I. Phẩm
Sức Mạnh Hữu Học
(I) (1) Tóm Lược
1. Như vậy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi
tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi
các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế
Tôn. Thế Tôn nói như sau:
2. - Này các Tỷ-kheo, có năm sức
mạnh này, cuả bậc Hữu học. Thế nào là năm? Tín lực,
tàm lực, quý lực, tuệ lực. Này các Tỷ-kheo, có năm sức
mạnh này của bậc hữu học.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải
học tập như sau:
3. "Tôi sẽ thành tựu tín lực,
được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu tàm lực,
được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu quý lực,
được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu tinh tấn
lực, được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu tuệ
lực, được gọi là hữu học lực". Như vậy, này các Tỷ-kheo,
các Thầy cần phải học tập.
(II) (2) Rộng Rãi
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm sức
mạnh này của bậc Hữu học. Thế nào là năm? Tín lực, tàm
lực, quý lực, tinh tấn, tuệ lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
tín lực?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như
Lai: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn". Như vậy,
này các Tỷ-kheo, được gọi là tín lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
tàm lực?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử có lòng hổ thẹn,. Hổ thẹn đối với thân
làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, hổ thẹn đối với các
pháp ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, được gọi là tàm lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
quý lực?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi đối với thân làm
ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sợ hãi đối với các pháp
ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
được gọi là quý lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
tinh tấn lực?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất
thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì tinh tấn,
không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, được gọi là tinh tấn lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
tuệ lực?
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt,
với sự thể nhập bậc Thánh vào con đường đoạn tận khổ
đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ lực.
Những pháp này, này các Tỷ-kheo,
là năm sức mạnh của bậc Hữu học. Do vậy, này các Tỷ-kheo,
cần phải học tập như sau:
7. "Ta sẽ thành tựu tín lực, được
gọi là hữu học lực... tàm lực... quý lực... tinh tấn lực...
ta sẽ thành tựu tuệ lực, được gọi là hữu học lực".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
(III) (3) Khổ
1. - Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại sống đau khổ, với
tổn não, với ưu não, với nhiệt não, sau khi thân hoại mạng
chung, được chờ đợi là ác thú. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không có lòng tin, không có lòng hổ thẹn, không có lòng sợ
hãi, biếng nhác, ác tuệ. Thành tựu với năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại sống đau khổ, với tổn
não, với ưu não, với nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung,
được chờ đợi là ác thú.
2. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại sống an lạc, không có
tổn não, không ưu não, không có nhiệt não; sau khi thân hoại
mạng chung, được chờ đợi là cõi lành. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, có lòng hổ
thẹn, có lòng sợ hãi, tinh cần tinh tấn, có trí tuệ. Thành
tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngay trong hiện
tại sống an lạc, không có tổn não, không có ưu não, không
có nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi
là cõi lành.
(IV) (4) Tương Xứng
1. - Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tương xứng như vậy, bị rơi vào địa
ngục. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không có lòng tin, không có lòng hổ thẹn, không có lòng sợ
hãi, biếng nhác, có ác tuệ. Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tương xứng như vậy, bị rơi vào địa
ngục.
2. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tương xứng như vậy, được sanh vào cõi
Trời. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
có lòng tin, có lòng hổ thẹn, có lòng sợ hãi, tinh cần tinh
tấn, có trí tuệ. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo tương xứng như vậy được sanh vào cõi Trời.
(V) (5) Học Pháp
1. - Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, này
các Tỷ-kheo, từ bỏ học pháp, trở lui đời sống thế tục,
năm vấn đề hợp pháp để tự trách và chỉ trích đến
với vị ấy ngay trong hiện tại. Thế nào là năm?
2. "Trong Thầy (vị ấy nghĩ) không
có lòng tín đối với các thiện pháp; trong Thầy không có
lòng hổ thẹn đối với các thiện pháp; trong Thầy không
có lòng sợ hãi đối với các thiện pháp; trong Thầy không
có tinh tấn đối với các thiện pháp; trong Thầy không có
trí tuệ đối với các thiện pháp. "Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni
nào, này các Tỷ-kheo, từ bỏ học pháp, trở lui đời sống
thế tục, năm vấn đề hợp pháp này để tự trách và chỉ
trích đến với vị ấy ngay trong hiện tại.
3. Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, này
các Tỷ-kheo, dầu với đau khổ, với ưu tư, với mặt đầy
nước mắt, than khóc, vẫn sống đời sống Phạm hạnh hoàn
toàn thanh tịnh, năm vấn đề hợp pháp để tự tán thán
đế với vị ấy ngay trong hiện tại. Thế nào là năm? "Trong
Thầy (vị ấy nghĩ) có lòng tin đối với các thiện pháp;
trong Thầy có lòng hổ thẹn đối với các thiện pháp; trong
Thầy có lòng sợ hãi đối với các thiện pháp; trong Thầy
có lòng tinh tấn đối với các thiện pháp; trong Thầy có
trí tuệ đối với các thiện pháp. Tỷ kheo hay tỷ kheo ni
nào, naỳ các Tỷ kheo, dầu với đau khổ, với ưu tư, với
mặt đầy nước mắt, khóc than vẫn sống đời sống Phạm
hạnh hoàn toàn thanh tịnh, năm vấn đề hợp pháp để tự
tán thán này đến với vị ấy ngay trong hiện tại.
(VI) (6) Bước Vào
1. - Không có sự bước vào bất
thiện, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào có lòng tin an trú
vào các thiện pháp. Khi nào lòng tin biến mất, này các Tỷ-kheo,
lòng không tin khởi lên và tồn tại, thời có sự bước vào
bất thiện.
2-5. Không có sự bước vào bất
thiện, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào có lòng hổ thẹn...
lòng sợ hãi... tinh tấn... trí tuệ an trú vào các thiện pháp.
Khi nào lòng hổ thẹn... lòng sợ hãi... tinh tấn... trí tuệ
biến mất, này các Tỷ-kheo, không xấu hổ... không sợ hãi...
biếng nhác... ác tuệ khởi lên và tồn tại, thời có sự
bước vào bất thiện.
(VII) (7) Dục Vọng
1. - Phần lớn, này các Tỷ-kheo,
các loại hữu tình tìm được lạc thú trong các dục. Với
thiện nam tử, này các Tỷ-kheo, đã bỏ một bên lưỡi liềm
và đòn gánh, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
vị ấy vừa đủ để được gọi: "Vị thiện nam tử vì
lòng tin xuất gia". Vì cớ sao?
2. Các dục, này các Tỷ-kheo, được
tìm thấy với tuổi trẻ, các dục này hay các dục khác. Và
này các Tỷ-kheo, các dục hạ liệt, các dục trung đẳng,
và các dục tối thắng, tất cả dục đều được chấp nhận
là các dục.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, có đứa
con nít, trẻ nhỏ, ngây thơ đang nằm ngửa, do người vú vô
ý, đức nhỏ cầm một cây que hay hòn sạn cho vào miệng.
Người vú hầu ấy phải mau chóng tác ý. Sau khi mau chóng tác
ý, phải mau chóng móc cho ra. Nếu không có thể mau chóng móc
ra được, thời với tay trái mắn đầu nó, với tay mặt,
lấy ngón tay làm như cái móc, móc cho vật ấy ra, dầu có
phải chảy máu. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, làm như vậy,
có hại cho đứa trẻ. Ta nói rằng không phải không có hại
Như vậy, này các Tỷ kheo, người vú hầu phải làm như vậy
vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng,
vì lòng từ mẫn (đứa trẻ). Nhưng này các Tỷ-kheo, khi đức
trẻ ấy đã lớn lên, và có đủ trí khôn, người vú hầu
ấy không săn sóc nó nữa, nghĩ rằng: "Nay đứa trẻ đã biết
tự bảo vệ mình, không phóng dật nữa".
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến
khi nào vị Tỷ-kheo chưa gây được lòng tin đối với các
thiện pháp, chưa gây được lòng hổ thẹn đối với các
thiện pháp, chưa gây được lòng sợ hãi đối với các thiện
pháp, chưa gây được tinh tấn đối với các thiện pháp;
chưa gây được trí tuệ đối với các thiện pháp, cho đến
khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta cần phải phòng hộ Tỷ-kheo ấy.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo gây được lòng tin đối
với các thiện pháp, gây được lòng hổ thẹn đối với
thiện pháp, gây được lòng sợ hãi đối với các thiện
pháp gây được lòng tinh tấn đối với các thiện pháp; gây
được trí tuệ đối với các thiện pháp, thời khi ấy, này
các Tỷ-kheo, Ta không còn săn sóc Tỷ-kheo ấy, nghĩ rằng:
"Nay Tỷ-kheo ấy đã biết tự bảo vệ mình, không còn phóng
dật nữa".
(VIII) (8) Từ Bỏ
1.- Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo từ bỏ, không an trú trong diệu
pháp. Thế nào là năm?
