I. Phẩm Sắc
1-10 Nữ Sắc v.v...
1. Tôi nghe như vầy.:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi,
rừng Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế
Tôn bảo các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo!
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
- Ta không thấy một sắc nào khác,
này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông
như sắc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn
bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
2. Ta không thấy một tiếng nào
khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người
đàn ông, như tiếng người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, tiếng
người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
3-5.Ta không thấy một hương... một
vị... một xúc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự
trị tâm người đàn ông, như hương... vị... xúc người đàn
bà. Này các Tỷ-kheo, xúc người đàn bà xâm chiếm và ngự
trị tâm người đàn ông.
6. Ta không thấy một sắc nào khác,
này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà
như sắc người đàn ông. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn
ông chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.
7-10. Ta không thấy một tiếng...
một hương... một vị... một xúc nào khác. Này các Tỷ-kheo,
xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà, như tiếng... hương...
vị... xúc người đàn ông. Này các Tỷ-kheo, xúc người đàn
ông xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.
II. Phẩm Ðoạn
Triền Cái
Những pháp đoạn trừ và nuôi dưỡng
năm triền cái.
1-10 Tịnh Tướng v.v...
1.- Ta không thấy một phép nào khác,
này các Tỷ-kheo, dẫn đến dục tham chưa sanh được sanh khởi,
hay dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này
các Tỷ-kheo, như tịnh tướng. Tịnh tướng, này các Tỷ-kheo,
nếu không như lý tác ý, đưa đến dục tham chưa sanh được
sanh khởi, và dục tham đã sanh được tăng trưởng quảng
đại.
2. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến sân chưa sanh được sanh khởi,
và sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỷ-kheo,
như đối ngại tướng. Ðối ngại tướng, này các Tỷ-kheo,
nếu theo như lý tác ý, đưa đến sân, chưa sanh được sanh
khởi, và sân đã sanh được tăng trưởng quảng đại.
3. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến hôn trầm thụy miên đã sanh được
tăng trưởng quảng đại, này các Tỷ-kheo, như không hân hoan,
biếng nhác, chán nản, ăn quá no, tâm thụ động. Với người
có tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, hôn trầm thụy miên chưa
sanh được sanh khởi, và hôn trầm thụy miên đã sanh được
tăng trưởng quảng đại.
4. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến trạo hối chưa sanh được sanh
khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng quảng đại,
này các Tỷ-kheo, như tâm không được chỉ tịnh. Với người
tâm không chỉ tịnh, này các Tỷ-kheo, trạo hối chưa sanh
được sanh khởi, và trạo hối đã sanh được tăng trưởng
quảng đại.
5. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến nghi hoặc chưa sanh được sanh
khởi và nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng quảng đại,
này các Tỷ-kheo, như không như lý tác ý. Do không như lý tác
ý, này các Tỷ-kheo, nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, và
nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng quảng đại.
6. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến dục tham chưa sanh không sanh khởi,
và dục tham đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, như
tướng bất tịnh. Tướng bất tịnh, này các Tỷ-kheo, nếu
như lý tác ý, thời dục tham chưa sanh không sanh khởi, và
dục tham đã sanh được đoạn tận.
7. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến sân chưa sanh không sanh khởi, và
sân đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, như từ tâm
giải thoát. Từ tâm giải thoát, này các Tỷ-kheo, nếu như
lý tác ý, thời sân chưa sanh không sanh khởi, và sân đã sanh
được đoạn tận.
8. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến hôn trầm thụy miên chưa sanh không
sanh khởi, và sân đã sanh được đoạn tận.
9. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến trạo hối chưa sanh không sanh khởi,
hay trạo hối đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ-kheo,
như tâm tịnh chỉ. Người có tâm tịnh chỉ, này các Tỷ-kheo,
trạo hối chưa sanh không sanh khởi, và trạo hối đã sanh
được đoạn tận.
10. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến nghi hoặc chưa sanh không sanh khởi,
và nghi hoặc đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ-kheo,
như lý tác ý. Nếu như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, nghi hoặc
chưa sanh không sanh khởi, và nghi hoặc đã sanh được đoạn
tận.
III. Phẩm Khó
Sử Dụng
1-10 Tâm Không Tu Tập
1.- Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, lại khó sử dụng, này các Tỷ-kheo, như
tâm không tu tập. Tâm không tu tập, này các Tỷ-kheo, khó sử
dụng.
2. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, lại dễ sử dụng, này các Tỷ-kheo, như
tâm có tu tập. Tâm có tu tập, này các Tỷ-kheo, dễ sử dụng.
3. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, lại đưa đến bất lợi lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm không tu tập. Tâm không tu tập, này các Tỷ-kheo, đưa
đến bất lợi lớn.
4. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, lại đưa đến lợi ích lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm được tu tập. Tâm được tu tập, này các Tỷ-kheo,
đưa đến lợi ích lớn.
5. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, lại đưa đến bất lợi lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm không tu tập, không làm cho hiển lộ. Tâm không tu
tập, không làm cho hiển lộ, này các Tỷ-kheo, đưa đến bất
lợi.
6. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, lại đưa đến ích lợi lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm được tu tập, được làm cho hiển lộ. Tâm được
tu tập, được làm cho hiển lộ, này các Tỷ-kheo, đưa đến
lợi ích lớn.
7. Ta không thấy một pháp nào khác
đưa đến bất lợi lớn, này các Tỷ-kheo như tâm không tu
tập, không làm cho sung mãn. Tâm không tu tập, không làm cho
sung mãn, này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn.
8. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, lại đưa đến lợi ích lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm được tu tập, được làm sung mãn. Tâm được tu
tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, đưa đến lợi
ích lớn.
9. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đem lại đau khổ, này các Tỷ-kheo, như tâm
không được tu tập, không được làm cho sung mãn. Tâm không
được tu tập, không được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo,
đem lại đau khổ.
10. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đem lại an lạc, này các Tỷ-kheo, như tâm
được tu tập, được làm cho sung mãn. Tâm được tu tập,
được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, đem lại an lạc.
IV. Phẩm Không
Ðiều Phục
1-10 Tâm Không Ðiều Phục
1.- Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm không được điều phục. Tâm không được diều phục,
này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn.
2. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến lợi ích lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm được điều phục. Tâm được điều phục, này các
Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn.
3. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm không được hộ trì. Tâm không được hộ trì, này
các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn.
4. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến lợi ích lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm được hộ trì. Tâm được hộ trì, này các Tỷ-kheo,
đưa đến lợi ích lớn.
5. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm không được phòng hộ. Tâm không được phòng hộ,
này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn.
6. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến lợi ích lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm được phòng hộ. Tâm được phòng hộ, này các Tỷ-kheo,
đưa đến lợi ích lớn.
7. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm không được bảo vệ. Tâm không được bảo vệ,
này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn.
8. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến lợi ích lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm được bảo vệ. Tâm được bảo vệ, này các Tỷ-kheo,
đưa đến lợi ích lớn.
9. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm không được điều phục, không được hộ trì, không
được phòng hộ, không được bảo vệ. Tâm không được
điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ,
không được bảo vệ, này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi
lớn.
10. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến lợi ích lớn, này các Tỷ-kheo,
như tâm được điều phục, được hộ trì, được phòng
hộ, được bảo vệ. Tâm được điều phục, được hộ
trì, được phòng hộ, được bảo vệ, này các Tỷ-kheo, đưa
đến lợi ích lớn.
V. Phẩm Ðặt
Hướng và Trong Sáng
1-10 Tâm Ðặt Sai Hướng v.v...
1. -Ví như, này các Tỷ-kheo, sợi
râu của lúa mì, hay sợi râu của lúa mạch đặt sai hướng,
khi bị tay hay chân đè vào, có thể đâm thủng tay hay chân,
hay có thể làm đổ máu; sự tình này không xảy ra. Vì cớ
sao? Này các Tỷ-kheo, vì sợi râu bị đặt sai hướng. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo với tâm bị đặt sai hướng,
có thể đâm thủng vô minh, làm minh sanh khởi, có thể chứng
đạt Niết-bàn; sự tình này không xảy ra. Vì cớ sao? Này
các Tỷ-kheo, vì tâm đặt sai hướng.
2. Này các Tỷ-kheo, ví như các sợi
râu của lúa mì, hay sợi râu của lúa mạch được đặt đúng
hướng, khi bị tay hay chân đè vào, có thể đâm thủng tay
hay chân, hay có thể làm cho đổ máu; sự tình này có xảy
ra. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì sợi râu được đặt đúng
hướng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo với tâm được
đặt đúng hướng, có thể đâm thủng vô minh, làm minh sanh
khởi, có thể chứng đạt Niết-bàn; sự tình này có thể
xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì tâm được đặt đúng
hướng.
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, với
tâm của Ta biết tâm một người là uế nhiễm, Ta rõ biết:
"Nếu trong thời gian này, người này mệnh chung, người ấy
bị rơi vào địa ngục như vậy tương xứng". Vì cớ sao?
Này các Tỷ-kheo, vì rằng tâm người ấy uế nhiễm.
Cũng do tâm uế nhiễm làm nhân như
vậy, này các Tỷ-kheo, một số loài hữu tình ở đời, sau
khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ,
địa ngục.
4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, với
tâm của Ta biết tâm một người là thanh tịnh, Ta biết rõ:
"Nếu trong thời gian này, người này mệnh chung, người ấy
được sanh lên Thiên giới như vậy tương xứng". Vì cớ sao?
Này các Tỷ-kheo, vì rằng tâm người ấy thanh tịnh.
Cũng do tâm thanh tịnh làm nhân như
vậy, này các Tỷ-kheo, một số loài hữu tình ở đời này,
sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi thiện, cõi Trời,
cõi đời này.
5. Ví như, này các tỷ kheo, một
hồ nước uế nhớp, bị khuấy động, đục bùn. Tại đấy
có người có mắt, đứng trên bờ, không thể thấy các con
ốc, các con sò, các hòn sạn, các hòn sỏi, các đàn cá, qua
lại, đứng yên. Ví cớ sao? Vì nước bị khuấy đục. Này
các Tỷ-kheo, cũng vậy, vị Tỷ-kheo với tâm bị khuấy đục
biết được lợi ích của mình, hay biết được lợi ích
của người, hay biết được lợi ích cả hai, hay sẽ chứng
ngộ các pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng
các bậc Thánh; sự kiện như vậy không xảy ra. Vì cớ sao?
