TẬN
TỤY
1.
KHÔNG AI CÓ ĐẠO ĐỨC MÀ LƯỜI BIẾNG.
Hai
chữ Tận tuỵ gợi cho chúng ta hình ảnh cặm cụi, chịu khó,
siêng năng. Nhưng khác với tinh tấn tu dưỡng nội tâm, khác
với phấn đấu cho sự nghiệp riêng mình, Tận tụy hàm ý
rất rõ là siêng năng vì mọi người.
Ví
dụ, sự nỗ lực học tập của chúng ta hoặc sự cần cù
chịu khó cày sâu cuốc bẫm, dầm mưa dãi nắng của người
nông dân cũng gọi là siêng năng tinh tấn. Nhưng trước hết,
đó là sự siêng năng vì bản thân, vì gia đình mình. Những
tinh tấn siêng năng đó chưa được gọi là tận tụy. Tận
tụy là sự chịu khó, siêng năng có ý nghĩa vì người khác
chứ không vì bản thân mình. Như vậy, sự tận tụy cũng
có ý nghĩa gần với cuộc sống vị tha. Tuy nhiên, giữa hai
khái niệm này vẫn có những điểm khác biệt. Khác với vị
tha, tận tụy gợi cho chúng ta hình ảnh một người cặm cụi,
hết lòng làm lợi cho người khác trong sự thầm kín, lặng
lẽ.
Tận
tụy có tính chất Đạo đức. Điều này đã quá rõ ràng,
chúng ta không cần phải chứng minh mà chỉ khẳng định một
điều: không ai có Đạo đức mà lười biếng, chỉ thích
ở không, thích hưởng nhàn. Những người thích ở không,
thích hưởng nhàn chắc chắn là người kém Đạo đức.
Trong
cuộc sống, nhiều công việc cần thiết cho các nhu cầu căn
bản của chúng ta luôn luôn xuất hiện như nấu ăn, giặt
giũ, dọn dẹp nhà cửa… Chỉ riêng bản thân mỗi người
đã có rất nhiều công việc đòi hỏi phải làm. Khi nhiều
người sống chung với nhau, nhu cầu lại phát sinh thêm và
trở thành nhu cầu chung. Ví dụ, khi nấu ăn, chúng ta không
phải chỉ nấu cho mình; khi dọn dẹp nhà cửa, chúng ta cũng
ý thức đó không phải là nhà của riêng mình mà là ngôi
nhà chung. Nghĩa là những công việc liên quan đến nhu cầu
của chúng ta tự nó bày ra, tự nó xuất hiện rất nhiều,
và khi sống chung với mọi người, nhu cầu của mình cũng
là nhu cầu chung của mọi người. Nếu không làm là chúng
ta đã dành công việc đó cho người khác. Như vậy, có thể
khẳng định người làm biếng là người không có Đạo đức.
Thậm chí có người còn cho rằng: “người làm biếng là
người ác”. Nói như vậy cũng hơi quá nhưng không phải là
không đúng. Khi đã sống chung trong một môi trường có nhiều
nhu cầu phải làm chung với nhau, nếu lười biếng bỏ mặc
công việc cũng có nghĩa là chúng ta bắt người khác phải
làm. Điều này cũng đồng nghĩa với sự ích kỷ. Người
có Đạo đức không bao giờ chấp nhận lối sống đó. Họ
sẽ hăng hái, sốt sắng làm thay cho người khác. Đó là lối
sống vị tha, sống vì người khác.
