V. Phẩm
Nhỏ
41.- Sự Có Mặt
- Do sự có mặt của ba pháp, này
các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước.
Thế nào là ba?
Do sự có mặt của lòng tin, này
các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước.
Do sự có mặt của vật bố thí, này các Tỷ-kheo, một thiện
nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước. Do sự có mặt của
các vị xứng đáng được cúng dường, này các Tỷ-kheo, một
thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều phước.
Do sự có mặt của ba pháp này,
này các Tỷ-kheo, một thiện nam tử có lòng tin tạo ra nhiều
phước.
42.- Sự Kiện
- Do ba sự kiện, này các Tỷ-kheo,
một người được biết là có lòng tin. Thế nào là ba?
Ưa thấy người có giới hạnh,
ưa nghe diệu pháp, với tâm ly cấu uế của xan tham, sống
trong nhà, bố thí rộng rãi với bàn tay sạch sẽ, ưa thích
từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, thích phân phát vật
bố thí. Do ba sự kiện này, này các Tỷ-kheo, một người
được biết là có lòng tin.
Thích thấy người giới
hạnh
Muốn được nghe diệu pháp
Nhiếp phục uế xan tham
Vị ấy gọi có tin
43.- Ba Lợi Ích
- Thấy rõ ba lợi ích này (lý do,
lợi ích) là cần thiết cho một người thuyết pháp cho người
khác. Thế nào là ba?
Ai thuyết pháp cần phải liễu giải
nghĩa, và cần phải liễu giải pháp. Ai nghe pháp cần phải
liễu giải nghĩa và cần phải liễu giải pháp. Người thuyết
pháp và cả người nghe pháp cần phải liễu giải nghĩa, và
cần phải liễu giải pháp. Thấy rõ ba lợi ích này, này các
Tỷ-kheo, là cần thiết cho một người thuyết pháp cho người
khác.
44.- Trường Hợp
- Có ba trường hợp, này các Tỷ-kheo,
cuộc pháp thoại được diễn tiến có lợi ích. Thế nào
là ba?
Ai thuyết pháp cần phải liễu giải
nghĩa, và cần phải liễu giải pháp. Ai nghe pháp ... liễu
giải pháp. Ai thuyết pháp và ai nghe pháp, cả hai cần phải
liễu giải nghĩa và cần phải liễu giải pháp. Có ba trường
hợp này, này các Tỷ-kheo, là cuộc pháp thoại được diễn
tiến có lợi ích.
45.- Bổn Phận
- Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, được
người Hiền trí tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố.
Thế nào là ba?
Bố thí, này các Tỷ-kheo, được
người Hiền trí tuyên bố tuyên bố, được bậc Chân nhân
tuyên bố. Xuất gia, này các Tỷ-kheo, được bậc Chân nhân
tuyên bố. Hầu hạ cha mẹ, này các Tỷ-kheo, được người
Hiền trí tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố. Ba pháp
này, này các Tỷ-kheo, được người Hiền trí tuyên bố, được
bậc Chân nhân tuyên bố.
Biết bố thí thiện sĩ
Bất hại, chế ngự căn
Tự điều, hầu cha mẹ,
Các vị sống phạm hạnh,
Bổn phận kẻ thiện khen
Người Hiền thực hiện chúng
Bậc Thánh thấy rõ vậy
Ðạt được đời an lạc.
46.- Bậc Giới Hạnh
- Gần làng hay thị trấn nào, này
các Tỷ-kheo, các bậc xuất gia có giới hạnh trú ở, tại
chỗ ấy, các người nhờ ba sự kiện được gặt nhiều công
đức. Thế nào là ba? Bởi thân, bởi lời nói, bởi ý.
Gần làng hay thị trấn nào, này
các Tỷ-kheo, các bậc xuất gia có giới hạnh trú ở, tại
chỗ ấy, các người nhờ ba sự kiện này, được gặt nhiều
công đức.
47.- Hửu Vi
- Có ba tướng hữu vi này, này các
Tỷ-kheo, cho các pháp hữu vi. Thế nào là ba?
Sanh được trình bày rõ, diệt được
trình bày rõ, sự biến dị khi đang trú được trình bày rõ.
Có ba tướng hữu vi này, này các Tỷ-kheo, cho các pháp hữu
vi.
- Có ba tướng vô vi này, này các
Tỷ-kheo, cho các pháp vô vi. Thế nào là ba?
Sanh không được trình bày rõ, diệt
không được trình bày rõ, sự biến dị khi đang trú không
được trình bày rõ. Có ba tướng vô vi này, này các Tỷ-kheo,
cho các pháp vô vi.
48.- Núi
- Dựa vào vua núi Tuyết Sơn, này
các Tỷ-kheo, các cây sàlà to lớn được lớn lên ba sự tăng
trưởng. Thế nào là ba?
Chúng lớn lên về cành, về lá,
về toàn bộ lá cây, chúng lớn lên về vỏ trong và vỏ ngoài
hay mầm non, chúng lớn lên về giác cây và lõi cây. Dựa vào
vua núi Tuyết Sơn, này các Tỷ-kheo, các cây sàlà to lớn được
lớn lên ba sự tăng trưởng này.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, dựa
vào thiện nam tử có lòng tin, các người trong gia đình được
lớn lên ba sự tăng trưởng. Thế nào là ba?
Tăng trưởng về lòng tin, tăng trưởng
về giới, tăng trưởng về trí tuệ. Dựa vào thiện nam tử
có lòng tin, này các Tỷ-kheo, các người trong gia đình được
lớn lên ba sự tăng trưởng này.
Như núi đá sừng sựng
Trong rừng sâu rừng rậm
Các cây lớn dựa vào
Lớn lên những thần rừng
Cũng vậy, thiện nam tử
Có lòng tin giới đức
Vợ con và gia quyến
Dựa vào để lớn mạnh
Với tùy tùng bà con
Nhờ cậy để sinh sống
Thấy vị giới hạnh làm
Giới, bố thí, thiện hành
Nếu chúng có mắt sáng
Chúng làm theo vị ấy
Ở đây, làm đúng pháp
Con đường đến cõi lành
Trong Thiên giới hỷ lạc
Ước muốn được hoàn hỷ.
49.- Nhiệt Tình Tinh Tấn
- Có ba trường hợp, này các Tỷ-kheo,
nhiệt tình cần phải làm mạnh. Thế nào là ba?
Các ác bất thiện pháp chưa sanh,
cần nhiệt tình làm mạnh đừng cho sanh. Các Thiện pháp chưa
sanh, cần nhiệt tình làm mạnh để cho sanh. Ðể chịu đựng
các thân thọ khổ đã sanh, nhói đau, da diết đau, gay gắt
đau, không thích thú, không thích ý, đoạt mạng sống, cần
nhiệt tình làm mạnh. Có ba trường hợp, này các Tỷ-kheo,
nhiệt tình cần phải làm mạnh.
Khi nào Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo,
đối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh, nhiệt tình làm
mạnh đừng để cho sanh, đối với các pháp thiện chưa sanh,
nhiệt tình làm mạnh để cho sanh khởi. Ðể chịu đựng các
thân thọ đã sanh, khổ đau, nhói đau, da diết đau, gay gắt
đau, không thích thú, không thích ý, đoạt mạng sống, nhiệt
tình làm mạnh. Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi
là vị có nhiệt tình, thận trọng, chánh niệm để chơn chánh
đoạn tận khổ đau.
50.- Giặc Cướp
- Do đầy đủ ba điều kiện, này
các Tỷ-kheo, một tên cướp lớn có thể chặt được khóa
cửa, mang đi được đồ ăn trộm, làm kể cướp trộm một
nhà, làm kẻ đứng đường chận cướp. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp
lớn dựa vào quanh co hiểm trở, dựa vào rừng rậm, dựa
vào kẻ có quyền lực.
Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là
tên cướp lớn dựa vào quanh co hiểm trở? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào con sông khó lội qua, hay
sự quanh co hiểm trở của núi non. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là tên cướp lớn dựa vào sự quanh co hiểm trở.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
tên cướp lớn dựa vào rừng rậm? Ở đây, này các Tỷ-kheo,
tên cướp lớn dựa vào rừng rậm cỏ, hay rừng rậm cây,
hay khóm rừng, hay đám rừng lớn rậm. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
tên cướp lớn dựa vào rừng rậm.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
tên cướp lớn dựa vào kẻ có quyền lực? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào vua hay các vị đại thần
của vua và nghĩ như sau: "Nếu có ai kết tội ta, các vua ấy
hay các vị đại thần của vua ấy sẽ giải thích, cứu thoát
ta". Và thực sự là như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, tên
cướp lớn dựa vào kẻ có quyền lực.
Do đầy đủ ba điều kiện này,
này các Tỷ-kheo, một tên cướp lớn có thể chặt được
khóa cửa, mang đi được đồ ăn trộm, làm kể cướp trộm
một nhà, làm kẻ đứng đường chận cướp.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị
ác Tỷ-kheo đầy đủ ba pháp, tự mình sử sự một vật mất
gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách,
và tạo nên nhiều điều vô phước. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo
dựa vào quanh co hiểm trở, dựa vào rừng rậm và dựa vào
kẻ có quyền lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
ác Tỷ-kheo dựa vào sự hiểm trở? Ở đây, này các Tỷ-kheo,
ác Tỷ-kheo đầy đủ với thân hành quanh co hiểm trở, với
ngữ hành quanh co hiểm trở, với ý hành quanh co hiểm trở.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo dựa vào quanh co
hiểm trở.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
ác Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm? Ở đây, này các Tỷ-kheo,
ác Tỷ-kheo có tà kiến, đầy đủ những tri kiến đi đến
cực đoan. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là các Tỷ-kheo dựa
vào rừng rậm.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
ác Tỷ-kheo dựa vào kẻ có quyền? Ở đây, này các Tỷ-kheo,
dựa vào các vua hay các đại thần của vua, ác Tỷ-kheo nghĩ
rằng: "Nếu có ai kết tội ta, các vua ấy, hay các đại thần
của vua ấy sẽ giải thích, cứu thoát ta". Và thực sự là
như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo dựa vào
kẻ có quyền lực.