Vì rằng tâm bị khuấy đục, này các Tỷ-kheo.
6. Ví như, này các Tỷ-kheo, một
hồ nước trong sáng, sáng suốt, không bị khuấy đục. Tại
đấy có người có mắt, đứng trên bờ, có thể thấy các
con ốc, các con sò, các hòn sạn, các hòn sỏi, các đàn cá
qua lại, đứng yên. Vì cớ sao? Vì nước không bị khuấy
đục, này các Tỷ-kheo. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo
với tâm không bị khuấy đục biết được lợi ích của
mình, hay biết được lợi ích của người, hay biết được
lợi ích cả hai, hay sẽ chứng ngộ các pháp thượng nhân,
tri kiến thù thắng xứng đáng các bậc Thánh; sự kiện như
vậy có xảy ra. Ví sao? Vì rằng tâm không bị khuấy đục,
này các Tỷ-kheo.
7. Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm
có những loại cây gì, cây phandana được xem là tối thượng,
tức là về nhu nhuyến và dễ sử dụng. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Ta không thấy một pháp nào khác, lại nhu nhuyễn
hơn và dễ sử dụng hơn, như một tâm được tu tập, được
làm cho sung mãn. Tâm được tu tập, được làm cho sung mãn,
này các Tỷ-kheo, là nhu nhuyến và dễ sử dụng.
8. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, lại vận chuyển nhẹ nhàng hơn tâm. Thật
không dễ gì, này các Tỷ-kheo, dùng một ví dụ để diễn
tả sự vận chuyển nhẹ nhàng của tâm.
9. Tâm này, này các Tỷ-kheo, là
sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.
10. Tâm này, này các Tỷ-kheo, là
sáng chói và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài
vào.
VI. Phẩm Búng
Ngón Tay
1-10 Tâm Ðược Tu Tập
1. - Tâm này, này các Tỷ-kheo, là
sáng chói. Và tâm này bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài
vào. Kẻ phàm phu ít nghe, không như thật rõ biết tâm ấy.
Do vậy, Ta nói rằng tâm kẻ phàm phu ít nghe, không tu tập
được.
2. Tâm này, này các Tỷ-kheo, là
sáng chói. Và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài
vào Bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, như thật rõ biết tâm
ấy. Do vậy, Ta nói rằng tâm bậc Thánh đệ tử nghe nhiều
có được tu tập.
3. Nếu chỉ trong khoảnh khắc búng
móng tay, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo phát từ tâm; vị ấy,
này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Tỷ-kheo trú Thiền tịnh
không có trống không, làm theo lời dạy bậc Ðạo Sư, là
người làm theo giáo giới, ăn đồ ăn khất thực của xứ,
không có uổng phí. Còn nói gì những người làm cho sung mãn
từ tâm ấy.
4-5. Nếu chỉ trong khoảnh khắc
búng móng tay, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập từ tâm,
tác ý từ tâm; vị ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị
Tỷ-kheo trú Thiền tịnh không có trống không, làm theo lời
dạy bậc Ðạo Sư, là người làm theo giáo giới, ăn đồ
ăn khất thực của xứ không có uổng phí. Còn nói gì những
người làm cho sung mãn từ tâm ấy.
6. Phàm những pháp nào, này các
Tỷ-kheo, là bất thiện, thuộc thành phần bất thiện, đứng
về phía bất thiện, tất cả các pháp ấy đều được ý
đi trước. Ý khởi trước các pháp ấy. Các pháp bất thiện
theo sau.
7. Phàm những pháp nào, này các
Tỷ-kheo, là thiện, thuộc thành phần thiện, đứng về phía
thiện, tất cả các pháp ấy đều được ý đi trước. Ý
khởi trước các pháp ấy. Các pháp thiện theo sau.
8. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh
được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận,
này các Tỷ-kheo, như phóng dật. Với người phóng dật, này
các Tỷ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi,
và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận.
9. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được
sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận,
này các Tỷ-kheo, như không phóng dật. Với người không phóng
dật, này các Tỷ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được sanh
khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận.
10. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh
được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận,
này các Tỷ-kheo, như biếng nhác. Với người biếng nhác,
này các Tỷ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh
khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận.
VII. Phẩm Tinh
Tấn
1-10 Tinh Cần Tinh Tấn
1.- Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được
sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận,
này các Tỷ-kheo, như tinh tấn tinh cần. Với người tinh cần
tinh tấn, này các Tỷ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được
sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh được đoạn tận.
2. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được
sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận, này
các Tỷ-kheo, như là dục lớn. Với người có dục lớn, này
các Tỷ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi,
và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận.
3. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được
sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận,
này các Tỷ-kheo, như ít dục. Với người có ít dục, này
các Tỷ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và
các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận.
4. (Như số 2 ở trên, chỉ thế
vào "không biết vừa đủ")...
5. (Như số 3 ở trên, chỉ thế
vào "biết vừa đủ")...
6. (Như số 2 ở trên, chỉ thế
vào "không như lý tác ý")...