Khi
Đạo đức tăng trưởng, nhiều công việc khác sẽ phát sinh
để chúng ta giúp đỡ mọi người. Những công việc đó hoàn
toàn không liên quan gì đến chúng ta. Ví dụ, ra ngoài, thấy
con đường hư hỏng, chúng ta rủ mọi người cùng nhau sửa
lại mặc dù mình chẳng đi lại trên con đường đó. Hoặc
thấy nhà hàng xóm bị dột nhưng neo người không ai sửa,
chúng ta đi xin ván, xin lá lợp lại cho họ... Sống trên đời
là vậy, chúng ta phải biết chịu đựng cực khổ. Đừng
bao giờ nghĩ rằng bước vào con đường tu hành là chúng ta
đi tìm sự nhàn nhã, thảnh thơi. Hạnh phúc chỉ đến khi
chúng ta đem lại được niềm vui, niềm hạnh phúc cho người
khác, làm được điều lợi cho người khác. Hạnh phúc không
phải là sự hưởng thụ. Nhạc sĩ Thế Hiển đã sáng tác
một bài hát rất hay, rất có ý nghĩa: Chuyện đời nay đời
xưa. Bài hát mở đầu bằng câu chuyện đời xưa, chuyện
một nàng Công chúa, sống trong giàu sang nhung lụa nhưng tâm
hồn vấn vương bao nỗi buồn vì nàng Công chúa ấy cần hạnh
phúc. Sự giàu sang sung sướng trong hoàng cung không đem lại
cho nàng hạnh phúc đích thực. Ngay cả khi được Hoàng tử
cầu hôn với muôn ngàn châu báu nhưng nàng vẫn không màng
đến, trái tim ấy luôn buồn rầu, khắc khoải một niềm
hạnh phúc. Bài hát được tiếp tục với câu chuyện đời
nay, chuyện những chàng trai, những cô gái trẻ đi vào chốn
rừng hoang xây dựng cuộc sống, mà bài nhạc tập trung cho
công trình thủy điện Trị An. Họ sống với núi xanh cây
rừng trong niềm vui bất tận, trên môi luôn nở nụ cười
tươi. Kết thúc bài hát là lời khẳng định: Cuộc đời
là hạnh phúc không ai sống riêng ai, cuộc đời là hạnh phúc,
phải sống vì mọi người. Thật vậy, con người chỉ cảm
nhận được hạnh phúc đích thực khi biết sống vì mọi
người.
Hạnh
phúc thế gian có nhiều loại. Có những hạnh phúc tạm bợ
do cuộc sống hưởng thụ ích kỷ đem lại. Thấy người khác
mặc bộ quần áo đẹp, chúng ta cũng may một bộ như thế.
Đạt được điều đó, trong lòng chúng ta cũng cảm thấy
thích thú, hạnh phúc. Nhưng thứ hạnh phúc đó không bền,
chỉ làm tăng trưởng sự ích kỷ, rồi đau khổ sẽ đến
sau đó. Hạnh phúc thế gian là như vậy. Sự hạnh phúc do
thỏa mãn nhu cầu được hưởng thụ chỉ là tạm bợ, ngắn
ngủi, một lúc nào đó sẽ làm chúng ta chán chường. Tác
giả bài hát cũng cho chúng ta thấy được hạnh phúc không
phải là sự hưởng thụ, hạnh phúc không ngự trị ở những
nơi có đời sống vật chất dư thừa. Hạnh phúc chỉ đến
với những người biết yêu lao động, biết sống vì người
khác, đem lại lợi ích cho người khác.
Chính
vì vậy, khi xuất gia, chúng ta không đi tìm cuộc sống nhàn
rỗi mà lại tìm một cuộc sống cực khổ. Nghĩa là khi xin
phép gia đình vào chùa tu hành, chúng ta phải có tâm nguyện
là từ bỏ quá khứ nhàn rỗi và hiểu rằng, con đường trước
mắt chúng ta nhiều chông gai, gian khổ hơn lúc còn ở thế
gian. Hiểu được điều đó, chúng ta phải hy sinh nhiều hơn,
chịu cực khổ nhiều hơn và không bao giờ chấp nhận hưởng
thụ bất cứ hạnh phúc nào.
Những
người có đạo đức tăng trưởng, ngoài việc siêng năng
giải quyết nhu cầu chung của mình với mọi người còn nghĩ
ra việc để làm lợi cho người khác. Những người có tâm
và có duyên còn tổ chức được những công việc thiện nguyện
lớn lao hơn như : cứu trợ, vệ sinh đường phố, chăm sóc
người già, trồng cây ven đường, đắp sửa đường sá,
giáo dục trẻ em đường phố vv…
Vì
sao muốn làm việc từ thiện, ngoài cái tâm chúng ta còn phải
có duyên? Vì nếu tâm thúc đẩy chúng ta làm việc thiện nhưng
không có duyên, không có điều kiện, chúng ta rất khó thực
hiện được. Ví dụ, chúng ta có tâm muốn cứu giúp tất
cả các trẻ em tàn tật trên thế giới, muốn đem lại cho
các em niềm vui để bù đắp những thiệt thòi mà các em phải
chịu đựng, nhưng làm sao có đủ điều kiện ra khỏi đất
nước để thực hiện điều đó? Chúng ta chỉ làm được
khi có đủ duyên. Vì vậy, người ta thường phát tâm để
kiếp sau thực hiện. Hoặc thấy người già yếu, chúng ta
muốn nâng đỡ, muốn giúp họ sống những ngày tháng cuối
đời được thanh thản nhưng điều ấy cũng không dễ dàng
làm được. Hoặc khi có một địa phương nào đó bị thiên
tai, lũ lụt, chúng ta muốn kêu gọi nhiều người góp phẩm
vật để tổ chức một chuyến cứu trợ cũng phải có duyên
mới làm được. Tuy nhiên, chúng ta cứ nuôi dưỡng tâm thiện,
khi duyên đến tự nhiên, thuận tiện, chúng ta sẽ làm được
những điều mình mong muốn. Đó là Nhân- Quả. Ý nghĩ của
chúng ta là Nhân, hành động sẽ là Quả. Muốn làm điều
gì tốt đẹp, trước hết chúng ta phải nuôi dưỡng trong
tâm mình những ý tưởng, những nhân lành. Thực ra, những
người làm được việc thiện không phải họ mới nảy sinh
ý nghĩ gần đây mà đã nghĩ từ những kiếp trước.