2. Không có lòng tin, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo từ bỏ, không an trú trong diệu pháp. Không có lòng
hổ thẹn, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo từ bỏ không an trú trong
diệu pháp. Không có lòng sợ hãi, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo
từ bỏ, không an trú trong diệu pháp. Biếng nhác, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo từ bỏ, không an trú trong diệu pháp. Không
có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo từ bỏ, không an trú
trong diệu pháp. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo từ bỏ, không an trú trong diệu pháp.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không từ bỏ, an trú trong diệu pháp. Thế
nào là năm? Có lòng tin, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không từ
bỏ, an trú trong diệu pháp. Có lòng hổ thẹn... có lòng sợ
hãi... có tinh tấn... có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không từ bỏ, an trú trong diệu pháp. Thành tựu năm pháp này,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không từ bỏ, an trú trong diệu pháp.
(IX) (9) Không Tôn Kính (1)
1. - Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, từ
bỏ, không an trú trong diệu pháp. Thế nào là năm?
2. Không có lòng tin, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, từ bỏ, không an
trú trong diệu pháp. Không có lòng hổ thẹn... không có lòng
sợ hãi... biếng nhác... không có trí tuệ, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, từ bỏ, không an
trú trong diệu pháp. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, từ bỏ, không an
trú trong diệu pháp.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng, không từ bỏ,
an trú trong diệu pháp. Thế nào là năm?
4. Có lòng tin, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng, không từ bỏ, an trú trong
diệu pháp. Có lòng hổ thẹn... có lòng sợ hãi... có tinh
tấn... có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có cung kính,
có tôn trọng, không từ bỏ, an trú trong diệu pháp. Thành
tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có cung kính, có
tôn trọng, không từ bỏ, an trú trong diệu pháp.
(X) (10) Không Tôn Kính (2)
1. - Thành tựu năm pháp này, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, không
có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật
này. Thế nào là năm?
2. Không có lòng tin, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, không có thể lớn
lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Không
có lòng hổ thẹn... không có lòng sợ hãi... biếng nhác...
có ác trí tuệ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không cung kính, không
tôn trọng, không có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh
trong Pháp và Luật này. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo không cung kính, không tôn trọng, không có thể lớn
lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này.
3. Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, có thể lớn lên, tăng
trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Thế nào là năm?
4. Có lòng tin, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng, có thể lớn lên, tăng
trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Có lòng hổ thẹn...
có lòng sợ hãi... tinh tấn... có trí tuệ, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng, có thể lớn lên, tăng
trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Thành tựu năm
pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có cung kính, có tôn trọng,
có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật
này.
II. Phẩm Sức
Mạnh
(I) (11) Chưa Ðược Nghe
1. - Này các Tỷ-kheo, Ta tự cho là
đã đạt được sự cứu cánh với thắng trí đối với các
pháp từ trước Ta chưa từng được nghe. Này các Tỷ-kheo,
có năm sức mạnh này của Như Lai. Thành tựu các đã đạt
được vị trí Ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử giữa
các hội chúng, làm vận chuyển bánh xe Phạm thiên. Thế nào
là năm?
2. Tín lực, tàm lực, quý lực,
tinh tấn lực, tuệ lực. Có năm Như Lai lực này của Như
Lai, này các Tỷ-kheo. Thành tựu các sức mạnh ấy, Như Lai
tự xem đã được vị trí Ngưu vương, rống tiếng rống con
sư tử giữa các hội chúng, làm vận chuyển bánh xe Phạm
thiên.
(II) (12) Nóc Nhọn
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm sức
mạnh này của bậc hữu học. Thế nào là năm?
2. Tín lực, tàm lực, quý lực,
tinh tấn lực, tuệ lực. này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh
này của bậc Hữu học. Trong năm sức mạnh của bậc Hữu
học này, này các Tỷ-kheo, cái này là tối thượng, cái này
là tổng nhiếp, cái này là tổng thâu tóm, tức là tuệ lực.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, với
ngôi nhà có nóc nhọn, cái này là tối thượng, cái này là
tổng nhiếp, cái này là tổng thâu tóm, tức là cái nóc. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, trong năm sức mạnh này của bậc hữu
học, cái này là tối thượng, cái này là tổng nhiếp, cái
này là tổng thâu tóm, tức là tuệ lực. Do vậy, này các
Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:
4. "Tôi sẽ thành tựu tín lực,
được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tàm lực, được
gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu quý lực... tinh
tấn lực... tuệ lực, được gọi là hữu học lực." Như
vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
(III) (13) Các Sức Mạnh Tóm Lược
- Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh
này. Thế nào là năm? Tín lực, tấn lực, niệm lực, định
lực, tuệ lực. Này các Tỷ-kheo, có năm lực này.
(IV) (14) Các Sức Mạnh Rộng Thuyết
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm sức
mạnh này. Thế nào là năm?
2. Tín lực, tấn lực, niệm lực,
định lực, tuệ lực.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là tín
lực?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của
Như Lai: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng sĩ,
Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Như
vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tín lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
tấn lực?
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất
thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực kiên trì tinh tấn,
không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, được gọi là tấn lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
niệm lực?
5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử có chánh niệm, thành tựu tối thắng niệm
và tuệ. Vị ấy nhớ và gợi lại trong trí nhớ những điều
đã nói và đã làm lâu ngày về trước. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, được gọi là niệm lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
định lực?
6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử ly các dục, ly các bất thiện pháp, chứng đạt
và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly
dục sanh, có tầm, có tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ,
chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm lạc thọ,
được các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt
và an trú Thiền thứ ba. Ðoạn lạc đoạn khổ, chấm dứt
hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền
thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, được gọi là định lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
tuệ lực?
7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt,
với sự thể nhập bậc Thánh vào con đường đoạn tận khổ
đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ lực.
Này các Tỷ-kheo, các pháp này là
năm lực.
(V) (15) Cần Phải Thấy
- Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh
này. Thế nào là năm? Tín lực, tấn lực, niệm lực, định
lực, tuệ lực.
Và này các Tỷ-kheo, tín lực cần
phải thấy ở đâu? Trong bốn Dự lưu chi phần; ở đấy,
tín lực cần phải thấy. Và này các Tỷ-kheo, tấn lực cần
phải thấy ở đâu? Trong bốn chánh cần; ở đấy tấn lực
cần phải thấy. Và này các Tỷ-kheo, niệm lực cần phải
thấy ở đâu? Trong Bốn niệm xứ; ở đấy, niệm lực cần
phải thấy. Và này các Tỷ-kheo, định lực cần phải thấy.
Và này các Tỷ-kheo, định lực cần phải thấy ở đâu? Ở
trong bốn Thiền; ở đấy, định lực cần phải thấy. Và
này các Tỷ-kheo, tuệ lực cần phải thấy ở đâu? Ở trong
bốn Thánh đế; ở đấy, tuệ lực cần phải thấy. Này các
Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này.
(VI) (16) Lại Nóc Nhọn
(Xin xem kinh số12)
(VII) (17) Hạnh Phúc Cho Ai? (1)
-Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình, không đem lại
hạnh phúc cho người khác. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
tự mình đầy đủ giới hạnh, không có khuyến khích người
khác đầy đủ giới hạnh; tự mình đầy đủ Thiền định,
không có khuyến khích người khác đầy đủ Thiền định;
tự mình đầy đủ trí tuệ, không có khuyến khích người
khác đầy đủ trí tuệ; tự mình đầy đủ giải thoát; tự
mình đầy đủ giải thoát tri kiến, không có khuyến khích
người khác đầu đủ giải thoát tri kiến. Thành tựu năm
pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho
mình, không đem lại hạnh phúc cho người khác.
(VIII) (18) Hạnh Phúc Cho Ai ? (2)
- Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho người khác, không
đem lại hạnh phúc cho mình. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không tự mình đầy đủ giới hạnh, khuyến khích người
khác đầy đủ giới hạnh; không tự mình đầy đủ Thiền
định... không tự mình đầy đủ trí tuệ... không tự mình
đầy đủ giải thoát... không tự mình đầy đủ giải thoát
tri kiến, khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát tri
kiến. Ðầy đủ năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem
lại hạnh phúc cho người khác, không đem lại hạnh phúc cho
mình.
(IX) (19) Hạnh Phúc Cho Ai ? (3)
- Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không đem lại hạnh phúc cho mình, không đem
lại hạnh phúc cho người. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không tự mình đầy đủ giới hạnh, không khuyến khích người
khác đầy đủ giới hạnh; không tự mình đầy đủ Thiền
định... không tự mình đầy đủ trí tuệ... không tự mình
đầy đủ giải thoát... không tự mình đầy đủ giải thoát
tri kiến, không khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát
tri kiến. Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo
không đem lại hạnh phúc cho mình, không đem lại hạnh phúc
cho người.