7. (Như số 3 ở trên, chỉ thế
vào "như lý tác ý")...
8. (Như số 2 ở trên, chỉ thế
vào "không tỉnh giác")...
9. (Như số 3 ở trên, chỉ thế
vào "tỉnh giác")...
10. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh
được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận,
này các Tỷ-kheo, như làm bạn với ác. Với người làm bạn
với cái ác, này các Tỷ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh
được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận.
VIII. Phẩm Làm
Bạn Với Thiện
1-11 Làm Bạn Với Thiện
1. - Ta không thấy một pháp nào
khác, này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh
được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn
tận, này các Tỷ-kheo, như làm bạn với thiện. Với người
làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo, các pháp thiện chưa
sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được
đoạn tận.
2. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh
được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh được đoạn
tận, này các Tỷ-kheo, như hệ lụy với các pháp bất thiện,
và không hệ lụy với các pháp thiện. Do hệ lụy với các
pháp bất thiện, này các Tỷ-kheo, do không hệ lụy với các
pháp thiện, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi,
và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận.
3. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được
sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận,
này các Tỷ-kheo, như hệ lụy với các pháp thiện, không hệ
lụy với các pháp bất thiện. Do hệ lụy với các pháp thiện,
này các Tỷ-kheo, do không hệ lụy với các pháp bất thiện,
nên các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp
bất thiện đã sanh được đoạn tận.
4. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các giác chi chưa sanh không sanh
khởi, và các giác chi đã sanh không đi đến tu tập viên mãn,
này các Tỷ-kheo, như không như lý tác ý. Do không như lý tác
ý, này các Tỷ-kheo, các giác chi chưa sanh không được sanh
khởi, và các giác chi đã sanh không đi đến tu tập viên mãn.
5. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các giác chi chưa sanh được
sanh khởi và các giác chi đã sanh đi đến tụ tập viên mãn,
này các Tỷ-kheo, như lý tác ý. Do như lý tác ý, này các Tỷ
kheo các giác chi chưa sanh được sanh khởi, và các giác chi
đã sanh đi đến tu tập viên mãn.
6. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo,
là những mất mát này, như mất mát bà con. Cái này là khốn
cùng giữa các mất mát, này các Tỷ-kheo, tức là mất mát
trí tuệ.
7. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo,
là những tăng trưởng này, như tăng trưởng bà con. Cái này
là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, tức
là tăng trưởng trí tuệ.
8. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo,
là những mất mát này, như mất mát tài sản. Cái này là
khốn cùng giữa các mất mát, này các Tỷ-kheo, tức là mất
mát trí tuệ.
9. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo,
là những tăng trưởng này, như tăng trưởng tài sản, Cái
này là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỷ-kheo,
tức là tăng trưởng trí tuệ.
10. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo,
là những mất mát này, như mất mát danh tiếng. Cái này là
khốn cùng giữa các mất mát, này các Tỷ-kheo, tức là mất
mát trí tuệ.
11. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo,
là những mất mát này, như tăng trưởng danh tiếng. Cái này
là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, tức
là tăng trưởng trí tuệ.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy
cần phải học tập như sau: "Chúng ta sẽ làm tăng trưởng
sự tăng trưởng trí tuệ". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các
Thầy cần phải học tập.
IX. Phẩm Phóng
Dật
1-16.
1. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, có thể đưa đến bất lợi lớn, này các
Tỷ-kheo, như là phóng dật. Phóng dật, này các Tỷ-kheo, đưa
đến bất lợi lớn.
2. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, có thể đưa đến ích lợi lớn, này các
Tỷ-kheo, như là không phóng dật. Không phóng dật, này các
Tỷ-kheo, đưa đến ích lợi lớn.
3. (Như số 1, chỉ thế vào "như
là biếng nhác")....
4. (Như số 2, chỉ thế vào "như
là tinh cần tinh tấn")...
5. (Như số 1, chỉ thế vào "như
là nhiều dục")...
6. (Như số 2, chỉ thế vào "như
là ít dục")...
7. (Như số 1, chỉ thế vào "như
là không biết đủ")...
8. (Như số 2, chỉ thế vào "như
là biết đủ")...
9. (Như số 1, chỉ thế vào "như
là không như lý tác ý")...
10. (Như số 2, chỉ thế vào "như
là như lý tác ý")...
11. (Như số 1, chỉ thế vào "như
là không tỉnh giác")...
12. (Như số 2, chỉ thế vào "như
là tỉnh giác")...
13. (Như số 1, chỉ thế vào "như
là làm bạn với ác")...
14. (Như số 2, chỉ thế vào "như
là làm bạn với thiện")...
15. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, có thể đưa dến bất lợi lớn, này các
Tỷ-kheo, như là hệ lụy với các pháp bất thiện, không hệ
lụy với các pháp thiện. Hệ lụy với các pháp bất thiện,
này các Tỷ-kheo, không hệ lụy với các pháp thiện, đưa
đến bất lợi lớn.
16. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, đưa đến lợi ích lớn, này các Tỷ-kheo,
như là hệ lụy với các pháp thiện, không hệ lụy với các
pháp bất thiện. Hệ lụy các pháp thiện, này các Tỷ-kheo,
không hệ lụy với các pháp bất thiện đưa đến lợi ích
lớn.
