XIII. Phẩm
Sợ Hãi
(I) (121) Tự Trách
1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn sự
sợ hãi này. Thế nào là bốn? Sợ hãi tự mình trách, sợ
hãi người khác trách, sợ hãi hình phạt, sợ hãi ác thú.
2.-Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là sự sợ hãi tự mình trách?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người suy xét: "Nếu thân ta làm ác, lời nói ta ác, ý nghĩa
ta ác, thời tự ngã có thể trách ta về phương diện giới:
"Sao lại làm nghiệp ấy?". Người ấy do sợ hãi tự trách,
đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm lành, đoạn tận
lời nói ác, tu tập lời nói lành, đoạn tận ý nghĩ ác,
tu tập ý nghĩ lành; sống tự ngã trong sạch. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là sợ hãi tự trách.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là sợ hãi về người khác trách?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người suy xét: "Nếu thân ta làm ác, lời nói ta ác, ý nghĩ
ta ác, thời các người khác có thể trách ta về phương diện
giới: "Sao lại làm nghiệp ấy?". Người ấy do sợ hãi người
khác trách, đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm lành,
đoạn tận lời nói ác, tu tập lời nói lành, đoạn tận
ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ lành; sống tự ngã trong sạch. Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là sợ hãi người khác trách.
4.- Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là sợ hãi hình phạt?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
thấy vua chúa khi bắt được người ăn trộm, kẻ đi cướp
đường, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh
bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt
tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt
mũi, họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối
đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình
phạt la hầu khẩu hình (lấy xương và thịt cho rộng ra, rồi
đổ dầu sôi vào miệng), hỏa man hình (lấy lửa đốt thành
vòng hoa), đốt tay, lấy rơm bện lại rồi siết chặt, lấy
vỏ cây làm áo, hình phạt con dê núi, lấy câu móc vào thịt,
cắt thịt thành hình đồng tiền, quẳng sắt chảy trên thân
đầy vết thương rồi chà mạnh, chuyển hình (bắt nằm dưới
đất, đâm một gậy sắt qua hai lỗ tai rồi xoay tròn), cao
đạp đài (lột da phần trên, lấy chày giã cho nát thân).
Họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những
người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Người ấy suy nghĩ
như sau: "Do nhân làm các nghiệp ác như vậy, các vua chúa khi
bắt được người ăn trộm, kẻ đi cướp đường, liền
áp dụng nhiều hình phạt sai khác ... họ lấy gươm chặt
đầu". Người ấy vì sợ hãi sự sợ hãi hình phạt, không
có đi trộm, cướp tài sản người khác.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sự
sợ hãi hình phạt.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là sự sợ hãi ác thú?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người suy nghĩ như sau: "Với ai thân làm ác, có ác dị thục
trong tương lai, với ai lời nói ác ... với ai ý nghĩ ác, có
ác dị thục trong tương lai. Làm thế nào cho ta sau khi thân
hoại mạng chung, không có sanh tại cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục?". Người ấy vì sợ hãi ác thú, đoạn tận
thân làm ác, tu tập thân làm lành; đoạn tận lời nói ác,
tu tập lời nói lành; đoạn tận ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ
lành; sống với tự ngã trong sạch. Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là sợ hãi ác thú.
Này các Tỷ-kheo, có bốn loại sợ
hãi này.
(II) (122) Sóng Biển
1. - Có bốn sự sợ hãi này, này
các Tỷ-kheo, được chờ đợi với người đi xuống nước.
Thế nào là bốn? Sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ
hãi về nước xoáy, sợ hãi về cá dữ. Có bốn sự sợ hãi
này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi với người đi xuống
nước.
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở
đây, đối với một số thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ
gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, có bốn
sự sợ hãi được chờ đợi. Thế nào là bốn? Sợ hãi về
sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ hãi về nước xoáy, sợ hãi
về cá dữ.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là sợ hãi về sóng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện
gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta nay bị sanh, già, chết,
sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ
chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt
toàn bộ khổ uẩn này". Khi được xuất gia như vậy, vị
này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyên giáo:
"Thầy cần phải đi ra như vậy, Thầy cần phải đi về như
vậy, Thầy cần phải ngó tới như vậy, Thầy cần phải ngó
quanh như vậy. Thầy cần phải co tay như vậy, Thầy cần phải
duỗi tay như vậy, Thầy cần phải mang y sanghati như vậy,
mang bát y như vậy". Vị ấy suy nghĩ như sau: "Trước kia, khi
chúng ta chưa xuất gia, chính chúng ta giảng dạy, khuyên giáo
người khác. Những người này giống như con chúng ta, giống
như cháu chúng ta, lại nghĩ rằng cần phải giảng dạy chúng
ta, cần phải khuyên giáo chúng ta". Vị ấy phẫn nộ, không
hoan hỷ, từ bỏ học tập và trở về hoàn tục. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, người này được gọi là vị Tỷ-kheo bị
sợ hãi về sóng. Naỳ các Tỷ Kheo sơ hãi về sóng là đồng
nghĩa với phẫn não. Naỳ các Tỷ Kheo đây gọi là sợ hãi
về sóng.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là sợ hãi về cá sấu?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện
gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta nay bị sanh, già, chết,
sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ
chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt
toàn bộ khổ uẩn này". Khi được xuất gia như vậy, vị
này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyên giáo:
"Thầy cần phải nhai cái này, Thầy không nên nhai cái này;
Thầy nên ăn cái này, Thầy không nên ăn cái này; Thầy nên
nếm cái này, Thầy không nên nếm cái này; Thầy nên uống
cái này, Thầy không nên uống cái này; cái gì Thầy được
phép, Thầy nên nhai, cái gì Thầy không được phép, Thầy
không nên nhai; cái gì được phép, Thầy nên ăn, cái gì không
được phép, Thầy nên ăn; cái gì được phép, Thầy nên nếm,
cái gì không được phép, Thầy nên nếm; cái gì được phép,
Thầy nên uống, cái gì không được phép, Thầy nên uống;
đúng thời Thầy nên nhai, không đúng thời Thầy không nên
nhai; đúng thời Thầy nên ăn, không đúng thời Thầy không
nên ăn; đúng thời Thầy nên nếm, không đúng thời Thầy
không nên nếm; đúng thời Thầy nên uống, không đúng thời
Thầy không nên uống". Vị ấy suy nghĩ như sau: "Trước kia,
khi chúng ta chưa xuất gia, cái gì chúng ta muốn, chúng ta nhai,
cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nhai. Cái gì chúng
ta muốn, chúng ta ăn, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không
ăn. Cái gì chúng ta muốn, chúng ta nếm, cái gì chúng ta không
muốn, chúng ta không nếm. Cái gì chúng ta muốn, chúng ta uống,
cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không uống. Cái gì được
phép, chúng ta nhai, cái gì không được phép, chúng ta cũng
nhai. Cái gì được phép, chúng ta ăn, cái gì không được
phép, chúng ta cũng ăn. Cái gì được phép, chúng ta nếm, cái
gì không được phép, chúng ta cũng nếm. Cái gì được phép,
chúng ta uống, cái gì không được phép, chúng ta cũng uống.
Cái gì đúng thời, chúng ta nhai, cái gì không đúng thời,
chúng ta cũng nhai. Cái gì đúng thời, chúng ta ăn, cái gì không
đúng thời, chúng ta cũng ăn. Cái gì đúng thời, chúng ta nếm,
cái gì không đúng thời, chúng ta cũng nếm. Cái gì đúng thời,
chúng ta uống, cái gì không đúng thời, chúng ta cũng uống.
Khi các gia đình có tín tâm cúng dường chúng ta ban ngày, phi
thời, những món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm,
hình như những món này, chúng ta bị chận đứng lại trên
miệng". Như vậy, vị ấy từ bỏ học tập và trở về hoàn
tục. Này các Tỷ kheo, đây được gọi là vị Tỷ kheo bị
sợ hãi với sự sợ haĩ về cá sấu, này các Tỷ-kheo, là
đồng nghĩa với tham ăn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sự
sợ hãi về cá sấu.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
sợ hãi về nước xoáy?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện
nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta nay bị sanh, già, chết,
sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ
chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt
toàn bộ khổ uẩn này". Khi được xuất gia như vậy, vị
này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn
để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời,
không phòng hộ tâm, niệm không an trú, các căn không phòng
hộ, hưởng thụ được cung cấp đầy đủ, được thực
hiện năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy.
