V. Phẩm
Hội Chúng
1-10
1.- Này các Tỷ-kheo, có hai loại
hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng nông nổi và hội
chúng thâm sâu. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng
nông nổi? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào có
các Tỷ-kheo tháo động, kiêu căng, lắm mồm lắm miệng, lắm
lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán
loạn, các căn thả lỏng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội
chúng nông nổi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng thâm sâu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng
nào có các Tỷ-kheo, không tháo động, không kiêu căng, không
dao động, không lắm mồm lắm miệng, không lắm lời, không
thất niệm, tỉnh giác, có định tĩnh, có nhất tâm, có các
căn được bảo vệ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng
thâm sâu.
Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng
này. Hội chúng tối thượng giữa hai hội chúng này, này các
Tỷ-kheo, tức là hội chúng thâm sâu.
2. Có hai loại hội chúng này, này
các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Hội chúng bất hòa và hội chúng
hòa hợp. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng bất
hòa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo
sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng
binh khí miệng lưỡi, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng
bất hòa.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng hòa hợp? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng
nào, các Tỷ-kheo hòa hợp, hòa kính, không có đấu tranh, hòa
hợp như sữa với nước, sống nhìn nhau với cặp mắt từ
ái, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng hòa hợp.
Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng
này. Hội chúng tối thượng giữa hai hội chúng này, này các
Tỷ-kheo, tức là hội chúng hòa hợp.
3. Có hai loại hội chúng này, này
các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Hội chúng không thù thắng và
hội chúng thù thắng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội
chúng không thù thắng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội
chúng nào, các trưởng lão Tỷ-kheo sống trong sự đầy đủ,
lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng
sống viễn ly, không có gia sức tinh tấn để đạt đến những
gì chưa đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để
ngộ được những gì chưa ngộ. Còn lớp hậu nhân, tùy thuộc
hậu kiến của họ, sống trong sự đầy đủ, biếng nhác,
dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly,
không có gia sức tinh tấn để đạt được những gì chưa
đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để ngộ được
những gì chưa ngộ.. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng
không thù thắng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng thù thắng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội
chúng nào, các trưởng lão Tỷ-kheo không sống trong sự đầy
đủ, không lười biếng, từ bỏ não hại nặng đọa lạc,
dẫn đầu trong đời sống viễn ly, có gia sức tinh tấn để
đạt đến những gì chưa đạt, để chứng được những
gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ. Còn lớp
hậu nhân, tùy thuận hậu kiến của họ, không sống trong
sự đầy đủ, không biếng nhác, từ bỏ gánh nặng đọa
lạc, dẫn đầu trong đời sống viễn ly, có gia sức tinh tấn
để đạt được những gì chưa đạt, để chứng được
những gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ..
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng thù thắng.
Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng
này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các
Tỷ-kheo, tức là hội chúng thù thắng.
4. Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng
này. Thế nào là hai? Hội chúng không phải Thánh và hội chúng
bậc Thánh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng không
phải Thánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào,
các Tỷ-kheo không như thật rõ biết: "Ðây là khổ"; không
như thật rõ biết: "Ðây là khổ tập"; không như thật rõ
biết: "Ðây là khổ diệt"; không như thật rõ biết: "Ðây
là con đường đưa đến khổ diệt". Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là hội chúng không phải Thánh.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng bậc Thánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội
chúng nào, các Tỷ-kheo như thật rõ biết: "Ðây là khổ";
như thật rõ biết: "Ðây là khổ tập"; như thật rõ biết:
"Ðây là khổ diệt"; như thật rõ biết: "Ðây là con đường
đưa đến khổ diệt". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội
chúng bậc Thánh.
Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng
này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các
Tỷ-kheo, tức là hội chúng bậc Thánh.
5. Này các Tỷ-kheo, có hai loại
hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng cặn bã và hội
chúng tinh ba. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng cặn
bã? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo
đi đến con đường dục, đi đến con đường sân, đi đến
con đường si, đi đến con đường sợ hãi, này các Tỷ-kheo,
đây gọi là hội chúng cặn bã.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng tinh ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng
nào, các Tỷ-kheo không đi đến con đường dục, không đi
đến con đường sân, không đi đến con đường si, không đi
đến con đường sợ hãi, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội
chúng tinh ba.
Này các Tỷ-kheo, đây là hai hội
chúng này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này
các Tỷ-kheo, tức là hội chúng tinh ba.
6. Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng
này. Thế nào là hai? Hội chúng được huấn luyện trong khoa
trương, không được huấn luyện trong chất vấn và hội chúng
được huấn luyện trong chất vấn, không được huấn luyện
trong khoa trương. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng
được huấn luyện trong khoa trương, không được huấn luyện
trong chất vấn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng
nào, các Tỷ-kheo đối với các kinh điển do Như Lai tuyên
thuyết, thâm sâu, ý nghĩa siêu kín, siêu thế, liên hệ đến
không, khi các kinh điển ấy được thuyết giảng, họ không
khéo nghe, không lóng tai, không an trú tâm để hiểu biết chúng,
không nghĩ rằng các pháp ấy cần phải lãnh thọ, cần phải
học thuộc lòng. Nhưng đối với các kinh điển thi văn do
thi sĩ làm ra, với các nguyên âm hoa mỹ, với các phụ âm
hoa mỹ, các kinh thuộc ngoại giáo, được các đệ tử ngoại
giáo nói lên, khi các kinh điển ấy được thuyết giảng,
họ khéo nghe, họ lóng tai, họ an trú tâm để hiểu biết
chúng, họ nghĩ rằng các pháp ấy cần phải lãnh thọ, cần
phải học thuộc lòng. Và sau khi học thuộc lòng các pháp
ấy, họ không hỏi đi hỏi lại cùng nhau, không có mở rộng
ra để thảo luận với những câu hỏi như: "Cái này là gì?
