XIII. Phẩm
Bệnh
(I) (121) Người Bệnh
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì,
tạo Ðại Lâm, giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn
vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hành
lang người bệnh. Thế Tôn thấy một Tỷ-kheo ốm yếu bệnh
hoạn, thấy vậy ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau
khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, nếu năm pháp
này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người
ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt
các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng
ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải
thoát. Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng ghê gớm
đối với các món ăn, với tưởng không thích thú đối với
tất cả thế giới, quán vô thường trong tất cả hành, và
nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết.
- Này các Tỷ-kheo, nếu năm pháp
này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người
ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt
các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng
ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải
thoát.
(II) (122) Niệm Xứ
1. - Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, này
các Tỷ-kheo, tu tập làm cho sung mãn năm pháp, một trong hai
quả sau đây được chờ đợi cho vị ấy: Ngay trong hiện
tại, được chánh trí, hay nếu có dư y, chứng quả Bất hoàn.
Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Tỷ-kheo nội tâm niệm được khéo an trú với trí tuệ về
sự sanh diệt của các pháp; sống quán bất tịnh trên thân,
với tưởng ghê tởm đối với các món ăn, với tưởng không
thích thú đối với tất cả thế giới, quán vô thường đối
với tất cả hành.
Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, này các
Tỷ-kheo, tu tập năm pháp này, làm cho sung mãn năm pháp này,
một trong hai quả sau đây được chờ đợi cho vị ấy: Ngay
trong hiện tại, được chánh trí, hay nếu có dư y, chứng
quả Bất hoàn.
(III) (123) Săn Sóc Bệnh
1. - Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, một người bị bệnh tự săn sóc bệnh không
được tốt đẹp. Thế nào là năm?
2. Làm điều không thích đáng; không
biết vừa phải trong khi chữa trị; không sử dụng thuốc;
với người săn sóc bệnh muốn lợi ích (cho mình, cho người
bệnh); không có như thật nói rõ bệnh hoạn: Khi tăng tiến
là tăng tiến như vậy, khi giảm thiểu là giảm thiểu như
vậy, khi đứng lại là đứng lại như vậy; đối với các
khổ thọ thuộc về thân khởi lên, khốc liệt, cường liệt,
mãnh liệt, không thích thú, không thích ý, đoạt mạng, khó
lòng nhẫn thọ.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, kẻ bị bệnh không săn sóc bệnh mình cho được
tốt đẹp.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một người bị bệnh là người săn sóc bệnh mình
được tốt đẹp. Thế nào là năm?
4. Làm điều thích đáng; biết vừa
phải trong khi chữa trị; có sử dụng thuốc; với người
săn sóc bệnh muốn lợi ích (cho mình); như thật nói rõ bệnh
hoạn: Khi tăng tiến là tăng tiến như vậy, khi giảm thiểu
là giảm thiểu như vậy, khi đứng lại là đứng lại như
vậy; đối với các khổ thọ thuộc về thân khởi lên khốc
liệt, cường liệt, mãnh liệt, không thích thú, không thích
ý, đoạt mạng, có thể nhẫn chịu.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một người bị bệnh là người săn sóc bệnh mình
được tốt đẹp.
(IV) (124) Săn Sóc Bệnh (2)
1. - Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, một người săn sóc bệnh không đủ khả năng
để săn sóc người bệnh. Thế nào là năm?
2. Không có năng lực pha thuốc;
không biết cái gì thích đáng, cái gì không thích đáng; đưa
cái gì không thích đáng, không đưa cái gì thích đáng, vì
muốn lợi ích vật chất, săn sóc người bệnh, không phải
vì lòng từ, cảm thấy ghê tởm khi phải dọn phân, nước
tiểu, đồ mửa ra, hay đờm; không có năng lực thỉnh thoảng
với pháp thoại trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm
cho hoan hỷ người bệnh.
Thành tựu năm pháp này, một người
săn sóc bệnh không đủ khả năng để săn sóc người bệnh.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một người săn sóc bệnh có đủ khả năng để
săn sóc người bệnh. Thế nào là năm?
4. Có năng lực pha thuốc; biết
cái gì thích đáng, cái gì không thích đáng; đưa cái gì thích
đáng, không đưa cái gì không thích đáng, vì lòng từ săn
sóc người bệnh, không vì lợi ích vật chất, không cảm
thấy ghê tởm khi phải dọn phân, nước tiểu, đồ mửa ra,
hay đờm; có năng lực thỉnh thoảng với pháp thoại trình
bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ người
bệnh.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một người săn sóc bệnh có đủ khả năng để
săn sóc người bệnh.
(V) (125) Tuổi Thọ (1)
1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
không gia tăng tuổi thọ. Thế nào là năm?
2. Làm việc không thích đáng, không
biết vừa phải trong việc thích đáng, ăn các đồ không tiêu
hóa, du hành phi thời, và sống không Phạm hạnh.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, không
gia tăng tuổi thọ.
3. Năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
gia tăng tuổi thọ. Thế nào là năm?
4. Làm việc thích đáng, biết vừa
phải trong việc thích đáng, ăn các đồ ăn tiêu hóa, du hành
phải thời, và sống Phạm hạnh.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, gia
tăng tuổi thọ.
(VI) (126) Tuổi Thọ (2)
(...Như kinh trên, chỉ
khác hai pháp sau cùng du hành phi thời và sống không Phạm
hạnh được thế vào với ác giới và bạn bè ác. Và hai
thiện pháp du hành phải thời và sống Phạm hạnh được
thế vào với có giới và bạn bè thiện...)
(VII) (127) Sống Biệt Lập
1. - Thành tựu năm pháp này, vị
Tỷ-kheo không đủ điều kiện để sống biệt lập chúng
Tăng. Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không tự vừa đủ với y nhận được chỗ này chỗ kia; không
tự vừa đủ với đồ ăn khất thực nhận được chỗ này
chỗ kia; không tự vừa đủ với sàng tọa nhận được chỗ
này chỗ kia; không tự vừa đủ với dược phẩm trị bệnh
nhận được chỗ này chỗ kia; và sống với nhiều tư duy
về dục.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo không đủ điều kiện để sống biệt
lập chúng Tăng.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo đủ điều kiện để sống biệt lập
với chúng Tăng. Thế nào là năm?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
tự vừa đủ với y nhận được chỗ này chỗ kia; tự vừa
đủ với đồ ăn khất thực nhận được chỗ này chỗ này;
tự vừa đủ với sàng tọa nhận được chỗ này chỗ kia;
tự vừa đủ với dược phẩm nhận được chỗ này chỗ
kia; sống nhiều tư duy về viễn ly.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đủ điều kiện để sống biệt lập với
chúng Tăng.
(VIII) (128) Các Ðiều Khổ Cho
Sa Môn
1. - Có năm điều khổ này cho Sa-môn.
Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo không
tự vừa đủ với y nhận được chỗ này chỗ kia; không tự
vừa đủ với đồ ăn khất thực nhận được chỗ này chỗ
kia; không tự vừa đủ với sàng tọa nhận được chỗ này
chỗ kia; không tự vừa đủ với dược phẩm trị bệnh nhận
được chỗ này chỗ kia; sống không vui thích trong Phạm hạnh.
Này các Tỷ-kheo, có năm điều khổ
này cho Sa-môn.
3. Có năm an lạc này, này các Tỷ-kheo,
cho Sa-môn. Thế nào là năm?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
tự vừa đủ với y nhận được chỗ này chỗ kia; tự vừa
đủ với đồ ăn khất thực nhận được chỗ này chỗ kia;
tự vừa đủ với sàng tọa nhận được chỗ này chỗ kia;
tự vừa đủ với dược phẩm trị bệnh nhận được chỗ
này chỗ kia; sống vui thích trong Phạm hạnh.
Này các Tỷ-kheo, có năm an lạc
này cho vị Sa-môn.
(IX) (129) Ngũ Nghịch
1. - Có năm nghịch tội này, này
các Tỷ-kheo, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không
có thể chữa trị. Thế nào là năm?
2. Ðoạt mạng mẹ, đoạt mạng
cha, đoạt mạng vị A-la-hán, với ác tâm làm Như Lai chảy
máu, phá hòa hợp Tăng.
Này các Tỷ-kheo, năm pháp ngũ nghịch
này, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không thể
chữa trị.
(X) (130) Thành Tựu
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm điều
tổn thất này. Thế nào là năm?
2. Tổn thất bà con, tổn thất tài
sản, tổn thất tật bệnh, tổn thất giới, tổn thất tri
kiến. Này các Tỷ-kheo, không do nhân tổn thất bà con, hay
không do nhân tổn thất tài sản, hay không do nhân tổn thất
bệnh hoạn mà các loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung
sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo,
chính do nhân tổn thất giới, hay tổn thất tri kiến mà các
loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ,
ác thú, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, có năm tổn thất này.
3. Này các Tỷ-kheo, có năm thành
tựu này. Thế nào là năm?
4. Thành tựu bà con, thành tựu tài
sản, thành tựu vô bệnh, thành tựu giới, thành tựu tri kiến.