Vị ấy suy nghĩ như sau: "Chúng ta xưa kia chưa xuất gia đã
hưởng thọ, được cung cấp đầy đủ, được thực hiện
năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong đó. Vì
nhà ta có tài sản, ta có thể vừa hưởng thị tài sản, vừa
làm các công đức". Vị ấy từ bỏ học tập và trở về
hoàn tục. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là vị Tỷ-kheo
bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về nước xoáy, từ bỏ học
tập, trở về hoàn tục. Này các Tỷ-kheo, sợ hãi về nước
xoáy là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là sợ hãi về nước xoáy.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
sợ hãi về cá dữ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện
nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta bị sanh, già, chết,
sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ
chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt
toàn bộ khổ uẩn này". Khi được xuất gia như vậy, vị
này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn
để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời,
không phòng hộ tâm, niệm không an trú, các căn không chế
ngự. Vị này thấy ở đây những phụ nữ mặc y phục không
đoan chánh hay đắp y phục không đoan chánh. Khi thấy những
phụ nữ mặc y phục không đoan chánh hay đắp y phục không
đoan chánh, ái dục phá hoại tâm của vị ấy. Vị này, tâm
bị ái dục phá hoại, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Tỷ-kheo bị sợ hãi bởi
sự sợ hãi về cá dữ, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục.
Này các Tỷ-kheo, sợ hãi về cá dữ là đồng nghĩa với phụ
nữ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sợ hãi về cá dữ.
Này các Tỷ-kheo, có bốn sự sợ
hãi này, ở đây, một số thiện nam tử xuất gia, từ bỏ
gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này.
(III) (123) Hạng Người Sai Khác
(1)
1. - Có bốn hạng người này có
mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền
thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm
có tứ. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái
luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên
ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không
có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng
trú với chư Thiên ở Phạm chúng thiên. Một kiếp, này các
Tỷ kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở Phạm chúng
Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết
tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư
Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến
ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho
đến hết vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn
trong hiện hữu ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù,
đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh đệ
tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là vấn
đề sanh thú.
2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở
đây có hạng người làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng
đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do
định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy
nếm được vị ngọt của Thiền ấy ... được sanh cộng
trú với chư Thiên ở cõi Quang âm Thiên. Hai kiếp này, này
các Tỷ-kheo, là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở Quang
âm thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú ... Ðây là
sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác
giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe
pháp, tức là vấn đề sanh thú.
3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở
đây có hạng người ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác,
thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm
lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, vị ấy nếm
được vị ngọt của Thiền ấy ... được sanh cộng trú với
chư Thiên ở Biến tịnh Thiên. Bốn kiếp, này các Tỷ-kheo,
là tuổi thọ vô lượng của chư Thiên ở Biến tịnh Thiên.
Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú ... Ðây là sự đặc
thù, đây là sự thù thắng, đây là sự sai khác giữa Thánh
đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không nghe pháp, tức là
vấn đề sanh thú.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở
đây có hạng người xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm
thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không
lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy nếm được vị ngọt của
Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc;
an trú trên ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền
ấy, không có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được
sanh cộng trú với chư Thiên ở Quảng quả Thiên. Năm kiếp,
này các Tỷ-kheo, là tuổi thọ vô lượng các chư Thiên ở
Quảng quả Thiên. Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho
đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ
của chư Thiên, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi
đến ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an
trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi
thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng,
đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ
phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người
này có mặt, hiện hữu ở đời.
(IV) (124) Các Hạng Người Sai
Khác (2)
1. - Có bốn hạng người này, này
các Tỷ kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người ly dục, ly ác pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ
nhất. Ở đây, về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc
tưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường,
là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh,
là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống
không, là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung được
sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Sự sanh khởi
này, này các Tỷ-kheo, không có chung cùng với các hàng phàm
phu.
2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở
đây có hạng người làm cho tịnh chỉ tầm và tứ ... Thiền
thứ hai ... Thiền thứ ba ... Thiền thứ tư và an trú. Vị
ấy, ở đây về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc trưởng,
thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường,
là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh,
là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống
không, là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung được
sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Sự sanh khởi
này, này các Tỷ-kheo, không có chung cùng các hàng phàm phu.
Có bốn hạng người này, này các
Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(V) (125) Từ (1)
1. - Có bốn hạng người này, này
các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người với tâm, cùng khởi với từ, biến mãn một phương
rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ
ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy, cùng khắp thế giới,
trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô
biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm cùng khởi với
từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy nếm
được vị ngọt của Thiền ấy, ái luyến Thiền ấy và do
vậy tìm được an lạc; an trú trên ấy, chú tâm trên ấy,
sống phần lớn với Thiền ấy, không có thối đọa; khi thân
hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi
Phạm chúng Thiên. Một kiếp, này các Tỷ kheo, là tuổi thọ
vô lượng của chư Thiên ỏ cõi Phạm chúng Thiên. Tại đấy,
kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau
khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên ấy, đi đến
địa ngục, đi đến bàng sanh, đi đến ngạ quỷ. Còn đệ
tử Như Lai, tại đấy, sau khi an trú cho đến hết vẹn tuổi
thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của chư Thiên
ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy . Này các Tỷ-kheo,
đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng, đây là sự
sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ phàm phu không
nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.
2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở
đây có hạng người với tâm cùng khởi với bi ... với tâm
cùng khởi với hỷ ... với tâm cùng khởi với xả, biến
mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng
vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, như vậy, cùng
khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương
xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với
tâm cùng khởi với xả, quảng đại, vô biên, không hận,
không sân. Vị ấy nếm được vị ngọt của Thiền ấy, ái
luyến Thiền ấy và do vậy tìm được an lạc; an trú trên
ấy, chú tâm trên ấy, sống phần lớn với Thiền ấy, không
có thối đọa; khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng
trú với chư Thiên ở cõi Quang âm Thiên. Hai kiếp, này các
Tỷ-kheo, là thọ mạng của các chư Thiên ở Quang âm Thiên
... được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi Biến tịnh
Thiên. Bốn kiếp, này các Tỷ kheo là thọ mạng của chư Thiên
ở cõi Biến Tịnh Thiên ... được sanh cộng trú với chư
Thiên ở cõi Quảng quả Thiên. Năm kiếp, này các Tỷ-kheo,
là tuổi thọvô lượng của chư Thiên ở cõi Quảng quả Thiên.
Tại đấy, kẻ phàm phu, sau khi an trú cho đến hết tuổi thọ
của chư Thiên ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi thọ của
chư Thiên ấy, đi đến địa ngục, đi đến bàng sanh, đi
đến ngạ quỷ. Còn đệ tử Như Lai, tại đấy, sau khi an
trú cho đến hết tuổi thọ ấy, sau khi sống trọn vẹn tuổi
thọ của chư Thiên ấy, nhập Niết-bàn trong hiện hữu ấy.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là sự thù thắng,
đây là sự sai khác giữa Thánh đệ tử có nghe pháp và kẻ
phàm phu không nghe pháp, tức là vấn đề sanh thú.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người
này có mặt, hiện hữu ở đời.
(VI) (126) Từ (2)
- Có bốn hạng người này, này
các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người với tâm cùng khởi với từ ... (như kinh 125, 1Ẩ) không
hận, không sân. ... (như kinh 121, 1) là vô ngã. Vị ấy, sau
khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên
ở Tịnh cư Thiên. Này các Tỷ-kheo, sự sanh khởi này, không
có chung cùng các hàng phàm phu. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng
người có mặt, hiện hữu ở đời.
(VII) (127) Vi Diệu (1)
1- Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc
A-la-hán, xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có xuất
hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, khi Bồ-tát từ
bỏ thân ở cõi trời Ðâu-suất, chánh niệm, tỉnh giác, nhập
vào mẫu thai, khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu,
thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới,
gồm có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm
thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không
có nền tảng, tối tăm u ám, tại đấy, mặt trăng, mặt trời
với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể
chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào
quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện
ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới
thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây".
Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác
xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng thứ nhất có
xuất hiện.
2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi
Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác, từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy,
một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của
chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới
của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng
Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những
thế giới ở chặng giữa bất hạnh, không có nền tảng,
tối tăm u ám, tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại
thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu
ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng,
thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng
sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói:
"Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Này các Tỷ-kheo,
khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, xuất hiện, có
bốn pháp vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện.
3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi
Như Lai chứng ngộ được vô thượng Chánh Ðẳng Giác, khi
ấy trong thế giới chư Thiên ... (như trên)... "Cũng có những
chúng sanh khác sống ở đây". Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai,
bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, xuất hiện, đây là pháp vi
diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi
Như Lai chuyển bánh xe pháp vô thượng, khi ấy trong thế giới
chư Thiên.. (như trên)... "Cũng có những chúng sanh khác sống
ở đây". Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chá nh
Ðẳng Giác, xuất hiện, đây là pháp vi diệu chưa từng có
thứ tư xuất hiện.
Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc
A-la-hán,Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu
chưa từng có này xuất hiện.
(VIII) (128) Vi Diệu (2)
1. - Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai,
bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi
diệu chưa từng có này xuất hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa
thích chấp giữ, thích thú chấp giữ, hoan hỷ chấp giữ,
khi pháp không chấp giữ được Như Lai thuyết giảng, họ
khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo,
khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây
là sự vi diệu chưa từng có thứ nhất xuất hiện.
2. Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa
thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỷ kiêu mạn, khi
pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, họ khéo
nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như
Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự
vi diệu chưa từng có thứ hai xuất hiện.
3. Này các Tỷ-kheo, quần chúng ưa
thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không
an tịnh, khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, họ
khéo nghe, lắng tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo,
khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây
là sự vi diệu chưa từng có thứ ba xuất hiện.
4. Này các Tỷ-kheo, quần chúng đi
đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy,
khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, họ khéo nghe, lắng
tai, chánh trí an trú tâm. Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, đây là sự vi diệu
chưa từng có thứ tư xuất hiện.
Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu
chưa từng có này xuất hiện.
(IX) (129) Vi Diệu (3)
1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp
vi diệu chưa từng có này xuất hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tỷ-kheo
đi đến yết kiến Ananda, hội chúng ấy hoan hỷ được yết
kiến Ananda. Ở đây, nếu Ananda thuyết pháp, hội chúng ấy
hoan hỷ với lời thuyết giảng. Chúng Tỷ-kheo không được
vui vẻ, này các Tỷ-kheo, nếu Ananda giữ im lặng.
2. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tỷ-kheo-ni
... nếu chúng nam cư sĩ ... nếu chúng nữ cư sĩ đi đến yết
kiến Ananda. Hội chúng ấy hoan hỷ được yết kiến Ananda.
Tại đấy, nếu Ananda thuyết pháp, hội chúng ấy được hoan
hỷ với lời thuyết giảng. Chúng Tỷ-kheo-ni ... nếu chúng
nam cư sĩ, chúng nữ cư sĩ sẽ không được vui vẻ, này các
Tỷ-kheo, nếu Ananda giữ im lặng.
(X) (130) Vi Diệu (4)
1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp
vi diệu chưa từng có này về vua Chuyển Luân. Thế nào là
bốn?
Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Sát-đế-lỵ
đến yết kiến vua Chuyển Luân, hội chúng ấy được hoan
hỷ vì được yết kiến vua Chuyển Luân. Tại đấy, nếu
vị vua Chuyển Luân nói chuyện, hội chúng được hoan hỷ
với bài nói chuyện. Và nếu vua Chuyển Luân im lặng, chúng
Sát-đế-lỵ bị thất vọng.
2. Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng
Bà-la-môn, ... nếu có chúng gia chủ , nếu có chúng Sa-môn
đến yết kiến vua Chuyển Luân, hội chúng ấy được hoan
hỷ vì được yết kiến vua Chuyển Luân. Tại đấy, nếu
vị vua Chuyển Luân nói chuyện, hội chúng được hoan hỷ
với bài nói chuyện. Và nếu vua Chuyển Luân im lặng, chúng
Sa-môn bị thất vọng.
Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp vi
diệu chưa từng có này về vua Chuyển Luân.
3. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có
bốn pháp vi diệu chưa từng có này về Ananda. Thế nào là
bốn?
Này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tỷ-kheo
đến để yết kiến Ananda ... nếu Ananda giữ im lặng.
4. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng Tỷ-kheo-ni
...
5. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng nam
cư sĩ ...
6. Này các Tỷ-kheo, nếu chúng nữ
cư sĩ ...
Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp vi
diệu chưa từng có này về Ananda.
XIV. Phẩm Loài
Người
(I) (131) Kiết Sử
1. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng
người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối
với một hạng người, các hạ phần kiết sử không được
đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh không được đoạn
tận, các kiết sử khiến được hữu không được đoạn
tận.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
đối với một hạng người, các hạ phần kiết sử được
đoạn tận, nhưng các kiết sử khiến được sanh không được
đoạn tận, các kiết sử khiến được hữu không được
đoạn tận.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
đối với một hạng người, các hạ phần kiết sử được
đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh được đoạn
tận, nhưng các kiết sử khiến được hữu không được đoạn
tận.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
đối với một hạng người, các hạ phần kiết sử được
đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh được đoạn
tận, các kiết sử khiến được hữu được đoạn tận.
2. Ðối với hạng người nào, này
các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử không được đoạn tận,
các kiết sử khiến được tái sanh không được đoạn tận,
các kiết sử khiến được hữu không được đoạn tận?
Ðối với vị Nhất Lai. Ðối với
hạng người này, này các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử
... các kiết sử khiến được sanh ... các kiết sử khiến
được hữu không được đoạn tận.
3. Ðối với hạng người nào, này
các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử được đoạn tận, các
kiết sử khiến được sanh không được đoạn tận, các kiết
sử khiến được hữu không được đoạn tận?
Ðối với hạng người Thượng
lưu, đi đến Sắc cứu kính. Ðối với hạng người này,
này các Tỷ-kheo, ... các kiết sử khiến được hữu không
được đoạn tận.
4. Ðối với hạng người nào, này
các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử được đoạn tận, các
kiết sử khiến được sanh được đoạn tận, các kiết sử
khiến được hữu không được đoạn tận?
Ðối với hạng người Trung gian
Bát-Niết-bàn. Ðối với hạng người này, này các Tỷ-kheo,
các hạ phần kiết sử được đoạn tận, các kiết sử khiến
được sanh được đoạn tận, các kiết sử khiến được
hữu không được đoạn tận.
5. Ðối với hạng người nào, này
các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử được đoạn tận, các
kiết sử khiến được sanh được đoạn tận, các kiết sử
khiến được hữu được đoạn tận?
Ðối với bậc A-la-hán. Ðối với
hạng người này, này các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử
được đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh được
đoạn tận, các kiết sử khiến được hữu được đoạn
tận.
Có bốn hạng người này, này các
Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(II) (123) Trả Lời
1. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng
người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Trả lời tương ứng, trả lời
không tự tại,; trả lời tự tại, trả lời không tương
ứng; trả lời tương ứng và trả lời tự tại; trả lời
không tương ứng và trả lời không tự tại.
Có bốn hạng người này, này các
Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(III) (133) Lanh Trí
1. Có bốn hạng người này, này
các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Biết một cách tổng quát, biết
một cách rộng rãi với các chi tiết, biết cần phải hướng
dẫn chỉ giỏi về chữ nghĩa.
Có bốn hạng người này, này các
Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(IV) (134) Nỗ Lực
- Có bốn hạng người này, này
các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Sống nhờ kết quả của nỗ lực,
sống nhờ kết quả của hành động, sống không nhờ kết
quả của hành động, sống không nhờ kết quả của nỗ lực;
Sống nhờ kết quả của nỗ lực và sống nhờ kết quả
của hành động; Sống không nhờ kết quả của nỗ lực và
sống không nhờ kết quả của hành động.
Có bốn hạng người này, này các
Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(V) (135) Có Tội
1. - Có bốn hạng người này, này
các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Có tội, nhiều tội, ít tội, không
có tội.
2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là hạng người có tội?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người thành tựu với thân nghiệp có tội, thành tựu với
khẩu nghiệp có tội, thành tựu với ý nghiệp có tội. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người có tội.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là hạng người nhiều tội?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người thành tựu với thân nghiệp có tội nhiều, không tội
ít, thành tựu với khẩu nghiệp có tội nhiều, không tội
ít, thành tựu với ý nghiệp có tội nhiều, không tội ít.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người với nhiều tội.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là hạng người với ít tội?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người thành tựu thân nghiệp với không tội nhiều, với
có tội ít, thành tựu khẩu nghiệp với không tội nhiều,
với có tội ít, thành tựu ý nghiệp với không tội nhiều,
với có tội ít. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người
ít tội.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là hạng người không tội?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người thành tựu với thân nghiệp không có tội, thành tựu
với khẩu nghiệp không có tội, thành tựu với ý nghiệp
không có tội. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người
không có tội.
Có bốn hạng người này, này các
Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(VI) (136) Có Giới (1)
1. - Có bốn hạng người này, này
các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người không đầy đủ về giới, không đầy đủ về định,
không đầy đủ về tuệ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người đầy đủ về giới, không đầy đủ về định, không
đầy đủ về tuệ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người
đầy đủ về giới, đầy đủ về định, không đầy đủ
về tuệ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đầy
đủ về giới, đầy đủ về định, đầy đủ về tuệ.
Có bốn hạng người này, này các
Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(VII) (137) Có Giới (2)
1. - Có bốn hạng người này, này
các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các tỷ-kheo, có hạng
người không kính trọng giới, không xem giới là tốt thượng,
không kính trọng định, không xem định là tốt thượng, không
kính trọng tuệ, không xem tuệ là tốt thượng, Ở đây, này
các tỷ-kheo, có hạng người kính trọng giới, xem giới là
tốt thượng, không kính trọng định, không xem định là tốt
thượng, không kính trọng tuệ, không xem tuệ là tốt thượng.