X. Phẩm Phi
Pháp (1)
1-32.
1. - Ðứng về phương diện nội
phần, này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một phần nào khác đưa
đến bất lợi lớn như vậy, này các Tỷ-kheo, như phóng dật.
Phóng dật, này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn.
2. Ðứng về phương diện nội phần,
này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một phần nào khác đưa đến
lợi ích lớn như vậy, này các Tỷ-kheo, như không phóng dật,
này các Tỷ-kheo. Không phóng dật, này các Tỷ-kheo, đưa đến
lợi ích lớn.
3. (Như số 1 ở trên, chỉ thay vào
"biếng nhác")...
4. (Như số 2 ở trên, chỉ thay vào
"tinh cần tinh tấn")...
5-12 (Như trên, tuần tự thay vào
"dục lớn, ít dục, không biết đủ, biết đủ, không như
lý tác ý, như lý tác ý, không tỉnh giác, tỉnh giác")...
13. Ðứng về phương diện ngoại
phần, này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một phần nào khác đưa
đến bất lợi lớn như vậy, này các Tỷ-kheo, như làm bạn
với ác. Làm bạn với ác, này các Tỷ-kheo, đưa đến bất
lợi lớn.
14. Ðứng về phương diện nội
phần, này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một phần nào khác đưa
đến bất lợi lớn như vậy, này các Tỷ-kheo, như làm bạn
với thiện. Làm bạn với thiện, này các Tỷ-kheo, đưa đến
lợi ích lớn.
15. Ðứng về phương diện nội
phần, này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một phần nào khác đưa
đến bất lợi lớn như vậy, này các Tỷ-kheo, như hệ lụy
với pháp bất thiện, không hệ lụy với pháp thiện. Hệ
lụy với pháp bất thiện, không hệ lụy với pháp thiện,
này các Tỷ-kheo, đưa đến bất lợi lớn.
16. Ðứng về phương diện nội
phần, này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một phần nào khác đưa
đến lợi ích lớn như vậy, này các Tỷ-kheo, như hệ lụy
với các pháp thiện, không hệ lụy với các pháp bất thiện.
Hệ lụy với pháp thiện, không hệ lụy với pháp bất thiện,
này các Tỷ-kheo, đưa đến lợi ích lớn.
17. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, khiến diệu pháp bị lu mờ, biến mất như
vậy, này các Tỷ-kheo, như phóng dật. Phóng dật, này các
Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp bị lu mờ và biến mất.
18. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, khiến diệu pháp được an trú, không bị
lu mờ, không bị biến mất như vậy, này các Tỷ-kheo, như
không phóng dật. Không phóng dật, này các Tỷ-kheo, đưa đến
diệu pháp được an trú, không bị lu mờ, không bị biến
mất.
19. (Như số 17, chỉ thế vào "biếng
nhác")...
20. (Như số 18, chỉ thế vào "tinh
cần tinh tấn")...
21-32 (Như trên, chỉ tuần tự thế
vào các pháp như sau: "dục lớn, dục ít, không biết vừa
đủ, biết vừa đủ, không như lý tác ý, như lý tác ý, không
tỉnh giác, tỉnh giác, làm bạn với ác, làm bạn với thiện,
hệ lụy với pháp bất thiện, không hệ lụy với pháp thiện,
hệ lụy với pháp thiện, không hệ lụy với pháp bất thiện").
Phẩm Phi Pháp
(2)
33-42 Phi Pháp
33. - Những Tỷ-kheo nào, này các
Tỷ-kheo, nêu rõ phi pháp là pháp, sở hành của những vị
ấy, này các Tỷ-kheo, đem lại bất hạnh cho đa số, bất
lạc cho đa số, bất lợi cho đa số, đưa đến bất hạnh,
đau khổ cho chư Thiên và loài Người. Và hơn nữa, này các
Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy tạo điều vô phước, và khiến
cho diệu pháp biến mất.
34. Những Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo,
nêu rõ pháp là phi pháp, sở hành của những vị ấy, này
các Tỷ-kheo, đem lại bất hạnh cho đa số, bất lạc cho đa
số, bất lợi cho đa số, đưa đến bất hạnh, đau khổ cho
chư Thiện và loài Người. Và hơn nữa, này các Tỷ-kheo, những
Tỷ-kheo ấy tạo điều vô phước, và khiến cho diệu pháp
biến mất.
35-42. Những Tỷ-kheo nào, này các
Tỷ-kheo, nêu rõ phi luật là luật,... nêu rõ luật là phi luật,...
Như Lai không nói lên, tuyên bố là Như Lai có nói lên, ...
Như Lai có nói lên, tuyên bố là Như Lai không nói lên, ...
Như Lai không thực hành, tuyên bố là Như Lai có thực hành,...
Như Lai thực hành, tuyên bố là Như Lai không thực hành,...
Như Lai không chế đặt, tuyên bố là Như Lai có chế đặt...
Như Lai có chế đặt, tuyên bố là Như Lai không chế đặt...
Sở hành của những vị ấy, này các Tỷ-kheo, đem lại bất
hạnh cho đa số, bất lạc cho đa số, bất lợi cho đa số,
đưa đến bất hạnh đau khổ cho chư Thiện và loài Người.
