Có
phải thuở trước, khi còn là gia chủ, Thầy giỏi đánh đàn
tỳ-bà có dây?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Thầy nghĩ thế nào, này Sona? Khi
những sợi dây đàn tỳ-bà của Thầy quá căng thẳng, trong
khi ấy, đàn tỳ-bà của Thầy có phát âm hay sử dụng được
không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Thầy nghĩ thế nào, này Sona? Khi
những sợi dây đàn tỳ-bà của Thầy quá trùng, trong khi ấy,
đàn tỳ-bà của Thầy có phát âm hay sử dụng được không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Nhưng này Sona? Khi những sợi dây
đàn tỳ-bà của Thầy không quá căng thẳng, không quá trùng
xuống, nhưng vặn đúng mức trung bình, trong khi ấy, đàn tỳ-bà
của Thầy có phát âm hay sử dụng được không?
- Thưa được, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này Sona, khi tinh cần
tinh tấn quá căng thẳng, thời đưa đến dao động; khi tinh
cần tinh tấn quá thụ động, thời đưa đến biếng nhác.
Do vậy, này Sona, Thầy phải an trú tinh tấn một cách bình
đẳng, thể nhập các căn một cách bình đẳng, rồi tại
đấy nắm giữ tướng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Sona vâng đáp Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn sau khi giáo giới Tôn giả Sona với lời giáo
giới, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay
co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, Thế Tôn biến mất
tại rừng Sìta và hiện ra ở núi Gijjhakùta.
2. Rồi Tôn giả Sona, sau một thời
gian an trú tinh tấn một cách bình đẳng, thể nhập các căn
một cách bình đẳng và tại đấy nắm giữ tướng. Rồi
Tôn giả Sona sống độc cư, an tịnh, không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần, không bao lâu, do mục đích gì các thiện nam
tử chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình,
vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng
ngộ và chứng đạt vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị
ấy rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc gì
nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái nay nữa". Tôn
giả Sona trở thành một vị A-la-hán. Sau khi chứng được
A-la-hán, Tôn giả Sona suy nghĩ như sau: "Ta hãy đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, ta sẽ nói lên ý nghĩa này với Thế Tôn".
Rồi Tôn giả Sona đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên,
Tôn giả Sona bạch Thế Tôn:
3. - Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào
là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh
đã thành, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng
xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã trừ
diệt, đã được giải thoát nhờ chánh trí; vị ấy có sáu
chỗ để xu hướng, xu hướng xuất ly, xu hướng viễn ly,
xu hướng vô sân, xu hướng ái diệt, xu hướng thủ diệt,
xu hướng vô si.
4. Bạch Thế Tôn, có thể ở đây,
một số Tôn giả suy nghĩ như sau: "Có Tôn giả này hoàn toàn
chỉ y cứ trên tín, có xu hướng xuất ly". Vị Tôn giả ấy
chớ có quan điểm như vậy! Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, bạch Thế Tôn, Phạm hạnh đã thành, các việc nên
làm đã làm, không còn thấy trong mình còn cái gì cần làm,
hay còn cái gì cần phải làm thêm; do đoạn diệt tham ái,
do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng xuất
ly; do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm
đến xu hướng xuất ly; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị
ấy hướng tâm đến xu hướng xuất ly.
5. Bạch Thế Tôn, có thể ở đây
một số Tôn giả suy nghĩ như sau: "Tôn giả này do tham muốn
lợi dưỡng, cung kính, danh tiếng nên hướng tâm về xu hướng
viễn ly". Tôn giả ấy chớ có quan niệm như vậy! Bạch Thế
Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu
Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, không còn thấy
trong mình còn cái gì cần làm hay còn cái gì cần phải làm
thêm; do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái, vị ấy hướng
tâm đến xu hướng viễn ly; do đoạn diệt sân, do viễn ly
sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng viễn ly; do đoạn
diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến xu hướng
viễn ly.
6-9. Bạch Thế Tôn, có thể đây
một số Tôn giả suy nghĩ như sau: "Do đi ngược trở lại
tối thắng giới cấm thủ, Tôn giả này hướng tâm đến
xu hướng vô sân". Tôn giả ấy chớ có quan điểm như vậy!
Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, đã
thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, không
còn thấy trong mình còn cái gì cần phải làm hay còn cái gì
cần phải làm thêm; do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham
ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô sân; do đoạn diệt
sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô
sân; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm đến
xu hướng vô sân... Do đoạn diệt tham ái, do viễn ly tham ái,
vị ấy hướng tâm đến xu hướng ái diệt; do đoạn diệt
sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến xu hướng ái
diệt; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng tâm
đến xu hướng ái diệt... Do đoạn diệt tham ái, do viễn
ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng thủ diệt; do
đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến
xu hướng thủ diệt; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy
hướng tâm đến xu hướng thủ diệt. Do đoạn diệt tham ái,
do viễn ly tham ái, vị ấy hướng tâm đến xu hướng vô si;
do đoạn diệt sân, do viễn ly sân, vị ấy hướng tâm đến
xu hướng vô si; do đoạn diệt si, do viễn ly si, vị ấy hướng
tâm đến xu hướng vô si.
10. Như vậy, với Tỷ-kheo có tâm
chơn chánh giải thoát, bạch Thế Tôn, nếu nhiều sắc do mắt
nhận thức đi vào trong giới vức của mắt, chúng không chinh
phục tâm vị ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú,
đạt được không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng.
Nếu nhiều tiếng do tai nhận thức... nếu nhiều hương do
mũi nhận thức... nếu nhiều vị do lưỡi nhận thức... nếu
nhiều xúc do thân nhận thức... nếu nhiều pháp do ý nhận
thức đi vào trong giới vực của ý, chúng không chinh phục
tâm của vị ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú, đạt
được không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng.
11. Ví như, bạch Thế Tôn, một
hòn núi đá, không có rạn nứt, không có trống bọng, một
tảng đá lớn, nếu từ phương Ðông mưa to gió lớn đến,
không có làm rung động, rung chuyển, chuyển động mạnh núi
đá ấy. Nếu từ phương Tây mưa to gió lớn đến... nếu
từ phương Bắc mưa to gió lớn đến.... nếu từ phương Nam
mưa to gió lớn đến không có làm rung động, rung chuyển,
chuyển động mạnh núi đá ấy.
Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với Tỷ-kheo
có tâm chơn chánh giải thoát, nếu nhiều sắc do mắt nhận
thức đi vào trong giới vức của mắt, chúng không chinh phục
tâm vị ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú, đạt
được không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng. Nếu
nhiều tiếng do tai nhận thức... nếu nhiều hương do mũi nhận
thức... nếu
nhiều vị do lưỡi nhận thức... nếu nhiều
xúc do thân nhận thức, nếu nhiều pháp do ý nhận thức đi
vào trong giới vực của ý, chúng không chinh phục tâm vị
ấy, và tâm vị ấy không lộn xộn, an trú, đạt được không
dao động, quán thấy tánh diệt của chúng.
Với ai hướng xuất ly,
Tâm xu hướng viễn ly,
Với ai hướng vô sân,
Tâm xu hướng thủ diệt,
Với ai hướng ái diệt,
Tâm xu hướng vô si,
Có thấy xứ sanh khởi,
Tâm được chánh giải thoát.
Với vị chánh giải thoát,
Vị Tỷ-kheo tâm tịnh,
Không cần làm thêm gì,
Không có gì phải làm.
Như hòn núi đá tảng,
Gió không thể dao động,
Cũng vậy, toàn thể sắc,
Vị, tiếng, và hương, xúc,
Cho đến tất cả pháp,
Khả ái, không khả ái,
Không có thể dao động,
Một vị được như vậy,
Tâm kiên trú, giải thoát,
Thấy tánh diệt của chúng.
(II) (56) Phagguna
1. Lúc bấy giờ, Tôn giả Phagguna
bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi Tôn giả Ananda đi
đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch
Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna
bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế
Tôn, xin Thế Tôn đi đến Tôn giả Phagguna, vì lòng từ mẫn.
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi
Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy,
đi đến Tôn giả Phagguna. Tôn giả Phagguna thấy Thế Tôn từ
xa đi đến, thấy vậy, muốn rời khỏi giường. Rồi Thế
Tôn nói với Tôn giả Phagguna:
- Thôi được rồi, Phagguna! Thầy
chớ có rời khỏi giường. Ðã có những chỗ ngồi đã soạn
từ trước, Ta sẽ ngồi tại các chỗ ấy.
Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ
đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Phagguna:
- Này Phagguna, mong rằng Thầy có
thể kham nhẫn! Mong rằng Thầy có thể chịu đựng! Mong rằng
các khổ thọ được giảm thiểu, không tăng trưởng! Mong
rằng triệu chứng giảm thiểu được thấy rõ, không tăng
trưởng!
- Bạch Thế Tôn, con không có thể
kham nhẫn. Con không có thể chịu đựng. Khổ thọ của con
tăng trưởng, không có giảm thiểu. Triệu chứng tăng trưởng
được thấy rõ, không có giảm thiểu! Bạch Thế Tôn, ví
như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với
một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, bạch Thế Tôn, những
ngọn gió kinh khủng thổi lên, đau nhói trong đầu con. Bạch
Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng.
Khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng
gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế
Tôn, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng
quấn tròn quanh đầu rồi siết chặt; cũng vậy, bạch Thế
Tôn, con cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Bạch Thế
Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng,
khổ thọ của con gia tăng, không có giảm thiểu. Triệu chứng
gia tăng được thấy rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế
Tôn, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người
đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắt
bén; cũng vậy, bạch Thế Tôn, một ngọn gió kinh khủng cắt
ngang bụng của con. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn,
con không có thể chịu đựng. Những khổ thọ của con gia
tăng, không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy
rõ, không có giảm thiểu. Bạch Thế Tôn, ví như hai người
lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng
người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng
vậy, bạch Thế Tôn, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong
thân của con. Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con
không có thể chịu đựng. Những khổ thọ của con gia tăng,
không có giảm thiểu, triệu chứng gia tăng được thấy rõ,
không có giảm thiểu.
Rồi Thế Tôn, với pháp thoại,
nói lên cho Tôn giả Phagguna biết, khích lệ, làm cho phấn
khởi, làm cho hoan hỉ, từ chỗ ngồi, đứng dậy và ra đi.
2. Rồi Tôn giả Phagguna, sau khi Thế
Tôn ra đi không bao lâu, liền mệnh chung. Trong khi Tôn giả
lâm chung, các căn được sáng chói. Rồi Tôn giả Ananda đi
đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna,
sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, đã mệnh chung. Trong khi
Tôn giả mệnh chung, các căn được sáng chói.
- Này Ananda, tại sao các căn của
Tôn giả Phagguna lại không sáng chói chứ? Này Ananda, với
Tỷ-kheo Phagguna, tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ
phần kiết sử. Sau khi nghe pháp, tâm vị ấy được giải
thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Có sáu lợi ích này, này
Ananda, nếu nghe pháp đúng thời, và thẩm sát ý nghĩa đúng
thời. Thế nào là sáu?
3. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo tâm
chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị
ấy trong khi mạng chung, được thấy Thế Tôn. Thế Tôn thuyết
pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa,
có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ
thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải
thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Ðây là lợi ích thứ
nhất, này Ananda, khi được nghe pháp đúng thời.
4. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo
với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết
sử, vị ấy trong khi mệnh chung, không được thấy Thế Tôn,
nhưng chỉ được thấy đệ tử Như Lai. Ðệ tử Như Lai thuyết
pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa,
có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ
thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải
thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ananda, đây là lợi
ích thứ hai khi được nghe pháp đúng thời.
5. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo
với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết
sử, vị ấy trong khi mệnh chung, không được thấy Như Lai,
cũng không được thấy đệ tử của Như Lai. Nhưng với tâm
tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe,
như đã được học một cách thông suốt; do vị ấy, với
tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được
nghe, như đã được học một cách thông suốt, nên tâm được
giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ananda, đây là
lợi ích thứ ba khi thẩm sát ý nghĩa đúng thời.
6. Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo với
tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng
tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh
y, vị ấy trong khi mệnh chung được thấy Như Lai. Và Như
Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện,
có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn
viên mãn thanh tịnh. Sau khi được nghe thuyết pháp, tâm vị
ấy được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh
y. Này Ananda, đây là lợi ích thứ tư khi được nghe pháp
đúng thời.
7. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo
với tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử,
nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt
sanh y, vị ấy trong khi mạng chung không được thấy Như Lai,
chỉ được thấy đệ tử của Như Lai. Ðệ tử Như Lai thuyết
pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa,
có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn
thanh tịnh. Sau khi được nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được
giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y. Này Ananda,
đây là lợi ích thứ năm khi được nghe pháp đúng thời.
8. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo
với tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử,
nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt
sanh y, vị ấy trong khi mệnh chung không được thấy Như Lai,
cũng không được thấy đệ tử Như Lai. Nhưng với tâm tùy
tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được học thông
suốt, do vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán
pháp như đã được nghe, như đã được học thông suốt,
nên tâm được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt
sanh y này. Này Ananda, đây là lợi ích thứ sáu khi được
thẩm sát ý nghĩa đúng thời.
Có sáu lợi ích này, này Ananda,
khi được nghe pháp đúng thời, và khi được thẩm sát ý
nghĩa đúng thời.
(III) (57) Sáu Sanh Loại
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Ràijagaha
(Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Rồi Tôn giả Ananda
đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch
Thế Tôn:
2. - Bạch Thế Tôn, Tôn giả Pùrana
Kassapa trình bày sáu sanh loại: sanh loại đen, sanh loại xanh,
sanh loại đỏ, sanh loại vàng, sanh loại trắng, sanh loại
hết sức trắng. Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là loại sanh
đen do Pùrana Kassapa trình bày: "Kẻ giết cừu, kẻ giết heo,
kẻ giết chim, kẻ săn thú, kẻ hung bạo, người đánh cá,
kẻ ăn trộm, kẻ ăn trộm giết người, kẻ ngục tốt và
những người khác theo nghề tàn ác". Ở đây, bạch Thế Tôn,
đây là các sanh loại xanh do Pùrana Kassapa trình bày: "Các Tỷ-kheo
sống như cỏ gai đâm bên hông, và tất cả những ai khác
chủ trương nghiệp nhân luận, nghiệp quả luận". Ở đây,
bạch Thế Tôn, đây là các sanh loại đỏ do Pùrana Kassapa
trình bày: "Các Ni-kiền-tử và những kẻ mặc một tấm vải".
Ở đây, bạch Thế Tôn, là các sanh loại vàng do Pùrana Kassapa
trình bày: "Các gia chủ và đệ tử những người ở trần
truồng". Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là các sanh loại trắng
do Pùrana Kassapa trình bày: "Các tà mạng ngoại đạo và đệ
tử của họ". Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là các sanh loại
hết sức trắng do Pùrana Kassapa trình bày: "Nanda Vaccha, Kisa
Sankicca và Makkhali Gosàla". Bạch Thế Tôn, sáu sanh loại này
do Pùrana Kassapa trình bày.
3. - Này Ananda, có phải toàn thế
giới đều đồng ý chấp nhận sự trình bày thành sáu sanh
loại này của Pùrana Kassapa không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Ví như này Ananda, một người
nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu, dầu miễn
cưỡng, không muốn, người ta quăng cho người ấy một miếng
thịt và nói: "Hãy ăn miếng thịt này, này Người kia, và
trả tiền luôn". Cũng vậy, này Ananda là lời tuyên bố của
Pùrana Kassapa về sáu sanh loại này cho những Sa-môn, Bà-la-môn
ấy, không được họ đồng ý, như bởi một kẻ ngu si, không
thông minh, không biết thích ứng, bất thiện. Này Ananda, Ta
tuyên bố có sáu sanh loại, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ
nói:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
- Này Ananda, thế nào là sáu sanh
loại?
4. Ở đây, này Ananda, có một số
sanh loại đen, sanh ra các pháp đen. Nhưng ở đây, này Ananda,
có một số sanh loại đen sanh ra pháp trắng. Ở đây, này
Ananda, có một số sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen
không trắng. Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại trắng
sanh ra pháp đen. Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại
trắng sanh ra pháp trắng. Ở đây, này Ananda, có một số sanh
loại trắng sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng. Và này,
Ananda, thế nào là một số sanh loại đen sanh ra pháp đen?
5. Ở đây, này Ananda, có một số
người sanh ra trong gia đình thấp kém, gia đình người đổ
phân hay gia đình người thợ săn, hay gia đình người đan
tre, hay gia đình người đóng xe, hay gia đình người quét rác,
hay trong gia đình một người nghèo khổ, khó tìm được đồ
ăn uống để sống, khó tìm cho được đồ ăn đồ mặc.
Và người ấy xấu xí, khó nhìn, lùn thấp, nhiều bệnh hoạn,
đui một mắt, tàn tật, còm, què, hay đi khấp khểnh, không
có được đồ ăn, đồ uống, đồ mặc, xe cộ, vòng hoa,
hương, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ ở và đèn. Người ấy làm
ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về
ý. Người ấy do làm ác hạnh về thân, về lời, về ý, sau
khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ,
địa ngục. Như vậy, này Ananda, là hạng sanh loại đen sanh
ra pháp đen. Và này Ananda, thế nào là hạng sanh loại đen
sanh ra pháp trắng?
6. Ở đây, này Ananda, có hạng người
sanh ra trong gia đình thấp kém... chỗ nằm, chỗ ở và đèn.
Người ấy làm thiện hạnh về thân, làm thiện hạnh về
lời, làm thiện hạnh về ý. Người ấy do làm thiện hạnh
về thân, về lời, về ý, sau khi thân hoại mạng chung sanh
vào cõi lành, Thiên giới, thế giới này. Như vậy, này Ananda,
là hạng sanh loại đen sanh ra pháp trắng. Và này Ananda, thế
nào là hạng sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen không
trắng?
7. Ở đây, này Ananda, có hạng người
sanh ra trong gia đình thấp kém... và người ấy xấu xí, khó
nhìn, lùn thấp. Người ấy, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp
áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vị ấy xuất gia như vậy, sau khi đoạn tận năm triền cái,
làm cho muội lược các kiết sử về tâm với trí tuệ, trú
tâm trên Bốn niệm xứ, như thật tu tập Bảy giác chi, sanh
ra Niết-bàn không đen không trắng. Như vậy, này Ananda là
hạng sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng.
Và này Ananda, thế nào là sanh loại trắng sanh ra pháp đen?
