Nội Dung
Lời
Dẫn.
Phần
một Nguyên Bản và Dịch Bản.
I.
Tâm Kinh nguyên Bản Sanskrit
II.
Tâm Kinh- bản Hán dịch của Huyền Trang
III.
Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh (Ngữ âm Hán -Việt)
IV.Tâm
Kinh-bản Anh Ngữ
V.
Tâm Kinh (bản dịch tiếng Việt)
Chú
thích đặc biệt của bản dịch tiếng Việt
Phần
hai Cấu trúc Kinh Trái Tim.
I.
Cấu Trúc
II.Phân
Tích
Phần
Ba Thông Điệp.
I.
Thông điệp từ Kinh Trái Tim (bản mới-2007)
Phần
Bốn Nghi thức thọ trì Kinh Trái Tim.
Phụ
Lục.
I.
Message from the Heart Sutra (American version-2007)
II.
Words from Heart of Wisdom
Lời
dẫn
Bản
kinh được dịch và chú giải dưới đây tiếng Phạn (Sanskrit)
gọi là Prajñāpāramitā Hrdaya Sūtra; Hán dịch: Bát Nhã Ba La
Mật Ða Tâm Kinh; Việt dịch: kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng;
gọi tắt là Kinh Trái Tim hay Tâm Kinh (Heart Sutra).
Về
mặt lịch sử, Bát Nhã là bộ kinh đầu tiên truyền bá tư
tưởng Ðại thừa (Mahāyāna) với giáo thuyết trung tâm là
Tánh Không (Śūnyatā). Theo các nghiên cứu hiện đại, bản
kinh cổ nhất của văn hệ Bát Nhã là bản Aşţasāhasrikā
Prajñāpāramitā (Bát Nhã Bát Thiên Tụng), gồm tám ngàn câu
kệ (ślokas) hay còn gọi là Tiểu Phẩm Bát Nhã, xuất hiện
khoảng 100 năm trước Tây lịch. Đến khoảng đầu thế kỷ
thứ nhất Tây lịch, kinh Bát Nhã đã từ từ được mở rộng
thành Đại Phẩm Bát Nhã với ba bản khác nhau, bao gồm bản
100.000 câu, bản 25.000 câu, và bản 18.000 câu. Nghiên cưú của
Eward Conze cho thấy rằng nội dung chính của ba bản trên đều
giống nhau, chỉ khác nhau ở những chi tiết được lặp lai.[i]
Đặc biệt là, trong số các bản Bát Nhã, có những bản được
tinh lược rất ngắn; hai trong số các bản ngắn nhất và
xuất hiện sớm nhất (khoảng trước thế kỷ thứ IV Tây
lịch) là bản Bát Nhã Tâm Kinh (Heart Sutra) và Kim Cương Bát
Nhã (Diamond Sutra). Nghiên cứu của Edward Conze xác định rằng
sự tập thành của kinh Bát Nhã được diễn ra theo một trình
tự: trước hết là Bát Nhã 8.000 câu (ślokas), tiếp theo sau
là Bát Nhã 10.000 câu, 18.000 câu, 25.000 câu, và 100.000 câu;
sau đó Bát Nhã lại được tinh giản thành 2.500 câu, 700 câu,
500 câu, 300 câu (kinh Kim Cương), 150 câu, 25 câu (Tâm kinh) và
sau cùng chỉ có một âm tiết “A”. Sự tập thành kéo dài
này hoàn tất vào khoảng năm 700 Tây lịch (A.D.)[ii]
Lịch
sử tư tưởng của văn học Bát Nhã đã được nghiên cứu
rất phổ biến, đáng chú ý nhất là những nghiên cứu của
Thiền sư Suzuki và nhà Phật học nổi tiếng Edward Conze[iii].
Và như đã đề cập, tinh yếu của hệ tư tưởng này được
gói trọn trong bài Bát Nhã Tâm Kinh (Heart Sutra), trong đó bản
dịch được hâm mộ nhất đối với Phật tử Á Đông là
bản của ngài Huyền Trang (dịch vào năm 649)[iv], dài không
hơn 300 chữ, hay nói chính xác hơn là 262 chữ. Bản dịch này
là bản kinh thuộc lòng của Phật tử ở các nước Viễn
Ðông châu Á và nó cũng được lưu hành rất phổ biến tại
các cộng đồng Phật giáo ở châu Âu và Bắc Mỹ với tên
gọi quen thuộc là Heart Sutra, tức là Kinh Trái Tim. Theo Eward
Conze, “Bát Nhã Tâm Kinh (Heart Sutra), một trong những văn bản
tâm linh hùng vĩ nhất của nhân loại, là một tái thẩm định
về bốn Chân lý, được minh giải dưới ánh sáng ưu việt
của Tánh Không luận.”[v]
Bản
Tâm kinh này hiện nay đã được dịch ra nhiều thứ tiếng
trên thế giới. Bản Anh ngữ đầu tiên do Max Muller dịch,
in năm 1884; bản thứ hai do Shaku Hannya dịch, in năm 1923; bản
dịch lần thứ ba do Thiền sư Suzuki dịch, và được in trong
bộ Thiền Luận (Essay in Zen Buddhism) vào năm 1934. Và đến
năm 1948, Eward Conze công bố thêm một bản dịch mới. Trên
đây là các bản dịch nổi tiếng của các học giả có thẩm
quyền chuyên môn về Phật học.
Về
nội dung, Tâm kinh được xem như là “trái tim” của toàn
bộ tư tưởng Phật giáo Đại thừa được nói ra bởi Tuệ
giác Vô thượng của Phật, nhằm dắt dẫn chúng sinh đi vào
thực tại–giải thoát. Do đó, mặc dầu bản kinh dài không
qúa 300 âm tiết nhưng nó đã đề cập hầu hết các giáo
lý truyền thống như bốn Thánh đế, mười hai Nhân duyên,
năm Uẩn .v.v., đặc biệt là những giáo lý truyền thống
đó được soi sáng bằng con mắt của Tánh Không.
Nói
về sự kỳ vĩ của Tánh Không, người viết đã nhấn mạnh
rằng: “Ðiều độc nhất vô nhị ở đây là sự lôi kéo
về trần thế này và con người này một trú xứ nhân gian
Tịnh độ... mà chúng ta cứ những tưởng trú xứ của niềm
phúc lạc vô biên đó không có ở đây, ở mảnh đất gổ
ghề, cấu nhiễm của những sinh linh đang thất thểu trong
vui buồn, say tỉnh với bao nỗi khổ trầm luân. Dưới ánh
sáng của Tánh Không, lần đầu tiên chúng ta biết rằng quê
hương của Niết bàn là trần thế.”[vi]
Nội
dung của tập sách mà bạn đang cầm trên tay không phải là
một nghiên cứu đúng nghiã về Tánh Không luận hay về tư
tưởng và văn học Bát Nhã, mà trái lại chỉ là một sự
chuyển ngữ từ Hán văn sang Việt văn dựa trên nguồn cảm
hứng tâm linh mà người viết muốn diễn đạt bằng ngôn
ngữ ‘quê hương’ của mình. Bên cạnh đó, người viết
cũng đưa ra một vài ghi chú quan trọng về bức thông điệp
của Tâm Kinh. Tuy Nhiên, để tránh những ngộ nhận về ngôn
từ khi đọc bản dịch này, độc giả nên tham khảo bản
gốc tiếng Phạn và Hán được đính kèm. Ở đây, nội dung
của tập sách này được bố cục thành bốn phần: Phần
một: Nguyên bản và một số bản dịch Bát Nhã Tâm Kinh; phần
hai: Cấu trúc của kinh; Phần ba: thông điệp của kinh, và
phần bốn: nghi thức thọ trì kinh. Trong lần tái bản này,
một vài chi tiết được sửa chửa và bổ sung so với bản
in lần đầu mười năm trước đây, in vào năm 1997.
Sau
cùng, ước mong bản dịch và những ghi chú về Tâm kinh này,
một cách nào đó, giúp người đọc khơi gợi nguồn thiêng
cảm nội tại và khát vọng thể nghiệm đời sống “xa rời
cuồng si mộng tưởng”, một đời sống của thực tại-giải
thoát. Nguyện đem công đức này, hướng về khắp muôn loài,
cầu cho muôn chúng sinh, chóng viên thành Phật đạo.
Los
Angeles, Mùa An Cư 2007
Khải
Thiên
Phần
Một
I. Tâm Kinh
nguyên Bản tiếng Phạn
prajñāpāramitāhṛdayasūtram
[saṃkṣiptamātṛkā]
//
namaḥ sarvajñāya //
āryāvalokiteśvarabodhisattvo
gambhīrāṃ prajñāpāramitācaryāṃ caramāṇo vyavalokayati sma
/ pañca skandhāḥ, tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma //
iha
śāriputra rūpaṃ śūnyatā, śūnyataiva rūpam / rūpān na pṛthak
śūnyatā, śūnyatāyā na pṛthag rūpam / yad rūpaṃ sā śūnyatā,
yā śūnyatā tad rūpam //
evam
eva vedanāsaṃjñāsaṃskāravijñānāni //
iha
śāriputra sarvadharmāḥ śūnyatālakṣaṇā anutpannā aniruddhā
amalā na vimalā nonā na paripūrṇāḥ / tasmāc chāriputra śūnyatāyāṃ
na rūpam, na vedanā, na saṁjñā, na saṃskārāḥ, na vijñānāni
/ na cakṣuḥśrotraghrāṇajihvākāyamanāṃsi, na rūpaśabdagandharasaspraṣṭavyadharmāḥ
/ na cakṣurdhātur yāvan na manodhātuḥ //na vidyā nāvidyā na vidyākṣayo
nāvidyākṣayo yāvan na jarāmaraṇaṃ na jarāmaraṇakṣayo na
duḥkhasamudayanirodhamārgā na jñānaṃ na prāptir nābhisamayas
tasmād aprāptitvāt//
boddhisattvasyaprajñāpāramitām
āśritya viharato’ cittāvaraṇaḥ/ cittāvaraṇanāstitvād atrasto
viparyāsātikrānto niṣṭhanirvāṇaḥ / tryadhvavyavasthitāḥ
sarvabuddhāḥ prajñāpāramitām āśritya anuttarāṃ samyaksaṃbodhim
abhisaṃbuddhāḥ
tasmāj
jñātavyaḥ prajñāpāramitā mahāmantro mahāvidyāmantro ‘nuttaramantro
‘samasamamantraḥ
sarvaduḥkhapraśamanaḥ
satyam amithyatvāt/ prajñāpāramitāyām ukto mantraḥ / tadyathā
gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā //
iti
prajñāpāramitāhṛdayasūtraṃ samāptam
II.
Tâm Kinh- Bản Hán dịch của Huyền Trang
般若波羅蜜多心經
(Taishō
No 251)
唐三藏法師玄奘譯
觀自在菩薩。行深般若波羅蜜多時。照見五蘊皆空。度一切苦厄。舍利子。色不異空。空不異色。色即是空。空即是色。受想行識亦復如是。舍利子。是諸法空相。不生不滅。不垢不淨不增不減。是故空中。無色。無受想行識。無眼耳鼻舌身意。無色聲香味觸法。無眼界。乃至無意識界。無無明。亦無無明盡。乃至無老死。亦無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。以無所得故。菩提薩埵。依般若波羅蜜多故。心無罣礙。無罣礙故。無有恐怖。遠離顛倒夢想。究竟涅槃。三世諸佛。依般若波羅蜜多故。得阿耨多羅三藐三菩提。故知般若波羅蜜多。是大神咒。是大明咒是無上咒。是無等等咒。能除一切苦。真實不虛故。說般若波羅蜜多咒即說咒曰
揭帝揭帝 般羅揭帝 般羅僧揭帝菩提僧莎訶。
III. Bát Nhã
Ba La Mật Ða Tâm Kinh (Ngữ âm Hán -Việt)
1.
Quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời,
chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
2.
Xá Lợi tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc
tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức
diệc phục như thị.
3.
Xá Lợi tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt,
bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
4.
Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức;
vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô
minh diệc, vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão
tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
5.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhã Ba la mật
đa cố tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố vô hữu khủng
bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết bàn.
6.
Tam thế chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa cố đắc A nậu Ða
la tam miệu tam Bồ đề.
7.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại
minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng
trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát
nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: “Yết đế,
yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề, tát
bà ha.”
IV. Tâm
Kinh Bản Anh Ngữ
Prajñāpāramitā
hrdaya Sūtra
1.
The Bodhisattva Avalokitésvara, while engaged in the practice of profound
Prajñāpāramitā, perceived that the five aggregates were empty of “self-existence”;
thus, he overcame all sufferings and troubles.
2.
O Sāriputra, Form does not differ from Emptiness, and Emptiness does not
differ from Form; Form is Emptiness, and Emptiness is Form. The same can
be said of feelings, conceptions, actions, and consciousnesses.
3.
O Sāriputra, the characteristics of the Emptiness of all dharmas are that
they are not arising, not ceasing, not defiled, not immaculate, not increasing,
and not decreasing.
4.
For these reasons, in Emptiness there are no forms, no feelings, no conceptions,
no actions, no consciousnesses: no eyes, ears, tongue, body, or mind; no
form, sound, odor, taste, touch or mind-object; no eye elements until we
come to no elements of consciousnesses; no ignorance and no extinction
of ignorance; no old age and death, and no extinction of old age and death;
no truth of sufferings, and no truth of the causes of sufferings, of the
cessation of sufferings, or of the path. There is no knowledge and no attainment
whatsoever.
5.
By reason of non-attainment, the Bodhisattva dwelling in Prajñāpāramitā
has no obstacles in his mind. Because there are no obstacles in his mind,
he has no fear and, going far beyond all perverted views, confusions, and
imaginations, reaches the ultimate Nirvāna.
6.
All the Buddhas of the past, present, and future, by relying on the Prajñāpāramitā,
attain the Supreme Enlightenment.
7.
Therefore, one should know that the Prajñāpāramitā is the great incantation,
the incantation of great wisdom, the unexcelled incantation, and the equal
of the unequalled incantation that is capable of allaying all sufferings,
true because it is devoid of falsehood. This is the incantation proclaimed
in the Prajñāpāramitā. The incantation is proclaimed as follows: “Gate,
gate; pāragate, parasamgate, Bodhi, svāhā!”
(Dựa
theo bản dịch của D.T. Suzuki, Garma Chang và E. Conze)
V.
Tâm Kinh (bản dịch tiếng Việt)
Kinh
Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng
A-
Khi tiến sâu (1) vào nguồn mạch của Tuệ giác Vô thượng
(2), Người Tỉnh Thức Bình Yên (3) soi sáng như thật rằng
tự tính của năm hợp thể (4) đều là Không (5), liền thoát
ly mọi khổ ách.
B-
Này người con dòng Sari (6), hình thể chẳng khác chân không
(7), chân không chẳng khác hình thể; hình thể là chân không,
chân không là hình thể; cảm xúc (8), niệm lự (9), tư duy
(10) và ý thức (11) đều là như vậy.
C-
Này người con dòng Sari, tất cả hiện hữu được biểu thị
là Không; nó không sanh, không diệt; không nhơ, không sạch;
không tăng, không giảm.
D-
Vì thế, này người con dòng Sari, trong Không không có hình
thể, không có cảm xúc, không có niệm lự, không có tư duy,
không có ý thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý
; không có hình thể, âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc chạm
(12) và hiện hữu (13). Không có đối tượng của mắt, cho
đến không có đối tượng của ý thức; không có minh, không
có vô minh; không có sự chấm dứt của minh, cũng không có
sự chấm dứt của vô minh; cho đến không có tuổi già và
sự chết, cũng không có sự chấm dứt tuổi già và sự chết;
không có khổ đau, không có nguyên nhân của khổ đau, không
có sự chấm dứt khổ đau, và không có con đường đưa đến
sự chấm dứt khổ đau (15); không có trí giác (16) cũng không
có sự thành tựu trí giác.
E-
Người Tỉnh Thức Bình Yên, do không sở đắc nên sống an
lành trong Tuệ giác Vô thượng và thoát ly tất cả chướng
ngại. Và rằng, vì không có những chướng ngại trong tâm
nên không có sợ hãi và xa rời những cuồng si mộng tưởng,
cứu cánh Niết bàn.
F-
Tất cả chư Phật trong ba đời (17) đều nương vào Tuệ giác
Vô thượng mà thành tựu (18) chánh giác.
G-
Vì thế, nên biết rằng Tuệ giác Vô thượng là sức thần
(19) kỳ vĩ, là sức thần của trí tuệ vĩ đại, là sức
thần cao tuyệt, là sức thần tối hậu, vô song; có thể trừ
diệt tất cả khổ đau. Sức thần thoắt sinh từ Tuệ giác
Vô thượng này là sự thật, là chân lý. Sức thần có năng
lực tối thượng đó được tuyên nói trong kinh Trái Tim Tuệ
Giác Vô Thượng rằng:
“Ði
qua, đi qua,
Ði
qua bờ bên kia,
Ðã
đi qua đến bờ bên kia, Svāhā!”
Chú
thích đặc biệt của bản dịch tiếng Việt:
(1)
Cụm từ “tiến sâu” trong bản dịch này mang ý nghĩa: sự
“thể nhập” hay “thể nghiệm” của dòng tâm thức trong
“thiền quán”. Trạng thái của dòng tâm thức này dĩ nhiên
được vận hành trên căn bản của tâm thức an định.
(2)
“Nguồn mạch của Tuệ giác Vô thượng” được dịch từ
cụm từ “thâm Bát nhã-profound Prajñāparamitā”; ở đây,
“trí tuệ bên kia bờ” hay “trí tuệ đáo bỉ ngạn” —
trí tuệ (prajñā), bên kia bờ (pāramitā) có thể được hiểu
là “tuệ giác vô thượng”. Vì lẽ, chỉ có hàng đại Bồ
tát từ Bát Địa (trong Thập địa) trở lên mới phát huy
trí tuệ đặc biệt này. Từ “nguồn mạch” được thêm
vào trong bản tiếng Việt để nhấn mạnh yếu tố “thẳm
sâu” của tuệ giác, một loại tuệ giác đầu nguồn mang
tính cách uyên nguyên và vô phân biệt.
(3)
“Người Tỉnh Thức Bình Yên” trong nguyên văn của bản
kinh là Bồ Tát Avalokitésvara (Bodhisattva Avalokitésvara). Ở đây,
Avalokitésvara được dịch theo hai cách: Quán Thế Âm và Quán
Tự Tại. Trong bản dịch chữ Hán của Ngài Huyền Trang, danh
từ này được dịch là Quán Tự Tại. Từ kép Sanskrit này
được kết hợp bởi: Avalokita có nghĩa là quán, chiếu kiến,
hay nhìn khắp nơi; và isvara có nghĩa là chúa tể, hay bậc
siêu nhân có quyền năng hành xử một cách tự do. Vấn đề
này cũng được bàn đến trong Bát Nhã Tâm Kinh Tán của Viên
Trắc (Wonch’uk). Trong bản tiếng Việt, danh từ này được
dịch là “Người Tỉnh Thức Bình Yên” nhằm mô tả trạng
thái “an tịnh” trong tâm thức của Bồ Tát, người đang
trú trong thiền định và kiến chiếu đương thể (năm hợp
thể) tức không.
(4)
“Năm hợp thể” là năm uẩn (skandhas).
(5)
“Không” tức là Śūnyatā.
(6)
Mẹ của Sāriputra là người rất thông minh nên có hiệu là
Sari. Trung Hoa dịch chữ Sariputra là Xá Lợi Tử, hay Xá Lợi
Phất nghĩa là, đứa con dòng Xá Lợi (Sari). Do đó, ở đây
dịch là: Người con dòng Sari, lối dịch này đã được sử
dụng trong bản dịch “Kinh Ruột Tuệ Giác Siêu Việt” của
Thi Vũ, do Trí Quang giới thiệu, xuất bản năm 1973, tại Paris.
(7)
“Hình thể và chân không” là hai từ biểu thị cho sắc
và không. Cả hai từ này đều mang tính cách giả định. Ví
dụ: khi nói đến sắc tức là nói đến một hình thể, một
vật hữu hình, một vật chất…mà nó đối nghịch lại với
không: như chân không, không hình thù, không hiện hữu hay không
thực có. Dĩ nhiên, không trong đối lập với sắc ở đây
được hiểu là giả định; nhưng Không trong tinh yếu của
Bát Nhã là Śūnyatā, nó vượt lên trên mọi phân biệt, đối
lập giữa sắc và không.
(8)
“Cảm xúc” tức là Thọ uẩn (vedanayā).
(9)
“Niệm lự” là một cách diễn dịch về Tưởng uẩn (samjñā:
những niệm lự hay các ấn tượng của tri giác).
(10)
“Tư duy” tức là Hành uẩn (samskāra-mental formations). Tư
duy là yếu tố căn bản trong đời sống tâm thức, nó nổi
bật trong mọi sự tạo tác và tựu thành của nghiệp (karmic
formations).
(11)
“Ý thức” (vijñāna) là Thức uẩn, bao gồm cả ba yếu tố:
cảm xúc (thọ), niệm lự (tưởng), và tư duy (hành).
(12)
“Xúc” (sparśa) trong (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).
Xúc là tiếp xúc, giao thoa giữa các căn và trần.
(13)
Hiện hữu được dùng đồng nghĩa với pháp (dharma).
(14)
Vô minh (avidyayā), nguồn gốc của sự khổ đau.
(15)
Tứ đế (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Ðạo đế).
(16)
Trí giác dịch từ "Vô trí diệc vô đắc".
(17)
Ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai.
(18)
Thành tựu ở đây có nghĩa là đã giải thoát khỏi thế giới
sinh tử của nhị nguyên.
(19)
“Sức thần” tức là năng lực phi thường được sinh khởi
linh ngữ hay thần chú (mantra).
Phần Hai
Cấu Trúc Của
Kinh Trái Tim
I.
Cấu Trúc
Bản
Tâm kinh lời Việt trên được chia thành bảy phân đoạn,
biểu thị cho con đường tu tập của Bồ Tát khởi đầu bằng
thiền quán, và được trình bày thứ tự như sau:
1-Phân
đoạn một: Giới thiệu tổng quát: a- Chủ thể quán sát;
b- Trí tuệ quán sát ; c- Ðối tượng quán sát, và d- Tác năng
hay hiệu lực của trí tuệ quán sát.
2-
Phân đoạn hai: Giới thiệu về Tánh Không qua hai phạm trù
hiện tượng và bản thể.
3-
Phân đoạn ba: Giải minh về bản Tánh Không giữa những khái
niệm phân biệt.