Thế nào là ý nghĩa của cái này?" Họ không mở rộng những
gì được che kín, hạng không phới bày những gì không được
phơi bày, họ không giải nghi về những điểm nghi vấn trong
Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng được
huấn luyện trong khoa trương, không được huấn luyện trong
chất vấn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng được huấn luyện trong chất vấn, không được
huấn luyện trong khoa trương? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại
hội chúng nào, các Tỷ-kheo đối với các kinh điển thi văn
do thi sĩ làm ra, với các nguyên âm hoa mỹ, với các phụ âm
hoa mỹ, các kinh thuộc ngoại giáo, được các đệ tử ngoại
giáo nói lên, khi các kinh điển ấy được thuyết giảng,
họ không khéo nghe, họ không lóng tai, họ không an trú tâm
để hiểu biết chúng, họ không nghĩ rằng các pháp ấy cần
phải lãnh thọ, cần phải học thuộc lòng. Nhưng đối với
các kinh điển do Như Lai tuyên thuyết, thâm sâu, ý nghĩa siêu
kín, siêu thế, liên hệ đến không, khi các kinh điển ấy
được thuyết giảng, họ khéo nghe, lóng tai, họ an trú tâm
để hiểu biết chúng, họ nghĩ rằng các pháp ấy cần phải
lãnh thọ, cần phải học thuộc lòng. Và sau khi học thuộc
lòng các pháp ấy, họ hỏi đi hỏi lại cùng nhau, họ mở
rộng ra để thảo luận với những câu hỏi như sau : "Cái
này là gì? Thế nào là ý nghĩa của cái này?" Họ mở rộng
những gì được che kín, họ phới bày những gì không được
phơi bày, họ giải nghi về các điểm nghi vấn trong Chánh
pháp. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng được huấn
luyện trong chất vấn, không được huấn luyện trong khoa trương.
Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng
này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các
Tỷ-kheo, tức là hội chúng được huấn luyện trong chất
vấn, không được huấn luyện trong khoa trương.
7. Này các Tỷ-kheo, có hai loại
hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng tôn trọng tài vật,
không tôn trọng diệu pháp và hội chúng tôn trong diệu pháp,
không tôn trọng tài vật. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng tôn trọng tài vật, không tôn trọng diệu pháp?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo
trước mặt các gia chủ bận áo trắng, tự tán thán lẫn
nhau như sau: "Tỷ-kheo này là bậc giải thoát cả hai phần,
Tỷ-kheo này là bậc tuệ giải thoát, Tỷ-kheo nàylà bậc Thân
chứng, Tỷ-kheo này là bậc Kiến chí, Tỷ-kheo này là bậc
Tín giải thoát, Tỷ-kheo này là bậc Tuệ giải thoát, Tỷ-kheo
này là bậc Tùy pháp hành, Tỷ-kheo này là bậc Tùy tín hành,
Tỷ-kheo này là bậc có giới hạnh, theo thiện pháp, Tỷ-kheo
này là kẻ Ác giới, theo Ác pháp". Do vậy, họ được các
lợi dưỡng. Sau khi được các lợi dưỡng, họ thọ hưởng,
bị trói buộc, mê say, đắm trước, không thấy các sự nguy
hại, không hiểu rõ sự giải thoát khỏi các lợi dưỡng
ấy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng tôn trọng tài
vật, không tôn trọng diệu pháp.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng tôn trọng diệu pháp, không tôn trọng tài vật?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo
trước mặt các gia chủ bận áo trắng, không tự tán thán
lẫn nhau như sau: "Tỷ-kheo này là bậc giải thoát cả hai phần,
Tỷ-kheo này là bậc tuệ giải thoát, Tỷ-kheo này là bậc
Thân chứng, Tỷ-kheo này là bậc Kiến chí, Tỷ-kheo này là
bậc Tín giải thoát, Tỷ-kheo này là bậc Tùy pháp hành, Tỷ-kheo
này là bậc Tùy tín hành, Tỷ-kheo này là bậc có giới hạnh,
theo thiện pháp, Tỷ-kheo này là kẻ Ác giới, theo Ác pháp".
Do vậy, họ được các lợi dưỡng, họ thọ hưởng các lợi
dưỡng ấy, không bị trói buộc, không bị mê say, không đắm
trước, thấy các sự nguy hại, hiểu rõ sự giải thoát khỏi
các lợi dưỡng ấy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng
tôn trọng diệu pháp, không tôn trọng tài vật. Này các Tỷ-kheo,
có hai loại hội chúng này. Hội chúng tối thắng trong hai
hội chúng này, này các Tỷ-kheo, tức là hội chúng tôn trọng
diệu pháp, không tôn trọng tài vật.
8. Này các Tỷ-kheo, có hai loại
hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng không đồng đẳng
và hội chúng đồng đẳng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng không đồng đẳng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại
hội chúng nào, nghiệp phi pháp được thi hành, nghiệp đúng
pháp không được thi hành, nghiệp phi luật được thi hành,
nghiệp đúng luật không được thi hành, nghiệp phi pháp được
phát huy, nghiệp đúng pháp không được phát huy, nghiệp phi
luật được phát huy, nghiệp đúng luật không được phát
huy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng không đồng đẳng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng đồng đẳng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội
chúng nào, nghiệp đúng pháp được thi hành, nghiệp phi pháp
không được thi hành, nghiệp đúng luật được thi hành, nghiệp
phi luật không được thi hành, nghiệp đúng pháp được phát
huy, nghiệp phi pháp không được phát huy, nghiệp đúng luật
được phát huy, nghiệp phi luật không được phát huy. Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng đồng đẳng. Này các
Tỷ Kheo, có hai loại hội chúng này. Hội chúng tối thắng
trong hai hội chúng này tứ là hội chúng đồng đẳng.