(X) (20) Hạnh Phúc Cho Ai ? (4)
- Thành tựu năm pháp này, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh
phúc cho người. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
tự mình đầy đủ giới hạnh và khuyến khích người khác
đầy đủ giới hạnh; tự mình đầy đủ Thiền định...
tự mình đầy đủ trí tuệ... tự mình đầy đủ giải thoát...
tự mình đầy đủ giải thoát tri kiến, và khuyến khích người
khác đầy đủ giải thoát tri kiến. Ðầy đủ năm pháp này,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem
lại hạnh phúc cho người.
III. Phẩm Năm
Phần
(I) (21) Không Có Cung Kính (1)
1- Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, không
cung kính, không thận trọng, không sống tương hòa với các
vị đồng Phạm hạnh, sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp,
sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn thắng
hạnh pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự
kiện này không xảy ra. Không làm cho viên mãn hữu học pháp,
vị ấy sẽ làm cho viên mãn các giới luật, sự kiện này
không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn các giới luật,
vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh tri kiến, sự kiện này
không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn chánh tri kiến,
vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này không
xảy ra.
2. Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, có
cung kính có thận trọng, sống tương hòa với các vị đồng
Phạm hạnh sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện
này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, vị
ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này có xảy
ra. Sau khi làm cho viên mãn hữu học pháp, vị ấy sẽ làm
cho viên mãn các giới luật, sự kiện này có xảy ra. Sau khi
làm cho viên mãn các giới luật, vị ấy sẽ làm cho viên mãn
chánh tri kiến, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên
mãn chánh tri kiến, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh định,
sự kiện này có xảy ra.
(II) (22) Không Có Cung Kính (2)
1. - Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, không
cung kính, không thận trọng, không sống tương hòa với các
vị đồng Phạm hạnh, sẽ làm viên mãn thắng hạnh pháp,
sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn thắng
hạnh pháp, vị ấy sẽ làm viên mãn hữu học pháp, sự kiện
này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn hữu học pháp,
vị ấy sẽ làm cho viên mãn giới uẩn, sự kiện này không
xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn giới uẩn, vị ấy sẽ
làm cho viên mãn định uẩn, sự kiện này không xảy ra. Sau
khi không làm cho viên mãn định uẩn, vị ấy sẽ làm cho viên
mãn tuệ uẩn, sự kiện này không xảy ra.
2. Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, có
cung kính, có thận trong, sống tương hòa với các vị đồng
Phạm hạnh, vị ấy sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp,
sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn thắng hạnh
pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện
này có xảy ra. Sau khi làm viên mãn hữu học pháp, vị ấy
sẽ làm cho viên mãn giới uẩn, sự kiện này có xảy ra. Sau
khi làm cho viên mãn giới uẩn, vị ấy sẽ làm cho viên mãn
định uẩn, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn
định uẩn, vị ấy sẽ làm cho viên mãn tuệ uẩn, sự kiện
này có xảy ra.
(III) (23) Các Uế Nhiễm
1. - Có năm uế nhiễm này của vàng,
này các Tỷ-kheo, do các uế nhiễm ấy, vàng bị uế nhiễm
không được nhu nhuyến, không được dễ sử dụng, không
sáng chói, bị bể vụn và không chơn chánh chịu sự tác thành.
Thế nào là năm?
2. Sắt, đồng, thiếc, chì và bạc.
Có năm uế nhiễm này của vàng, này các Tỷ-kheo, do uế nhiễm
ấy, vàng bị uế nhiễm không được nhu nhuyến, không được
dễ sử dụng, không sáng chói bị bể vụn và không chơn chánh
chịu sự tác thành.
3. Và khi nào, này các Tỷ-kheo, vàng
được giải thoát khỏi năm uế nhiễm này, khi ấy vàng ấy
được nhu nhuyến, dễ sử dụng, sáng chói, không bị bể
vụn, và chơn chánh chịu sự tác thành. Và các đồ trang sức
nào người ta muốn như nhẫn, như bông tai, như vòng cổ, như
dây chuyền vàng, vàng ấy có thể dùng tùy theo ước muốn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có năm
uế nhiễm này của tâm, do các uế nhiễm ấy, tâm bị uế
nhiễm, không nhu nhuyến, không dễ sử dụng, không sáng chói,
bị bể vụn, không chơn chánh định tĩnh để đoạn diệt
các lậu hoặc. Thế nào là năm?
4. Tham dục, sân, hôn trầm thụy
miên, trạo hối, nghi. Có năm uế nhiễm này của tâm, này
các Tỷ-kheo, do năm uế nhiễm ấy, tâm bị uế nhiễm không
được nhu nhuyến, không dễ sử dụng, không sáng chói, bị
bể vụn, không chơn chánh, định tĩnh để đoạn diệt các
lậu hoặc.
5. Và khi nào, này các Tỷ-kheo, tâm
được giải thoát khỏi năm uế nhiễm ấy; khi ấy tâm ấy
được nhu nhuyến, dễ sử dụng, sáng chói, không bể vụn,
chơn chánh định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Tùy
thuộc theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng
trí, tâm vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng
trí. Tại đây, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lục
đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
6. Nếu vị ấy ước muốn, "Ta sẽ
chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều
thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi
ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi qua hư không; độn
thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi
trên nước không chìm, như trên đất liền; ngồi kiết-già
hay đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và sờ
mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại
oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên."
Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực
đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
7. Nếu vị ấy muốn: "Với thiên
nhĩ thanh tịnh, siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng chư
thiên và loài Người, xa và gần". Tại đấy, tại đấy, vị
ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy,
dầu thuộc loại xứ nào.
8. Nếu vị ấy ước muốn: "Mong
rằng với tâm của mình có thể biết được tâm của các
loại chúng sanh khác, tâm của loài Người khác nhau như sau:
"Tâm có tham, biết là tâm có tham. Tâm không tham, biết là
tâm không tham. Tâm có sân biết là tâm có sân. Tâm không sân,
biết là tâm không sân. Tâm có si biết là tâm có si. Tâm không
si biết là tâm không si. Tâm chuyên chú biết là tâm chuyên
chú. Tâm tán loạn biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm biết
là đại hành tâm. Không phải đại hành tâm biết là không
phải đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa
vô thượng. Tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm Thiền
định biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định biết
là tâm không Thiền định. Tâm giải thoát biết là tâm giải
thoát. Tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát"".
Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực
đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
9. Nếu vị ấy ước muốn: "Ta sẽ
nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời,
ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời,
ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trămđời,
hai trăm đời, ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp,
nhiều hoại và thành kiếp." Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ
kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp
như thế này, đồ ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế
này, tuổi thọ đến mức thế này. Sau khi chết tại chỗ
kia, ta được sinh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên
như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này,
đồ ăn như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau
khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ở đây." Tại chỗ,
tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến
trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
10. Nếu vị ấy ước muốn: "Với
thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ta thấy sự từ bỏ và sanh
khởi của chúng sanh. Ta biết rõ chúng sanh, người hạ liệt,
kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn,
kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Các vị chúng
sanh ấy làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời, ác
hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các
nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng
chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Các vị chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ
và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo
các nghiệp theo chánh kiến. Những vị này sau khi thân hoại
mạng chung, được sanh lên các cõi lành, cõi Trời, trên đời
này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, ta có
thể thấy sự sống chết của chúng sanh. ta có thể rõ biết
rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp
đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do
hạnh nghiệp của họ". Tại đấy, tại đấy, vị ấy có
khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc
loại xứ nào.
11. Nếu vị ấy ước muốn: "Do
đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng
trí ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải
thoát, tuệ giải thoát." Tại đấy, tại đấy, vị ấy có
khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc
loại xứ nào.
(IV) (24) Ác Giới
1. - Với người ác giới, này các
Tỷ-kheo, với người phá giới, chánh định do vậy bị phá
hoại. Khi chánh định không có mặt, với người chánh định
bị phá hoại, như thật tri kiến do vậy bị phá hoại. Khi
như thật tri kiến không có mặt, với người như thật tri
kiến bị phá hoại, nhàm chán, ly tham do vậy bị phá hoại.
Khi nhàm chán ly tham không có mặt, với người nhàm chán ly
tham bị phá hoại, giải thoát tri kiến do vậy bị phá hoại.
2. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
cây, với cành và lá bị phá hoại, thời đọt cây ấy không
đi đến viên mãn, vỏ cây không đi đến viên mãn, giác cây
không đi đến viên mãn, lõi cây không đi đến viên mãn. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, với người ác giới, với người phá
giới, chánh định do vậy bị phá hoại. Khi chánh định không
có mặt, với người chánh định bị phá hoại, như thật
tri kiến nhân vậy bị phá hoại. Khi như thật tri kiến không
có mặt, với người như thật tri kiến bị phá hoại, nhàm
chán, ly tham do vậy bị phá hoại. Khi nhàm chán, ly tham không
có mặt, với người nhàm chán ly tham bị phá hoại, giải
thoát tri kiến do vậy bị phá hoại.