8. Ở đây, này Ananda, có hạng người
sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại
phú, hay trong gia đình Bà-la-môn đại phú, hay trong gia đình
gia chủ đại phú, phú hào, có tiền của lớn, tài sản lớn,
có nhiều vàng bạc, có nhiều tài sản, vật dụng, nhiều
tiền của, ngũ cốc. Người ấy lại đẹp trai, dễ nhìn,
dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, mỹ miều. Người ấy
lại được ăn đồ ăn, đồ uống, áo mặc, xe cộ, vòng hoa,
hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người
ấy làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh
về ý. Người ấy do làm ác hạnh về thân, do làm ác hạnh
về lời, do làm ác hạnh về ý, sau khi thân hoại mạng chung
sanh, sanh vào cõi dữ, ác thú, đạo xứ, địa ngục. Như vậy,
này Ananda, là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp đen. Và này
Ananda, thế nào là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp trắng?
9. Ở đây, này Ananda, có hạng người
sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại
phú... chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy làm thiện hạnh về
thân, làm thiện hạnh về lời, làm thiện hạnh về ý. Người
ấy do làm thiện hạnh về thân, do làm thiện hạnh về lời,
do làm thiện hạnh về ý, sau khi thân hoại mạng chung sanh
lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, này Ananda,
là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp trắng. Và này Ananda,
thế nào là hạng sanh loại trắng sanh ra Niết-bàn, không đen
không trắng?
10. Ở đây, này Ananda, có hạng
người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ
đại phú... chỗ trú, đèn đuốc. Vị ấy, sau khi cạo bỏ
râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, sau khi đoạn tận
năm triền cái, làm cho muội lược các kiết sử về tâm với
trí tuệ, trú tâm trên Bốn niệm xứ, như thật tu tập Bảy
giác chi, sanh ra Niết-bàn không đen không trắng. Như vậy,
này Ananda là hạng sanh loại trắng sanh ra Niết-bàn, không
đen không trắng.
Này Ananda, đây là sáu sanh loại.
(IV) (58) Các Lậu Hoặc
1. - Thành tựu sáu pháp, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng,
đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước
điền vô thượng ở đời. Thế nào là sáu?
2. Ở đầy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đối với các lậu hoặc phải do phòng hộ mà được đoạn
trừ, chúng đã được đoạn trừ do phòng hộ; đối với
các lậu hoặc phải do thọ dụng mà được đoạn trừ, chúng
đã được đoạn trừ do thọ dụng; đối với các lậu hoặc
phải do kham nhẫn mà được đoạn trừ, chúng đã được
đoạn trừ do kham nhẫn; đối với các lậu hoặc phải do
tránh né mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ
do tránh né; đối với các lậu hoặc phải do trừ diệt mà
được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do trừ diệt;
đối với các lậu hoặc phải do tu tập mà được đoạn
trừ, chúng đã được đoạn trừ do tu tập. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là các lậu hoặc phải do phòng hộ mà được đoạn
trừ, chúng đã được đoạn trừ do phòng hộ?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
chơn chánh giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ nhãn
căn. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ
với sự phòng hộ nhãn căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt
não có thể khởi lên. Nếu vị ấy sống phòng hộ với sự
phòng hộ nhãn căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy
không còn nữa. Vị chơn chánh giác sát, sống phòng hộ với
sự phòng hộ nhĩ căn... sống phòng hộ với sự phòng hộ
tỷ căn... sống phòng hộ với sự phòng hộ thiệt căn...
sống phòng hộ với sự phòng hộ thân căn... sống phòng hộ
với sự phòng hộ ý căn. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy
sống không phòng hộ với sự phòng hộ ý căn, các lậu hoặc
tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy sống
phòng hộ với sự phòng hộ ý căn, các lậu hoặc tàn hại
và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, nếu sống
không phòng hộ với sự phòng hộ các căn, các lậu hoặc
tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu sống phòng
hộ với sự phòng hộ các căn, như vậy các lậu hoặc tàn
hại và nhiệt não ấy không có thể khởi lên.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các
lậu hoặc phải do phòng hộ mà được đoạn trừ, chúng đã
được đoạn trừ nhờ phòng hộ. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng mà được đoạn
trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ thọ dụng?
4. Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo
chơn chánh giác sát thọ dụng y phục chỉ để ngăn ngừa
lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi,
muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với
mục đích che đậy sự hổ thẹn. Vị ấy chơn chánh giác
sát thọ dụng món ăn khất thực, không phải để vui đùa,
không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải
để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống
lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương
hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt
trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ
mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn. Vị
ấy chơn chánh giác sát thọ dụng sàng tọa chỉ để ngăn
ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của
ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ
giải trừ nguy hiểm của thới tiết, chỉ với mục đích
sống độc cư an tịnh. Vị ấy chơn chánh giác sát thọ dụng
những dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm
giác thống khổ đã sanh để được ly khổ hoàn toàn. Này
các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không chơn chánh giác sát khi thọ
dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể
khởi lên. Nếu vị ấy có chơn chánh giác sát khi thọ dụng
như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn
nữa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các
lậu hoặc phải do thọ dụng mà được đoạn trừ, chúng
đã được đoạn trừ nhờ thọ dụng. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn mà được đoạn
trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ kham nhẫn?
5. Này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo
chơn chánh giác sát kham nhẫn lạnh nóng, đói khát, sự xúc
chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài
bò sát, kham nhẫn những cách nói mạ lỵ phỉ báng, vị ấy
có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ
thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối không sung sướng,
không thích thú, chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, nếu
vị ấy không kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và
nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy,
các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các
lậu hoặc phải do kham nhẫn mà được đoạn trừ, chúng đã
được đoạn trừ nhờ kham nhẫn. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là các lậu hoặc phải do tránh né mà được đoạn trừ,
chúng đã được đoạn trừ nhờ tránh né?
6. Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo
chơn chánh giác sát, tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh
né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu,
vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Những chỗ ngồi không
xứng đáng nếu ngồi, những trú xứ không nên lai vãng nếu
đến, những bạn bè ác độc, nếu giao du bị các vị đồng
Phạm hạnh có trí nghi ngờ khinh thường. Vị chơn chánh giác
sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không
nên lai vãng ấy và các bạn bè độc ác ấy. Này các Tỷ-kheo,
nếu vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại
và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né
như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn
nữa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các
lậu hoặc phải do tránh né mà được đoạn trừ, chúng đã
được đoạn trừ nhờ tránh né. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là các lậu hoặc phải do trừ diệt mà được đoạn
trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ trừ diệt?
7. Này các Tỷ-kheo, ở đây vị
Tỷ-kheo chơn chánh giác sát không chấp nhận dục niệm đã
khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại
dục niệm ấy; không chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ
bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại sân niệm ấy;
không chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ khử,
diệt tận, không cho tồn tại hại niệm ấy; không chấp nhận
các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ, trừ
khử, diệt tận, không cho tồn tại các ác bất thiện pháp
ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không trừ khử như vậy,
các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên.
Nếu vị ấy trừ khử như vậy, các lậu hoặc tàn hại và
nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các
lậu hoặc phải do trừ diệt mà được đoạn trừ, chúng
đã được đoạn trừ nhờ trừ diệt. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là các lậu hoặc phải do tu tập mà được đoạn
trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ tu tập?
8. Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo
chơn chánh giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này
y xuất y, y ly tham, y diệt tận, đưa đến từ bỏ, chơn chánh
giác sát tu tập trạch pháp giác chi... (như trên)... tu tập
tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác
chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi; xả giác
chi này y xuất ly, y ly tham, y diệt tận, đưa đến từ bỏ.
Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tu tập như vậy, các lậu
hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị
ấy tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não
ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các
lậu hoặc phải do tu tập mà được đoạn trừ, chúng đã
được đoạn trừ nhờ tu tập.
Này các Tỷ-kheo, thành tựu sáu
pháp này, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn
trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là
ruộng phước vô thượng ở đời.
(V) (59) Người Bán Củi
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn ở Nàdika, tại
giảng đường bằng gạch. Bấy giờ có gia chủ bán củi đi
đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Thế Tôn nói với người bán củi đang ngồi
xuống một bên:
2. - Này Gia chủ, trong gia đình Ông
có bố thí không?
- Bạch Thế Tôn, trong gia đình con
có bố thí. Những Tỷ-kheo là vị sống ở rừng, theo hạnh
khất thực, mặc áo lấy vải lượm từ đống rác, bậc A-la-hán,
hay thực hành A-la-hán đạo, những Tỷ-kheo như vậy, bạch
Thế Tôn, đều được bố thí.
3. - Nhưng chắc chắn, này Gia chủ,
đây thực là một sự khó khăn cho Ông, một người tại gia
thọ dụng các dục, bị con cháu trói buộc, được dùng hương
chiên đàn từ Kàsi, được đeo và thoa với vòng hoa, hương,
hương liệu, được tiêu dùng vàng và bạc để có thể nói
ai là bậc A-la-hán, ai là bậc thực hành A-la-hán đạo. Tỷ-kheo
trú tại rừng núi, này Gia chủ, nếu tháo động, kiêu căng
dao động, lắm mồm, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không
tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng,
thời vị ấy về phương diện này đáng bị chỉ trích. Này
Gia chủ, nếu Tỷ-kheo trú ở rừng núi, không tháo động,
không kiêu căng, không dao động, không lắm mồm, lắm miệng,
không lắm lời, chánh niệm, tỉnh giác, định tĩnh, nhất
tâm, với các căn được phòng hộ, thời vị ấy về phương
diện này đáng được tán thán. Nếu Tỷ-kheo sống ở cuối
làng, này Gia chủ, tháo động, kiêu căng... các căn thả lỏng;
vị ấy về phương diện này đáng bị chỉ trích. Nếu Tỷ-kheo
sống ở cuối làng, này Gia chủ, không tháo động, không kiêu
căng... các căn được phòng hộ, thời vị ấy về phương
diện này đáng được tán thán. Nếu vị Tỷ-kheo theo hạnh
khất thực, này Gia chủ, nhưng còn tháo động, kiêu căng...