9. Này các Tỷ-kheo, có hai loại
hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng phi pháp và hội
chúng đúng pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai hội chúng này. Hội
chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỷ-kheo,
tức là hội chúng đúng pháp.
10. Này các Tỷ-kheo, có hai loại
hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng thuyết phi pháp
và hội chúng thuyết đúng pháp. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là hội chúng thuyết phi pháp? Ở đây, này các Tỷ-kheo,
tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo khởi sự tranh tụng hợp
pháp hay phi pháp. Sau khi khởi lên sự tranh tụng ấy, họ không
tin cho nhau biết và không tìm cách tin cho nhau biết, họ không
hòa giải cùng nhau và không tìm cách đi đến hòa giải. Họ
cương quyết không tin cho nhau biết, họ cương quyết không
hòa giải với nhau, họ không từ bỏ tranh tụng ấy, họ kiên
trì tranh tụng ấy, chấp thủ, thiên chấp và tuyên bố: "Chỉ
có đây mới là sự thật, ngoài ra là hư ngụy". Này các Tỷ-kheo,
đây là hội chúng thuyết phi pháp.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
hội chúng thuyết đúng pháp? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại
hội chúng nào, các Tỷ-kheo khởi lên sự tranh tụng hợp pháp
hay phi pháp. Sau khi khởi lên sự tranh tụng ấy, họ tin cho
nhau biết và tìm cách tin cho nhau biết, họ hòa giải cùng
nhau và tìm cách đi đến hòa giải. Họ cương quyết tin cho
nhau biết và cương quyết hòa giải với nhau, họ từ bỏ
tranh tụng ấy, họ không kiên trì tranh tụng ấy, không chấp
thủ, không thiên chấp và không tuyên bố: "Chỉ có đây là
sự thật, ngoài ra là hư ngụy". Này các Tỷ-kheo, đây là
hội chúng thuyết đúng pháp.
Này các Tỷ-kheo, có hai loại hội
chúng này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, tức
là hội chúng thuyết đúng pháp.
VI. Phẩm Người
1.- Có hai hạng người này, này
các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa
lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho
đa số, đưa lại hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài
Người. Thế nào là hai? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác và Chuyển Luân Vương. Những người này, này các Tỷ-kheo,
khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa lại hạnh phúc
cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đưa lại
hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.
2. Có hai hạng người này, này các
Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, là sự xuất hiện của những
người vi diệu. Thế nào là hai? Như Lai và Chuyển Luân Vương.
Những người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời,
là sự xuất hiện của những người vi diệu.
3. Có hai hạng người khi mệnh chung,
này các Tỷ-kheo, đưa lại thương tiếc cho đa số. Thế nào
là hai? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Chuyển Luân
Vương. Hai hạng người này khi mạng chung, này các Tỷ-kheo,
đưa lại thương tiếc cho đa số.
4. Hai hạng người này, này các
Tỷ-kheo, xứng đáng để xây tháp. Thế nào là hai? Như Lai
và Chuyển Luân Vương. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo,
xứng đáng để xây tháp.
5. Có hai bậc Giác ngộ này, này
các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Như Lai, bậc ng Cúng, Chánh Ðẳng
Giác, và Ðộc Giác Phật. Những vị này, này các Tỷ-kheo,
là hai bậc Giác ngộ.
6. Hai (sanh) loại này, này các Tỷ-kheo,
không bị sét đánh làm cho sợ hãi. Thế nào là hai? Tỷ-kheo
đoạn tận các lậu hoặc và con voi thuần chủng. Hai (sanh)
loại này, này các Tỷ-kheo, không bị sét đánh làm cho sợ
hãi.
7. Hai (sanh) loại này, này các Tỷ-kheo,
không bị sét đánh làm cho sợ hãi. Thế nào là hai? Tỷ-kheo
đoạn tận các lậu hoặc và con ngựa nòi giống tốt. Hai
(sanh) loại này, này các Tỷ-kheo, không bị sét đánh làm cho
sợ hãi.
8. ... (như trên, chỉ thay vào
"Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc và con sư tử, vua các loài
thú") ...
9. Do thấy hai lý do này, này các
Tỷ-kheo, các loài Kimpurisà (phi nhân, khẩn-na-la) không nói
lên tiếng người. Thế nào là hai? "Chúng ta chớ có nói láo
và chúng ta chớ có xuyên tạc người khác với điều không
thật". Do thấy hai lý do này, này các Tỷ-kheo, các loài Kimpurisà
không nói lên tiếng người.
10. Có hai điều, này các Tỷ-kheo,
người phụ nữ khi lâm chung chưa được thỏa mãn, chưa được
vừa đủ. Thế nào là hai? Sự giao cấu và sanh con. Hai điều
này, này các Tỷ-kheo, người phụ nữ khi lâm chung chưa được
thỏa mãn, chưa được vừa đủ.