4-
Phân đoạn bốn: Minh thị Bản Tánh Không vượt lên trên
5 uẩn, 12 xứ, 18 giới và 12 nhân duyên và 4 Thánh đế bằng
hình thức phủ định liên hồi.
5-
Phân đoạn năm: Giới thiệu về năng lực của Tuệ giác Vô
thượng và sự thành tựu đời sống “xa rời cuồng si mộng
tưởng” hay đời sống “Niết bàn”.
6-
Phân đoạn sáu: Xác chứng về Tuệ giác Vô thượng qua ba
đời chư Phật.
7-
Phân đoạn bảy: Minh thị về sức thần (thần lực) của
Tuệ giác Vô thượng đối với sự diệt trừ khổ đau hay
thăng chứng Niết bàn. Và, kết thúc, Tâm kinh tuyên câu linh
ngữ: “Gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā!”
II.
Phân Tích
A.
Phân đoạn một:
“Khi
tiến sâu vào nguồn mạch của Tuệ giác Vô thượng, Người
Tỉnh Thức Bình Yên soi sáng như thật rằng tự tính của
năm hợp thể đều là Không, liền thoát ly mọi khổ ách.”
Ðoạn
kinh mở đầu này chỉ có một câu duy nhất, cũng là câu luận
đề (thesis statement) của toàn bộ bản kinh. Và sau khi đọc
hết toàn bản kinh ta sẽ thấy rằng tất cả nội dung của
nó được hàm chứa trong câu luận đề này một cách trọn
vẹn và chặt chẽ. Ở đây, luận đề của kinh bao gồm: (1)
Chủ thể quan sát (Bồ Tát Avalokitésvara), (2) Ðối tượng
quan sát (năm uẩn hay năm hợp thể), (3) Cơ sở quan sát (trí
tuệ Bát nhã) và (4) Tác năng hay hiệu lực của trí tuệ quan
sát (soi sáng tự tính của năm hợp thể là Không, và thoát
ly mọi khổ ách)
(1)
Chủ thể quan sát:
Bồ
Tát Avalokitésvara được dịch theo hai cách: Quan Thế Âm và
Quán Tự Tại, cả hai danh từ này đều chỉ cho một vị Bồ
Tát. Như đã đề cập, danh từ Avalokitésvara, trong Tâm Kinh,
được dịch là Quán Tự Tại nhằm nhấn mạnh “quyền năng
vô ngại” của vị đại Bồ tát dùng phương tiện quán chiếu
Bát Nhã để soi sáng (kiến chiếu) đương thể tức không
một cách tự do. Mặc dù vậy, theo từ nguyên, Quán Thế Âm
hay Quán Tự Tại đều được dịch từ một danh từ duy nhất
đó là Avalokitésvara. (Xem chú thích 03.) Trong nỗ lực Việt
hóa, danh từ “Quán Tự Tại” được dịch là “Người
Tỉnh Thức Bình Yên”. “Tỉnh thức” và “bình yên” ở
đây biểu thị cho trạng thái “an tịnh” của thiền định.
(2)
Ðối tượng quan sát:
Ðối
tượng quan sát ở đây là năm uẩn hay năm hợp thể (aggregates)
gồm: hợp thể của sắc (thuộc thế giới vật lý), của
thọ, tưởng, hành và thức (thuộc tâm lý), nói chung là con
người và thế giới sự vật hiện tượng (The world of phenomena).
(3)
Cơ sở quan sát:
Ở
đây, cơ sở dùng để quan sát là trí tuệ Bát nhã (Tuệ giác
Vô thượng), hay trí tuệ thoát ly nhị nguyên; trực nhận thực
tại như là chính nó (to their appearances as they really are). Kinh
gọi là trí tuệ bên kia bờ: Trí tuệ (prajñā), Bên kia bờ
(pāramitā).
(4)
Tác năng của trí tuệ quan sát:
Tác
năng của trí tuệ quan sát trước hết được xác định ở
hai điểm ngay trong câu luận đề của kinh: a) “Hành thâm
Bát nhã” (engaged in the practice of profound Prajñāpāramitā) và
b) “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” (perceived that the five
aggregates are empty of self-existence). Mối quan hệ nhân quả được
thể hiện rất rõ ở đây là khi Bồ Tát “Hành thâm Bát
nhã” thì người sẽ “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không”
và do đó được “thoát ly mọi khổ ách” (overcame all sufferings
and
troubles). Như vậy, tác năng hay hiệu lực của trí tuệ quan
sát ở đây là thực tại-giải thoát. Cũng nên lưu ý rằng,
mệnh đề “độ nhất thiết khổ ách” là phần được
thêm vào trong bản dịch.
B.
Phân đoạn hai:
“Này
người con dòng Sari, hình thể chẳng khác chân không, chân
không chẳng khác hình thể. Hình thể là chân không, chân không
là hình thể; cảm xúc, niệm lự, tư duy và ý thức đều
là như vậy.”
Phân
đoạn này giới thiệu về Tính Không qua hai phạm trù: hiện
tượng (phenomenon) và bản thể (noumenon). Về mặt hiện tượng,
kinh giả định bằng hai hiện hữu (dharma) đối lập: sắc
(hình thể) và không (chân không—không hình thù và không tướng
trạng). Dựa vào hai phạm trù giả định này, kinh minh thị
sự đồng nhất của bản thể: “sắc chẳng khác không và
ngược lại không chẳng khác sắc; sắc là không và không
là sắc”. Có thể lấy thí dụ về hình ảnh của sóng và
nước để minh họa cho hai phạm trù sắc và không. Về mặt
hiện tượng, sóng và nước là hai biểu hiện hầu như khác
nhau, nhưng về mặt bản thể, sóng là hiện thân của nước,
hay nói khác đi, sóng chính là nước. Ở đây không có khác
biệt nào trong bản chất của sóng và nước. Đây là cơ sở
để nhận thức về “thực tính-vô tính” của năm uẩn
(sắc, thọ, tưởng, hành, và thức).
C.
Phân đoạn ba:
“Này
người con dòng Sari, tất cả hiện hữu được biểu thị
là Không; nó không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch,
không tăng, không giảm.”
Phân
đoạn này giải minh bản tính Không hay còn gọi là “thực
tính-vô tính” của hiện hữu (dharmas) giữa những khái niệm
phân biệt, bao gồm con người và thế giới sự vật hiện
tượng. Bản chất của con người và thế giới vốn không
có một ngã thể độc lập, chúng là hiện hữu của duyên
sinh; do đó, từ trong thâm sâu, cái mà gọi là tự tính của
hiện hữu thực chất là “vô tính” hay “Không có tự tính”.
Nói khác đi, bản chất của tất cả hiện hữu là không có
một ngã thể (entity) độc lập, tuyệt đối. Vì vậy, chuyện
sinh diệt, nhơ sạch, tăng giảm ở đây là do ý niệm phân
biệt của con người giả định mà thôi; hiện hữu hay các
pháp vốn không có những đặc tính đó. Ðiều này được
giải thích rõ qua: (i) giáo thuyết của Trung Quán (Mādhyamika)
với các mối liên hệ giữa “không, giả danh, và trung đạo”;
hoặc là (ii) ba tự tính của triết học Duy thức (Vijñapati-mātratā-vāda):
1- Tự tính giả lập (parikalpita - svabhāva): hiện hữu vốn
không thật nên không thể được xem như là sinh diệt, nhơ
sạch, tăng giảm. 2- Tự tính tùy thuộc (panratantra svabhāva),
hiện hữu là do duyên sinh nên không thể nói là có sinh diệt,
nhơ sạch, tăng giảm. 3- Tự tính tuyệt đối (prinispanna-svabhāva),
hiện hữu của các pháp là “như thế” (tathagata), vốn thoát
ly ngoài ý niệm nhân, ngã nên không thể nói đến sinh diệt,
nhơ sạch, tăng giảm.
D.
Phân đoạn bốn:
“Vì
thế, này người con dòng Sari, trong Không không có hình thể,
không có cảm xúc, không có niệm lự, không có tư duy, không
có ý thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; không
có hình thể, âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc chạm và hiện
hữu; không có đối tượng của mắt cho đến không có đối
tượng của ý thức; không có minh, không có vô minh; không
có sự chấm dứt của minh, cũng không có sự chấm dứt của
vô minh; cho đến không có tuổi già và sự chết, cũng không
có sự chấm dứt của tuổi già và sự chết; không có khổ
đau, không có nguyên nhân của khổ đau, không có sự chấm
dứt khổ đau và không có con đường đưa đến sự chấm
dứt khổ đau; không có trí giác cũng không có sự thành tựu
trí giác.
Nội
dung của phân đoạn này, Tâm kinh giải thích về “vô tự
tính” hay “bản tính không” thông qua sự phủ định các
pháp căn bản: 5 uẩn (skandhas): Sắc (hình thể) gồm nội sắc
(thân thể vật lý) và ngoại sắc (thế giới sự vật hiện
tượng). Nội sắc bao gồm: cảm xúc (cảm thọ), niệm lự
(tưởng), tư duy (hành) và ý thức. Kế đến, Tâm kinh nói
về các xứ (ayatanas), nơi sản sinh ra các tác nghiệp. Sáu
xứ bao gồm: 6 nội xứ (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và
6 ngoại xứ (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp [hay hiện hữu]),
cộng chung lại thành 12 xứ. Do các hoạt động giao tiếp giữa
sáu nội xứ (chủ thể) và sáu ngoại xứ (đối tượng) nên
hình thành sáu thức (của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý),
gọi chung là 18 giới (dhatus), tức 18 nền tảng của hiện
hữu. Nương tựa vào 5 uẩn (hợp thể) và 18 giới mà 12 nhân
duyên (vô minh, hành, thức, danh-sắc, lục nhập, xúc, thọ,
ái, thủ, hữu, sinh, lão - tử) xoay tròn theo nguyên tắc của
Bốn Thánh đế (khổ, tập, diệt, đạo) theo hai hướng, hoặc
lưu chuyển (từ tập đế đến khổ đế) hoặc hoàn diệt
(từ đạo đế đến diệt đế).
Điểm
chính của phân đoạn này là ở chỗ, Kinh dùng hình thức
phủ định liên hồi của nó để cắt nghĩa khái niệm “vô
trí diệc vô đắc”. Mục tiêu chính của phát biểu nàylà
nhằm phủ định bất kỳ sự bám víu (có thể) nào của phân
biệt nhị nguyên.
E.
Phân đoạn năm:
“Người
Tỉnh Thức Bình Yên, do không sở đắc nên sống an lành trong
Tuệ giác Vô thượng và thoát ly tất cả chướng ngại. Và
rằng, vì không có những chướng ngại trong tâm nên không
có sợ hãi và xa rời những cuồng si mộng tưởng, cứu cánh
Niết bàn.”
Phân
đoạn này nói về sức mạnh của Tuệ giác Vô thượng hay
là Trí tuệ Bát nhã. Ở đây, điều quan trọng là khi hành
giả an trú trong trí tuệ Bát nhã sẽ vượt qua mọi chướng
ngại của vô minh, tham ái và chấp thủ. Hay nói khác hơn là
với
trí tuệ Bát Nhã, hành giả sẽ thấy rõ hiện hữu như là
chính nó, nghĩa là tất cả những gì xuất hiện trong tri giác
phân biệt của chúng ta đều là vô ngã, vô thường. Do thấy
rõ như vậy nên hành giả vượt thoát mọi chướng ngại;
và lúc bấy giờ trong tâm hành giả không còn sự hiện hữu
nào của sợ hãi và cuồng si mộng tưởng. Một tâm thức
tịch tịnh như thế chính là miền Niết bàn cứu cánh. Dưới
ánh sáng rực rỡ của trí tuệ Bát nhã, mọi phân biệt nhân
ngã đều hóa thành hư ảo và mọi sự bám víu đều được
rũ bỏ trong đời sống “viễn ly”. Đây là mục tiêu của
Bát Nhã.