Ðầu đủ ba pháp này, này các Tỷ-kheo,
ác Tỷ-kheo tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương
tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều
điều vô phước.
VI. Phẩm Các
Bà La Môn
51.- (a) Hai Người
- Có hai vị Bà-la-môn già yếu,
trưởng lão, tuổi lớn, cuộc đời đã được trải qua, đã
đến đoạn cuối cuộc đời, đã 120 tuổi, đi đến Thế
Tôn ... ngồi xuống một bên, những Bà-la-môn ấy bạch Thế
Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi
là những Bà-la-môn già yếu, trưởng lão, tuổi lớn, đời
đã được trải qua, đã đến đoạn cuối cuộc đời, đã
120 tuổi, nhưng chúng tôi không làm điều lành, không làm điều
thiện, không làm những điều để chấm dứt các sợ hãi.
Tôn giả Gotama hãy răn dạy chúng tôi, Tôn giả Gotama hãy giảng
dạy chúng tôi. Nhờ vậy, chúng tôi sẽ được hạnh phúc,
an lạc lâu dài.
- Thật vậy, các ông là những Bà-la-môn
già yếu, ... đã 120 tuổi, nhưng các Ông không làm điều lành
... không làm những điều để chấm dứt các sợ hãi. Thật
vậy, này các Bà-la-môn, thế giới này đã bị già, bệnh,
chết dắt dẫn. Thế giới đã bị già, bệnh, chết dắt dẫn
như vậy, này các Bà-la-môn, thời chế ngự thân, chế ngự
lời nói, chế ngự ý trong đời này, đối với kẻ đã đi
đến cõi chết, phải là chỗ nương tựa, là hang trú ẩn,
là hòn cù lao (hay ngọn đèn), là chỗ quy y và là đích xứ
nó đến.
Ðời sống bị dắt dẫn
Mạng sống chẳng là bao
Bị già kéo dẫn đi
Không có nơi nương tựa
Hãy luôn luôn quán tưởng
Sợ hãi tử vong này
Hãy làm các công đức
Ðưa đến chơn an lạc.
Ở đây chế ngự thân,
Chế ngự lời và ý,
Kẻ ấy dầu có chết,
Cũng được hưởng an lạc,
Vì khi còn đang sống
Ðã làm các công đức.
52.- (b) Hai Người
Rồi Bà-la-môn già yếu, trưởng
lão, tuổi lớn ... đi đến Thế Tôn, bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi
là những Bà-la-môn già yếu, trưởng lão, tuổi lớn, đời
đã được trải qua, đã đến đoạn cuối cuộc đời, đã
120 tuổi, nhưng chúng tôi không làm điều lành, không làm điều
thiện, không làm những điều để chấm dứt các sợ hãi.
Tôn giả Gotama hãy răn dạy chúng tôi, Tôn giả Gotama hãy giảng
dạy chúng tôi. Nhờ vậy, chúng tôi sẽ được hạnh phúc,
an lạc lâu dài.
- Thật vậy, các ông là những Bà-la-môn
già yếu, ... đã 120 tuổi, nhưng các Ông không làm điều lành
... là chỗ quy y và là đích xứ nó đến.
Trong ngôi nhà bị cháy,
Ðồ đạc được đem ra,
Ðồ ấy lợi cho nó,
Không phải đồ bị cháy,
Cũng vậy đời bị cháy,
Do già chết thiêu đốt,
Nhờ bố thí tự cứu
Khéo cứu, đồ bố thí.
Ở đây, chế ngự thân,
Chế ngự lời và ý,
Kẻ ấy dầu có chết,
Cũng được hưởng an lạc,
Vì khi còn đang sống
Ðã làm các công đức.
53.- Vị Bà La Môn
Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón
hỏi thăm ... Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế
Tôn:
- Pháp là thiết thực hiện tại,
thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như
thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại,
không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng
thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
- Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn,
bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại
mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai,
cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Tham ái được đoạn trừ, thời
không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không
nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như
vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không
có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng,
được người trí tự mình giác hiểu.
Bị sân làm uế nhiễm, này Bà-la-môn,
bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại
mình, ... tâm khổ tâm ưu. Sân được đoạn trừ, thời không
nghĩ đến tự hại..... không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như
vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không
có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng,
được người trí tự mình giác hiểu.
Bị si làm cho mê mờ, này Bà-la-môn,
bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại
mình, ... tâm khổ tâm ưu. Si được đoạn trừ, thời không
nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ
đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy,
này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời
gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được
người trí tự mình giác hiểu.
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả
Gotama! Xin Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ
nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
54.- Bà La Môn Cư Sĩ
Rồi một Bà-la-môn du sĩ đi đến;
Thế Tôn, sau khi đến, ... Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn
du sĩ bạch Thế Tôn:
- Pháp là thiết thực hiện tại,
thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như
thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại,
không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng
thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
- Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn,
bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm ... cảm thọ tâm khổ tâm
ưu. Tham ái được đoạn trừ ... không cảm thọ tâm khổ
tâm ưu.
Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn,
bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, vị ấy làm ác hạnh về
thân ... ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý. Tham ái được
đoạn trừ, vị ấy không làm ác hạnh về thân ... ác hạnh
về lời nói ... , ác hạnh về ý.
Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn,
bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, vị ấy không như thật
rõ biết lợi ích của mình, không như thật rõ biết lo của
người, không như thật rõ biết lợi ích của cả hai. Tham
ái được đoạn trừ, vị ấy như thật rõ biết lợi ích
của mình, như thật rõ biết lo của người, như thật rõ
biết lợi ích của cả hai
Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là
thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy,
có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác
hiểu.
Bị sân làm uế nhiễm, này Bà-la-môn
...
Bị si làm mê mờ, này Bà-la-môn,
bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ đến hại
mình ... nên suy nghĩ đến hại cả hai, cảm thọ tâm khổ
tâm ưu. Si được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại
... không cảm thọ tâm khổ tâm ưu.
Bị si làm cho mê mờ, này Bà-la-môn,
bị chinh phục,tâm bị xâm chiếm, nên làm ác hạnh về thân
... ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý. Si được đoạn
trừ, thời không làm ác hạnh về thân ... ác hạnh về lời
nói ... , ác hạnh về ý.
Bị si làm cho mê mờ, này Bà-la-môn,
bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên không như thật rõ
biết lợi ích của mình, không như thật rõ biết lợi ích
cho người, không như thật rõ biết lợi ích của cả hai.
Si được đoạn trừ, thời như thật rõ biết lợi ích cho
mình, như thật rõ biết lợi ích cho người, như thật rõ
biết lợi ích của cả hai
Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là
thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy,
có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác
hiểu.
55.- Niết-bàn
Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến
Thế Tôn ... Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch
Thế Tôn:
- Thiết thực hiện tại là Niết
bàn, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến
như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, Niết bàn là thiết thực
hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả
năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
- Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn,
bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại
mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai,
cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Tham ái được đoạn trừ, thời
không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không
nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như
vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không
có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng,
được người trí tự mình giác hiểu.
Bị si làm uế nhiễm, này Bà-la-môn
...
Bị sân làm mê mờ, này Bà-la-môn,
bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ đến hại
mình ... nên suy nghĩ đến hại cả hai, cảm thọ tâm khổ
tâm ưu. Si được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại
... không cảm thọ tâm khổ tâm ưu.
Như vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn
là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà
thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự
mình giác hiểu.
Khi vị ấy, này Bà-la-môn, cảm
thọ tham ái được đoạn tận, không có dư tàn, cảm thọ
sân được đoạn tận, không có dư tàn, cảm thọ si được
đoạn tận, không có dư tàn. Như vậy, này Bà-la-môn, Niết
bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, ... được
người trí tự mình giác hiểu.
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả
Gotama! Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ
nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
56.- Người Giàu Có
Rồi một Bà-la-môn giàu có lớn
đi đến Thế Tôn, ... Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn giàu
có lớn bạch Thế Tôn:
- Con có nghe, thưa Tôn giả Gotama,
các Bà-la-môn thuở xưa, các trưởng lão lớn tuổi, bậc thầy
của các bậc Thầy nói rằng: "Thuở xưa, thế giới này quá
sung mãn, với người, - người ta nghĩ như một vực sâu không
có sóng, các làng, các thị trấn, các kinh thành quá gần để
một con gà trống có thể bước từ chỗ này qua chỗ kia."
Do nhân gì, thưa Tôn giả Gotama,
do duyên gì, ngày nay loài người lại bị tiêu diệt, bị giảm
thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng,
các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành
phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở
thành không phải quốc độ?
- Ngày nay, này Bà-la-môn, loài người
bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục,
bị tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm,
vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, chúng
cầm gươm sắc bén sát hại lẫn nhau. Do vậy, nhiều người
mạng chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, ngày
nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như
thế ... các quốc độ trở thành không quốc độ.