Và hơn nữa, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy tạo điều
vô phước, và khiến cho diệu pháp biến mất.
XI. Phẩm Thứ
Mười Một
1-10 Phi Pháp
1. - Những Tỷ-kheo nào, này các
Tỷ-kheo, nêu rõ phi pháp là phi pháp, các Tỷ-kheo ấy, này
các Tỷ-kheo, sở hành như vậy, đem lại hạnh phúc cho đa
số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đem lại hạnh
phúc an lạc cho chư Thiên và loài Người. Và hơn nữa, này
các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy tạo phước đức và an trú diệu
pháp này.
2. (Như số 1 trên, chỉ khác: "nêu
rõ pháp là pháp")...
3-10. Những Tỷ-kheo nào, này các
Tỷ-kheo, nêu rõ phi luật là phi luật... luật là luật... Như
Lai không nói lên, tuyên bố là Như Lai không nói lên, ... Như
Lai có nói lên, tuyên bố là Như Lai có nói lên, ... Như Lai
không thực hành, tuyên bố là Như Lai không thực hành,....
Như Lai có thực hành, tuyên bố là Như Lai có thực hành,....
Như Lai không chế đặt, tuyên bố là Như Lai không chế đặt,...
Như Lai có chế đặt, tuyên bố là Như Lai có chế đặt...Các
vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, sở hành như vậy, đem lại
hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số,
đem lại hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người. Và
hơn nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy tạo phước đức
và an trú diệu pháp này.
XII. Phẩm Vô
Phạm
1-20 Vô Phạm
1. - Những Tỷ-kheo nào, này các
Tỷ-kheo, nêu rõ không phạm là có phạm, những Tỷ-kheo ấy,
này các Tỷ-kheo, với sở hành như vậy, đưa lại bất hạnh
cho đa số, không an lạc cho đa số, không lợi ích cho đa số,
đưa lại bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người.
Và hơn nữa, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy, tạo điều
vô phước và khiến cho diệu pháp biến mất.
2. (Như số 1 trên, chỉ thế vào:
"nêu rõ có phạm là không phạm")...
3-10 . Những Tỷ-kheo nào, này các
Tỷ-kheo, nêu rõ tội nhẹ là tội nặng.... tội nặng là tội
nhẹ... tội thô trọng là tội không thô trọng... tội không
thô trọng là tội thô trọng... tội có dư tàn là tội không
dư tàn... Tội không dư tàn là tội có dư tàn... tội có thể
sám hối là tội không có thể sám hối... tội không có thể
sám hối là tội có thể sám hối. Những Tỷ-kheo ấy, này
các Tỷ-kheo, với sở hành như vậy, đưa lại bất hạnh cho
đa số, không an lạc cho đa số, bất lợi cho đa số, đưa
lại bất hạnh đau khổ cho chư Thiên và loài Người. Và hơn
nữa, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy, tạo điều vô phước
và khiến cho diệu pháp biến mất.
11. Những Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo,
nêu rõ không phạm tội là không phạm tội. Những Tỷ-kheo
ấy, này các Tỷ-kheo, với sỏ hành như vậy đưa lại hạnh
phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đưa
lại hạnh phúc an lạc cho chư Thiên và loài Người. Và hơn
nữa, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy tạo điều phước
đức và khiến cho diệu pháp được an trú.
12. (Như số 11, chỉ thế vào: "nêu
rõ phạm tội là phạm tội")...
13-20. Những Tỷ-kheo nào, này các
Tỷ-kheo, nêu rõ tội nhẹ là tội nhẹ... tội nặng là tội
nặng... tội thô trọng là tội thô trọng... tội có dư tàn
là tội có dư tàn... tội không dư tàn là tội không dư tàn...
tội có thể sám hối là tội có thể sám hối... tội không
có thể sám hối là tội không có thể sám hối. Những Tỷ-kheo
ấy, này các Tỷ-kheo, với sở hành như vậy, đưa lại hạnh
phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đem
lại hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người. Và hơn
nữa, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy tạo điều phước
đức và khiến cho diệu pháp được an trú.
XIII. Phẩm Một
Người
1-7 Như Lai
1. - Một người, này các Tỷ-kheo,
khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc
cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời,
vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài
Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác. Chính một người này, này các Tỷ-kheo,
khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc
cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời,
vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài
Người.
2. Sự xuất hiện của một người,
này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời. Của người nào
? Của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự xuất hiện
của một người này, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở
đời.
3. Một người, này các Tỷ-kheo,
khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người vi diệu.
Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác. Chính một người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất
hiện ở đời là xuất hiện một người vi diệu.
4. Sự mệnh chung của một người,
này các Tỷ-kheo, được đa số thương tiếc. Của một người
nào? Của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự mệnh
chung của một người này, này các Tỷ-kheo, được đa số
thương tiếc.
5. Một người, này các Tỷ-kheo,
khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai,
không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ,
không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang
bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các
loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện
ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng
bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối
phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không
có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân.