F.
Phân đoạn sáu:
“Tất
cả chư Phật ba đời đều nương vào Tuệ giác Vô thượng
mà thành tựu chánh giác.”
Phân
đoạn này được xem như là điều xác chứng của Phật về
năng lực và sức mạnh vĩ đại của Tuệ giác Vô thượng
qua truyền thống giác ngộ của chư Phật ở quá khứ, hiện
tại, và vị lai. Đây cũng là lý do tại sao trong văn học
Bát Nhã nhấn mạnh rằng “Bát Nhã là mẹ của chư Phật.”
G.
Phân đoạn bảy:
“Vì
thế, nên biết rằng Tuệ giác vô thượng là sức thần kỳ
vĩ, là sức thần của trí tuệ vĩ đại, là sức thần cao
tuyệt, là sức thần tối hậu, vô song, có thể trừ diệt
tất cả khổ đau. Sức thần thoắt sinh từ Tuệ giác Vô thượng
này là sự thật, là chân lý. Sức thần có năng lực tối
thượng đó được tuyên nói trong kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô
Thượng rằng: “Ði qua, đi qua, đi qua bờ bên kia, đã đi
qua đến bờ bên kia, svaha!”
Phân
đoạn này xác định thêm một lần nữa về sức mạnh của
năng lực trí tuệ, có thể diệt trừ khổ đau, siêu thoát
cho chính mình và tế độ tha nhân. Ðoạn kết của kinh Trái
Tim, ta thấy rõ trí tuệ (wisdom) được đề cao như một chân
lý tuyệt đối (Absolute truth), và đây quả thực là “trái
tim” của tư tưởng Đại thừa Phật giáo, một loại tư
tưởng triết học ở bên kia bến bờ của nhị nguyên.
Tóm
lại, nội dung của kinh Trái Tim dài không quá 300 chữ, được
mở đầu bằng luận đề: “Khi tiến sâu vào nguồn
mạch của tuệ giác vô thượng, Người Tỉnh Thức Bình Yên
soi sáng như thật rằng tự tính của năm hợp thể đều là
Không, liền thoát ly mọi khổ ách”. Và nội dung chính
của kinh là triển khai luận đề: “Soi sáng như thật
rằng tự tính của năm hợp thể đều là Không” qua
sự phân tích tiến trình của 5 uẩn (hợp thể) 12 xứ, 18
giới, 12 nhân duyên và 4 Thánh đế. Rõ ràng, kinh Trái Tim có
một giá trị đặc biệt về ngôn ngữ và kết cấu văn pháp,
cũng như về nội dung thông điệp (xem Phần Ba) của nó. Có
lẽ, đây là lý do tại sao bản kinh rất ngắn này được
truyền tụng hàng ngày trong đời sống của người Phật tử.
Tuy nhiên, trước viễn cảnh của thực tại, thông điệp của
kinh Trái Tim cũng chính là sự thách thức lớn lao của con
người. Vì lẽ, đối diện với Tánh Không, chủ thể hoặc
là bị cuốn hút vào thế giới hư vô không tận, hoặc là
nở nụ trưng bày sức sống luân lưu bất tuyệt của dòng
thực tại.
Sóng
về xóa dấu chân không
Bỗng
dưng thuyền đã bên dòng Chân như.
Phần
Ba
Thông Điệp
của Kinh Trái Tim
Lời
dẫn vào Thông điệp
Bạn
thân mến,
Mười
năm trước đây khi viết bức thông điệp của Kinh Trái Tim
tôi đã viết với tất cả tấm lòng. Lúc đó tôi tự nói
với lòng mình rằng, “công việc này qủa thực là liều
lĩnh nhưng đầy hứng thú.” Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ cảm
thấy hài lòng với bức thông điệp đó. Tôi cũng chẳng hiểu
vì sao? Thế rồi mười năm sau, khi đọc lại bản cũ, tôi
cảm thấy mình cần phải quay trở về với công việc này
thêm một lần nữa. Và đó là sự ra đời của bức thông
điệp mà bạn đang cầm trên tay.
Khi
viết bức thông điệp này, tôi không mang một ý thức rằng
mình đang cắt nghĩa hay giải minh về triết học Bát nhã,
mà trái lại, tôi viết từ một cảm xúc mà có lúc muốn
bật khóc vì thấm thía cái đẹp tuyệt vời trong lời dạy
của Đức Phật. Lời dạy của Ngài đã cứu rỗi tôi, ban
cho tôi một sự bình yên nội tại mà không làm sao tôi có
thể sánh với cái gì trên thế gian này.
Ước
mong rằng, qua bức thông điệp này, chúng ta có thể dìu dắt
nhau đi qua những đa đoan thế sự để trở về với miền
hạnh phúc-thực tại không bản ngã. Khi vui cũng như khi buồn,
xin bạn hãy đọc bức thông điệp này để sưởi ấm cõi
lòng nhân gian. Hy vọng, nụ cười của bạn sẽ xóa tan đau
khổ của sinh linh khắp trong ba nghìn thế giới.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
Los Angeles, Mùa an cư 2007.
Khải Thiên
Hành
Tinh Của Ánh Sáng
Bạn
thân mến,
Bức
thông điệp mà bạn đang cầm trên tay là “một phần tinh
hoa” được rút ra từ Kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng.
Khi nói đến “một phần tinh hoa” tôi muốn nói rằng chúng
ta đang chiêm nghiệm cái đẹp siêu việt và toàn bích của
Bát nhã trong một chiều kích rất giới hạn của một tâm
hồn còn nhiều xao xuyến bởi được, mất, hơn, thua…Tuy
nhiên, như ánh sáng của mặt trăng, những ai có mắt đều
nhìn thấy được; song cái đẹp của ánh sáng đó như thế
nào là tùy thuộc ở mỗi đôi mắt hay nói khác hơn là ở
mỗi tâm hồn. Chúng ta, ở đây, đang chia sẻ với nhau về
bức thông điệp kỳ vĩ của Bát nhã không phải trên bình
diện của lý thuyết mà ngay trong đời sống thực tại. Chắc
chắn rằng những ai lĩnh hội được bức thông điệp của
Bát nhã, cho dù chỉ là một phần rất nhỏ, sẽ có được
một đời sống hạnh phúc và bình an thực thụ, một đời
sống “xa rời cuồng si mộng tưởng”, một đời sống tự
tại giữa trùng điệp khổ đau.
Để
có thể đi vào đời sống mầu nhiệm của Bát nhã, trước
hết bạn cần phải một lần, hay ít ra là ngay trong giờ phút
này, bước vào hành tinh của ánh sáng. Vì lẽ, sinh mệnh của
Bát nhã chính là ánh sáng trí tuệ, một thứ ánh sáng vượt
lên trên mọi giới hạn của tâm hồn trần thế, hay nói khác
hơn đó là ánh sáng trí tuệ (prajñā) ở bên kia bờ (pāramitā).
Chính nhờ ánh sáng này mà một “linh hồn” khổ đau có
thể được “cứu rỗi”, một đời sống hạnh phúc thực
thụ có thể được dựng lập, và trên hết, một tâm thức
giác ngộ hy vọng được bừng lên không phải ở đoạn kết
của cuộc đời hay ở bên kia thế giới mà ở chính tại
mảnh đất này và con người này. Bạn nên nhớ rằng, chúng
ta có nhiều loại ánh sáng: ánh sáng của mặt trời, mặt
trăng, ánh sáng của thế giới tự nhiên, ánh sáng sinh học,
ánh sáng của khoa học, ánh sáng của tri thức .v.v. Ở đây,
ánh sáng trí tuệ bên kia bờ (prajñāpāramitā), gọi tắt là
Bát nhã, là một loại ánh sáng tâm linh phi thường, bạn không
thể lĩnh hội bằng còn đường lý luận, mà trái lại, bạn
chỉ có thể đạt được bằng con đường thể nghiệm và
tu tập hằng ngày của chính bản thân. Điều rất quan trọng
mà bạn cần phải tỉnh thức ngay bây giờ và ở đây là,
đời sống hạnh phúc của thế gian—tình yêu, tiền bạc,
danh vọng, địa vị, quyền lực .v.v.— trên thực tế hoàn
toàn không có gì được bảo đảm và chắc chắn, bởi vì
tất cả đều không ngừng thay đổi theo định luật vô thường.
Chỉ một cơn giận hay một sự hiềm tỵ nổi lên trong dòng
lưu chuyển của tâm thức, trong tích tắc mọi thứ có thể
sẽ hoàn toàn đổi khác; lúc bấy giờ cái mà chúng ta cho
là tình yêu, là hạnh phúc… có thể biến thành khổ đau.
Vì thế, đời sống hạnh phúc của thế gian sẽ rất bấp
bênh nếu như nó không được soi sáng và dắt dẫn bởi ánh
sáng của Bát nhã.
Vậy
đặc tính ánh sáng của Bát nhã là gì và nó đến từ đâu?
Bát
nhã, như đã nói, là một loại ánh sáng của trí tuệ mà
tự thân nó vượt lên trên mọi định kiến, cố chấp về
“hữu, vô, sinh, diệt, thường, đoạn, đồng, dị, khứ,
lai”[vii]. Do dựa vào bản chất siêu việt mọi định kiến,
cố chấp nên Bát nhã được định nghiã là “trí tuệ ở
bên kia bờ” (trí tuệ đáo bỉ ngạn), hay còn gọi là “trí
tuệ-vô ngã”. Cũng vậy, nhờ vào tính siêu việt này mà
Bát nhã luôn cưu mang trong chính nó một khả tính vô bờ.
Thử lấy bàn tay làm thí dụ. Khi ta đã cầm chắc một vật
nào đó trong tay, thì bàn tay tự nó không còn khả năng cầm
thêm một vật khác. Ngược lại, khi ta không cầm nắm hay
bám víu (thủ trước) bất kỳ cái gì, lúc bây giờ bàn tay
của ta sẽ có một khả năng vô hạn, nghiã là nó có thể
cầm bất cứ cái gì nó muốn. Đó chính là ý nghiã và khả
tính của sự không bám víu (vô thủ trước). Tương tự như
thế, khi một tâm thức không bám víu hay không bị chi phối
bởi tham, sân, chấp ngã, hay phiền não, nhiễm ô, lúc bấy
giờ, thực tại của tâm sẽ lưu chuyển như một nguồn ánh
sáng bao la không giới hạn, và không chướng ngại. Đấy chính
là một loại “thần lực” đặc thù của tâm thức không
bám víu. Do vậy, ánh sáng siêu việt của Bát nhã được kết
thành từ một tâm thức không có định kiến và cố chấp,
hay nói khác hơn là một tâm thức xả ly, thanh tịnh.