Những
người già không làm được những việc thiện lớn, chiều
chiều đi quét rác, nhặt rác trên đường cũng là một việc
thiện. Việc làm này không có nghĩa là làm thay cho những công
nhân vệ sinh mà mang ý nghĩa giáo dục. Nhiều người không
có ý thức thường vứt rác bừa bãi ngoài đường vì nghĩ
rằng đã có người ăn lương của nhà nước để chuyên làm
việc quét dọn. Nếu không phải là công nhân vệ sinh mà chúng
ta vẫn chịu khó quét rác, nhặt rác ngoài đường sẽ khiến
nhiều người ngạc nhiên. Dần dần họ sẽ hiểu chúng ta
làm như vậy là vì vẻ đẹp của đường phố và không vứt
rác ra đường nữa. Ý nghĩa giáo dục của việc làm ấy rất
lớn.
Chăm
sóc người già cũng là một việc thiện lớn. Trong thời đại
mới, người già thường cô độc vì ít con cháu do sinh đẻ
có kế hoạch. Con cái lại bận đi học, đi làm ăn xa, ít
có dịp chăm sóc. Thấy vậy, năm bảy người có thể tập
hợp lại với nhau đến thăm hỏi, chuyện trò, giặt quần
áo, nấu cơm… giúp họ. Chúng ta cũng có thể mời y tá đến
chăm sóc sức khoẻ cho những người già yếu. Những việc
làm ấy góp phần an ủi những người già trong buổi xế chiều.
Khi họ đã quý mến mình, chúng ta có thể khuyên họ tu hành,
niệm Phật để đời sống được thanh thản. Như vậy gọi
là việc thiện đi trước, việc đạo theo sau.
Hoặc
trồng cây xanh ven đường cũng là việc thiện có ý nghĩa.
Trong bài Yêu thiên nhiên, chúng ta đã hiểu được vai trò
của cây xanh đối với đời sống con người. Bởi vậy, chúng
ta phải tích cực trồng cây. Những đoạn đường nào chưa
có cây xanh, chúng ta có thể mang cây đến trồng vừa tạo
bóng mát, vừa giúp điều hòa không khí.
Hiện
nay, tình trạng trẻ em sống lang thang, cơ nhỡ đang trở thành
mối quan tâm của toàn xã hội. Phần lớn các em không nhận
được sự quan tâm, giáo dục của gia đình ngay từ nhỏ nên
hư hỏng. Các em có thể làm bất cứ việc gì để sống:
khi cướp giật, khi ăn xin… để rồi trở thành tội phạm.
Chúng ta có thể tìm cách gần gũi, khuyên lơn, giáo dục các
em trở thành người tốt. Đây cũng là một việc thiện mà
phải có duyên chúng ta mới có thể làm được. Vì công việc
này không đơn giản, nhiều khi còn rất nguy hiểm. Muốn giáo
dục đạo đức cho những đối tượng ấy, chúng ta phải
tập hợp nhiều người, phải có sức khỏe, có lòng kiên
nhẫn.
Những
việc thiện ấy làm cho chúng ta bận rộn hơn, nhọc nhằn
hơn nhưng chúng ta vẫn cố gắng làm để giúp đỡ người
khác. Sự chấp nhận cực khổ đó gọi là tận tụy, hy sinh,
vị tha.
2.
TĂNG SĨ SỐNG NHÀN RỖI, PHẬT PHÁP SẼ SUY TÀN.
Nếu
là đệ tử Phật, chúng ta không được sống nhàn rỗi. Vì
sống nhàn rỗi, dựa vào người khác là biểu hiện của người
không có Đạo đức. Đó là người ác, người tàn nhẫn.