Ở đây, này các tỷ-kheo, có hạng người kính trọng giới,
xem giới là tốt thượng, kính trọng định, xem định là
tốt thượng, không kính trọng tuệ, không xem tuệ là tốt
thượng, Ở đây, này các tỷ-kheo, có hạng người kính trọng
giới, xem giới là tốt thượng, kính trọng định, xem định
là tốt thượng, kính trọng tuệ, xem tuệ là tốt thượng,
Có bốn hạng người này, này các
Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(VIII) (138) Viễn Ly
1. - Có bốn hạng người này, này
các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Thân viễn ly, tâm không viễn ly;
thân không viễn ly, tâm viễn ly; thân không viễn ly, tâm không
viễn ly; thân viễn ly và tâm viễn ly.
2. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
thân viễn ly, tâm không viễn ly?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, các
hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ
xa vắng; vị ấy nghĩ đến dục tầm, nghĩ đến sân tầm,
nghĩ đến hại tầm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người
thân viễn ly, nhưng tâm không viễn ly.
3. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
thân không viễn ly, nhưng tâm viễn ly?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, các
hạng người không sống tại các núi non, khóm rừng, các trú
xứ xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ
đến tầm vô sân, nghĩ đến tầm bất hại. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, là hạng người thân không viễn ly, nhưng tâm
viễn ly.
4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
thân không viễn ly, tâm không viễn ly?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, các
hạng người không sống tại các núi non, khóm rừng, các trú
xứ xa vắng; Tại đấy, vị ấy nghĩ đến dục tầm, nghĩ
đến sân tầm, nghĩ đến hại tầm. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là hạng người thân không viễn ly, nhưng tâm không viễn ly.
5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
thân viễn ly và tâm viễn ly?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, các
hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ
xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ đến
tầm không sân, nghĩ đến tầm không hại. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là hạng người thân viễn ly và tâm viễn ly.
Có bốn hạng người này, này các
Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(IX) (139) Thuyết Pháp
1. - Có bốn hạng người thuyết
pháp này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người thuyết pháp, ít nói và không liên hệ đến vấn đề;
và hội chúng không thiện xảo về liên hệ hay không liên
hệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thuyết pháp
và vị ấy được xem là hạng người thuyết pháp cho một
hội chúng tương tự.
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có
hạng người thuyết pháp, ít nói và liên hệ đến vấn đề;
và hội chúng thiện xảo về liên hệ hay không liên hệ. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thuyết pháp và vị
ấy được xem là hạng người thuyết pháp cho một hội chúng
tương tự.
3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
có hạng người thuyết pháp, nói nhiều và không liên hệ
đến vấn đề; và hội chúng không thiện xảo về liên hệ
hay không liên hệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người
thuyết pháp và vị ấy được xem là hạng người thuyết
pháp cho một hội chúng tương tự.
4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo,
có hạng người thuyết pháp, nói nhiều và liên hệ đến
vấn đề; và hội chúng thiện xảo về liên hệ hay không
liên hệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thuyết
pháp và vị ấy được xem là hạng người thuyết pháp cho
một hội chúng tương tự.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người
thuyết pháp này.
(X) (140) Hạng Thuyết Trình
- Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng
thuyết trình này. Thế nào là bốn?
Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo,
đi đến ngõ bí về nghĩa, không về văn; Có hạng thuyết
trình, này các Tỷ-kheo, đi đến ngõ bí về văn, nhưng không
về nghĩa; Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, đi đến
ngõ bí về nghĩa cũng như về văn; Có hạng thuyết trình,
này các Tỷ-kheo, không đi đến ngõ bí về nghĩa cũng như
về văn.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng thuyết
trình này.
Không có trường hợp nào, này các
Tỷ-kheo, không có cơ hội này, là một người thành tựu bốn
vô ngại giải, lại đi đến ngõ bí về nghĩa cũng như về
văn.
XV. Phẩm Ánh
Sáng
(I) (141) Hào Quang.
- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại
hào quang. Thế nào là bốn?
Hào quang mặt trăng, hào quang mặt
trời, hào quang ngọn lửa, hào quang trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, có bốn loại hào
quang này. Và này các Tỷ-kheo, loại tối thượng trong bốn
loại hào quang là hào quang trí tuệ.
(II) (142) Ánh Sáng
- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại
ánh sáng. Thế nào là bốn?
Ánh sáng mặt trăng, ánh sáng mặt
trời, ánh sáng ngọn lửa, ánh sáng trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ánh
sáng này. Và này các Tỷ-kheo, loại tối thượng trong bốn
loại ánh sáng là ánh sáng trí tuệ.
(III) (143) Ánh Lửa
- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại
ánh lửa. Thế nào là bốn?
Ánh lửa mặt trăng, ánh lửa mặt
trời, ánh lửa ngọn lửa, ánh lửa trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ánh
lửa này. Và này các Tỷ-kheo, loại tối thượng trong bốn
loại ánh lửa là ánh lửa trí tuệ.
(IV) (144) Ánh Chiếu
- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại
ánh chiếu. Thế nào là bốn?
Ánh chiếu mặt trăng, ánh chiếu
mặt trời, ánh chiếu ngọn lửa, ánh chiếu trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ánh
chiếu này. Và này các Tỷ-kheo, loại tối thượng trong bốn
loại ánh chiếu là ánh chiếu trí tuệ.
(V) (145) Ánh Ðèn
- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại
ánh đèn. Thế nào là bốn?
Ánh đèn mặt trăng, ánh đèn mặt
trời, ánh đèn ngọn lửa, ánh đèn trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ánh
đèn này. Và này các Tỷ-kheo, loại tối thượng trong bốn
loại ánh đèn là ánh đèn trí tuệ.
(VI) (146) Thời Gian (1)
- Có bốn loại thời gian này. Thế
nào là bốn?
Nghe pháp đúng thời, đàm luận
về pháp đúng thời, chỉ đúng thời, quán đúng thời.
Này các Tỷ-kheo, có bốn loại thời
gian này.
(VII) (147) Thời Gian (2)
1. - Có bốn thời gian này, này các
Tỷ-kheo, nếu khéo tu tập, nếu khéo vận chuyển, tuần tự
đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là bốn?
Nghe pháp đúng thời, đàm luận
về pháp đúng thời, chỉ đúng thời, quán đúng thời.
Bốn thời gian này, này các Tỷ-kheo,
nếu khéo tu tập, khéo vận chuyển, tuần tự đưa đến sự
đoạn diệt các lậu hoặc.
2. Ví như, này các Tỷ-kheo, trên
đỉnh núi, trời mưa nặng hột, và nước chảy theo triền
thấp, tràn đầy hang núi, khe núi, thung lũng. Khi các hang núi,
khe núi, thung lũng được tràn đầy, thời ao nhỏ được tràn
đầy. Ao nhỏ được tràn đầy, thời ao lớn được tràn
đầy. Ao lớn được tràn đầy, thời sông nhỏ được tràn
đầy. Sông nhỏ được tràn đầy, thời sông lớn được
tràn đầy. Sông lớn được tràn đầy, thời biển lớn đại
dương được tràn đầy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bốn
thời gian này, nếu khéo tu tập, nếu khéo vận chuyển, tuần
tự đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc.
(VIII) (148) Hạnh Ác Về Lời Nói
- Này các Tỷ-kheo, có bốn hạnh
ác về lời nói này. Thế nào là bốn?
Nói láo, nói hai lưỡi, nói lời
thô ác, nói lời phù phiếm.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạnh ác
về lời nói này.
(IX) (149) Hạnh Thiện Về Lời
Nói.
- Này các Tỷ-kheo, có bốn hạnh
thiện về lời nói này. Thế nào là bốn?
Nói thật, không nói hai lưỡi, nói
lời nhu hòa, nói lời thông minh
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạnh thiện
về lời nói này.
(X) (150) Lõi (Tinh túy)
- Này các Tỷ-kheo, có bốn lõi này.
Thế nào là bốn?
Lõi về giới, lõi về định, lõi
về tuệ, lõi về giải thoát.
Này các Tỷ-kheo, có bốn loại lõi
này.
XVI. Phẩm Các
Căn
(I) (151) Các Căn
- Này các Tỷ-kheo, có bốn căn này.
Thế nào là bốn
Tín căn, tấn căn, niệm căn, định
căn.
Này các Tỷ-kheo, có bốn căn này.
(II) (152) Lực (1)
- Này các Tỷ-kheo, có bốn lực
này. Thế nào là bốn?
Tín lực, tấn lực, niệm lực,
định lực.
Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này.
(III) (153) Lực (2)
- Này các Tỷ-kheo, có bốn lực
này. Thế nào là bốn
Tuệ lực, tấn lực, vô tội lực,
năng nhiếp lực.
Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này.
(IV) (154) Lực (3)
- Này các Tỷ-kheo, có bốn lực
này. Thế nào là bốn
Niệm lực, định lực, vô tội
lực, năng nhiếp lực.
Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này.
(V) (155) Lực (4)
- Này các Tỷ-kheo, có bốn lực
này. Thế nào là bốn?
Giản trạch lực, tu tập lực, vô
tội lực, năng nhiếp lực.