Này các Tỷ-kheo, không do nhân thành tựu bà con, hay không do
nhân thành tựu tài sản, hay không do nhân thành tựu vô bệnh,
mà các loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung sanh được
lên cõi lành, Thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo,
do nhân thành tựu giới hay do nhân thành tựu tri kiến, mà
các loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh
lên cõi lành, Thiên giới, cõi đời này.
Này các Tỷ-kheo, có năm thành tựu
này.
XIV. Phẩm Vua
(I) (131) Chuyển Luân Vương
1. - Thành tựu năm chi phần, này
các Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân chuyển bánh xe với pháp; bánh
xe ấy không một bàn tay ai có thể chuyển ngược lại, dầu
là con của người thù địch. Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vua
Chuyển Luân biết nghĩa, biết pháp, biết vừa phải, biết
thời và biết hội chúng.
Thành tựu năm chi phần, này các
Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân chuyển bánh xe với pháp; bánh xe ấy,
không một bàn tay ai có thể chuyển ngược lại, dầu là con
của người thù địch.
3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành
tựu năm pháp, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển
Pháp luân Vô thượng với pháp; bánh xe ấy, không do một ai
ở đời có thể chuyển ngược lại, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn,
Thiên, Ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời. Thế nào là
năm?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như
Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác biết nghĩa, biết pháp,
biết vừa phải, biết thời và biết hội chúng.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chuyển Pháp
luân Vô Thượng với pháp; bánh xe ấy, không một ai có thể
chuyển ngược lại, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm
thiên hay bất cứ ai ở đời.
(II) (132) Chuyển Luân Vương (2)
1. - Thành tựu năm chi phần, này
các Tỷ-kheo, con trưởng vua Chuyển Luân tiếp tục chuyển
vận bánh xe pháp do phụ vương đã chuyển vận; bánh xe ấy,
không một bàn tay ai có thể chuyển ngược lại, dầu là con
của người thù địch. Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
trưởng vua Chuyển Luân biết nghĩa, biết pháp, biết vừa
phải, biết thời và biết hội chúng.
Thành tựu năm chi phần này, này
các Tỷ-kheo, con trưởng vua Chuyển Luân tiếp tục chuyển
vận bánh xe pháp do phụ vương đã chuyển vận; bánh xe ấy,
không một bàn tay ai có thể chuyển ngược lại, dầu là con
của người thù địch.
3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Sàriputta
thành tựu năm pháp chơn chánh tiếp tục chuyển vận Vô thượng
pháp luân do Như Lai đã chuyển vận; bánh xe ấy, không do một
ai có thể chuyển ngược lại, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên,
Ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời. Thế nào là năm?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo Sàriputta
biết nghĩa lợi, biết pháp, biết vừa đủ, biết thời và
biết hội chúng.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Sàriputta chơn chánh tiếp tục chuyển vận Vô thượng
pháp luân do Như Lai đã chuyển vận; bánh xe ấy, không do một
ai có thể chuyển ngược lại, dầu là Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên,
Ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời.
(III) (133) Chuyển Luân Vương (3)
1. - Này các Tỷ-kheo, ai là vua Chuyển
Luân đúng pháp pháp vương, vị ấy chuyển vận bánh xe không
phải không thuộc của vua.
Khi nghe nói vậy, một vị Tỷ-kheo
bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, ai là vua cho vua
Chuyển Luân đúng pháp pháp vương?
- Chính là pháp, này Tỷ-kheo.
Thế Tôn nói vậy.
2. - Ở đây, này Tỷ-kheo, vua Chuyển
Luân đúng pháp pháp vương, y cứ pháp, tôn kính pháp, kính
trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy
pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tăng thượng. Vị này sắp
đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế ngự đúng pháp cho
dân chúng trong nước.
3. Lại nữa, này Tỷ-kheo, vua Chuyển
Luân đúng pháp pháp vương, y cứ pháp, tôn kính pháp, kính
trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy
pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tăng thượng. Vị này sắp
đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế ngự đúng pháp cho
các Sát-đế-lỵ, tùy hành, cho quân đội, cho các Bà-la-môn
gia chủ, cho dân chúng thị trấn và quốc độ, cho các Sa-môn,
Bà-la-môn, cho các loài thú và loài chim.
Như vậy, này Tỷ-kheo, vua Chuyển
Luân đúng pháp pháp vương ấy, y cứ pháp, tôn kính pháp,
kính trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy pháp làm tràng phan,
lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tăng thượng, sau khi
sắp đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế ngự đúng pháp
cho dân chúng trong nước. Sau khi sắp đặt một sự phòng hộ
bảo vệ, chế ngự đúng pháp cho các Sát-đế-lỵ, tùy tùng,
cho quân đội, cho các Bà-la-môn gia chủ, cho dân chúng chấn
và quốc độ, cho các Sa-môn, Bà-la-môn, cho các loài thú và
loài chim, vị ấy chuyển vận bánh xe với pháp; bánh xe ấy,
không một bàn tay ai có thể chuyển ngược lại dầu là con
của người thù địch.
Cũng vậy, này Tỷ-kheo, Như Lai,
bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác đúng pháp pháp vương, y cứ
pháp, tôn kính pháp, kính trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy
pháp làm tràng phan, lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm
tăng thượng, sắp đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế
ngự đúng pháp giữa các hàng Tỷ kheo: Thân nghiệp như vậy
cần phải thực hành, thân nghiệp như vậy không nên thực
hành; khẩu nghiệp như vậy cần phải thực hành, khẩu nghiệp
như vậy không nên thực hành; ý nghiệp như vậy cần phải
thực hành, ý nghiệp như vậy không nên thực hành; mạng sống
như vậy cần phải thực hành, mạng sống như vậy không nên
thực hành; làng, thị trấn như vậy cần phải đi đến; làng,
thị trấn như vậy không nên đi đến.
4. Lại nữa, này Tỷ-kheo, Như Lai,
bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đúng pháp pháp vương, y cứ
pháp, tôn kính pháp, kính trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy
pháp làm tràng phan, lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm
tăng thượng, sắp đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế
ngự đúng pháp giữa các Tỷ-kheo, giữa các Tỷ-kheo-ni, giữa
các nam cư sĩ, giữa các nữ cư sĩ: Thân nghiệp như vậy cần
phải thực hành, thân nghiệp như vậy không nên thực hành;
khẩu nghiệp như vậy cần phải thực hành, khẩu nghiệp như
vậy không nên thực hành; ý nghiệp như vậy cần phải thực
hành, ý nghiệp như vậy không nên thực hành; mạng sống như
vậy cần phải thực hành, mạng sống như vậy không nên thực
hành; làng, thị trấn như vậy cần phải đi đến; làng, thị
trấn như vậy không nên đi đến.
Như vậy, này Tỷ-kheo, Như Lai, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đúng pháp pháp vương y cứ pháp,
tôn kính pháp, kính trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy pháp
làm tràng phan, lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tăng
thượng, sắp đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế ngự
đúng pháp giữa các Tỷ-kheo, sau khi sắp đặt một sự phòng
hộ, bảo vệ, chê ngự đúng pháp giữa các Tỷ-kheo ni, sau
khi sắp đặt một sự bảo vệ, phòng hộ đúng pháp giữa
các nam cư sĩ, sau khi sắp đặt một sự bảo vệ, phòng hộ
đúng pháp giữa các nữ cư sĩ, Như Lai làm cho chuyển vận
Vô thượng pháp luân với pháp, bánh xe ấy không một Sa-môn
hay Bà-la-môn, Thiên Ma hay Phạm thiên, hay bất cứ ai ở đời
có thể chuyển ngược lại.
(IV) (134) Tại Mỗi Phương Hướng
1. - Thành tựu năm chi phần, này
các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh sống
tại phương hướng nào, vị ấy sống trong lĩnh vực mình
chiếm đoạt được. Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vua
Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, thiện sanh cả từ mẫu
hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời
tổ phụ, không một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn
đề huyết thống thọ sanh; là nhà giàu có, đại phú, sung
túc tài sản, ngân khố, kho lúa sung mãn; có uy lực, đầy
đủ bốn loại binh chủng trung thành và sẵn sàng tuân lệnh.
Vị tư lệnh là bậc Hiền trí, tinh luyện, sáng suốt và có
suy tư về những vấn đề quá khứ, vị lai, hiện tại. Và
bốn pháp này khiến danh xưng vị ấy được chín muồi. Thành
tựu với pháp danh xưng thứ năm này, tại phương hướng nào
vị ấy trú ở, vị ấy sống trong lãnh vực mình chiếm đoạt
được. Vì sao? Vì như vậy là địa hạt của những người
thắng trận.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành
tựu nam pháp, Tỷ-kheo sống tại phương hướng nào, vị ấy
sống với tâm giải thoát. Thế nào là năm?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
có giới, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy
đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhiệm,
chấp nhận, và học tập trong các học pháp. Như vậy giống
như vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đầy đủ về
thọ sanh. Vị ấy là bậc nghe nhiều, thọ trì điều được
nghe, tích tập điều được nghe, đối với các pháp sơ thiện,
trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh
hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, đối với các pháp như vậy
được nghe nhiều, được thọ trì, được ghi nhớ nhờ đọc
nhiều lần, chuyên ý quan sát, khéo thể nhập nhờ chánh kiến.