Không ít người cho rằng sống ngoài đời quá khổ nên tìm
đến cuộc sống tu hành để được nhàn rỗi. Đó là quan
niệm sai lầm. Chúng ta phải xác định, đi tu là khép lại
cuộc đời nhàn rỗi ở thế gian để dấn thân vào con đường
gian khổ, hy sinh, phụng sự … nhiều hơn trước.
Tăng
sĩ là biểu tượng của Đạo đức nên không được quyền
sống một cách nhàn rỗi. Tăng sĩ sống nhàn rỗi là Phật
pháp suy tàn. Đối với Phật pháp, đối với chúng sinh, chúng
ta còn bao nhiêu việc chưa làm được. Mỗi người phải cố
gắng thực hiện. Ví dụ, hiện nay, Phật pháp còn tình trạng
phân chia thành nhiều hệ phái, nhiều tông phái. Như chúng
ta biết, chân lý chỉ có một, có thể ví như đầu chấm
bút chì, chỉ cần nhích một chút là sẽ lệch ngay. Chính
vì mỗi người có cái nhìn chưa đúng nên chúng ta không đến
được chân lý chung. Vì vậy, điều chúng ta cần đi tìm là
chân lý chung để sự khác biệt trong Phật pháp không còn
nữa, tất cả đều thống nhất với nhau, hòa hợp với nhau.
Khi đã tìm ra chân lý chung, chúng ta mới có đủ sức mạnh
thuyết phục người khác. Chẳng hạn, khi chúng ta đưa chân
lý này đến Nam tông, người Nam tông từ bỏ bớt kiến chấp
của mình để phát triển. Khi chúng ta đưa chân lý chung này
đến với Bắc tông, người Bắc tông sẽ từ bỏ những gì
khiến họ bị rơi vào ngoại đạo, lui trở về trong chánh
pháp. Chúng ta đến với Khất sĩ, đến với Phật giáo Hòa
Hảo, đến với Cao Đài… sẽ làm cho tất cả trở nên sáng
tỏ. Người ta sẽ từ bỏ những sai biệt cố hữu của mình
để có thể nắm tay nhau trong tình hòa hợp. Tìm ra chân lý
chung ấy là việc quan trọng, gian khổ mà chúng ta cần phải
làm.
Đó
là trong phạm vi một tôn giáo. Hiện nay, trên thế giới còn
tồn tại bao nhiêu tôn giáo, bao nhiêu tư tưởng, bao nhiêu
thành kiến, bao nhiêu triết thuyết… đầy rẫy sự khác biệt.
Chúng ta phải làm thế nào để một ngày nào đó trên trái
đất này, cả nhân loại chỉ còn một chân lý chung. Tư tưởng
ấy thật quá lớn, không phải ai cũng có thể nhìn thấy được.
Chỉ những người có trí tuệ mới nhìn thấy những việc
cần phải làm cho thế giới này, cho nhân loại này. Những
cái cần làm đó gọi là chí nguyện. Như vậy, khi có trí
tuệ, chúng ta sẽ có chí nguyện, sẽ biết mình phải làm
thêm điều gì cho con người, cho Phật pháp mai sau. Người
không có trí tuệ, học bao nhiêu, nghe giảng bao nhiêu chỉ
biết bấy nhiêu, không nghĩ thêm được điều gì. Đó là
những người khó có chí nguyện lớn.
Là
Tăng sĩ, chúng ta cố gắng tu học, vì còn quá nhiều điều
chưa hoàn hảo, còn quá nhiều điều phải làm cho chúng sinh,
cho thế giới này. Con người còn phân hóa, còn thù hận, còn
ganh ghét nhau bởi những sự khác biệt. Chân lý vẫn còn ẩn
khuất đâu đây và con người chưa được thuyết phục để
có thể nắm tay nhau, thương yêu nhau. Thấy được điều này,
chúng ta phát tâm nguyện đi tìm chân lý ấy. Sự quyết tâm
ấy gọi là chí. Chính cái chí này làm cho chúng ta có Trí
tuệ. Nghĩa là khi nuôi nấng một hoài bão nào đó, hoài bão
sẽ tạo thành nhân quả, thành phước khiến chúng ta tập
trung tu hành và nhìn thấy được nhiều vấn đề. Như vậy,
chí nguyện cũng làm mở mang trí tuệ.