3. Với người có giới, này các
Tỷ-kheo, với người gìn giữ giới, chánh định do vậy được
đầy đủ. Do chánh định có mặt, với người chánh định
được thành tựu, như thật tri kiến do vậy được thành
tựu. Do như thật tri kiến có mặt, với người như thật
tri kiến có mặt, nhàm chán, ly tham do vậy được thành tựu.
Do nhàm chán, ly tham có mặt, với người nhàm chán ly tham được
thành tựu, giải thoát tri kiến do vậy được thành tựu.
4. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
cây, với cành và lá được đầy đủ, thời đọt cây ấy
đi đến viên mãn vỏ cây đi đến viên mãn, giác cây đi đến
viên mãn lõi cây đi đến viên mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
với người có giới, với người giữ gìn giới, chánh định
nhân vậy được đầy đủ. Do chánh định có mặt, với người
chánh định được thành tựu, như thật tri kiến do vậy được
thành tựu. Do như thật tri kiến có mặt, với người như
thật tri kiến được thành tựu, nhàm chán, ly tham do vậy
được thành tựu. Do nhàm chán, ly tham có mặt, với người
nhàm chán, ly tham được thành tựu, giải thoát tri kiến do
vậy được thành tựu.
(V) (25) Nhiếp Thọ
1. - Do nhiếp thọ năm chi phần,
này các Tỷ-kheo, chánh tri kiến được thành thục với tâm
giải thoát quả và với các lợi ích của tâm giải thoát
quả và với các lợi ích của tâm giải thoát quả với tuệ
giải thoát quả và với các lợi ích của tuệ giải thoát
quả.
2. Với năm pháp gì? Ở đây, này
các Tỷ-kheo, chánh tri kiến được giới pháp nhiếp thọ,
được văn nhiếp thọ, được luận nghị nhiếp thọ, được
chỉ nhiếp thọ, được quán nhiếp thọ. Do được năm chi
phần này nhiếp thọ, này các Tỷ-kheo, chánh tri kiến được
thành tựu với tâm giải thoát quả và các lợi ích của tâm
giải thoát quả, với tâm giải thoát quả, với tuệ giải
thoát quả và các lợi ích của tuệ giải thoát quả.
(VI) (26) Giải Thoát Xứ
1. - Có năm giải thoát xứ này,
này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, thời tâm chưa giải thoát được gỉai
thoát, hay các lậu hoặc chưa được đoạn diệt hoàn toàn,
đi đến đoạn diệt hoàn toàn, hay vô thượng an ổn khỏi
các khổ ách chưa đạt, được đạt đến.
2. Thế nào là năm? Ở đây, này
các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng
vai trò vị Ðạo Sư thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Tùy theo bậc
Ðạo Sư, hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo
Sư thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo như thế nào, nhu thế nào,tùy
theo như vậy, như vậy, vị Tỷ-kheo tín thọ về nghĩa và
tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa,
tín thọ về pháp, nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh.
Do ý hoan hỷ, thân được khinh an. Do thân được khinh an, vị
ấy cảm giác lạc thọ. Do lạc thọ, tâm được định tĩnh.
Ðây là giải thoát xứ thứ nhất; ở đấy, vị Tỷ-kheo sống
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, thời tâm chưa giải
thoát được giải thoát, hay các lậu hoặc chưa được đoạn
diệt hoàn toàn, đi đến đoạn diệt hoàn toàn, hay vô thượng
an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt, được đạt tới.
3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc
Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo
Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Và vị Tỷ-kheo ấy thuyết
pháp rộng rãi cho các người khác như đã được nghe, như
đã được học thuộc lòng. Vị Tỷ-kheo ấy thuyết pháp rộng
rãi cho các người khác như đã được nghe, như đã được
học thuộc lòng, như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy,
như vậy, vị ấy tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp
trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về
pháp nên hân hoan sanh. Do hân hoan sanh nên hỷ sanh... tâm được
định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ hai, ở đây vị Tỷ-kheo
sống không phóng dật, nhiệt tâm... được đạt tới.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc
Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo
Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không
thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác như đã
được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy đọc
tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã
được học thuộc lòng. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo
đọc tụng pháp như vậy, như đã được nghe, như đã được
học thuộc lòng, một cách rộng rãi như thế nào, như thế
nào, tùy theo như vậy, như vậy vị Tỷ-kheo ấy tín thọ về
nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ
về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên
hỷ sanh... tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ
thứ ba, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt
tâm... được đạt tới.
5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc
Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo
Sư, không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không
thuyết pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc
lòng một cách rộng rãi cho người khác. Vị ấy không đọc
tụng pháp một cách rộng rãi như đã nghe, như đã được
học thuộc lòng. Nhưng vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tự,
với ý quán sát pháp như đã được nghe, như đã được đọc
tụng. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, do với tâm tùy tầm,
tùy tứ, với ý quán sát pháp như đã được nghe, như đã
được đọc tụng như thế nào, như thế nào, tùy theo như
vậy, như vậy, vị Tỷ-kheo ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ
về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín
thọ về pháp, nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh...
tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ tư, ở
đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm... được
đạt tới.
6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc
Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai vị Ðạo
Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không
thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, như đã
được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy không
đọc tụng pháp ấy một cách rộng rãi, như đã được nghe,
như đã được học thuộc lòng. Vị ấy không với tâm tùy
tầm, tùy tứ, với ý quán sát pháp như đã được nghe, như
đã học thuộc lòng. Vị ấy pháp như đã được nghe, như
đã học thuộc lòng. Nhưng vị ấy khéo nắm giữ một định
tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thông đạt với trí
tuệ như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy,
vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp trong pháp ấy.
Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan.
Do hân hoan, nên hỷ sanh... tâm được định tĩnh. Ðây là
giải thoát xứ thứ năm, ở đây, vị Tỷ-kheo sống không
phóng dật, nhiệt tâm... được đạt tới.
7. Có năm giải thoát xứ này, này
các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt
tâm, tính cần, thời tâm chưa giải thoát, dược giải thoát,
hay các lậu hoặc chưa đoạn diệt hoàn toàn, đi đến đoạn
diệt hoàn toàn, hay vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa
đạt, được đạt đến.
(VII) (27) Ðịnh
1. - Này các Tỷ-kheo, thông minh,
thường niệm, hãy tu tập vô lượng định. Với ai thông minh
thường niệm, tu tập vô lượng định, tự mỗi người ấy
khởi lên năm trí. Thế nào là năm?
2. Ðịnh này hiện tại lạc và
tương lai có quả dị thục lạc, trong mỗi người, trí (như
vậy) khởi lên. Ðịnh này thuộc bậc Thánh, không thuộc vật
chất, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên. Ðịnh này
không do người ác thực hiện, trong mỗi người, trí (như
vậy) khởi lên. Ðịnh này an tịnh, thù diệu đem đến khinh
an, đạt được nhất tâm, không phải là sự chế ngự gò
ép thường xuyên, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên:
"An tịnh, ta nhập định này. An tịnh, ta xuất khỏi định
này", trong mỗi người trí (như vậy) khởi lên.
Này các Tỷ-kheo, thông minh, thường
niệm, hãy tu tập vô lượng định. Với ai thông minh, thường
niệm, hãy tu tập vô lượng định, tự mỗi người ấy, khởi
lên năm trí này.
(VIII) (28) Năm Chi Phần
1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết
giảng sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỷ-kheo, như thế nào
là sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần?
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ly dục... chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất với tầm,
với tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn,
tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một
chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh
ấy thấm nhuần.
3. Ví như, này các Tỷ-kheo, như
một người hầu tắm hay đệ tử hầu tắm, sau khi rắc bột
tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước.
Cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn
với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước,
nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị
Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho dung mãn, tràn đầy
thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên
toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
Ðây là sự tu tập thứ nhất về
Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ... chứng đạt và an
trú Thiền thứ hai. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho
sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không
một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định
sanh ấy thấm nhuần.
5. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
hồ nước, nước tự dâng lên, phương Ðông không có lỗ
nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương
Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước
chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước
mát từ hồ nuớc ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm
cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy với nước mát lạnh,
không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước
mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
thấm nhuần tẩm ướt làm cho sung mãn tràn đầy thân này
với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân
không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
Ðây là sự tu tập thứ hai về
Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị
Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự
lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng
và an trú Thiền thứ ba. Vị Tỷ-kheo ấy thấm nhuần với
lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân
không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
7. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong
hồ sen xanh, hồ sen hồng hay sen trắng, những bông hoa ấy
sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước,
nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ
đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước
mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen
hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm
nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm
ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân này với lạc thọ không
có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được
lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu
tập thứ ba về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng
và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh
tịnh. Tỷ-kheo ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm
thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không
được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
9. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
ngồi người dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ
nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che phủ. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân
này với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên
toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm
nhuần.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu
tập thứ tư về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, quán
sát tướng được vị Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý,
khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.
11. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
người quán sát một người khác, người đứng quán sát người
ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm. Cũng vậy, này
các Tỷ-kheo, quán sát tướng được Tỷ-kheo khéo nắm giữ,
khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thế nhập với trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu
tập thứ năm về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo với Thánh chánh định gồm có năm chi phần được
làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc theo pháp gì cần phải
được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy hướng đến
để được giác ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy
vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy dầu
thuộc loại xứ nào.
12. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
cái ghè nước đặt trên một cái giá, ghè ấy đựng đầy
nước, tràn đầy đến nỗi con quạ có thể uống được.
Và một người có sức mạnh đến lắc qua lắc lại cái ghè
ấy, như vậy nước có đổ ra chăng?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị
Tỷ-kheo tu tập như vậy, Thánh chánh định gồm có năm chi
phần được làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc theo pháp
gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy
hướng đến để được giác ngộ với thắng trí. Tại đấy,
tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp
ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
13. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
hồ nước trên một khoảnh đất bằng, bốn góc có bờ đê
đắp cao đầu tràn nước đến nỗi con quạ có thể uống
được. Rồi một người có sức mạnh đến tháo bờ đê
chỗ này chỗ kia, như vậy nước có đổ ra chăng?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị
Tỷ-kheo tu tập như vậy... dầu thuộc loại xứ nào.
14. Ví như, này các Tỷ-kheo, trên
đất bằng, tại chỗ ngã tư, có một chiếc xe đang đậu,
thắng với ngựa thuần chủng, có gậy thúc ngực đặt ngang
sẵn sàng. Có người huấn luyện ngựa thiện xảo, người
đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngựa,
leo lên xe ấy, tay trái nắm lấy dây cương tay mặt cầm lấy
gậy thúc ngựa, có thể đánh xe ngựa ấy đi tới đi lui tại
chỗ nào và như thế nào theo ý mình muốn. Cũng vậy, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như vậy, Thánh chánh định gồm
có năm chi phần được làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc
theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm
vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng trí.
Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lực đạt
đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
15. Nếu vị ấy ước muốn: "Ta
sẽ chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra
nhiều thân... " (như trên, số 23, mục 6)... dầu thuộc
loại xứ nào.
16. Nếu vị ấy ước muốn: "Thiên
nhĩ thanh tịnh siêu nhân... " (như trên, số 23, mục 7)
17. Nếu vị ấy ước muốn: "Mong
rằng với tâm của mình có thể hiểu biết được tâm của
các loại chúng sanh khác... " (như trên, số 23, mục 8)...
18. Nếu vị ấy ước muốn: "Ta
sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời...
" (như trên, số 23, mục 9)...
19. Nếu vị ấy ước muốn: "Với
thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ta thấy sự sống chết của
chúng sanh... " (như trên, số 23, mục 10)
20. Nếu vị ấy ước muốn: "Do
đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng
trí ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải
thoát, tuệ giải thoát". Tại đấy, tại đấy, vị ấy có
khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc
loại xứ nào.
(IX) (29) Kinh Hành
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm lợi
ích này của kinh hành. Thế nào là năm?
2. Kham nhẫn được đường trường;
kham nhẫn được tinh cần; ít bệnh tật; đưa đến tiêu hóa
tốt đẹp các đồ được ăn, được uống, được nhai, được
nếm; định chứng được trong khi kinh hành được tồn tại
lâu dài. Những pháp này, này các Tỷ-kheo là năm lợi ích
của kinh hành.
(X) (30) Tôn Giả Nàgita
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn bộ hành giữa
các người Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến một
làng Bà-la-môn tên là Icchànangalam. Tại đấy, Thế Tôn trú
ở Icchànangalam, trong khóm rừng Icchànangalam.
Các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam
được nghe: "Sa-môn Tôn giả Gotama là Thích tử xuất gia từ
gia đình họ Thích, đã đến Icchànangalam, trú ở Icchànanagalam
trong khóm rừng Icchànangalam. Về Tôn giả Gotama ấy, tiếng
đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi: "Ðây là đức
Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện
Thệ, Thế gian giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân
chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên
giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn các loài Trời và Người.
Sau khi đã chứng ngộ, Ngài tuyên thuyết điều Ngài đã chứng
ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện,
có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy
đủ trong sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị
A-la-hán như vậy!""
Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam,
sau khi đêm ấy đã màn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại
cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangalam, sau khi
đến, đứng ở ngoài cổng vào, và lớn tiếng làm huyên náo.
2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita
là thị giả của Thế Tôn. rồi Thế Tôn bảo Tôn già Nàgita:
- Này Nàgita, những ai đã đến,
và làm ồn ào như những hàng cá với đống cá lớn?
- Các người ấy, bạch Thế Tôn,
là các Ba-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, đang đứng ở ngoài
cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại
mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.
- Này Nàgita, Ta không có liên hệ
gì với danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita,
những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có
mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn,
lạc viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã
tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc,
tìm được không có phí sức. Hãy để học thọ hưởng lạc
như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn
lạc.
3. - Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn
hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận! Nay Thế Tôn sẽ
đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở
thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng
về cúng dường. Ví như trời mưa nặng hạt, và nước mưa
được chảy tùy theo chiều dốc. Cũng vậy, bạch Thế Tôn,
nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Ba-la-môn
gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ họ cũng sẽ đi đến,
với tâm hướng về cúng đường. Vì cớ sao? Bạch Thế Tôn,
do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn
4. - Này Nàgita, Ta không có liên
hệ gì với danh vọng, và danh vọng không vó liên hệ gì với
Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm
được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức,
tìm được an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác
lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không
phí sức. Hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy
miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc. Này Nàgita,
với ai ăn, uống, nhai, nếm, thời đại tiện, tiểu tiện,
là kết quả tất nhiên cho người ấy. Với những ai nặng
nề về ái lạc, này Nàgita, sự biến hoại, đổi khác, sầu
bi khổ ưu não khởi lên. Ðấy là kết quả tất nhiên cho
người ấy. Những ai chuyên chú tâm về tướng bất tịnh,
này Nàgita, thời sự nhàm chán đối với tịnh tướng được
an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống
tùy quán vô thường trong sáu xúc xứ, này Nàgita, thời sự
nhàm chán đối với xúc được an trú. Ðấy là kết quả
tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán sanh diệt đối
với năm thủ uẩn, này Nàgita, thời sự nhàm chán đối với
chấp thủ được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho
người ấy.
IV. Phẩm Sumanà
(I) (31) Sumanà , Con Gái Vua
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi,
Jetavana, tại khu vườn của Anàthapindika. Rồi Sumanà, con gái
vua, với năm trăm thiếu nữ hộ tống trên năm trăm cổ xe,
đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Sumanà, con gái vua bạch
Thế Tôn:
2. - Ở đây, bạch Thế Tôn, có
hai đệ tử của Thế Tôn đồng đẳng về tín, đồng đẳng
về giới, đồng đẳng về tuệ, một có bố thí, một không
bố thí. Sau khi thân hoại mạng chung, cả hai được sanh lên
cõi lành Thiên giới. Giữa hai vị thiên ấy, có sự đặc
thù gì, có sự sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
- Có sự sai biệt, này Sumanà.
3. Người có bố thí, khi được
làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không có bố thí trên năm
phương diện. Về thiên thọ mạng, về thiên sắc, về thiên
lạc, về thiên danh xưng, về thiên tăng thượng.
Người có
bố thí, này Sumanà, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị
Thiên không bố thí trên năm phương diện này.
4. - Bạch Thế Tôn, nếu họ từ
đây mạng chung, trở lại trạng thái này, khi họ trở lại
làm người, bạch Thế Tôn, có sự đặc thù gì, có sự sai
khác gì?
Thế Tôn đáp:
- Có sự sai biệt, này Sumanà.
5. Người có bố thí, khi được
làm người, vượt qua vị làm người không bố thí trên năm
phương diện: Về nhân thọ mạng, về nhân sắc, về nhân
lạc, về nhân danh xưng, về nhân tăng thượng. Người có
bố thí, này Sumanà, khi được làm người, vượt qua vị làm
người không bố thí trên năm phương diện này
6. - Bạch Thế Tôn, nếu cả hai
đều xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Giữa
hai người xuất gia ấy, bạch Thế Tôn có thể có những đặc
thù gì, những sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
- Có sự sai biệt, này Sumanà.
7. Người có bố thí, khi được
xuất gia, vượt qua vị xuất gia không có bố thí trên năm
phương diện: Thường hay được yêu cầu nhận y, ít khi không
được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận đồ ăn
khất thực, ít khi không được yêu cầu; thường hay được
yêu cầu nhận sàng tọa, ít khi không được yêu cầu; thường
hay được yêu cầu nhận dược phẩm trị bệnh, ít khi không
được yêu cầu. Vị ấy sống với những vị đồng Phạm
hạnh nào, các vị này đối với vị ấy, xử sự với nhiều
thân nghiệp khả ái, với ít thân nghiệp không khả ái, với
nhiều khẩu nghiệp khả ái, với ít khẩu nghiệp không khả
ái, với nhiều ý nghiệp khả ái, với ít ý nghiệp không
khả ái, giúp đỡ với nhiều giúp đỡ khả ái, với ít giúp
đỡ không khả ái. Này Sumanà, người có bố thí khi được
xuất gia, vượt qua người không có bố thí trên năm phương
diện này.