Lại nữa, này Bà-la-môn, ngày nay,
các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm ... bị
các tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm
... vì bị tà kiến chi phối, trời không mưa xuống đều đặn.
Vì vậy, bữa ăn khó tìm, mùa màng hư mất, trắng xóa với
côn trùng, chỉ còn lại cọng dẹp. Do vậy, nhiều người
mạng chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, vì
sao ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông
rõ như thế ... các quốc độ trở thành không phải quốc
độ.
Lại nữa, này Bà-la-môn, ngày nay,
các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm ... bị
các tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm
... vì bị các tà kiến chi phối, các loài Yakkha (Dạ-xoa) thả
ra các loài phi nhân dữ tợn. Vì vậy, nhiều người mệnh
chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, ngày nay loài
người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế ...
các quốc độ trở thành không phải quốc độ.
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả
Gotama! ... Tôn giả Gotama hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ,
từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
57.- Vacchagotta
Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế
Tôn, ... Ngồi xuống một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế
Tôn:
- Tôi có được nghe, thưa Tôn giả
Gotama, Sa-môn Gotama nói như sau: "Cần phải bố thí cho Ta, không
cần bố thí cho người khác. Cần phải bố thí cho đệ tử
của Ta, không cần phải bố thí cho đệ tử những người
khác. Bố thí cho Ta có quả lớn, bố thí cho những người
khác không có quả lớn. Bố thí cho các đệ tử của ta có
quả lớn, bố thí cho những đệ tử của người khác không
có quả lớn!". Thưa Tôn giả Gotama, những ai nói rằng Sa-môn
nói như sau: "Cần phải bố thí cho Ta ... không có được quả
lớn!". Những người nói như vậy, có phải nói đúng lời
nói của Tôn giả Gotama, không có xuyên tạc Tôn giả Gotama
với điều không thật? Có phải họ nói như vậy là đúng
pháp và thuận pháp, và những ai là người đồng pháp, nói
lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ
trích? Họ không muốn xuyên tạc Tôn giả Gotama?
- Này Vaccha, những ai nói rằng Sa-môn
Gotama nói như sau: "Cần phải bố thí cho ta ... có được quả
lớn!", những người ấy không nói đúng với lời nói của
ta, họ đã xuyên tạc ta với điều không thật, họ đã nói
láo. Này Vaccha, ai ngăn chận người khác bố thí, người ấy
tạo ra ba chướng ngại pháp và đánh cắp mất ba vật. Thế
nào là ba?
Người ấy làm chướng ngại người
cho không được công đức, người ấy ngăn chặn người nhận
không được bố thí, và tự ngã người ấy trước đã mất
gốc, lại càng bị thương tổn hơn. Này Vaccha, ai ngăn chặn
người cho không bố thí người khác, tạo ra ba chướng ngaị
như vậy, và đánh cắp mất ba vật. Này Vaccha, ta nói như
sau: "Những ai đổ đồ phế thải trên mâm bàn, hay đồ rửa
chén bát vào hố phân hay hố rác rưởi (với ý nghĩ) để
các loài hữu tình trong ấy nhờ đấy được ăn để sống".
Do nhân duyên ấy, này Vaccha, ta nói có đem lại công đức,
còn nói gì đối với loài người.
Lại nữa, này Vaccha, Ta tuyên bố
rằng, cho người có giới hạnh được quả lớn, cho người
ác giới không phải như vậy. Người có giới hạnh là người
đã đoạn tận năm pháp và đã đầy đủ năm pháp.
Thế nào là năm pháp đã được
đoạn tận? Dục tham đã được đoạn tận, sân đã được
đoạn tận, hôn trầm thùy miên đã được đoạn tận, trạo
hối đã được đoạn tận, nghi đã được đoạn tận, năm
pháp này đã được đoạn tận.
Năm pháp nào đã được đầy đủ?
Ðầy đủ vô học giới uẩn, đầy
đủ vô học định uẩn, đầy đủ vô học tuệ uẩn, đầy
đủ vô học giải thoát uẩn, đầy đủ vô học giải thoát
tri kiến uẩn. Vị ấy được đầy đủ năm pháp này. Ở
đây, Ta tuyên bố rằng, bố thí cho người đoạn tận năm
pháp, đầy đủ năm pháp có quả lớn.
Như trong một đàn bò,
Có con đen, trắng, đỏ
Màu hung hay có đốm,
Có con màu bồ câu
Dầu con bò màu gì,
Kiếm được con bò thuần,
Con vật kéo sức mạnh,
Ðẹp, lanh và hăng hái,
Mặc kệ nó màu gì,
Liền mắc vào gánh nặng,
Cũng vậy, giữa loài người,
Dầu có sinh chỗ nào,
Hoàng tộc, Bà-la-môn
Thương gia hay nô bộc,
Kẻ không có giai cấp,
Hay hạ cấp đổ phân,
Giữa những người như vậy.
Ai điều phục thuần thục,
Ngay thẳng, đủ giới đức
Nói thực, biết tàm quý,
Sanh tử đã đoạn tận,
Phạm hạnh được vẹn toàn
Gánh nặng đã hạ xuống,
Không còn bị trói buộc,
Việc cần làm đã làm,
Không còn bị lậu hoặc,
Ðã đến bờ bên kia,
Không chấp pháp tịch tịnh,
Phước điền ấy vô cấu.
Quả lớn đáng cúng dường;
Như kẻ ngu không biết,
Thiếu trí, ít nghe nhiều,
Chỉ bố thí bên ngoài,
Không đến gần kẻ thiện,
Những ai gần kẻ thiện,
Có tuệ, tôn bực hiền
Họ tin bậc Thiện Thệ,
An trú tận gốc rễ.
Sanh Thiên hay ở đây
Ðược sanh gia đình tốt
Bậc trí tuần tự tiến
Chứng được cảnh Niết-bàn.
58.- Tikanna
1-6
Rồi Bà-la-môn Tikanna đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn ... Ngồi xuống một
bên, Bà-la-môn Tikanna, trước mặt Thế Tôn, tán thán các bậc
Bà-la-môn có đầy đủ ba minh.
- Phải, này Bà-la-môn, họ là các
bậc có ba minh. Phải, các Bà-la-môn có ba minh. Cho đến như
thế nào, này Bà-la-môn, các Bà-la-môn diễn tả ba minh của
các Bà-la-môn?
- Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, vị
Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu và phụ hệ, huyết thống
thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết
nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống
thọ sanh, nhà phúng tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập
Veda với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và các
cổ truyện là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm,
biện tài về thuận thế (tự nhiên học) và tướng của các
vị đại nhân. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn
diễn tả ba minh các vị Bà-la-môn.
- Thật là khác, này Bà-la-môn, các
Bà-la-môn diễn tả ba minh của các Bà-la-môn. Thật là khác
ba minh trong luật của bậc thánh.
- Như thế nào, thưa Tôn giả Gotama,
là ba minh trong giới luật của bậc thánh? Lành thay, nếu Tôn
giả Gotama thuyết pháp cho chúng tôi về ba minh trong Luật của
bậc Thánh.
- Vậy Bà-la-môn hãy nghe và khéo
tác ý, ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, Tôn giả.
Bà-la-môn Tikana vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
- Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
ly dục, ly các pháp ác, bất thiện, chứng đạt và an trú
Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh,
với tầm với tứ, làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, vị ấy
chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh, nhất tâm.
Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc
thọ mà các bậc thánh gọi là xả niệm lạc trú, vị ấy
chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt
hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng đạt và an trú
Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
3- Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng
tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống
quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm
đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi
đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một
ngàn đời, một trăm ngàn đời. Nhiều hoại kiếp, nhiều
thành kiếp nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng:
"Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này,
giai cấp như thế này, thổ lạc như thế này, tuổi thọ đến
mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh
ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng
họ như thế này, giai cấp như thế này, thổ lạc như thế
này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ
nọ, ta được sanh ra ở đây." Như vậy, vị ấy nhớ đến
nhiều đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương
và các nét chi tiết. Ðây là minh thứ nhất đã đạt được,
vô minh diệt, minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối
với vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
4.-Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng
tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với
thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết
của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ
liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người
may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
Các chúng sanh này làm những ác
hạnh về thân, ngữ, ý, phỉ báng các bậc thánh, theo tà kiến,
tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân
hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú đọa xứ,
địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những thiện hạnh
về thân, ngữ, ý, không phỉ báng các bậc thánh, theo chánh
kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này,
sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các cõi thiện,
cõi trời, cõi đời này. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn,
thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng,
chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ,
kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh
nghiệp của họ. Ðây là minh thứ hai đã đạt được, vô
minh diệt, minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối với
vị an trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
5.-Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng
tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: "Ðây là
khổ", biết như thật: "Ðây là nguyên nhân của khổ", biết
như thật: "Ðây là khổ diệt", biết như thật: "Ðây là con
đường đưa đến khổ diệt". Biết như thật: "Ðây là những
lậu hoặc", biết như thật: "Ðây là nguyên nhân các lậu
hoặc", biết như thật: "Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc",
biết như thật: "Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ
các lậu hoặc". Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như
vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu
lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải
thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát".
Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần
làm đã làm, sau đời hiện tại, không có đời sống nào
khác nữa". Ðây là minh thứ ba đã đạt được, vô minh diệt,
minh khởi, bóng tối diệt, ánh sáng sanh, đối với vị an
trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
6.-
Giới hạnh không cao thấp
Khôn khéo và thiền tịnh,
Với tâm được chinh phục,
Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Bậc trí đoạn mê ám,
Ba minh, diệt tử thần,
Vị ấy được tôn xưng,
Ðại hạnh cho Trời Người,
Bậc "Ðoạn tận tất cả",
Ðầy đủ cả ba minh
An trú không mê vọng,
Ðức Phật, bậc Giác Ngộ,
Bậc chứng thân tối hậu,
Chúng lễ Gotama.
Ai biết được đời trước,
Thấy Thiên giới, đọa giới,
Vị ấy là đạo sĩ,
Ðoạn sanh, đạt thắng trí
Vị Bà-la-môn nào,
Chứng được ba minh này,
Ta gọi là ba minh
Không như thường được gọi.
Như vậy, này Bà-la-môn, là ba minh
trong Luật của bậc Thánh.
- Thật khác, thưa Tôn giả Gotama,
là ba minh của các Bà-la-môn! Thật khác là ba minh trong Luật
của bậc Thánh! Và thưa Tôn giả Gotama, người có được
ba minh của các Bà-la-môn không sánh bằng một phần mười
sáu của vị chứng minh trong Luật của bậc Thánh.
59. - Jànussoni
1-4
Rồi có Bà-la-môn Jànussoni đi đến
Thế Tôn, sau khi đến ... ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni
bạch Thế Tôn:
- Ai làm lễ tế đàn, thưa Tôn giả
Gotama, hay ai làm lễ cúng linh, hay ai có bố thí, cần phải
bố thí các vật ấy cho các vị Bà-la-môn có ba minh.
Cho đến như thế nào, này Bà-la-môn,
các vị Bà-la-môn diễn tả một Bà-la-môn có ba minh?
Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, vị
Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống
thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết
nhơ nào, không bị môt dèm pha nào về vấn đề huyết thống
thọ sanh, nhà phúng tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập
Vệ đà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải, và
các cổ truyện là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm,
biện tài về thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị
Ðại nhân. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn diễn
tả ba minh của các Bà-la-môn.
- Thật là khác, này Bà-la-môn, các
Bà-la-môn diễn tả ba minh của các Bà-la-môn. Thật là khác,
ba minh trong Luật của bậc Thánh.
- Như thế nào, thưa Tôn giả Gotama,
là ba minh trong giới Luật của bậc Thánh? Lành thay, nếu Tôn
giả Gotama thuyết giảng cho chúng tôi về ba minh trong giới
Luật của bậc Thánh.
- Vậy Bà-la-môn hãy nghe và khéo
tác ý. Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, Tôn giả.
Bà-la-môn Jànussoni vâng đáp Thế
Tôn. Thế Tôn nói như sau:
2- Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo
ly dục, ly các pháp ác, bất thiện, chứng đạt và an trú
Thiền thứ nhất ... chứng đạt và an trú Thiền thứ tư,
không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng
tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống
quá khứ như một đời, hai đời ... Ðây là minh thứ nhất
đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi bóng tối diệt,
ánh sánh sanh, đối với vị an trú không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng
tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy, với
thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân ... đều do hạnh nghiệp
của chúng. Ðây là minh thứ hai đã đạt được, vô minh diệt,
minh khởi bóng tối diệt, ánh sánh sanh, đối với vị an trú
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
4.-Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng
tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: "Ðây là
khổ" ... " ... không có đời sống nào khác nữa." Ðây là
minh thứ ba đã đạt được, vô minh diệt, minh khởi bóng
tối diệt, ánh sánh sanh, đối với vị không phóng dật, an
trú, nhiệt tâm, tinh cần.
Ai đầy đủ giới hạnh
Tinh cần và định tĩnh
Với tầm được chinh phục
Nhứt tâm khéo định tĩnh
Ai biết được đời trước
Thấy Thiên giới đọa xứ
Vị ấy là đạo sĩ
Ðoạn sanh, đạt thắng trí
Vị Bà-la-môn nào,
Chứng được ba minh này,
Ta gọi là ba minh
Không như thường được gọi.
Như vậy, này Bà-la-môn, là ba minh
trong Luật của bậc Thánh.
- Thật thế, thưa Tôn giả Gotama,
là ba minh của các Bà-la-môn! Thật khác, là ba minh trong Luật
của bậc Thánh! Và thưa Tôn giả Gotama, người có được
ba minh của các Bà-la-môn không sánh bằng một phần mười
sáu của vị chứng ba minh trong Luật của bậc Thánh! Thật
vi diệu thay, Tôn giả Gotama! ... mong Tôn giả Gotama nhận con
làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời
quy ngưỡng?
60.- Sangàrava
1-7
- Rồi có Bà-la-môn Sangàrava đi
đến Thế Tôn, ... ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava
bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi
làm lễ tế đàn và khuyên các người khác làm lễ tế đàn.
Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, ai làm lễ tế đàn và ai khuyên
các người khác làm lễ tế đàn, tất cả đều thực hành
con đường đưa đến công đức cho nhiều người, tức là
kết quả của tế đàn. Thưa Tôn giả Gotama, ai xuất gia, từ
bỏ gia tộc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chỉ nhiếp
phục một tự ngã của mình, chỉ an tịnh một tự ngã của
mình, chỉ làm cho một tự ngã chứng được Niết-bàn. Như
vậy, người ấy thực hành con đường đưa đến công đức
chỉ có một mình, tức là kết quả của sự xuất gia.
- Vậy này Bà-la-môn, ở đây, Ta
sẽ hỏi Ông. Ông kham nhẫn như thế nào, hãy như vậy trả
lời. Ông nghĩ như thế nào, này Bà-la-môn, ở đây, Thế Tôn
xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh
Túc, Thiên Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy nói như
sau: "Ðây là con đường, đây là đạo lộ, nhờ thực hành
con đường này, Ta đã thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự
mình với thắng trí, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết.
Các người hãy đến! Hãy như vậy thực hành! Các người
sẽ thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự mình với thắng
trí, chứng đạt và an trú". Như vậy, vị Ðạo sư này thuyết
pháp, và các người khác như thật hành trì. Số người như
vậy là hàng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn. Ông nghĩ thế
nào, này Bà-la-môn, sự việc là như vậy, thời con đường
đưa đến công đức này ảnh hưởng chỉ đến một người
hay ảnh hưởng đến nhiều người, tức là kết quả của
sự xuất gia?
- Sự việc này là như vậy, thưa
Tôn giả Gotama, con đường đưa đến công đức này là ảnh
hưởng đến nhiều người, tức là kết quả của sự xuất
gia.
Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả
Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:
- Trong hai con đường, này Bà-la-môn,
con đường nào, Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít
khó chịu hơn, kết quả lớn hơn và lợi ích hơn?
Ðược nói như vậy, Bà-la-môn Sangàrava
nói với Tôn giả Ananda:
- Như Tôn giả Gotama và Tôn giả
Ananda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán
thán.
Lần thứ hai, Tôn giả Ananda nói
với Bà-la-môn Sangàrava:
- Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông
như vậy: "Những ai là đáng đảnh lễ, hay những ai là đáng
tán thán? "Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông: "Này Bà-la-môn,
trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn
là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi
ích lớn hơn?"
Lần thứ hai, Bà-la-môn Sangàrava
nói với Tôn giả Ananda:
- Như Tôn giả Gotama và Tôn giả
Ananda, cả hai đối với tôi là đáng đảnh lễ và đáng tán
thán.
Lần thứ ba, Tôn giả Ananda nói
với Bà-la-môn Sangàrava:
- Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông
như vậy: "Những ai là đáng kính lễ, hay những ai là đáng
tán thán? "Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông: "Này Bà-la-môn,
trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn
là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi
ích lớn hơn?"
Lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava
nói với Tôn giả Ananda:
- Như Tôn giả Gotama và Tôn giả
Ananda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán
thán.
3. Rồi Thế Tôn suy nghĩ như sau:
"Cho đến lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava, được hỏi một
câu đúng pháp lại tránh né, không trả lời. Vậy Ta hãy giải
tỏa việc này".
Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn
Sangàrava:
- Này Bà-la-môn, câu chuyện gì đã
khởi lên hôm nay trong cung điện Nhà Vua, khi hội chúng nhà
vua ngồi tụ họp lại?
- Thưa Tôn giả Gotama, hôm nay, trong
cung điện nhà vua, câu chuyện như sau đã khởi lên, khi hội
chúng nhà vua ngồi tụ họp lại: "Thuở xưa, các Tỷ-kheo ít
hơn, nhưng nhiều hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông
thần biến được thị hiện. Ngày nay, các Tỷ-kheo nhiều
hơn, nhưng ít hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông
thần biến được thị hiện." Thưa Tôn giả Gotama, đấy là
câu chuyện đã khởi lên hôm nay trong cung điện nhà vua, khi
hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại.
4. - Này Bà-la-môn, có ba loại thần
thông. Thế nào là ba? Thần thông biến hóa, thần thông ký
thuyết, thần thông giáo hóa, và Bà-la-môn, thế nào là thần
thông biến hóa?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người
chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều
thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình,
đi ngang qua vách qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không,
độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước,
đi trên nước, không nứt rẽ ra như trên đất liền, ngồi
kiết già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay, chạm
và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực,
đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm
Thiên.