Giống như vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, giàu có,
đại phú, sung túc tài sản, ngân khố, kho lúa sung mãn, sống
tinh cần, tinh tấn đoạn trừ các pháp bất thiện, thành tựu
các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng
đối với các thiện pháp. Giống như vua Sát-đế-lỵ đã
làm lễ quán đảnh, đầy đủ uy lực, có trí tuệ, thành
tựu với trí tuệ về sanh diệt, với sự thể nhập thuộc
bậc Thánh vào con đường đưa đến đoạn tận khổ đau.
Giống như vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đầy đủ
với vị tư lệnh. Bốn pháp này khiến sự giải thoát của
vị ấy được chín muồi. Thành tựu với pháp giải thoát
thứ năm này, vị ấy trú tại phương hướng nào, vị ấy
trú với tâm giải thoát. Vì sao? Vì như vậy, này các Tỷ-kheo,
đây là (địa hạt) của những tâm giải thoát.
(V) (135) Mục Ðích(1)
1. - Thành tựu năm chi phần, này
các Tỷ-kheo, con trưởng của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ
quán đảnh có hy vọng về quốc độ. Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
trưởng của vua Sát-đế-l. đã làm lễ quán đảnh, thiện
sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh
cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một
dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh; đẹp trai,
khả ái, làm đẹp lòng mọi người với dung sắc thù thắng
như hoa sen, được cha mẹ thương yêu ưa thích, được dân
chúng quốc độ thị trấn thương yêu ưa thích; đối với
các nghề nghiệp thuộc vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh,
như nghề voi, ngựa, xe, cung và chuôi gươm, vị ấy hoàn toàn
được huấn luyện. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta được thiện
sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh
cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một
dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh; tại sao ta
lại không đặt hy vọng về quốc độ? Ta đẹp trai, khả
ái, làm đẹp lòng mọi người với dung sắc thù thắng như
hoa sen, tại sao ta lại không đặt hy vọng về quốc độ?
Ta được cha mẹ thương yêu ưa thích, tại sao ta lại không
đặt hy vọng về quốc độ? Ta được dân chúng quốc độ
thị trấn thương yêu ưa thích, tại sao ta lại không đặt
hy vọng về quốc độ? Ðối với các nghề nghiệp thuộc
vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh như nghề voi, ngựa
xe, cung và chuôi gươm ta hoàn toàn được huấn luyện, tại
sao ta lại không đặt hy vọng về quốc độ?"
Thành tựu năm chi phần này, này
các Tỷ-kheo, con trưởng của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ
quán đảnh đặt hy vọng vào quốc độ. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, Tỷ-kheo đặt hy vọng vào sự
đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là năm?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ
kheo có lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là Thế
Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn". Tỷ-kheo ấy ít bệnh, ít não,
sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng
quá, trung bình, hợp với tinh tấn. Tỷ-kheo ấy không lừa
đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chân đối với bậc
Ðạo sư, đối với các vị sáng suốt, hay đối với các
vị đồng Phạm hạnh. Tỷ-kheo ấy sống tinh cần tinh tấn,
từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu với các thiện pháp.
Tỷ-kheo ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến
sanh diệt các pháp, Thành tựu sự thể nhập thuộc bậc Thánh,
đưa đến chân chánh đoạn diệt khổ đau. Vị ấy suy nghĩ
như sau: "Ta có lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây
là Thế Tôn, bậc A-la-hán,...Phật, Thế Tôn". Tại sao ta lại
không đặt hy vọng vào sự đoạn diệt các lậu hoặc? Ta
ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh
quá, không nóng quá, trung bình, hợp với tinh tấn, tại sao
ta lại không đặt hy vọng vào sự đoạn diệt các lậu hoặc.
Ta không lừa đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chân đối
với bậc Ðạo sư, đối với các vị sáng suốt, hay đối
với các vị đồng Phạm hạnh, tại sao ta lại không đặt
hy vọng vào sự đoạn diệt các lậu hoặc?. Ta sống tinh cần
tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện
pháp, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với
các thiện pháp, tại sao ta lại không đặt hy vọng vào sự
đoạn diệt các lậu hoặc? Ta có trí tuệ, thành tựu trí
tuệ hướng đến sanh diệt của các pháp, thành tựu sự thể
nhập thuộc bậc Thánh, đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ
đau, tại sao ta lại không đặt hy vọng vào sự đoạn diệt
các lậu hoặc?"
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đặt hy vọng và sự đoạn diệt các lậu
hoặc.
(VI) (136) Mục Ðích (2)
1. - Thành tựu năm chi phần, này
các Tỷ-kheo, con trưởng của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ
quán đảnh đặt hy vọng về phó vương. Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
trưởng của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, thiện
sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh
cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một
dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh; đẹp trai,
khả ái, làm đẹp lòng mọi người với dung sắc thù thắng
như hoa sen; được cha mẹ thương yêu, ưa thích; được quân
đội thương yêu, ưa thích; có trí tuệ, thiện xảo, thông
minh, có khả năng suy nghĩ những vấn đề quá khứ, tương
lai, hiện tại. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta được thiện sanh
cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến
bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một dèm pha nào
về vấn đề huyết thống thọ sanh; tại sao ta lại không
đặt hy vọng vào địa vương phó vương? Ta đẹp trai, khả
ái, làm đẹp lòng mọi người với dung sắc thù thắng như
hoa sen, tại sao ta lại không đặt hy vọng vào địa vị phó
vương? Ta được cha mẹ thương yêu, ưa thích, tại sao ta lại
không đặt hy vọng vào địa vị phó vương? Ta được quân
đội thương yêu, ưa thích; tại sao ta lại không đặt hy vọng
vào địa vị phó vương? Ta là bậc có trí tuệ, thiện xảo,
thông minh, có khả năng suy nghĩ những vấn đề quá khứ,
tương lai, hiện tại; tại sao ta lại không đặt hy vọng vào
địa vị phó vương?".
Thành tựu năm chi phần này, này
các Tỷ-kheo, con trưởng của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ
quán đảnh đặt hy vọng vào địa vị phó vương. Cũng vậy,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu năm pháp đặt hy vọng
vào sự đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là năm?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Vị
Tỷ-kheo có giới, sống hộ trì với sự hộ trì của giới
bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các
lỗi nhỏ nhiệm, chấp nhận, và học tập trong các học pháp;
là bậc nghe nhiều, giữ gìn điều được nghe, tích tập điều
được nghe, đối với các pháp sơ thiện, trung thiện, hậu
thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên
mãn thanh tịnh, đối với các pháp như vậy, được nghe nhiều,
được thọ trì, đã được ghi nhớ nhờ đọc tụng, chuyên
ý quán sát, khéo thể nhập nhờ chánh kiến; đối với Bốn
niệm xứ, tâm khéo an trú; vị ấy sống tinh cần tinh tấn
đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho thành tựu các thiện
pháp, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với
các thiện pháp; có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt,
với sự thể nhập thuộc bậc Thánh vào con đường đưa đến
đoạn tận khổ đau. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta có giới,
sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ
oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhiệm,
ta chấp nhận và học tập các thiện pháp; tại sao ta lại
không đặt hy vọng vào sự hoại diệt các lậu hoặc? Ta là
người nghe nhiều, gìn giữ điều được nghe, tích tập điều
được nghe. Ðối với các pháp sơ thiện, trung thiện, hậu
thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên
mãn thanh tịnh, đối với các pháp như vậy, ta được nghe
nhiều, được thọ trì, được ghi nhớ nhờ đọc tụng, chuyên
ý quán sát, khéo thể nhập nhờ chánh kiến; tại sao ta lại
không đặt hy vọng vào sự hoại diệt các lậu hoặc? Ta khéo
an trú tâm ta vào Bốn niệm xứ; tại sao ta lại không đặt
hy vọng vào sự hoại diệt các lậu hoặc? Ta sống tinh cần
tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho thành tựu
các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng
đối với các thiện pháp; tại sao ta lại không đặt hy vọng
vào sự hoại diệt các lậu hoặc? Ta là bậc có trí tuệ,
thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với sự thể nhập thuộc
bậc Thánh vào con đường đưa đến đoạn tận khổ đau;
tại sao ta lại không đặt hy vọng vào sự hoại diệt các
lậu hoặc?"
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đặt hy vọng vào sự hoại diệt các lậu
hoặc.
(VII) (137) Ngủ Rất Ít
1. - Năm hạng người này, này các
Tỷ-kheo, ban đêm ngủ ít, thức nhiều. Thế nào là năm?
2. Người đàn bà, này các Tỷ-kheo,
thao thức đến đàn ông, ban đêm ngủ ít thức nhiều. Người
đàn ông, này các Tỷ-kheo, thao thức đến đàn bà, ban đêm
ngủ ít thức nhiều. Người ăn trộm, này các Tỷ-kheo, thao
thức đến đồ ăn trộm, ban đêm ngủ ít thức nhiều. Vị
vua, này các Tỷ-kheo, lo lắng các công việc của vua, ban đêm
ngủ ít thức nhiều. Vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, thao thức
đến ly hệ phược, ban đêm ngủ ít thức nhiều.