8. - Nhưng bạch Thế Tôn, nếu cả
hai đều chứng quả A-la-hán. Với hai vị chứng đạt A-la-hán
ấy, bạch Thế Tôn có sự đặc thù nào, có sự sai khác nào?
9. - Ở đây, này Sumanà, Ta nói không
có sự sai khác nào, tức là so sánh giải thoát với giải
thoát.
10. - Thật vi diệu thay, bạch Thế
Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Xa cho đến như vậy
là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để làm cho các công
đức. Vì rằng chúng là những giúp đỡ, những công đức
cho chư Thiên, chúng là những giúp đỡ, những công đức cho
loài Người, chúng là những giúp đỡ, những công đức cho
các người xuất gia.
- Sự việc là như vậy, này Sumanà,
là vừa đủ, này Sumanà, để bố thí, là vừa đủ để làm
các công đức. Chúng là những giúp ích, những công đức
cho chư Thiên. Chúng là những giúp ích, những công đức cho
loài Người. Chúng là những giúp ích, những công đức cho
những người xuất gia.
11. Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc
Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Như mặt trăng không uế,
Ði giữa hư không giới,
với ánh sáng bừng chói,
Giữa quần sao ở đời.
Cũng vậy, người đủ giới,
Hạng người có lòng tin,
Với bố thí, bừng chói,
Giữa xan tham ở đời.
Như mây mưa sấm sét,
Vòng hoa chóp trăm đầu,
Tràn đầy cả thung lũng,
Lan tràn cả đất bằng.
Cũng vậy, đầy tri kiến,
Ðệ tử bậc Chánh Giác,
Bậc trí vượt xan tham,
Trên cả năm phương diện,
Thọ mạng và danh xưng,
Dung sắc và an lạc,
Với tài sản sung mãn,
Chết hưởng hỷ lạc thiên.
(II) (32) Cundì, Con Gái Vua
1. Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha
(Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Rồi Cundì, con gái vua, với năm trăm thiếu nữ hộ tống trên
năm trăm cỗ xe đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Cundì,
con gái vua bạch Thế Tôn:
2. - Anh của chúng con, bạch Thế
Tôn, hoàng tử Cunda nói như sau: "Nếu có người đàn bà hay
người đàn ông quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, từ
bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh
trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ say đắm rượu men,
rượu nấu, người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, nhất
định sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ". Nhưng bạch Thế
Tôn, con xin hỏi Thế Tôn: Với lòng tin bậc Ðạo Sư như thế
nào, bạch Thế Tôn sau khi thân hoại mạng chung: nhất định
được sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ? Với lòng tin Pháp
như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, nhất định được
sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ? Với lòng tin chúng Tăng
như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, nhất định được
sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ? Làm cho đầy đủ các
giới như thế nào, sau khi thân loại mạng chung, nhất định
được sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ?
3. - Dầu cho các loại hữu tình
nào, này Cundì, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều
chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay
phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào
đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Vơi những
ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục
tối thượng.
4. Dầu cho loại pháp nào, này Cundì,
hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất
cả pháp, (tức là) sự chiếc phục kiêu mạn, dự nhiếp phục
khao khát, sự nhổ lên dục ái, sự chặt đứt tái sanh, sự
đoạn diệt tham ái, sự ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Những
ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này Cundĩ, họ đặt lòng
tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối
thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
5. Dầu cho loại chúng Tăng hay Hội
chúng nào, này Cundì, chúng Tăng đệ tử của Như Lai, được
xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy, tức là bốn
đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử của Như Lai đáng được
cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng đường,
đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời.
Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, này Cundì, họ đặt
lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào
tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
6. Dầu cho loại giới nào, này Cundì,
các giới được bậc Thánh ái kính được gọi là tối thượng
trong các giới ấy, tức là giới không bị bể vụn, không
bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đem
lại giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp
thủ, đưa đến chánh định. Với những ai làm cho đầy đủ
trong các giới luật được các bậc Thánh ái kính, họ làm
cho đầy đủ những gì tối thượng. Với những ai đặt lòng
tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Tin tưởng vào tối thượng,
Biết được pháp tối thượng,
Tin tưởng Phật tối thượng,
Ðáng tôn trọng, vô thượng.
Tin tưởng Pháp tối thượng,
Ly tham, an tịnh lạc,
Tin tưởng Tăng tối thượng,
Là ruộng phước vô thượng,
Bố thí bậc tối thượng,
Phước tối thượng tăng trưởng,
Tối thượng về thọ mạng,
Dung sắc và danh văn,
Tối thượng về an lạc,
Tối thượng về sức mạnh.
Bậc trí thí tối thượng,
Pháp tối thượng chánh định,
Chư Thiên hay loài Người
Ðạt được hỷ tối thượng.
(III) (33) Uggaha, Người Gia Chủ
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Bhaddiya,
trong rừng Jàti. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Ngồi xuống một bên, Uggaha, cháu trai của Mendaka bạch
Thế Tôn:
2. - Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy
nhận lời mời của con, ngày mai đến dùng bữa ăn, với Thế
Tôn là người thứ tư.
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi
Uggaha, cháu trai của Mendaka biết được Thế Tôn đã nhận
lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân
bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
3. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy
đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ
của Uggaha, cháu trai của Mendaka; sau khi đến, ngồi xuống
trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka,
với tay của mình thân mời và làm cho thỏa mãn Thế Tôn với
các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm. Rồi Uggaha,
cháu trai của Mendaka, sau khi Thế Tôn dùng bữa ăn xong, tay
rời khỏi bát, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một
bên, Uggaha, cháu trai của Mendaka bạch Thế Tôn:
- Những đứa con gái này của con,
bạch Thế Tôn, sẽ đi về nhà chồng. Bạch Thế Tôn, Thế
Tôn hãy giáo giới chúng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy khuyên
dạy chúng, để chúng được hạnh phúc an lạc lâu dài.
4. Rồi Thế Tôn nói với các người
con gái ấy:
- Này các thiếu nữ, các Con hãy
học tập như sau: "Ðối với những người chồng nào, mẹ
cha cho các con, vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng
thương tưởng, vì lòng từ mẫn khởi lên, đối với vị
ấy, chúng ta sẽ thức dậy trước, chúng ta sẽ đi ngủ sau
cùng, vui lòng nhận làm mọi công việc, xử sự đẹp lòng,
lời nói dễ thương." Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con
cần phải học tập.
5. Do vậy, này các Thiếu nữ, các
Con cần phải học tập như sau: "Những ai, chồng ta kính trọng,
như mẹ, cha, Sa-môn, Bà-la-môn, chúng ta sẽ tôn trọng, đảnh
lễ, cúng dường và khi họ đến, chúng ta sẽ dâng hiến họ
chỗ ngồi và nước." Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con
cần phải học tập.
6. Do vậy, này các Thiếu nữ, các
Con cần phải học tập như sau: "Phàm có những công nghiệp
trong nhà, hoặc thuộc về len vải hay vải bông, ở đây, chúng
ta sẽ phải thông thạo, không được biếng nhác, tự tìm
hiểu phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ
để sắp đặt người làm." Như vậy, này các Thiếu nữ,
các Con cần phải học tập.
7. Do vậy, này các Thiếu nữ, các
Con cần phải học tập như sau: "Trong nhà người chồng, phàm
có nô tỳ nào, hay người đưa tin, hay người công thợ, chúng
ta sẽ phải biết công việc của họ với công việc đã làm;
chúng ta sẽ phải biết sự thiếu sót của họ với công việc
không làm. Chúng ta sẽ biết sức mạnh hay sức không mạnh
của những người đau bệnh. Chúng ta sẽ chia các đồ ăn,
loại cứng và loại mềm, mỗi người tùy theo phần của mình".
Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập.
8. Do vậy, này các Thiếu nữ, các
Con cần phải học tập như sau: "Phàm có tiền bạc, lúa gạo,
bạc và vàng người chống đem về, chúng ta cần phải phòng
hộ, bảo vệ chúng, và sẽ gìn giữ để khỏi ăn trộm, ăn
cắp, kẻ uống rượu, kẻ phá hoại". Như vậy, này các Thiếu
nữ, các con cần phải học tập. Thành tựu năm pháp này,
này các Thiếu nữ, người đàn bà, sau khi thân hoại mạng
chung, được sanh cộng trú với chư Thiên có thân khả ái.
Hãy thường thương yêu
chồng,
Luôn nỗ lực cố gắng,
Người đem lại lạc thú,
Chớ khinh thường người chồng,
Chớ làm chồng không vui,
Chớ làm chồng tức tối,
Với những lời ganh tị.
Chồng cung kính những ai,
Hãy đảnh lễ tất cả,
Vì nàng, người có trí.
Hoạt động thật nhanh nhẹn,
Giữa các người làm việc,
Xử sự thật khả ái,
Biết giữ tài sản chồng.
Người vợ xử như vậy,
Làm thỏa mãn ước vọng,
Ưa thích của người chồng,
Sẽ được sanh tại chỗ,
Các chư thiên khả ái.
(IV) (34) Ðại Tướng Sìha
1. Một thời, Thế Tôn ở Vesàlì,
tại Ðại Lâm ở giảng đường có nóc nhọn. Rồi tướng
quân Sìha đi đến thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn
rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tướng quân
Sìha bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể
trình bày cho con về quả thiết thực hiện tại của bố thí?
Thế Tôn đáp:
2. - Có thể được, này Sìha! Người
bố thí, này Sìha, người thí chủ được quần chúng ái mộ
và ưa thích. Này Sìha, người bố thí, người thí chủ được
quần chúng ái mộ và ưa thích, đây quả bố thí thiết thực
hiện tại
3. Lại nữa, này Sìha! Bậc thiện,
bậc Chân nhân thân cận người bố thí, người thí chủ.
Này Sìha, bậc Thiện, bậc Chân nhân, thân cận người bố
thí, người thí chủ. Này Sìha, đây là quả bố thí thiết
thực hiện tại.
4. Lại nữa, này Sìha! Người bố
thí, người thí chủ được đồn tốt đẹp truyền đi. Này
Sìha, người bố thí, người thí chủ được tiếng đồn
tốt đẹp truyền đi. Này Sìha, đây là quả bố thí thiết
thực hiện tại.
5. Lại nữa, này Sìha, người bố
thí, người thí chủ đi đến hội chúng nào, hoặc hội chúng
Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng gia
chủ, hoặc hội chúng Sa-môn. Vị ấy đi đến với tự tín,
không có do dự hoang mang. Này Sìha, người bố thí, người
thí đi đến hội chung nào, hoặc hội chúng Sát Ðế Lỵ,
hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng gia chủ, hoặc
hội chúng Sa-môn; vị ấy đi đến với tự tin, không có do
dự hoang mang. Này Sìha, đây là quả bố thí thiết thực hiện
tại.
6. Lại nữa, Sìha! Người bố thì,
người thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên
cõi lành, Thiên giới. Người bố thí, người thí chủ, này
Sìha, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành,
Thiên giới. Này Sìha, đây là quả bố thí thiết thực hiện
tại.
7. Ðược nói vậy, tướng quân
Sìha bạch Thế Tôn:
- Bốn quả bố thí thiết thực
hiện tại này, bạch Thế Tôn, được Thế Tôn nói đến,
con không nhờ chúng đi đến lòng tin Thế Tôn. Con biết được
chúng. Bạch Thế Tôn, con là người bố thì, là thí chủ được
quần chúng ái mộ ưa thích. Bạch Thế Tôn, con là người
bố thí, người thí chủ được bậc thiện, bậc Chân nhân
thân cận với con. Bạch Thế Tôn, con là người bồ thì, người
thì chủ. Tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi về con:"
Tướng quân Sìha là người bố thí, là người làm việc,
là người hộ trì chúng Tăng." Bạch Thế Tôn, con là người
bố thí, là người thí chủ. Con đi đến hội chúng nào, hoặc
hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội
chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn. Con đi đến với lòng
tự tín, không do dự hoang mang. Bốn quả bố thí hiện tại
này, bạch Thế Tôn, được Thế Tôn nói đến, con không nhờ
chúng đi lòng tin Thế Tôn. con biết được chúng. Nhưng bạch
Thế Tôn, khi Thế Tôn nói với con: "Người bố thí, này Sìha,
người thí chủ sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên
cõi lành, Thiên giới." Ðiều này con không được biết, ở
đây con đi đến lòng tin Thế Tôn.
- Sự kiện là vậy, này Sìha! Sự
kiện là vậy, này Sìha! Người bố thí, người thí chủ,
sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên
giới.
Người cho được ái mộ,
Ðược nhiều người thân cận,
Ðược tiếng đồn tốt đẹp,
Danh xưng được tăng trưởng.
Không hoang mang do dự,
Ði vào giữa hội chúng,
Với tâm đầy tự tín,
Là người không xan tham.
Do vậy người có trí,
Thường thường làm bố thí,
Nhiếp phục uế, xan tham,
Tìm cầu chơn an lạc.
Ðược an trú lâu ngày,
Trên cõi trời Thập Tam
Họ sống vui hoan hỷ,
Ðồng bạn với chư Thiên.
Sanh duyên đã làm xong
Thiện hạnh đã làm xong,
Mệnh chung sanh chư Thiên,
Ðược sống và thọ hưởng,
Tại rừng Nan-da-na
Tại đấy họ hoan hỷ,
Họ vui thích, thoải mái,
Thọ hưởng năm dục lạc,
Ðối với lời thuyết giảng
Bậc Vô trước Thế Tôn,
Các đệ tử Thiện Thệ,
Sống hoan hỷ Thiên giới.
(V) (35) Lợi Ích và Bố Thí
- Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích
này của bố thí. Thế nào là năm? Ðược nhiều người ái
mộ, ưa thích; được bậc Thiện nhân, Chân nhân thân cận;
tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi; không có sai lệch
pháp của người gia chủ; khi thân hoại mạng chung được
sanh lên cõi lành, Thiên giới. Những pháp này, này các Tỷ-kheo,
là lợi ích của bố thí.
Người cho được ái kính,
Sở hành là hiền thiện,
Bậc Hiền thường thân cận,
Sống Phạm hạnh chế ngự.
Thuyết pháp người bố thí,
Ðưa đến khổ đoạn diệt,
Vị ấy biết được pháp,
Lậu hoặc được tịch tịnh.
(VI) (36) Cho Ðúng Thời
- Này các Tỷ-kheo, có năm bố thí
đúng thời này. Thế nào là năm?
Bố thí cho người đến, bố thí
cho người đi, bố thí cho người đau bệnh, bố thí trong thời
đói, phàm có những hoa quả gì mới gặt hái được, dành
chúng đầu tiên để cúng dường các bậc giữ giới. Này
các Tỷ-kheo, năm pháp này là năm bố thí đúng thời.
Có trí, thí đúng thời,
Lời từ ái, không tham,
Ðúng thời, thí bậc thánh,
Bậc Chánh trực, Thế Tôn.
Cúng dường vậy to lớn,
Ðưa đến lòng tịnh tín,
Ở đây người tùy hỷ,
Cùng người làm nghiệp vụ.
Không ai thiếu cúng dường,
Họ san sẻ công đức,
Do vậy hãy bố thí,
Với tâm không hạn chế.
Chỗ nào với bố thí,
Ðưa đến kết quả lớn,
Ðối với các hữu hình,
Công đức được an lập,
Cho đến trong đời sau.
(VII) (37) Bố Thí Bữa Ăn
- Người bố thí bữa ăn, này các
Tỷ-kheo, người thí chủ đem lại cho người thọ lãnh năm
điều. Thế nào là năm?
Cho thọ mạng, cho dung sắc, cho an
lạc, cho sức mạnh, cho biện tài. Cho thọ mạng, vị ấy được
chia thọ mạng chư Thiên hay loài Người. Cho dung sắc, vị
ấy được chia dung sắc chư Thiên hay loài Người. Cho an lạc,
vị ấy được chia an lạc chư Thiên hay loài Người. Cho sức
mạnh, vị ấy được chia sức mạnh chư Thiên hay loài Người.
Cho biện tài, vị ấy được chia biện tài chư Thiên hay loài
Người. Người bố thí bữa ăn, này các Tỷ-kheo, người thí
chủ đem lại cho người thọ lãnh năm điều này.
Bậc Hiền cho thọ mạng,
Sức mạnh, sắc, biện tài,
Bậc trí cho an lạc,
Ðược chia phần an lạc.
Cho thọ mạng, sức mạnh,
Sắc, an lạc, biện tài,
Ðược sống lâu, danh xưng,
Tại chỗ được tái sanh.
(VIII) (38) Sự Lợi Ích Lòng Tin
1. - Này các Tỷ-kheo, có năm lợi
ích này cho thiên nam tử có lòng tin. Thế nào là năm?
Các Thiện nhân, các Chân nhân, trước
hết có lòng thương tưởng đến vị có lòng tin, không có
như vậy đối với vị không có lòng tin; khi đến thăm, trước
hết họ đến thăm vị có lòng tin, không có như vậy đối
với vị không có lòng tin; khi chấp nhận, họ chấp nhận
(các món ăn) trước hết từ những người có lòng tin, không
từ những người không có lòng tin; họ thuyết pháp trước
hết cho những người có lòng tin, không cho những người không
có lòng tin; người có lòng tin, sau khi thân hoại mạng chung,
được sanh lên cõi lành, cõi Trời. Những pháp này, này các
Tỷ-kheo, là năm lợi ích cho thiên nam tử có lòng tin.
2. Ví như, này các Tỷ-kheo, trên
khoảnh đất tốt, tại ngã tư đường, có cây bàng to lớn
là chỗ nương tựa cho các loài chim chung quanh. Cũng vậy, này
các Tỷ-kheo, thiện nam tử có lòng tin là chỗ nương tựa
cho quần chúng, cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cho nam cư sĩ và
cho nữ cư sĩ.
Như cây bàng to lớn,
Với cành, lá, trái cây,
Với thân, rễ, đầy trái,
Làm chỗ trú loài chim.
Tại trú xứ thoải mái,
Các con chim làm tổ,
Cần bóng mát, hứng mát,
Cần trái cây, ăn trái.
Cũng vậy, vị trì giới,
Người có lòng tịnh tín,
Khiêm nhường và nhu thuận,
Hiền hòa, lời từ tốn,
Tánh tình thật dịu hiền,
Vị đoạn tham, đoạn sân,
Ðoạn si, không lậu hoặc,
Là ruộng phước ở đời.
Họ đến người như vậy,
Họ thuyết pháp, người ấy
Ðoạn trừ mọi khổ đau,
Vị ấy ở tại đây,
Hiểu biết Chánh pháp ấy,
Viên bản nhập Niết-bàn,
Hoàn toàn không lậu hoặc.
(IX) (39) Con Trai
- Thấy năm điều này, này các Tỷ-kheo,
mẹ cha muốn con trai sanh trong gia đình. Thế nào là năm? Ðược
giúp đỡ, sẽ giúp đỡ chúng ta; hay sẽ làm công việc cho
chúng ta; sẽ duy trì lâu dài truyền thống gia đình; sẽ tiếp
tục di sản thừa hưởng; sẽ cúng dường hiến vật cho các
hương linh bị mệnh chung.
Do thấy năm điểm này, này các
Tỷ-kheo, mẹ cha muốn con trai sanh trong gia đình.
Do thấy năm sự việc,
Bậc trí muốn con trai:
Ðược giúp, giúp ta lại,
Sẽ làm việc cho ta,
Sẽ duy trì lâu dài
Truyền thống của gia đình,
Sẽ tiếp tục gìn giữ,
Gia sản được thừa hưởng,
Hay đối với hương linh,
Hiến dâng các vật cúng.
Do thấy sự việc ấy,
Bậc trí muốn con trai,
Bậc Hiền thiện, Chân nhân,
Nhớ ơn, biết trả ơn,
Nhớ đến việc làm xưa,
Họ hiếu dưỡng mẹ cha,
Họ làm mọi công việc,
Như trước làm cho họ.
Thực hiện lời giảng dạy,
Ðược giúp, hiếu dưỡng lại,
Với truyền thống gia đình,
Duy trì được lâu dài,
Ðầy đủ tín và giới,
Con trai được tán thán.
(X) (40) Cây Sàla Lớn
- Dựa trên vua núi Tuyết sơn, này
các Tỷ-kheo, các cây sàla lớn được lớn lên trên năm phương
diện. Thế nào là năm?
Chúng lớn lên về cành cây, về
lá, về toàn bộ lá cây; chúng lớn lên về đọt cây, chúng
lớn lên về vỏ cây; chúng lớn lên về giác cây; chúng lớn
lên về lõi cây. Dựa trên núi Tuyết sơn, này các Tỷ-kheo,
các cây sàla lớn, được lớn lên trên năm phương diện này.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, dựa trên thiên nam tử có lòng
tin, các người trong gia đình lớn lên về năm phương diện.
Thế nào là năm? Lớn lên về lòng tin; lớn lên về giới;
lớn lên về học hỏi; lớn lên về bố thí; lớn lên về
trí tuệ. Dựa trên thiên nam tử có lòng tin, các người trong
gia đình lớn lên từ năm sự lớn lên này.
Như hòn đá trên núi,
Trong rừng, trong núi lớn,
Các cây dựa vào đấy,
Các rừng chủ lớn lên.
Cũng vậy, người đủ giới,
Nam tử có lòng tin,
Dựa vị này chúng lớn,
Vợ, con và bà con,
Thân hữu và quyến thuộc,
Cùng các người tùy tùng.
Những ai sở hành tốt,
Với mắt đã được thấy,
Bắt chước giới vị này,
Bắt chước tâm bố thí,
Sau khi hành pháp này,
Tìm con đường cõi lành,
Trong Thiên giới hoan hỷ,
Họ được niềm hoan hỷ,
Hưởng thọ các dục lạc.
V. Phẩm Vua
Munda
(I) (41) Trở Thành Giàu
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi,
tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi gia chủ Anàthapindika
đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang
ngồi một bên:
2. - Này Gia chủ, có năm lý do này
để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh
đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp
với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu
được một cách hợp pháp; tự làm mình an lạc, hoan hỷ và
chơn chánh duy trì sự an lạc; làm cho mẹ cha an lạc, hoan hỷ
và chơn chánh duy trì sự an lạc; làm cho vợ con, người phục
vụ, các người làm công được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh
duy trì sự an lạc. Ðây là lý do thứ nhất để gây dựng
tài sản.
3. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh
đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp
với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu
được một cách hợp pháp. Vị ấy làm cho bạn bè thân hữu
an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Ðây là
lý do thứ hai để gầy dựng tài sản.
4. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh
đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp
với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mổ hôi ra, thâu
được một cách hợp pháp. Các tai họa từ lửa, từ nước,
từ vua, từ ăn trộm, từ kẻ thù hay từ các người thừa
tự được chận đứng, và vị ấy giữ tài sản được an
toàn cho vị ấy. Ðây là lý do thứ ba để gầy dựng tài
sản.
5. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh
đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp
với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu
được một cách hợp pháp, có thể làm năm hiến cúng. Hiến
cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho hương linh
đã chết (peta), hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên.
Ðây là lý do thứ tư để gầy dựng tài sản.
6. Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh
đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp
với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu
được một cách hợp pháp, đối với các Sa-môn, Bà-la-môn
nào ly kiêu mạn, ly phóng dật, an trú nhẫn nhục, nhu hòa,
nhiếp phục tự mình, an tịnh tự mình, làm lắng dịu tự
mình, đối với những Sa-môn, Bà-la-môn như vậy vị ấy tổ
chức sự cúng dường tối thượng, đưa đến cảnh giới
chư Thiên, được quả dị thục, đưa đến cõi trời. Ðây
là lý do thứ năm để gầy dựng tài sản.
Này Gia chủ, có năm lý do này để
gầy dựng tài sản.
7. Này Gia chủ, đối với vị Thánh
đệ tử gầy dựng tài sản với năm lý do này, khi tài sản
đi đến hoại diệt, vị ấy suy nghĩ như sau: "Các tài sản
do những lý do để gầy dựng, ta đã gầy dựng chúng. Nay
các tài sản ấy của ta đi đến hoại diệt", vị ấy không
có hối hận. Này Gia chủ, đối với vị Thánh đệ gầy dựng
tài sản với năm lý do này, nếu tài sản ấy đi đến tăng
trưởng, vị ấy suy nghĩ như sau: "Các tài sản do những lý
do gầy dựng, ta đã gầy dựng chúng. Nay các tài sản ấy
của ta đi đến tăng trưởng". Như vậy, cả hai phương diện,
vị ấy không có hối hận.
Tài sản được thọ hưởng,
Gia nhân được nuôi dưỡng,
Chính nhờ các tài sản,
Do ta tránh tai họa.
Là cúng dường tối thượng,
Làm năm loại hiến vật,
Dành cho bậc trì giới
Bậc tự điều, Phạm hạnh.
Mục đích gì bậc Trí,
Trú nhà, cầu tài sản,
Mục đích ấy ta đạt,
Ðược làm không hối hận.
Người nào nhớ nghĩ vậy,
An trú trên Thánh pháp,
Ðời này được tán thán,
Ðời sau được hoan hỉ,
Trên cảnh giới chư Thiên.
(II) (42) Bậc Chân Nhân
1. - Bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo,
sinh ra trong gia đình, đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc
cho nhiều người; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc
cho mẹ cha; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho vợ
con; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các người
hầu hạ, làm công; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc
cho các bạn bè, thân hữu; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và
an lạc cho các Sa-môn, Bà-la-môn.
2. Này các Tỷ-kheo, ví như trận
mưa lớn đem lại các mùa gặt được nhiều chín muồi, đưa
lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân sanh ra trong gia đình,
đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người;
đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho mẹ cha; đưa lại
lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho vợ con; đưa lại lợi ích,
hạnh phúc và an lạc cho các người hầu hạ, làm công; đưa
lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho bạn bè, thân hữu;
đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các Sa-môn, Bà-la-môn.
Vì hạnh phúc nhiều người,
Hãy gầy dựng tài sản,
Chư Thiên bảo vệ người
Biết bảo vệ đúng pháp,
Tiếng tốt không từ bỏ,
Người được học, nghe nhiều,