11. Ta sẽ giảng cho các Thầy, này
các Tỷ-kheo, về sự cộng trú của người bất thiện và
sự cộng trú của người thiện. Hãy nghe và khéo tác ý, ta
sẽ nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế
Tôn. Thế tôn nói như sau:
- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
sự cộng trú của người bất thiện và thế nào là người
bất thiện cộng trú với nhau? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị
trưởng lão Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Mong rằng vị trưởng
lão không nói với ta, vị trung niên không nói với ta, vị
tân học không nói với ta, và ta cũng không nói với vị trưởng
lão, ta cũng không nói với vị trung niên, ta cũng không nói
với vị tân học! Nếu vị trưởng lão nói với ta, vị ấy
nói với ta với ý muốn làm hại ta, không phải vì hạnh phúc
cho ta. Ta hãy nói "không" với vị ấy, ta hãy làm cho vị ấy
phật lòng, và nếu thấy vị ấy nói đúng, ta không có đáp
ứng thích hợp. Nếu vị trung niên nói với ta, ... Nếu vị
tân học nói với ta, vị ấy nói với ta với ý muốn làm
hại ta, không phải vì hạnh phúc cho ta. Ta hãy nói "không"
với vị ấy, ta hãy làm cho vị ấy phật lòng, và nếu thấy
vị ấy nói đúng, ta không có đáp ứng thích hợp". Vị trung
niên Tỷ-kheo suy nghĩ như sau ... vị tân học Tỷ-kheo suy nghĩ
như sau ... . Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự cộng trú của
người bất thiện và như vậy là người bất thiện cộng
trú với nhau.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
sự cộng trú của người thiện và thế nào là người thiện
cộng trú với nhau? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị trưởng
lão Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Mong rằng vị trưởng lão nói
với ta, vị trung niên nói với ta, vị tân học nói với ta.
Ta cũng sẽ nói với vị trưởng lão, cũng sẽ nói với vị
trung niên, cũng sẽ nói với vị tân học! Nếu vị trưởng
lão nói với ta, vị ấy nói với ta với ý muốn hạnh phúc
cho ta, không với ý muốn làm hại ta, ta sẽ nói "lành thay"
với vị ấy, ta sẽ không làm cho vị ấy phật lòng, và nếu
thấy vị ấy nói đúng, ta có đáp ứng thích hợp. Nếu vị
trung niên nói với ta, ... Nếu vị tân học nói với ta, vị
ấy nói với ta với ý muốn hạnh phúc cho ta, không với ý
muốn làm hại ta. Ta sẽ nói "lành thay" với vị ấy, ta sẽ
không làm vị ấy phật lòng, và nếu thấy vị ấy nói đúng,
ta sẽ đáp ứng thích hợp".
Này các Tỷ-kheo, vị trung niên Tỷ-kheo
suy nghĩ như sau ...
Này các Tỷ-kheo, vị tân học Tỷ-kheo
suy nghĩ như sau: "Mong rằng vị trưởng lão nói với ta, vị
trung niên nói với ta, vị tân học nói với ta...., và nếu
thấy vị ấy nói đúng, ta sẽ đáp ứng thích hợp". Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là sự cộng trú của người thiện và như
vậy là người thiện cộng trú với nhau.
12. Trong cuộc tranh tụng nào, này
các Tỷ-kheo, cả hai phía có lời qua tiếng lại, có những
quan điểm ngoan cố, với tâm hiềm hận, ưu não, uất ức,
nội tâm không an tịnh, thời sự tranh tụng ấy, này các Tỷ-kheo,
được chờ đợi rằng sẽ đưa đến kéo dài, gay gắt, thô
bạo, và các Tỷ-kheo sẽ sống không an lạc.
Và này các Tỷ-kheo, trong cuộc tranh
tụng nào, này các Tỷ-kheo, cả hai phía có lời qua tiếng
lại, có những quan điểm ngoan cố, với tâm hiềm hận, ưu
não, uất ức, nhưng nội tâm được an tịnh, thời sự tranh
tụng ấy, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng sẽ không
kéo dài, không có gay cấn, không có thô bạo, và các Tỷ-kheo
sẽ sống an lạc.
VII. Phẩm Lạc
1.- Có hai loại lạc này, này các
Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Lạc tại gia và lạc xuất gia. Những
pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai lạc. Tối thắng trong hai
lạc này, này các Tỷ-kheo, tức là lạc xuất gia.
2. Có hai loại lạc này, này các
Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Dục lạc và viễn ly lạc. Những
pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai lạc. Tối thắng trong hai
lạc này, này các Tỷ-kheo, tức là viễn ly lạc.
3. Có hai loại lạc này, này các
Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Lạc sanh y và lạc không sanh y. Những
pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai lạc. Tối thắng trong hai
lạc này, này các Tỷ-kheo, tức là lạc không sanh y.
4-12. ... (như trên, chỉ đổi" lạc
có lậu hoặc và lạc không có lậu hoặc" ... "lạc thuộc
tài vật và lạc không thuộc tài vật" ... "lạc bậc Thánh
và lạc không phải bậc Thánh" ... "lạc thuộc thân và lạc
thuộc tâm" ... "lạc có hỷ và lạc không hỷ" ... "lạc có
hân hoan và lạc có xả" ... "lạc có định và lạc không có
định" ... "lạc với sở duyên có hỷ và lạc với sở duyên
không có hỷ" ... "lạc với sở duyên có hân hoan và lạc với
sở duyên có xả" ...
13. Có hai loại lạc này, này các
Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Lạc với sở duyên thuộc sắc và
lạc với sở duyên thuộc vô sắc. Những pháp này, này các
Tỷ-kheo, là hai lạc. Tối thắng trong hai lạc này, này các
Tỷ-kheo, tức là lạc với sở duyên thuộc vô sắc.
