GIỮ
LỜI HỨA
1.
TRONG CUỘC SỐNG, RẤT NHIỀU GIAO ƯỚC CHO TƯƠNG LAI ĐƯỢC
THIẾT LẬP BỞI LỜI HỨA.
Giữ
lời hứa là bài học thứ ba nói về Đạo đức của ngôn
ngữ (sau hai bài: Hạnh chân thật và Làm chủ lời nói). Chúng
ta đã biết, hứa hẹn là việc hướng về tương lai, nhưng
người tu theo đạo Phật thường sống theo quan niệm:
“
Không truy tìm quá khứ
Không
ước vọng tương lai
Quá
khứ đã qua rồi
Tương
lai lại chưa đến
Chỉ
có pháp hiện tại
Tuệ
quán chính là đây
Bất
động chẳng lung lay
Hãy
thực hành như thế”
Người
biết tu theo Phật pháp không bận tâm về những việc đã
xảy ra trong quá khứ, cũng không ước mơ hướng đến cuộc
sống vị lai. Họ chỉ thanh thản sống trong đời sống của
hiện tại. Sự thật, khi đi tìm đến tận cùng của cái gọi
là hiện tại để mình có thể an trú, chúng ta lại không
thấy cái gì gọi là hiện tại nữa. Trên thực tế cuộc
sống, hiện tại không bao giờ là một khoảnh khắc độc
lập với quá khứ và vị lai. Hiện tại vẫn là một mắc
xích trong sự diễn tiến của thời gian không bao giờ dừng
trụ. Vì vậy, từ bỏ quá khứ hay vị lai để an trú trong
hiện tại cũng không phải là điều có thật mặc dù trên
sự dụng công tu tập, chúng ta tưởng là như thế.
Vì
hiện tại là kết quả của quá khứ nên bao nhiêu việc chúng
ta làm trong quá khứ đều tạo thành đời sống trong hiện
tại. Và con người đang sống ngày hôm nay có muôn ngàn tiếng
vọng của ngày hôm qua.
Ví
dụ, ngày hôm nay có thiện căn được thanh thản tu tập, không
bị bao nhiêu điều gia duyên ràng buộc làm lụy phiền đau
khổ để một mai đem trí tuệ, đạo hạnh ra giữ gìn Phật
pháp, làm lợi ích cho chúng sinh, chúng ta đã phải tạo biết
bao công hạnh từ những kiếp trước. Nghĩa là chúng ta đã
thường xuyên cúng dường Tam Bảo, tu tập thiền định, làm
rất nhiều điều lành. Với mái đầu còn xanh tóc, chúng ta
đã khước từ được cuộc sống thế gian để bước vào
con đường đạo là kết quả của việc tích lũy từ của
quá khứ. Không nói đâu xa, bây giờ được ngồi đây tu tập,
chúng ta cũng trải qua biết bao ngày tháng phấn đấu tu hành.
Từ lúc còn sống với gia đình đến khi gặp Phật pháp, tập
ăn chay, đi chùa, rồi xin cha mẹ xuất gia…, chặng đường
ấy vô cùng khó khăn, không đơn giản chút nào. Khi được
vào chùa, chúng ta cũng phải nỗ lực học tập, phấn đấu
để được Thầy Tổ cho đi học lớp Cơ bản Phật học và
nhiều chương trình cao hơn nữa. Nếu bây giờ chúng ta phá
vỡ kết quả ấy thì vị lai sẽ đi qua một hướng khác.
Chúng ta không còn bình yên để tu tập nữa.
Như
vậy, quá khứù đã tạo nên hiện tại và hiện tại sẽ
tạo nên cuộc sống vị lai cho con người. Nếu trong hiện
tại chúng ta học giỏi, tu tập tiến bộ thì tương lai sẽ
gặt hái được những điều tốt đẹp. Chẳng hạn, một
người học hành giỏi, có uy tín sẽ được quý Thầy trong
trường sắp xếp cho đi học lớp Cao cấp Phật học. Hoặc
người nào phát tâm tu hành, quý Thầy sẽ trợ duyên cho nhập
thất. Hoặc người có hạnh tốt, đối với chúng luôn từ
bi thương yêu, hy sinh nhường nhịn thì lớn lên quý Thầy
sẽ đề nghị cho trụ trì hay làm Giáo thọ ở một ngôi chùa
nào đó. Hoặc trong hiện tại, nhờ biết siêng năng tinh tấn
tu tập, biết hy sinh, nhường nhịn mọi điều cho huynh đệ
nên sau này phước lành sẽ đến với chúng ta một cách tự
nhiên. Chúng ta sẽ được người khác đem đến biết bao điều
tốt đẹp. Rõ ràng, quá khứ đã làm nên hiện tại và quá
khứ cùng với hiện tại làm thành vị lai. Đó là một tiến
trình tự nhiên.
Vậy,
vị lai có ảnh hưởng ngược lại hiện tại không?
Vị
lai là cái chưa xuất hiện nhưng sự thật lại có ảnh hưởng
đến đời sống hiện tại của chúng ta. Những dự định,
những toan tính cho tương lai đã tạo cho mình một thái độ
ứng xử trong hiện tại. Ví dụ, khi còn học lớp Cơ bản,
có người đã dự định sau này sẽ học lên Cao cấp, quyết
tâm thi vào Học viện Phật giáo. Người có hướng như vậy
sẽ rất siêng năng, ngày đêm nghiên cứu sách vở, trau dồi
Anh Văn để thi vào cho đạt. Trong khi đó, người khác lại
dự định học xong Cơ bản sẽ nhập thất ba năm nên không
học một cách miệt mài, cuồng nhiệt. Họ chỉ cần học
vừa đủ để đối phó và thời gian còn lại chuyên dành
cho việc ngồi thiền, đọc sách thiền. Người khác được
Thầy hứa sẽ cho trụ trì một ngôi chùa sau khi học xong nên
việc quan trọng với họ lúc này là tìm hiểu “nghệ thuật”
trụ trì. Suốt ngày người ấy cứ băn khoăn không biết khi
trụ trì làm sao để nhiều Phật tử nghe theo, muốn cất chùa
phải như thế nào, làm sao nuôi được chúng ? Nghĩa là người
ấy chỉ lo toàn chuyện trụ trì, không lo nhiều đến việc
học cũng như việc tu. Như vậy, dự định cho vị lai đã
ảnh hưởng rất lớn đến thái độ sống, tu học của chúng
ta trong hiện tại.
Ngoài
ra, còn một điều nữa cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiện
tại. Đó là lời hứa hẹn. Trong cuộc sống, rất nhiều kế
hoạch của người này dựa vào lời hứa của người kia.
Chẳng hạn, có người hứa cho mình một điều gì đó. Thế
là chúng ta đã đặt hy vọng và vạch kế hoạch cho đời
sống của mình dựa vào lời hứa của họ. Nếu người ta
hứa với mình một điều nhỏ, chúng ta sẽ đặt một phần
nhỏ cuộc đời mình vào đó. Nhưng nếu họ hứa điều lớn
lao hơn, chúng ta sẽ đặt vào đó phần lớn cuộc đời mình.
Thử
lấy một ví dụ trong cuộc sống của người thế gian, chúng
ta sẽ hiểu điều đó: Người A có ngôi nhà trị giá khoảng
bốn chục cây vàng. Người ấy muốn mua ngôi nhà khác khoảng
sáu chục cây để tiện việc buôn bán nhưng không đủ tiền
nên chưa tiến hành được. Người B thấy vậy bèn hứa: “
Bây giờ anh bán nhà đi, tôi sẽ cho anh mượn hai mươi cây
vàng nữa để mua ngôi nhà đó”. Người A mừng quá vội
bán ngôi nhà của mình và vạch ra kế hoạch làm ăn khi mua
ngôi nhà mới. Như vậy, kế hoạch của người A đã dựa
vào lời hứa của người B.