Này các Tỷ-kheo, có bốn lực này.
(VI) (156) Kiếp
- Này các Tỷ-kheo, có bốn vô lượng
của kiếp này. Thế nào là bốn?
Khi kiếp chuyển thành, này các Tỷ-kheo,
thật không dễ gì để ước tính có bao nhiêu năm như vậy,
có nhiều trăm năm như vậy, có nhiều ngàn năm như vậy. Có
nhiều trăm ngàn năm như vậy.
Khi kiếp đã chuyển thành và dừng
lại, này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì ước tính như vậy.
Khi kiếp chuyển hoại, này các Tỷ-kheo,
thật không dễ gì ước tính có nhiều năm như vậy ... như
vậy.
Khi kiếp đã chuyển hoại và dừng
lại, này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì ước tính ... như
vậy.
Này các Tỷ-kheo, có bốn vô lượng
của kiếp này.
(VII) (157) Bệnh
1. - Này các Tỷ-kheo, có hai loại
bệnh này. Thế nào là hai? Bệnh về thân và bệnh về tâm.
Này các Tỷ-kheo, chúng ta thấy có
chúng sanh tự nhận mình là không thân bệnh được một năm,
tự nhận mình là không thân bệnh được hai năm, được ba
... được bốn ... được năm ... được mười ... được
hai mươi ... được ba mươi ... được bốn mươi ... tự nhận
mình là không thân bệnh được năm mươi năm, tự nhận mình
là không thân bệnh được một trăm năm. Các chúng sanh ấy,
này các Tỷ-kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng
sanh tự nhận mình là không tâm bệnh dầu chỉ trong một khoảnh
khắc, trừ những vị đã đoạn trừ các lậu hoặc.
2. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại
bệnh này cho người xuất gia. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người
có dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với
các đồ vật như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược
phẩm trị bệnh. Người ấy vì nhiều dục lớn, bực bội
tức tối, không tự bằng lòng với các vật dụmg như y, đồ
ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, khởi lên
thèm khát, ác dục, muốn được các điều không được tán
thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Vị
ấy nỗ lực, cố gắng, tinh tấn để được các điều không
được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh
vọng. Vị ấy sau khi tính toán, đi đến các gia đình; sau
khi tính toán, ngồi xuống; sau khi tính toán, thuyết pháp; sau
khi tính toán, ngưng nín tiểu tiện, đại tiện. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là bốn chứng bệnh của người xuất gia.
3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần
phải học tập như sau: "Ta sẽ không có dục lớn, bực bội
tức tối, tự bằng lòng với các vật dụng như y, đồ ăn
khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ta sẽ không
khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không
đáng được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính,
danh vọng. Ta sẽ không nỗ lực, không cố gắng, không tinh
tấn để được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Ta sẽ
kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm với ruồi
và muỗi, với gió và mưa và các vật bò sát, (kham nhẫn)
các hình thức nói phô khó chịu, khó chấp nhận. Ta sẽ chịu
đựng các khổ thọ về thân, khởi lên khổ đau, nhói đau,
mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, đứt
mạng sống". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải
học tập.
(IX) (158) Thối Ðoạ
1. Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi
các Tỷ-kheo:
- Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, Hiền giả.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả
Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay
Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải
đi đến kết luận rằng: "Tôi thối đọa khỏi các thiện
pháp ". Ðây được Thế Tôn gọi là thối đọa. Thế nào
là bốn?
Tham ái tăng thịnh, sân tăng thịnh,
si tăng thịnh, đối với các vấn đề có mặt, không có mặt,
không có tuệ nhãn soi thấu.
Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay
Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải
đi đến kết luận rằng: "Tôi thối đọa khỏi các thiện
pháp ". Ðây được Thế Tôn gọi là thối đọa.
2. Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay
Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải
đi đến kết luận rằng: "Tôi không thối đọa khỏi các
thiện pháp ". Ðây được Thế Tôn gọi là không thối đọa.
Thế nào là bốn?
Tham ái giảm thiểu, sân giảm thiểu,
si giảm thiểu. Ðối với các vấn đề có mặt, không có
mặt, có tuệ nhãn soi thấu.
Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay
Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải
đi đến kết luận rằng: "Ta không thối đọa khỏi các thiện
pháp ". Ðây được Thế Tôn gọi là không thối đọa.
(IX) (159) Tỷ Kheo Ni
1. Một thời, Tôn giả Ananda trú
ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi một Tỷ-kheo ni gọi
một người và nói:
"- Hãy đến đây, thưa Ông. Hãy
đi đến Tôn giả Ananda, và nhân danh tôi, với đầu đảnh
lễ chân Tôn giả Ananda và nói: "Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo-ni
tên là ... bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Tỷ-kheo-ni
với đầu đảnh lễ Tôn giả Ananda và nói như sau: "Thưa Tôn
giả, lành thay, nếu Tôn giả đi đến trú xứ của Tỷ-kheo-ni,
đi đến Tỷ-kheo-ni ấy vì lòng từ mẫn".
"- Thưa vâng, nữ Tôn giả". Người
ấy vâng đáp Tỷ-kheo-ni ấy, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi
đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, người ấy nói với Tôn giả Ananda:
- Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo-ni tên này
bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, với đầu đảnh lễ
chân Tôn giả Ananda, và nói như sau: "Thưa Tôn giả, lành thay,
nếu Tôn giả đi đến trú xứ của Tỷ-kheo-ni, đi đến Tỷ-kheo-ni
ấy vì lòng từ mẫn".
Tôn giả Ananda im lặng nhận lời.
2. Rồi Tôn giả Ananda, đắp y, cầm
y bát, đi đến trú xứ Tỷ-kheo-ni. Tỷ-kheo-ni ấy thấy Tôn
giả Ananda từ xa đi đến, sau khi thấy, liền trùm đầu và
nằm trên giường. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tỷ-kheo-ni
ấy, sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi,
Tôn giả Ananda nói với Tỷ-kheo-ni ấy:
3. - Này chị, thân này do đồ ăn
được tác thành, y cứ vào đồ ăn; đồ ăn cần phải đoạn
tận. Này chị, thân này do ái được tác thành, y cứ vào
ái; ái cần phải đoạn tận. Này chị, thân này do kiêu mạn
được tác thành, y cứ vào kiêu mạn; kiêu mạn cần phải
đoạn tận. Này chị, thân này do dâm dục được tác thành,
y cứ vào dâm dục; dâm dục, sự phá đổ cây cầu được
Thế Tôn nói đến.
4. Này chị, thân này do đồ ăn
được tác thành, y cứ vào đồ ăn; đồ ăn cần phải đoạn
tận. Như vậy, được nói đến, chính do duyên này được
nói đến. Này chị, ở đây, Tỷ-kheo như lý quán sát thọ
dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam
mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp
mình, mà chỉ để thân này được sống lâu, và được bảo
dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ
Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt trừ cảm thọ cũ
và không cho khởi lên cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi
lầm, sống được an ổn". Vị ấy sau một thời gian, dầu
cho y cứ vào đồ ăn, vẫn không đắm trước đồ ăn.
Này chị, thân này do đồ ăn được
tác thành, y cứ vào đồ ăn; đồ ăn cần phải đoạn tận.
Như vậy, được nói đến, chính do duyên này được nói đến.
5. Này chị, thân này do ái được
tác thành, y cứ vào ái; ái cần phải đoạn tận. Như vậy,
được nói đến, y cứ vào gì được nói đến như vậy?
Ở đây, này chị, Tỷ-kheo nghe: "Tỷ-kheo tên này do đoạn
diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng
trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát,
tuệ giải thoát". Vị ấy suy nghĩ: "Thật vậy, ta cũng do đoạn
tận các lậu hoặc ... ta sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an
trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát". Vị ấy, sau
một thời gian, dầu y cứ vào ái, đoạn tận ái.
Này chị, thân này do ái được
tác thành, y cứ vào ái; ái cần phải đoạn tận. Như vậy,
được nói đến, do duyên này được nói đến.
6. Này chị, thân này do kiêu mạn
được tác thành, y cứ vào kiêu mạn; kiêu mạn cần phải
đoạn tận. Như vậy, được nói đến, y cứ vào gì được
nói đến như vậy? Ở đây, này chị, Tỷ-kheo nghe: "Tỷ-kheo
tên này do đoạn diệt các lậu hoặc ... vô lậu tâm giải
thoát, tuệ giải thoát". Vị ấy suy nghĩ: "Vậy sao ta không
như vậy?". Vị ấy, sau một thời gian, dầu y cứ vào kiêu
mạn, đoạn tận kiêu mạn.
Này chị, thân này do dâm dục tác
thành, y cứ vaò kiêu mạn; kiêu mạn cần phải đọan tận.
Như vâỵ được nói đến, do duyên này được nói đến.
7. Này chị, thân này do dâm dục
tác thành, dâm dục, sự phá đổ cây cầu được Thế Tôn
nói đến.