5. Và này Bà-la-môn, thế nào là
thần thông ký thuyết?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người
nói lên nhờ tướng: "Như vầy là ý của Ông, như thế này
là ý của Ông, như thế này là tà tâm của Ông". Nếu vị
ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì
khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người
nói lên không nhờ tướng, nhưng nghe tiếng của loài người
hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, liền nói lên: "Như vầy
là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là
tà tâm của Ông". Nếu vị ấy nói lên nhiều, cũng chỉ là
như vậy, không có gì khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người
nói lên không nhờ tướng, cũng không nhờ nghe tiếng của
loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, nhưng sau khi
nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư; sau khi suy
tầm và suy tư liền nói lên: "Như vầy là ý của Ông, như
thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông". Nếu
vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có
gì khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người
không nói lên nhờ tướng, không nói lên nhờ nghe tiếng của
loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, không nói
lên sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư,
sau khi suy tầm và suy tư. Những thành tựu định không tầm
không tứ, với tâm của mình biết rõ tâm của người khác
tùy theo hành ý của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào,
thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Nếu
vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có
gì khác. Này Bà-la-môn, đây gọi là thần thông ký thuyết.
6. Và như thế nào, này Bà-la-môn,
là thần thông giáo hóa?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người
giáo giới như sau: "Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ
như vậy! Hãy tác ý như thế vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy
từ bỏ cái này! Hãy đạt đến cái này và an trú!". Này Bà-la-môn,
đây gọi là thần thông giáo hóa. Nay Bà-la-môn, có ba loại
thần thông này.
Trong ba loại thần thông này, Ông
có thể chấp nhận loại thần thông nào là hy hữu hơn, thù
diệu hơn?
- Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, loại
thần thông này: Ở đây có người chứng được nhiều loại
thần thông, một thân hiện ra nhiều thân ... Có thể tự thân
bay đến cõi Phạm Thiên. Loại thần thông này, thưa Tôn giả
Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm
lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông
ấy. Loại thần thông này, đối với tôi, được xem tánh
chất như là huyễn hóa. Còn loại thần thông này, thưa Tôn
giả Gotama: Ở đây có người nhờ tướng nói lên ... Với
tâm của mình, rõ biết tâm của người khác. Loại thần thông
này, thưa Tôn giả Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người
ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có
được thần thông ấy. Loại thần thông này, đối với tôi,
được xem tánh chất như là huyễn hóa. Còn loại thần thông
này, thưa Tôn giả Gotama: Ở đây có người giáo giới như
sau: "Hãy suy nghĩ như thế này ... hãy đạt đến cái này và
an trú". Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, tôi có
thể chấp nhận là hy hữu hơn và thù diệu hơn trong ba loại
thần thông.
Thật là vi diệu, thưa Tôn giả
Gotama! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả Gotama! Vấn đề này
được Tôn giả Gotama khéo nói như vậy, Chúng tôi thọ trì
rằng Tôn giả Gotama có thành tựu cả ba loại thần thông
này. Thật vậy, Tôn giả Gotama có thể chứng được nhiều
loại thần thông ... Thật vậy, Tôn giả Gotama thành tựu được
định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm
của người khác, tuỳ theo ý hành của vị Tôn giả này hướng
đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến
chỗ ấy. Tôn giả Gotama giáo giới như sau: "Hãy suy nghĩ như
thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như vậy, chớ
tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt đến cái này
và an trú!".
7. -Thật vậy, này Bà-la-môn, lời
nói của Ông trước như là chống ta, sau xích lại gần ta.
Và Ta sẽ trả lời cho Ông. Này Bà-la-môn, ta chứng được
nhiều loại thần thông ... này Bà-la-môn, ta thành tựu được
định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm
của người khác, tùy theo ý hành của vị Tôn giả này hướng
đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến
chỗ ấy. Tôn giả Gotama có thể giáo giới như sau: "Hãy suy
nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy. Hãy tác ý như vậy,
chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt được
cái này và an trú!".
- Thưa Tôn giả Gotama, có một Tỷ-kheo
nào khác, cung thành tựu được ba loại thần thông này, ngoài
Tôn giả Gotama?
- Này Bà-la-môn, không phải chỉ
có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn
nhiều hơn nữa các Tỷ-kheo thành tựu được ba loại thần
thông này.
- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, nay các
Tỳ kheo ấy hiện ở đâu?
- Này Bà-la-môn, trong chúng Tỷ-kheo
này.
- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng
những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che
kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn
sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc.
Cũng vậy, pháp được Tôn giả Gotama thuyết giảng với nhiều
pháp môn. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng.
Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho
đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
VII. Phẩm Lớn
61.- Sở y xứ.
1.- Này các Tỷ-kheo, có ba y sứ
này của ngoại đạo, dầu có bị các bậc Hiền giả cật
vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn kiên trì trong quan điểm
truyền thống về vô vi (không hành động). Thế nào là ba?
Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn,
Bà-la-môn thuyết như sau, chấp kiến như sau: "Phàm có cảm
giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ,
không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ". Này các
Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết pháp như sau,
chấp kiến như sau: "Phàm có cảm giác gì về con người này
lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều
do nhân một tạo hóa tạo ra". Này các Tỷ-kheo, có một số
Sa-môn, hay Bà-la-môn, thuyết pháp như sau, chấp kiến như sau:
"Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ lạc, khổ
hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân, không
duyên".
2.- Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối
với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến
như sau: "Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ
lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân
nghiệp quá khứ". Ðối với các vị ấy, Ta đến và nói:
"Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết như
sau, chấp kiến như sau: "Phàm có cảm giác gì về con người
này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả
đều do nhân nghiệp quá khứ? "".
Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời:
"Thưa phải, có như vậy".
Ta nói với họ như sau: "Như vậy,
thời theo các Tôn giả, do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành
người sát sanh; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người
lấy của không cho; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành
người không Phạm hạnh; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở
thành người nói láo; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành
người nói hai lưỡi; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành
người ác khẩu; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người
nói lời phù phiếm; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành
người tham lam; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người
theo tà kiến". Nhưng này các Tỷ-kheo, với những ai trở lại
dựa vào nghiệp quá khứ là do kiên thực, với những người
ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có "Ðây
là việc phải làm", hay "Ðây là việc không nên làm". Như
vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm
không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời
danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được,
vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây
là sự chỉ trích đúng pháp thứ nhất của ta đối với các
vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như
vậy.
3.- Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối
với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến
như sau: "Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ
lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân
một tạo hóa tạo ra". Ðối với các vị ấy, Ta đến và
nói: "Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết
như sau: "Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ
lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân
một tạo hóa tạo ra? ".
Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời:
"Thưa phải, có như vậy".
Ta nói với họ như sau: "Như vậy,
thời theo các Tôn giả, do nhân một vị tạo hóa tạo ra, sẽ
trở thành người sát sanh ... Do nhân một vị tạo hóa tạo
ra, sẽ trở thành người theo tà kiến". Nhưng này các Tỷ-kheo,
với những ai trở lại dựa vào vị tạo hóa tạo ra là lý
do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn,
không có tinh tấn, không có "Ðây là việc phải làm", hay "Ðây
là việc không nên làm". Như vậy, sự cần thiết cần phải
làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân
thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp
dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất
niệm và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây
là sự chỉ trích đúng pháp thứ hai của ta đối với các
vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như
vậy.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối
với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thuyết như sau, chấp kiến
như sau: "Phàm có cảm giác gì về con người này lãnh thọ
lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không
nhân không duyên". Ðối với các vị ấy, Ta đến và nói:
"Chư Tôn giả, có thật chăng, Chư Tôn giả có thuyết như
sau chấp kiến như sau: "Phàm có cảm giác gì về con người
này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả
đều do không nhân không duyên? "".
Ðược Ta hỏi vậy, họ trả lời:
"Thưa phải, có như vậy".
Ta nói với họ như sau: "Như vậy,
thời theo các Tôn giả, do không nhân không duyên, sẽ trở
thành người sát sanh ... Do không nhân không duyên, sẽ trở
thành người theo tà kiến". Nhưng này các Tỷ-kheo, với những
ai trở lại dựa vào vị tạo hóa tạo ra là lý do kiên thực,
với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh
tấn, không có "Ðây là việc phải làm", hay "Ðây là việc
không nên làm". Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay
không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực,
là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng
đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm
và với các căn không hộ trì.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây
là sự chỉ trích đúng pháp thứ ba của ta đối với các
vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như
vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là ba y xứ của ngoại đạo, dù
có được các bậc Tôn giả cật vấn, nạn vấn lý do thảo
luận, vẫn kiên trì trong quan điểm truyền thống về vô vi
(không hành động).
5.- Và này các Tỷ-kheo, đây là
pháp ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm,
không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có
trí quở trách. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp ta thuyết
giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có
tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở
trách?
Sáu giới này, này các Tỷ-kheo,
là pháp Ta thuyết giảng, ... không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn
có trí quở trách. Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, là pháp
Ta thuyết giảng ... không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có
trí quở trách. Mười tám ý cận hành này, này các Tỷ-kheo,
là pháp Ta thuyết giảng ... không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn
có trí quở trách. Bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo, là
pháp Ta thuyết giảng ... không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn
có trí quở trách.
6.- Sáu giới này, này các Tỷ-kheo,
là pháp Ta thuyết giảng ... không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn
có trí quở trách, được nói đến như vậy. Do duyên gì được
nói đến? Này các Tỷ-kheo, có sáu giới này: địa giới,
thủy giới, phong giới, hỏa giới, không giới, thức giới.