Tuy
nhiên, nếu lời hứa không được giữ thì kế hoạch có thể
thất bại. Ví dụ, ông A bán xong ngôi nhà nhưng ông B lại
nuốt lời vì lý do có nhiều việc xảy ra bất ngờ nên không
có tiền cho mượn nữa. Vì vậy, ông A không thực hiện được
kế hoạch của mình và rơi vào một hoàn cảnh éo le, phải
sống vất va vất vưởng một thời gian khi chưa mua lại được
căn nhà khác. Nếu cứ đặt cuộc đời mình vào lời hứa
của người khác mà người ấy không giữ lời hứa, chúng
ta sẽ bị thất bại. Đây mới chỉ là một trường hợp
rất đơn giản. Vì dù sao ông A vẫn có một số tiền có
thể xoay xở theo cách khác.
Hoặc
có người hứa nếu chúng ta cố gắng học, xong lớp Cơ bản
và đậu lớp Cao cấp họ sẽ cho một chiếc xe máy để đi
học. Chúng ta đã hết sức cố gắng, ngày đêm miệt mài
học tập và kết quả đã được như ý nguyện. Nhưng lúc
bấy giờ người kia không giữ lời hứa. Khi đi học, chúng
ta phải đạp xe mấy chục cây số. Tuy nhiên, điều này cũng
không ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của chúng ta vì lời
hứa của họ chỉ là một phần trong cuộc sống và chúng
ta cũng chỉ đặt vào đó một phần niềm tin mà thôi.
Trong
cuộc sống của người thế gian, có những trường hợp vì
người này thất hứa với người kia mà xảy ra những bi kịch
đau lòng. Ví dụ, một chàng trai hứa với một cô gái sẽ
lấy cô ta làm vợ và yêu thương cô ấy suốt đời. Nhưng
anh ta lại không giữ lời hứa. Hoàn cảnh sống thay đổi,
gặp người mới, anh ta vội quên cảnh cũ người xưa. Còn
cô gái, vì đã đặt hết niềm hy vọng của cuộc đời mình
vào lời hứa ấy nên vô cùng đau khổ. Trong cơn tuyệt vọng,
cô ta đã hành động mù quáng là tìm đến cái chết để
mong thoát khỏi nỗi đau khổ tột cùng ấy. Hoặc thấy một
cô gái nghèo khổ đang cần tiền để thay đổi cuộc đời
mình, người ông nọ liền gieo niềm hy vọng là hứa giúp
vốn để cô gái làm ăn. Như người chết đuối vớ được
chiếc phao, cô gái từ bỏ tất cả để theo người đàn ông
với hy vọng được ông ta giúp đỡ. Nhưng không ngờ, những
lời hứa của ông ta chỉ là những lời nói dối. Cô gái
quá thất vọng vì rơi vào bước đường cùng nên đã quyên
sinh.
Như
vậy, hứa một lời quan trọng khiến người ta đặt hết
cuộc đời vào đó nhưng chúng ta lại không giữ lời hứa
làm họ thất vọng là một bất thiện nghiệp. Chúng ta sẽ
mang tội rất nặng. Tuỳ theo lời hứa lớn hay nhỏ mà tội
sẽ nhiều hay ít. Lời hứa tuy thuộc về vị lai nhưng lại
ảnh hưởng lớn đến cuộc sống trong hiện tại của con
người. Do đó, chúng ta phải cẩn thận trong lời hứa, không
được hứa bừa cho qua chuyện. Một khi đã hứa với ai điều
gì, chúng ta phải quyết tâm thực hiện cho bằng được.
Có
hai trường hợp vi phạm lời hứa:
Có
khi lúc đầu người ta hứa thật lòng nhưng sau đó đổi ý.
Đây là tội bội tín. Nghĩa là không giữ lời hứa, làm ngược
lại với uy tín, với lời hứa của mình. Có thể lúc ấy,
do sự bồng bột hoặc do thích thú điều gì đó một cách
nhất thời, người ta đã hứa rất nồng nhiệt, chân thành.
Nhưng khi suy nghĩ lại, thấy lời hứa của mình thật vô lý,
dại dột, người ấy đã đổi ý. Ví dụ, trong lúc cao hứng,
muốn chứng tỏ mình là người rộng rãi, hào phóng, nguời
này đã hứa với người kia: “ Bao giờ anh cất nhà, tôi
sẽ giúp anh mười bao xi măng”. Nhưng khi về nhà tính lại,
thấy mười bao xi-măng không phải là món quà nhỏ, người
hứa đâm ra tiếc. Vì thế, khi người kia đến báo là mình
bắt đầu cất nhà và nhắc chuyện mười bao xi-măng, người
này đã tìm cách thoái thác. Đó là bội tín, hứa thật lòng
nhưng không giữ được lời hứa.
Trường
hợp thứ hai là khi hứa, người hứa biết rõ rằng mình chỉ
hứa suông, biết rõ rằng mình sẽ không thực hiện nhưng
vẫn hứa. Đây là tội nói dối kèm với bội tín. Vì vậy,
tội nặng hơn. Nếu sự thất hứa đem lại hậu quả nghiêm
trọng, người hứa có thể bị kết tội lừa đảo, có thể
bị truy tố về hình sự….Trong việc làm ăn, trường hợp
này thường xảy ra. Những người chuyên lừa đảo thường
hứa hẹn những điều tốt đẹp để người khác tin. Biết
bao nhiêu người bị mắc lừa nên tiền của mất sạch. Càng
ngày, việc lừa đảo càng diễn ra tinh vi hơn. Nhiều người
đã làm giấy tờ giả đóng vai những cán bộ cao cấp trong
bộ máy Nhà nước đi lừa những công ty, xí nghiệp. Họ hứa
sẽ “chạy” giấy tờ để được phê duyệt những dự
án lớn hoặc vay vốn đầu tư vv…Trước khi lời hứa trở
thành hiện thực, các công ty ấy phải chi tiền cho họ nhiều
lần để “ngoại giao”. Cuối cùng, khi đã ôm được món
tiền kha khá, những tay ấy đã tìm cách “đánh bài
chuồn”. Những người này, khi hứa thừa biết là mình nói
dối để lừa người khác nên tội rất nặng.
Trong
cuộc sống, cũng có những lời hứa suông như vậy nhưng không
gây hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ, khi vui miệng, người này
nói với người kia: “Anh cứ yên tâm đi học đi, để việc
này tôi làm cho”. Nói như vậy, nhưng khi người kia trở về,
mọi việc vẫn đâu còn đấy. Vì người người nói biết
chắc sẽ không làm nhưng vẫn nói dối để người kia tin.
Tuy không có hậu quả nghiêm trọng nhưng hứa như vậy vừa
phạm tội bội tín vừa nói dối, chúng ta không nên để điều
này xảy ra.
2.
CÁC LOẠI LỜI HỨA.
Chúng
ta có thể phân ra nhiều loại lời hứa:
Thứ
nhất là hứa giúp đỡ. Hứa giúp đỡ thường xuất phát
từ lòng tốt. Chúng ta gặp rất nhiều những lời hứa giúp
đỡ như: “ Anh cứ lo công việc đó, còn phần việc này
tôi sẽ giúp anh” hoặc :“ Anh cứ cất nhà đi, tôi
sẽ sang anh cho đỡ bớt tiền công”… Có khi đó là lời
hứa bố thí: “Anh cứ tập trung học đi, tôi sẽ lo cho anh
từ giấy viết đến học phí”. Đó là những lời hứa giúp
đỡ do xuất phát từ lòng tốt, lòng vị tha, lòng thương
người. Đó không phải là những lời hứa suông mà là hứa
thành thật và chắc chắn sẽ được người hứa thực hiện.