Vừa
qua, ở Mỹ xảy ra nạn những đứa học trò cầm súng bắn
xả vào bạn học. Chúng bắn giết không vì động cơ ích
kỷ hay trả thù, cũng không muốn cướp tài sản của ai, chỉ
thích bắn giết cho vui rồi lại kê súng bắn vào đầu mình.
Những kiểu văn hóa như vậy thực chất là một sự đổ
vỡ lớn. Văn hóa của Tây phương, cái gọi là tự do của
Tây phương không phải là chỗ dựa cho nhân loại vì dần
dần nó đã tạo nên những “con bệnh” nguy hiểm. Nó tiêu
diệt lại chính nhân loại, làm hủy diệt nhân cách và gây
tai họa cho cộng đồng.
Thế
giới còn nhiều điều suy đồi, còn nhiều việc chưa tốt
như thế, chúng ta không được phép chỉ nghe cho biết, nghe
cho vui mà phải tự hỏi mình sẽ làm được điều gì cho
con người. Chính những băn khoăn đó làm cho chúng ta có chí
nguyện. Từ nay, chúng ta luôn ý thức rằng mình không được
sống cuộc đời nhàn rỗi. Tăng sĩ sống nhàn rỗi là có
lỗi lớn với chúng sinh. Ngoài những chí nguyện, những đạo
đức, chúng ta còn phải cố gắng tu tập. Thời gian tu tập
là giai đoạn quan trọng chuẩn bị cho chúng ta một bản lĩnh,
một đạo lực để làm được những việc lớn lao mà mình
hằng mong ước. Người không có bản lĩnh khó làm nên việc
lớn. Với chúng ta, bản lĩnh ấy có được nhờ sự tu tập
chuyên cần trong suốt một thời gian dài.
Theo
dòng lịch sử, chúng ta thấy cả một thời gian dài từ cuối
đời Trần cho đến thời Pháp thuộc, Phật giáo Việt Nam
trở nên thụ động, kém sinh khí và suy yếu. Dĩ nhiên, có
nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng đó nhưng một trong những
nguyên nhân quan trọng là do Tăng sĩ thích nhàn rỗi, thích
đánh cờ tướng, tiêu dao, dạo chơi, chăm sóc cây cảnh non
bộ, đối đáp thơ ca vv… Ngày trước, khi phương tiện đi
lại còn khó khăn nhưng nghe ở đâu có cảnh đẹp, quý Thầy
cũng vác tay nải đi bộ đến đó chơi, thăm Thầy, thăm huynh
đệ. Việc ấy rất mất thời gian của người tu. Nghĩ sâu
xa hơn, tu sĩ sống đời nhàn nhã, thích tiêu dao:“nhất bát
thiên gia phạn, cô thân vạn lý du”, cứ ôm bình bát đi chơi
như vậy là thiếu trách nhiệm với cuộc đời, với Phật
pháp.
Hiện
nay, ở một số chùa, các Tăng sĩ thỉnh thoảng cũng tổ chức
đi chơi, đi hành hương nơi này nơi khác. Điều này hoàn toàn
không nên. Chúng ta chỉ đi khi có việc cần thiết cho chùa,
cho Giáo hội, còn những cuộc đi chơi vô bổ phải hạn chế.
Làm bất cứ việc gì, trước hết chúng ta phải nghĩ
đến lợi ích chung, đừng bao giờ thỏa mãn sự ham thích
của mình. Mặc dù vẫn biết đi du lịch là một nhu cầu thật
sự của con người nhưng chúng ta đừng phí thời gian và tiền
bạc vào việc đó.
Đối
đáp thơ ca cũng vậy. Trong chúng ta, có nhiều người rất
thích làm thơ và làm thơ rất hay. Tất nhiên, đó cũng chỉ
là những bài thơ nói về đạo, ca ngợi thiên nhiên, non nước…
nhưng việc làm ấy vừa không thiết thực vừa rất mất thời
gian. Chúng ta chỉ làm thơ khi nào có nhu cầu phục vụ cho
mục đích chung hoặc chỉ viết những bài tụng bằng thơ
để Phật tử dễ nhớ, dễ tụng. Nghĩa là làm việc gì,
chúng ta cũng phải nghĩ đến lợi ích của người khác, đừng
bao giờ nghĩ làm để giải trí cho vui.