Sáu giới này, này các Tỷ-kheo, là pháp được Ta thuyết giảng,
không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi,
không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều
đã được nói đến, chính do duyên này đã được nói đến.
7.- Có sáu xúc xứ này, này các
Tỷ-kheo, là pháp ta thuyết giảng ... không bị các Sa-môn,
các Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều đã được nói đến,
chính do duyên nào đã được nói đến? Này các Tỷ-kheo, có
sáu xúc xứ này: nhãn xúc xứ, nhĩ xúc xứ, tỷ xúc xứ, thiệt
xúc xứ, thân xúc xứ, ý xúc xứ. Có sáu xúc xứ này, này
các Tỷ-kheo, ... không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí
quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên này
đã được nói đến.
8.-Có mười tám ý cận hành này,
này các Tỷ-kheo, là pháp được Ta thuyết giảng, ... không
bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều đã
được nói đến, chính do duyên nào đã được nói đến?
Khi con mắt thấy sắc, tư tưởng hướng về và đến gần
sắc, làm y xứ cho hỷ, hướng về và đến gần sắc, làm
y xứ cho ưu, hướng về và đến gần sắc, làm y xứ cho xả.
Khi tai nghe tiếng, tư tưởng hướng về và đến gần tiếng,
làm y xứ cho hỷ, hướng về và đến gần tiếng, làm y xứ
cho ưu, hướng về và đến gần tiếng, làm y xứ cho xả.
Khi mũi ngửi hương ... khi lưỡi nếm vị ... khi thân cảm
xúc ... khi ý nhận thức pháp, tư tưởng hướng về và đến
gần pháp, làm y xứ cho hỷ, hướng về và đến gần pháp,
làm y xứ cho ưu, hướng về và đến gần pháp, làm y xứ
cho xả. Có mười tám ý cận hành này, này các Tỷ-kheo, được
Ta thuyết giảng ... không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có
trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên
này đã được nói đến.
9.- Bốn thánh đế này, này các
Tỷ-kheo, được Ta thuyết giảng ... không bị các Sa-môn, các
Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính
do duyên nào đã được nói đến? Do chấp thủ sáu giới,
này các Tỹ kheo, nên có nhập thai. Do có nhập thai, nên có
danh sắc. Do duyên danh sắc, nên có sáu xứ. Do duyên sáu xứ,
nên có xúc. Do duyên xúc, nên có thọ. Với người có cảm
thọ, này các Tỷ-kheo, Ta nêu rõ: "Ðây là khổ", Ta nêu rõ:
"Ðây là khổ tập; Ta nêu rõ: "Ðây là khổ diệt", Ta nêu
rõ: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt".
10.- Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là Khổ Thánh đế?
Sanh là khổ, già là khổ, bệnh
là khổ, chết là khổ, sầu bi, khổ, ưu não là khổ. Ðiều
mong cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là
khổ. Này các Tỷ-kheo, đây là Khổ Thánh đế.
11.- Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là Thánh đế về Khổ tập?
Vô minh duyên hành, hành duyên thức,
thức duyên sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc,
xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu,
hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não.
Như vầy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ tập.
12.-Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là Thánh đế về Khổ diệt?
Do vô minh diệt không có tàn dư,
nên các hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt. Do thức
diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt.
Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt.
Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ
diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt
nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não đều diệt. Như vầy
là sự đoạn diệt toàn bộ của khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo,
Ðây gọi là Thánh đế về Khổ diệt.
13.-Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là Thánh đế về con đường đưa đến Khổ diệt?
Ðây là Thánh đạo Tám ngành, tức
là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là Thánh đế về con đường đưa đến Khổ diệt.
Bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo,
do Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không có uế nhiễm,
không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có
trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên
này được nói đến.
62.- Các Sợ Hãi.
1. - Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo,
làm chia rẽ mẹ con, được người phàm phu không học nói
đến. Thế nào là ba?
Có một thời, này các Tỷ-kheo,
một hỏa tai lớn khởi lên. Khi hỏa tai lớn này khởi lên,naỹ
các Tỹ Kheo, các làng bị thiêu, các thị trấn lớn bị thiêu,
các thành phố bị thiêu. Khi các làng bị thiêu, các thị trấn
lớn bị thiêu, các thành phố bị thiêu, mẹ không tìm được
con, con không tìm được mẹ. Ðây là sợ hãi thứ nhất, này
các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không
học nói đến.
2.- Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một
thời có mưa lớn khởi lên. Khi mưa lớn khởi lên, này các
Tỷ-kheo, lụt lội lớn sanh khởi. Do có lụt lớn sanh khởi,
nên các làng bị cuốn trôi, các thị trấn bị cuốn trôi,
các thành phố bị cuốn trôi. Khi các làng bị cuốn trôi,
các thị trấn bị cuốn trôi, các thành phố bị cuốn trôi,
mẹ không tìm được con, con không tìm được mẹ. Ðây là
sợ hãi thứ hai, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được
kẻ phàm phu không học nói đến.
3.- Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một
thời có sợ hãi về giặc cướp rừng nổi lên, và dân chúng
leo lên xe chạy trốn. Khi sợ hãi giặc cướp rừng nổi lên,
này các Tỷ-kheo, khi dân chúng leo lên xe chạy trốn, mẹ không
tìm được con, con không tìm được mẹ. Ðây là sợ hãi thứ
ba, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu
không học nói đến.
Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo,
làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.
4.- Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo,
có khi chia rẽ mẹ con, có khi không chia rẽ mẹ con, được
kẻ phàm phu không học nói đến. Thế nào là ba?
Có một thời, này các Tỷ-kheo,
một hỏa tai lớn khởi lên. Khi hỏa tai lớn này khởi lên,
này các Tỹ Kheo, các làng bị thiêu, các thị trấn lớn bị
thiêu, các thành phố bị thiêu. Khi các làng bị thiêu, các
thị trấn lớn bị thiêu, các thành phố bị thiêu, trong khi
ấy, có thời có trường hợp mẹ có thể tìm được con,
con có thể tìm được mẹ. Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi
thứ nhất, có khi làm chia rẽ mẹ con, có khi không làm chia
rẽ mẹ con, được kẽ phàm phu không học nói đến.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một
thời có mưa lớn khởi lên. Do có thủy tai lớn sanh khởi
nên các làng bị cuốn trôi, các thị trấn bị cuốn trôi,
các thành phố bị cuốn trôi. Khi các thành phố bị cuốn
trôi, trong khi ấy, có thời có trường hợp mẹ có thể tìm
được con, con có thể tìm được mẹ. Này các Tỷ-kheo, đây
là sợ hãi thứ hai, có khi làm chia rẽ mẹ con, có khi không
làm chia rẽ mẹ con, được kẽ phàm phu không học nói đến.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một
thời có sợ hãi về giặc cướp rừng nổi lên. Và dân chúng
leo lên xe chạy trốn. Khi sợ hãi về giặc cướp rừng nổi
nên, này các Tỷ-kheo, khi dân chúng leo lên xe chạy trốn, trong
khi ấy, có thời có trường hợp mẹ có thể tìm được con,
con có thể tìm được mẹ. Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi
thứ ba, có khi làm chia rẽ mẹ con, có khi không làm chia rẽ
mẹ con, được kẽ phàm phu không học nói đến.
Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo,
có khi làm chia rẽ mẹ con, có khi không làm chia re mẹ con,
được kẽ phàm phu không học nói đến.
5.-Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo,
làm chia rẽ mẹ con. Thế nào là ba?
Sợ hãi về già, sợ hãi về bệnh,
sợ hãi về chết.
Này các Tỷ-kheo, mẹ không muốn
con mình bị già: "Ta nay bị già, mong rằng con Ta không bị
già!". Hay người con không muốn mẹ mình bị già: "Ta nay bị
già, mong rằng mẹ Ta không bị già!".
Này các Tỷ-kheo, mẹ không muốn
con mình bị bệnh: "Ta nay bị bệnh, mong rằng con Ta không bị
bệnh!". Hay con không muốn mẹ mình bị bệnh: "Ta nay bị già,
mong rằng mẹ Ta không bị bệnh!".
Này các Tỷ-kheo, mẹ không muốn
con mình bị chết: "Ta nay bị chết, mong rằng con Ta không bị
chết!". Hay người con không muốn mẹ mình bị chết: "Ta nay
bị chết, mong rằng mẹ Ta không bị chết!". Ðây là ba sợ
hãi, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con.
6.- Có con đường, này các Tỷ-kheo,
có đạo lộ đưa đến từ bỏ, vượt qua ba sợ hãi, không
làm chia rẽ mẹ con này, và ba sợ hãi làm chia rẽ mẹ con
này. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường, thế nào
là đạo lộ đưa đến từ bỏ, vượt qua ba sợ hãi không
làm chia rẽ mẹ con này, và ba sợ hãi làm chia rẽ mẹ con
này?
Ðây là con đường Thánh Tám ngành,
tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây
là con đường, này các Tỷ-kheo, đây là đạo lộ là đưa
đến từ bỏ, vượt qua ba sợ hãi không làm chia rẽ mẹ con
này, và ba sợ hãi làm chia rẽ mẹ con này.
63.- Venaga
1-7
1. Một thời, Thế Tôn đang đi du
hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi
đến một làng Bà-la-môn Kosala, tên là Venàgapura. Các gia chủ
Bà-la-môn ở Venàgapura được nghe: "Sa-môn Gotama, dòng họ
Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca đến Venàgapura. Tiếng
đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama:
"Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhân sư, Phật, Thế Tôn. Ngài với thắng
trí, tự thân chứng ngộ và tuyên bố về thế giới này,
cùng với Thiên Giới, Ma Giới, Phạm Thiên Giới, cùng với
chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời. Ngài thuyết pháp, sơ
thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, và giới
thiệu đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch".