Thứ hai là hứa cất giùm tài sản. Ví dụ, một người có
việc phải đi xa một thời gian nên gửi lại khối tài sản
lớn của mình cho người bạn giữ giùm. Người ấy dặn dò:
“ Đây là tất cả tài sản của tôi. Tôi phải đi xa nhưng
không thể mang theo được, nhờ bạn giữ giúp. Khi nào trở
về, tôi sẽ nhận lại. Nếu tôi không về, phiền anh giao
lại cho người thân của tôi hiện đang ở tại…. ”. Giao
lại một tài sản lớn cho bạn, rõ ràng người gửi phải
có độ tin cậy nhất định vào uy tín của bạn mình. Và
người hứa giữ giúp tài sản phải là người không tham lam
mới thực hiện được lời hứa của mình. Điều này không
phải đơn giản. Bản chất người ấy phải là không tham
lam, không màng đến của cải của người khác nên mới có
uy tín. Nhưng trong trường hợp này, giữ tài sản là việc
khó hơn nhều. Thử so sánh hai tình huống chúng ta sẽ thấy
rõ hơn.
Ví
dụ, khi đi đường, chúng ta thấy ai đánh rơi một sợi dây
chuyền trị giá mười lượng vàng. Là đệ tử Phật, biết
lấy cái không phải của mình là điều sai lầm nên chúng
ta không lấy mà đem nộp cho chính quyền địa phương nhờ
họ tìm và trả lại cho người đánh mất. Việc làm đó tuy
khó (vì đây là một số tiền lớn) nhưng vì đạo đức,
vì vâng lời Phật dạy nên chúng ta vượt qua được. Hơn
nữa, thời gian từ lúc nhặt được sợi dây chuyền đến
khi giao cho chính quyền không dài nên chúng ta vượt qua sự
tham lam một cách dễ dàng. Nhưng trong trường hợp người
khác giao cho chúng ta hai trăm lượng vàng nhờ cất giữ từ
năm này qua năm khác thì mọi cái không còn đơn giản nữa.
Đây là lúc mà Đạo đức của chúng ta bị thử thách gay
gắt nhất. Nếu người kia trở về, chúng ta sẵn sàng giao
lại mà không cần phải suy nghĩ điều gì. Đằng này, người
thì đi biền bịệt, của vẫn nằm ngay trong nhà mình. Đây
quả là một thử thách lớn đối với người có “sứ mệnh”
cất giữ tài sản cho người khác.
Trong
trường hợp này, người nào vẫn giữ được lời hứa của
mình, vẫn tìm cách trao lại cho thân nhân người gửi tất
cả tài sản ấy, không chiếm đoạt một lượng nhỏ nào
dù thời gian có đằng đẳng đến mười năm, người đó
quả là có đạo đức đặc biệt. Người này có công đức
trong tâm rất lớn mặc dù có thể bên ngoài, công đức của
họ không lớn. Vì việc chịu đựng được sự quyến rũ
của tài sản trong mười năm trời, không tơ hào một đồng
nào của ông ta cũng không đem lại lợi ích nhiều cho người
khác. Có khi bản thân người gửi không còn sống để hưởng
số tiền ấy và người thân của ông ta cũng không biết mà
hy vọng. Vì thế cũng chẳng có ai phải đau khổ vì thất
vọng. Chính vì vậy, việc giữ số tài sản ấy cả mười
năm rồi giao lại cho người ta không đem lại nhiều phước
cho người giữ. Nhưng cái đức ở trong tâm được khẳng
định, không gì có thể so sánh được.
Chúng
ta phải thừa nhận một điều, nói đến đạo đức, ai cũng
có thể nói được. Nhưng chỉ khi đối diện với nghịch
cảnh, đối diện với những cám dỗ, chúng ta mới khẳng
định được đạo đức của mình. Ngay cả người chuyên
đi giảng về đạo đức cho người khác cũng thú nhận nếu
ai đó giao cho mình một trăm cây vàng có lẽ mình cũng ăn
ngủ không yên. Hoặc khi có người nào nói nặng lời, lòng
cũng thấy giận... Việc cất giùm tài sản trong bao nhiêu năm
để thử lòng không tham của mình cũng vậy. Nếu giữ được
điều đó, phước không nhiều nhưng công đức của chúng
ta rất lớn. Khi chết, có thể chúng ta còn được lên cõi
trời nữa.
Thứ
ba là hứa từ bỏ sự sai lầm. Trong cuộc sống, con người
không ai không mắc phải sai lầm. Điều quan trọng là khi biết
mình phạm lỗi lầm, con người có quyết tâm từ bỏ hay không.
Để từ bỏ được lỗi lầm, người phạm lỗi thường hứa
với một đối tượng nào đó, có khi tự hứa với lòng mình.
Ví dụ, một người lúc đầu do tham lam, thích lấy của người
khác làm của riêng cho mình dần dần trở thành một căn bệnh
- bệnh ăn cắp. Người xưa thường nói: “Ăn cắp quen tay,
ngủ ngày quen mắt”. Điều đó quả không sai.
Có
người sống trong gia đình tương đối khá giả nhưng hễ
thấy người khác sơ hở là lấy cắp ngay. Khi bị người
xung quanh phát hiện và được gia đình phân tích cho thấy
nếu ăn cắp, sau này sẽ mắc quả báo nghèo khổ, mất mát,
hư hao, đau khổ, thất vọng… , người ấy đã hiểu ra và
hứa sẽ không ăn cắp nữa. Đó là lời hứa từ bỏ tính
xấu. Hoặc có người mắc sai lầm là hay giao du với kẻ xấu.
Một
cô gái sống trong gia đình danh giá lại giao du với một người
con trai thuộc loại du côn chẳng hạn. Khi được gia đình
khuyên bảo ân cần, cô gái hối hận, hứa với gia đình sẽ
cắt đứt quan hệ với người ấy. Đó cũng là hứa từ bỏ
sai lầm.
Hoặc
có người mắc sai lầm là nghiện ngập. Hiện nay, sống giữa
bao nhiêu sự cám dỗ: ma túy, rượu chè, bài bạc, quan hệ
nam nữ bừa bãi … nếu không có bản lĩnh, con người sẽ
bị những thú vui đó làm cho đam mê, trở nên nghiện ngập.
Chúng ta biết rằng, những cái làm cho con người nghiện ngập
thường tạo ra cảm giác nội tại. Cũng như tất cả hạnh
phúc trên thế gian này sự thật không phải do hoàn cảnh mà
chỉ là cảm giác nội tại mà thôi. Những người nghiện
rượu, có thể uống từ ly này qua chai kia, không có rượu
không chịu nổi là do rượu khi vào cơ thể đã đem lại cho
họ cảm giác nội tại gì đó khiến họ thích thú. Với họ,
lúc bấy giờ hạnh phúc chỉ có thể nằm ở đáy ly. Chính
cảm giác thích thú đó khiến họ muốn uống rượu thường
xuyên và sinh ra nghiện. Tùy theo cảm giác mạnh hay yếu mà
sự nghiện đó sẽ khó bỏ hay dễ bỏ.
Người
nghiện bài bạc cũng vậy. Điều gì đã làm cho họ trở thành
người nghiện? Ngoài việc bị lôi cuốn vì thắng thua, được
mất, có thể cảm giác nội tại làm cho họ thích thú
còn nằm ở chỗ hồi hộp khi nặn từng con bài. Chính cái
hồi hộp ấy tạo nên cảm giác nội tại khiến người ta
thích thú, say mê. Nhưng trong tất cả những cái làm con người
nghiện ngập, đáng sợ nhất là ma túy. Sự xuất hiện của
ma túy là một tai họa cho nhân loại. Nhưng nhiều người chưa
ý thức được điều đó nên vẫn chạy theo. Không ít người
vì đồng tiền mà buôn bán chất ma túy, đẩy người khác
vào chỗ chết. Theo nhận xét của nhiều người, một trăm
người nghiện ma túy, chưa có người nào thắng được nó.
Vì cảm giác nội tại mà ma túy đem lại rất mạnh. Đến
nỗi, khi đã nghiện ma túy, người ta sẽ bỏ tất cả những
thứ khác trước đây từng làm họ say mê. Người nghiện
ma túy khi đã hiểu ra, đã tỉnh ngộ, hứa với mọi người
sẽ từ bỏ nó. Đó cũng là lời hứa thoát khỏi sự sai lầm
trong cuộc đời mình.