đáng bị chỉ trích. Nếu Tỷ-kheo theo hạnh khất thực, này
Gia chủ, nhưng không tháo động, không kiêu căng... đáng được
tán thán. Nếu Tỷ-kheo nào nhận lời mời, này Gia chủ, nhưng
còn tháo động... đáng bị chỉ trích. Nếu Tỷ-kheo nào nhận
lời mời, này Gia chủ, nhưng không tháo động... đáng được
tán thán. Nếu Tỷ-kheo nào mặc áo lấy vải lượm từ đống
rác, này Gia chủ, nhưng còn tháo động... đáng bị chỉ trích.
Nếu Tỷ-kheo nào mặc áo lấy vải lượm từ đống rác, này
Gia chủ, nhưng không tháo động... đáng được tán thán. Nếu
Tỷ-kheo nào mang y từ người Gia chủ cúng, nhưng không tháo
động... đáng được tán thán. Tuy vậy, này Gia chủ, hãy
cúng dường chúng Tăng. Nếu Ông cúng dường chúng Tăng, tâm
sẽ được định tín. Nếu Ông có tâm định tín, lúc thân
hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới,
cõi đời này.
- Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ
hôm nay, con sẽ bố thí cúng dường chúng Tăng.
(VI) (60) Hatthisàriputta
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Bàrànasi
tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ, nhiều vị Tỷ-kheo
trưởng lão, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi
tụ họp tại ngôi nhà hình tròn và thuyết về Thắng pháp
luận. Tại đấy, Tôn giả Hatthisàriputta, trong khi các tỷ-kheo
trưởng lão đang thuyết về Thắng pháp luận, lại nói xen
vào chặng giữa. Rồi Tôn giả Mahàkotthita nói với Tôn giả
Hatthisàriputta:
- Tôn giả Citta Hatthisàriputta, trong
khi các tỷ-kheo trưởng lão đang thuyết về Thắng pháp luận,
chớ có nói xen vào chặng giữa! Tôn giả Citta hãy chờ cho
đến cuối câu chuyện.
Ðược nghe nói vậy, các Tỷ-kheo
bạn bè của Tôn giả Citta Hatthisàriputta nói với Tôn giả
Mahàkotthita:
- Tôn giả Kotthita chớ có bất mãn
Tôn giả Citta Hatthisàriputta! Tôn giả Citta Hatthisàriputta là
bậc Hiền trí. Tôn giả Citta Hatthisàriputta có thể nói chuyện
về Thắng pháp luận với các Tỷ-kheo trưởng lão và thật
rất khó lòng cho các Hiền giả để biết được tâm tư của
người khác.
2. Ở đây, thưa các Hiền giả,
có hạng người, khi còn sống gần vị Bổn sư hay sống gần
một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò y chỉ sư, trong khi
ấy, là người nhu hòa nhất trong những người nhu hòa, là
người khiêm tốn nhất trong những người khiêm tốn, là người
an tịnh nhất trong những người an tịnh. Khi người ấy rời
khỏi bậc Ðạo Sư, rời khỏi các vị đồng Phạm hạnh đóng
vai trò y chỉ sư, vị ấy sống giao thiệp với các Tỷ-kheo,
các Tỷ-kheo-ni, với các nam cư sĩ, nữ cư sĩ, với các vua
chúa, các đại thần của vua, với các ngoại đạo, các đệ
tử ngoại đạo. Do vị ấy sống giao thiệp, phóng túng, thô
lỗ, đam mê nói chuyện, tham ái tấn công tâm vị ấy. Vị
ấy, với tâm bị tham ái tấn công, liền từ bỏ học pháp
và hoàn tục. Ví như, này các Hiền giả, một con bò ăn lúa,
bị dây cột lại, hay bị nhốt trong chuồng. Này Hiền giả,
nếu có ai nói như sau: "Con bò ăn lúa này sẽ không bao giờ
đi xuống ruộng lúa nữa", nói như vậy, thưa các Hiền Giả,
là nói một cách chơn chánh không?
- Thưa không, thưa Hiền giả, sự
kiện này, thưa Hiền giả, có xảy ra: Con bò ăn lúa ấy, sau
khi bứt dây, hay phá sập chuồng, có thể xuống ruộng lúa
nữa.
Cũng vậy, này các Hiền giả, ở
đây, một số người khi còn sống gần vị Bổn Sư, hay sống
gần một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò y chỉ sư, trong
khi ấy, là người nhu hòa nhất trong những người nhu hòa,
là người khiêm tốn nhất trong những người khiêm tốn, là
người an tịnh nhất trong những người an tịnh. Khi người
ấy rời khỏi bậc Ðạo Sư, rời khỏi vị đồng Phạm hạnh
đóng vai trò y chỉ sư, vị ấy sống giao thiệp với các Tỷ-kheo,
các Tỷ-kheo-ni, với các nam cư sĩ, nữ cư sĩ, với các vua
chúa, các đại thần của vua, với các ngoại đạo, các đệ
tử ngoại đạo. Do vị ấy sống giao thiệp, phóng túng, thô
lỗ, đam mê nói chuyện, tham ái tấn công tâm vị ấy. Vị
ấy, với tâm bị tham ái tấn công, liền từ bỏ học pháp
và hoàn tục.
3. Ví như có hạng người ly dục...,
chứng và trú sơ Thiền. Với tư tưởng: "Ta đã được sơ
Thiền", vị ấy sống giao thiệp với các Tỷ-kheo... từ bỏ
học pháp và hoàn tục. Ví như, này các Hiền giả, một cơn
mưa to lớn xảy ra tại ngã tư đường, khiến cho bụi bặm
biến mất và bùn hiện ra. Này các Hiền giả, nếu có ai nói
như sau: "Nay tại ngã tư đường này, bụi sẽ không hiện
ra nữa". Người ấy nói như vậy có nói một cách chơn chánh
không?
- Thưa không, thưa Hiền giả. Sự
kiện này có xảy ra, thưa Hiền giả: "Tại ngã tư đường
này, có người đi qua, hay có trâu bò đi qua, hay gió và nóng
có thể làm cho khô khí ẩm ướt và bụi sẽ hiện ra trở
lại.
- Cũng như vậy, thưa các Hiền giả,
ở đây có hạng người ly dục... chứng và trú Thiền thứ
nhất. Vị ấy, với ý nghĩa: "Ta đã chứng sơ thiền", sống
giao thiệp với các Tỷ-kheo... từ bỏ học pháp và hoàn tục.
4. Ở đây, này các Hiền giả, có
hạng người làm cho tịnh chỉ tầm và tứ... chứng và trú
Thiền thứ hai. Vị ấy, với ý nghĩa: "Ta đã chứng được
Thiền thứ hai", giao thiệp với các Tỷ-kheo... từ bỏ học
pháp và hoàn tục. Ví như, thưa các Hiền giả, một hồ nước
lớn gần một làng hay thị trấn. Tại đấy, một cơn mưa
to xảy đến, khiến cho các loài sò ốc, các đá sỏi biến
mất.
Thưa các Hiền giả, nếu có ai nói
như sau: "Nay tại hồ nước này, các loại sò ốc, các đá
sỏi sẽ không xuất hiện ra nữa". Người ấy nói như vậy
có nói một cách chơn chánh không?
- Thưa không, thưa Hiền giả. Sự
kiện này có xảy ra, thưa Hiền giả: Tại hồ nước này,
loài Người có thể uống, hay loài trâu bò có thể uống,
hay gió và sức nóng có thể làm cho khô khí ẩm ướt, và
các loài sò ốc, các đá sỏi có thể xuất hiện ra lại.
- Cũng vậy, thưa các Hiền giả,
ở đây có hạng người làm cho tịnh chỉ tầm và tứ... chứng
và trú Thiền thứ hai. Vị ấy với ý nghĩ: "Ta đã chứng
được Thiền thứ hai", giao thiệp với các Tỷ-kheo... từ
bỏ học pháp và hoàn tục.
5. Ở đây, thưa các Hiền giả,
có hạng người từ bỏ hỷ... chứng và trú Thiền thứ ba.
Vị ấy với ý nghĩ: "Ta đã chứng được Thiền thứ ba",
giao thiệp với các Tỷ-kheo... từ bỏ học pháp và hoàn tục.
Ví như, thưa các Hiền giả, có người đã ăn đồ ăn thượng
vị, không ưa thích các đồ ăn hôm qua để lại. Thưa các
Hiền giả, nếu ai nói như sau: "Nay người này không còn ưa
thích đồ ăn nữa", thưa các Hiền giả, người ấy nói như
vậy có nói một cách chơn chánh không?
- Thưa không, thưa Hiền giả. Sự
kiện có xảy ra: Người này, thưa Hiền giả, khi ăn đồ ăn
thượng vị, cho đến khi nào chất dinh dưỡng còn tồn tại
trong thân, cho đến khi ấy, không có một món ăn nào khác
sẽ làm vị ấy ưa thích. Cho đến khi chất dinh dưỡng tiêu
mất, khi ấy món ăn có thể làm cho vị ấy ưa thích.
- Cũng vậy, này các Hiền giả,
ở đây có hạng người từ bỏ hỷ... chứng và trú Thiền
thứ ba, vị ấy với ý nghĩ: "Ta đã chứng được Thiền thứ
ba", giao thiệp với các Tỷ-kheo... từ bỏ học pháp và hoàn
tục.