8. Rồi Tỷ-kheo-ni ấy, từ giường
đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, với đầu đảnh
lễ chân Tôn giả Ananda, và thưa với Tôn giả Ananda:
- Một lỗi con đã vi phạm, thưa
Tôn giả, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện. Thưa Tôn giả,
mong Tôn giả Ananda chấp nhận cho con tội lỗi này là một
tội lỗi để con ngăn ngừa trong tương lai !
9. - Thật vậy, này chị, thật sự
chị đã phạm tội vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện.
Chị đã làm như vậy. Này chị, vì Chị thấy phạm tội là
phạm tội, và như Pháp phát lộ, nên chúng tôi chấp nhận
tội ấy cho chị. Này chị, như vậy Luật của bậc Thánh
được tăng trưởng khi thấy được phạm tội là phạm tội,
và như pháp phát lộ để ngăn giữ trong tương lai.
(X) (160) Luật Của Bậc Thiện
Thệ
1. - Này các Tỷ-kheo, khi bậc Thiện
Thệ hay Luật của Thiện Thệ an trú ở đời là vì hạnh
phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương
tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho
chư Thiên và loài Người. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Thiện Thệ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai
có mặt ở đời, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Nghị
Trượng Phu, Thiên Nhân sư, Phật, Thế Tôn. Này các Tỷ-kheo,
đây là bậc Thiện Thệ.
2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là Luật của bậc Thiện Thệ?
Vị ấy thuyết pháp sơ thiện, trung
thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nói lên Phạm hạnh,
hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Này các Tỷ-kheo, đây là Luật
của bậc Thiện Thệ.
Này các Tỷ-kheo, khi bậc Thiện
Thệ hay Luật của Thiện Thệ an trú ở đời là vì hạnh
phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương
tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho
chư Thiên và loài Người.
3. Có bốn pháp này, này các Tỷ-kheo,
đưa đến diệu pháp hỗn loạn. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo
học thuộc lòng kinh, được lãnh thọ sai lầm, với văn cú
sắp đặt bị đảo lộn. Do văn cú bị sắp đặt đảo lộn,
này các Tỷ-kheo, nên nghĩa lý bị hướng dẫn sai lạc. Này
các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ nhất đưa đến Diệu pháp
hỗn loạn và biến mất.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo là những người khó nói, thành tựu với những pháp
khiến cho trở thành khó nói, khó kham nhẫn. Họ không kính
trọng lời giáo giới. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ
hai đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối
với các Tỷ-kheo nghe nhiều, thông hiểu các tập A-hàm, bậc
trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Các vị ấy không nói lại
kinh cho người khác một cách cẩn thận. Khi họ mệnh chung,
kinh bị cắt đứt tại gốc rễ, không có chỗ ý cứ. Này
các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ ba đưa đến Diệu pháp hỗn
loạn và biến mất.
6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Trưởng lão Tỷ-kheo là những vị sống đầy đủ, lười
biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống
viễn ly, không cố gắng tinh tấn để đạt được những
gì chưa đạt được, để chứng đắc những gì chưa chứng
đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và những
thế hệ sau tiếp nối theo tà kiến của họ. Thế hệ ấy
cũng sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc,
bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly, không cố gắng tinh tấn
để đạt được những gì chưa đạt được, để chứng
đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì
chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ tư đưa
đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
7. Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp
này đưa đến diệu pháp an trú, không hỗn loạn và không
biến mất. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo
học thuộc lòng kinh được khéo lãnh thọ, với văn cú sắp
đặt đúng đắn. Do văn cú được sắp đặt đúng đắn,
này các Tỷ-kheo, nên nghĩa lý được hướng dẫn đúng đắn.
Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ nhất đưa đến Diệu pháp
an trú không hỗn loạn và không biến mất.
8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Tỷ-kheo là những người dễ nói, thành tựu với những pháp
khiến cho trở thành dễ nói, kham nhẫn. Họ kính trọng những
lời giáo giới. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ hai đưa
đến Diệu pháp an trú không hỗn loạn và không biến mất.
9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối
với các Tỷ-kheo nghe nhiều, thông hiểu các tập A-hàm, bậc
trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Các vị ấy nói lại kinh
cho người khác một cách cẩn thận. Khi họ mệnh chung, kinh
không bị cắt đứt tại gốc rễ, có chỗ ý cứ. Này các
Tỷ-kheo, đây là pháp thứ ba đưa đến Diệu pháp an trú không
hỗn loạn và không biến mất.
10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các
Trưởng lão Tỷ-kheo không là những vị sống đầy đủ, không
lười biếng, không dẫn đầu về đọa lạc, không còn gánh
nặng sống viễn ly, cố gắng, tinh tấn để đạt được
những gì chưa đạt được, để chứng đắc những gì chưa
chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và
những thế hệ về sau tiếp nối theo chánh kiến của họ.
Thế hệ ấy không sống đầy đủ, không lười biếng, không
dẫn đầu về đọa lạc, không bỏ rơi gánh nặng sống viễn
ly, cố gắng, tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt
được, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để
chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây
là pháp thứ tư đưa đến Diệu pháp an trú không hỗn loạn
và không biến mất.
Này các Tỷ-kheo, bốn pháp này đưa
đến diệu pháp được an trú, không bị hỗn loạn, không
biến mất.
XVII. Phẩm Ðạo
Hạnh
(I) (161) Tóm Tằt
- Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo
hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành khổ, thắng trí chậm;
Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí
chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.
Này các Tỷ-kheo, cố bốn đạo
hành này.
(II) (162) Với Chi Tiết
1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo
hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành khổ, thắng trí chậm;
Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí
chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.
2.-Này các Tỷ-kheo, thế nào là
đạo hành khổ, thắng trí chậm?
Ở đây, có người bản tánh tham
dục rất cường thịnh, luôn luôn cảm thọ khổ ưu do tham
dục sanh; bản tánh sân rất cường thịnh, luôn luôn cảm
thọ khổ ưu do sân hận sanh; bản tánh si rất cường thịnh,
luôn luôn cảm thọ khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm
căn này hiện ra rất mềm yếu, tín căn, tấn căn, niệm căn,
định căn, tuệ căn. Do năm căn này mềm yếu người ấy đạt
được Vô gián định một cách chậm chạp để đoạn diệt
các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành khổ,
thắng trí chậm.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là đạo hành khổ, thắng trí nhanh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
bản tánh tham dục rất cường thịnh ... luôn luôn cảm thọ
khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm căn này hiện ra hết
sức dồi dào, tức là tín căn, tấn căn, niệm căn, định
căn, tuệ căn. Do năm căn này hết sức dồi dào, người ấy
đạt được Vô gián định một cách mau chóng để đoạn
tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành
khổ, thắng trí nhanh.
4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
đạo hành lạc, thắng trí chậm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
bản tánh tham dục không có cường thịnh ... thường không
có cảm thọ khổ ưu do tham dục sanh ... bản tánh sân không
có cường thịnh ... bản tánh si không có cường thịnh, thường
không có cảm thọ khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm
căn này hiện ra rất mềm yếu, tức là tín căn, tấn căn,
niệm căn, định căn, tuệ căn. Do năm căn này mềm yếu, người
ấy đạt được Vô gián định một cách chậm chạp để
đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo
hành lạc, thắng trí chậm.
5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
đạo hành lạc, thắng trí nhanh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người bản tánh tham dục không có cường thịnh, thường
không có cảm thọ khổ ưu do tham dục sanh; bản tánh sân không
có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do sân
sanh; bản tánh si không có cường thịnh, thường không có
cảm thọ khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm căn này hiện
ra rất dồi dào, tức là tín căn, tấn căn, niệm căn, định
căn, tuệ căn. Do năm căn này dồi dào, người ấy đạt được
Vô gián định một cách nhanh chóng để đoạn tận các lậu
hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành lạc, thắng
trí nhanh. Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này.
(III) (163) Bất Tịnh
1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo
hành này. Thế nào là bốn? Ðạo hành khổ, thắng trí chậm;
Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí
chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.
2.- Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là đạo hành khổ, thắng trí chậm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng nhàm chán đối
với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất
cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với
tưởng, chết, khéo an trú nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên
năm hữu học lực, tức là tín lực, tàm lực, quý lực, tấn
lực, tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện ra rất mềm
yếu, tức là tín căn ... tuệ căn. Vị ấy, do năm căn này
hiện ra rất mềm yếu, đạt được Vô gián định một cách
chậm chạp để đoạn diệt các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là đạo hành khổ, thắng trí chậm.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là đạo hành khổ, thắng trí nhanh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng nhàm chán đối
với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất
cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với
tưởng, chết, khéo an trú nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên
năm hữu học lực, tức là tín lực ... tuệ lực. Với vị
ấy, năm căn này hiện khởi rất dồi dào, tức là tín căn
... tuệ căn. Vị ấy, do năm căn này hiện ra rất dồi dào,
chứng được Vô gián định một cách nhanh chóng để đoạn
tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành
khổ, thắng trí nhanh.
