Lời
nói đầu
Sơ
lược Tiểu sử HT. Thích Trí Thủ
QUYỂN
I: KINH
Phật
thuyết Vô thường kinh (âm + nghĩa)
Kinh
A Di Đà
Kinh
Thập thiện Nghiệp đạo
Kinh
Pháp Hoa - Phẩm Thường Bất Khinh
Kinh
Bất tăng bất giảm
Kinh
Đại phương đẳng Như lai tạng
Tâm
kinh Bát nhã Ba la mật đa
Đức
Quán Thế Âm Bồ tát
Kinh
Diệu pháp Liên hoa phẩm Phổ môn Quán thế âm Bồ tát
Thiên
cảm ứng cứu nạn
Phật
dạy ấn tống Kinh - Tượng được mười công đức
Kinh
Bát đại Nhân giác
Bát
nhã Tâm kinh
Nghi
thức cúng Giao thừa và vía Di Lặc
Nghi
thức Chúc tán
Nghi
thức lễ Phật đản
Nghi
thức lễ Thành đạo
Ý
nghĩa Thần chú Đại bi
Nghi
thức Cầu an và lễ Thành hôn
Nghi
thức Hộ niệm khi lâm chung
Nghi
thức cúng Cô hồn
Nghi
Chẩn tế
Các
ngày vía Phật
QUYỂN
II: LUẬT
Những
điều căn bản cho các Phật tử mới quy y Tam bảo
Nghi
thức quy giới
Bát
Quan trai giới
Pháp
trưởng tịnh
Nghi
thức Truyền giới và Bồ tát
Giới
Luật - Viên Âm số 89
Giới
Luật - Viên Âm số 91
Tam
Quy - Viên Âm số 84
Luật
Tỳ kheo
Luật
Tỳ kheo yết ma yếu chỉ
QUYỂN
III: LUẬN
Pháp
môn Tịnh độ
Mười
điều tâm niệm
Phát
Bồ-đề tâm Luận
Sự
tích đức Phật Thích-ca Mâu-ni
Giáo
lý về Nghiệp - Cơ sở Đạo đức học và Luật học
Năm
lượng Phương tiện lý giải
Ba
tháng An cư
Thử
vạch một quy chế Tăng sĩ và một chương trình đào tạo
Tăng sinh
Lời
giới thiệu (Trong cuốn Liễu sanh Thoát Tử)
Lời
giới thiệu kinh Kim Quang Minh
Lời
giới thiệu tập san công đức nhẫn nhục của Ni chúng Diệu
Đức
Lời
Chúc tết
Việt
Nam Phật Giáo bách Khoa từ điển
Văn
đắc pháp
Việt
Nam Phật Giáo Thống Nhất Giáo Hội Tăng Già Bia Minh
Kệ
phú pháp
Thơ
và Câu đối
Lời
nói đầu
Thế
là gần một phần năm thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày
vị ân sư của chúng tôi là Hoà thượng Tâm Như Đạo Giám
Trí Thủ viên tịch. Đây là một mất mát to lớn không những
đối với bản thân những người đã thọ ân Hoà thượng
mà còn đối với đạo pháp và dân tộc. Cuộc đời của
Hòa thượng đã có những cống hiến có tầm cỡ đối với
sự nghiệp giáo dục và hoằng pháp của Phật giáo Việt Nam
trong thế kỷ XX, do thế, đáng được cho những người lớp
sau, cụ thể là chúng tôi học tập và suy ngẫm. Chính trong
quá trình học tập và suy ngẫm này, chúng tôi đã sưu tập
được những lời dạy bảo của Ngài qua một số các công
trình được viết thành văn bản. Xét rằng, những công trình
này không những hữu ích cho chúng tôi, mà cho cả nhiều tầng
lớp người khác trong tương lai, vì thế, để đền đáp lại
phần nào công ơn giáo dưỡng của Hòa thượng, chúng tôi
đã mạnh dạn cho công bố các công trình đã được chúng
tôi sưu tập.