6. Ví như, này các Hiền giả, có
hạng người từ bỏ lạc, từ bỏ khổ... chứng đạt và
an trú Thiền thứ tư. Vị ấy với ý nghĩ: "Ta đã chứng được
Thiền thứ tư", giao thiệp với các Tỷ-kheo... từ bỏ học
pháp và hoàn tục. Ví như, này các Hiền giả, một hồ nước
trong khe núi, không có gió, không có sóng. Rồi thưa các Hiền
giả, nếu có ai nói như sau: "Nay trong hồ nước này sẽ không
hiện ra sóng nữa", người ấy, thưa các Hiền giả, có nói
một cách chơn chánh không?
- Thưa không, thưa Hiền giả. Sự
kiện này có thể xảy ra: Nếu từ phương Ðông, mưa to gió
lớn đến, mưa to gió lớn ấy làm cho hồ nước ấy khởi
sóng; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ
phương Nam, mưa to gió lớn đến, mưa to gió lớn ấy làm cho
hồ nước ấy khởi sóng.
- Cũng vậy, này các Hiền giả,
ở đây có hạng người từ bỏ lạc, từ bỏ khổ... chứng
đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy với ý nghĩ: "Ta đã
chứng được Thiền thứ tư", giao thiệp với Tỷ-kheo... từ
bỏ học pháp và hoàn tục.
7. Ở đây, này các Hiền giả, có
hạng người không tác ý tất cả các tướng, chứng đạt
và an trú vô tướng tâm định. Vị ấy, với ý nghĩ: "Ta đã
chứng đạt được vô tướng tâm định", sống giao thiệp
với các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo-ni, với các nam cư sĩ, nữ cư
sĩ, với các vua chúa, đại thần các vua chúa, với các ngoại
đạo, các đệ tử ngoại đạo. Do vị ấy sống giao thiệp,
phóng túng, thô lỗ, đam mê nói chuyện, nên tham ái tấn công
tâm vị ấy. Vị ấy, với tâm bị tham ái tấn công, liền
từ bỏ học pháp và hoàn tục. Ví như, thưa các Hiền giả,
một vị vua, hay đại thần của vua, đang đi giữa đường
cùng với bốn loại binh chủng, đến trú ở một đêm tại
một khóm rừng. Ở đấy, do tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng
xe, tiếng bộ binh, tiếng trống lớn, trống nhỏ, tiếng tù
và, nên tiếng của con dế biến mất. Rồi này các Hiền giả,
có người nói như sau: "Nay trong khóm rừng này, tiếng kêu
của con dế không hiện ra nữa". Người ấy nói như vậy,
thưa các Hiền giả, có nói một cách chơn chánh không?
- Thưa không, thưa Hiền giả. Sự
kiện này có xảy ra, thưa Hiền giả: Khi nào vua hay vị đại
thần của vua ra đi khỏi khóm rừng này, khi ấy
tiếng con
dế kêu sẽ hiện hữu.
- Cũng vậy, thưa các Hiền giả,
ở đây, có hạng người do không tác ý tất cả các tướng,
chứng đạt và an trú vô tướng tâm định. Vị ấy, với
ý nghĩ: "Ta đạt được vô tướng tâm định", sống giao thiệp
với các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo-ni, với các nam cư sĩ, nữ cư
sĩ, với các vua chúa, các đại thần của vua, với các ngoại
đạo, các đệ tử ngoại đạo. Do vị ấy sống giao thiệp,
phóng túng, thô lỗ, đam mê nói chuyện, nên tham ái tấn công
tâm vị ấy. Vị ấy, với tâm bị tham ái tấn công, liền
từ bỏ học pháp và hoàn tục.
8. Rồi Tôn giả Citta Hatthisàriputta
sau một thời gian từ bỏ học pháp và hoàn tục. Rồi các
Tỷ-kheo, bạn của Tôn giả Citta Hatthisàriputta đi đến Tôn
giả Mahàkotthita, sau khi đến nói với Tôn giả Mahàkotthita:
- Có phải Tôn giả Mahàkotthita biết
được tâm của Citta Hatthisàriputta với tâm của mình: "Citta
Hatthisàriputta đã chứng quả chứng này, quả chứng này, hay
là chư Thiên báo cho biết về vấn đề này; tuy vậy, vị
ấy sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục"?
- Thưa chư Hiền, tôi biết được
tâm của Citta Hatthisàriputta với tâm của tôi, rằng Citta đã
chứng được quả chứng này, quả chứng này, và chư Thiên
cũng báo cho biết về vấn đề này: "Thưa Tôn giả, Citta Hatthisàriputta
đã chứng được quả chứng này, quả chứng này, nhưng vị
ấy sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục".
Rồi các bạn bè của Citta Hatthisàriputta
đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch
Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Citta Hatthisàriputta
đã chứng được quả chứng này, quả chứng này, nhưng đã
từ bỏ học pháp và hoàn tục.
- Này các Tỷ-kheo, Citta không bao
lâu sẽ nghĩ đến xuất ly.
9. Rồi Citta Hatthisàriputta không
bao lâu cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ
gia đình, sống không gia đình. Rồi Tôn giả Citta Hatthisàriputta
sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh
cần, không bao lâu chứng được mục đích mà các thiện nam
tử chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
hướng đến. Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, vị
ấy ngay trong hiện tại đã tự mình với thắng trí chứng
ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ rằng: "Sanh đã
tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn
trở lui trạng thái này nữa".
Và Tôn giả Citta Hatthisàriputta trở
thành một vị A-la-hán.
(VII) (61) Con Ðường Ði Ðến
Bờ Bên Kia
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi,
tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo
trưởng lão, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở
về, ngồi tụ họp tại ngôi nhà hình tròn, và câu chuyện
sau đây được khởi lên:
- Này chư Hiền, Thế Tôn đã nói
như sau trong "Con đường đến bờ bên kia" trong câu hỏi của
Metteyya:
Ai biết hai cực đoan,
Giữa bậc Trí không nhiễm,
Ta gọi bậc Ðại nhân,
Ðây, vượt người dệt vải.
- Thưa Hiền giả, thế nào là một
cực đoan? Thế nào là cực đoan thứ hai? Thế nào là chặng
giữa? Thế nào là người dệt vải?
2. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo
thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
- Thưa chư Hiền, xúc là một cực
đoan. Xúc tập khởi là cực đoan thứ hai. Xúc diệt là chặng
giữa. Ái là người thợ dệt; vì rằng ái dệt, nên khiến
cho vị ấy phải sanh ở hữu này. Cho đến như vậy, thưa
chư Hiền, Tỷ-kheo thắng tri được điều có thể thắng tri,
liễu tri được điều có thể liễu tri. Do thắng tri được
điều có thể thắng tri, do liễu tri được điều có thể
liễu tri, ngay trong hiện tại, vị ấy có thể chấm dứt khổ
đau.
3. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo
khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
- Quá khứ, thưa chư Hiền, là một
cực đoan. Tương lai là cực đoan thứ hai. Hiện tại là chặng
giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt, nên khiến cho vị
ấy phải sanh ở hữu này. Cho đến như vậy, thưa chư Hiền,
Tỷ-kheo thắng tri được điều có thể tri... vị ấy có thể
chấm dứt khổ đau.
4. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo
khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
- Lạc, thưa chư Hiền, là một cực
đoan. Khổ là cực đoan thứ hai. Không khổ không lạc là chặng
giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt, nên khiến cho vị
ấy phải sanh ở hữu này... có thể chấm dứt khổ đau.
5. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo
khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
- Danh, thưa chư Hiền, là một cực
đoan. Sắc là cực đoan thứ hai. Thức là chặng giữa. Ái
là người dệt vải. Do ái dệt... có thể chấm dứt khổ
đau.
6. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo
khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
- Sáu nội xứ, thưa chư Hiền, là
một cực đoan. Sáu ngoại xứ là cực đoan thứ hai. Thức
là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt... có thể
chấm dứt khổ đau.
7. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo
khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
- Thân, thưa chư Hiền, là một cực
đoan. Thân tập khởi là cực đoan thứ hai. Thân kiến diệt
là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt... có thể
chấm dứt khổ đau.
8. Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo
khác thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
- Thưa chư Hiền, tất cả chúng
tôi đã trả lời tùy theo sự hiểu biết của chúng tôi. Thưa
chư Hiền, chúng ta sẽ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, chúng
ta sẽ hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho
chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ thọ trì như vậy.
- Thưa vâng, thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo trưởng lão vâng đáp
Tỷ-kheo ấy. Rồi các trưởng lão đi đến Thế Tôn, sau khi
đi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi
xuống một bên, các Tỷ -kheo trưởng lão thuật lại với
Thế Tôn tất cả câu chuyện đã xảy ra và thưa:
- Bạch Thế Tôn, ai là người đã
khéo nói?
- Tất cả các Thầy, này các Tỷ-kheo,
đều khéo nói theo phương pháp của mình. Nhưng, đây là vấn
đề Ta nói về con đường đi đến bờ bên kia trong các câu
hỏi của Metteyya.
Ai biết hai cực đoan,
Giữa bậc Trí không nhiễm,
Ta gọi bậc Ðại nhân,
Ðây, vượt người dệt vải.
Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo trưởng lão vâng
đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
- Xúc, này các Tỷ-kheo, là cực
đoan. Xúc tập khởi là cực đoan thứ hai. Xúc diệt là chặng
giữa. Ái là người dệt vải; vì rằng ái dệt nên khiến
cho vị ấy phải sanh ở hữu này. Cho đến như vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thắng tri được điều có thể thắng tri,
liễu tri được điều có thể liễu tri. Do thắng tri được
điều có thể thắng tri, liễu tri được điều có thể liễu
tri, ngay trong hiện tại, vị ấy có thể chấm dứt khổ đau.