4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
đạo hành lạc, thắng trí chậm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ly dục, ly pháp bất thiện ... chứng và trú Thiền thứ nhất;
làm cho tịnh chỉ tầm và tứ ... chứng và trú Thiền thứ
hai; ly hỷ trú xả ... chứng và trú Thiền thứ ba ... xả lạc,
xả khổ, chấm dứt khổ ưu đã cảm thọ trước, chứng và
trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực
... tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi rất mềm
yếu, tức là tín căn ... tuệ căn. Vị ấy, do năm căn mềm
yếu này, đạt được Vô gián định một cách chậm chạp
để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là đạo hành lạc, thắng trí chậm.
5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
đạo hành lạc, thắng trí nhanh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ly dục, ly pháp bất thiện ... chứng và trú Thiền thứ nhất
... chứng và trú Thiền thứ hai ... chứng và trú Thiền thứ
ba ... chứng và trú Thiền thứ tư ... Vị ấy sống y cứ trên
năm hữu học lực này, tức là tín lực ... tuệ lực. Với
vị ấy, năm căn này hiện khởi rất dồi dào, tức là tín
căn ... tuệ căn. Do năm căn mềm rất dồi dào này, vị ấy
chứng được Vô gián định một cách nhanh chóng để đoạn
tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành
lạc, thắng trí nhanh.
Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành
này.
(IV) (164) Kham Nhẫn (1)
1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo
hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành không kham nhẫn, đạo
hành kham nhẫn, đạo hành nhiếp phục, đạo hành an tịnh.
2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là đạo hành không kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người chưởi mắng lại kẻ đã chưởi mắng, sân hận lại
với kẻ đã sân hận, gây lộn lại với kẻ đã gây lộn.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành không kham nhẫn.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là đạo hành kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người không nhiếc mắng lại kẻ đã nhiếc mắng, không sân
hận lại kẻ đã sân hận, không gây lộn lại với kẻ đã
gây lộn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành kham nhẫn.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là đạo hành nhiếp phục?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm
giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì với nhãn căn này
không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất
thiện khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì
nhãn căn, sống với sự chế ngự nhãn căn. Khi tai nghe tiếng
... khi mũi ngửi hương ... khi lưỡi nếm vị ... khi thân cảm
xúc ... khi ý biết pháp, không nắm giữ tướng chung, không
nắm giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì ý căn này không
được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện
khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, thọ trì ý căn,
sống với sự chế ngự ý căn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là đạo hành nhiếp phục.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
gọi là đạo hành an tịnh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch,
làm cho an tịnh, chấm dứt, khiến đi đến không sanh hữu,
không có chấp nhận sân tầm khởi lên ... không có chấp nhận
hại tầm khởi lên ... không có chấp nhận các pháp ác bất
thiện tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, làm cho an tịnh,
chấm dứt, khiến đi đến không sanh hữu. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là đạo hành an tịnh.
Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành
này.
(V) (165) Kham Nhẫn (2)
1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo
hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành không kham nhẫn, đạo
hành kham nhẫn, đạo hành nhiếp phục, đạo hành an tịnh.
2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là đạo hành không kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người không kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm
của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát;
không kham nhẫn những hình thức chưởi mắng, phỉ báng, không
thể chịu đựng được cảm thọ về thân khởi lên, khổ
đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không
khả ý, chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là
đạo hành không kham nhẫn.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là đạo hành kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người kham nhẫn lạnh, nóng ... chết điếng người. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành kham nhẫn.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là đạo hành nhiếp phục?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung ... (như
kinh 164.4). Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành nhiếp
phục.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là đạo hành an tịnh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
không chấp nhận dục tầm khởi lên ... (như kinh 164.5)
... Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành an tịnh.
Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành
này.
(VI) (166) Với Các Chi Tiết
1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo
hành này. Thế nào là bốn? Ðạo hành khổ, thắng trí chậm;
Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí
chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đạo
hành này khổ, thắng trí chậm. Này các Tỷ-kheo, đạo hành
này về cả hai phương diện gọi là hạ liệt. Vì đạo hành
này là khổ, do duyên này, đạo hành được gọi là hạ liệt.
Vì đạo hành này thắng trí chậm, do duyên này, đạo hành
được gọi là hạ liệt. Này các Tỷ-kheo, đạo hành này
về cả hai phương diện gọi là hạ liệt.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đạo
hành này là khổ, thắng trí nhanh. Này các Tỷ-kheo, đạo hành
này do đau khổ nên gọi là hạ liệt.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đạo
hành này là lạc, thắng trí chậm. Này các Tỷ-kheo, đạo
hành này do chậm nên gọi là hạ liệt.
5. Tại đây, này các Tỷ-kheo, đạo
hành này lạc, thắng trí nhanh. Này các Tỷ-kheo, đạo hành
này cả hai phương diện, được gọi là thù thắng. Ðạo
hành này lạc, do duyên này, đạo hành được gọi là thù
thắng. Ðạo hành này nhanh chóng, do duyên này, đạo hành được
gọi là thù thắng. Này các Tỷ-kheo, đạo hành này cả hai
phương diện, được gọi là thù thắng.
Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành
này.
(VII) (167) Sàriputta Và Moggallàna
1. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến
Tôn giả Moggallàna, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Moggallàna
những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời
chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả
Moggallàna:
- Này Hiền giả Moggallàna, có bốn
đạo hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành khổ, thắng trí chậm;
Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí
chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.
Này Hiền giả, có bốn đạo hành
này.
2. Trong bốn đạo hành này, này
Hiền giả, đạo hành nào do đi đến đạo hành này, tâm của
Hiền giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có
chấp thủ?
- Này Hiền giả Sàriputta, có bốn
đạo hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành khổ, thắng trí chậm;
Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí
chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh. Này Hiền giả, có
bốn đạo hành này. Trong bốn đạo hành này, này Hiền giả,
đạo hành này khổ, thắng trí nhanh. Do đi đến đạo hành
này, tâm của tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc,
không có chấp thủ.
(VIII) (168) Moggallàna và Sàriputta
1. Tôn giả Moggallàna đi đến Tôn
giả Sàriputta ... Ngồi xuống một bên, Tôn giả Moggallàna
nói với Tôn giả Sàriputta:
- Này Hiền giả Sàriputta, có bốn
đạo hành này. Thế nào là bốn? ... Này Hiền giả, có bốn
đạo hành này.
2. Trong bốn đạo hành này, này
Hiền giả, đạo hành nào do đi đến đạo hành này, tâm của
Hiền giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có
chấp thủ?
- Này Hiền giả Moggallàna, có bốn
đạo hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành khổ, thắng trí chậm;
Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí
chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.
Này Hiền giả, trong bốn đạo hành
này, đạo hành này lạc, thắng trí nhanh. Do đi đến đạo
hành này, tâm của tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc,
không có chấp thủ.
(IX) (169) Với Một Vài Nỗ Lực
1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng
người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng
người ngay trong hiện tại chứng được Hữu hành Niết-bàn.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người khi thân hoại mạng
chung, chứng được Hữu hành Niết-bàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo,
có hạng người ngay trong hiện tại chứng được Vô hành
Niết-bàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người khi thân
hoại mạng chung, chứng được Vô hành Niết-bàn.
2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là hạng người ngay trong hiện tại chứng được Hữu hành
Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng nhàm chán đối
với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất
cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với
tưởng, chết, khéo an trú nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên
năm hữu học lực, tức là tín lực ... tuệ lực. Với vị
ấy, năm căn này hiện khởi rất dồi dào, tức là tín căn
... tuệ căn. Vị ấy, do năm căn này hiện ra rất dồi dào,
ngay trong hiện tại, chứng được Hữu hành Niết-bàn.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là hạng người sau khi thân hoại mạng chung, chứng được
Hữu hành Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
sống quán bất tịnh trên thân ... với tưởng chết, khéo
an trú trên nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học
lực, tức là tín lực ... tuệ lực. Với vị ấy, năm căn
này hiện khởi mềm yếu, tức là tín căn ... tuệ căn. Vị
ấy, do năm căn này hiện ra mềm yếu, khi thân hoại mạng
chung, vị ấy chứng được Hữu hành Niết-bàn.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là hạng người ngay trong hiện tại chứng được Vô hành
Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ly dục, ly pháp bất thiện ... chứng đạt và an trú Thiền
thứ tư. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức
là tín lực ... tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện
khởi dồi dào, tức là tín căn ... tuệ căn. Do năm căn này
dồi dào, vị ấy ngay trong hiện tại, chứng được Vô hành
Niết-bàn.