Những
lời hứa ấy không dễ dàng thực hiện được vì khoái cảm
nội tại do những thứ ấy đem lại quá mạnh, thôi thúc họ
muốn mãi mãi có được cảm giác đó. Vì vậy, phải có công
đức rất lớn người bị nghiện mới từ bỏ được những
cái xấu đã từng lôi cuốn mình.
Một
trường hợp khác cũng được coi là hứa từ bỏ sai lầm.
Đó là hứa bỏ tính hay thù hận. Có người từ nhỏ thường
có tính hay thù vặt. Bị ai làm điều gì xúc phạm, họ cứ
để trong bụng và tìm cách hại lại người ta để trả thù.
Chẳng hạn, khi còn đi học, bị bạn đánh mà không dám đánh
trả nên cứ phá lặt vặt sau lưng như lén đổ mực vào sách
vở bạn, hái trái “mắt mèo” chà lên ghế ngay chỗ ngồi
của bạn hoặc tìm cách nói xấu sau lưng… Đó là lối trả
thù vặt. Khi trở thành người lớn, nếu không sửa chữa,
tật xấu đó trở thành điều nguy hiểm. Nếu hận ai, ghét
ai, họ sẽ nghĩ cách trả thù. Nhưng khi hiểu đạo, biết
đó là tật xấu, người mắc bệnh thù vặt hứa sẽ từ
bỏ nó.
Tất
nhiên, đối với con người, loại lời hứa nào cũng khó giữ,
nhất là hứa từ bỏ sự sai lầm. Khi bị mọi người phát
hiện và chỉ ra lỗi lầm, ai cũng cảm thấy xấu hổ nên
hứa sẽ từ bỏ. Nhưng từ lúc hứa đến khi từ bỏ hẳn
sai lầm, chúng ta phải trải qua nhiều lần vấp ngã. Những
lúc xung quanh không còn ai, chúng ta dễ bị thói quen thúc đẩy,
lôi kéo trở lại con đường cũ. Chỉ có lòng quyết tâm và
ý chí mạnh mẽ, chúng ta mới có thể từ bỏ được sai lầm.
Nếu biết lạy Phật thường xuyên, chúng ta cũng có thể bỏ
được những tật xấu đó.
Đó
là ba loại lời hứa thường gặp trong cuộc sống. Tùy theo
mỗi loại lời hứa, muốn thực hiện được, chúng ta phải
có lòng tốt, lòng vị tha, không tham lam ích kỷ và phải có
ý chí rất lớn.
Ngoài
ba loại lời hứa trên, chúng ta còn gặp một loại lời nói
cũng thể hiện đạo đức của ngôn ngữ nhưng ở mức độ
nhẹ hơn lời hứa, đó là…hẹn. Hẹn là lời giao ước làm
việc gì đó hay gặp gỡ ai vào một thời điểm nào đó.
Hứa bao gồm cả hẹn nhưng hẹn thường nhấn mạnh ý nghĩa
về thời điểm, thời gian. Nếu hẹn vào một giờ giấc nhất
định mà chúng ta không thực hiện được gọi là lỡ hẹn.
Khi lỡ hẹn, chúng ta thường làm ảnh hưởng đến công việc
và kế hoạch của người khác. Bởi vậy, khi đã hẹn với
ai điều gì, chúng ta nên đúng hẹn. Nhất là trong công việc,
chúng ta cần nghiêm chỉnh giờ giấc. Mỗi người cần phải
sống theo nguyên tắc: “Hẹn gặp ai phải đến trước người
đó, thà chờ người khác chứ đừng bao giờ để người
khác chờ mình”. Trong cuộc sống cũng vậy, chúng ta nên nhận
phần thiệt thòi về mình. Cứ sống theo quan niệm: “Thà
để người phụ mình chứ mình không phụ người”, chúng
ta sẽ cảm thấy lương tâm thanh thản hơn vì không phải sống
trong mặc cảm có lỗi với người khác. Trong việc hẹn, nghiêm
chỉnh giờ giấc cũng là một biểu hiện của tư tưởng lớn.
Người Việt Nam chúng ta còn một nhược điểm là không nghiêm
túc về giờ giấc mà mọi người quen gọi là “giờ cao su”.
Đó là biểu hiện của sự kém tư cách và yếu về đời
sống tinh thần. Những người hay trễ hẹn thường khó làm
được việc lớn. Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy những người
làm việc lớn rất nghiêm túc về giờ giấc.
Cao
hơn lời hứa là lời thề. Lời thề có tính chất quyết
liệt hơn. Đôi khi người ta còn lấy một hình phạt nào đó
ra bảo chứng cho lời thề nếu vi phạm. Trong tình yêu,
người thế gian thường hay sử dụng những lời thề. Để
đảm bảo cho lời thề thủy chung son sắt của mình, họ còn
mượn những hình tượng kỳ vĩ, vĩnh hằng trong vũ trụ:
Dù
cho sông cạn đá mòn
Còn
non còn nước hãy còn thề xưa.
( Tản Đà )
Với
họ, những lời “thề non hẹn biển” ấy thật có ý nghĩa.
Dù núi có dời, biển có cạn, lòng này vẫn không bao giờ
thay đổi. Mà biển cả có bao giờ cạn, núi non ngàn năm vẫn
còn đó nên tình này vẫn vĩnh viễn thủy chung.
Hoặc
có khi người đời còn mượn ánh trăng để chứng giám cho
lời thề của mình:
Vầng
trăng vằng vặc giữa trời
Đinh
ninh hai miệng một lời song song.
( Nguyễn Du)
Thậm
chí, có người còn đem cả tính mạng của mình đặt vào
lời thề. Chúng ta hay nghe những câu thề độc: “ Nếu tôi
gian dối, ra đường sẽ bị xe cán”, hoặc: “Nếu tôi nói
không thật sẽ bị chết hộc máu”. Những lời thề như
vậy chính là cái Nhân và sẽ có quả báo ra nếu làm sai lời
thề. Chúng ta đừng nghĩ những chuyện đó không bao giờ xảy
ra. Khi chúng ta thốt ra lời thề, nhiều người trong thế giới
vô hình đã chứng minh điều đó. Lời thề có tính quyết
liệt như vậy nên trước khi thề thốt điều gì, chúng ta
phải hết sức cẩn thận.
Trong
đạo Phật, có một loại lời thề rất quan trọng. Đó là
lời thề lúc thọ giới. Đây chính là lúc chúng ta phát lên
một lời thề thiêng liêng, lớn lao trước trời đất. Tuy
thường hay ca ngợi nhưng nhiều người vẫn không hiểu hết
ý nghĩa thiêng liêng của việc thọ giới. Vì nếu hiểu một
cách chính xác theo từ ngữ thì thọ là nhận, thọ giới là
nhận giới cấm để gìn giữ. Hiểu như vậy rất đơn giản.
Đúng ra, phải hiểu đó là một lời thề trước trời đất,
trước Tam Bảo, trước mười phương chúng sinh, chúng ta mới
thấy hết sự thiêng liêng của nó và buộc mình phải giữ
suốt đời, phải thực hiện điều đó suốt đời. Nhiều
khi vì khung cảnh của giới đàn, chúng ta không hiểu hết.