Nói
đến việc quý thời gian, sống vì người khác, chúng ta vẫn
quý câu chuyện về ngài Dương Kỳ. Chúng ta biết, Tông Lâm
Tế truyền đến ngài Từ Minh thì tách ra làm hai nhánh. Ngài
Từ Minh truyền được hai đệ tử xuất sắc là ngài Hoàng
Long Huệ Nam và ngài Dương Kỳ Phương Hội. Nhưng ngài Dương
Kỳ là sự truyền thừa chính, còn ngài Hoàng Long là nhánh
rẽ mặc dù sự chứng đắc của hai vị bằng nhau. Đọc câu
chuyện, chúng ta mới hiểu vì sao ngài Từ Minh truyền cho ngài
Dương Kỳ.
Ngài
Dương Kỳ đắc đạo nổi tiếng nhưng nơi ở cực kỳ đơn
sơ, mái lá dột nát đến nổi mùa đông tuyết bay vào phủ
đầy giường, Ngài phải chịu lạnh lẽo. Cảm thán trước
cảnh này, Ngài đã làm một bài thơ:
Dương
Kỳ xạ trú ốc bích sơ
Mãn
sàng tận tản tuyết trân châu
Xúc
khước hạgn ám ta hu
Phiên
ức cổ nhân thọ hạ cư.
Dịch
nghĩa: Dương Kỳ ở tạm mái nhà tranh đơn sơ. Tuyết phủ
đầy giường lấp lánh như ngọc châu. Co gối gục đầu thầm
than thở. Nhung nhớ người xưa dưới cội cây. ( Người xưa
ở cội cây là Đức Phật). Một cư sĩ thấy vậy đến xin
cất lại ngôi thất đang dột nát cho Ngài, Ngài hỏi:
- Ông
đã ngộ đạo chưa?
Cư
sĩ trả lời:
- Dạ
thưa Hòa Thượng, chưa.
- Chưa
thì đâu có thời giờ cất thất cho ta.
Một
vị Hòa Thượng nổi danh, phước lớn vô kể mà không chịu
cất lại nơi ở của mình cho đàng hoàng vì quý thì giờ
tu tập của người khác mặc dù người đó chỉ là cư sĩ
(chưa phải là tu sĩ). Ngài quý sự tu hành của người khác
như vậy. Đó là tâm hy sinh, là thái độ tận tụy vì người
rất đáng trân trọng.
Người
xưa sống như vậy đó. Họ rất quý thời gian tu hành. Họ
không sống vì mình mà lúc nào cũng muốn làm việc gì đó
cho người khác. Không những bản thân mình không phí thời
gian, họ cũng không cho phép người khác phí thời gian mà muốn
cho mọi người xung quanh mình thiết tha tinh tấn tu hành để
được ngộ đạo, để được giải thoát.
Trong
Thánh kinh của Do Thái giáo (kinh Cựu ước) có một ngày nghỉ
gọi là ngày sabbath. Theo truyền thuyết của Thánh kinh, lúc
đó Đức Chúa Trời tạo dựng ra thế giới loài người trong
sáu ngày, nghĩa là từ lúc tạo nên trời đất cho đến khi
hoàn chỉnh ông Adam và bà Eva là sáu ngày, ngày thứ bảy là
ngày nghỉ. Ngày đó, người Do Thái gọi là ngày sabbath, ngày
nghỉ của Chúa. Theo ý nghĩa thiêng liêng đó, mọi người
theo Do Thái giáo đều phải nghỉ ngày sabbath, ngày thứ bảy
trong tuần. Bây giờ, người Do Thái vẫn tranh thủ nghỉ ngày
thứ bảy, không ai được đi làm trong ngày này. Chúa Jésus
hôm đó bận chữa bệnh cho người khác, những người theo
đạo Do Thái đến làm khó dễ Ngài. Ngài nói :“ Cha của
ta là Thiên Chúa trên trời không bao giờ nghỉ ngơi, cho nên
ta cũng không bao giờ được nghỉ ngơi”.
Chúng
ta không đủ đạo nhãn để nhìn suốt ba ngàn thế giới,
nhìn suốt các tầng trời để xem Thiên Chúa có ý nghĩa gì
mà không bao giờ được nghỉ ngơi. Chúng ta chỉ hiểu rằng,
Thiên Chúa mà Chúa Jésus nói cũng như những vị Thiên Tử
giáo hóa cho các Bồ Tát và không chỉ giáo hóa ở cõi trời
Đẩu Xuất mà Ngài còn hóa hiện trong vô lượng cõi nước
khác để làm lợi ích cho chúng sinh. Những hóa thân như vậy
đúng là không bao giờ được nghỉ ngơi. Còn Vua cõi trời
như Trời Đế Thích hay Trời Phạm Thiên cũng không bao giờ
nghỉ ngơi. Thần lực và lòng từ bi của các Ngài phủ trùm
chúng sinh, lúc nào cũng lo toan bận rộn, sắp xếp công việc.