Như vậy này các Tỷ kheo, Có hạng
người ngay trong hiện tại chứng được vô hành Niết Bàn.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là hạng người sau khi thân hoại mạng chung, chứng được
Vô hành Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ly dục, ly pháp bất thiện ... chứng đạt và an trú Thiền
thứ tư. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức
là tín lực ... tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này khởi
lên mềm yếu, tức là tín căn ... tuệ căn. Do năm căn này
mềm yếu, vị ấy khi thân hoại mạng chung, chứng được
Vô hành Niết-bàn.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người
này có mặt, hiện hữu ở đời.
(X) (170) Gắn Liền Cột Chặt
1. Một thời, Tôn giả Ananda sống
ở Kosàmbi, tại khu vườn Ghosita. Tại đấy, Tôn giả Ananda
gọi các Tỷ-kheo:
- Thưa các Hiền giả Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, Hiền giả.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả.
Tôn giả Ananda nói như sau:
- Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào tuyên
bố trước mặt tôi rằng, đã chứng được quả A-la-hán,
tất cả vị ấy được đầy đủ bốn chi phần này, hoặc
là một trong bốn chi phần này. Thế nào là bốn?
2. Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo
tu tập quán, có chỉ đi trước; do vị ấy tu tập quán có
chỉ đi trước, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực
hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực
hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử
được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
3. Lại nữa, này chư Hiền, vị
Tỷ-kheo tu tập chỉ, có quán đi trước. Do vị ấy tu tập
chỉ có quán đi trước, con đường được sanh khởi. Vị
ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do
vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn,
các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm
dứt.
4. Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo
tu tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau. Do vị ấy tu
tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau, con đường được
sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm
cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập,
làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy
miên được chấm dứt.
5. Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo
với các dao động đối với các pháp được hoàn toàn dứt
sạch. Này các Hiền giả, đây là thời khi tâm của vị ấy
an trú, an tọa, nhất tâm, định tĩnh. Với vị ấy, con đường
sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm
cho sung mãn.
Do vị ấy thực hành con đường
ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận,
các tùy miên được chấm dứt. Này chư Hiền, Tỷ-kheo hay
Tỷ-kheo-ni nào tuyên bố trước mặt tôi rằng, đã chứng
được quả A-la-hán, tất cả vị ấy được đầy đủ bốn
chi phần này, hoặc là một trong bốn chi phần này.
XVIII. Phẩm
Tư Tâm Sở
(I) (171) Với Tư Tâm Sở
- Này các Tỷ-kheo, khi nào có hành
động về thân, do nhân thân tư tâm sở, khởi lên lạc khổ
nội tâm. Khi nào có hành động về lời, do nhân tư tâm sở
về lời, khởi lên lạc khổ nội tâm. Khi nào có hành động
về ý, do nhân ý tư tâm sở , khởi lên lạc khổ nội tâm.
Hay là do vô minh ...
2. Hoặc này các Tỷ-kheo, do tự
mình làm thân hành, do duyên này, khởi lên lạc khổ nội tâm
cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm thân
hành đối với người ấy, do duyên này khởi lên lạc khổ
nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, tự mình tỉnh
giác làm thân hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm
cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác
làm thân hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho
người ấy.
3. Hoặc này các Tỷ-kheo, do tự
mình làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm
cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm khẩu
hành đối với người ấy, do duyên này khởi lên lạc khổ
nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, tự mình tỉnh
giác làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm
cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác
làm khẩu hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho
người ấy.
4. Hoặc này các Tỷ-kheo, do tự
mình làm ý hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm
cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, do người khác làm ý
hành đối với người ấy, do duyên này khởi lên lạc khổ
nội tâm cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, tự mình tỉnh
giác làm ý hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm
cho người ấy. Hoặc này các Tỷ-kheo, không có tỉnh giác
làm ý hành, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người
ấy.
5. Này các Tỷ-kheo, trong những pháp
này, có vô minh tháp tùng. Do sự đoạn diệt, ly tham, không
có dư tàn của vô minh, thân hành ấy không có, do duyên này
khởi lên lạc khổ nội tâm cho người ấy; khẩu hành ấy
không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội tâm cho người
ấy; ý hành không có, do duyên này khởi lên lạc khổ nội
tâm cho người ấy. Thửa ruộng không có, căn cứ không có,
xứ không có, duyên sự không có, do duyên này khởi lên lạc
khổ nội tâm cho người ấy.
(II) (172) Ðược Ngã Tánh
1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn cách
này để được ngã tánh. Thế nào là bốn?
Có cách được ngã tánh, này các
Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở hoạt
động, không phải do tư tâm sở của người khác. Có cách
được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh
ấy, tư tâm sở của người khác hoạt động, không phải
tư tâm sở của mình. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo,
trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở
của người khác cùng hoạt động. Có cách được ngã tánh,
này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm
sở và tư tâm sở của người khác không hoạt động.
Này các Tỷ-kheo, có bốn cách này
để được ngã tánh.
2. Khi được nói vậy, Tôn giả
Sàriputta bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, lời dạy tóm tắt
này của Thế Tôn con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như
sau: Tại đấy, bạch Thế Tôn, có cách được ngã tánh này,
do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở hoạt động, không
phải do tư tâm sở của người khác. Do nhân ngã tư tâm sở,
có sự mệnh chung từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy.
Tại đấy, bạch Thế Tôn, có các được ngã tánh này, do
cách được ngã tánh ấy, tư tâm sở của người khác hoạt
động, không phải ngã tư tâm sở. Do nhân tư tâm sở của
người khác, có sự mệnh chung từ bỏ thân ấy của các chúng
sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế Tôn, có cách được ngã tánh
này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm
sở của người khác cùng hoạt động. Do nhân ngã tư tâm
sở và tư tâm sở của người khác, có sự mệnh chung, từ
bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế
Tôn, có cách được ngã tánh này, do cách được ngã tánh
ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác không
có hoạt động.
3. Trong trường hợp ngã tư tâm
sở và tư tâm sở của người khác không có hoạt động,
thời hạng chư Thiên nào cần được xem là trong trường hợp
này?
- Này Sàriputta, hạng chư Thiên đi
đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ cần được xem là trong
trường hợp ấy.
- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên
gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi mạng chung từ bỏ thân
ấy, đã trở lui lại, đã trở lui lại trong trạng thái này?
Do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi
thân hoại mạng chung từ bỏ thân ấy, đã trở không lui lại,
không trở lui lại trong trạng thái này?
4. - Ở đây, này Sàriputta, đối
với hạng người năm hạ phần kiết sử chưa đoạn tận,
vị ấy ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú Phi tưởng
phi phi tưởng xứ. Vị ấy hưởng thọ vị ngọt ấy, có tâm
ái luyến, tìm được hạnh phúc trong ấy. An trú ở đây hướng
mạnh về đấy, sống nhiều với trạng thái ấy, không có
thối đọa, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú
với chư Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy mệnh
chung, từ bỏ (thân ái), đã trở lui lại, đã trở lui lại
trạng thái này.
5. Ở đây, này Sàriputta, đối với
hạng người năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận,
vị ấy ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú Phi tưởng
phi phi tưởng xứ. Vị ấy hưởng thọ vị ngọt ấy, có tâm
ái luyến, tìm được hạnh phúc trong ấy. An trú ở đây hướng
mạnh về đấy, sống nhiều với trạng thái ấy, không có
thối đọa, khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú
với chư Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy mệnh
chung, từ bỏ (thân ái) ấy, nhưng không trở lui lại, không
trở lui lại trạng thái này.
Này Sàriputta, đây là nhân, đây
là duyên, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi mạng chung, từ
bỏ thân ấy ... đã không trở lui lại, không trở lui lại
trạng thái này.
(III) (173) Phân Tích
Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi
các Tỷ-kheo:
- Thưa các Hiền giả Tỷ-kheo.
- Thưa vâng Hiền giả. Các Tỷ-kheo
ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như:
- Thưa các Hiền giả, sau khi tôi
thọ đại giới nửa tháng, nghĩa là vô ngại giải được
chứng ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy,
với nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu
rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích,
tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có
ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi
bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo
thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ
đại giới nửa tháng, pháp vô ngại giải được chứng ngộ,
vừa đặc biệt ... tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay
phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả
lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta,
một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ
đại giới trong nửa tháng, từ vô ngại giải được chứng
ngộ, vừa đặc biệt ... tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ
gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và
tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước
chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ
đại giới nửa tháng, biện tài vô ngại giải được chứng
ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với
nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ,
tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích, tôi
phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích
gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc
Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện
xảo trong các pháp.
(IV) (174) Kotthita
1. Rồi Tôn giả Mahàkotthita đi đến
Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta
những lời chào đón thăm hỏi ... ngồi xuống một bên, Tôn
giả Mahàkotthita thưa với Tôn giả Sàriputta:
- Thưa Hiền giả, sau sự đoạn
diệt, ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, còn có một cái
gì khác nữa?
- Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.
- Thưa Hiền giả, sau khi đoạn diệt,
ly tham sáu xúc xứ không có dư tàn, không còn có một cái
gì khác nữa?
- Chớ có nói vậy, thưa Hiền giả.