Năm hạng người này, này các Tỷ-kheo,
ban đêm ngủ ít thức nhiều.
(VIII) (138) Ăn Các Ðồ Thực Vật
1. - Thành tựu năm chi phần, này
các Tỷ-kheo, một con voi của vua ăn đồ ăn nhiều, choán chiếm
nhiều chỗ, vung vãi đại tiện, nắm giữ thẻ đồ ăn được
gọi là con voi của vua. Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua không kham nhẫn các sắc, không kham nhẫn các tiếng,
không kham nhẫn các hương, không kham nhẫn các vị, không kham
nhẫn các xúc.
Thành tựu năm chi phần, này các
Tỷ-kheo, một con voi của vua ăn đồ ăn nhiều, choán chiếm
nhiều chỗ, vung vãi đại tiện, nắm giữ thẻ đồ ăn được
gọi là con voi của vua. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu
năm pháp, Tỷ-kheo ăn đồ ăn nhiều, choán chiếm nhiều chỗ,
làm đổ giường nằm và nắm giữ thẻ đồ ăn, được xem
chỉ là một Tỷ-kheo. Thế nào là năm?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không kham nhẫn các sắc, không kham nhẫn các tiếng, không
kham nhẫn các hương, không kham nhẫn các vị, không kham nhẫn
các xúc.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo ăn đồ ăn nhiều, choán chiếm nhiều
chỗ, làm đổ giường nằm và nắm giữ phiếu đồ ăn, vị
ấy được gọi chỉ là một Tỷ-kheo.
(IX) (139) Không Có Thể Kham Nhẫn
1. - Thành tựu năm chi phần, này
các Tỷ-kheo, con voi của vua không xứng đáng cho vua, không
là tài sản của vua không được xem là một biểu tượng
của vua. Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua không kham nhẫn các sắc, không kham nhẫn các tiếng,
không kham nhẫn các hương, không kham nhẫn các vị, không kham
nhẫn các xúc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của
vua không kham nhẫn các sắc?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua, khi đi đến chiến trận, thấy đoàn voi hay thấy
đoàn ngựa, hay thấy đoàn xe, hay thấy đoàn bộ binh đã chùn
chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến
trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con voi của vua không kham
nhẫn đối với các sắc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
con voi của vua không kham nhẫn các tiếng?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua, đi đến chiến trận, khi nghe tiếng voi, nghe tiếng
ngựa, nghe tiếng xe, nghe tiếng bộ binh, hay nghe tiếng trống
lớn, thanh la, tiếng tù và, tiếng trống nhỏ, liền chùn chân,
rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, con voi của vua không kham nhẫn các
tiếng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua không
kham nhẫn các hương?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua đi đến chiến trận, khi đó ngửi mùi phân và
nước tiểu của các con voi của vua thuộc loại quý chủng
đã quen chiến trận, liền chùn chân, rủn chí, không còn can
đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là con voi của vua không kham nhẫn các hương. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các vị?
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua khi đi đến chiến trận, chán ngấy một máng cỏ
và nước, hay chán ngấy hai, ba, bốn hay năm máng cỏ và nước,
liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham
gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của
vua không kham nhẫn các vị. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
con voi của vua không kham nhẫn các xúc?
7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua đi đến chiến trận, khi bị trúng một mũi tên,
hay hai, hay ba, hay bốn, hay năm mũi tên, liền chùn chân, rủn
chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua không kham nhẫn các
xúc.
Thành tựu năm chi phần, này các
Tỷ-kheo, một con voi của vua không xứng đáng của vua, không
là tài sản của vua, không được xem là một biểu tượng
của vua. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một vị Tỷ-kheo thành
tựu năm pháp không đáng cung kính, không đáng tôn trọng,
không đáng cúng dường, không đáng chắp tay, không còn là
phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là năm?
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không kham nhẫn các sắc, không kham nhẫn các tiếng, không
kham nhẫn các hương, không kham nhẫn các vị, không kham nhẫn
các xúc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Tỷ-kheo không
kham nhẫn các sắc?
9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi mắt thấy sắc liền tham đắm các sắc khả ái, tâm không
thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không
kham nhẫn các sắc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
không kham nhẫn các tiếng?
10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi tai nghe tiếng liền tham đắm các tiếng khả ái, tâm không
thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không
kham nhẫn các tiếng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
không kham nhẫn các hương?
11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi mũi ngửi hương liền tham đắm các hương khả ái, tâm
không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
không kham nhẫn các hương. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo không kham nhẫn các vị?
12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi lưỡi nếm vị liền tham đắm các vị khả ái, tâm không
thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không
kham nhẫn các vị. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Tỷ-kheo
không kham nhẫn các xúc?
13. Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi thân cảm xúc liền tham đắm các xúc khả ái, tâm không
thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không
kham nhẫn các xúc.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không đáng được cung kính, không đáng được
tôn trọng, không đáng được cúng dường, không đáng được
chắp tay, không còn là vô thượng phước điền ở đời.
14. Thành tựu năm chi phần, này
các Tỷ-kheo, con voi của vua xứng đáng cho vua dùng, là tài
sản của vua, và được xem là một biểu tượng của vua.
Thế nào là năm?
15. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua kham nhẫn các sắc, kham nhẫn các tiếng, kham nhẫn
các hương, kham nhẫn các vị, kham nhẫn các xúc. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua kham nhẫn các sắc?
16. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua, đi đến chiến trận, khi thấy đoàn voi hay khi
thấy đoàn ngựa, hay khi thấy đoàn xe, hay khi thấy đoàn bộ
binh, liền không chùn chân, rủn chí, có đủ can đảm, có
thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con voi
của vua kham nhẫn các sắc. Và thế nào, này các Tỷ-kheo,
con voi của vua kham nhẫn các tiếng?
17. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua, đi đến chiến trận, khi nghe tiếng voi, hay khi
nghe tiếng ngựa, hay khi nghe tiếng xe, hay khi nghe tiếng bộ
binh, hay khi nghe tiếng trống lớn, thanh la, tù và, trống nhỏ,
không chùn chân, không rủn chí, có đủ can đảm, có thể
tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của
vua kham nhẫn các tiếng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con
voi của vua kham nhẫn các hương?
18. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua đi đến chiến trận, đối với các con voi của
vua thuộc loại quý chủng, quen thuộc chiến trận, khi nó ngửi
mùi phân và nước tiểu của những con voi ấy, nó không chùn
chân, không rủn chí, có đủ can đảm, có thể tham gia chiến
trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con voi của vua kham nhẫn
các hương. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua
kham nhẫn các vị?
19. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua đi đến chiến trận, khinh miệt một máng cỏ
và nước, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn hoặc năm máng cỏ
và nước, không chùn chân, không rủn chí, có đủ can đảm,
có thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua kham nhẫn các vị. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là con voi của vua kham nhẫn các xúc?
20. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua đi đến chiến trận, khi bị một mũi tên bắn
trúng, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, hoặc năm, không chùn
chân, không rủn chí, có đủ can đảm, có thể tham gia chiến
trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua kham nhẫn
các xúc.
Thành tựu năm chi phần này, này
các Tỷ-kheo, con voi của vua xứng đáng cho vua, là tài sản
của vua, và được gọi là biểu tượng của vua. Cũng vậy,
này các Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, vị Tỷ-kheo đáng được
cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường,
đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời.
Thế nào là năm?
21. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
kham nhẫn các sắc, kham nhẫn các tiếng, kham nhẫn các hương,
kham nhẫn các vị, kham nhẫn các xúc. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là Tỷ-kheo kham nhẫn các sắc?
22. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi mắt thấy sắc, không tham đắm các sắc khả ái, có thể
giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham
nhẫn các sắc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo kham
nhẫn các tiếng?
23. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi tai nghe tiếng, không tham đắm các tiếng khả ái, có thể
giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham
nhẫn các tiếng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
kham nhẫn các hương?
24. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi mũi ngửi các hương, không tham đắm các hương khả ái,
có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
kham nhẫn các hương. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
kham nhẫn các vị?
25. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi lưỡi nếm các vị, không tham đắm các vị khả ái, có
thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
kham nhẫn các vị. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
kham nhẫn các xúc?
26. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi thân cảm các xúc, không tham đắm các xúc khả ái, có
thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
kham nhẫn các xúc.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng
được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng
phước điền ở đời.
(X) (140) Biết Nghe
1. - Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, con voi của vua xứng đáng cho vua, là tài sản
của vua, và được xem là một biểu tượng của vua. Thế
nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua biết nghe, biết sát hại, biết phòng hộ, biết
kham nhẫn, biết đi đến. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
con voi của vua biết nghe?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua, khi người nài sai làm một công tác hoặc đã
làm từ trước, hoặc chưa làm từ trước, nhiệt tâm tác
ý, hoàn toàn chú tâm, lóng tai và nghe. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là con voi của vua biết nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là con voi của vua biết sát hại?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua đi đến chiến trận, giết voi, giết kẻ cưỡi
voi, giết ngựa, giết kẻ cưỡi ngựa, phá xe, giết kẻ cưỡi
xe, giết các bộ binh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi
của vua biết sát hại. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con
voi của vua biết phòng hộ?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đi
đến chiến trận, con voi của vua phòng hộ phần thân trước,
phòng hộ phần thân sau, phòng hộ đầu, phòng hộ tai, phòng
hộ ngà, phòng hộ vòi, phòng hộ đuôi, phòng hộ người cưỡi
voi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con voi của vua biết phòng hộ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua biết kham nhẫn?
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua khi lâm trận, kham nhẫn bị thương đâm, kham nhẫn
bị kiếm đâm, kham nhẫn bị trúng tên, kham nhẫn các thứ
tiếng, như tiếng trống lớn, tiếng thanh la, tiếng tù và,
tiếng trống nhỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con voi của vua
biết kham nhẫn. Này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua
biết đi đến?
7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, con
voi của vua, khi người nài (huấn luyện voi) sai đi về hướng
nào, hoặc trước kia đã có đi, hay trước kia chưa có đi,
liền mau mắn đi về chỗ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
con voi của vua biết đi đến.
Thành tựu năm chi phần này, này
các Tỷ-kheo, con voi của vua xứng đáng là của vua, là tài
sản của vua, và được gọi là một biểu tượng của vua.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, vị Tỷ-kheo
xứng đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng,
xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay,
là vô thượng phước điền ở đời. Thế nào là năm?
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
là người biết nghe, biết sát hại, biết phòng hộ, biết
kham nhẫn, biết đi đến. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo biết nghe?
9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi Pháp và Luật do Như Lai thuyết được thuyết giảng, nhiệt
tâm, tác ý, hoàn toàn chú tâm lắng tai nghe pháp. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết nghe. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là Tỷ-kheo biết sát hại?
10. Ở dây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đối với các dục tâm đã khởi lên, không có gìn giữ, nhưng
từ bỏ, gột sạch, làm cho hoại diệt, làm cho đi đến không
hiện hữu; đối với sân tầm đã sanh...đối với các hại
tầm đã sanh...đối với các pháp ác, bất thiện đã sanh
hay chưa sanh, không có gìn giữ nhưng từ bỏ, gột sạch, làm
cho hoại diệt, làm cho đi đến không hiện hữu. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết sát hại. Và thế nào, này
các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết phòng hộ?
11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm
giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì nhãn căn không
được bảo vệ, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện
pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy hộ trì
nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng...khi
mũi ngửi hương...khi lưỡi nếm vị...khi thân cảm xúc...khi
ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung,
không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì ý căn
không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất
thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ
trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này các
Ty-kheo, là Tỷ-kheo biết phòng hộ. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là Tỷ-kheo biết kham nhẫn?
12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
kham nhẫn lạnh, nóng, đói khát, sự xúc phạm của ruồi,
muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, những cách
nói mạ lỵ, phỉ báng, các cảm thọ về thân, những cảm
thọ thống khổ, khốc liệt, nhói đau, chói đau, không sung
sướng, không thích thú, chết điếng người. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo kham nhẫn. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là vị Tỷ-kheo biết đi đến?
13. Ở đây, này các Tỷ-kheo, phương
hướng nào trước kia chưa từng đi, tại đây mọi hành được
chỉ tịnh, mọi sanh y được từ bỏ, ái được đoạn diệt,
ly tham, hoại diệt, Niết-bàn, vị ấy đi đến chỗ ấy một
cách mau chóng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo biết
đi đến.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng,
đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước
điền vô thượng ở đời.
XV. Phẫm Tikandaki
(I) (141) Cho Là Khinh
1. - Năm hạng người này, này các
Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?
2. Sau khi cho, khinh rẽ; sau khi cùng
sống, khinh rẽ; miệng nuốt tất cả; người không vững chắc;
người ám độn ngu si. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người
sau khi cho, khinh miệt?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
hạng người cho người khác các đồ nhu yếu như y áo, đồ
ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Vị ấy
suy nghĩ: "Ta là người cho, người này là người nhận". Sau
khi cho, vị ấy khinh rẽ (người nhận).
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng
người sau khi cho, khinh rẽ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hạng người, sau khi sống chung, khinh rẽ?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
hạng người cùng sống với người, hai hay ba năm. Do sống
với người ấy, vị ấy khinh rẽ người ấy.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng
người sau khi sống chung, khinh rẽ. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là hạng người miệng nuốt tất cả?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người khi nghe người ta tán thán hay chỉ trích người khác,
liền mau mắn thích thú.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng
người miệng nuốt tất cả. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là hạng người không vững chắc?
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người có lòng tin nhỏ bé, có lòng tín ngưỡng nhỏ bé, có
lòng ái mộ nhỏ bé, có tịnh tín nhỏ bé.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng
người không vững chắc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hạng người ám độn ngu si?
7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người không biết các pháp thiện, bất thiện, không biết
các pháp tội, không tội, không biết các pháp hạ liệt, thù
thắng, không biết các pháp dự phần đen trắng.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng
người ám độn ngu si.
Năm hạng người này, này các Tỷ-kheo,
có mặt, hiện hữu ở đời.
(II) (142) Làm Sai Lạc
1. - Có năm hạng người này, này
các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
người làm điều vi phạm và hối hận, không như thật biết
tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp
ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có
dư tàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm điều vi
phạm, nhưng không hối hận, không như thật biết tâm giải
thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất
thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều
vi phạm, có hối hận, không như thật biết tâm giải thoát,
tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện
ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn. Ở đây,
này các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều vi phạm,
không có hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ
giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy
khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn. Ở đây, này
các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều vi phạm, không
có hối hận, và như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải
thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi
lên được đoạn diệt, không có dư tàn.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng
người này làm điều vi phạm và hối hận, không như thật
biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây,
các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt không
có dư tàn. Hạng người này cần phải được nói như sau:
"Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm đã có mặt
nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận được
tăng trưởng. Lành thay, nếu Tôn giả sau khi đoạn tận các
lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm, sau khi loại bỏ
các lậu hoặc được sanh do hối hận, hãy tu tập tâm và
tuệ! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng
người thứ năm ấy".
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng
người làm điều vi phạm, nhưng không hối hận, và không
như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính
ở đây các pháp ác bất thiện ấy đã sanh, được đoạn
diệt không có dư tàn. Người này cần phải được nói như
sau: "Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm đã có
mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận không
có tăng trưởng. Lành thay, nếu Tôn giả sau khi đoạn tận
các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm, hãy tu tập
tâm và tuệ! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng
với hạng người thứ năm ấy".
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng
người này không làm điều vi phạm, có hối hận, không như
thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở
đây các pháp ác bất thiện ấy đã sanh, được đoạn diệt
không có dư tàn. Người này cần phải được nói như sau:
"Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm không có mặt
nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận có tăng
trưởng. Lành thay, nếu Tôn giả sau khi loại bỏ các lậu
hoặc được sanh do hối hận, hãy tu tập tâm giải thoát,
tuệ giải thoát! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng
với hạng người thứ năm ấy".
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng
người này không làm điều vi phạm, không hối hận, không
như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính
ở đây các pháp ác bất thiện ấy đã sanh được đoạn
diệt không có dư tàn. Người này cần phải được nói như
sau: "Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm không
có mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận
không có tăng trưởng. Lành thay, Tôn giả hãy tu tập tâm và
tuệ! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng
người thứ năm ấy".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, bốn
hạng người này, với hạng người thứ năm được giáo giới
như vậy, được khuyên dạy như vậy, dần dần đạt đến
sự đoạn diệt các lậu hoặc.
(III) (143) Tại Ðền Sàrandada
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì,
tại Ðại Lâm, chỗ giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế
Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Vesàlì để
khất thực.
Lúc bấy giờ, khoảng 500 người
Licchavì đang ngồi tụ họp tài đền Sàrandada, và câu chuyện
sau đây được khởi lên:
2. "Sự hiện hữu của năm châu
báu khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?
Sự hiện hữu của voi báu khó tìm
được ở đời; Sự hiện hữu của ngựa báu khó tìm được
ở đời; Sự hiện hữu của ngọc báu khó tìm được ở
đời; Sự hiện hữu của nữ báu khó tìm được ở đời;
Sự hiện hữu của cư sĩ báu khó tìm được ở đời.
Sự hiện hữu của năm châu báu
này khó tìm được ở đời".
3. Rồi các người Licchavì ấy đặt
một người ở trên đường và nói:
- Này Bạn, khi nào Bạn thấy Thế
Tôn đi đến, hãy báo cho chúng tôi biết.
Người ấy thấy Thế Tôn từ xa
đi đến, thấy vậy, liền đi đến các người Licchavì và
nói:
- Thưa Quý vị, Thế Tôn, bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác ấy đã đến. Nay Quý vị hãy làm những
gì Quý vị nghĩ là hợp thời!
Rồi các người Licchavì ấy đi
đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng
một bên. Ðứng một bên, các người Licchavì ấy bạch Thế
Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu
Thế Tôn đi đến đền Sàrandada vì lòng thương tưởng chúng
con!
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi
Thế Tôn đi đến đền Sàrandada, sau khi đến, ngồi xuống
trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các
người Licchavì ấy:
- Này các Licchavì, hôm nay các Ông
ngồi tụ họp, nói đến vấn đề gì? Và vấn đền gì giữa
các Ông đã bị gián đoạn?
- Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng
con đang ngồi tụ họp, vấn đề này được khởi lên: "Sự
hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Và thế
nào là năm? Sự hiện hữu của voi báu khó tìm được ở
đời; Sự hiện hữu của ngựa báu khó tìm được ở đời;
Sự hiện hữu của ngọc báu khó tìm được ở đời; Sự
hiện hữu của nữ báu khó tìm được ở đời; Sự hiện
hữu của cư sĩ báu khó tìm được ở đời. Sự hiện hữu
của năm châu báu này khó tìm được ở đời!".
4. - Ðối với các Ông, người Licchavì
đang thiên nặng về dục, cuộc nói chuyện y cứ trên đục
được khởi lên. Này các Licchavì, sự hiện hữu của năm
châu báu khó tìm được ở đời. Và thế nào là năm?
Sự hiện hữu của Như Lai, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời. Hạng người
có thể thuyết giảng Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó
tìm được ở đời. Người hiểu được lời thuyết giảng
về Pháp là Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
Người đem thực hành các pháp và tùy pháp được hiểu từ
lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó
tìm được ở đời. Người biết ơn, và nhớ ơn khó tìm
được ở đời.
Sự hiện hữu của năm châu báu
này, này các Licchavì, khó tìm được ở đời.
(IV) (144) Tại Rừng Tikandaki
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàketa,
tại rừng Tikandaki. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo!
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế
Tôn. Thế Tôn nói như sau:
2. - Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng ghê tởm đối với
các vật không ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
thỉnh thoảng sống với tưởng không ghê tởm đối với vật
ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng
sống với tưởng ghê tởm đối với các vật không ghê tởm
và ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng không ghê tởm đối
với các vật ghê tởm và không ghê tởm! Lành thay, này các
Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê
tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác! Và này các
Tỷ-kheo, do duyên lợi ích gì, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có
thể trú với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm?
3. "Mong rằng, đối với các pháp
khả ái, tham chớ có khởi lên nơi ta". Do duyên lợi ích này,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối
với vật không ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi
ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm
đối với vật ghê tởm?
4. "Mong rằng đối với các pháp
đáng sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta" Do duyên
lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng
không ghê tởm đối với vật ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo,
do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê
tởm đối với vật không ghê tởm, và ghê tởm?
5. "Mong rằng đối với các pháp
khả ái, lòng tham chớ có khởi lên nơi ta. Mong rằng đối
với các pháp đáng sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi
ta". Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống
với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm và ghê
tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo
nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm
và không ghê tởm?
6. "Mong rằng đối với các pháp
đáng được sân hận, lòng sân chớ khởi lên nơi ta". Do duyên
lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng
không ghê tởm đối với vật ghê tởm và không ghê tởm.
Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo sau
khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả,
chánh niệm tỉnh giác?
7. "Mong rằng dầu là vật gì, tại
chỗ nào và như thế nào, đối với các pháp khả ái, lòng
tham chớ có khởi lên nơi ta! Mong rằng dầu là vật gì, tại
chỗ nào là như thế nào, đối với các pháp đáng được
sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta! Mong rằng dầu
là vật gì, tại chỗ nào và như thế nào, đối với các
pháp có thể làm cho si mê, lòng si không khởi lên nơi ta!"
do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi từ
bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh
niệm tỉnh giác.
(V) (145) Con Ðường Ðến Ðịa
Ngục
1. - Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị quăng vào địa ngục.
Thế nào là năm?
2. Sát sanh, lấy của không cho, tà
hạnh trong các dục, nói láo, đắm say trong rượu men, rượu
nấy.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị quăng vào địa ngục.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.
Thế nào là năm?
4. Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy
của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói
láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.
(VI) (146) Người Bạn
1. - Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không đáng được làm bạn. Thế nào
là năm?
2. Bảo làm việc đồng áng; ưa
thích kiện tụng; chống đối các Tỷ-kheo lãnh đạo; sống
đời sống không có mục đích, kéo dài đời sống như vậy;
không có khả năng thỉnh thoảng trình bày, khích lệ, làm
cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với một bài thuyết pháp.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không đáng được làm bạn.
3. - Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được làm một người bạn. Thế
nào là năm?
4. Không bảo làm việc đồng áng;
không ưa thích kiện tụng; không chống đối các Tỷ-kheo lãnh
đạo; không sống đời sống không có mục đích, không kéo
dài đời sống như vậy; có khả năng thỉnh thoảng trình
bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với một
bài thuyết pháp.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được làm bạn.
(VII) (147) Bố Thí Không Xứng
Bậc Chân Nhân
1. - Có năm loại bố thí này, này
các Tỷ-kheo, không xứng bậc Chân nhân. Thế nào là năm?
2. Bố thí không cung kính, bố thí
không suy nghĩ, bố thí không tự tay mình, bố thí đồ quăng
bỏ, bố thí không nghĩ đến tương lai.
Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là
năm loại bố thí không xứng bậc Chân nhân.
3. Năm loại bố thí này, này các
Tỷ-kheo, là loại bố thí xứng bậc Chân nhân. Thế nào là
năm?
4. Bố thí có cung kính, bố thí
có suy nghĩ, bố thí tự tay mình, bố thí đồ không quăng
bỏ, bố thí có nghĩ đến tương lai.
Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là
năm loại bố thí xứng bậc Chân nhân.
(VIII) (148) Bố Thí Xứng Bậc
Chân Nhân
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm loại
bố thí này xứng bậc Chân nhân. Thế nào là năm?
2. Bố thí có lòng tin, bố thí có
kính trọng, bố thí đúng thời, bố thí với tâm không gượng
ép, bố thí không làm thương tổn mình và người.
Này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí
với lòng tin chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố
thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại
phú, tài sản sung mãn, đẹp trai, dễ ngó, có thành tín và
thành tựu dung sắc thì thắng như hoa sen.
Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí
có cung kính, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố
thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại
phú, tài sản sung mãn; và các con trai, các bà vợ, các người
nô tỳ, các người đưa tin, các người làm công, những người
ấy đều sẵn sàng vâng theo người ấy, họ lóng tai và phục
vụ với tâm hiểu biết.
Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí
đúng thời, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố
thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại
phú, tài sản sung mãn; và các vật dụng đến với người
ấy đúng thời và sung túc.
Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí
với tâm không gượng ép, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục
của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được
giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn, và hướng tâm thụ
hưởng đầy đủ năm dục công đức.
Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí
không làm thương tổn mình và người, chỗ nào, chỗ nào,
quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người
ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và không
một tai nạn nào từ đâu đến, đến với tài sản của người
ấy, hoặc từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trộm, từ
các người thù địch hay từ các người thừa tự.
Này các Tỷ-kheo, có năm loại bố
thí xứng bậc Chân nhân này.
(IX) (149) Thời Giải Thoát
1. - Có năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng được thời
giải thoát. Thế nào là năm?
2. Ưa thích làm việc (về thân),
ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ, ưa thích hội chúng, không
quan sát tâm như đã được giải thoát.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa
đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng thời giải thoát.
3. Năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
không đưa đến sự thối đọa cho vị Tỷ-kheo đã chứng
được thời giải thoát. Thế nào là năm?
4. Không ưa thích làm việc (về
thân), không ưa thích nói chuyện, không ưa thích ngủ, không
ưa thích hội chúng, có quan sát tâm như đã được giải thoát.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, không
đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng thời giải
thoát.
(X) (150) Thời Giải Thoát
1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng thời giải
thoát. Thế nào là năm?
2. Ưa thích làm việc (về thân),
ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ, không chế ngự các căn,
không biết tiết độ trong ăn uống.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa
đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng được thời giải
thoát.
3. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
không đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng thời
giải thoát. Thế nào là năm?
4. Không ưa thích làm việc (về
thân), không ưa thích nói chuyện, không ưa thích ngủ, chế
ngự các căn, biết tiết độ trong ăn uống.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, không
đưa đến sự thối đọa cho Tỷ-kheo đã chứng được thời
giải thoát.
XVI. Phẩm Diệu
Pháp
(I) (151) Quyết Ðịnh Tánh Về
Diệu Pháp (1)
1. Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo,
một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định
tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?
2. Khinh lời thuyết giảng, khinh
người thuyết giảng, khinh tự mình, nghe pháp với tâm tán
loạn, không nhứt tâm và không như lý tác ý.
Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo,
người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định
tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết
định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?
4. Không khinh lời thuyết giảng,
không khinh người thuyết giảng, không khinh tự mình, nghe pháp
với tâm không loạn, nhứt tâm và như lý tác ý.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định
tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.
(II) (152) Quyết Ðịnh Tánh Về
Diệu Pháp (2)
1. Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo,
một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào quyết định
tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?
2. Khinh lời thuyết giảng, khinh
người thuyết giảng, khinh tự mình, ác tuệ; đần độn,
câm điếc, không tác ý hiểu biết đối với những vấn đề
không hiểu biết.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết
định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?
4. Không khinh lời thuyết giảng,
không khinh người thuyết giảng, không khinh tự mình, có trí
tuệ; không đần độn, không câm điếc, tác ý hiểu biết
đối với những vấn đề không hiểu biết.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định
tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.
(II) (153) Quyết Ðịnh Tánh Về
Diệu Pháp (3)
1. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào
quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào
là năm?
2. Nghe pháp với tâm chê bai, với
tâm bị chê bai ám ảnh; nghe pháp với tâm cật nạn, tìm tòi
khuyết điểm; trong khi pháp được giảng, tâm bị choáng váng,
bị chai sạn; ác tuệ; đần độn, câm điếc, không tác ý
hiểu biết đối với những vấn đề không hiểu biết.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp không có thể nhập vào
quyết định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, một người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết
định tánh, chánh tánh trong các thiện pháp. Thế nào là năm?
4. Nghe pháp với tâm không chê bai,
không bị chê bai ám ảnh; nghe pháp với tâm không cật nạn,
không tìm tòi khuyết điểm; trong khi pháp được giảng, tâm
không bị choáng váng, không bị chai sạn; có trí tuệ; không
đần độn, không câm điếc, tác ý hiểu biết đối với
những vấn đề không hiểu biết.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, người nghe diệu pháp có thể nhập vào quyết định
tánh, chánh tánh trong các thiện pháp.
(IV) (154) Diệu Pháp Hỗn Loạn
(1)
1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
đưa đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất. Thế nào là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo không cẩn trọng nghe pháp; không cẩn trọng học thuộc
lòng pháp; không cẩn trọng thọ trì pháp; không cẩn trọng
quan sát ý nghĩa các pháp được thọ trì; không cẩn trọng
thực hành pháp và tùy pháp sau khi hiểu ý nghĩa và hiểu pháp.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa
đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất.
3. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
Thế nào là năm?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
cẩn trọng nghe pháp; cẩn trọng học thuộc lòng pháp; cẩn
trọng thọ trì pháp; cẩn trọng quan sát ý nghĩa các pháp
được thọ trì; cẩn trọng thực hành pháp và tùy pháp sau
khi hiểu ý nghĩa và hiểu pháp.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa
đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
(V) (155) Diệu Pháp Hỗn Loạn
(2)
1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất. Thế nào là
năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo không học thuộc lòng Khế kinh, ứng tụng, Ký thuyết,
Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh,
Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Ðây là pháp
thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn
và biến mất.
3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo không thuyết pháp một cách rộng rãi như đã được
nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ hai,
này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến
mất.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo không để cho các người khác nói pháp một cách rộng
rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây
là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn
loạn và biến mất.
5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo không có đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã
được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp
thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn
và biến mất.
6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo với tâm không tùy tầm, không tùy tứ, với ý không
tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc
lòng. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu
pháp hỗn loạn và biến mất.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa
đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất.
7. Năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
không đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến
mất. Thế nào là năm?
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, Khế kinh, ứng tụng, Ký thuyết,
Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh,
Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Ðây là pháp
thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không
hỗn loạn, không biến mất.
9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo thuyết pháp một cách rộng rãi như đã được nghe,
như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ hai, này
các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn
và không biến mất.
10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo để cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi
như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây
là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp được
an trú, không hỗn loạn và không biến mất.
11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được
nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ tư,
này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn
và không biến mất.
6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo với tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã
được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp
thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không
hỗn loạn, không biến mất.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa
đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
(VI) (156) Diệu Pháp Hỗn Loạn
(3)
1. - Năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất. Thế nào là
năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh điển bị nắm giữ sai lạc,
với những văn cú đặt sai lầm. Này các Tỷ-kheo, với văn
cú đặt sai lầm, ý nghĩa bị hướng dẫn sai lạc. Ðây là
pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn
loạn và biến mất.
3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo là những người khó nói, đầy đủ những tánh khiến
họ trở thành khó nói, khó kham nhẫn, không cung kính đón
nhận khi được giảng dạy. Ðây là pháp thứ hai, này các
Tỷ-kheo, khiến diệu pháp hỗn loạn và biết mất.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối
với các Tỷ-kheo nghe nhiều Thánh giáo được trao truyền,
là bậc trì Pháp, trì Luật, trì Toát yếu, các vị ấy không
cẩn trọng để cho các người khác nói pháp. Do duyên này
của họ, Khế kinh như bị đứt gốc, không còn là chỗ nương
tựa. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu
pháp hỗn loạn và biến mất.
5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo trưởng lão là những vị sống đầy đủ, biếng
nhác, dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng viễn
ly, không có hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa
chúng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng
ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và quần chúng về sau sẽ
đi theo tri kiến của họ. Họ cũng sẽ trở thành những người
sống đầy đủ, biếng nhác, dẫn đầu trong thối đọa, từ
bỏ gánh nặng viễn ly, sẽ không hăng hái tinh tấn để chứng
đạt những gì chưa chúng đạt, chứng đắc những gì chưa
chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Ðây là
pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn
và biến mất.
6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chúng
Tăng bị chia rẽ. Khi chúng Tăng bị chia rẽ, này các Tỷ-kheo,
có sự mắng nhiếc lẫn nhau, có sự đấu khẩu lẫn nhau,
có sử thanh trừng lẫn nhau, có sự tẩn xuất lẫn nhau. Ai
không có tịnh tín không tìm được tịnh tín, và những ai
có tịnh tín có thể đổi khác. Ðây là pháp thứ năm, này
các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa
đến diệu pháp hỗn loạn, và biến mất.
7. Năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
Thế nào là năm?
8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh điển được nắm giữ tốt đẹp,
với những văn cú được phối trí chơn chánh và ý nghĩa
được hướng dẫn chơn chánh. Ðây là pháp thứ nhất, này
các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn,
không biết mất.
9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo là những người dễ nói, dễ kham nhẫn, cung kính
đón nhận khi được giảng dạy. Ðây là pháp thứ hai, này
các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn,
không biến mất.
10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối
với các Tỷ-kheo nghe nhiều Thánh giáo được trao truyền,
là bậc trì Pháp, trì Luật, trì Toát yếu, các vị ấy cẩn
trọng để cho các người khác nói pháp. Do duyên này của
họ, kinh điển không bị đứt gốc, là chỗ nương tựa. Ðây
là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp an trú,
không hỗn loạn, không biến mất.
11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo trưởng lão không sống đầy đủ, không biếng nhác,
từ bỏ gánh nặng đọa lạc, dẫn đầu trong đời sống viễn
ly, hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chúng
đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ
những gì chưa chứng ngộ. Và quần chúng về sau sẽ đi theo
tri kiến của họ. Họ cũng sẽ trở thành những người không
sống đầy đủ, không biếng nhác, từ bỏ gánh nặng đọa
lạc, dẫn đầu trong đời sống viễn ly, hăng hái tinh tấn
để chứng đạt những gì chưa chúng đạt, chứng đắc những
gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
Ðây là pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp
được an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
12. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chúng
Tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh luận, cùng một giáo lý,
sống an ổn. Khi chúng Tăng hòa hợp, này các Tỷ-kheo, không
có sự mắng nhiếc lẫn nhau, không có sự đấu khẩu lẫn
nhau, không có sự thanh trừng lẫn nhau không có sự tẩn xuất
lẫn nhau. Ai không có tịnh tín tìm được tịnh tín, và những
ai có tịnh tín không có đổi khác. Ðây là pháp thứ năm,
này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp được an trú, không
hỗn loạn, không biến mất.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa
đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn, không biến mất.
(VII) (157) Ác Thuyết
1. - Lời nói của năm hạng người,
này các Tỷ-kheo, là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa
người và người. Thế nào là năm?
2. Nói về tín với người không
tin, này các Tỷ-kheo, là ác thuyết; nói về giới với người
ác giới là ác thuyết; nói về nghe nhiều với người nghe
ít là ác thuyết; nói về bố thí với người xan tham là ác
thuyết; nói về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nói về tín với người không
tin là ác thuyết?
3. Người không tin, này các Tỷ-kheo,
khi được nói về lòng tin liền tức tối, phẫn nộ, hiềm
khích, mất bình tĩnh, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, phiền
muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy
đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do
vậy, nói về tín với người không có lòng tin là ác thuyết.
Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới với người ác
giới là ác thuyết?
4. Người ác giới, này các Tỷ-kheo,
khi được nói về giới liền tức tối, phẫn nộ...Vì sao?
Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ giới,
do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về
giới với người ác giới là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo,
tại sao nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết?
5. Người nghe ít, này các Tỷ-kheo,
khi được nói đến nghe nhiều liền tức tối, phẫn nộ...Vì
sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ nghe
nhiều, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy,
nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết. Và này
các Tỷ-kheo, tại sao nói về bố thí với người xan tham là
ác thuyết?
6. Người xan tham, này các Tỷ-kheo,
khi được nói về bố thí liền tức tối, phẫn nộ...Vì
sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ bố
thí, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói
về bố thí với người xan tham là ác thuyết. Và này các
Tỷ-kheo, tại sao nói về tuệ với người ác tuệ là ác thuyết?
7. Người ác tuệ, này các Tỷ-kheo,
khi được nói đến trí tuệ liền tức tối, phẫn nộ...Vì
sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ trí
tuệ, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói
về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết.
Lời nói của năm hạng người này
là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người.
8. Lời nói của năm hạng người
này là thiện thuyết, khi có sự đối chứng giữa người
và người. Thế nào là năm?
9. Thuyết về tín cho người có
lòng tin, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết; thuyết về giới
cho người giữ giới là thiện thuyết; thuyết về nghe nhiều
cho người nghe nhiều là thiện thuyết; thuyết về bố thí
cho người bố thí là thiện thuyết; thuyết về trí tuệ cho
người trí tuệ là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại
sao thuyết về lòng tin cho người có lòng tin là thiện thuyết?
10. Người có lòng tin, này các Tỷ-kheo,
khi được nói đến lòng tin thì không tức tối, không phẫn
nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ
phẫn nộ, sân hận, phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy
thấy tự mình có đầy đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, có
hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về tín với người có lòng tin
là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới
cho người giữ giới là thiện thuyết?
11. Người giữ giới, này các Tỷ-kheo,
khi được nói đến về giới thì không tức tối, không phẫn
nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ
phẫn nộ, không sân hận, không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng
vị ấy thấy tự mình có đầy đủ giới, do nhân duyên ấy,
có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về giới với người có giữ
giới là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về
nghe nhiều cho người nghe nhiều là thiện thuyết?
12. Người nghe nhiều, này các Tỷ-kheo,
khi được nói đến nghe nhiều thì không tức tối, không phẫn
nộ, không hiềm khích...không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng
vị ấy thấy tự mình có nghe nhiều, do nhân duyên ấy, có
hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về nghe nhiều với người có
nghe nhiều là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói
về bố thí cho người bố thí là thiện thuyết?
13. Người bố thí, này các Tỷ-kheo,
khi được nói đến bố thí thì không tức tối, không phẫn
nộ, không hiềm khích...không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng
vị ấy thấy tự mình có bố thí, do nhân duyên ấy, có hỷ
và hân hoan. Do vậy, nói về bố thí với người có bố thí
là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về trí
tuệ cho người có trí tuệ là thiện thuyết?
14. Người trí tuệ, này các Tỷ-kheo,
khi được nói đến trí tuệ thì không tức tối...không phiền
muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có trí tuệ,
do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về trí
tuệ với người có trí tuệ là thiện thuyết.
Lời thuyết của năm hạng người
này, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết khi có sự đối chứng
giữa người và người.
VIII (158) Sợ Hãi
Quang Pham1. - Thành tựu năm pháp
này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo rơi vào trong sợ hãi. Thế nào
là năm?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không có lòng tin, giữ ác giới, nghe ít, biếng nhác và ác
tuệ.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo rơi vào trong sợ hãi.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có sợ hãi. Thế nào là năm?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, tinh cần tinh tấn, có
trí tuệ.
Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có sợ hãi.
(IX) (159) Tôn Gỉa Udàyi
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambì,
tại khu vườn Ghosita. Lúc bấy giờ, Tôn giả Udàyi có hội
chúng cư sĩ đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết pháp. Tôn
giả Ananda thấy Tôn giả Udàyi có hội chúng đông đảo đoanh
vây đang ngồi thuyết pháp, sau khi thấy, đi đến Thế Tôn,
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Udàyi
có hội chúng cư sĩ đông đảo đoanh vây đang ngồi thuyết
pháp.
- Này Ananda, thật không dễ gì để
thuyết pháp cho các người khác. Ðể thuyết pháp cho các người
khác, này Ananda, sau khi nội tâm an trú được năm pháp, mới
nên thuyết pháp cho các người khác. Thế nào là năm?
2. "Ta sẽ thuyết pháp tuần tự",
thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. "Ta
sẽ thuyết với mắt nhìn vào pháp môn", thuyết pháp cho người
khác cần phải suy nghĩ như vậy. "Ta sẽ thuyết vì lòng từ
mẫn", thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.
"Ta sẽ thuyết pháp, không phải vì tài vật", thuyết pháp
cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. "Ta sẽ thuyết
pháp, không làm thương tổn cho mình và cho người". Thuyết
pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.
- Này Ananda, thật không dễ gì để
thuyết pháp cho các người khác. Ðể thuyết pháp cho các người
khác, này Ananda, sau nội tâm an trú được năm pháp, mới nên
thuyết pháp cho các người khác.
(X) (160) Khó Trừ Khử
1. - Năm pháp này khởi lên, này
các Tỷ-kheo, thật khó trừ khử. Thế nào là năm?
2. Tham khởi lên, thật khó trừ
khử; sân khởi lên, thật khó trừ khử; si khởi lên, thật
khó trừ khử; ham nói khởi lên, thật khó trừ khử; tâm lang
thang thật khó trừ khử.
Năm pháp này đã khởi lên, này
các Tỷ-kheo, thật khó trừ khử.
XVII. Phẩm Hiềm
Hận
(I) (161) Trừ Khử Hiềm Hận (1)
1. - Có năm trừ khử hiềm hận
này, này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo có hiềm hận khởi
lên cần phải được trừ khử một cách hoàn toàn. Thế nào
là năm?
2. Trong người nào, này các Tỷ-kheo,
hiềm hận được sanh, trong người ấy, từ cần phải tu tập.
Như vậy trong người ấy, hiềm hận cần phải trừ khử.
3. Trong người nào, hiềm hận được
sanh, trong người ấy, bi cần phải tu tập. Như vậy trong người
ấy, hiềm hận cần phải trừ khử.
4. Trong người nào, hiềm hận được
sanh, trong người ấy xả cần phải tu tập. Như vậy trong
người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.
5. Trong người nào, này các Tỷ-kheo,
hiềm hận được sanh, trong người ấy, vô niệm, vô tác ý
cần được thực hiện. Như vậy trong người ấy hiềm hận
cần phải trừ khử.
6. Trong người nào, này các Tỷ-kheo,
hiềm hận được sanh, trong người ấy, sự kiện nghiệp do
mình tạo cần phải an lập là: "Tôn giả là chủ của nghiệp,
là thừa tự của nghiệp, là khởi nguyên của nghiệp, là
bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm nghiệp
thiện hay ác được làm Tôn giả sẽ là người thừa tự
nghiệp ấy". Như vậy, trong người ấy, hiềm hận cần phải
được trừ khử.
Này các Tỷ-kheo, có năm trừ khử
hiềm hận này, ở đây, hiềm hận khởi lên cho Tỷ-kheo cần
phải trừ khử một cách hoàn toàn.
(II) (162) Trừ Khử Hiềm Hận
(2)
1. Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi
các Tỷ-kheo:
- Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
- Thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả
Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
2. - Này các Hiền giả, có năm trừ
khử hiềm hận này, ở đây, hiềm hận khởi lên cho Tỷ-kheo
cần phải được trừ khử một cách hoàn toàn. Thế nào là
năm?
3. Ở đây, này các Hiền giả, có
người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, trong
người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải
trừ khử.
4. Ở đây, này các Hiền giả, có
người khẩu hành không thanh tịnh, thân hành thanh tịnh, trong
người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải
trừ khử.
5. Ở đây, này các Hiền giả, có
người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh,
nhưng thỉnh thoảng tâm được mở rộng, tâm được tịnh
tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần
phải trừ khử.
6. Ở đây, này các Hiền giả, có
người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh,
và thỉnh thoảng không được tâm rộng mở, không được
tâm tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm
hận cần phải trừ khử.
7. Ở đây, này các Hiền giả, có
người thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, và thỉnh
thoảng tâm được rộng mở, tâm được tịnh tín, trong người
như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.
8. Ở đây, này các Hiền giả, người
này thân hành không thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh. Như thế
nào, trong người ấy hiềm hận cần được trừ khử?
9. Ví như, này các Hiền giả, Tỷ-kheo
mặc áo lượm từ đống rác, thấy một tấm vải (liệng
ở đống rác) trên con đường xe đi, liền lấy chân trái
chận lại, lấy chăn mặt kéo tấm vải cho rộng ra, đoạn
nào là đoạn chánh, làm cho nó có thể sử dụng được rồi
cầm lấy mang đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này,
với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành thanh tịnh;
những cái gì thuộc về thân hành không thanh tịnh; lúc bấy
giờ vị ấy không nên tác ý; còn những gì thuộc khẩu hành
thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy, trong
người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.
10. Ở đây, này các Hiền giả,
người này với khẩu hành không thanh tịnh, với thân hành
thanh tịnh. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải
trừ khử?
11. Ví như, này các Hiền giả, một
hồ nước đầy bùn và cây lau. Rồi một người đi đến
bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống
nước, khá