Điều này hoàn toàn không giống như hình ảnh mà Tề Thiên
Đại Thánh đã nói : “Ông trời ngồi nhìn các tiên
nữ múa hát”. Các Ngài đều là những Bồ Tát luôn luôn
siêng năng, luôn luôn bận rộn và giàu lòng tận tụy. Chúng
ta chưa đủ đạo nhãn để biết được công hạnh của một
đại Bồ Tát vĩ đại như thế nào, liên tục như thế nào,
chỉ tạm hiểu câu nói của Chúa Jésus như vậy. Nhưng rõ
ràng, Ngài đã phá cái chấp của người Do Thái giáo, không
chấp nhận ngày sabbath họ đặt ra. Vì người có Đạo đức
là người tận tụy, không bao giờ nghỉ ngơi. Chúa Jésus cũng
là người như vậy.
3.
TU NGHĨA LÀ LÀM VIỆC, LÀM VIỆC NGHĨA LÀ TU.
Tại
sao lại nói tu nghĩa là làm việc, làm việc nghĩa là tu ?
Chúng
ta biết rằng, làm việc là hành động tượng trưng cho những
gì nhọc nhằn cực khổ. Tu là việc của nội tâm. Đó cũng
là những công việc nhọc nhằn như tọa thiền, quán từ bi,
niệm Phật, tìm lỗi trong tâm…Nhìn bên ngoài, chúng ta thấy
có vẻ nhàn rỗi nhưng bên trong lại rất vất vả, khác với
cái nhàn rỗi của người không biết tu. Chẳng hạn, những
người tu ngồi thiền bất động tưởng như không làm gì
nhưng sự thật họ rất cực khổ. Ai đã từng ngồi thiền
sẽ hiểu được nỗi vất vả, cực khổ ấy. Từng giờ,
từng phút người tu phải vất vả chiến đấu với vọng
tưởng, lúc tâm vào được định, khi tâm lại bị loạn.
Hoặc
khi tu tập quán Từ bi, người tu không những quán trải lòng
thương yêu tất cả chúng sinh khi ngồi thiền mà trong đời
sống cũng quán như vậy. Những điều đó chỉ diễn ra âm
thầm trong tâm, không ai nhìn thấy nhưng rất cao cả, rất
vất vả. Sự cực khổ, nhọc nhằn đó chúng ta cũng gọi
là làm việc. Hoặc một người niệm Phật, từng giờ từng
phút đều giữ câu niệm Phật trong tâm mình cho vững với
một lòng tôn kính. Những điều đó cũng rất vất vả. Chỉ
có những người đã từng tu tập cực khổ vất vả mới
biết kính trọng người tu. Những người chưa tu thường nhìn
người tu với ánh mắt khinh thường vì nghĩ rằng họ không
làm việc gì cả, suốt ngày chỉ tụng kinh gõ mõ chờ Phật
tử đến cúng dường.
Tương
tự như vậy, chiến đấu với lầm lỗi của bản thân mình
cũng là việc rất ghê gớm. Như đã biết, mỗi người chúng
ta ai cũng mang đầy lầm lỗi và vượt qua những lầm lỗi
ấy trong cuộc đời không phải là điều đơn giản. Vậy
mà những người tu phải từng bước đi sâu vào tâm linh,
tìm cách vượt qua những lỗi lầm của chính mình. Vì vậy,
chúng ta phải biết kính trọng người tu. Sự vất vả tu tập
đó của người tu chúng ta gọi là làm việc.
Người
tu không được lãng phí thời gian. Chính những giây phút chiến
đấu trong tâm là sự chuẩn bị cho những bài pháp tuyệt
vời về sau. Khi lớn lên, chúng ta có thể đem giáo pháp của
Phật rao giảng, giáo hóa khắp nơi. Nhưng đừng nghĩ rằng
đó là kết quả do chúng ta học được từ sách vở. Thực
ra, để nói lên những giáo pháp vi diệu của Phật, chúng
ta phải trải qua quá trình tu tập, tích lũy, chiến đấu với
nội tâm của mình, thấy được những lỗi lầm của mình
trong từng giờ, từng phút ngày hôm nay.