Tốt đẹp thay được chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy".
2. Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở
Venàgapura đi đến Thế Tôn, sau khi đến, có người đảnh
lễ Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên; có người nói
lên với Sa-môn Gotama những lời chào đón hỏi thăm rồi ngồi
xuống một bên; Ccó người chắp tay vái chào Sa-môn Gotama
rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên và dòng họ
rồi ngồi xuống một bên; có người im lặng rồi ngồi xuống
một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vacchagotta, người
xứ Venàgapura bạch Thế Tôn:
3- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Các căn của Tôn giả Gotama
thật trong sáng, màu da thật thanh tịnh chói sáng. Ví như,
thưa Tôn giả Gotama, trái táo vàng vào mùa thu, được thanh
tịnh chói sáng; cũng vậy, các căn của Tôn giả Gotama thật
trong sáng, màu da thật thanh tịnh chói sáng. Ví như, thưa Tôn
giả Gotama, trái cây tala chín vừa rời khỏi cành, thanh tịnh,
chói sáng; cũng vậy, các căn của Tôn giả Gotama thật trong
sáng, màu da thật thanh tịnh, chói sáng. Ví như, thưa Tôn giả
Gotama, một đồ trang sức bằng vàng đỏ, được người thợ
vàng thiện xảo khéo luyện trong lò, khéo đạp và đặt tên
tấm vải vàng, được chiếu sáng, chói sáng, rực sáng; cũng
vậy, các căn của Tôn giả Gotama thật trong sáng, màu da thật
thanh tịnh chói sáng.
Thưa Tôn giả Gotama, còn các giường
cao và lớn như ghế bành, nệm trải giường bằng lông cừu,
vải trải giường nhiều tấm, nhiều màu, chăn len trắng,
chăn len thêu bông nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền
bằng lông thú cả hai phía, mền bằng lông thú một phía,
mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm thảm lớn có thể
chứa mười sáu người múa, nệm voi, nệm ngựa, nệm xe, nệm
bằng da sơn dương khâu lại với nhau, nệm bằng da con sơn
dương gọi là Kadali, tấm thảm có lầu che phía trên, ghế
dài có hai đầu gối chân màu đỏ. Các loại giường cao và
giường lớn như vậy, chắc Tôn giả Gotama có được không
khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí
sức?
4. - Này Bà-la-môn, các giường cao
và lớn ấy, như ghế bành ... có hai đầu gối chân màu đỏ,
thật rất khó được các vật ấy. Và nếu có được, cũng
không thích hợp với những người xuất gia.
Này Bà-la-môn, có ba loại giường
cao và giường lớn này, nay Ta được chúng không khó khăn,
có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Thế
nào là ba?
Giường cao, giường lớn chư Thiên,
giường cao, giường lớn Phạm thiên, giường cao, giường
lớn Bậc thánh. Ba giường cao, giường lớn này, này Bà-la-môn,
Ta được chúng không khó khăn, có được không mệt nhọc,
có được không phí sức.
5- Và thưa Tôn giả Gotama, thế nào
là giường cao, giường lớn chư Thiên, mà Tôn giả Gotama được
không có khó khăn ... được chúng không có phí sức?
Ở đây, này Bà-la-môn, Ta sống
gần một làng hay một thị trấn. Buổi sáng, Ta đắp y, cầm
y bát, đi vào làng ấy hay vaò thị trấn ấy để khất thực.
Sau khi ăn xong, trên con đường đi khất thực trở về, Ta
đi đến góc cuối của ngôi rừng. Ở tại đấy, Ta lượm
cỏ hay là chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già,
lưng thẳng, để niệm trước mặt, ly dục, ly pháp bất thiện,
Ta chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc
do ly dục sanh, có tầm có tứ. Làm cho chỉ tịnh tầm và tứ,
Ta chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm.
Ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ
mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng đạt
và an trú Thiền thứ ba. Ðoạn lạc và đoạn khổ, chấm dứt
hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng đạt và an trú Thiền
thứ tư, không khổ lạc, xả niệm thanh tịnh.
Này Bà-la-môn, trong trạng thái như
vậy, nếu ta đi kinh hành, thời trong lúc ấy, chỗ kinh hành
của Ta thuộc chư Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như
vậy, nếu ta đứng, thời trong lúc ấy, chỗ đứng của Ta
thuộc chư Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy,
nếu ta ngồi, thời trong lúc ấy, chỗ ngồi của ta thuộc
Chư Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta
nằm, thời trong lúc ấy giường cao và giường lớn cuả Ta
thuộc chư Thiên. Này Bà-la-môn, đây là giường cao, giường
lớn thuộc chư Thiên, mà Ta có được không khó khăn, được
chúng không có mệt nhọc, được chúng không phí sức.
- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Ai khác, ngoài Tôn giả Gotama,
có thể có được giường cao, giường lớn chư Thiên như
vậy, được chúng không có khó khăn, được chúng không có
mệt nhọc, được chúng không có phí sức!
6. -Thế nào, thưa Tôn giả Gotama,
thế nào là giường cao, giường lớn Phạm thiên, mà Tôn giả
Gotama được chúng không khó khăn, được chúng không mệt
nhọc, được chúng không phí sức?
Ở đây, này Bà-la-môn, Ta sống
gần một làng hay một thị trấn. Buổi sáng, Ta đắp y, cầm
y bát, đi vào làng ấy hay thị trấn ấy để khất thực.
Sau khi ăn xong, trên con đường đi khất thực trở về, Ta
đi đến góc cuối của ngôi rừng. Ở tại đấy, Ta lượm
cỏ hay là chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già,
lưng thẳng, để niệm trước mặt. Ta an trú, biến mãn một
phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai,
cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy,
cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương
xứ cùng khắp vô biên giới.Ta an trú biến mãn với tâm câu
hữu với từ, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận,
không sân. Với tâm câu hữu với bi, ... Với tâm câu hữu
với hỷ, ... Với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương
thứ hai ... quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không
sân.
Này Bà-la-môn, trong trạng thái như
vậy, nếu ta đi kinh hành, thời trong lúc ấy, chỗ kinh hành
của Ta thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như
vậy, nếu ta đứng, thời trong lúc ấy, chỗ đứng của Ta
thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy,
nếu ta ngồi, thời trong lúc ấy, chỗ Ta ngồi thuộc Phạm
Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu Ta nằm,
thời trong lúc ấy, các giường cao giường lớn của Ta thuộc
Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, đây là giường cao, giường lớn
thuộc Phạm Thiên, mà Ta có được không khó khăn, được
chúng không có mệt nhọc, được chúng không phí
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Ai khác, ngoài Tôn giả Gotama,
có thể có được giường cao, giường lớn Phạm Thiên như
vậy, được chúng không có khó khăn, được chúng không có
mệt nhọc, được chúng không có phí sức!
7. Thế nào, thưa Tôn giả Gotama,
thế nào là giường cao, giường lớn bậc Thánh, mà Tôn giả
Gotama được chúng không khó khăn, được chúng không mệt
nhọc, được chúng không phí sức?
Ở đây, này Bà-la-môn, Ta sống
gần một làng hay một thị trấn. Buổi sáng, Ta đắp y, cầm
y bát, đi vào làng ấy hay thị trấn ấy để khất thực.
Sau khi ăn xong, trên con đường đi khất thực trở về, Ta
đi đến góc cuối của ngôi rừng. Ở tại đấy, Ta lượm
cỏ hay là chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già,
lưng thẳng, để niệm trước mặt. Ta biết rõ như sau: "Tham
ái đã được Ta đoạn tận, chặt đứt từ gốc rễ, làm
cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho
không thể sanh khởi trong tương lai. Sân đã được ta đoạn
tận ... trong tương lai. Si đã được Ta đoạn tận, chặt
đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không
thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai".
Này Bà-la-môn, trong trạng thái như
vậy, nếu ta đi kinh hành, thời trong lúc ấy, chỗ kinh hành
của Ta thuộc bậc Thánh. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như
vậy, nếu ta đứng, thời trong lúc ấy, chỗ đứng của Ta
thuộc bậc Thánh. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy,
nếu ta ngồi, thời trong lúc ấy, chỗ Ta ngồi thuộc bậc
Thánh. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta nằm,
thời trong lúc ấy, các giường cao, giuờng lớn, của Ta thuộc
bậc Thánh. Này Bà-la-môn, đây là giường cao, giường lớn
thuộc bậc Thánh, mà Ta có được, không có khó khăn, được
chúng không có mệt nhọc, được chúng không phí
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Ai khác, ngoài Tôn giả Gotama,
có thể có được giường cao, giường lớn bậc Thánh như
vậy, được chúng không có khó khăn, được chúng không có
mệt nhọc, được chúng không có phí sức! Thật vi diệu thay,
thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa
Tôn giả, như người dựng đứng lại những gì bị quăng
ngã xuống ... Mong Tôn giả nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ
nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
64.- Sarabha
1-6
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương
Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
Lúc bấy giờ, du sĩ Sarabha, từ
bỏ pháp và Luật này không bao lâu, đang tuyên bố như sau
với hội chúng ở Ràjagaha: "Ta đã hiểu rõ pháp của các
Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích
tử, nên ta đã từ bỏ Pháp và Luật ấy".