Vì theo luật, khi thọ giới chúng ta không thọ trước Phật
mà thọ trước Giới Sư, là nơi hình Phật được che ngang
bởi một tấm vải, không còn thấy Phật chỉ có Tam Sư thất
chứng. Và chúng ta nhận giới từ các vị đó. Trong các giới
đàn, người được chọn là Tam Sư thất chứng thường là
những người có uy đức, có giới đức trong sạch để giới
tử nhìn vào, lấy đó làm gương mà phát tâm. Chúng ta không
ngờ rằng, lúc nhận giới là lúc mình phát lời thề thiêng
liêng trước trời đất. Khi đã thọ giới, chúng ta phải
cố gắng giữ, không được coi thường. Vì vậy, trước khi
thọ giới, chúng ta phải cân nhắc xem mình đã đủ sức giữ
giới hay chưa. Ở các đạo khác, thọ giới được gọi là
vow (lời thề / nguyền). Khi một tu sĩ không giữ được lời
thề gọi là break the vow (sự tan vỡ lời thề). Nói chung,
trong trường hợp nào chúng ta phải cố gắng đừng để phạm
lời thề.
Tuy
nhiên, việc giữ giới không đơn giản. Vì những Giới điều
trong đạo Phật cũng có những điểm không còn phù hợp, cần
nghiên cứu lại. Theo một số sách để lại thì trước lúc
nhập Niết Bàn, Phật có dặn ngài A Nan:
- Sau
khi Như Lai diệt độ, những giới nào xét ra không còn cần
thiết và phù hợp, có thể bỏ bớt .
Nhưng
lúc đó, ngài A Nan buồn quá nên không hỏi kỹ Phật là giới
nào. Đến khi họp đại hội chư vị Alahán, ngài Ca Diếp
mới hỏi ngài A Nan. Ngài A Nan thưa rằng:
- Thưa
chư Tôn giả, tôi có nghe Đức Thế Tôn nói như vậy, giới
nào không còn cần thiết nữa thì có thể bỏ.
Ngài
Ca Diếp hỏi:
- Hiền
giả có hỏi Thế Tôn là giới nào hay không? Có hỏi cụ thể
hay không ?
Ngài
A Nan trả lời:
- Bạch
thưa Tôn giả, tôi không hỏi.
Thế
là ngài Ca Diếp trách phạt ngài A Nan vì đó là một lỗi
lớn. Một người làm thị giả cho Phật, một người có ký
ức cực kỳ mạnh để giữ gìn giới pháp, giữ gìn giáo
pháp lại không hỏi cho cặn kẽ một chi tiết quan trọng liên
quan đến vận mệnh, đến đời sống của Tăng đoàn.
Thực
ra, Ngài A Nan cũng đáng thương. Đặt vào hoàn cảnh đó, Ngài
chỉ nghe và hiểu ý tổng quát của lời dặn chứ không hỏi
lại. Nhưng ngài Ca Diếp sâu sắc quá, đời sống của Ngài
tinh tế quá nên nhận ra điều đó. Nếu không hỏi cho cặn
kẽ, chỉ nghe một cách tổng quát làm sao biết được giới
nào nên giữ, giới nào nên bỏ ? Bởi vậy, Ngài quyết định
tạm thời giữ lại toàn bộ các giới. Theo Nam Tông, Tỳ kheo
Tăng có hai trăm hai mươi bảy giới, theo Bắc Tông là hai trăm
năm mươi giới; Tỳ kheo Ni là ba trăm bốn mươi tám giới.
Những
giới căn bản, quan trọng, chúng ta phải giữ. Nhưng những
giới phụ, bây giờ xét lại có nhiều điều không còn phù
hợp nữa, chúng ta có thể vận dụng một cách linh hoạt.
Ví dụ giới về y bát. Có lẽ lúc ấy bát ăn cơm còn khan
hiếm nên Phật dặn phải giữ bát ăn cơm rất kỹ, không
được để vỡ. Thời đó, vải vóc cũng thiếu nên phải
giữ y bát cho kỹ để giữ tư cách. Nếu để rách, mất y
bát người thầy tu ra đường có vẻ luộm thuộm, không có
tư cách. Trong thời đại ngày nay, điều này không còn phù
hợp vì đi đến đâu, chúng ta cũng có chén bát ăn đầy đủ.
Chưa kể đến nhà Phật tử, thôi thì đủ kiểu chén sang
trọng, đẹp mắt. Vì vậy, vấn đề này không còn quan trọng
nữa. Nếu đi ăn cơm, lúc nào người tu cũng mang theo cái bát
thì cồng kềnh quá. Cái y cũng vậy. Thời đó, ngoài
ý nghĩa thiêng liêng, cái y của người tu còn có ý nghĩa
thực dụng. Còn bây giờ, quý Thầy đi dạy chỉ cần mặc
chiếc áo tràng; các Thầy ngồi học Pháp cũng chỉ mặc áo
tràng, không ai quấn y nữa. Chúng ta giữ lại cái y như giữ
lại một biểu tượng của Phật pháp, mang ý nghĩa nghi lễ
thiêng liêng. Lúc bấy giờ, nói Tỳ kheo ba y, nghĩa là ba cái
y quấn từng vòng. Y năm điều là cái y để lao động; y bảy
điều là để ăn cơm, tụng kinh, lễ Phật, tọa thiền v.v…
Còn y chín điều mới có tính nghi lễ. Khi truyền giới, thuyết
giảng, quý Thầy mới đắp y chín điều. Như vậy, chỉ
riêng y bát đã chiếm đến mấy chục giới.
Vấn
đề y bát ngày xưa rất quan trọng. Vì vậy, có chuyện kể
rằng: Khi có một người ngộ đạo đến xin Phật truyền
giới Tỳ kheo, Phật hỏi:
- Ông
đã có đủ y bát chưa?
Người
ấy trả lời:
- Bạch
Thế Tôn! Chưa.
Phật
nói:
- Như
Lai không truyền giới cho người chưa đủ y bát.
Mặc
dù tâm người ấy đã chứng đạo đến mức A Na Hàm (so với
bây giờ là cả một trời một vực) nhưng Phật vẫn không
truyền giới Tỳ kheo. Ngài bảo ông ta đi kiếm y bát. Chừng
nào xin đủ y bát, Ngài mới cho thọ Tỳ kheo. Để làm một
Tỳ kheo, người tu phải có hình thức, tư cách chuẩn mực.
Ngày nay, vấn đề y bát không còn quá quan trong như trước
nữa.
Những
giới khác, chúng ta phải cố gắng giữ nhưng tùy từng trường
hợp mà có sự linh hoạt, không cố chấp. Vì giới không phải
là khuôn mẫu cố định mà thuộc về trí tuệ. Chính Phật
đã dựa vào trí tuệ, đạo đức của mình mà chế thành
giới. Ngày nay, muốn giữ được giới, chúng ta cũng phải
có trí tuệ, có định lực, có đạo đức. Nếu cứ giữ
giới một cách rập khuôn, cứng nhắc, không khéo chúng ta
bị rơi vào giới cấm thủ. Đó là sự cố chấp về giới
luật. Sự cố chấp đó đi ngược lại với tinh thần giải
thoát của đạo Phật, có thể coi là một chướng đạo giải
thoát. Vì vậy, tùy từng trường hợp mà chúng ta có sự linh
hoạt khi giữ giới. Điều quan trọng là khi học về việc
giữ lời hứa, chúng ta phải nhớ thọ giới là một lời
thề lớn, cần phải giữ suốt cuộc đời mình.
3.
NGƯỜI ĐỆ TỬ PHẬT PHẢI LUÔN CỐ GẮNG GIỮ LỜI HỨA.
Người
đệ tử Phật phải luôn cố gắng giữ lời hứa. Vì nếu
thất hứa, chúng ta sẽ làm mất uy tín với người khác. Mất
uy tín có nghĩa là mất tư cách, làm mất niềm tin của mọi
người. Vì khi đã hứa mà không thực hiện, người ta sẽ
nghĩ rằng chúng ta là người không có quyết tâm, không có
ý chí, và đạo đức cũng có vấn đề. Người không có đạo
đức, không có tư cách chắc chắn không được người khác
tin. Điều này ảnh hưởng đến danh dự chung của đạo Phật.
Nếu gặp những Phật tử thuần thành, họ hiểu y pháp bất
y nhân nên không dựa vào cá nhân một người tu mà đánh giá
cả đạo Phật. Họ sẽ hiểu cá nhân có thể sai lầm nhưng
đạo tuyệt đối không bao giờ sai. Nhưng với những người
không có niềm tin vững chắc vào đạo, chỉ đánh giá đạo
dựa vào những người tu theo đạo đó, nếu chúng ta cứ hứa
suông mà không thực hiện thì họ sẽ không tin vào đạo.
Vì vậy, việc giữ lời hứa cho mình kỳ thực là giữ danh
dự cho đạo, giữ được niềm tin của người khác đối
với đạo. Đó là việc nhỏ nhưng công đức rất lớn.
Mặt
khác, giữ được lời hứa còn làm tăng sức mạnh tinh thần,
làm lớn thêm uy đức, khiến lời nói của chúng ta có sức
mạnh vô hình có thể thuyết phục người khác vì đằng sau
việc giữ lời hứa là một quyết tâm lớn. Thử quan sát
một vài người xung quanh, chúng ta sẽ thấy được điều
này. Nếu người nào nói điều gì, làm điều đó, sau một
thời gian, người ấy sẽ trở nên phương phi, rắn rỏi, mạnh
mẽ. Người hứa mà làm được phải là người có quyết
tâm rất lớn. Sự quyết tâm ấy cứ thôi thúc ngấm ngầm
trong lòng họ và dần dần biến thành năng lực tinh thần
mạnh mẽ. Năng lực tinh thần đó phát ra bên ngoài, hiện
lên trên khuôn mặt khiến họ trở nên phương phi, có uy đức
và có tinh thần mạnh mẽ, vững vàng. Nhìn vào những người
có khuôn mặt như vậy, tự nhiên chúng ta cũng cảm thấy nể
phục. Đó là công đức được tạo thành do quyết tâm giữ
lời hứa, thực hiện lời hứa. Ngược lại, người nào cứ
“nói để mà nói”, nói mà không cần thực hiện, chỉ vài
năm sau khuôn mặt sẽ xuống sắc, xuống tinh thần, trở thành
người yếu đuối, tầm thường. Nhìn những người như vậy,
ít ai tỏ ra kính trọng. Tất nhiên, không phải người ta không
kính trọng vì biết người đó hay thất hứa mà do họ không
còn năng lực tinh thần, không còn uy đức để người khác
cảm mến.
Thật
ra, giữ lời hứa là một việc rất khó khăn. Vì từ lúc
hứa đến lúc thực hiện có nhiều việc xảy ra dễ làm chúng
ta quên hoặc đổi ý. Nhiều người đã mắc phải điều này.
Có khi hứa rồi nhưng vì nhiều việc quá nên chúng ta quên
bẵng đi. Đến khi được nhắc lại, chúng ta mới giật mình
nhớ ra và cảm thấy mình có lỗi. Cũng có trường hợp không
phải quên nhưng vì một lý do nào đó cảm thấy không thực
hiện được nên chúng ta thay đổi ý định, rút lại lời
hứa. Ví dụ, một lần nọ, thấy người bạn gặp khó khăn
đang cần vốn làm ăn, trong lúc cao hứng, chúng ta hứa sẽ
giúp họ số tiền ba triệu đồng để mở quán bán hàng tạp
hóa. Nhưng khi về nhà, nghĩ lại thấy số tiền đó lớn quá,
lại bị những người trong gia đình nói ra, nói vào nên chúng
ta đã thay đổi ý định, không giúp nữa. Đó là trường
hợp thất hứa do ngoại cảnh tác động, do không giữ được
lập trường. Khi đã hứa giúp người khác, chúng ta phải
chấp nhận sự thiệt thòi. Trong trường hợp sự vị kỷ
lớn hơn vị tha, nếu không có quyết tâm chúng ta sẽ không
giữ được lời hứa.
Về
Nhân Quả của việc giữ lời hứa, trong một bài kinh, Đức
Phật có nói: Một gia chủ cư sĩ đến với một Sa môn Bàlamôn
và thưa rằng: “Thưa Tôn giả! Con sẽ cúng dường Tôn giả
thế này thế kia”. Sau đó, người này không thực hiện như
đã hứa. Khi đi ra làm ăn buôn bán, người ấy luôn bị thất
bại vì hứa mà không thực hiện làm người khác thất vọng.
Như vậy, quả báo của việc thất hứa là chúng ta sẽ thất
bại, không đạt được điều gì cả.
Đoạn
thứ hai, Phật nói: Một cư sĩ đến với một Sa môn Bàlamôn
và thưa rằng: “ Thưa Tôn giả1 Con sẽ cúng dường Tôn giả
thế này thế kia”. Rồi người đó thực hiện sự cúng dường
như đã hứa. Sau đó, khi đi ra làm ăn, buôn bán, người này
đều thành công như kế hoạch mình đã định. Nghĩa là khi
đã hứa với ai điều gì, nếu thực hiện đúng, chúng ta
sẽ gặp quả báo là đạt được những gì mình đã định.
Trường
hợp thứ ba, Phật nói: Một gia chủ cư sĩ đến với
một Sa môn Bàlamôn và thưa rằng: “ Thưa Tôn giả! Con
sẽ cúng dường Tôn giả cái này, cái kia”. Sau đó, người
này thực hiện vượt hơn lời đã hứa. Khi ra làm ăn buôn
bán, người đó đều thành công vượt hơn kế hoạch đã
dự định. Như vậy, kiếp nào hay kiếp này, nếu hứa một
mà làm được hai, ba thì chúng ta sẽ thành công lớn. Đó
là những lời Phật dạy về vấn đề giữ lời hứa đối
với người cư sĩ.
Trong
đạo Phật, việc giữ lời hứa có khả năng hỗ trợ thiền
định. Vì chính quyết tâm giữ gìn, thực hiện những lời
hứa tốt đẹp sẽ tạo thành sức mạnh tinh thần, tạo thành
sức mạnh nhiếp tâm trong Thiền định. Chúng ta đã biết,
việc nhiếp tâm trong Thiền định đòi hỏi sức mạnh tinh
thần rất lớn. Những người có tinh thần yếu đuối không
thể nhiếp tâm vào định. Như vậy, trong nhiều yếu tố tạo
nên sức mạnh tinh thần cho con người, giữ lời hứa cũng
là một trong những yếu tố quan trọng.
4.
TÂM NGUYỆN.
Khi
đến với Phật pháp, chúng ta thường phát nguyện mỗi ngày.
Lời phát nguyện sẽ định hướng cho chúng ta trong việc tu
hành ở kiếp này và trong những kiếp sau. Đến với Phật
pháp mà mỗi ngày không phát nguyện là một thiếu sót lớn.
Lời nguyện có hai điều: tâm nguyện và cầu nguyện.
Cầu
nguyện là xin thần lực của Phật gia hộ cho chúng ta đạt
được những điều mình muốn. Việc cầu xin đó thường
vượt ra ngoài khả năng của chúng ta. Trong bài này, chúng
ta không bàn đến việc cầu nguyện, chỉ bàn đến tâm nguyện.
Tâm
nguyện là phát nguyện, là điều chúng ta hứa để thực hiện.
Tuy nhiên, giữa lời hứa và phát nguyện vẫn có sự khác
nhau. Những điều chúng ta hứa thường là những việc nhỏ
nhưng cụ thể, rõ ràng. Đó có thể là lời hứa ba năm nữa
chúng ta sẽ bắt đầu nhập thất; có thể là lời hứa xin
Ban Giám hiệu giúp huynh đệ nào đó để họ được vào học…
Trong khi đó, tâm nguyện thường rất lớn và trừu tượng.
Chẳng hạn, chúng ta nguyện với Phật sẽ độ hết chúng
sinh. Lời nguyện đó lớn mênh mông và vô cùng trừu tượng
vì biết đến bao giờ chúng ta mới độ được tất cả chúng
sinh. Nhưng chúng ta vẫn cứ nguyện để tạo thành cái Nhân
cho kiếp sau và cho nhiều kiếp về sau.
Lời
nguyện và lời hứa có sự khác nhau như vậy. Tuy lời nguyện
có vẻ mạnh mẽ nhưng thực ra không chắc chắn bởi nó mơ
hồ, trừu tượng, không có thời hạn để con người thực
hiện. Ngược lại, lời hứa tuy nhỏ hơn nhưng cụ thể, chắc
chắn hơn. Tuy nhiên, dù sao chúng ta cũng phát nguyện đều
đặn mỗi ngày vì đó cũng là cái Nhân đưa đến hành động
mạnh mẽ ở những kiếp về sau.
Ví
dụ, hằng ngày, chúng ta luôn nguyện “đem Phật pháp hoằng
hóa nơi nơi”, nghĩa là nguyện làm Giảng sư. Nếu có Nhân
chắc chắn sẽ có Quả. Nếu có tâm nguyện như vậy,
cuối cùng chúng ta sẽ làm được điều đó. Hiện nay, trên
đất nước ta cũng như trên thế giới có rất nhiều Giảng
sư. Có thể những người này trong một kiếp nào đó cũng
đã có lời nguyện “đem Phật pháp hoằng hóa nơi nơi”
nên đạt được như vậy.
Tuy
nhiên, trở thành Giảng sư chưa đủ. Điều quan trọng là
chúng ta sẽ giảng như thế nào ? Lời giảng của chúng ta
có chứa đựng chân lý sâu xa trong đó hay không ? Chúng ta
chỉ tìm cách nói cho hấp dẫn người nghe hay giảng từ nội
tâm tu tập của mình ? Rồi việc giáo hóa của chúng ta có
bền vững hay không, chúng ta có duyên với chúng sinh hay không
? vv… Người Giảng sư phải hội đủ những yếu tố này.
Bởi vậy, ngoài những lời nguyện ở kiếp trước, chúng
ta phải tu tập nhiều công hạnh khác. Có như vậy, chúng ta
mới trở thành một Giảng sư tuyệt vời. Nếu chỉ giảng
một cách bình thường, công đức của chúng ta sẽ không lớn.
Sau này, khi nào có điều kiện, chúng ta sẽ nghiên cứu sâu
hơn về vấn đề này.
Xưa
nay, các vĩ nhân trên thế giới, những người có ảnh hưởng
đến nhân loại đều có cái tâm gì đó ở kiếp trước.
Có thể đó là cái tâm nghĩ đến loài người, đến nhân
loại. Vì vậy, bây giờ hành động của họ tự nhiên có
ảnh hưởng đến cả nhân loại. Điều này gọi là cái tâm
đi trước hành động theo sau. Nếu bây giờ chúng ta không
nghĩ đến nhân loại, chỉ nghĩ đến bản thân hoặc những
người xung quanh thì kiếp sau, hành động của chúng ta cũng
chỉ ảnh hưởng đến một phạm vi nhỏ hẹp mà thôi. Hiểu
điều này, chúng ta phải cố gắng khởi tâm nghĩ đến tất
cả chúng sinh, không nên nghĩ đến những điều nhỏ nhặt,
tầm thường.
Bài
Khấn nguyện mà chúng ta thường tụng vừa là tâm nguyện
vừa là cầu nguyện. Vì trong đó có những đoạn chúng ta
chỉ xin Đức Phật:
Xin
cho khắp muôn loài
Sống
yên lành bên nhau
Không
ganh ghét oán thù
Không
chiến tranh giết chóc.
Hoặc
có đoạn:
Xin
cho nơi địa ngục
Chúng
sinh đang đọa đày
Khởi
được tâm từ bi
Để
xa lìa cảnh khổ.
Những
điều này chúng ta xin Phật chứ không thể làm được. Nhưng
khi cầu cho thiên hạ, cho chúng sinh, trong chúng ta lại phát
sinh tâm vị tha một cách bí mật. Bởi vậy, bài Khấn nguyện
có vai trò rất quan trọng trong việc tu tập đạo hạnh. Những
đoạn khác là những đoạn phát nguyện:
Cho
tay con rộng mở
Biết
san sẻ cúng dường
Biết
giúp đỡ yêu thương
Đến
những người khốn khó.
Hoặc
tâm tùy hỷ, tự chúng ta phát nguyện nhưng vẫn phải xin Phật:
Xin
tâm con sung sướng
Khi
thấy người thành công
Hoặc
gây tạo phước lành
Như
chính con làm được.
Có
người khi đọc Lời khấn nguyện tỏ ra không đồng ý với
tác giả. Vì người ấy cho rằng trong đạo Phật không có
chuyện xin xỏ như thế. Thực ra, viết như vậy là tác giả
có dụng ý của mình. Mặc dù đó là lời phát nguyện nhưng
chúng ta vẫn dùng từ xin, cho ở đầu mỗi lời nguyện vì
những từ đó rất có lợi cho người đọc. Chẳng hạn, khiêm
hạ là tự mỗi người tu nhưng chúng ta phải xin Phật:
Cho
con biết khiêm hạ
Biết
tôn trọng mọi người
Tự
thấy mình nhỏ thôi
Việc
tu còn kém cỏi.
Tại
sao như vậy? Nếu để ý chúng ta sẽ thấy lời cầu nguyện
cho mình được khiêm hạ có thể làm chúng ta nhu nhược. Trong
khi đó, lời phát nguyện khởi động ý chí, làm chúng ta mạnh
mẽ nhưng dễ phát sinh kiêu mạn. Hòa hai điều đó lại có
thể tiêu diệt sự kiêu mạn đang ẩn trong lời phát nguyện.
Dù phát nguyện những điều tốt nhưng chúng ta vẫn nghĩ rằng
nhờ sự gia hộ của chư Phật mà chúng ta đạt được. Đó
chính là thâm ý mà tác giả muốn gửi trong lời khấn nguyện.
5.
RÚT LẠI LỜI HỨA.
Theo
nguyên tắc, đã hứa thì phải giữ lời hứa. Nhưng trong cuộc
sống, có những trường hợp hứa rồi mà không giữ được
vì khi hứa, chúng ta không đủ trí tuệ để thấy sự sai
lầm của lời hứa. Sau này khi có trí tuệ, hiểu ra được
vấn đề, chúng ta muốn rút lại, không giữ lời hứa nữa.
Ví dụ, trong lúc nói chuyện, chúng ta hứa sẽ cho bạn mượn
một cuốn sách trước kia mình đã đọc vì cuốn sách cũng
hay hay. Nhưng trước khi cho mượn, chúng ta phát hiện ra trong
đó có nhiều điểm sai lầm, không tốt cho người đọc nên
quyết định không cho mượn nữa. Như vậy, chúng ta không
giữ lời hứa nhưng xuất phát từ thiện tâm, vì lợi ích
cho người khác chứ không vì lợi ích cho bản thân mình. Nghĩa
là chúng ta không vì lòng ích kỷ mà bội tín, mà vì lòng
thương tưởng đến chúng sinh. Trước đây, lời hứa đó
đã được thốt ra bởi sự thiếu sáng suốt, chưa đủ chín
chắn, chưa nhận định thấu suốt vấn đề. Lúc này, khi
đã tu tập, đã có trí tuệ, chúng ta mới nhìn thấy được
những điểm sai lầm. Vì vậy, trong trường hợp này, chúng
ta phải rút lại lời hứa. Tuy nhiên, khi muốn rút lại lời
hứa, chúng ta phải nói sớm cho người ta biết để không
bị lỗi bội tín hoàn toàn, không bị coi là một người mất
tư cách. Nhưng nếu báo sớm vì lý do chính đáng, chúng ta
chỉ phạm một phần lỗi bội tín, lại được phước lớn.