Có
những người kém duyên phước, không được học nhiều vì
hoàn cảnh khó khăn nhưng họ vẫn tự đọc sách và tu. Họ
luôn cố gắng tìm lỗi của mình. Mỗi bước tu, họ nhìn
thêm được một số lỗi và trong tâm luôn mong người khác
đừng vướng phải lỗi của mình, mong cho người khác vượt
qua được lỗi lầm như mình đã vượt qua. Khi vượt qua lỗi
gì đó, họ có kinh nghiệm và có thể giúp được người
khác thoát được lỗi lầm như mình. Chỉ với một tấm lòng
chân thành thương yêu và biết lỗi như vậy mà họ đã thành
công, có thể đem giáo pháp đến cho nhiều người khác.
Nói
như vậy để chúng ta thấy rằng, bên cạnh học để bồi
bổ kiến thức, chúng ta phải hết sức nỗ lực tu hành trong
tâm, từng giờ từng phút chiến đấu để nội tâm tăng trưởng
từ bi, khiêm hạ. Sau này, những lời chúng ta nói ra sẽ trở
thành bài pháp vi diệu, có sức thuyết phục người khác phải
tu hành theo mình. Chính vì thế, chúng ta gọi tu nghĩa là làm
việc. Sự vất vả bên trong của người tu không ai thấy nhưng
sẽ tạo thành cái Quả, sau này có thể chuyển hóa được
thế gian.
Vì
thế, không phải ngẫu nhiên mà trong một bài thơ tặng Thầy
mình nhân dịp cùng Thầy về thăm quê cũ, một đệ tử đã
xúc động viết:
Người
đứng đó bình an và thanh thản
Dưới
bóng cây từng che mát tuổi thơ
Mảnh
đất xưa thời bé nhỏ dại khờ
Người
đã sống suốt quãng đời niên thiếu
Ôi
đáng quý mảnh đất này kỳ diệu
Đã
nâng niu thời hoa mộng của Người
Để
hôm nay vang mãi khắp nơi nơi
Thành
bất tuyệt pháp âm trần nhân thế.
( Chơn Quang )
Lời
thơ cũng nhắc nhở chúng ta phải quý những giờ phút tu hành
vất vả trong tâm để sau này thành “bất tuyệt pháp âm
tràn nhân thế”.
Còn
làm việc tức là tu là chúng ta làm việc vì người khác chứ
không phải vì bản thân mình. Những việc làm ấy cũng nhọc
nhằn vất vả. Khi làm việc, người nhỏ có thể làm công
quả trong chùa, làm với lòng vị tha hy sinh. Người lớn có
thể làm công quả cho Giáo hội, cho lợi ích của chúng sinh.
Tất cả đều làm việc không mệt mỏi, đều chịu cực khổ,
tận tụy vì người khác.
Động
cơ để mỗi người làm việc luôn luôn là động cơ vị tha,
hy sinh cúng dường. Đó chính là hạnh phúc chân thật. Nếu
tu là làm việc, là chịu cực khổ để sau này biến thành
những bài pháp chuyển hóa thế gian thì làm với động cơ
vị tha (nghĩa là tu ) cũng có quả báo của nó. Sau này, chính
đời sống vị tha sẽ làm tâm mình vào định. Chúng ta biết,
sức định ở trong tâm là do phước tạo thành, mà phước
có được là do đời sống vị tha. Trên thế gian này không
có một phương pháp nào có thể giúp người tu đạt được
điều vi diệu: tâm lúc nào cũng tỉnh giác, cũng sáng tỏ.
Chỉ có một yếu tố duy nhất có thể làm được điều đó
là phước. Nghĩa là chúng ta phải sống như thế nào để
tạo phước cho đủ. Khi đã đủ phước thì bất cứ
pháp môn nào cũng có thể làm cho chúng ta tỉnh giác thường
xuyên, không bị mất đi. Khi đủ phước, chúng ta niệm Phật,
tâm sẽ vào trong định; hoặc nếu nhiếp tâm trong hơi thở,
tâm cũng sẽ định trong hơi thở.
Chúng
ta phải hiểu, gốc ở đằng sau là phước nhưng nói đến
phước là phải nói đến tội. (điều này đã được nói
đến trong bài Hối hận). Cho nên, người hết tội, tăng được
phước thì tâm sẽ dễ dàng vào định. Nhưng làm thế nào
để hết tội? Sám hối là cách tốt nhất giúp chúng ta hết
tội. Nhiều người tu chỉ để ý các pháp môn cao siêu, coi
thường việc sám hối. Thực ra, sám hối rất quan trọng,
nhất là sám hối đúng lