VƯỢT
QUA CHÍNH MÌNH
1.
KHẢ NĂNG CON NGƯỜI LÀ HỮU HẠN.
Trong
cuộc sống, do ngã chấp sâu kín nên con người thường có
những bệnh bắt đầu bằng chữ “tự” như: tự ái, tự
cao, tự hào, tự mãn, tự tôn… Ở đây, chúng ta chỉ nói
đến tự mãn, tự tôn - tự thấy mình là hay, là quan trọng.
Điều này xuất phát từ tự ngã. Do tự ngã, chúng ta thấy
những điều mình biết hoặc những điều mình làm được
là rất hay, rất đủ, rất tuyệt vời. Từ đó, trong chúng
ta thường xuất hiện bệnh “tự khen mình”. Chẳng hạn,
khi nói ra điều chưa ai nói, chúng ta thấy mình hơn thiên hạ;
hoặc khi làm được một việc thiện nào đó, chúng ta cảm
thấy mình rất hay, rất cao thượng. Đó là những bệnh phát
ra từ trong tự ngã. Đó là những bệnh sai lầm, chúng ta không
được để chúng xuất hiện trong tâm mình, trong sự nghiệp
tu hành của mình. Không riêng người tu, bất cứ người nào
để bệnh này phát ra trong tâm đều bị thất bại, đổ vỡ.
Vì
sao chúng ta biết những điều mình đã biết được, đã học
được, đã chứng được chưa phải là viên mãn? Vì so với
những người khác, với những vị khác cao hơn, (chưa dám
so với Phật ), tất cả những điều chúng ta biết, những
việc chúng ta làm được chưa đáng là bao. Như vậy, dựa
vào người khác, chúng ta có thể đánh giá được bản thân
mình và vượt qua được bệnh tự mãn. Việc dựa vào người
khác để đánh giá lại mình gọi là vượt qua chính mình,
không còn đứng lại với mình nữa. Sở dĩ con người thường
thấy mình hay, thấy mình giỏi vì họ chỉ đứng ở vị trí
của mình để nhìn công việc mình làm, để quan sát những
điều mình biết. Lúc ấy, họ thấy dường như không có gì
hay hơn nữa.
Ví
dụ, khi học bài Kinh Kim Cang, hiểu được một điều lý thú,
chúng ta cảm thấy nó quá hay, không thể hơn được nữa.
Vì trước đây, chúng ta chưa hiểu được như vậy. Nhưng
nếu cứ nghĩ như thế thì chúng ta chưa vượt qua được chính
mình, vẫn còn đứng lại nơi mình.
Khi
đã bước ra khỏi mình, có thể dựa vào trí tuệ của những
vị khác để đánh giá ngược lại mình, là chúng ta đã vượt
qua chính mình. Đây là điều rất khó, vừa đòi hỏi trí
tuệ vừa phải có đạo đức. Trong cuộc sống, chúng ta thường
dựa vào chủ quan của mình để đánh giá chính mình hoặc
người khác. Điều này thường không chính xác. Với một
trí tuệ phát triển, chúng ta sẽ thấy chân lý trong vũ trụ
mênh mông vô tận, những điều mình biết được chưa
là gì cả. Vì vậy, những nhà bác học xuất sắc trên thế
giới thường nói một câu rất giống nhau: “càng học càng
thấy mình ngu dốt”. Điều này mới nghe qua tưởng chừng
vô lý nhưng càng nghĩ, chúng ta càng thấy đúng.
Khi
mới bắt đầu hiểu biết, chúng ta thường so sánh những
điều mình học được với chính mình ngày hôm qua và thấy
mình ngày càng giỏi hơn, hiểu biết sâu sắc hơn. Nhưng khi
trí tuệ phát triển, con người không còn nhìn lại, so sánh
với những hiểu biết của mình trước đây nữa. Nhờ trí
tuệ, họ nhìn về phía trước và bỗng nhiên mơ hồ nhận
ra bầu trời trí tuệ mênh mông vô tận, có biết bao điều
mình chưa học được, chưa hiểu được. Những người bắt
đầu có trí tuệ là những người vượt qua chính mình, không
còn dựa vào mình nữa. Không chỉ riêng các nhà bác học,
những người trí thức chân chính dù chưa học xong phổ thông,
đại học hay đã học xong Thạc sĩ, Tiến sĩ đều có cái
nhìn giống nhau như vậy. Càng học, họ càng nhận ra những
điều mình đã học được, biết được, những gì mình phấn
đấu cả một thời xuân trẻ chưa là gì trong chân lý mênh
mông của vũ trụ này. Chân lý của vũ trụ là vô hạn, mà
trí tuệ con người là hữu hạn. Chúng ta đừng bao giờ cho
mình đã hiểu biết đầy đủ.
Có
một thời gian, chúng ta nghe đồn rộ lên về việc người
nước ngoài phát hiện ra hiện tượng đĩa bay (UFO) xuất hiện
trên Trái đất. Đó là dấu hiệu có người ngoài hành tinh
ghé thăm Trái đất với phương tiện di chuyển là đĩa bay.
Trước hiện tượng đó, con người trên Trái đất chúng ta
xuất hiện nhiều tư tưởng khác nhau. Có người cho rằng
đây là chuyện có thật. Họ tin rằng, quả thực có trí tuệ
của vũ trụ ngoài Trái đất đã đến thăm chúng ta. Có người
không chấp nhận, cho đó chỉ là ảo ảnh người ta nhìn thấy
rồi tưởng tượng ra. Có người nói rằng đó là một loại
máy bay đặc biệt của của những cường quốc nhưng còn
giấu kín… Nói chung, người ta không chịu tin là có trí tuệ
vượt hơn trí tuệ khoa học của người sống trên địa cầu.
Qua những chứng cứ thu thập được, chúng ta thấy quả thực
là có trí tuệ ở ngoài vũ trụ, cao siêu hơn chúng ta rất
nhiều. Gần đây, trong chuyên mục Những điều kỳ thú, nguời
ta đã tiết lộ những thông tin rất lý thú về người ngoài
hành tinh mà các nhà khoa học Mỹ đã “bắt được” và
chăm sóc, theo dõi trong suốt thời gian qua.
Trong
một bộ phim do nhóm các nhà khoa học thực hiện, người ta
đã chứng tỏ rằng cách đây năm nghìn năm, người ngoài
vũ trụ đã đến viếng Trái đất. Dấu hiệu đó còn ghi
trên những hang động, những tảng đá, những phong tục tập
quán của người dân sống ở những vùng xa xôi như : Nam Mỹ,
Phi châu v.v… Ở Úc châu, người ta cũng có những truyền
thuyết về dấu hiệu cho thấy người ngoài vũ trụ đã đến
đấy từ rất lâu. Những chứng cứ mà các nhà khoa học nêu
ra quá mạnh mẽ, vững chắc, chúng ta không thể phủ nhận
được. Những người tin như vậy cũng được gọi là người
vượt qua chính mình, vì họ có trí tuệ biết rằng kiến
thức khoa học của người địa cầu chưa đủ cao siêu. Bên
cạnh đó, một số nhà khoa học lại khăng khăng chứng minh
điều gì khoa học địa cầu không nói đến, điều đó không
có thật. Vì vậy, họ phủ nhận hiện tượng đĩa bay. Đó
là những người chưa vượt qua được chính mình.
Nếu
theo dõi báo chí, chúng ta sẽ thấy ở Việt Nam cũng có một
nhà khoa học tên tuổi rất lừng lẫy, là Giáo sư - Tiến
sĩ giảng dạy ở nhiều trường Đại học nổi tiếng (chúng
ta không tiện nói tên) không chịu tin hiện tượng đĩa bay.
Qua một số bài báo, ông ta dựa vào trình độ khoa học của
địa cầu để phủ nhận hiện tượng này vì cho rằng nó
không phù hợp với khoa học của địa cầu. Chúng ta rất
lấy làm tiếc vì nhà khoa học của chúng ta chưa có tầm cỡ
của Einstein, Newton hay Pascal. Mặc dù là người có bằng cấp
cao, nổi tiếng khắp nơi trong nước, ông vẫn chỉ dựa vào
sự hiểu biết chủ quan của mình để đánh giá người khác,
chưa thể vượt qua chính mình để nhìn thấy được vấn
đề.
Chúng
ta không có thời gian để nói nhiều về hiện tượng đĩa
bay vì đây là một hiện tượng lạ, mang ý nghĩa khoa học
rất cao. Nhưng chúng ta có thể xem xét một vài điều để
thấy được những chân lý tồn tại trong vũ trụ. Ví dụ,
với trình độ khoa học hiện nay, chúng ta có thể chế tạo
được những loại máy bay với đôi cánh tựa không khí hoặc
hỏa tiễn bay ra ngoài quỹ đạo nhưng tốn rất nhiều nhiên
liệu. Trong khi đó, đĩa bay lại chuyển động rất êm, không
thấy khỏi xịt ra từ động cơ và gần như không còn chịu
lực hút của Trái đất. Chúng ta có thể suy luận người
ngoài hành tinh đã có những phương pháp, những kỹ thuật
hiện đại để có thể thắng được trọng lực của lực
hấp dẫn giữa các thiên thể, trọng lực của Trái đất.
Nhưng với trình độ khoa học của mình, chúng ta không thể
hiểu được, không thể lý giải được điều này.
Nếu
liên hệ đến đạo Phật, chúng ta nhớ lại những chuyện
kể về việc ngày xưa Đức Phật từng dùng thần thông để
bay đi hoặc các vị Alahán đã từng dùng thần thông để
vân du. Gần đây nhất, những nhà Yoga ngồi thiền có thể
nhấc thân thể lên cao rất giống với phương pháp bay của
đĩa bay. Có thể nơi hành tinh nào đó trong vũ trụ,
người ta đã đạt đến trình độ tâm linh cao và vận dụng
vào khoa học để chế tạo những loại máy móc có thể bay
theo phương pháp của thần thông. Đây là điều rất đặc
biệt. Có lẽ họ đã nối được khoa học với tâm linh nên
trong kỹ thuật cơ khí lại áp dụng được phương pháp của
tâm linh. Con người chúng ta chưa làm được điều này. Với
trình độ văn minh của địa cầu như hiện nay, khoa học và
tâm linh vẫn là hai lĩnh vực còn đối lập, mâu thuẫn nhau.
Nhiều người tin vào khoa học đã phủ nhận tâm linh. Ngược
lại, những người coi tâm linh là cao cả lại quay lưng với
khoa học. Cả hai thái độ đó đều cho thấy con người chưa
vượt qua được chính mình.
Sống
trong hiện tại, chúng ta có thể mơ ước về tương lai với
những điều tốt đẹp. Đó cũng là biểu hiện của sự vượt
qua chính mình. Ví dụ, Chúng ta mơ ước tại một hành tinh
nào có sự sống trong vũ trụ, tất cả con người đều là
Thánh nhân. Ngay từ nhỏ, người nơi đó đã được dạy dỗ
Đạo đức, Thiền định, Nhân quả. Họ có phương pháp học
tập thật siêu việt. Trong ba năm, họ có thể học bằng ba
trăm năm ở Trái đất. Hoặc hai mươi năm học, nhưng trình
độ, kiến thức của họ có thể bằng 1000 năm chúng ta học
ở Trái đất. Họ có Trí tuệ siêu việt và tâm linh rất
cao, sống với nhau như những bậc Thánh vv…. Chúng ta có thể
mơ mộng như vậy. Ngày xưa, Voltaire - nhà văn Pháp nổi tiếng-
cũng từng có những mơ ước như vậy. Ông là nhà văn có
tư tưởng tiến bộ cách mạng, thông minh, viết nhiều sách
với những lý luận rất nổi tiếng. Trong một tác phẩm,
ông đã viết về một hòn đảo với trí tưởng tượng phong
phú. Lúc bấy giờ, trên Trái đất chưa xuất hiện hiện tượng
người ngoài hành tinh. Người ta cũng chưa khám phá ra được
những vùng đất xa xôi trên Trái đất này. Con người chỉ
thấy thế giới này là duy nhất và người ta có quyền mơ
mộng về một hòn đảo, một quốc gia nào đó trên Trái
đất mà họ chưa biết đến. Khi đọc lại những câu chuyện
đó, chúng ta có thể thấy những đoàn thám hiểm đi lạc
vào những vương quốc xa lạ như trong truyện Tây Du Ký của
Ngô Thừa Ân. Trong truyện của mình, ông Voltaire đã viết
về một vương quốc trên đảo. Ở đó, người ta sống như
Thánh trong một thể chế theo chế độ Cộng hòa. Con người
đối xử với nhau rất Đạo đức, thương yêu, đoàn kết
với nhau… Thực ra, nhận thấy tại đất nước mà ông đang
sống cũng như các lục địa ở Âu châu, con người sống
với nhau rất phi đạo đức nên ông bất mãn và mơ mộng
về một thế giới khác. Đó cũng là sự vượt qua chính mình.
Người ta tin rằng, ít ra vẫn còn có nơi nào đó tốt hơn
nơi mình đang sống.
Sống
trong thế giới hiện nay, con người cũng có tâm trạng như
vậy. Khi đối mặt với một cuộc sống đầy những giành
giật, bon chen, thủ đoạn hơn thua, ích kỷ, tàn hại lẫn
nhau…, con người thường xuất hiện hai cách phản ứng:
Những người biết Đạo sẽ mơ ước tìm về một nơi khác
tránh xa cõi đời đầy tham lam, thù hận này. Có thể
người ta theo pháp môn Tịnh độ, niệm Phật cầu chết để
bỏ xứ này, đi về cõi Phật đẹp đẽ hơn, sống sung sướng
hơn. Đó là thái độ quay lưng với thực tại. Những người
khác lại cho rằng, sống giữa thế gian xô bồ, chen đua, giành
giật này phải khôn ngoan, thậm chí có thể thủ đoạn, lừa
lọc để tồn tại chứ không bao giờ chịu thất bại, buông
xuôi.
Trước
hai thái độ ấy, chúng ta có thể nhận định rằng: Người
đến với cuộc đời còn tồn tại nhiều điều xấu và chấp
nhận sống song song với nó là người chưa vượt qua được
chính mình. Họ vẫn chưa thấy được những cái đẹp sâu
xa, cao thượng ở ngoài những gì đang hiện hữu này để
mơ ước và vượt lên. Ngược lại, những người sống nơi
cõi đời đầy rẫy cái xấu, cái ác này vẫn có niềm
tin, vẫn hy vọng đâu đây còn lấp lánh những vẻ đẹp thánh
thiện mà mình chưa tìm thấy được. Nghĩa là họ vẫn hy
vọng tìm được nơi thân hiện hữu này những điều cao hơn,
tốt hơn. Thái độ như vậy cũng gọi là vượt qua được
chính mình.
Tóm
lại, chân lý của vũ trụ là vô hạn, có nhiều điều chúng
ta không thể biết hết được. Chúng ta phải có trí tuệ,
có cái nhìn vượt khỏi những điều mình biết. Đây là tiền
đề để chúng ta vượt qua được chính mình. Điều thứ
hai, chúng ta phải biết trong vô biên tuyệt đối chân lý của
vũ trụ, trí tuệ của con người là tương đối và hữu hạn.
Đây là hai điều mà chúng ta cần phải nhận định trước
khi đi sâu vào vấn đề.
Trí
tuệ con người luôn luôn hữu hạn và tương đối. Vậy, khi
nào trí tuệ ấy đạt đến tuyệt đối và vô hạn? Chỉ
khi đã thành Phật, trí tuệ con người mới trở nên vô hạn.
Vì sao như vậy? Chúng ta biết rằng, giác ngộ là đạt được
Vô ngã, con người không còn là mình nữa mà trở thành vũ
trụ. Chúng ta không nói ra điều này vì không muốn phô trương,
quảng cáo, tạo thành một kiến giải để người ta hơn thua,
lý luận trong Phật pháp. Chính chư Phật, chư Tổ cũng đều
giấu điều này. Mặc dù không nói ra nhưng chúng ta phải hiểu
sự giác ngộ rất vi diệu và vô cùng vĩ đại. Đó là trí
tuệ cao nhất trong đạo Phật, là sự chứng đắc cao nhất
trong đạo Phật.
Có
một thời gian, người ta ca ngợi Phật tánh, người ta bàn
luận làm sao ngộ được Phật tánh, chứng được Phật tánh,
thấy được Phật tánh mà không để ý đến Vô ngã. Điều
này đã trở thành một căn bệnh nghiêm trọng trong Phật pháp
và kéo dài hơn cả ngàn năm trong đạo Phật. Vì chỉ hướng
đến Phật tánh mà không để ý đến Vô ngã nên có nhiều
vị khi chứng được một mức định nào đó vội cho rằng
mình đã chứng được, đã thấy được và đã đạt được
Phật tánh. Nhưng khi đã ngộ, trong cái định đạt được
đó, bản ngã vẫn còn tồn tại. Chính vì bản ngã vẫn còn
tồn tại nên mọi phiền não, mọi bất thiện vẫn còn trong
tâm dù người đó đã đạt được định. Vì thế, bao nhiêu
bệnh không dứt được vì ngã chấp vẫn còn. Đây là điều
rất nguy hiểm.
Hiểu
điều này, chúng ta phải cẩn thận, dù được định ở mức
nào cũng không bao giờ kết luận là mình đã đạt Phật tánh.
Chúng ta phải biết, bản ngã vẫn tiếp tục tồn tại song
song với định. Sở dĩ chúng ta nói trí tuệ con người là
hữu hạn vì chấp ngã vẫn còn. Trong khi đó, trí tuệ của
Phật là vô biên, vô hạn; trí tuệ của các bậc Alahán là
vô hạn vì ở các vị ấy, ngã chấp không còn nữa. Tuy nhiên,
không phải đơn giản chứng Alahán vô ngã là biết được
tất cả. Sau này, nếu còn có duyên, chúng ta sẽ trao đổi
thêm về những mức độ tu chứng tâm linh. Ở đây, chúng
ta chỉ cần hiểu tiên đề: Chân lý của vũ trụ là vô hạn,
trí tuệ của con người là hữu hạn, đừng bao giờ cho mình
đã hiểu biết đầy đủ.
Con
người chúng ta thường mắc hai “bệnh” để gọi là chưa
vượt qua được chính mình. Thứ nhất là bệnh tự mãn, cho
rằng sự hiểu biết của mình đã đầy đủ. Đó là người
chưa có trí tuệ nhìn xa hơn điều mình thấy, điều mình
hiểu biết. Thứ hai là “bệnh” không muốn ai sau này hay
hơn mình. Bệnh thứ nhất thuộc về Trí tuệ, bệnh thứ hai
thuộc về Đạo đức. Người có tâm vượt qua được chính
mình luôn thấy hiểu biết của mình chưa đủ, chưa hay, mình
chưa phải là người toàn vẹn và luôn mong người đến sau
hay hơn, giỏi hơn mình. Như vậy, vượt qua được chính mình
vừa là Trí tuệ cũng vừa là Đạo đức.
2.
BỐN HẠNG NGƯỜI
Trong
cuộc sống, chúng ta có thể tạm phân biệt con người thành
bốn hạng:
Hạng
thứ nhất: Người kém dở và biết mình kém, công nhận có
nhiều người khác hơn mình. Đây là hạng người kém nhưng
biết vượt qua chính mình.
Hạng
người thứ hai: Kém dở nhưng bướng bỉnh, không biết chỗ
kém
dở và lỗi lầm của mình, không thấy cái hay của người
khác. Nghĩa là người này có lỗi lầm nhiều trong cuộc sống
mà không bao giờ thấy lỗi của mình. Cái hay của người
khác họ cũng không thấy, chỉ thích chê bai. Trường hợp
này quá tệ. Hạng người này không biết đến bao giờ mới
có thể thoát ra được chính mình, và ở những kiếp về
sau có thể bị đọa xuống những loài rất thấp kém. Điều
này không phải là không có chứng cứ. Có Thầy đã chứng
kiến và kể lại rằng: Ngày trước, Thầy từng sống với
một ông già không có bà con thân quyến. Khi chết, ông cũng
giấu, không cho biết gia đình ông ở đâu nữa. Vì là người
duy nhất ở với ông nên những ngày cuối đời bệnh hoạn,
người ấy đã chăm sóc, lo lắng cho ông đến khi ông qua đời.
Trong cuộc đời mình, ông chỉ khen hai người là Đức Phật
và Đại đức Narada ở Tích Lan. Còn lại, từ lãnh đạo đến
thường dân, từ Hòa thượng, Sư Bà đến Tăng Ni… , ai cũng
bị ông chê bai, chửi rủa. Sau khi ông chết, vị Thầy sống
với ông lên núi cất chùa mang theo toàn bộ vật dụng của
ông, vì nghĩ cũng là cách để ông có phước. Trong các vật
dụng ấy có một cái ghế bố ông hay nằm. Khi mang lên chùa,
nhiều người đã nằm trên chiếc ghế ấy. Sau một thời
gian, chùa được người ta cho một con chó con để nuôi. Hằng
ngày, con chó cứ nhảy lên ghế nằm. Một lần, một Phật
tử thấy vậy bèn ẵm nó xuống vì sợ dơ ghế. Đêm đó,
cô nằm mơ thấy ông già về trách: “Ghế tao, tao nằm sao
mày cứ bắt tao xuống hoài vậy”. Chính ông già đó đã
đọa thành chó. Ít hôm sau, con chó cũng chết. Nhưng không
biết chỉ một kiếp đó ông đã đủ trả hết nợ của mình
chưa.
Nếu
suy luận Nhân Quả qua những điều ông kể và trong cuộc sống
hiện tại, ông già không gây tội gì nhiều, chỉ thấy khẩu
nghiệp của ông nặng quá, luôn chê bai, nguyền rủa mọi người.
Như vậy, người kém dở mà không biết lỗi của mình, không
thấy cái hay người khác để ca ngợi, chỉ chê bai, sẽ rất
dễ mất thân người mà không biết bao giờ mới được lên
trở lại.
Hạng
người thứ ba: Tài giỏi nhưng kiêu mạn, không biết được
giới hạn của mình ở đâu. Nghĩa là hạng người này giỏi
nhưng chưa đạt đến trí tuệ tuyệt đối, lại bị bệnh
kiêu mạn nên không thấy giới hạn, không thấy mình giỏi
đến mức nào. Hạng người này cũng chưa vượt qua được
chính mình. Trong cuộc sống, chúng ta hay gặp loại người
này. Đó là những người tài giỏi, thấy mình có khả năng
làm được mọi việc, thấy mình luôn hơn người khác. Những
người như vậy dễ rơi vào tham vọng nguy hiểm. Vì cứ nghĩ
mình giỏi, có thể làm được tất cả mọi việc nên họ
dễ bị người ta xúi giục đi tìm quyền lực chính trị,
tập họp thành từng nhóm, từng bè đảng để đấu tranh.
Họ không hiểu có quyền lực, địa vị là do Nhân Quả chứ
không do tham vọng. Người đạt được quyền cao, chức trọng
trong xã hội là nhờ duyên phước của những đời trước
chứ không phải do tham vọng, tự cao mà thành tựu được.
Đây
là người không vượt qua được chính mình vì không biết
giới hạn của mình ở đâu. Sự thật, mình có thể giỏi
trong lĩnh vực nào đó nhưng không thể làm tất cả mọi điều.
Đặc biệt, chính trị là lĩnh vực vô cùng phức tạp, rối
rắm, đòi hỏi con người phải rất giỏi, phải có đạo
đức và có nhân duyên từ nhiều đời trước mới có thể
đạt được quyền lực. Đây là điều chúng ta phải hiểu
và phải tránh. Những người giỏi mà không vượt qua được
chính mình rất dễ mắc sai lầm và ngày càng lún sâu vào
sai lầm để rồi phải đổ vỡ. Ngoài việc thất bại, họ
còn đổ vỡ về đạo đức, về sau họ sẽ làm những chuyện
xấu xa, tội lỗi khiến người đời chê cười. Chỉ riêng
kiêu mạn, không thấy được giới hạn của mình - một lỗi
thuộc về trí tuệ- họ đã chuẩn bị để phải đối diện
với sự thất bại ở mai sau. Huống hồ, nếu đổ vỡ thêm
về đạo đức, nghĩa là không muốn ai về sau hơn mình, thế
nào họ cũng làm những điều bậy bạ. Đây là điều rất
nguy hiểm.
Hạng
người thứ tư: Tài giỏi nhưng biết sẽ còn nhiều người
giỏi hơn và luôn chờ đợi những người đến sau có khả
năng hơn mình. Hạng người này vượt qua được chính mình.
Đây là trường hợp rất đáng ca ngợi.
Trong
bốn hạng người ấy, chúng ta thấy có hai hạng người xuất
hiện nhiều trong cuộc sống. Đó là hạng thứ nhất, người
kém mà vượt qua được chính mình. Đây là điều đáng mừng
cho thế giới vì những người này sẽ tiến lên được. Hạng
người thứ ba, người giỏi mà kiêu không vượt qua được
chính mình, không muốn ai hơn mình cũng là hạng người thường
gặp. Đây là điều đáng buồn vì trên thế giới sẽ không
có nhiều thiên tài, sẽ không có nhiều Thánh nhân. Người
giỏi biết vượt qua được chính mình mới có thể thành
Thánh nhân, thành thiên tài.
Hai
hạng người chúng ta ít gặp trong cuộc sống là hạng thứ
hai - người kém mà không biết mình kém, không thấy cái hay
của người khác và hạng người thứ tư - người giỏi mà
vượt qua được chính mình, giỏi mà biết cái giỏi mình
có giới hạn, mong những người đến sau sẽ giỏi hơn mình.
Những người như vậy sẽ trở thành thiên tài vì họ đã
gây được cái Nhân rất tốt trong cuộc sống. Rất tiếc,
hạng người này lại xuất hiện quá ít. Học bài này, mục
đích của chúng ta là tìm nhiều bậc giải thoát, nhiều Thánh
nhân cho Phật pháp và cho thế giới. Sở dĩ Phật pháp và
thế giới ít Thánh nhân là do hạng người thứ tư này còn
quá ít.
Như
vậy, người kém mà biết mình kém sẽ trở thành người giỏi;
người giỏi mà biết vượt qua chính mình sẽ trở thành người
ưu tú cho thế giới. Phân biệt bốn hạng người này là chúng
ta muốn đem đến cho nhân loại một cái Nhân, một con đường
đi để con người biết đi từ giỏi đến xuất sắc, từ
xuất sắc trở thành thiên tài. Những thiên tài đó sẽ trở
thành những bậc Thánh nhân cho nhân loại. Hạng người thứ
tư ngày càng nhiều thì thế giới này sẽ vô cùng hạnh phúc.
Trong
bốn hạng người này, chúng ta nên so sánh và chọn con đường
đi cho mình. Nếu thấy mình kém, chúng ta cố gắng vượt qua
để trở thành trung bình, khá, rồi đến giỏi. Nếu được
giỏi, chúng ta lại tiếp tục vượt qua chính mình để được
xuất sắc và trở thành thiên tài.
3.
PHẢI VƯỢT QUA CHÍNH MÌNH ĐỂ KHÔNG CẢN TRỞ SỰ PHÁT
TRIỂN PHẬT PHÁP.
Tìm
hiểu bài này, chúng ta nhằm đến hai mục đích: Hiểu được
con đường dẫn chúng ta đi lên và không cản trở sự
phát triển của Phật pháp. Nếu không vượt qua chính mình,
chúng ta sẽ làm cản trở sự phát triển của Phật pháp.
Chúng
ta đã biết, đạo Phật mênh mông, giáo lý đạo Phật vô
cùng sâu sắc nhưng có hai điều vô cùng quý giá mà đạo
Phật đem cho thế giới. Đó là luật Nhân Quả và sự giải
thoát giác ngộ.
Trước
hết, luật Nhân Quả là điều quý giá mà đạo Phật đem
lại vì luật Nhân Quả là tiền đề cho Đạo đức. Đây
là “cái thềm” để chúng ta đi đến Đạo đức chứ chưa
phải là Đạo đức. Một người có thể đã đọc nhiều
cuốn sách nói về Nhân Quả và tin được Nhân Quả, hiểu
được Nhân Quả nhưng chưa hẳn đã có Đạo đức. Tin Nhân
Quả chỉ là nền tảng, là cơ sở để chúng ta có những
lý luận tiếp tục và có thể sửa được nội tâm mình.
Học mỗi bài về Tâm lý Đạo đức, chúng ta đều phân tích
dựa trên luật Nhân Quả. Nếu không có chỗ dựa về Nhân
Quả, chúng ta không thể phát triển về đạo đức. Chính
vì thế, chúng ta coi Nhân Quả là một tiên đề vô cùng quý
giá cho sự tăng trưởng Đạo đức của con người trên thế
giới này.
Điều
đáng buồn cho thế giới hiện nay là rất nhiều tổ chức,
đảng phái chính trị hoặc các tôn giáo… nhận ra sự quan
trọng của Đạo đức con người, kêu gọi các thành viên
trong đoàn thể của mình rèn luyện về Đạo đức nhưng họ
lại không lý luận về Nhân Quả. Cho nên, dù nói về Đạo
đức rất nhiều nhưng họ không thể nói một cách sâu sắc,
không thể nói cao hơn được, chỉ kêu gọi chung chung. Nếu
những thành viên trong đoàn thể của họ không thực hiện,
họ cũng không cần, chỉ dựa vào luật pháp. Nhưng luật pháp
cũng không thể nào giữ cho con người không vi phạm Đạo
đức. Vì thực chất, luật pháp do con người tạo ra và chính
con người nắm giữ luật pháp. Nếu con người không có Đạo
đức thì luật pháp còn có ý nghĩa gì? Cứ cấp trên kiểm
soát cấp dưới nhưng nếu cấp trên không Đạo đức, gây
nên tội thì ai sẽ kiểm soát họ? Như vậy, nếu mỗi công
dân có Đạo đức, sống và làm việc theo đúng pháp luật
thì những người công an, những người nắm giữ luật đỡ
vất vả. Nếu không có Đạo đức, xã hội luôn luôn cần
những người có trách nhiệm kiểm soát công dân, cần những
tổ chức cao hơn kiểm soát những tổ chức cấp dưới. Nhưng
nếu những tổ chức trên không làm đúng luật, những tổ
chức cao hơn nữa phải đứng ra giải quyết… Cứ như thế,
Nhà nước tốn không biết bao nhiêu con người, bao nhiêu lương
bổng vào việc giữ gìn an ninh, trật tự chỉ vì người
dân không có Đạo đức.
Gần
đây, những vụ án lớn xảy ra gây chấn động dư luận cũng
xuất phát từ chỗ không có Đạo đức. Công dân vi phạm
luật pháp. Những người nắm giữ luật pháp lại thông đồngï
với tội phạm làm những điều sai trái. Nhà nước đã tin
tưởng, giao cho họ quyền quản lý tài sản, kiểm tra người
dân nhưng họ không làm đúng chức năng. Và khi phát hiện
ra thì sự tổn hại đã quá lớn. Đến một lúc nào đó,
Việt Nam cũng như các nước trên thế giới sẽ kêu gọi Đạo
đức vì Đạo đức con người đã xuống dốc nghiêm trọng
trong khi những quy định về luật pháp không bao giờ đủ,
không bao giờ có thể giữ được con người.
Hiện
nay, nạn tham nhũng xảy ra tràn đầy tại các quốc gia ở
Nam Mỹ, ở Á châu không phải vì các nước đó không có luật
pháp hay luật pháp không chặt chẽ mà vì con người không
có Đạo đức. Nguyên nhân không có Đạo đức là do mặc
dù vẫn kêu gọi, vẫn nói về Đạo đức nhưng người ta
không có “cái nền” của Đạo đức là Nhân Quả. Nói đến
Đạo đức mà không nói đến Nhân Quả chẳng khác nào xây
nhà lầu trên cát. Nhưng điều khó khăn là nói đến Nhân
Quả, chúng ta phải nói đến luân hồi. Hiện nay, luân hồi
lại chưa chứng minh được nên người ta chưa tin Nhân Quả.
Luật
Nhân Quả rất quan trọng đối với chúng ta. Nếu một ngày
nào đó, thế giới chấp nhận và tin vào luật Nhân Quả,
Đạo đức con người sẽ phát triển, xã hội sẽ hạnh phúc.
Bởi vậy, bổn phận của chúng ta là gieo rắc, truyền bá
cho con người niềm tin hiểu về luật Nhân Quả, Nghiệp báo
để họ sống tốt hơn, để Đạo đức tràn ngập trên cuộc
đời này.
Điều
quý giá thứ hai mà đạo Phật đem đến cho nhân loại là
sự giải thoát, giác ngộ. Đây là lý tưởng tối hậu mà
chúng ta phải hướng đến. Con người luôn sống trong giày
vò, bất an, đau khổ, ràng buộc… mà không thể tìm được
con đường nào vượt lên để có cuộc sống hạnh phúc. Chính
đạo Phật đã cho người ta con đường ấy. Trong mức độ
cạn của cuộc sống này, người ta bình an hơn, hạnh phúc
hơn, cởi mở hơn. Nếu thực hành lời Phật dạy sâu xa hơn
nữa, họ sẽ tìm được trí tuệ, sự từ bi, sự hạnh phúc
an lạc, sự giải thoát trong tâm hồn… mà không ngôn từ
nào có thể diễn tả được.
Dù
thế giới văn minh, tiến bộ đến đâu thì hai điều này
vẫn còn thiếu và đạo Phật vẫn luôn cần thiết cho nhân
loại. Tất nhiên, chưa tiếp nhận được điều quý giá thứ
nhất (luật Nhân Quả) thì con người khó hình dung ra điều
thứ hai (lý tưởng về giải thoát, giác ngộ). Bởi vậy,
tất cả chúng ta - Tăng Ni, cư sĩ, những đệ tử Phật nói
chung - phải có bổn phận, có sứ mạng làm sứ giả cho Phật,
đem Nhân Quả và lý tưởng giải thoát giác ngộ đến cho
nhân loại.
Nhưng
làm thế nào để thực hiện được điều ấy?
Nếu
gặp bất cứ ai chúng ta cũng nói với họ mình sẽ cho họ
hai điều quý giá nhất của đạo Phật là luật Nhân Quả
và lý tưởng giải thoát giác ngộ, người ta sẽ từ chối
không nhận. Vì sao như vậy ? Sở dĩ cho mà người ta không
nhận là do nhìn vào chúng ta, họ không có độ tin cậy. Chưa
nói sâu xa, trong cuộc sống, nếu cho ai điều gì quý giá mà
người ta chưa có, chúng ta- người đem cho - phải là người
thân thiết và phải giỏi hơn họ. Vì có như vậy, người
ta mới tin là đó là cái quý giá. Ví dụ, đang đi trên chiếc
xe Dream, chúng ta gặp một người đi chiếc xe đạp quá cũ,
lại không có thắng, mỗi khi thắng phải chà hai chân xuống
đường đến mòn cả dép. Người đó gọi chúng ta dừng lại
và tỏ ý muốn tặng một chiếc nhẫn bằng vàng. Dù họ có
chân thật bao nhiêu đi nữa, chắc chắn chúng ta cũng không
nhận vì chưa đủ độ tin cậy. Chúng ta có thể nghi đó là
vàng giả. Ngược lại, nếu họ đang đi trên chiếc xe hơi
bóng lộn, chúng ta có thể tin và nhận món quà của họ vì
thấy họ giàu hơn mình.
Tương
tự như vậy, sở dĩ chúng ta đem đến cho nhân loại Nhân
Quả và lý tưởng giải thoát nhưng họ chưa nhận vì người
ta thấy mình còn lạc hậu, trí tuệ chưa hẳn đã vượt hơn
họ. Vào thời Đức Phật, người biết chữ rất ít, trong
năm sáu ngàn người chỉ có vài ngàn người biết chữ, biết
đọc biết viết. Vì vậy, lúc bấy giờ người ta xem việc
biết đọc, biết viết là việc không cần thiết, không quan
trọng. Người xuất gia không cần biết đọc, biết viết
tu vẫn chứng được như thường. Rất nhiều vị Alahán không
hề biết đọc, biết viết. Nhưng sau Phật khoảng 1000 năm
(khoảng thế kỷ thứ IV, thứ V), nếu người tu sĩ không biết
đọc, biết viết thì người đó không đáng là Thầy thiên
hạ. Đặc biệt, trong thời đại ngay nay, một tu sĩ không
biết chữ không thể đi nói chuyện đạo cho người khác nghe
được. Những người đó không xứng đáng là người Thầy
dạy đạo lý cho họ. Người Thầy dạy đạo phải giỏi hơn
họ, là người đáng kính trọng trong xã hội.
So
sánh với thời Đức Phật để chúng ta nói đến một tình
trạng tương tự xuất hiện trong xã hội ngày nay. Hiện nay,
máy vi tính (Computer) được coi là một phát minh chứng tỏ
sự tiến bộ vượt bậc của loài người. Trong thời điểm
này, nếu người tu không biết sử dụng máy vi tính hoặc
sử dụng chưa thuần thục cũng có thể chấp nhận được.
Hằng ngày, họ vẫn tu, vẫn ăn chay, niệm Phật, mỗi sáng
vẫn ngồi thiền đều đặn. Có người không biết vi tính
vẫn đi giảng đạo, vẫn làm Thầy người ta được. Nhưng
khoảng hai mươi năm sau, người tu sĩ không biết vi tính là
hạng người không đáng được nhắc đến trong xã hội. Chúng
ta phải nghĩ đến điều đó và phải chuẩn bị ngay từ bây
giờ.
Để
thế giới chấp nhận đạo Phật thì đạo Phật phải vững
vàng, có bản lĩnh, đủ lý luận và không lạc hậu. Đạo
Phật phải đồng hành được với thế giới và hướng đạo
được cho thế giới. Chính vì vậy, đạo Phật phải phát
triển không ngừng. Nghĩa là phải có nhiều đệ tử - Tăng
Ni hay Phật tử cư sĩ - thật xuất sắc, hiểu biết khoa học
kỹ thuật, nắm vững giáo lý và tinh tấn tu tập để phát
triển lý luận của đạo Phật lên cao, ngang tầm với thời
đại và lên cao mãi đến vô tận.
Nếu
chúng ta cho rằng lý luận của đạo Phật như vậy là đủ,
tu như vậy là đã chứng rồi, không cần tu nữa là chúng
ta đã cô phụ sứ mạng mà Phật đã trao lại cho mình. Chúng
ta phải hiểu những sách vở, những lý luận của Phật pháp
hôm nay không bao giờ đầy đủ cho con người, cho thế giới.
Nếu đã đủ, hiện nay đạo Phật đã chinh phục được cả
thế giới. Vì vậy, chúng ta không được quay lưng với thế
giới, không được mắc bệnh tự tôn tự kiêu, không bao giờ
được đứng yên một chỗ mà phải biết vượt qua chính
mình - cũng có nghĩa là vượt qua trình độ của Phật pháp
ngày hôm nay. Muốn làm được điều đó, người đệ tử
Phật tương lai phải hội đủ ba điều kiện như đã nói:
Có kiến thức của thời đại, nắm vững giáo lý, tinh tấn
tu tập. Tất nhiên, điều này một người không thể làm được
mà phải có sự “đồng tâm hiệp lực” của nhiều người,
phải có sự tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ví
dụ, hôm nay, tự nhiên trong đạo Phật chúng ta xuất hiện
một vị Tăng, một Sư cô rất giỏi, phát triển được những
lý luận mới, thuyết giảng hay, làm cho nhiều người thích
thú tìm đến với đạo Phật. Chúng ta phấn khởi, xem đó
là một bước tiến nhưng phải thấy rằng, điều đó cũng
chưa đủ, cần phải có những con người xuất sắc tiếp
tục phát triển lý luận cao hơn, sâu hơn. Có như vậy, chúng
ta mới có thể làm cho Phật pháp đồng hành và hướng đạo
được cho thế giới.
Nếu
hôm nay có phát triển điều gì mới cho đạo Phật, chúng
ta không được xem đó là điều cuối cùng của chân lý, phải
biết chờ đợi những người đến sau giỏi hơn, khám phá
ra được những điều mới mẻ, phát triển thêm cho đạo
Phật. Chúng ta phải hiểu rằng, biết vẫn chưa đủ, vẫn
chưa phải là Đạo đức, đó mới là trí tuệ. Phải khát
khao, mong mỏi người đến sau mình giỏi hơn để phát triển
được Phật pháp mới được gọi là Đạo đức. Đó cũng
chính là khát vọng vượt qua chính mình.
Ví
dụ, Schopenhower, một triết gia người Đức- đã viết những
cuốn sách về triết học nhưng không được mọi người để
ý. Khi ông được bảy mươi tuổi, thế giới mới phát hiện
ra những điều hay trong triết lý của ông. Người ta bắt
đầu xưng tụng ông. Hầu hết những triết lý ấy ông đều
mượn từ đạo Phật và phát triển thành những lý luận
rất sâu sắc. Sau này, nhiều triết gia cũng mượn lại ý
tưởng, triết lý của ông. Có lẽ ông đã sống một đời
tốt đẹp nên chết rất thanh thản. Người hầu bàn đã phát
hiện ra ông chết trên bàn ăn vào đúng dịp kỷ niệm sinh
nhật của mình mặc dù trước đó ông vẫn khỏe mạnh. Tuy
nhiên, khi còn sống, ông mắc bệnh chủ quan khi cho rằng mình
là người đã khám phá được chân lý cuối cùng của con
người. Ông không ngờ sau này người ta còn phát triển cao
hơn, nhiều điều còn sâu sắc hơn, hay hơn triết lý của
ông. Đây là điều mà chúng ta cần để ý.
Ví
dụ, khi viết được hai cuốn sách về Nhân Quả: Nghiệp và
Kết Quả và Luận về Nhân Quả, tác giả cuốn sách được
rất nhiều người khen. Thậm chí có người còn cho rằng:
“Lý luận về Nhân Quả phải được chia làm hai thời kỳ:
trước và sau khi cuốn sách ra đời”. Nghĩa là so với những
cuốn truyện tranh nho nhỏ trước kia nói về Nhân Quả rất
đơn giản, lý luận về Nhân Quả trong hai cuốn sách này đã
phát triển qua một thời đại mới, có sự lập luận chặt
chẽ. Nhưng bản thân tác giả vẫn nhận ra trong lý luận về
Nhân Quả của mình còn nhiều điểm mơ hồ. Nếu bây giờ
viết lại, tác giả phải viết thêm cho rõ ràng hơn. Tuy vậy,
học theo hạnh của chư Phật - vượt qua chính mình - tác giả
khát khao chờ đợi sau này có những người khác viết về
Nhân Quả cao hơn, sâu hơn.
Một
điều cũng làm cho chúng ta mất đạo đức là khi đã có sự
sáng tạo, trở thành người xuất sắc trong thời đại mình,
có uy tín, được nhiều người hâm mộ, chúng ta đã tạo
thành một bức tường uy tín vây quanh để bảo vệ mình,
làm cản trở những người đến sau. Đây là điều phải
cẩn thận. Chúng ta đừng bao giờ vội vàng, chủ quan dùng
uy tín của mình công kích, cản trở những người đến sau
có phát kiến mới vì điều này có thể sẽ làm cản trở
sự phát triển chung của đạo Phật.
Ví
dụ, hôm nay chúng ta viết được một vài cuốn sách, giảng
được mấy chục đề tài và có uy tín với Phật tử. Sau
này, một người nào đó nói khác mình, chúng ta không đồng
ý và tìm cách bác bỏ. Vốn là người có uy tín, được nhiều
người nghe, chúng ta đã lợi dụng uy tín đó phủ nhận ý
của người kia trước công chúng. Như vậy, chúng ta đã dùng
uy tín để chặn đứng sức phát triển của người khác.
Đây là một điều vừa phi đạo đức vừa làm cản trở
sự phát triển của Phật pháp.
Hiểu
được điều đó, sau này dù tài năng phát triển, làm được
nhiều điều cho Phật pháp; dù trở thành Hòa thượng hay Ni
sư, Ni trưởng có uy tín rất lớn, chúng ta cũng phải biết
đón nhận những cái hay của những người đến sau, mở đường
cho họ tiến lên, góp phần vào công cuộc phát triển Phật
pháp.
4.
ĐIỀU THIỆN LÀ VÔ TẬN.
Là
đệ tử Phật, chúng ta phải ý thức được rằng: Chừng
nào tất cả mọi người trên trái đất này đều tin hiểu
Nhân quả, chừng đó người đệ tử Phật mới được dừng
nghỉ. Chừng nào tất cả chúng sinh đều thoát khổ, chừng
đó người đệ tử Phật mới xong đại nguyện. Ở đây,
chúng ta không chỉ nói trong phạm vi một quốc gia mà nói đến
thế giới, đến nhân loại. Người tu theo đạo Phật không
giới hạn quốc gia, lúc nào cũng nhìn thấy cả thế giới
trong tâm mình, trong trái tim mình. Vì vậy, ngày nào còn thấy
thế giới này xảy ra xung đột, hận thù, chiến tranh, giết
chóc còn người không tin Nhân Quả…, ngày đó chúng ta chưa
được quyền nghỉ ngơi, trái tim còn thổn thức vì những
nỗi đau khổ của nhân loại. Chỉ khi nào mọi người đều
nắm được giáo lý, có Đạo đức, có thực hành Thiền định
và đạt được sự an lạc, hạnh phúc…, chúng ta mới được
quyền dừng lại đại nguyện.
Mặt
khác, chúng ta phải hiểu điều thiện cần cho thế giới này
quá vô tận, một người không bao giờ làm được tất cả.
Vì vậy, mỗi người phải góp một tay. Trước hết, chúng
ta phải khuyến khích, giúp đỡ người khác làm điều thiện.
Ai có thể làm được điều gì, cố gắng làm điều ấy và
chúng ta không bao giờ được cản trở. Cách thứ hai là chúng
ta phải hợp tác với người khác làm điều thiện. Trong trường
hợp này, có thể chúng ta có khả năng hơn, có tiền bạc
nhiều hơn, có trí tuệ hơn nhưng sẵn sàng chia sẻ công việc,
trách nhiệm, tâm tư của mình với người khác. Nghĩa là chúng
ta có điều kiện hơn nhưng không cố chấp, biết vượt qua
chính mình, phụ với người khác làm điều thiện. Chúng ta
không cho rằng, chỉ một mình làm điều thiện, không cho ai
làm để chứng tỏ mình hơn thiên hạ, mình làm được điều
tốt còn thiên hạ không làm được. Điều thứ ba là chúng
ta luôn mong mỏi người sau làm được những điều thiện
lớn lao hơn. Ví dụ, trong cuộc đời mình, nếu chúng ta đã
nâng được Phật pháp đến một mức độ nào đó, đã độ
cho bao nhiêu người biết được Phật pháp, đã giúp cho bao
nhiêu người quy y, đã giúp cho bao nhiêu người có giáo lý
để học hỏi… thì chúng ta ước ao những người đến sau
mình sẽ giúp cho số người tin được Phật pháp lên gấp
nhiều lần. Phải có sự khát khao, mong mỏi những người
khác làm được nhiều điều tốt hơn mình, chúng ta mới thành
tựu được Đạo đức. Nếu không trực tiếp làm điều thiện,
chúng ta phải có tâm hoan hỉ trước việc làm điều thiện
của người khác, không bao giờ được cản trở. Đó cũng
chính là sự vượt qua chính mình.
Có
thể bước đầu tu hành, nghe những điều này chúng ta cảm
thấy hơi xa lạ. Nhưng trong tương lai, khi đã vượt qua khỏi
vị trí hiện tại của mình, những điều này rất cần thiết
đối với chúng ta. Lúc bấy giờ, chúng ta cũng có thể làm
Hòa thượng, Ni sư, Sư bà… được thuyết pháp, làm Phật
sự độ chúng sinh, cảm thấy có trách nhiệm với thế giới,
chúng ta sẽ áp dụng những điều này một cách thiết thực
hơn. Còn hiện tại, nếu ai nghe và hiểu được những điều
này nghĩa là người ấy đã biết vượt qua chính mình.
Điều
cuối cùng là chúng ta phải làm sao cho khuynh hướng làm điều
thiện lan truyền từ người này sang người khác chứ không
dừng lại nơi mình. Có người kể rằng, khi còn đi học,
thấy một người bạn thiếu máy để học, họ đã mua tặng
cho người bạn ấy một cái máy. Khi cô bạn đến cảm ơn,
người ấy cũng cảm động và nói: “Bạn đừng bận tâm,
chỉ mong sau này bạn cố gắng đối xử tốt với mọi người”.
Chỉ nói vậy thôi, nhưng không ngờ một thời gian sau, người
này hay tin cô bạn kia khi ra làm việc đã giúp đỡ được
rất nhiều người trong cơ quan mình. Như vậy, điều thiện
đã được lan truyền.
Chúng
ta phải làm sao để điều thiện lan tràn trong cuộc sống
này. Khi được giúp đỡ, người ta phải biết suy nghĩ và
sau này sẽ trở thành người tốt, giúp đỡ được nhiều
người khác. Đối với mỗi người đệ tử Phật, dù là
người xuất gia hay tại gia, khi đã thấm nhuần đạo lý đều
phải trở thành một sứ giả của điều thiện: Làm điều
thiện và truyền giảng điều thiện. Chúng ta không được
tu một cách thụ động, chỉ biết ngồi ở nhà tụng kinh
gõ mõ mà phải mở cửa bước ra đường, làm một điều
gì đó có ích cho cuộc đời này. Đồng thời phải khuyến
khích điều thiện lan đi, lan đi mãi. Người nào chưa biết
Phật pháp, chúng ta phải làm cho họ biết Phật pháp. Người
nào gặp khó khăn, chúng ta cố gắng giúp đỡ trong khả năng
của mình.
5.
PHẢI THẬN TRỌNG VỀ MỨC ĐỘ TÂM CHỨNG KHI CÁCH PHẬT
ĐÃ XA.
Nói
đến hạnh vượt qua chính mình, chúng ta cần lưu ý một điều:
phải thận trọng về mức độ tâm chứng khi cách Phật đã
xa.
Chúng
ta đã biết, trạng thái định là điều rất mới lạ, không
ai có thể biết được đâu là chỗ chứng ngộ cuối cùng
nhưng lại rất dễ tạo nên tâm lý tự mãn, cho rằng mình
đã chứng cao tột. Vì vậy, mặc dù đã đạt được định,
mức độ trước đây mình chưa từng có, chúng ta cũng phải
cẩn thận, không bao giờ được cho đó là mức độ cuối
cùng. Đây là chỗ phải vượt qua chính mình. Nghĩa là chúng
ta phải thấy vượt khỏi mức độ định này còn mức độ
định cao hơn, vi diệu hơn. Nhiều người đã chứng đến
mức độ đó và tự mãn cho là xong nên chưa vượt qua được
chính mình. Hơn nữa, vì chúng ta cách Phật đã xa nên không
có ai ấn chứng cho mình những mức định đã đạt được.
Nếu cứ đoán mò hoặc dựa vào lời xác nhận của thầy
mình, chắc chắn không chính xác. Vì chưa hẳn thầy mình đã
nói đúng.
Một
điều nữa chúng ta phải ghi nhớ là ngã chấp vẫn tồn tại
song song với trạng thái định, dù rất sâu. Nhưng ngã chấp
còn tồn tại ở đâu chúng ta không đủ trí tuệ để thấy
khi tâm đã định, vì ngã chấp luôn kín hơn cái định mà
mình thấy được.
Ví
dụ, khi đang còn vọng tưởng đầy rẫy, do tin lời Phật
dạy, chúng ta biết mình có ngã chấp nhưng ngã chấp nằm
ở đâu, chúng ta không thấy được. Trong định cũng vậy,
có thể ví ở lớp tâm thức đầu tiên như những đợt sóng
của vọng tưởng, tâm thức mạnh, chúng ta nhìn vào không
thấy điểm nào là của chấp ngã. Sau khi tu một thời gian,
thanh tịnh lặng lẽ như mặt hồ thu, chúng ta cũng không tìm
thấy chấp ngã. Chính vì không thấy chấp ngã nằm ở đâu
nên ta đã vội vã cho rằng cái định này là Phật tánh, cho
rằng đây là chỗ viên mãn. Nếu đào sâu hơn nữa, chúng
ta còn thấy những điều vi diệu, bao la, vô tận… trong đó
nhưng cũng không tìm thấy chấp ngã nằm đâu.
Chấp
ngã luôn luôn thoát khỏi sự nhìn thấy của con người. Đây
là chỗ chúng ta cần có phước để tin được rằng mình
vẫn còn chấp ngã. Nghĩa là người nào khi đã vào định,
nhìn trong tâm thấy lặng lẽ, bằng phẳng, thanh thản, trống
rỗng không tìm thấy chấp ngã ở đâu và tưởng rằng mình
vô ngã, người đó thiếu phước, không có phước để tiến
xa hơn nữa. Người có phước, có Đạo đức, có niềm tin
và có lòng tôn kính Phật sâu xa, tuyệt đối thì dù vừa
có định mênh mông, rỗng không, tự trong tâm vẫn xuất hiện
niềm tin rằng chấp ngã còn lẩn khuất trong đó. Khi đã biết
chấp ngã vẫn còn, người ấy không bao giờ coi trạng thái
định của mình là Phật tánh và luôn tự nhủ vẫn còn cái
định sâu hơn để không sinh ra bệnh tự kiêu, tự mãn.
Gần
đây, người ta đã lạm nhận vấn đề chứng ngộ Phật tánh
rất nhiều. Người nào mới đạt được định, được chút
tỉnh giác rỗng rang, thanh tịnh liền tuyên bố mình đã kiến
tánh. Họ đâu ngờ rằng đó chính là hang ổ của ngã chấp
dễ sinh ra tự kiêu, tự mãn. Không ít người tu đã bị thoái
lui, bị đọa lạc do lạm nhận, hiểu lầm như vậy. Vì lẽ
đó, người tu không bao giờø được ung dung, làm ra vẻ tự
tại mà lúc nào cũng phải biết lo, biết giữ mình cẩn thận.
Đó mới là thái độ đúng.
Những
điều được đề cập trong những bài cuối cùng này vượt
khỏi vị trí, trình độ của một Tăng Ni sinh. Tuy nhiên, chúng
ta phải hết sức cố gắng đem tâm trí của mình ra để nghe,
hiểu vì những vấn đề này rất cần thiết cho chúng ta trong
tương lai.
6.
SỰ PHÁN ĐOÁN.
Phán
đoán là khi đã vượt qua khỏi chính mình, chúng ta bắt đầu
đánh giá người khác. Nếu đánh giá người khác khi ta chưa
vượt qua được chính mình và chưa đủ yêu thương thì thường
không chính xác. Lúc ấy, chúng ta chỉ thấy cái sai, cái dở
của người khác. Người nào vượt qua được chính mình,
không coi mình là chân lý cuối cùng, người đó đã đủ lòng
thương yêu mọi người.
Ví
dụ, khi có một người đến sau, nói điều gì đó khác hơn
mình, chúng ta lắng nghe, cân nhắc thì sự phán đoán sẽ đúng.
Sau khi cân nhắc, chúng ta khẳng định họ nói sai thì thực
sự họ đã sai vì lúc đó chúng ta không còn chủ quan, không
còn dựa vào chính mình mà đủ lòng thương yêu chúng sinh.
Ngược lại, khi chưa vượt qua được chính mình, còn tự
mãn, chúng ta chê người ta sai thì thực tế họ không sai.
Có thể điều người ta nói quá mới, lúc ấy chúng ta không
hiểu nổi. Như vậy, khi chưa vượt qua được chính mình và
chưa đủ yêu thương, chúng ta thường không công nhận điều
phát kiến mới của người khác. Phải vượt qua được chính
mình và đủ lòng thương yêu thì sự phán đoán của chúng
ta mới có thể đúng.
Khi
đã có sự phán đoán đúng, chúng ta chân thành góp ý điều
chưa đúng của người nếu có duyên cũng như công nhận nhanh
chóng những phát kiến độc đáo của người.
Ví
dụ, người đến sau nói những điều rất lạ nhưng khi đã
vượt qua chính mình và nhận định rõ đúng sai, nếu có duyên,
chúng ta chân thành góp ý về cái sai của họ. Nếu họ đúng,
chúng ta phải công nhận, ca ngợi và giới thiệu cho nhiều
người biết để thế giới này có thêm được nhiều điều
mới lạ và độc đáo.
Trong
cuộc sống tu hành, có hai thái độ cực đoan chúng ta cần
phải tránh. Đó là giữ chặt cái cũ không chịu phát triển
hoặc phát triển rồi đi quá xa với đạo Phật. Chúng ta phải
có thái độ trung đạo. Nghĩa là không bảo thủ, không cố
chấp, phải phát triển nhưng sự phát triển đó luôn đúng
với Nhân Quả, đúng với tinh thần vô ngã, giải thoát của
đạo Phật. Chúng ta đã biết, chân lý là điều khó. Không
bảo thủ, phải phát triển, mà vẫn không sai, là điều khó.
Vì vậy, mỗi người chúng ta phải cố gắng để đạt được
chân lý đó.