Có
những trường hợp do hoàn cảnh, chúng ta không thể nào giữ
được lời hứa. Nhưng trong trường hợp này, chúng ta không
có lỗi. Ví dụ, Chúng ta hứa cho người khác một món quà,
chiếc xe Dream chẳng hạn. Nhưng hôm sau, ăn trộm vào lấy
sạch sẽ đồ của, tiền bạc nên chúng ta không thể thực
hiện được lời hứa. Tuy nhiên, trong trường hợp này, không
ai trách chúng ta là bội tín cả. Vì chúng ta không thực hiện
lời hứa không phải do tâm mà do hoàn cảnh.
Nếu
không thực hiện được lời hứa, chúng ta phải xin lỗi và
đền bù bằng cách khác. Ví dụ, một người cư sĩ cùng em
đi ngang một shop thời trang. Thấy em thích chiếc áo đầm
màu xanh ấy quá, chị liền hứa: “Hôm nào lãnh lương, chị
sẽ mua cho em chiếc áo đầm ấy”. Nhưng sau này khi đến
cửa hàng đó, người chị mới phát hiện ra kiểu áo mà em
thích có vẻ hở hang quá, không phù hợp với em nên không
mua nữa. Người chị nói rõ với em điều đó và hứa sẽ
mua cho em một chiếc đầm khác đẹp hơn. Như vậy, tuy không
giữ lời hứa hoàn toàn nhưng đã đền bù bằng cách khác
nên người chị cũng không mắc lỗi bội tín.
Đức
Phật là một biểu tượng toàn vẹn của Đạo đức và đạo
Phật là một đường lối hoàn thiện của Đạo đức. Là
người đệ tử Phật, đi theo con đường Phật dạy, chúng
ta phải giữ Đạo đức rất kỹ lưỡng. Một trong các tiêu
chuẩn quan trọng của Đạo đức là giữ lời hứa. Vì vậy,
trước khi hứa với ai điều gì, chúng ta phải cân nhắc kỹ.
Và khi đã buông lời hứa, chúng ta phải quyết tâm thực hiện,
dù lâu dài. Nếu hứa rồi bỏ qua, không quyết tâm thực hiện,
không những chúng ta là người có Đạo đức kém mà còn làm
mất niềm tin của người khác với Đạo. Như vậy, chúng
ta sẽ mang tội rất lớn.
6.
Ý NGHĨA NGƯỜI QUÂN TỬ TRONG ĐẠO NHO.
Nói
đến đạo Khổng, chúng ta thường nghĩ đến hình ảnh nhập
thế. Người theo đạo Khổng là người hay dấn thân, xông
xáo, gánh vác mọi việc trong cuộc đời. Điều này ngược
lại với người theo đạo Lão, là người xuất thế, luôn
tìm cách thoát ra khỏi cuộc đời. Vì những kinh điển của
Lão Tử để lại trong Đạo đức kinh luôn luôn nói về những
gì vượt ra ngoài thế gian. Trong khi đó, những lời dạy của
Khổng Tử đối với học trò còn để lại trong các Kinh điển,
trong sách Luận ngữ v.v… lại luôn luôn nói về vai trò, trách
nhiệm của một người đối với xã hội. Tuy nhiên, nếu
tìm hiểu kỹ, chúng ta sẽ thấy hình ảnh người quân tử
mà Khổng Tử dựng lên rất đẹp. Đó là mẫu người rất
chuẩn, có đạo đức, sống ở đời có nhân nghĩa, có tính
cách thẳng thắn, lời nói chân thật, biết giữ chữ tín
và lễ độ với mọi người. Họ không phải là người xuất
thế, nhưng là người vừa tiêu sái, thung dung vừa nhập thế.
Hình ảnh ấy rất tuyệt vời, rất trung dung, phù hợp với
đạo Bồ Tát của Phật. Ngày xưa, trong văn học, người ta
thường mượn hình ảnh cây tùng, cây trúc để ngợi ca người
quân tử. Vì đó là những loài cây thân mọc thẳng, cứng
cỏi, chịu đựng được mưa nắng, tuyết sương.
Một
lần, Khổng Tử hỏi về sở thích của đệ tử mình. Từng
người lần lượt trình bày sở thích của mình với
Thầy. Có người thích làm quan lớn để dạy dân, giáo hóa
dân cho tốt đẹp hơn. Trong đó, học trò tên là Nhan Hồi
lại thích đi hát, được tắm lội trên dòng sông trong một
ngày mùa hạ, được ngả người dưới bóng cây râm mát đánh
đàn, ca hát, tiêu dao; sống cuộc đời ung dung tự tại, không
bận tâm đến cuộc đời. Nghe trả lời như vậy, Khổng Tử
khen nức nở. Chúng ta vẫn thấy, đạo của Khổng Tử có
tính chất tiêu sái, thoát tục. Vì theo định nghĩa của Khổng
Tử, người quân tử là người sống đơn giản nhưng sâu
sắc trong đạo lý. Tuy sống cuộc đời đơn giản nhưng họ
không bao giờ biết chán bởi những đạo lý thâm sâu trong
đó. Những lời dạy của khổng Tử thật độc đáo, không
khác đạo Phật bao nhiêu.
Người
quân tử còn là người dám chịu trách nhiệm và biết nhận
lỗi. Khi làm điều gì sai, họ sẵn sàng nhận lỗi về mình,
dám chịu trách nhiệm về hậu quả việc mình làm chứ không
tránh né, không đổ lỗi cho người khác. Đó còn là người
biết sử dụng lý trí. Nghĩa là biết phân biệt đúng- sai,
thiện- ác rõ ràng, không mơ hồ. Tuy việc phân biệt thiện-
ác quá mức có thể trở thành cố chấp nhưng biết giữ điều
thiện, vứt bỏ cái ác cũng là một điều tốt giữa cuộc
đời vốn có không ít người chạy theo cái ác.
Chính
vì có những tiêu chuẩn sống đẹp đẽ như vậy nên nhiều
người theo đạo Nho có cái chết khá an lành tự tại. Chúng
ta biết rằng, cái chết an lành là dấu hiệu của một đời
sống thánh thiện. Vì vậy, nếu chúng ta tu theo đạo Phật
là muốn làm Thánh thì người tu theo đạo Nho chỉ muốn làm
một người quân tử. Trong xã hội, giá trị của một người
quân tử được đánh giá thấp hơn so với một vị Thánh.
Nhưng chúng ta nên nhớ rằng, tính cách của người quân tử
là nền tảng của một bậc Thánh. Muốn làm Thánh theo tiêu
chuẩn đạo Phật, trước hết chúng ta phải có chất quân
tử của đạo Nho. Nghĩa là chúng ta phải sống một đời
trong sạch, quang minh chính đại, không quanh co, dối trá, luồn
lách, thủ đoạn theo kiểu tiểu nhân. Trong thực tế, có những
người tu theo đạo Phật, đi tìm con đường siêu thoát thế
gian, vượt khỏi tam giới nhưng trong cuộc sống đời thường
đã có những việc làm dối trá, quanh co, thủ đoạn, luồn
lách của một kẻ tiểu nhân. Đây là điều rất đáng buồn.
Bởi
vậy, dù bây giờ chưa phải là một vị Thánh, chưa đắc
đạo nhưng chúng ta hãy sống như một người quân tử của
đạo Nho. Chúng ta phải làm sao để khi đến với đạo Phật,
người ta tin tưởng ở tiết tháo, tư cách, đạo đức của
chúng ta, xem chúng ta là con người nhân ái giữa đời, biết
lễ độ khiêm cung, biết nhận lỗi, dám có trách nhiệm, sống
có lý trí… Chỉ cần người đệ tử Phật giữ được những
đạo đức căn bản như đạo Nho như vậy, đạo Phật chúng
ta sẽ hưng thịnh. Ngoài những điều đó, nếu có thêm những
điều siêu thoát hơn, có trí tuệ của giáo lý Bát nhã, có
những công phu Thiền định thì thật sự, chúng ta đang trên
đường trở thành một vị Thánh. Tóm lại, đối với người
đệ tử Phật nói riêng và người đời nói chung, giữ lời
hứa là một Đạo đức quan trọng mà chúng ta không thể coi
thường.