6-17. Sự xuất hiện của một người,
này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự
xuất hiện của đại-quang, là sự xuất hiện của đại-minh,
là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ
bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là
sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ
của mình và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự Lưu,
là sự chứng ngộ quả Nhất Lai, là sự chứng ngộ quả Bất
Lai, là chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai?
Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự xuất
hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, là sự xuất
hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang...
là sự chứng ngộ quả A-la-hán.
18. Ta không thấy một pháp nào khác,
này các Tỷ-kheo, có thể chơn chánh chuyển vận Vô thượng
Pháp luân do Như Lai chuyển vận, này các Tỷ-kheo, như Xá-lợi-phất.
Xá-lợi-phất, này các Tỷ-kheo, chơn chánh chuyển vận Vô
thượng Pháp luân do Thế Tôn chuyển vận.
XIV. Phẩm Người
Tối Thắng
1-10 Các Vị Tỷ Kheo
1. - Trong các đệ tử Tỷ-kheo đã
lâu ngày của Ta, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Anna Kondanno
(A-nhã Kiều-trần-như).
2. Trong các vị đệ tử... đại
trí tuệ, tối thắng là Sàriputta.
3. Trong các vị đệ tử... có thần
thông, tối thắng là Mahàmoggalàna.
4. Trong các vị đệ tử... thuyết
về hạnh đầu đà, tối thắng là Mahàkassapa.
5. Trong các vị đệ tử... thiên
nhãn, tối thắng là Anuruddha.
6. Trong các vị đệ tử... thuộc
gia đình quý tộc, tối thắng là Bhaddiva Kàligodhàputta.
7. Trong các vị đệ tử... có âm
thanh vi diệu, tối thắng là Lakuntaka (người lùn) Bhaddiya.
8. Trong các vị đệ tử... rống
tiếng rống con sư tử, tối thắng là Pindola Bhàradvàja.
9. Trong các vị đệ tử... thuyết
pháp, tối thắng là Punna Mantàniputta.
10. Trong các đệ tử Tỷ-kheo của
Ta, thuyết giảng rộng rãi những điều được nói lên một
cách vắn tắt, tối thắng là Mahàkaccàna.
1-11 Các Vị Tỷ Kheo
1. - Trong các vị Tỷ-kheo của Ta
có thể dùng ý hóa thân, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Cullapanthaka.
2. Trong các vị đệ tử... thiện
xảo về tâm thắng tiến, tối thắng là Cullapanthaka.
3. Trong các vị đệ tử... thiện
xảo về tưởng thắng tiến, tối thắng là Mahàpanthaka.
4. Trong các vị đệ tử... trú không
có tranh luận, tối thắng là Subhuti.
5. Trong các vị đệ tử... đáng
được
cúng dường, tối thắng là Subhuti.
6. Trong các vị đệ tử... tu ở
rừng, tối thắng là Revata Khadiravaniya.
7. Trong các vị đệ tử... tu Thiền,
tối thắng là Kankha Revata.
8. Trong các vị đệ tử... tinh cần
tinh tấn, tối thắng là Sono Koliviso.
9. Trong các vị đệ tử... khéo
nói, tối thắng là Sono Kutikanna.
10. Trong các vị đệ tử... nhận
được đồ cúng dường, tối thắng là Sivali.
11. Trong các đệ tử Tỷ-kheo có
tín thắng giải, tối thắng là Vakkali.
1-10 Các Vị Tỷ Kheo
1. - Trong các đệ tử Tỷ-kheo của
Ta, ưa thích học tập, tối thắng là Ràhula.
2. Trong các vị đệ tử... xuất
gia vì lòng tin, tối thắng là Ratthapàla.
3. Trong các vị đệ tử... đầu
tiên nhận phiếu ăn cơm, tối thắng là Kunda Dhàna.
4. Trong các vị đệ tử... đầy
đủ biện tài, tối thắng là Vangìsa.
5. Trong các vị đệ tử... dễ mến
toàn diện, tối thắng là Upasena Vangantaputta.
6. Trong các vị đệ tử... sửa
soạn chỗ ngồi, chỗ nằm, tối thắng là Dabba Mallaputta.
7. Trong các vị đệ tử... được
chư Thiên ái mộ, tối thắng là Pilindavaccha.
8. Trong các vị đệ tử... có thắng
trí mau lẹ, tối thắng là Bàhiva Dàructriya.
9. Trong các vị đệ tử... thuyết
giảng vi diệu, tối thắng là Kumara Passapa.
10. Trong các đệ tử Tỷ-kheo của
Ta đạt được vô ngại giải, này các Tỷ-kheo, tối thắng
là Màhàkotthita.
1-16 Các Vị Tỷ Kheo
1. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo
của Ta, được nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, tối thắng là
Ananda.
2. Trong các vị đệ tử... đầy
đủ ức niệm, tối thắng là Ananda
3. Trong các vị đệ tử... đầy
đủ cử chỉ tốt đẹp tối thắng là Ananda.
4. Trong các vị đệ tử... đầy
đủ sự kiên trì tối thắng là Ananda.
5.Trong các vị đệ tử... thị giả,
tối thắng là Ananda.
6. Trong các vị đệ tử... có đại
hội chúng, tối thắng là Uruvela Kassapa.
7. Trong các vị đệ tử... làm cho
các gia-đình hoan hỷ, tối thắng là Kàludàyì.
8. Trong các vị đệ tử... không
có bệnh hoạn, tối thắng là Bakkula.
9. Trong các vị đệ tử... nhớ
đến các đời sống quá khứ, tối thắng là Sobhita.
10. Trong các vị đệ tử... trì
Luật, tối thắng là Upàli.
11. Trong các vị đệ tử... giáo
giới Tỷ-kheo-ni, tối thắng là Nandaka.
12. Trong các vị đệ tử... hộ
trì các căn môn, tối thắng là Nanda.
13. Trong các vị đệ tử... thiện
xảo về họa giới, tối thắng là Sàgata.
14. Trong các vị đệ tử... giáo
giới Tỷ-kheo, tối thắng là Màhakappina.
15. Trong các vị đệ tử... năng
khởi biện tài, tối thắng là Ràdha.
16. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo
của Ta mang thô y, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Mogharàjà.
1-13 Nữ Ðệ Tử Tỷ Kheo Ni
1. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni
đã lâu ngày của Ta, tối thắng là Màhàpàjapani Gotamì.
2. Trong các vị nữ đệ tử... đại
trí tuệ, tối thắng là Khemà.
3. Trong các vị nữ đệ tử... đầy
đủ thần thông, tối thắng là Uppalavannà.
4. Trong các vị nữ đệ tử... trì
Luật, tối thắng là Patàcàrà.
5. Trong các vị nữ đệ tử... thuyết
pháp, tối thắng là Dhammadinnà.
6. Trong các vị nữ đệ tử... tu
Thiền, tối thắng là Nandà.
7. Trong các vị nữ đệ tử... tinh
cần tinh tấn, tối thắng là Sonà.
8. Trong các vị nữ đệ tử... thiên
nhãn, tối thắng là Sakulà.
9. Trong các vị nữ đệ tử... có
thắng trí mau lẹ, tối thắng là Bhaddà Kundalakesà.
10. Trong các vị nữ đệ tử...
nhớ đến các thời quá khứ, tối thắng là Bhaddà Kapilànì.
11.Trong các vị nữ đệ tử... đã
chứng đạt đại thắng trí, tối thắng là Bhaddà Kaccana.
12. Trong các vị nữ đệ tử...
mang thô y, tối thắng là Kisàgotami.
13. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni
của Ta. đầy đủ tin thắng giải, này các Tỷ-kheo, tối thắng
là Sigalàmàtà.
1-10 Nam Cư Sĩ
1. - Trong các vị đệ tử nam cư
sĩ của Ta, này các Tỷ-kheo, đã quy y đầu tiên, tối thắng
là các người buôn bán Tapassu Bhallikà.
2. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ
... bố thí, tối thắng là gia chủ Sudatta Anàthapindika.
3. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ
... thuyết pháp, tối thắng là Citta Macchikassandika.
4. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ
... nhiếp phục một hội chúng nhờ Bốn nhiếp pháp, tối
thắng là Hatthaka Alavaka.
5. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ
... bố thí các món ăn thượng vị, tối thắng là Mahànàma
Sakka.
6. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ
... bố thí các món đồ khả ý, tối thắng là gia chủ Ugga
Vesàlika.
7. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ
... hộ trì Tăng chúng, tối thắng là Hatthigàmala Uggàta.
8. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ
... có lòng tịnh tín bất động, tối thắng là Sùra Ambattha.
9. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ
... được dân chúng kính mến, tối thắng là Jivaka Komàrabhacca.
10. Trong các vị đệ tử nam cư
sĩ của Ta, nói chuyện một cách thân mật, này các Tỷ-kheo,
tối thắng là gia chủ Nakulapità.
1-10 Nữ Cư Sĩ
1. -Trong các vị đệ tử nữ cư
sĩ của Ta, này các Tỷ-kheo, người đi đến quy y đầu tiên
là Sujàtà Senàndìhità.
2. Trong các vị đệ tử nữ cư
sĩ ... bố thí, tối thắng là Visàkhà Migàramàtà.
3. Trong các vị đệ tử nữ cư
sĩ ... nghe nhiều, tối thắng là Khujjuttar.
4. Trong các vị đệ tử nữ cư
sĩ ... trú từ tâm, tối thắng là Sàmàvati.
5. Trong các vị đệ tử nữ cư
sĩ ... tu Thiền, tối thắng là Uttarà Nandamàtà.
6. Trong các vị đệ tử nữ cư
sĩ ... bố thí các món ăn thượng vị đệ tử, tối thắng
là Suppavàsà Kolijadhita.
7. Trong các vị đệ tử nữ cư
sĩ ... săn sóc người bệnh, tối thắng là nữ cư sĩ Suppiyà.
8. Trong các vị đệ tử nữ cư
sĩ ... có lòng tịnh tín bất động, tối thắng là Kàtiyànì.
9. Trong các vị đệ tử nữ cư
sĩ ... nói chuyện một cách thân mật, tối thắng là nữ gia
chủ Nakulamàtà.
10. Trong các vị nữ cư sĩ đệ
tử của Ta, này các Tỷ-kheo, có lòng tịnh tín đối với
lời nghe đồn tối thắng là Kàlì, nữ cư sĩ ở Kulagharikà.
-ooOoo-