(VIII) (62) Lời Cảm Hứng
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn đang du hành
giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến một
thị trấn của dân chúng Kosala tên là Dandakappaka. Rồi Thế
Tôn từ trên đường bước xuống, ngồi xuống trên chỗ đã
được sửa soạn dưới một gốc cây; còn các Tỷ-kheo ấy
đi vào Dandakappaka để tìm chỗ ở. Bấy giờ Tôn giả Aụnanda
cùng với một số đông Tỷ-kheo, đi đến sông Aciravatì để
rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra
khỏi sông, đứng trên bờ đắp một y để phơi tay chân cho
khô.
2. Rồi một Tỷ-kheo đi đến Tôn
giả Ananda, sau khi đến, thưa với Tôn giả Ananda:
- Có phải Thế Tôn tập trung tất
cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như
sau: "Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục
cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được" hay có phải
nhờ một Thiên nhân?
- Thật đúng như Thế Tôn đã tuyên
bố.
Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, với một
số đông Tỷ-kheo, con đi đến sông Aciravatì để rửa tay
chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông,
đứng trên bờ đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô.
Rồi bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo đi đến con, sau khi đến
thưa với con: "Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa
Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta
phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến
một kiếp, không thể cứu độ được' hay có phải nhờ một
Thiên nhân? "
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn,
con trả lời Tỷ-kheo ấy: "Thưa Hiền giả, thật đúng như
Thế Tôn đã tuyên bố".
- Này Ananda, hoặc Tỷ-kheo ấy là
vị tân nhập, xuất gia chưa được bao lâu, hay vị ấy là
Tỷ-kheo trưởng lão ngu si, không thông minh. Làm sao khi ta đã
tuyên bố một chiều, ở đây lại có thể có trường hợp
thứ hai được? Ta không thể thấy về một người nào khác,
này Aụnanda, sau khi tập trung tất cả tâm, Ta đã tuyên bố
như vậy, trừ với Devadatta! Cho đến khi nào, này Ananda, Ta
thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa
ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau:
"Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục
cho đến một kiếp, không thể cứu độ được". Cho đến
khi nào, này Ananda, Ta không thấy một pháp trắng nhỏ như
đầu sợi lông đuôi ngựa ở Davadatta, cho nên Ta đã tuyên
bố về Devadatta như sau: "Devadatta phải sanh vào đọa xứ,
phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu
hộ được". Ví như, này Ananda, một hố phân cao hơn đầu
người, đầy cả phân, và một người rơi vào hố phân cho
đến cả đầu. Rồi một người khác đi đến, muốn lợi
ích, muốn hạnh phúc, muốn người ấy an ổn khỏi các khổ
ách, muốn kéo người ấy ra khỏi hố phân ấy. Người này
đi vòng quanh hố phân và không thấy cho đến một điểm nhỏ
như đầu sợi lông đuôi ngựa ở người ấy mà không bị
dính phân, để có thể nắm lấy chỗ ấy và kéo lên. Cũng
vậy, này Ananda, cho đến khi nào, Ta thấy một pháp trắng
nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã
không tuyên bố về Devadatta như sau: "Devadatta phải sanh vào
đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không
thể cứu hộ được". Nếu thầy muốn nghe, này Ananda, Như
Lai sẽ phân tích về căn trí của con người.
- Nay đã đến thời, bạch Thế
Tôn! Nay đã đến thời, bạch Thiên Thệ, để Thế Tôn phân
tích các căn trí của con người, sau khi nghe Thế Tôn, các
Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này Ananda, hãy nghe và suy
nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
3. - Ở đây, này Ananda, với tâm
của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: "Trong người
này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện". Sau
một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết
tâm của người ấy: "Trong người này, các pháp thiện đã
biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu, nhưng còn
có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và pháp thiện sẽ
khởi lên từ cội gốc thiện ấy". Như vậy người này sẽ
không bị thối đọa trong tương lai. Ví như, này Ananda, các
hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị
gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống bám
sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa
soạn. Này Ananda, Thầy có thể biết những hột giống này
sẽ được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh
không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này Ananda, ở đây,
với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: "Trong
người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện".
Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết
tâm của người ấy: "Trong người này, các pháp thiện đã
biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu. Nhưng còn
có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và thiện pháp sẽ
khởi lên từ cội gốc thiện ấy". Như vậy người này sẽ
không bị thối đọa trong tương lai. Như vậy, này Ananda, Như
Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng
vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được
các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với
tâm của mình biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
4. Ở đây, này Ananda, với tâm của
Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: "Trong người này,
có những pháp thiện, có những pháp bất thiện". Sau một
thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm
của người ấy: "Trong người này, các pháp bất thiện đã
biến mất, các pháp thiện đang hiện hữu, nhưng còn có cội
gốc bất thiện chưa bị cắt đứt và các pháp bất thiện
sẽ khởi lên từ cội gốc bất thiện ấy". Như vậy người
này sẽ bị thối đọa trong tương lai. Ví như, này Ananda,
các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa
bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống,
được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất
đầy sỏi đá. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột
giống này sẽ không có thể được lớn lên, được tăng
trưởng, được lớn mạnh không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này Ananda, ở đây,
với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: "Trong người
này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện". Sau
một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết
tâm của người ấy: "Trong người này, các pháp bất thiện
đã biến mất, các pháp thiện đang hiện hữu, nhưng cội
gốc của pháp bất thiện chưa được cắt đứt và các pháp
bất thiện sẽ khởi lên từ cội gốc bất thiện ấy. Như
vậy người này sẽ bị thối đọa trong tương lai". Như vậy,
này Ananda, Như Lai với tâm của mình, đã biết được tâm
của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của
mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy,
này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được pháp sanh
khởi trong tương lai.
5. Ở đây, này Ananda, với tâm của
Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: "Trong người này, có
những pháp thiện, có những pháp bất thiện". Sau một thời
gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người
ấy: "Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ như đầu
sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp
bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân hoại mạng
chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục". Ví như,
này Ananda, các hột giống bị bể vụn, bị hư thối, bị
gió và sức nóng phá hoại, được bám sâu trong cánh đồng,
được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Aụnanda, Thầy
có thể rõ biết những hột giống này không thể được lớn
lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này Ananda, với tâm
của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: "Trong người này,
có những pháp thiện, và những pháp bất thiện". Sau một
thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của
người ấy: "Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ
như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với
những pháp bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân
hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ,
địa ngục". Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình
biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như
Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người.
Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được
pháp sanh khởi trong tương lai.
Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda
bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có thể tuyên bố
ba hạng người khác đồng loại với ba người này hay không?
- Có thể được, này Ananda.
Thế Tôn nói như sau:
6. - Ở đây, này Ananda, với tâm
của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: "Trong người
này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện". Sau
một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm
của người ấy: "Trong người này, các pháp thiện đã biến
mất, các pháp bất thiện đang hiện khởi; và cội gốc thiện
chưa bị cắt đứt và nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên
bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ đi đến thối đọa
trong tương lai". Ví như, này Ananda, các cục than cháy đỏ,
rực cháy, cháy lửa ngọn, được quăng trên đất sỏi. Này
Ananda, Thầy có biết không, đống than này không có thể lớn
lên, tăng trưởng, lớn mạnh?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Ví như, này Ananda, vào buổi chiều,
mặt trời đang lặn, Thầy có thể biết được chăng, này
Ananda, biết rằng: "Ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã
xuất hiện"?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Ví như, này Ananda, khi đêm đã qua
một phần, trong thời gian ăn cơm, Thầy có biết chăng, này
Ananda, biết rằng: "Ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã
xuất hiện"?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này Ananda, ở đây với
tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: "Trong
người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện".
Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết
tâm của người ấy, biết rằng: "Trong người này, các pháp
thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đã hiện khởi.
Và cội gốc thiện chưa bị cắt đứt, đi đến hoàn toàn
bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ đi
đến thối đọa trong tương lai". Cũng vậy, này Aụnanda, Như
Lai biết được tâm của loài Người, với tâm của mình.
Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được
các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với
tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
7. Ở đây, này Ananda, với tâm của
Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: "Trong người này,
có những pháp thiện, có những pháp bất thiện". Sau một
thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của
người ấy: "Trong người này, các pháp bất thiện đã biến
mất, các pháp thiện hiện khởi; cội gốc bất thiện chưa
bị cắt đứt, nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi
người ấy. Như vậy, người này sẽ không phải bị thối
đọa trong tương lai". Ví như, này Ananda, đống than cháy đỏ,
rực cháy, cháy lửa ngọn, quăng trên một đống cỏ khô,
hay trên đống củi khô. Này Ananda, Thầy có biết chăng, đống
than này sẽ được lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Ví như, này Ananda, đêm đã gần
mãn, mặt trời đang mọc; này Ananda, Thầy có biết chăng bóng
tối sắp sửa biến mất, ánh sáng sẽ hiện ra"?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Ví như, này Ananda, trong một thời
gian sau, vào giữa trưa, vào giờ ăn cơm, Thầy có biết chăng,
này Ananda, bóng tối đã biến mất, ánh sáng đã hiện ra"?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này Ananda, ở đây,
với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau:
"Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất
thiện". Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta,
Ta rõ biết tâm của người ấy: "Trong người này, pháp bất
thiện đã biến mất, các pháp thiện được hiện khởi; cội
gốc bất thiện chưa bị cắt đứt, nhưng đi đến hoàn toàn
bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ không
phải bị thối đọa trong tương lai". Cũng vậy, này Ananda,
Như Lai biết được tâm của loài Người với tâm của mình.
Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được
các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với
tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
8. Ở đây, này Ananda, với tâm của
Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: "Trong người này,
có những pháp thiện, cũng có những pháp bất thiện". Sau
một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm
của người ấy: "Trong người này không có pháp bất thiện
cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành
tựu với những pháp thuần túy trắng, những pháp không có
lỗi lầm, ngay trong hiện tại, sẽ được nhập Niết-bàn".
Ví như, này Ananda, những cục than nguội lạnh, đã dập tắt,
bị quăng trên đống cỏ hay trên đống củi khô. Này Ananda,
Thầy có biết chăng, đống than này không thể lớn lên, tăng
trưởng, lớn mạnh?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Cũng vậy, ở đây này Aụnanda,
với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau:
"Trong người này, có những pháp thiện, cũng có những pháp
bất thiện". Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta,
Ta rõ biết tâm của người ấy: "Trong người này không có
pháp bất thiện cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa.
Người này thành tựu với những pháp thuần túy trắng, những
pháp không có lỗi lầm, ngay trong hiện tại, sẽ được nhập
Niết-bàn". Như vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của
loài Người với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai
với tâm của mình đã biết được căn trí của mình, biết
được pháp sanh khởi trong tương lai.
Ở đây, này Ananda, ba hạng người
trước, một trong ba người ấy không phải bị thối đọa,
một phải bị thối đọa, một bị rơi vào đọa xứ, địa
ngục. Ở đây, này Ananda, trong ba hạng người sau, một trong
ba hạng người này không phải bị thối đọa, một phải
bị thối đọa, một được nhập Niết-bàn.
(IX) (63) Một Pháp Môn Quyết Trạch
1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết
cho các Thầy pháp môn thể nhập, pháp môn pháp. Hãy nghe và
tác ý, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế
Tôn. Thế Tôn nói như sau:
2. - Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là pháp môn thể nhập (quyết trạch), pháp môn pháp?
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
các dục, cần phải biết duyên khởi các dục, cần phải
biết các dục sai biệt, cần phải biết các dục dị thục,
cần phải biết các dục đoạn diệt, cần phải biết con
đường đưa đến các dục đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo,
cần phải biết cảm thọ, cần phải biết các cảm thọ duyên
khởi, cần phải biết các cảm thọ sai biệt, cần phải biết
các cảm thọ dị thục, cần phải biết các cản thọ đoạn
diệt, cần phaỉ biết con đường đưa đến các cảm thọ
đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các tưởng,
cần phải biết các tưởng duyên khởi, cần phải biết các
tưởng sai biệt, cần phải biết các tưởng dị thục, cần
phải biết các tưởng đoạn diệt, cần phải biết con đường
đưa đến các tưởng đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải
biết các lậu hoặc, cần phải biết các lậu hoặc duyên
khởi, cần phaỉ biết các lậu hoặc sai biệt, cần phải
biết các lậu hoặc dị thục, cần phải biết các lậu hoặc
đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các lậu
hoặc đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết nghiệp,
cần phải biết duyên khởi các nghiệp, cần phải biết các
nghiệp sai biệt, cần phải biết các nghiệp dị thục, cần
phải biết các nghiệp đoạn diệt, cần phải biết con đường
đưa đến nghiệp đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải
biết khổ, cần phải biết khổ duyên khởi, cần phải biết
khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết
khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ
đoạn diệt.
3. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
các dục, cần phải biết các dục duyên khởi, cần phải
biết các dục sai biệt, cần phải biết các dục dị thục,
cần phải biết các dục đoạn diệt, cần phải biết con
đường đưa đến các dục đoạn diệt, đã được nói như
vậy. Và do duyên gì được nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng
dưỡng này: Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả ý,
khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Các tiếng do tai nhận thức... các hương do mũi nhận thức...
các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân nhận thức...
khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục,
hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, dầu chúng không phải dục, chúng
được gọi là dục trưởng dưỡng trong giới luật của bậc
Thánh.
Các tư duy tham ái,
Là dục của con người,
Các hoa mỹ ở đời,
Chúng không phải là dục,
Các tư duy tham ái
Là dụccủa con người,
Các hoa mỹ an trú
Như vậy ở trên đời,
Ở đây những bậc Trí,
Nhiếp phục được lòng dục.
4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các
dục duyên khởi? Xúc, này các Tỷ-kheo, là các dục duyên khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các dục sai biệt? Này các Tỷ-kheo, dục trên các sắc là
khác, dục trên các tiếng là khác, dục trên các hương là
khác, dục trên các vị là khác, dục trên các xúc là khác.
Này các Tỷ-kheo, đây là các dục sai biệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các dục dị thục? Này các Tỷ-kheo, khi muốn một cái gì,
sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy,
để dự phần phước đức, hay để dự phần không phước
đức, Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các dục dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các dục đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo là
dục đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành
đưa đến các dục đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến, chánh
tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm, chánh định. Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Thánh
đệ tử rõ biết các dục như vậy, rõ biết các dục sanh
khởi như vậy, rõ biết các dục sai biệt như vậy, rõ biết
các dục dị thục như vậy, rõ biết các dục đoạn diệt
như vậy, rõ biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt
như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thế
nhập này như là các dục đoạn diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
các dục... cần phải biết con đường đưa đến dục đoạn
diệt, Ðoạn diệt đã được nói như vậy. Chính do duyên
này, đã được nói như vậy.
5. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
các cảm thọ... cần phải biết con đường đưa đến các
cảm thọ đoạn diệt, đã được nói như vậy. Do duyên gì
đã được nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ
này: lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ.
6. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là các cảm thọ sanh khởi? Xúc, này các Tỷ-kheo, là các cảm
thọ sanh khởi. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ
sai biệt? Này các Tỷ-kheo, có các lạc thọ liên hệ đến
vật chất có các lạc thọ không liên hệ đến vật chất;
có các khổ thọ không liên hệ đến vật chất, có các khổ
lạc thọ không liên hệ đến vật chất; có các cảm thọ
không khổ không lạc liên hệ đến vật chất, có các cảm
thọ không khổ không lạc không liên hệ đến vật chất.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các cảm thọ sai biệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các cảm thọ dị thục? Này các Tỷ-kheo, khi nào cảm thọ
cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ
vật ấy, để dự phần phước đức, hay để dự phần không
phước đức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các cảm thọ
dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các cảm thọ đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo,
là các cảm thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo
tám ngành đưa đến các cảm thọ đoạn diệt. Tức là chánh
tri kiến... chánh định. Và khi nào, này các Tỷ kheo, vị thánh
đệ tử đã biết các cảm thọ như vậy, rõ biết các cảm
thọ sanh khởi như vậy, rõ biết các cảm thọ sai biệt như
vậy, rõ biết các cảm thọ dị thục như vậy, rõ biết các
cảm thọ đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ
biết Phạm hạnh thể nhập này như là các cảm thọ đoạn
diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
các cảm thọ... cần phải biết con đường đưa đến các
cảm thọ đoạn diệt, đã nói như vậy. Chính do duyên này,
đã được nói như vậy.
7. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
các tưởng...cần phải biết con đường đưa đến các tưởng
đoạn diệt, đã được nói như vậy. Do duyên gì đã được
nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng
này: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng,
xúc tưởng, pháp tưởng.
8. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là tưởng sanh khởi? Này các Tỷ-kheo, xúc là các tưởng sanh
khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các tưởng sai biệt? Này các Tỷ-kheo, các tưởng trong các
sắc là khác, các tưởng trong các hương là khác, các tưởng
trong các vị là khác, các tưởng trong các xúc là khác, các
tưởng trong các pháp là khác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là
các tưởng sai biệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các tưởng dị thục? Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng các
tưởng là kết quả của thói quen, khi nào người ta biết
sự vật như thế nào, như thế nào, người ta nói sự vật
ấy như sau, như sau: "Như vậy tôi tưởng". Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là các tưởng dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các tưởng đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo,
là tưởng đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa
đến các tưởng đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến... chánh
định. Khi nào này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết
các tưởng như vậy, rõ biết các tưởng sanh khởi như vậy,
rõ biết các tưởng sai biệt như vậy, rõ biết các tưởng
dị thục như vậy, rõ biết các tưởng đoạn diệt như vậy,
rõ biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt như
vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập
này như là các tưởng đoạn diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
các tưởng... cần phải biết con đường đưa đến các tưởng
đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên này đã
được nói như vậy.
9. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
các lậu hoặc... cần phải biết con đường đưa đến các
lậu hoặc đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên
nào đã được nói như vậy? Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc
này: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
10. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là các lậu hoặc sanh khởi? Vô minh, này các Tỷ-kheo, là các
lậu hoặc sanh khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các lậu hoặc sai biệt? Này các Tỷ-kheo, có các lậu hoặc
đưa đến địa ngục, có các lậu hoặc đưa đến bàng sanh,
có các lậu hoặc đưa đến ngạ quỷ, có các lậu hoặc đưa
đến thế giới loài người, có các lậu hoặc đưa đền
thế giới chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu
hoặc sai biệt.