Trên
thực tế, thực tại của tâm luôn cưu mang hai dòng năng lượng:
sáng (thiện) và tối (bất thiện). Dòng năng lượng của ánh
sáng là tâm từ bi, tâm yêu thương, tâm khoang dung, tâm hỷ
xả…và ngược lại, là dòng năng lượng tối tăm, tức là:
tham lam, sân hận, thù oán, cố chấp, phiền não, và nhiễm
ô. Vì lý do này, Bát nhã được gọi là hành tinh của ánh
sáng, một hành tinh không có bất kỳ một bóng mờ nào của
phân biệt, cố chấp; một hành tinh của đời sống xả ly
thực thụ. Và đấy cũng là lý do tại sao, bạn được mời
gọi ngay từ đầu hãy một lần bước vào hành tinh của ánh
sáng để có thể lĩnh hội bức thông điệp hùng vĩ của
Bát nhã ba la mật (prajñāpāramitā).
Nói
tóm lại, bạn không cần thiết phải vướng bận quá nhiều
vào ngôn từ để đi vào thể nghiệm đời sống Bát nhã;
một điều duy nhất bạn cần thực hành đó là hãy sống
tự tại giữa lòng hiện hữu, sống buông bỏ mọi bám víu,
cố chấp, nhất là sự bám víu vào một khát vọng vĩnh cửu.
Vì khát vọng vĩnh cửu trên thực tế không gì khác hơn là
hiện thân của lòng chấp ngã. Nên nhớ rằng bạn sẽ không
mất cái gì hết khi thực hành tâm xả ly, mà trái lại, chính
sự xả ly hay không bám víu của tâm sẽ đem lại cho bạn
một đời sống nhẹ nhàng hơn và an lạc hơn rất nhiều.
Xả ly chừng nào thì hạnh phúc chừng đó. Bạn sẽ là người
rất hạnh phúc khi mọi gánh nặng (sự bám víu) trong tâm của
chính bạn được đặt xuống (xả ly).
Từ
Đôi Mắt Tinh Nguyên
Bạn
thân mến,
Giữa
cuộc sống với nhiều điều không như ý, với nhiều bức
bách, bất an, và thậm chí với nhiều khổ đau, làm sao bạn
có thể thực hành đời sống xả ly để nắm bắt hạnh phúc?
Đấy là câu hỏi của nỗi niềm thống thiết và là thách
thức lớn nhất trên con đường tìm kiếm hạnh phúc của
bạn. Xin hãy đừng lo âu! Thông điệp của Kinh Trái Tim sẽ
giới thiệu cho bạn một bước đi (nguyên lí) căn bản để
bạn có thể thực tập đời sống xả ly và thụ hưởng nguồn
hạnh phúc, an lạc ngay trong hiện tại của đời sống, cho
dù đời sống đó là bất an. Bước đi căn bản này được
bắt nguồn từ “đôi mắt tinh nguyên” mà Người Tỉnh Thức
Bình Yên (Avalokitésvara) đã thực hành thành tựu và đã vượt
qua mọi khổ đau.
Để
thực tâp bước đi căn bản này, trước hết bạn hãy nỗ
lực làm cho đôi mắt của chính bạn trở nên long lanh, sáng
ngời để nó có thể đạt đến một trạng thái tinh nguyên;
nghiã là, hãy làm cho con mắt của bạn không còn bị giới
hạn bởi “cái bạn đang là”!
“Cái
bạn đang là” là gì? Đó chính là con người hiện tại của
bạn, một con người được nhận diện qua năm yếu tố: cơ
thể (body), cảm thọ (feeling), ảnh tượng của tri giác (perception),
khuynh hướng tư duy (volitional action), và ý thức của các giác
quan (consciousnesses).
Ở
đây, cái nguyên nhân trực tiếp làm cho bạn bị phiền não,
bất an, hay ngăn cản bạn thụ hưởng nguồn hạnh phúc sống
động luôn trôi chảy, trước hết chính là sự “vẩn đục”
của đôi mắt, hay nói khác đi là sự bám víu của đôi mắt
(ngã kiến). Nói một cách cụ thể, bạn đang sống với/trong
những sự thật như vầy: tôi đang bận tâm với cơ thể của
tôi vì nó đang thay đổi; những cảm giác này là cái hoặc
là tôi khao khát hoặc là cái tôi chán ghét; tôi đang sa đà
hay bị cuốn hút một cách thụ động bởi những ảnh tượng
(vui, buồn, thương, ghét .v.v.) trong tâm tôi; tôi bị buộc
phải suy nghĩ miên man không tự chủ về một qúa khứ xa xôi
hay về một tương lai mờ ảo; tôi có ý thức, nhưng ý thức
của tôi bị tán loạn không ngừng .v.v. Những sự thật này
chính là những biểu hiện của sự bám víu (chấp thủ), nó
luôn làm vẩn đục đôi mắt của bạn và dĩ nhiên nó là
sức mạnh vô hình dồn bạn vào bến bờ của cả hy vọng
và sợ hãi. Trên thực tế, hy vọng và sợ hãi là hai yếu
tố thường trực trong tâm của bạn, nó hiện diện ngay cả
trong chiêm bao và mộng mị. Cho đến khi nào bạn những bám
víu này được buông xuống, thì đôi mắt của bạn sẽ trở
về tinh nguyên; nghiã là nó sẽ nhìn hiện hữu như là chính
nó.
Làm
sao cho đôi mắt trở về tinh nguyên?
Như
đã đề cập ngay từ đầu, bạn cần phải ít nhất một
lần bước vào hành tinh của ánh sáng, vì ở đó không có
sự hiện diện của những năng lượng tối tăm, tức là những
tâm thức tham, sân, kiêu mạn… Để bước vào hành tinh ánh
sáng, trên nguyên tắc không phải là một công việc khó khăn
hay nghiêm trọng; vì lẽ, bạn không cần phải làm thêm cái
gì hết mà chỉ có bỏ bớt [những bám víu] đi thôi! Trong
một giây phút, nếu bạn có thể bỏ đi những bám víu và
để cho dòng tâm thức của bạn trôi chảy trong sự tịnh
lạc, lập tức bạn có thể trở về với đôi mắt tinh nguyên.
Để làm được điều đó, bạn nên tư duy về ba tư tưởng
trọng yếu của cuộc sống như sau:
1.
Bản chất của cuộc đời là vô thường, bạn không thể
biến nó trở thành thường hằng; do đó hãy chấp nhận cả
cái tốt lẫn cái xấu trong dòng biến dịch-vô ngã một cách
không phản khán. Hãy thả mình để lắng nghe từng nhịp thở
của cuộc sống!
2.
Mục đích của cuộc sống con người là tìm kiếm hạnh phúc,
và cao hơn là chân lý; vậy thì, nếu sự buông bỏ bám víu
vào “cái tôi”, một cách nào đó, có thể sinh khởi nguồn
hạnh phúc cho ta, tại sao không thực tập sự buông bỏ để
sống hạnh phúc.
3.
Cuộc sống vốn là một hợp thể không có thật tính, và
do đó nó luôn bao hàm cả cái tốt lẫn cái xấu. Nếu chỉ
chấp nhận cái mình ưa thích và chạy trốn cái mình không
ưa thích, thế là mình trở thành kẻ bị động. Ngược lại,
khi bạn sẵn sàng chấp nhận cả cái tốt lẫn cái xấu như
thế là tự biến mình thành kẻ chủ động từ một gã cuồng
si bị động. Sự thật là, khi nào bạn làm chủ được mình,
lúc đó bạn sẽ làm chủ được thế giới chung quanh mình.
Ba
tư tưởng này, trong vô vàn tư tưởng khác, sẽ giúp bạn
trước hết là rửa sạch đôi mắt của mình và sau đó tạo
dựng cho tâm thức của chính mình một sự bình yên nội tại.
Người Tỉnh Thức Bình Yên, với đôi mắt tinh nguyên không
vẩn đục, đã nhìn thấy như thật rằng bản chất của cơ
thể này, của cảm thọ này, của mộng tưởng này, của tư
duy này, và của ý thức này là một hợp thể nhân duyên,
có đó rồi mất đó. “Cái tôi” thực chất chỉ là một
ý niệm hão huyền. Do thấy như vậy mà mọi phiền não được
rủ sạch, và người đã vượt thoát mọi khổ đau.
3.
Biển và Sóng
Bạn
thân mến,
Để
có thể chấp nhận cả cái tốt lẫn cái xấu một cách tự
tại, bạn cần phải nắm chắc trong tay một nguyên lí đó
là tính cách “vô phân biệt” (không hai, không khác) của
Bát nhã. Dĩ nhiên khái niệm “vô phân biệt” được dùng
ở đây không có nghĩa là “không biết tốt, xấu”, mà trên
căn bản nó là một “thách thức” của cái tự ngã độc
tôn và vị kỷ. Vì thế, vấn nạn được đặt ra ở đây
là: dẫu biết rằng chân lý của cuộc sống là vô thường
và bạn cũng có thể chấp nhận điều đó một cách dễ dàng,
nhưng từ trong đáy thẳm của tâm thức, làm sao bạn có thể
chấp nhận rằng hạnh phúc không khác với khổ đau, hay hạnh
phúc và khổ đau là một (sinh tử tức Niết bàn), hay như
Kinh Trái Tim nói: “sắc tức là không, không tức là sắc”?
Hay nói khác hơn, là một con người chúng ta khó có thể dung
hóa hai ý niệm này làm một. Vì lẽ, theo tập quán của suy
tư, ta luôn cho rằng hạnh phúc và khổ đau là hai yếu tố
hoàn toàn trái ngược nhau, giống như thiên đường và địa
ngục. Vậy thì làm sao để lĩnh hội được ý nghiã “bất
dị” và “tức thị” (không hai, không không khác) này?
Chúng
ta hãy lấy một thí dụ về sóng và nước từ đại dương.
Trên thực tế, sóng là biểu hiện của nước và nước là
bản chất của sóng; sóng khác nước một điểm duy nhất
đó là sự biểu hiện nó—trồi lên lặn xuống liên hồi
theo chuyển động của gió—mà thôi. Do đó, về mặt hiện
tượng, sóng và nước có vẻ như hai, tức là sóng khác với
nước, nhưng về mặt bản thể, sóng và nước là một, vì
cả hai có cùng một thể: nước. Đấy là ý nghiã không hai,
không khác của Bát nhã. Từ thí dụ này, bạn có thể thấy
rằng khổ đau và hạnh phúc tuy khác nhau về mặt biểu hiện,
như sự khác nhau giữa vui và buồn, nhưng về mặt bản thể,
cả hai là một vì chúng đều phát sinh từ một dòng tâm thức.
Sự thật là, vui cũng ở tại tâm mà buồn cũng ở tại tâm.
Khổ đau và hạnh phúc, cho đến các phạm trù thuộc cảm
thọ, mộng tưởng .v.v. cũng đều như vậy.
Tại
sao bạn cần thiết phải suy gẫm về hình ảnh của sóng và
nước? Vì rằng càng quan sát về nó bạn càng thấy rõ hơn
về tác dụng của sự phân biệt, nhất là khi sự phân biệt
đó nằm trong cơn khao khát của sự bám víu cuồng si vào “cái
tôi” và “cái của tôi”, cũng như vào thế giới của dục
vọng. Sự phân biệt dựa trên căn bản của tự ngã là con
đường dẫn đến mọi sự bám víu, cố chấp.