Chúng
tôi biết rằng, những công trình đã sưu tập được ấy
chưa phải đã bao quát hết toàn bộ các bài viết, bài nói
của Hòa thượng trong hơn nửa thế kỷ phục vụ đạo pháp
và dân tộc. Cụ thể là toàn bộ các bài phát biểu bằng
văn bản của Hòa thượng từ những năm 1951, khi ngài giữ
chức vụ Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam tại Trung phần,
rồi vào những năm 1970 Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cho đến những năm 1980
khi đang giữ chức Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hiện chưa được sưu tập đầy
đủ và xuất bản trong lần này. Chúng tôi vẫn mạnh dạn
công bố những gì sưu tập được dưới danh nghĩa Toàn tập
các tác phẩm của Hòa thượng, trước mắt, nhằm làm tư
liệu học tập và nghiên cứu cho chúng tôi và những người
khác và sau nữa để làm cơ sở cho những bổ di trong tương
lai khi việc sưu tầm có thể tiến hành với nhiều thành tựu
mới.
Suốt
cuộc đời mình, Hòa thượng đã phục vụ cho đạo pháp và
dân tộc qua nhiều nhiệm vụ khác nhau. Nhưng nét nổi bật,
mối ưu tư hàng đầu của Hòa thượng vẫn là vấn đề giáo
dục và văn hóa. Từ những ngày đầu xây dựng trường Phật
học Việt Nam đầu tiên ở chùa Tây Thiên - Huế vào những
năm 1930, rồi thành lập Viện Cao đẳng Phật học, tiền thân
của Viện Đại học Vạn Hạnh, vào năm 1964, cho đến những
ngày cuối cùng tại Quảng Hương Già Lam, không lúc nào vấn
đề giáo dục lại không được Hòa thượng quan tâm. Hòa
thượng đã đào tạo thành công nhiều lớp môn đồ khác
nhau đã và đang giữ những trọng trách của giáo hội khắp
cả nước trong nhiều lãnh vực. Để tìm hiểu sự nghiệp
giáo dục ấy, chúng ta cần phải có những công trình của
Hòa thượng trong tay. Vì thế, chúng tôi đã thống nhất cho
xuất bản Toàn tập Tâm Như Trí Thủ nhân ngày giỗ lần thứ
18 của Ngài.
Khi
sắp xếp các công trình của Hòa thượng để cho xuất bản
bộ Toàn tập, chúng tôi ban đầu muốn dựa trên lối sắp
xếp truyền thống là Kinh - Luật - Luận và tạp văn. Nhưng
do Hòa thượng trong cuộc đời mình đã chuyên về Luật tạng,
nên công trình liên hệ đến Luật tạng chiếm một số lượng
lớn. Do vậy, Toàn tập này được sắp xếp về cơ bản vẫn
theo lối truyền thống vừa nói với một số điều chỉnh.
Toàn bộ các công trình của Hòa thượng, chúng tôi công bố
trong ba tập. Tập I bao gồm các bản dịch kinh điển ra tiếng
Việt cùng các bản chú giải. Trong tập này, chúng tôi đưa
vào thêm các văn bản về các nghi thức Phật giáo do Hòa thượng
thiết định, từ những nghi thức đơn giản nhất như Sám
hối, thành hôn, . . . cho đến những nghi thức phức tạp nhất
như Nghi thức Chẩn tế. Đồng thời, chúng tôi cũng đưa vào
tập này các bài thơ, câu đối, các giai thoại về Hòa thượng.
Còn tập II và tập III thì hoàn toàn giành cho những vấn đề
liên hệ tới Giới luật và Luật tạng.
Quảng
Hương Già Lam
Mùa
thu năm Tân Tỵ
Ban
sưu tập
LƯỢC
SỬ
HÒA
THƯỢNG THÍCH TRÍ THỦ
Hòa
thượng húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu
Thích Trí Thủ. Hòa thượng sanh giờ Hợi ngày 19.9 năm Kỷ
Dậu tức ngày 1 tháng 11 năm 1909. Xuất thân từ một dòng
tộc nối đời sùng mộ Phật pháp. Hòa thượng thuộc thế
hệ thứ tám của họ Nguyễn, họ khai canh và khai khẩn làng
Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Dòng tộc này
từ thế hệ thứ ba có thiền sư Đạo Minh Phổ Tịnh trụ
trì kế tổ Tổ đình Báo Quốc - Huế, kiến lập Sắc tứ
Linh Quang tự tại thôn nhà, làng Trung Kiên tỉnh Quảng Trị
vào năm Gia Long nguyên niên (1802). Đời thứ tư có Hòa thượng
Nhất Định Tánh Thiên khai sơn Tổ đình Từ Hiếu. Thế hệ
thứ sáu Hòa thượng pháp danh Trừng Nhã tự Chí Thanh khai
sơn chùa Giác Lâm. Thế hệ thứ bảy Hòa thượng Ngộ Tánh
tự Hưng Long hiệu Phước Huệ khai sơn chùa Hải Đức. Đồng
hàng thứ tám có Hòa thượng pháp danh Tâm Lượng hiệu Diệu
Hoằng trùng hưng Diệu Đế quốc tự.
Thân
phụ húy Văn Minh pháp danh Trừng Khiết tự Diệu Quang hiệu
Hưng Nghĩa. Thừa tiếp gia phong, theo hạnh tu bán thế tục
gia, lập am thất Phổ Tế tại vùng đồi phía Nam kinh thành
Huế, quy ngưỡng Phật pháp. Thân mẫu tục danh Lê Thị Nậy,
tự Chiểu người làng Cu Hoan, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng
Trị. Hoà thượng là con trai trưởng, gia đình có hai em một
trai Nguyễn Văn Khâm và một gái Nguyễn Thị Vân.
Từ
tấm bé, Hòa thượng đã theo đòi nghiên bút với Hán tự,
chữ viết văn học thời này. Lên chín là khá làu thông việc
đọc và viết các bài kinh nhật tụng. Ảnh hưởng đạo phong
của các bậc Tôn túc thân tộc, vốn ươm sẵn cốt tủy bồ
đề và túc duyên với Phật pháp, mười bốn tuổi theo Bác
ruột học kinh ở chùa Hải Đức - Huế. Dòng tộc vốn kính
ngưỡng cao danh và đạo vị của Thiền sư Viên Thành nên
năm mười bảy tuổi Hòa thượng được cho đầu sư thọ
học với Ngài tại chùa Tra Am Huế. Hòa thượng được Bổn
sư Viên Thành nhận làm đệ tử thứ tư, ban pháp danh Tâm
Như, pháp tự Đạo Giám và giáo huấn nghiêm ngặt. Ba đại
sư huynh ngộ pháp nổi danh của Hoà thượng là Trí Uyên, Trí
Hiển và Trí Giải.
Đủ
hai mươi tuổi, Bổn sư cho vào giới đàn chùa Từ Vân ở
Đà Nẵng thọ cụ túc giới, Hòa thượng trúng tuyển Thủ
Sa di trong số 300 giới tử tại giới đàn này. Do đó, Bổn
sư Viên Thành đã cho pháp hiệu là Thích Trí Thủ, với ý
khen tặng chữ Thủ là đứng đầu.
Sau
hai năm cư tang Bổn sư tại chùa Tra Am, Hòa thượng cùng các
pháp lữ vào chùa Thập Tháp, Bình Định, tham học với Hòa
thượng Phước Huệ, năm 23 tuổi.
Mãn
học, Hòa thượng ngồi ghế giáo thọ, dạy trường Phật
học Phổ Thiên ở Đà nẵng. Vì chưa thỏa lòng cầu pháp,
Hòa thượng trở ra Huế, cùng các vị đồng học ở Thập
Tháp ngày trước, tổ chức trường Phật học tại chùa Tây
Thiên, cung thỉnh Tăng cang Giác Nhiên chùa Thiền Tôn làm giám
đốc, Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp làm đốc giáo
dạy nội điển, đồng thời mời các cư sĩ như bác sĩ Lê
Đình Thám dạy luận học, các cụ Nguyễn Khoa Toàn, Cao Xuân
Huy v.v... dạy các môn về văn hóa theo trình độ đại học.
Ở trường này, Hòa thượng đã chính thức học chương trình
đại học Phật giáo cũng như văn hóa. Trong thời gian này,
Hòa thượng đồng thời làm giảng sư cho hội Phật học Huế
và dạy lớp Trung đẳng Phật học cũng mở tại chùa Tây
Thiên. Lúc này, Hòa thượng được hai mươi bảy tuổi. Khi
hội Phật học mở trường tiểu học Phật giáo tại chùa
Báo Quốc, Hòa thượng đã kiêm dạy chúng tăng sinh ở đây.
Sau
khi tốt nghiệp trường Phật học Tây Thiên, năm 29 tuổi (1938),
Hòa thượng về trụ trì chùa tổ Ba La Mật, nhưng vẫn tiếp
tục công việc giảng dạy cho hội và các trường Phật học.
Năm 1939, Ni trường thành lập tại chùa Từ Đàm, Sơn môn
và hội Phật học giao Hòa thượng đặc trách việc đào tạo
và điều hành Ni trường này. Đây là cơ sở Ni bộ đầu
tiên được hình thành. Năm 1940, Hòa thượng trùng tu chùa
tổ Ba La Mật. Năm 1941 Hòa thượng mở trường Sơn môn Phật
học tại chùa Linh Quang Huế, chủ trương xây dựng kinh tế
tự túc cho học chúng làm phương tiện tu trì với giai đoạn
kinh tế khủng hoảng thời bấy giờ. Hòa thượng cũng chủ
trương cho học tăng học văn hóa. Chính Hòa thượng đích
thân dẫn tăng sinh đi thi tiểu học. Việc tăng sinh học văn
hóa và thi lấy bằng cấp ngoài đời đã gây chấn động
không ít trong số người chủ trương đào tạo tăng sinh theo
nề nếp cũ.
Cách
mạng tháng Tám dấy khởi, với cương vị Trị sự Sơn môn
Thừa Thiên, Hòa thượng đã cùng nhiều vị lập hội Phật
giáo cứu quốc Trung bộ. Chủ trương tờ nguyệt san Giải
Thoát làm cơ quan tuyên truyền. Hòa thượng đắc cử Đại
biểu Hội đồng nhân dân Thừa Thiên và được chính quyền
Cách mạng mời đến Trung bộ phủ giao quyền sắp đặt lại
chùa chiền, hủy bỏ chế độ chùa vua trước đó.
Năm
1948, Hòa thượng mở giới đàn tại chùa Báo Quốc, thân làm
chủ đàn. Tại giới đàn này, Hòa thượng đã phục hồi
ý nghĩa của Thất chứng mà các trường giới xưa nay ít coi
trọng. Trong ý nghĩa đó, Hòa thượng đã cung thỉnh các vị
tôn túc giới đức cao dày làm tôn chứng để chứng minh cho
sự truyền giới. Hòa thượng cũng phân chia riêng Tăng Ni hai
bộ, Tăng độ cho tăng, Ni độ cho ni.
Năm
1951, với chức vụ Hội trưởng hội Việt Nam Phật học Trung
phần, nằm trong hệ thống Tổng hội Phật giáo Việt Nam có
sáu tập đoàn Phật giáo Bắc, Trung, Nam , đứng đầu là Đại
lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ, Hòa thượng
đặt viên đá đầu tiên xây dựng trường Tiểu học Tư thục
Bồ Đề tại thành nội Huế. Đây là điểm mở đầu mạng
lưới giáo dục Phật giáo, đóng góp vào sự nghiệp hoạt
động xã hội nhân sinh, xây dựng đất nước; theo tinh thần
nhập thế vốn có ở đạo Phật tự ngàn xưa. Mạng lưới
giáo dục này , từ đó liên tục phát triển với nhiều
tỉnh thành khắp nước, ở cả ba cấp học. Đến năm 1975,
đất nước hoàn toàn thống nhất, mạng lưới đã giải thể
để hòa chung trong việc thống nhất quản lý nhà nước của
Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Năm
1952, Hòa thượng tạm nghỉ việc Hội, chuyên tâm giáo dục
học tăng tại Phật học đường Báo Quốc. Cuối năm 1956,
Phật học viện Trung phần thành lập tại Nha Trang, Hòa thượng
thân làm Giám viện. Năm 1957, thấy đa số tăng ni của Phật
học viện đã đến tuổi thọ giới, Hòa thượng cho mở
giới đàn và thân làm đàn chủ.
Để
ổn định kinh tế tự túc ở Phật học viện, Hòa thượng
cho một số tăng theo học cách thức chế biến và mở hãng
sản xuất nước tương, hương đèn, giấm ăn, xà phòng, sử
dụng sức lao động của nội chúng và phật tử chưa có việc
làm gần chùa. Hầu hết học tăng Phật học viện đều được
Hòa thượng cho học cả hai chương trình nội điển và thế
tục. Nhờ hướng đào tạo đó mà nơi đây đã là nguồn
cung cấp liên tiếp những Chánh đại diện giáo hội các tinh,
quận, hoặc giảng sư, trụ trì, hiệu trưởng, giám học các
trường Bồ đề, quản lý nhà in, nhà phát hành kinh sách,
khắp miền Trung. Về sau, một số đã trở thành giảng sư,
giáo sư đại học trong ngành văn hóa giáo dục phục vụ đạo
và đời.
Năm
1960, Hòa thượng tạo mãi miếng vườn ở Gò Vấp khai kiến
tu viện Quảng Hương Già Lam. Năm 1962, Hòa thượng dẫn đầu
phái đoàn Phật giáo Việt Nam tại miền Nam tham dự Đại
lễ thế giới kỷ niệm năm 2500 đức Phật nhập Niết bàn,
tại Lào.
Phật
đản năm 1963 khởi đầu thời pháp nạn, Hòa thượng về
Huế cùng các vị lãnh đạo Phật giáo hướng dẫn phong trào
tranh đấu bảo vệ đạo pháp và dân tộc cho đến khi chính
quyền Ngô Đình Diệm bắt giam giữ. Ngày 1.11.1963, Bạo quyền
Sài Gòn sụp đổ. Qua cơn pháp nạn, Giáo hội Phật giáo Việt
Nam thống nhất ra đời, thành lập với 11 đoàn thể các hệ
phái Phật giáo toàn miền Nam, Hòa thượng được bổ sung
vào Ban dự thảo hiến chương Giáo hội. Trong nhiệm kỳ đầu,
Hòa thượng giữ phần Tổng vụ Hoằng pháp. Công việc hoằng
pháp và giáo dục tăng ni là mối quan tâm hàng đầu của Hòa
thượng. Ở nhiệm vụ và vai trò này, Hòa thượng đã mở
ba đại hội Hoằng pháp: một tại Phật học viện Nha Trang,
một tại chùa Xá Lợi, Sài gòn và một tại chùa Ấn Quang,
(Chợ Lớn). Hoạt động và thành tích Hoằng pháp đều tổng
kết ghi lại trong ba tập Kỷ yếu Đại hội. Hòa thượng
còn thành lập Giảng sư đoàn và cắt cử mỗi vị phụ trách
một tỉnh để diễn giảng Phật pháp cho tín đồ. Sau, Hòa
thượng còn thành lập Phật học viện Phổ Đà ở Đà Nẵng.
Năm
1964, Hòa thượng thân làm Viện trưởng viện Cao đẳng Phật
giáo, thành lập tại chùa Pháp Hội Sài Gòn; đây là tiền
thân của viện Đại học Vạn Hạnh. Hòa thượng còn chủ
trương các tập san Tin Phật, Bát nhã, để gióng tiếng pháp
cho đời. Năm 1965, sau khi ổn định mọi Phật sự, Hòa thượng
hành hương chiêm bái các danh lam Phật tích ở Nhật Bản,
Nam Triều Tiên, Hồng Kông, Đài Loan, giao thiệp với nhiều
danh tăng các nước.
Sau
thời làm Tổng vụ trưởng tổng vụ Hoằng pháp, Hòa thượng
lại được giáo hội trao giữ nhiệm vụ Tổng vụ trưởng
Tổng vụ Tài chánh. Năm 1968, Hòa thượng được giáo hội
Phật giáo Việt Nam thống nhất chính thức cử hành lễ tấn
phong Hòa thượng. Cùng năm này, Hòa thượng khai giới đàn
tại Phật học viện Nha Trang. Năm 1969, đại trùng tu Tổ đình
Báo Quốc.
Từ
Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất kỳ 5
và 6, Hòa thượng giữ chức vụ Viện trưởng viện Hóa đạo,
đến năm 1975 kiêm phụ tá đức Tăng Thống, cho đến
khi đất nước và đạo pháp chuyển qua giai đoạn lịch
sử mới. Năm 1976, Hòa thượng lại tổ chức Đại giới đàn
Quảng Đức tại Tổ đình Ấn Quang, Chợ Lớn.
Trước
chiều hướng mới và cũng thể theo ý hướng thống nhất
mà xưa nay Phật giáo Việt Nam vẫn thường ấp ủ, sau khi
miền Nam hoàn toàn giải phóng, trong cương vị Viện trưởng
Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất,
Hòa thượng đã liên hệ chư tôn túc lãnh đạo các hệ phái
và tổ chức Phật giáo khác trong cả nước, bàn bạc việc
thống nhất Phật giáo Việt Nam. Chính đây là nguyện vọng
chung của toàn thể Tăng Ni và Phật tử. Nguyện vọng này
đã thể hiện cụ thể tại Đại hội giáo hội Phật giáo
Việt Nam thống nhất kỳ 7 họp tại chùa Ấn Quang, Chợ Lớn,
ngày 23.1.1977 gồm 160 đại biểu của 54 đơn vị trong giáo
hội mà Hòa thượng nhân danh Viện trưởng tân nhiệm đã
ký thông bạch 7 điểm trong đó có điểm thứ sáu nguyên văn
như sau: "Đại hội cẩn ủy Giáo hội Trung ương tiếp tục
vận động thống nhất Phật giáo cả nước trong tinh thần
Đạo pháp và truyền thống dân tộc."
Sau
khi Ban vận động thống nhất Phật giáo thành hình, Hòa thượng
được bầu làm Trưởng ban Ban vận động và khi hội nghị
đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức tại
thủ đô Hà Nội ngày 7.11.1981, Hòa thượng đắc cử Chủ
tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt
Nam nhiệm kỳ đầu tiên.
Những
năm cuối của báo thân, tuy tuổi già sức yếu, Hòa thượng
vẫn không xao lãng việc đạo việc đời. Năm 1979 và 1982
dẫn đầu đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam dự đại hội
thứ 5 và thứ 6 của tổ chức Phật giáo châu Á vì hòa bình
tại Mông Cổ. Năm 1980 làm trưởng đoàn đại biểu Tôn giáo
Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động Tôn giáo thế
giới vì hòa bình và giải trừ quân bị, chống chiến tranh
hạt nhân, tổ chức tại Nhật Bản. Năm 1981 làm trưởng đoàn
đại biểu Phật giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt
động tôn giáo thế giới vì hòa bình và sự sống, chống
chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Liên Xô, cũng năm này
kiến tạo thêm chánh điện Tu viện Quảng Hương Già Lam. Năm
1983 dự hội nghị các vị đứng đầu Phật giáo năm nước
châu Á, tổ chức tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Dù
bận rộn Phật sự suốt con đường hành đạo, Hòa thượng
vẫn dành thì giờ phiên dịch kinh, biên soạn sách để hoằng
dương giáo hóa. Các tác phẩm chính gồm Kinh Phổ Môn, kinh
Phổ Hiền, Mẹ hiền Quán âm, kinh Vô thường, kinh A di đà,
kinh Thập Thiện nghiệp đạo, kinh Đại phương đẳng Như
lai tạng, kinh Bất tăng bất giảm, Pháp môn tịnh độ, Tâm
kinh Bát nhã Ba la mật đa, Luật Tỳ kheo, Luật Bồ tát, Luật
Tứ phần, Luận Khuyến phát bồ đề tâm, Nghi thức truyền
giới Bồ tát tại gia và Thập thiện, Nghi thức Phật đản,
Nghi thức lễ sám buổi khuya và các tác phẩm khác đã in hoặc
chưa in.
Thâm
hiểu và cảm thông nghiệp lực nhân sinh, lân mẫn chúng tăng
ni không giữ trọn nguyện ước thanh quy giới luật phải hoàn
tục sống đời thế gia, Hòa thượng lập chúng Dược Vương
để quy tụ và sinh hoạt với số đông Phật tử vốn đã
có thời gian ươm mầm hộ trì chánh pháp này.
Mãn
báo thân 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo. Vào lúc 21 giờ 30 ngày
2 tháng 4 năm 1984 (tức ngày 2 tháng 3 năm Giáp Tý) Hòa thượng
thị tịch tại Quảng Hương Già Lam, quàn tháp tại đây chờ
di quan phụng Tổ tại tổ đình Báo Quốc theo nguyện ước
lúc sinh tiền.
Source:
Phật Giáo Việt Nam