VIII. Phẩm Tướng
1. Này các Tỷ-kheo, các pháp ác,
bất thiện khởi lên có tướng, không phải không có tướng.
Do đoạn tận chính tướng ấy, như vậy các pháp ác, bất
thiện ấy, không có mặt.
2. Này các Tỷ-kheo, các pháp ác,
bất thiện khởi lên có nhân duyên, không phải không có nhân
duyên. Do đoạn tận chính nhân duyên ấy, như vậy các pháp
ác, bất thiện ấy, không có mặt.
3. Này các Tỷ-kheo, các pháp ác,
bất thiện khởi lên có nhân, không phải không có nhân. Do
đoạn tận chính nhân ấy, như vậy các pháp ác, bất thiện
ấy, không có mặt.
4. Này các Tỷ-kheo, các pháp ác,
bất thiện khởi lên có các hành, không phải không có các
hành. Do đoạn tận chính các hành ấy, như vậy các pháp ác,
bất thiện ấy, không có mặt.
5. Này các Tỷ-kheo, các pháp ác,
bất thiện khởi lên có duyên, không phải không có duyên.
Do đoạn tận chính duyên ấy, các pháp ác, bất thiện ấy,
không có mặt.
6-9. ... có sắc, không phải không
có sắc ... có thọ, không phải không có thọ ... có tưởng,
không phải không có tưởng ... có thức, không phải không
có thức ...
10. Này các Tỷ-kheo, các pháp ác,
bất thiện khởi lên có sở duyên hữu vi, không phải không
có sở duyên hữu vi. Do đoạn tận hữu vi ấy, như vậy các
pháp ác, bất thiện ấy, không có mặt.
IX. Phẩm Các
Pháp
1.- Này các Tỷ-kheo, có hai pháp
này. Thế nào là hai? Tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Những
pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
... Cũng vậy đối với
các pháp kế tiếp như:
2. Tinh tấn và nhất tâm.
3. Danh và sắc.
4. Minh và giải thoát.
5. Hữu kiến và vô hữu kiến.
6. Vô tàm và vô quý.
7. Tàm và quý.
8. Khó nói và ác hữu.
9. Dễ nói và thiện hữu.
10. Giới thiện xảo và tác ý thiện
xảo.
11. Này các Tỷ-kheo, có hai pháp
này. Thế nào là hai? Phạm thiện xảo và xuất Phạm thiện
xảo. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
X. Phảm Kẻ
Ngu
1-20 Kẻ Ngu
1.- Này các Tỷ-kheo, có hai loại
kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người mang gánh nặng chưa đến
và người không mang gánh nặng đã đến. Hai người này, này
các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.
2. Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền
trí này. Thế nào là hai? Người mang gánh nặng đã đến và
người không mang gánh nặng chưa đến. Hai người này, này
các Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.
3. Này các Tỷ-kheo, có hai loại
kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là hợp pháp đối
với việc không hợp pháp, và người tưởng là không hợp
pháp đối với việc hợp pháp. Hai người này, này các Tỷ-kheo,
là hai kẻ ngu.
4. Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền
trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là không hợp pháp
đối với việc không hợp pháp, và người tưởng là hợp
pháp đối với việc hợp pháp. Hai người này, này các Tỷ-kheo,
là hai bậc hiền trí.
5. Này các Tỷ-kheo, có hai loại
kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là có phạm tội
đối với việc không phạm tội, và người tưởng là không
phạm tội đối với việc có phạm tội. Hai người này, này
các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.
6. Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền
trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là không phạm tội
đối với việc không phạm tội, và người tưởng là phạm
tội đối với việc có phạm tội. Hai người này, này các
Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.
7. Này các Tỷ-kheo, có hai loại
kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là đúng pháp đối
với việc phi pháp, và người tưởng là phi pháp đối với
việc đúng pháp. Những người này, này các Tỷ-kheo, là hai
kẻ ngu.
8. Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền
trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là phi pháp đối với
việc phi pháp, và người tưởng là đúng pháp đối với việc
đúng pháp. Những người này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc
hiền trí.
9. Này các Tỷ-kheo, có hai loại
kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là đúng luật
đối với việc phi luật, và người tưởng là phi luật đối
với việc đúng luật. Những người này, này các Tỷ-kheo,
là hai kẻ ngu.
10. Này các Tỷ-kheo, có hai bậc
hiền trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là phi luật
đối với việc phi luật, và người tưởng là đúng luật
đối với việc đúng luật. Những người này, này các Tỷ-kheo,
là hai bậc hiền trí.
11. Trong hai hạng người, này các
Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người
nào? Người lo lắng những việc không đáng lo lắng, và người
không lo lắng những việc đáng lo lắng. Trong hai hạng người
này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng.
12. Trong hai hạng người, này các
Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người
nào? Người không lo lắng những việc không đáng lo lắng,
và người lo lắng những việc đáng lo lắng. Trong hai hạng
người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng.
13. Trong hai hạng người, này các
Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người
nào? Người tưởng là đúng phép đối với việc không đúng
phép, và người tưởng là không đúng phép đối với việc
đúng phép. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các
lậu hoặc tăng trưởng.
14. Trong hai hạng người, này các
Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người
nào? Người tưởng là đúng phép đối với việc đúng phép,
và người tưởng là không đúng phép đối với việc không
đúng phép. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các
lậu hoặc không tăng trưởng.
15. Trong hai hạng người, này các
Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người
nào? Người tưởng là có phạm tội đối với việc không
phạm tội, và người tưởng là không phạm tội đối với
việc có phạm tội. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo,
các lậu hoặc tăng trưởng.