Trên
thực tế, nếu cuộc sống của bạn càng dựa trên đối đãi
phân biệt chừng nào thì bạn càng cảm thấy bất an và căng
thẳng chừng đó. Bạn có thể, chẳng hạn như, sẽ thấy
rằng những người chung quanh không tốt như bạn, không bằng
bạn, hay ở đẳng cấp khác với bạn, và do đó bạn không
cảm thấy dễ chịu để trải lòng ra với họ. Những cái
nhìn như thế chính là hiện thân của sự vị kỷ bắt nguồn
từ ý niệm phân biệt. Khi càng chìm sâu vào ý niệm phân
biệt, đời sống của bạn sẽ rơi vào trạng thái cố thủ;
cũng từ đó, sự nghi ngờ, suy đoán, và tưởng tượng không
ngừng tuôn trào trong tâm trí của bạn và nó sẽ phủ lấp
mọi nguồn ánh sáng trong thực tại của tâm. Bạn sẽ trở
thành một con người bận rộn với những miên man tư lự,
sa đà với những niệm tưởng hão huyền chẳng khác nào một
người điên lâm râm nói nhảm suốt ngày mà không biết mình
đang nói cái gì. Và như thế, chính bạn đã đánh mất cuộc
sống thực thụ của mình, đồng thời đánh mất luôn cả
cái khả năng “sống tự tại” giữa lòng hiện hữu của
mình. Ngược lại, bạn sẽ có khả năng sống tự tại trong
mọi thăng trầm của cuộc đời—phong cách của bậc hành
giả—khi nào mọi ý niệm phân biệt nhân-ngã đều được
rủ bỏ.
Hơn
thế nữa, như đã đề cập, mục tiêu của Bát nhã khi nói
đến nguyên lí “vô phân biệt” là nhằm để đánh thức
cái cơ đồ của bản ngã cá thể; nó luôn luôn là một chướng
ngại lớn nhất gây ra mọi nỗi bất an trong đời sống tâm
thức của bạn. Nó chia rẻ con người của bạn theo nhiều
cách khác nhau: được, mất, hơn, thua, vui, buồn, danh vọng
và không danh vọng. Nó cũng chính là nỗi ám ảnh mà bạn
cưu mang canh cánh trong lòng từ khi biết cười, biết khóc.
Bao bọc chung quanh cái bản ngã cá thể không gì khác hơn là
những khoen xích nhân duyên sinh diệt liên hồi mà bạn cứ
ngỡ rằng chúng là tất cả những gì bản thể của bạn.
Chính vì thế, ánh sáng “vô phân biệt” của Bát nhã là
một thanh kiếm báu khả dĩ chặt đứt mọi tơ duyên lằn
nhằn của cái tự ngã độc tôn để đưa nó về với nguyên
thể ban đầu—dòng thực tại vô ngã luân lưu bất tuyệt.
Dòng thực tại vô ngã này chính là bản thể của tâm thức
uyên nguyên, hay nói khác hơn, đấy là Phật tính. Vì lí do
này, chúng ta thường nghe cách ngôn của Bát nhã rằng “quay
đầu là bến” (hồi đầu thị ngạn).
Thật
là một điều thú vị khi khám phá ra rằng, cuộc sống thực
thụ của chúng ta không cần đến một bản ngã cá thể để
hiện hữu, cũng như “hoa hồng, dẫu bạn gọi tên nó là
gì đi nữa thì hương thơm của nó vẫn là như thế”. Cuộc
sống thực thụ không cần một danh tính. Hạnh phúc thực
thụ cũng không cần một danh tính. Bạn hãy một lần vô danh
tính để thể nghiệm cuộc sống đang là.
4.
Cõi Mơ
Bạn thân mến,
Từ đâu ta đến
Chưa khóc chào đời;
Về đâu ta sẽ
Khi nhắm mắt rồi?
Vâng, một câu hỏi như thế nghe có vẻ ngây ngô và không
liên quan gì đến thực tế của cuộc sống, bây giờ và ở
đây. Nhưng chính câu hỏi này sẽ là bàn tay vàng khả dĩ
đánh thức bạn và giúp bạn vượt qua những lao đao của
mộng tưởng để trở về với thế giới bình yên nội tại
vốn chưa từng sinh và chưa từng diệt. Lời mà Kinh Trái Tim
muốn nói với bạn đó là: “cái bạn đang là” là một
cõi mơ”, vì tất cả không hề có một thực tính nào hết
(tất cả hiện hữu được biểu thị là không); hay nói khác
đi bạn và thế giới của bạn điều là hiện hữu của tương
duyên mà thôi.
Ở đây, những gì trong mơ hẵn nhiên đều là phù du, giả
tạm. Chúng không hề có thực. Như khi mắt bị nhậm, bạn
thấy bông hoa xuất hiện giữa hư không; đến khi mắt hết
nhậm, bạn không còn thấy nó nữa. Cũng vậy, cảnh trong mộng
tuy là có thực, nhưng chỉ là thực của mộng; khi tỉnh giấc,
mọi thứ trong mộng đều tan biến! Bản chất cuộc sống
của chúng ta đều là như thế!
Hãy lấy một thí dụ. Khi chưa được sinh ra, bạn có tên
hay không? Khi được sinh ra rồi, cái tên của bạn có phải
là tất cả những gì thuộc về bạn, hay đơn thuần chỉ
là một danh tính tạm thời đại diện cho bạn? Đi sâu hơn
nữa, con người hiện tại bằng xương bằng thịt của bạn
có phải là một bản thể bất biến, hay là nó luôn luôn
biến đổi trong từng nhịp thở và nó sẽ bị hủy hoại
sau một thời gian nhất định? Con người thực thụ của bạn
đã là như thế huống gì là những tạo tác từ thân, miệng,
và ý của bạn. Thế thì, “cái bạn đang là”, hay cái mà
bạn cho là “cái tôi”, và “cái của tôi” đó há không
phải là một cõi mơ ư! Vậy tại sao bạn phải ôm ấp một
giấc mơ huyễn hoặc để rồi chơi vơi với những lụy phiền?
Suy nghiệm như thế nhằm để thấy rõ rằng: “
Tất cả hiện hữu đều là cõi mơ.” Cho đến những ý niệm
về sống, chết, nhiễm ô, trong sạch, thêm, bớt, vân vân
đều là những giả định từ mộng tưởng; chúng là hiện
thân của sự phân biệt và bám víu từ một tâm thức cuồng
si mà thôi. Chỉ khi nào bạn vượt qua thế giới của phân
biệt (nhị nguyên) này, thì khi đó bạn sẽ thực thụ bước
vào một chân trời mới: hạnh phúc-thực tại, một thế giới
mà ngôn ngữ của chúng ta trở nên không còn hiệu lực.
Vậy thì làm sao để thức tỉnh từ cõi mơ? Vâng, đó là
câu hỏi tha thiết vô cùng mà chúng ta sẽ tự vấn khi một
mình đối diện với chính mình. Để tỉnh thức, bạn không
cần làm thêm một điều gì hết, việc duy nhất mà bạn cần
thực tập đó là hãy nhìn thật lâu và thật sâu vào những
gì đang sinh diệt chung quanh ta và trong chính con người của
ta, và hãy thấy như thật rằng chúng chỉ là một cõi mơ,
vậy thôi. Thực tập lâu ngày như thế bạn sẽ tự tạo cho
mình một tâm hồn khoan dung vô hạn; nghĩa là bạn sẽ có
khả năng rủ bỏ những gì không cần thiết cho cuộc sống
của bạn, đó là những tâm lý buồn, giận, ganh, ghét, hơn,
thua…Cho đến khi nào những tâm ái thủ đó được từ bỏ,
trái tim từ bi của bạn sẽ bỗng dưng nở nụ trưng bày giữa
biển khổ mênh mông. Và lúc đó, như thiên nga đã lìa ao hồ,
bạn sẽ rong chơi tự tại ngay trên cuộc đời trần cấu
này mà không cần phải chờ đợi đến một ngày nào đó
sau khi đã hoàn tất những khát vọng.
Thử một lần tự hỏi: cho đến giờ phút này, bạn đã cầm
chắc trong tay được cái gì giữa cuộc sống ngắn ngủi và
không ngừng trôi chảy này? Thay vì một ngày nào đó bạn
sẽ
phải ra đi với những muộn phiền: được, mất, hơn, thua…,
tại sao không bây giờ và ở đây sống thảnh thơi với hạnh
phúc-thực tại, một hạnh phúc không bản ngã và nó chỉ
hiện hữu bao lâu bạn còn sống, hiểu theo đúng nghĩa của
từ này. Khi bị đắm chìm trong mộng mị, có nghĩa là bạn
đã đánh mất sự sống của chính mình.
5.
Bên Bờ Mộng Tưởng
Bạn thân mến,
Dựa
vào nền tảng nào để bạn có thể nhìn thấy rằng hiện
hữu chỉ là một cõi mơ? Vâng, đấy là một câu hỏi then
chốt, như chiếc chìa khóa vàng, để bạn mở cánh cửa ảo
vọng-nghìn năm và bước vào thế giới thực tại, một thế
giới ở bên kia bến bờ của mộng tưởng.
Kinh
Trái Tim, như bạn thấy đó, đã dùng một chuỗi phủ định
liên hồi, cũng còn gọi là phủ định của phủ định, để
đánh tan mọi phân biệt về có, không, sinh, diệt, về thường,
đoạn, khứ, lai, hay nói đơn giản là bất kỳ những bám
víu và phân biệt nào, cho dù sự phân biệt và bám víu đó
là sinh tử hay Niết bàn. Một cách thức phủ định như thế
không ngoài mục đích xua tan mọi phân biệt cho đến những
ý niệm về phân biệt để đưa bạn về với thế giới xả
ly, vô niệm. Đấy là một thế giới “viễn ly điên đão
mộng tưởng”, là suối nguồn thực tại, là bản thể uyên
nguyên vốn không hề sinh diệt. Điều quan trọng mà bạn cần
phải lưu ý đó là thế giới đó không phải là những gì
chỉ có thể đạt được sau khi chết, mà trái lại, nó luôn
luôn hiện hữu ở đây, ngay tại con người này và mảnh đất
trần thế này.
Hãy
lấy một thí dụ, khả tính nghe của bạn ba mươi năm trước
đây— khi còn là một hài đồng—và bây giờ, tức là ba
mươi năm sau, có khác nhau không? Không. Nó vẫn là như thế!
Bạn có thể sử dụng cái khả tính nghe cũng như bị chi phối
bởi nó theo nhiều cách khác nhau, nhưng cái khả tính đó từ
bản chất nó không hề thay đổi. Hễ có tiếng động là
khả tính nghe xuất hiện một cách tự nhiên không phân biệt.
Cũng vậy, thân thể của bạn tuy già cỗi theo năm tháng và
chuyển hóa theo luật vô thường, nhưng giác tính của bạn
vẫn là như thế. Nên nhớ rằng, bạn có tuổi nhưng tâm hồn
của bạn không có tuổi. Và do đó, bao lâu bạn còn giữ được
sự hồn nhiên, hay nói khác hơn, lấy sự hồn nhiên làm nền
tảng cho cuộc sống thì bấy lâu bạn vẫn trẻ thơ và vẫn
là trẻ thơ. Bạn đừng bận tâm quá nhiều vào tuổi tác,
vì bản chất của tuổi tác không gì khác hơn là sự chồng
chất của vui, buồn trong kiếp người mà thôi, dẫu rằng
người ta thường xem tuổi tác như một thứ kinh nghiệm quan
trọng. Trong dòng thực tại của tâm, tuổi tác không hề có
một ý nghĩa nào. Nhưng trong thế giới của mộng tưởng,
tuổi tác quả thực là ấn tượng vì nó là sự nối kết
những biến cố thăng trầm của đời người.
Nhưng
làm sao để quay lại với tuổi thơ khi mà tóc của bạn đã
đổi màu và da của bạn đã dần khô cứng và sếp lại từng
nếp nhăn? Vâng, chúng ta cảm ơn Kinh Trái Tim vì đã cho ta
một phép lạ nhiệm mầu, đó là con đường sống xả ly,
không cố chấp và không bám víu, cho dù sự bám víu đó được
đặt ra trên căn bản của khát vọng về một miền Niết
bàn vĩnh cửu. Bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi cho rằng khát
vọng về Niết bàn là điều mà con người hằng mong ước,
vì Niết bàn trên nguyên tắc khác hẳn với thế giới sinh
tử, vô thường kia mà? Một suy nghĩ như thế, vâng, nghe có
vẻ hợp lý trong suy luận của bạn, nhưng dòng suy nghĩ đó
rõ ràng vẫn cưu mang đâu đó những chiều kích của tâm phân
biệt, nhị nguyên. Trong khi đó dòng thực tại đang mãi miết
chảy không hề có bất kỳ khái niệm nào về sinh tử hay
Niết bàn. Cũng như bản chất của rượu, nó không hề có
đặc tính “say” mà do con người “say” đó thôi. Đó là
lý do tại sao, Kinh Trái Tim dùng chuỗi phủ định liên hồi
để kết thúc bằng một phán quyết rằng “không có gì để
đạt được hết” (vô trí diệc vô đắc). Vì lẽ, mọi
sự diễn ra trên con đường giác ngộ chẳng khác nào một
ông già biến thành trẻ con khi ông ta quẳng hết gánh ưu phiền
để nô đùa với chúng.
Cũng
vậy, cho đến khi nào bạn thực sự chân thành sống xả ly,
nghĩa là sống vượt lên trên mọi phân biệt héo hắt, thì
lúc bấy giờ khả tính của giác ngộ sẽ thực thụ hiển
bày. Và bấy giờ bạn là Phật và Phật chính là bạn. Hay
nói theo ngôn ngữ của Bát nhã, huyễn mộng và Niết bàn không
hai không khác (samsāram eva nirvānam).[viii] Vâng, điểm đến
của Bát nhã là như thế. Ố kià! tâm bất sinh, nó ở bên
kia bờ của mộng tưởng! Ngay bây giờ, bạn có thể đến
đó bằng con đường xả ly, vô niệm.
Sóng
về xóa dấu chân không
Bỗng
dưng thuyền đã bên dòng chân như.
6.
Con Đường Cho Những Ai…
Bạn
thân mến,
Đến
đây, lại một lần nữa, bạn hãy tự hỏi: mục đích cuộc
sống của bạn là gì? Phải chăng đó là hạnh phúc và chân
lý. Và ở một bình diện nào đó, cả hai chỉ là một. Vì
khi bạn thực sự trực nhận được chân lý, khi đó bạn
có hạnh phúc. Hạnh phúc và chân lý sẽ khác nhau khi chúng
được đặt trong những quy ước của tập quán suy tư, nhưng
trên chiều tuyệt đối, chúng không hề có khác biệt nào.
Cũng
vậy, khi Người Tỉnh Thức Bình Yên trực nhận rằng bản
chất của hiện hữu chỉ là một cõi mơ, người đồng thời
vượt qua mọi khổ đau trong ý nghĩa “sống tự tại”. Và
nền tảng của lối sống tự tại, giải thoát mọi ràng buộc
đó đã được đúc kết thành những kinh nghiệm tâm linh quan
trọng mà Kinh Trái Tim bảo rằng: “Người Tỉnh Thức Bình
Yên, do không sở đắc nên sống an lành trong Tuệ giác Vô
thượng và thoát ly tất cả chướng ngại. Và rằng, vì không
có những chướng ngại trong tâm nên không có sợ hãi và xa
rời những cuồng si mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.” Vâng,
đây chính là con đường dành cho những ai đang băn khoăn giữa
ngả tư đường, nơi mà bên này là trần tục và bên kia là
thánh thiện.
Nói
khác hơn, bạn đang sống trong một bối cảnh đa đoan phân
biệt và với một tâm thức cũng đa đoan phân biệt, chính
cái đa đoan phân biệt đó luôn thúc đẩy bạn đi đến những
lựa chọn mà tự nó bao giờ cũng chia rẻ bất kỳ cái gì
bạn thủ đắc trong tay, cho dù đó là Niết bàn. Và sự thật
là, trên con đường tìm kiếm hạnh phúc và chân lý, càng
lựa chọn thì càng rối ren. Cuối cùng thì đó vẫn không
phải là lối thoát thực thụ cho cuộc sống bình yên nội
tại của bạn. Ở đây, “vượt qua khổ đau trong ý nghĩa
sống tự tại” là một con đường thực tiễn, khả dĩ đưa
đến hạnh phúc ngay trong hiện tại.
Tuy
nhiên, trên thực tế, bạn có thể nghĩ rằng, nếu bỏ hết
mọi đa đoan phân biệt thì cuộc đời của bạn sẽ ra sao
đây? Thế giới sẽ trống vắng ư? Hay thế giới sẽ hoang
dã ư? Không phải vậy! Khi mọi đa đoan phân biệt được
đặt xuống, lúc đó bạn sẽ thực thụ tắm mình trong dòng
hạnh phúc-thực tại, và bấy giờ cũng là lúc trái tim đại
bi của bạn bắt đầu thức tỉnh. Chính trái tim đại bi là
nguồn mạch của sự sống, nó nuôi lớn thánh tâm nơi bạn
và cũng là chiếc thuyền từ cứu độ tha nhân. Tâm đại
bi và tuệ giác bao giờ cũng là sự nghiệp của một vị Phật
hay một vị Bồ tát. Với tâm đại bi đi vào đời, bạn sẽ
không mệt mỏi vì trán ướt đẫm mồ hôi để làm lợi ích
cho chúng sinh. Và có khi dòng nước mắt đại bi cũng chảy
dài trên đôi má chan hòa cùng cái đau thương của những kẻ
đang lang thang, thất thểu bên hè cùng với đói nghèo và bệnh
tật. Tâm đại bi là đóa hoa bất tử. Bạn không thể sống
hạnh phúc nếu thiếu vắng tâm đại bi.
Nói
tóm lại, khi đã buông bỏ mọi bám víu, đa đoan, tâm của
bạn sẽ như hư không chan hòa cùng ánh sáng, ở đó sẽ không
còn bất kỳ một tỳ vết nào của tự ngã, và do đó bạn
vượt qua mọi chướng ngại. Kinh nhấn mạnh rằng, “vì không
có những chướng ngại trong tâm nên không có sợ hãi và xa
rời mọi cuồng si mộng tưởng.” Và, đó chính là lúc Niết
bàn hiển lộ, hay nói khác đi, đó là lúc bạn thực thụ
sống Niết bàn. Bấy giờ, gia tài bất diệt mà bạn sẽ mang
theo khi đi vào đời là tuệ giác vô thượng và trái tim đại
bi.
Thay
lời kết
Bạn
thân mến,
Kinh
Trái Tim qủa là thanh kiếm báu để chặt đứt phiền lụy
thế gian. Tuy nhiên, chỉ khi nào ứng dụng những lời dạy
của kinh vào cuộc sống thực tiễn, bạn mới “thưởng thức”
được hương vị nhiệm mầu của nó. Những thắc mắc mà
bạn đang cưu mang (nếu có) sẽ được trả lời bằng đời
sống xả ly của chính bạn, vì ngôn ngữ héo hắt của chúng
ta không làm sao diễn đạt được cái mà tự thân nó là phi
ngôn ngữ. Cũng như tình yêu, không ai có thể diễn đạt nó
được, chỉ có sự cảm nhận và thể nghiệm trong im lặng
mà thôi. Tất cả những gì mà chúng ta, trong một giới
hạn nhất định, học được từ Kinh Trái Tim không ngoài
mục đích làm cho đời sống của chúng ta trở nên có ý nghĩa
thực sự, vượt lên trên mọi đa đoan của lòng người để
sống tự tại giữa thế gian và làm lợi ích cho thế gian.
Trước khi giã từ bức thông điệp này, mong bạn hãy nhớ:
“với tinh thần không sợ hãi, bạn hãy là người tỉnh thức
bình yên đi vào thế gian để xây dựng Niết bàn, vì quê
hương của Niết bàn là trần thế!” Gate gate pāragate pārasaṃgate
bodhi svāhā. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
Phần
Bốn
NGHI THỨC THỌ
TRÌ TÂM KINH
1.
Lời tán Phật và cúng dường Tam Bảo:
Con
nay thắp nén hương lòng
Dâng
Ba Ngôi Báu vô cùng thiết tha
Chắp
tay kính lạy Phật đà
Từ
lời trần thế tâm hoa cúng dường.
Nam
mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
2.
Đảnh lễ cúng dường:
Nam
mô thế giới mười phương, thường trụ vĩnh cửu, vô thượng
chư Phật.
Nam
mô thế giới mười phương, thường trụ vĩnh cửu, vô lượng
nghĩa Pháp.
Nam
mô thế giới mười phương, thường trụ vĩnh cửu, vô lượng
thánh hiền.
3-
Lời khai kinh:
Kính
lạy Thế Tôn, Đấng Tuệ giác bình đẳng vĩ đại!
Như
mặt trời rực sáng ở phương Đông,
Chánh
Pháp của Ngài nhiệm mầu vô thượng.
Con
nay xin nương tựa để đi vào hiện quán
Sống
trong sinh thức của tuệ giác ngàn xưa
Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
4-
Kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng (tụng)
1-
Khi tiến sâu vào nguồn mạch của Tuệ giác Vô thượng, Người
Tỉnh Thức Bình Yên soi sáng như thật rằng tự tính của
năm hợp thể đều là Không, liền thoát ly mọi khổ ách.
2-
Này người con dòng Sari, hình thể chẳng khác chân không, chân
không chẳng khác hình thể; hình thể là chân không, chân không
là hình thể. Cảm xúc, niệm lự, tư duy và ý thức đều
là như vậy.
3-
Này người con dòng Sari, tất cả hiện hữu được biểu thị
là không, nó không sanh, Không diệt, không nhơ, không sạch,
không tăng, không giảm.
4-
Vì thế, này người con dòng Sari, trong Không không có hình
thể, không có cảm xúc, không có niệm lự, không có tư duy,
không có ý thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý
; không có hình thể, âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc chạm
và hiện hữu. Không có đối tượng của mắt, cho đến không
có đối tượng của ý thức ; không có minh, không có vô minh,
không có sự chấm dứt của minh, cũng không có sự chấm dứt
của vô minh ; cho đến, không có tuổi già và sự chết, cũng
không có sự chấm dứt của tuổi già và sự chết ; không
có khổ đau, không có nguyên nhân của khổ đau, không có sự
chấm dứt khổ đau, và không có con đường đưa đến sự
chấm dứt khổ đau; không có trí giác cũng không có sự thành
tựu trí giác.
5-
Người Tỉnh Thức Bình Yên, do không sở đắc nên sống an
lành trong Tuệ giác Vô thượng và thoát ly tất cả chướng
ngại. Và rằng, vì không có những chướng ngại trong tâm
nên không có sợ hãi và xa rời những cuồng si mộng tưởng,
cứu cánh Niết bàn.
6-
Tất cả chư Phật trong ba đời đều nương vào Tuệ giác
Vô thượng mà thành tựu chánh giác.