Và này các Tỷ Kheo, thế nào là
các lậu hoặc dị thục ? Này các Tỷ kheo, khi nào vì vô minh
cái gì sanh khởi, một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ
vật ấy, để dự phấn phước đức, hay để dự phấn không
phước đức. Này các Tỷ kheo, đây gọi là các lậu hoặc
dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các lậu hoặc đoạn diệt? Vô minh đoạn diệt, này các Tỷ-kheo,
là các lậu đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám
ngành đưa đến các lậu hoặc đoạn diệt. Tức là chánh
tri kiến... chánh định. Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Thánh
đệ tử rõ biết các lậu hoặc là như vậy, rõ biết các
lậu hoặc sanh khởi như vậy, rõ biết các lậu hoặc sai biệt
như vậy, rõ biết các lậu hoặc dị thục như vậy, rõ biết
các lậu hoặc đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa
đến các lậu hoặc đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy
được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các lậu
hoặc đoạn diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
các lậu hoặc... cần phải biết con đường đưa đến các
lậu hoặc đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên
này đã được nói như vậy.
11. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
các nghiệp... cần phải biết con đường đưa đến các nghiệp
đoạn diệt được nói như vậy. Do duyên gì được nói như
vậy?
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng
suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về
lời, về ý.
12. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là các nghiệp sanh khởi? Này các Tỷ-kheo, xúc là các nghiệp
sanh khởi.
- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
các nghiệp sai biệt? Này các Tỷ-kheo, có nghiệp đưa đến
cảm thọ ở địa ngục, có nghiệp đưa đến cảm thọ loài
bàng sanh, có nghiệp đưa đến cảm thọ cõi ngạ quỷ, có
nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới loài Người, có nghiệp
đưa đến cảm thọ thế giới chư Thiên. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là các nghiệp sai biệt. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là các nghiệp dị thục? Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố
rằng có ba loại nghiệp dị thục: Ở ngay đời hiện tại,
hay ở đời sau, hay ở một đời sau nữa. Này các Tỷ-kheo,
đây là các nghiệp dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
nghiệp đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là
nghiệp đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường
đưa đến các nghiệp đoạn diệt. Ðó là chánh tri kiến...
chánh định. Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ
biết các nghiệp như vậy, rõ biết các nghiệp sanh khởi như
vậy, rõ biết các nghiệp sai biệt như vậy, rõ biết các
nghiệp dị thục như vậy, rõ biết các nghiệp đoạn diệt
như vậy, rõ biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn
diệt như vậy, khi ấy, vị ấy rõ biết Phạm hạnh thể nhập
này như là các nghiệp đoạn diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
các nghiệp... cần phải rõ biết con đường đưa đến các
nghiệp đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên
này đã được nói như vậy.
13. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ
sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết
khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ
đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên gì đã
được nói như vậy?
Sanh là khổ, già là khổ, bệnh
là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ não là khổ, cầu không
được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
14. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là khổ sanh khởi? Ái, này các Tỷ-kheo, là khổ sanh khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
khổ sai biệt? Này các Tỷ-kheo có khổ lớn, có khổ nhỏ,
có khổ chậm biến, có khổ mau biến. Này các Tỷ-kheo, đây
là khổ sai biệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
khổ dị thục? Này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người bị
khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, ưu sầu, bi thảm, than
van, đập ngực, khóc lóc, đi đến bất tỉnh; do bị khổ
chinh phục, tâm bị trói buộc, nên đi tìm phía bên ngoài xem
có ai biết được một câu, hai câu thần chú đề đoạn diệt
khổ này.
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng
khổ đem lại kết quả mê loạn, đem lại kết quả tìm kiếm.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là khổ dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
khổ đoạn diệt?
Ái đoạn diệt, này các Tỷ-kheo,
là khổ đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến
khổ đoạn diệt. Ðó là chánh kiến... chánh định. Này các
Tỷ-kheo, khi nào Thánh đệ tử rõ biết khổ như vậy, rõ
biết khổ sanh khởi như vậy, rõ biết khổ sai biệt như vậy,
rõ biết khổ dị thục như vậy, rõ biết khổ đoạn diệt
như vậy, rõ biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt
như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể
nhập này như là khổ đoạn diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết
khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ
sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết
khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ
đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên này, đã
được nói như vậy.
Này các Tỷ-kheo, đây là thể nhập
pháp môn, pháp pháp môn.
(X) (64) Tiếng Rống Con Sư Tử
1. - Này các Tỷ-kheo, có sáu Như
Lai lực của Như Lai, do thành tựu các lực này, Như Lai tự
nhận cho mình địa vị ngư vương, rống tiếng rống con sư
tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe pháp. Thế nào là sáu?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như
Lai như thật rõ biết xứ là xứ, phi xứ là phi xứ. Này các
Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết xứ là xứ, phi xứ là
phi xứ, như vậy là Như Lai lực của Như Lai. Chính nhờ Như
Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngưu vương,
rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, chuyển bánh
xe pháp.
3. Lại nữa, này các Tỷ kheo, Như
Lai như thật rõ biết quả báo tùy thuộc sở do, tùy thuộc
sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại.
Này các Tỷ kheo , Như Lai như thật rõ biết quả báo tùy thuộc
sở do, tùy theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị
lai, hiện tại, như vậy là Như Lai lực của Như Lai.... chuyển
bánh xe pháp.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như
Lai như thật rõ biết sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự
xuất khởi của những thành đạt về Thiền, về giải thoát,
về định. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật biết... và chuyển
bánh xe pháp.
5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như
Lai nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai
đời... Như vậy, Như Lai nhớ đến nhiều đời sống quá
khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. này các
Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết... và chuyển bánh xe pháp.
6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như
Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống
và chết của chúng sanh... Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật
rõ biết... và chuyển bánh xe pháp.
7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như
Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí,
chứng ngộ thành tựu và an trú ngay trong hiện tại vô lậu
tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Như Lai
nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng
ngộ, thành tựu và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm
giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ Như Lai lực này, Như
Lai tự nhận cho mình địa vị ngư vương, rống tiếng con
sư tử trong các hội chúng và chuyển bánh xe pháp.
Này các Tỷ-kheo, có sáu Như Lai
lực này của Như Lai, do thành tựu các lực này, Như Lai tự
nhận cho mình địa vị ngư vương, rống tiếng rống con sư
tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe chánh pháp.
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu
có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên
hệ đến như thật trí về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ,
này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết
của Như Lai về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ; tùy theo như
vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên
hệ đến như thật trí về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ.
9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu
có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên
hệ đến như thật trí về quả báo tùy thuộc sở do, tùy
theo sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện
tại, này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu
biết của Như Lai về quả báo tùy thuộc sờ do, tùy theo sở
nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại; tùy
theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi
liên hệ đến như thật trí về quả báo tùy thuộc sở do,
tùy thuộc sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai,
hiện tại.
10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu
có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên
hệ đến sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của
những thành đạt về thiền, về giải thoát, về định, này
các Tỷ-kheo; tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết của
Như Lai về sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi
của thành tựu về Thiền, về giải thoát, về định; tùy
theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi
liên hệ đến như thật trí về sự tạp nhiễm, sự thanh
tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về Thiền, về
giải thoát, về định.
11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu
có những người khác đến hỏi Như lai các câu hỏi liên
hệ đến như thật trí về nhớ đến các đời sống quá
khứ, này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu
biết của Như Lai, về nhớ đến các đời sống quá khứ;
tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu
hỏi liên hệ đến như thật trí về nhớ đến các đời
sống quá khứ.
12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu
có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên
hệ đến như thật trí về sự sanh diệt của các chúng sanh,
này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết
của Như Lai về sự sanh diệt của các chúng sanh; tùy theo
như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi
liên hệ đến như thật trí về sự sanh diệt của các chúng
sanh.
13. Ở đây, này các Tỷ-kheo nếu
có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên
hệ đến như thật trí... về sự đoạn diệt các lậu hoặc;
hiểu biết của Như Lai về sự đoạn diệt các lậu hoặc;
tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu
hỏi liên hệ đến như thật trí về sự đoạn diệt các
lậu hoặc.
14. Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên
hệ đến như thật trí này, về xứ là xứ, phi xứ là phi
xứ, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có
Thiền định, không phải với người không Thiền định. Liên
hệ đến như thật trí về quả báo tùy thuộc sở do, tùy
theo sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện
tại, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người
có Thiền định, không phải với người không có Thiền định.
Liên hệ đến như thật trí về sự tạp nhiễm, sự thanh
tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về Thiền, về
giải thoát, về định, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có
đối với người có Thiền định, không phải với người
không có Thiền định. Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên hệ
đến như thật trí, nhớ đến các đời sống quá khứ, Ta
tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền
định, không phải với người không thiền định. Liên hệ
đến như thật trí về sự sanh diệt của chúng sanh, Ta tuyên
bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến như thật trí về
sự đoạn diệt các lậu hoặc, Ta tuyên bố rằng trí ấy
chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với
người không có thiền định . Như vậy, này các Tỷ-kheo,
định là chánh đạo, không định là tà đạo.
VII. Phẩm Chư
Thiên
(I) (65) Vị Bất Lai
1. - Do không đoạn tận sáu pháp,
này các Tỷ-kheo, không có thể chứng được quả Bất lai.
Thế nào là sáu?
2. Bất tín, không tàm, không quý,
biếng nhác, thất niệm, ác tuệ. Do không đoạn tận sáu pháp
này, này các Tỷ-kheo, không có thể chứng được quả Bất
lai.
3. Do đoạn tận sáu pháp, này các
Tỷ-kheo, có thể chứng được quả Bất lai. Thế nào là sáu?
4. Bất tín, không tàm, không qu