2. Rồi có nhiều Tỷ-kheo, vào buổi
sáng đắp y, cầm bát y đi vào Ràjagaha để khất thực. Các
vịTỳ kheo ấy, nghe du sĩ Sarabha tuyên bố như sau với hội
chúng ở Ràjagaha: "Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích
tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta
đã từ bỏ Pháp và Luật ấy".
Rồi các vị Tỷ-kheo đi khất thực
ở Ràjagaha xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế
Tôn:
- Du sĩ Sarabha, bạch Thế Tôn, đã
từ bỏ pháp và Luật này không bao lâu. Vị ấy tuyên bố:
"Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử. Và vì hiểu
rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta đã từ bỏ Pháp
và Luật ấy". Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng
lân mẫn, hãy đi đến du sĩ Sarabha!
Thế Tôn im lặng nhận lời.
3.- Thế Tôn vào buổi chiều, từ
chỗ Thiền định đứng dậy, đi đến bờ sông Sappinikàti,
khu vườn của các du sĩ, đến du sĩ Sarabha; sau khi đến, ngồi
xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn
nói với du sĩ Sarabha:
- Có thật chăng, này Sarabha, Ông
đã nói như sau: "Ta đã hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích
tử. Và vì hiểu rõ pháp của các Sa-môn Thích tử, nên ta
đã từ bỏ Pháp và Luật này "?
Khi được nghe nói như vậy, du sĩ
Sarabha giữ im lặng.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với
du sĩ Sarabha:
- Hãy nói lên, này Sarabha, Ông đã
hiểu rõ pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu Ông hiểu
chưa được đầy đủ, thời Ta sẽ làm cho được đầy đủ.
Nhưng nếu Ông hiểu được đầy đủ, thời Ta sẽ hoan hỉ
tiếp nhận.
Lần thứ hai, du sĩ Sarabha giữ im
lặng.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với du
sĩ Sarabha:
- Chính do Ta, này Sarabha, pháp các
Sa-môn Thích tử được trình bày lên. Hãy nói lên, này Sarabha,
Ông đã hiểu rõ pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu
Ông hiểu chưa được đầy đủ, thời Ta sẽ làm cho được
đầy đủ. Nhưng nếu Ông hiểu được đầy đủ, thời Ta
sẽ hoan hỉ tiếp nhận.
Lần thứ ba, du sĩ Sarabha giữ im
lặng.
Rồi các du sĩ ở Ràjagaha nói với
du sĩ Sarabha:
- Này Hiền giả, những điều gì,
Hiền giả cần hỏi Sa-môn Gotama, Sa-môn Gotama đã cho Hiền
giả có cơ hội nói lên. Hãy nói lên, này Sarabha, Hiền giả
đã hiểu pháp các Sa-môn Thích tử như thế nào? Nếu Hiền
giả hiểu chưa được đầy đủ, Sa-môn Gotama sẽ làm cho
đầy đủ. Nếu Hiền giả hiểu được đầy đủ, Sa-môn
Gotama sẽ hoan hỷ tiếp nhận.
Ðược nói như vậy, du sĩ Sarabha
giữ im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sững sờ, không
thể trả lời.
5. Rồi Thế Tôn biết được du
sĩ Sarabha đang giữ im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu,
sững sờ, ngồi không trả lời, liền nói với các du sĩ ấy:
- Này các du sĩ, ai nói với Ta như
sau: "Dầu Ông tự cho là đã Chánh Ðẳng Giác, nhưng Ông không
có Chánh Ðẳng Giác các pháp này". Ở đây, Ta sẽ khéo cật
vấn, nạn vấn, thảo luận với người ấy. Người ấy bị
ta khéo cật vấn, nạn vấn, thảo luận như vậy, không có
chỗ nào, không có trường hợp nào, ngoài cách dựa vào một
trong ba thái độ như sau: Hoặc là tránh né về vấn đề với
một vấn đề khác, sẽ hướng dẫn câu chuyện ra ngoài (đề
tài chính), hay tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, và bất mãn hay
im lặng, hoang mang, rụt vai, cúi đầu, sững sở, không nói
gì, như du sĩ Sarabha.
Này các du sĩ, nếu có ai nói về
ta như sau: "Dầu Ông tự cho đã đoạn tận các lậu hoặc,
nhưng các lậu hoặc này chưa được đoạn tận!". Ở đây,
Ta sẽ cật vấn, nạn vấn, chất vấn người ấy. Người
ấy bị Ta cật vấn, nạn vấn, chất vấn ... sững sờ không
nói gì, như du sĩ Sarabha.
Này các du sĩ, nếu có ai nói về
Ta như sau: "Pháp Ông thuyết giảng với mục đích chơn chánh
đoạn tận khổ đau, không có đưa người thực hành đến
mục đích ấy". Ở đây, Ta sẽ cật vấn, nạn vấn, chất
vấn người ấy. Người ấy bị Ta cật vấn, nạn vấn, chất
vấn ... sững sờ không nói gì, như du sĩ Sarabha.
Rồi Thế Tôn, tại khu vườn các
du sĩ, trên bờ sông Sappinnikàti, sau khi rống lên ba lần tiếng
rống con sư tử, liền ra đi trên hư không.
6. Các du sĩ ấy, sau khi Thế Tôn
ra đi không bao lâu, liền bao vây du sĩ Sarabha, công kích du
sĩ Sarabha với những dòng nước nhiếc mắng như sau:
- "Này Hiền giả Sarabha, như con
dã can già yếu trong rừng rậm nghĩ rằng: "Ta sẽ rống tiếng
con Sư tử", nhưng nó chỉ thốt ra tiếng rú con dã can, chỉ
thốt ra tiếng rú con thú ăn thịt. Cũng vậy, này Hiền giả
Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama có thể có tiếng rống con sư tử,
Ông nghĩ: "Ta sẽ rống tiếng rống con sư tử", nhưng Ông chỉ
thốt ra tiếng rú con giã can, chỉ thốt ra tiếng rú con thú
ăn thịt.
Ví như, này Hiền giả Sarabha, con
gà con nghĩ rằng: "Ta sẽ gáy lên tiếng gáy con gà trống",
nhưng nó chỉ có thể thốt ra tiếng kêu con gà con. Cũng vậy,
này Hiền giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama có thể gáy lên tiếng
áy gà trống, Ông nghĩ: "Ta có thể gáy lên tiếng gáy con gà
trống", nhưng Ông chỉ thốt ra tiếng gáy con gà con.
Ví như, con bò cái con, này Hiền
giả Sarabha, khi chuồng bò trống không, nghĩ rằng có thể
rống tiếng rống sâu đậm con bò đực. Cũng vậy, này Hiền
giả Sarabha, ngoài Sa-môn Gotama ra, Ông nghĩ rằng Ông có thể
rống lên tiếng rống sâu đậm con bò đực.
Như vậy, các du sĩ ấy bao vây du
sĩ Sarabha, công kích du sĩ Sarabha với những dòng nước nhiếc
mắng như vậy.
65.- Các Vị Ở Kesaputta
1-17
1.- Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn đang đi du hành
giữa dân chúng Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến
thị trấn của các người Kàlàmà tên là Kesaputta. Các người
Kàlàmà ở Kesaputta được nghe: "Sa-môn Gotama là Thích tử,
xuất gia từ dòng họ Thích ca đã đến Kesaputta. Tiếng đồn
tốt đẹp như sau được truyền đi về Sa-môn Gotama: "Ngài
là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ... ". Lành thay,
nếu chúng tôi được yết kiến một vị A-la-hán như vậy".
2.- Rồi các người Kàlàmà ở Kesaputta
đi đến Thế Tôn; sau khi đến, có người đảnh lễ Thế
Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người nói lên với Thế
Tôn những lời chào đón thăm hỏi, sau khi nói lên những lời
chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên; có
người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên;
có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên;
có người im lặng rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi
xuống một bên, các người Kàlàmà ở Kesaputta bạch Thế
Tôn:
- Có một số Sa-môn, Bà-la-môn,
bạch Thế Tôn, đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói
sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người
khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Bạch Thế Tôn, và một
số Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng đi đến Kesaputta, Họ làm sáng
tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích
quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Ðối
với họ, bạch Thế Tôn, chúng con có những nghi ngờ phân
vân: "Trong những Tôn giả Sa-môn này, ai nói sự thật, ai nói
láo?"
3. - Ðương nhiên, này các Kàlàmà,
các Ông có những nghi ngờ! Ðương nhiên, này các Kàlàmà,
các Ông có những phân vân! Trong những trường hợp đáng
nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên phân vân.
Này các Kàlàmà, chớ có tin vì
nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ
có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh
Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình;
chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì
đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp
với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền,
chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng
này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp
này là bất thiện; Các pháp này là có tội; Các pháp này
bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực
hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau", thời
này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!
4. - Các Ông nghĩ thế nào, này Kàlàmà!
Lòng tham khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như
vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
- Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người này có tham, này các Kàlàmà,
bị tham chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật,
lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ
người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người
ấy bất hạng đau khổ lâu dài hay không?
- Thua có, bạch Thế Tôn.
5. - Các Ông nghĩ thế nào, này các
Kàlàmà, lòng sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi
lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
- Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người này có sân, này các Kàlàmà,
bị sân chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật,
lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ
người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người
ấy bất hạng đau khổ lâu dài hay không?
- Thua có, bạch Thế Tôn..
6. - Các Ông nghĩ thế nào, này các
Kàlàmà, lòng si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi
lên như v