7-
Vì thế, nên biết rằng Tuệ giác Vô thượng là sức thần
kỳ vĩ, là sức thần của trí tuệ vĩ đại, là sức thần
cao tuyệt, là sức thần tối hậu, vô song, có thể trừ diệt
tất cả khổ đau. Sức thần thoắt sinh từ Tuệ giác Vô thượng
này là sự thật, là chân lý. Sức thần có năng lực tối
thượng đó được tuyên nói trong kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô
Thượng rằng:
"Đi
qua, đi qua,
Đi
qua bờ bên kia,
Đã
đi qua đến bờ bên kia, svāhā!"
5-
Lời nguyện:
Bàng
hoàng về cõi vô biên
Lắng
nghe tiếng gọi nơi miền quê xưa
Thì
thầm cho cuộc đong đưa
Lời
Tâm kinh, vỡ mộng xưa, Niết bàn.
Nam
mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ tát.
Nguyện
rằng :
Hôm
nay chúng con
giữa
lòng pháp giới
thọ
trì Tâm Kinh
Cầu
cho : ....... (đọc lời nguyện tùy ý cầu an, cầu siêu...)
Cuối
xin Đấng Đại Từ Bi
Dũ
ánh quang minh chiếu giám.
6-
Hồi Hướng:
Các
trời A tu la
Và
Dược xoa vân vân
Ai
đến nghe Phật pháp
Tất
cả hãy hết lòng
Hộ
trì Phật pháp ấy
Làm
cho thường còn mãi
Bằng
cách thường tinh tấn
Thực
hành lời Phật dạy
Những
người có đức tin
Đến
đây nghe Phật pháp
Hoặc
ở trên mặt đất
Hoặc
ở trong không gian
Với
thế giới loài người
Hãy
thường hành từ tâm
Bản
thân thì ngày đêm
Sống
đúng với Phật pháp
Nguyện
cầu mọi thế giới
Luôn
luôn thường an ổn
Bằng
cách phước và trí
Đều
đem làm lợi người
Để
bao nhiêu vọng nghiệp
Đều
được tiêu tan cả
Siêu
thoát mọi khổ đau
Đi
về Đại Niết bàn
Hãy
xoa khắp cơ thể
Bằng
hương thơm giữ giới
Lại
mặc cho cơ thể
Bằng
y phục thiền định
Rồi
trang điểm tất cả
Bằng
hương thơm tuệ giác
Thì
bất cứ ở đâu
Cũng
thường được an lạc.
Nam
mô các vị Hộ pháp, các vị Bồ Tát ma ha tát (3 lần)
Nguyện
đem công đức này
Hướng
về khắp tất cả
Đệ
tử và chúng sinh
Đều
trọn thành Phật đạo. (lạy 3 lạy)
Phụ Lục:
I
Message from
the Heart Sutra
(American
version-2007)
Introduction
Dear
Friends in Dharma,
Ten
years ago, when I first wrote the Message from the Heart Sutra, I did so
with all sincerity. While writing, I told myself that, despite the risk
in the writing, it is too interesting to discard. However, I have never
felt truly satisfied with that message—I really don’t know why! Now,
ten years later, having read that old message again, I felt the need to
return to the same task once more. The result of these efforts is the present
message from the Heart Sutra that you hold in your hands at this moment.
While
writing this message, I did not have the consciousness that I was defining
or explaining the meanings of the Prajñāpāramitā philosophy, but I
did so from a deep inspiration of spirituality—one that was so deep it
sometimes caused me to burst into tears. In particular, when I deeply penetrated
into the words of the Buddha; I perceived them to be so “beautiful”
that they did, in fact, rescue me, giving me an inner peace to which I
cannot compare anything in this world.
I hope
that, through this message, serving as a spiritual motivation, we may be
able to help one another overcome all vicissitudes of our mundane complexity
and attachments and return to the life of true happiness without self.
Please read this message, in pleasure as well as in sadness, in order to
warm up your heart in this profane world. Hopefully, your smile will drive
away the sufferings of sentient beings in the three thousand worlds.
Namo
Avalokitésvara Bodhisattva
Los
Angeles, August, 2007
Khai
Thien
1.
The Planet of Light
Dear
Friends,
The
message you are holding in hand is “part of the quintessence” extracted
from the Prajñāpāramitā Hrdaya Sutra (the Heart of the Perfect Wisdom).
With this phrase—“part of the quintessence”—I would like to stress
that we are observing the transcendent and flawless beauty of the Prajñāpāramitā
not with the highest wisdom, but with a limited dimension of the mind that
continues to be stirred by gain, loss, win, failure, etc. With such a mind,
how can we appreciate the perfect beauty of the Prajñāpāramitā? However,
just as with the moonlight, those who have eyes are able to see it. The
beauty of the moonlight depends on the eyes viewing it—or, more exactly,
the mind of each individual. We are here together sharing the sublime message
from the Prajñāpāramitā not in a theoretical framework, but from the
reality of spiritual life. Certainly, those who are able to perceive the
meanings of the message from the Prajñāpāramitā—even just a part
of it—will have a truly peaceful and happy life—a life, as the Heart
Sutra says, “going far beyond all perverted views, all confusions and
imaginations,” a life of being free from the succession of sufferings.
In
order to penetrate deeply into the mystical life of the Prajñāpāramitā,
we first need to step into the planet of light at least once in our lives,
even right at this moment for the living life of the Prajñāpāramitā
is the very light of wisdom. This is the special light that goes beyond
all limits of any mundane spirit; it is the wisdom’s light (prajñā)
that shines on the other shore (pāramitā) of any ordinary perception.
It is because of this wisdom’s light that a suffered “soul” can be
rescued, a real life of happiness can be established; most of all, an enlightenment
may be able to blaze up in the current of our mind—not at the end of
life or in the other side of human existence, but right in this body and
this world.
We
have different kinds of light: sunlight, moonlight, biological light, light
from nature, light of science, light of knowledge…but here the light
of “the wisdom on the other shore” (prajñāpāramitā) is an extraordinary
light of spirituality that cannot be perceived through reasoning or intellectualism.
The only way through which we can obtain this pāramitā wisdom is the
personal practice and experience of our own being. The most essential knowledge
of the here and now is the realization that nothing in our worldly happiness—not
love, money, fame, position, or power—is secure or certain. Indeed, everything
is ever-changing in accordance with the law of impermanence. Every outburst
of anger or envy that arises in our mental currents has the power to change
everything in just a moment; what we call happiness, love, fame, etc.,
may transform into suffering. The life of our worldly happiness would be
extremely unstable were it not illuminated by the light of wisdom (prajñā).
What
then is the characteristic of the prajñā and where does it come from?
Prajñā
is itself a special light of wisdom that transcends all individual prejudice
and attachment to the concept of “existence,” “non-existence,”
“birth,” “death,” “permanence,” “annihilation,” “identity,”
“difference,” “coming,” and “going.” Since its nature is beyond
all such attachments, the Prajñā is defined as the wisdom on the other
shore (prajñāpāramitā) or the wisdom of non-self (anātman). It is
through this nature of transcendence of all attachments that the Prajñā
is able to carry within itself an unlimited ability of true freedom. Take,
as an example, when you hold something firmly in hand; that is to say,
the hand itself no longer has the ability to hold any other thing because
it is occupied with the thing you are holding. Contrastingly, when you
hold nothing in hand—namely, the hand is now absolutely free from all
attachments—it holds in itself an unlimited ability; that is, it can
take anything it wants. In the same way, when the mind is not governed
or controlled by greed, hatred, defilement, or attachment to self, then
the reality of the mind can flow like the source of radiant light from
the sun, limitless and unobscured. This is the special kind of “supernatural
power” of the non-attached mind. Thus, the transcendent light of Prajñā
is formed by the mind, which is free from any individual prejudice and
attachment; it is the mind of purity and equanimity (upeksā)[ix].
In
fact, reality of the mind always carries within itself two fluxes of energy:
the light (kusala) and the dark (akusala). The light energy is loving-kindness,
compassion, sympathetic joy, and equanimity, while the dark is craving,
hatred, grasping, attachment, and/or any defilement. For this reason, Prajñā
is called the planet of light, a planet without any shape of discrimination
and attachment, or a planet of the renounced life (upeksā). In addition,
you are invited, from the beginning, to step onto the planet of light in
order to perceive the sublime message from the Prajñāpāramitā because
only in this plane may we listen to the voice of the wisdom’s light.
In
brief, in practicing and experiencing the life of prajñāpāramitā, you
don’t need to pay too much attention to the world of linguistic concepts;
the only thing you need to practice is living the life of self-control,
free from delusion and attachment—particularly attachments to the immortal
desire, because such attachment is nothing more than the embodiment of
the self-love or egocentric view. The most important thing to keep in mind
is that we lose nothing in practicing such a life. Indeed, it is the non-attachment
and equanimity that make our lives much happier and more peaceful; the
more we practice non-attachment, the happier we will be. The truth is,
whenever all the burdens of attachment—attachment to gain, loss, win,
failure, fame, power, etc.—are released in our minds, we are then truly
free and able to enjoy true happiness right here and now.
2.
From the Crystal Eyes
Dear Friends,
How it is possible, in the world of anxiety, discontentment, dissatisfaction,
and even suffering, to live a happy life by practicing equanimity and non-attachment?
Such a sincerely touching question has arisen from the practical as well
as the greatest challenge on the search for true happiness. Don’t worry!
The message from the Heart Sutra provides you with the basic steps (principles)
for practicing the renounced life and appreciating the true happiness of
the non-self immediately, in the here and now, despite your unsatisfactory
and unfavorable conditions. These basic steps originally emerged from “the
crystal eyes” with which the Bodhisattva Avalokitésvara practiced successfully
and overcame all troubles and sufferings.
However, in order to practice these basic steps, you must first cleanse
your eyes and make them pure and shining. Let your eyes return to their
original state—that is, no longer limit your eyes by “what you are”!
What
is “what you are”? What you are is your present person, identified
through five elements: body, feeling, perception, volitional actions, and
consciousness. Here, the direct causes that make you unhappy, distressful,
and uneasy as well as prevent you from enjoying living happiness are the
“dirtiness” in your eyes. In other words, it is the attachment from
the wrong view of self. You are living with these truths:
·
“I worry about my body because it changes constantly.”
·
“These feelings are either what I long for or what I don’t like; I
like to feel this way or that way.”
·
“I am passively immersed in the world of obsessions, confusions, thoughts,
images, or feelings (such as pleasure, sadness, satisfaction or dissatisfaction,
etc.)”
·
“I was forced to wander with old experiences of the past or illusive
desires for the future.”
·
“I am conscious of existence, but my consciousness is always out of control;
like a fish out of water, it acts in an uncontrolled manner.”
Such
states of your mental life are, indeed, a manifestation of your own inner
attachments, pushing you into a reality of both fear and hope. Actually,
fear and hope are the two permanent factors in our minds; they exist in
every moment, even in our dreams. Clearly sufferings are nothing other
than living in such a state. Therefore, your eyes will be able to return
to their crystal state only when those attachments from self-view are released.
Only the pure eyes are able to observe existence as it is without any distortion
from personal prejudice.
How
can you let your eyes return to their crystal state?
As mentioned from the beginning, you need to enter the planet of light
at least once in your life to see the truth because there no dark energy
such as craving, hatred, pride, etc., exists. To step onto the planet of
light is not, in principle, a difficult or serious task; to get there,
you need not to do any extra work, but cut short (or lessen) your attachment.
That is all. Even in this very moment, “deleting” all your attachments
and letting your light-source of mind flow in tranquility, your eyes will
i