16. Trong hai hạng người, này các
Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người
nào? Người tưởng là có phạm tội đối với việc có phạm
tội, và người tưởng là không phạm tội đối với việc
không phạm tội. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo,
các lậu hoặc không tăng trưởng.
17. Trong hai hạng người, này các
Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người
nào? Người tưởng là đúng pháp đối với việc phi pháp,
và người tưởng là phi pháp đối với việc đúng pháp. Trong
hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng
trưởng.
18. Trong hai hạng người, này các
Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người
nào? Người tưởng là đúng pháp đối với việc đúng pháp,
và người tưởng là phi pháp đối với việc phi pháp. Trong
hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không
tăng trưởng.
19. Trong hai hạng người, này các
Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người
nào? Người tưởng là đúng luật đối với việc phi luật,
và người tưởng là phi luật đối với việc đúng luật.
Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc
tăng trưởng.
20. Trong hai hạng người, này các
Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người
nào? Người tưởng là đúng luật đối với việc đúng luật,
và người tưởng là phi luật đối với việc phi luật. Trong
hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không
tăng trưởng.
XI. Phẩm Các
Hy Vọng
1-12 Hy Vọng
1.- Có hai hy vọng này, này các Tỷ-kheo,
khó được từ bỏ. Thế nào là hai? Hy vọng được lợi dưỡng
và hy vọng được sống. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là
hai hy vọng khó được từ bỏ.
2. Có hai hạng người này, này các
Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người
thi ân trước và người biết nhớ ơn đã làm. Hai hạng người
này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.
3. Có hai hạng người này, này các
Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người
thỏa mãn và người làm người khác thỏa mãn. Hai hạng người
này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.
4. Có hai hạng người này, này các
Tỷ-kheo, khó làm cho thỏa mãn. Thế nào là hai? Người cất
chứa các lợi dưỡng và người phung phí các lợi dưỡng.
Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng người
khó làm cho thỏa mãn.
5. Có hai hạng người này, này các
Tỷ-kheo, dễ làm thỏa mãn. Thế nào là hai? Người không cất
chứa các lợi dưỡng và người không phung phí các lợi dưỡng.
Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng người
dễ làm thỏa mãn ở đời.
6. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo,
khiến tham sanh khởi. Thế nào là hai? Tịnh tướng và không
như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên
khiến tham sanh khởi.
7. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo,
khiến sân sanh khởi. Thế nào là hai? Chướng ngại tướng
và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là
hai duyên khiến sân sanh khởi.
8. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo,
khiến tà kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của
người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các
Tỷ-kheo, là hai duyên khiến tà kiến sanh khởi.
9. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo,
khiến chánh kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của
người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các
Tỷ-kheo, là hai duyên khiến chánh kiến sanh khởi.
10. Này các Tỷ-kheo, có hai tội
phạm . Thế nào là hai? Tội phạm nhẹ và tội phạm nặng.
Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.
11. Này các Tỷ-kheo, có hai tội
phạm. Thế nào là hai? Tội phạm thô trọng và tội phạm
không thô trọng. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội
phạm.
12. Này các Tỷ-kheo, có hai tội
phạm. Thế nào là hai? Tội phạm có dư tàn và tội phạm
không có dư tàn. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội
phạm.
XII. Phẩm Hy
Cầu
1 - 11 Hy Cầu
1.- Tỷ-kheo có tín tâm, này các
Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như
sau: "Mong rằng ta sẽ như Sàriputta và Moggallàna". Ðây là cán
cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các
đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tức là Sàriputta và Moggallàna.
2. Tỷ-kheo-ni có tín tâm, này các
Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như
sau: "Mong rằng ta sẽ như Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppalavannà". Ðây
là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối
với các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tức là Tỷ-kheo-ni Khemà
và Uppalavannà.
3. Cư sĩ có tín tâm, này các Tỷ-kheo,
nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: "Mong
rằng ta sẽ như gia chủ Citta và Hatthaka ở Alavì". Ðây là
cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với
các đệ tử cư sĩ của Ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka
ở Alavì.
4. Nữ cư sĩ có tín tâm, này các
Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như
sau: "Mong rằng ta sẽ như nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantakiyà,
mẹ của Nanda". Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là
đồ đo lường đối với các đệ tử nữ cư sĩ của Ta,
tức là nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantakiyà, mẹ của Nanda.
5. Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo,
kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử
sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị
kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước. Thế nào
là hai? Không suy tư, không thẩm sát, tán thán người không
đáng được tán thán, và chỉ trích người xứng đáng được
tán thán. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng
về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một
vật bị mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí
quở trách và tạo nên nhiều vô phước.
Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo,
bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự
không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không
phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều
phước đức. Thế nào là hai? Sau khi suy tư và thẩm sát, tán
thán người đáng được tán thán, và chỉ trích người đáng
bị chỉ trích. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc
hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không
như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm
tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước
đức.
6. Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo,
kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử
sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị
kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước. Thế nào
là hai? Không có suy tư, không có thẩm sát, tự cảm thấy
tin tưởng đối với những chỗ không đáng tin tưởng, và
tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ đáng
tin tưởng. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu,
vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như
một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí
quở trách và tạo nên nhiều vô phước.
Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo,
bậc hiền trí, khôn khéo, là bậc Chân nhân, tự mình xử
sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không
phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều
phước đức. Thế nào là hai? Sau khi suy tư và thẩm sát, tự
cảm thấy không tin tưởng đối với các chỗ không đáng
tin tưởng, và tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ
đáng tin tưởng. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc
hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không
như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm
tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước
đức.
7. Do tà hạnh đối với hai (hạng
người) kẻ ngu, vụng về ... nhiều vô phước. Ðối với
hai hạng người nào? Với mẹ và với cha. Do tà hạnh đối
với hai (hạng người) này kẻ ngu, vụng về ... nhiều vô
phước.
Do chánh hạnh đối với hai (hạng
người), bậc hiền trí ... tạo nên nhiều phước đức. Ðối
với hai hạng người nào? Với mẹ và với cha. Do chánh hạnh
đối với hai (hạng người) này, bậc hiền trí ... tạo nên
nhiều phước đức.
8. Do tà hạnh đối với hai (hạng
người) kẻ ngu, vụng về ... nhiều vô phước. Ðối với
hai hạng người nào? Với Như Lai và với đệ tử của Như
Lai. Do tà hạnh đối với hai hạng người này, kẻ ngu, vụng
về ... nhiều vô phước.
Do chánh hạnh đối với hai (hạng
người), bậc hiền trí ... tạo nên nhiều phước đức. Ðối
với hai hạng người nào? Với Như Lai và với đệ tử của
Như Lai. Do chánh hạnh đối với hai (hạng người) này, bậc
hiền trí ... tạo nên nhiều phước đức.
9. Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này.
Thế nào là hai? Thanh tịnh tự tâm và không chấp thủ một
cái gì ở đời. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
10. Này các Tỷ-kheo, có hai pháp
này. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận. Các pháp này,
này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
11. Này các Tỷ-kheo, có hai pháp
này. Thế nào là hai? Nhiếp phục phẫn nộ và nhiếp phục
hiềm hận. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
XIII. Phẩm Bố
Thí
1-10 Bố Thí
1.- Này các Tỷ-kheo, có hai loại
bố thí này. Thế nào là hai? Bố thí tài vật và bố thí
pháp. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là các loại bố thí.
Tối thắng trong hai loại bố thí này, này các Tỷ-kheo, tức
là pháp thí.
2-10. (Như trên đối với các
pháp sau đây:)
Hai loại cúng dường ... Thí xả
... Biến xả ... Tài sản ... Tài sản thọ dụng chung ... Tài
sản thọ dụng đồng đẳng ... Nhiếp thọ ... Nhiếp ích ...
Ai mẫn ...
XIV. Phẩm Ðón
Chào
1-12 Ðón Chào
1-12. (Như trên đối với các
pháp sau đây:)
Ðón chào ... đón tiếp ... tầm
cầu ... tầm cầu cùng khắp ... tầm hỏi ... cúng lễ ... chiêu
đãi ... phồn vinh ... tăng trưởng ... châu báu ... tích tập
... quảng đại ...
XV. Phẩm Nhập
Ðịnh
1-17 Nhập Ðịnh (hay Thiền chứng)
1.- Này các Tỷ-kheo, có hai pháp
này. Thế nào là hai? Thiện xảo nhập định và thiện xảo
xuất định. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
2-17. (Như trên đối với các
pháp sau đây:)
2. Chất thực và nhu hòa
3. Kham nhẫn và dịu hiền
4. Hòa thuận và đón tiếp
5. Bất hại và thanh tịnh
6. Không hộ trì các căn và không
tiết độ trong ăn uống
7. Hộ trì các căn và tiết độ
trong ăn uống
8. Tư trạch lực và tu tập lực.
9. Niệm lực và định lực.
10. Chỉ và quán
11. Phá giới và phá kiến
12. Cụ túc giới và cụ túc kiến
13. Giới thanh tịnh và kiến thanh
tịnh
14. Kiến thanh tịnh và tinh tấn
như kiến
15. Không biết đủ đối với các
thiện pháp và không thiên về tinh tấn
16. Thất niệm và không tỉnh giác
17. Niệm và tỉnh giác.
XVI. Phẩm Phẫn
Nộ
1-100.
1. - Này các Tỷ-kheo, có hai pháp
này. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận. Những pháp này,
này các Tỷ-kheo, là hai pháp
(Như trên với các pháp
sau đây:)
2. Giả dối vào não hại
3. Tật đố và xan lẫn
4. Man trá và phản trắc
5. Không tàm và không quý
6. Không phẫn nộ và không hiềm
hận
7. Không giả dối và không não hại
8. Không tật đố và không xan tham
9. Không man trá và không phản trắc
10. Tàm và quý
11. Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, phải sống trong đau khổ. Thế nào là hai? Phẫn nộ
và hiềm hận.
12. Giả dối vào não hại
13.Tật đố và xan tham
14.Man trá và phản trắc
15. Không tàm và không quý
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, phải sống trong đau khổ.
16. Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, phải sống trong an lạc. Thế nào là hai? Không phẫn
nộ và không hiềm hận.
17. Không giả dối và không não
hại
18. Không tật đố và không xan lẫn
19. Không man trá và không phản trắc
20. Tàm và quý
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, phải sống trong an lạc.
21. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo,
đưa đến đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu học. Thế nào
là hai? Phẫn nộ và hiềm hận.
22. Giả dối vào não hại
23. Tật đố và xan lẫn
24. Man trá và phản trắc
25. Không tàm và không quý
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, đưa đến đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu học.
26. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo,
không đưa đến sự đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu học.
Thế nào là hai? Không phẫn nộ và không hiềm hận.
27. Không giả dối và không não
hại
28. Không tật đố và không xan lẫn
29. Không man trá và không phản trắc
30. Tàm và quý
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, không đưa đến đọa lạc cho các vị Tỷ-kheo hữu
học.
31-35. Thành tựu hai pháp này, này
các Tỷ-kheo, như vậy bị quăng vào địa ngục tương xứng.
Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận ... Không tàm và không
quý.
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, như vậy bị quăng vào địa ngục tương xứng.
36-40. Thành tựu hai pháp này, này
các Tỷ-kheo, như vậy được sanh lên chư Thiên tương xứng.
Thế nào là hai? Không phẫn nộ và không hiềm hận ... Tàm
và quý.
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, như vậy được sanh lên chư Thiên tương xứng.
41-45. Thành tựu hai pháp này, này
các Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung,
bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào
là hai? Phẫn nộ và hiềm hận ... Không tàm và không quý.
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung, bị
sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
46-50. Thành tựu hai pháp này, này
các Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung,
được sanh lên cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này. Thế nào
là hai? Không phẫn nộ và không hiềm hận ... Tàm và quý.
Thành tựu hai pháp này, này các
Tỷ-kheo, ở đây, có người sau khi thân hoại mạng chung, được
sanh lên cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này.
51-55. Thành tựu hai bất thiện pháp
này ...
56-60. Thành tựu hai thiện pháp này
...
61-65. Thành tựu hai pháp có tội
này ...
66-70. Thành tựu hai pháp không có
tội này ...
71-75. Thành tựu hai pháp tăng khổ
này ...
76-80. Thành tựu hai pháp tăng lạc
này ...
81-85. Thành tựu hai pháp với quả
dị thục là khổ này ...
86-90. Thành tựu hai pháp với quả
dị thục là lạc này ...
91-95. Thành tựu hai pháp não hại
này ...
96-100. Thành tựu với hai pháp không
não hại này ...
(mỗi lần là năm pháp
như trên, bất thiện pháp và thiện pháp) ...
XVII. Phẩm
Thứ Mười Bảy
1. - Do thấy hai lợi ích này, Như
Lai chế lập học giới cho các đệ tử. Thế nào là hai? Cực
thiện cho Tăng chúng và an lạc cho Tăng chúng ... chế ngự
các người ác và lạc thú cho thuần tịnh Tỷ-Kheo ... sự
phòng hộ các lậu hoặc, các oán thù, các tội phạm, các
sợ hãi, các pháp bất thiện ngay trong hiện tại, và sự ngăn
chặn các lậu hoặc, các oán thù, các tội phạm, các sợ
hãi, các pháp bất thiện trong tương lai,... lòng từ mẫn đối
với các gia chủ và đoạn tuyệt các thành phần ác dục ...
đem lại tâm tín cho kẻ bất tín và làm trăng trưởng những
kẻ có tín tâm ... cho diệu pháp được an trú và để hộ
trì giới luật.
Do duyên hai lợi ích này, này các
Tỷ-Kheo, Như Lai chế lập học giới cho các đệ tử.
2. Do duyên hai lợi ích này, này
các Tỷ-kheo, Như Lai chế lập giới bổn cho các đệ tử (như
số 1 ở trên) ... tụng đọc giới bổn ... đình chỉ giới
bổn ... tự tứ ... đình chỉ tự tứ ... sở tác cần phải
quở trách ...Sở tác cần phải y chỉ, sở tác cần phải
tẩn xuất, sở tác cần phải xin lỗi ... sở tác cần phải
ngưng chức ... cho phép biệt trú ... bắt làm lại từ đầu
... , cho phép làm ... được phục hồi địa vị cũ ... được
phục chức ... cần phải xuất ly ... cụ túc ... bạch yết-ma
(lần đầu tiên) đưa ra biểu quyết lần thứ nhất ... đưa
ra biểu quyết lần thứ hai ... đưa ra biểu quyết lần thứ
tư ... điều chưa được chế lập ... thay đổi điều đã
được chế lập ... giải quyết với sự hiện diện của
hai phe liên hệ ... giải quyết theo ức niệm của đương sự
phạm tội ... giải quyết sau khi đương sự khỏi điên loạn,
... giải quyết theo sự chấp nhận của đương sự...giải
quyết theo số đông... giải quyết tu theo đương sụ phạm
tôị ... giải quyết như trải cỏ ra.
Thê nào là hai? Cực thiện cho Tăng
chúng và an lạc cho Tăng chúng ... chế ngự các người ác
và lạc trú cho thuần tịnh Tỷ-kheo ... cho diệu pháp được
an trú và để hộ trì giới luật. Do duyên hai lợi ích này,
này các Tỷ-kheo, Như Lai đã chế lập ... giải quyết như
trải cỏ ra cho các đệ tử.
3.- Ðể thắng tri tham, này các Tỷ-kheo,
hai pháp cần phải tu tập. Thế nào là hai? Chỉ và Quán. Ðể
thắng tri tham, này các Tỷ-kheo, hai pháp này cần phải tu tập.
4.- Ðể biến tri tham, này các Tỷ-kheo,
... để biến tận, để đoạn tận, để trừ diệt, để
biến diệt, để ly tham, để đoạn diệt, để xả bỏ, để
từ bỏ tham, hai pháp này cần phải tu tập. Thế nào là hai?
Chỉ và Quán ...
5.- Ðể thắng tri ... để biến
tri sân, si, phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, não hại, tật
đố, xan tham, man trá, phản trắc, cứng đầu, cuồng nhiệt,
mạn, quá mạn, kiêu căng, phóng dật,... để biến tận, để
đoạn tận, để trừ diệt, để biết diệt, để ly tham,
để đoạn diệt, để xả bỏ, để từ bỏ sân ... phóng
dật, hai pháp này cần phải tu tập. Thế nào là hai? Chỉ
và Quán ... hai pháp này cần phải tu tập.
-ooOoo-
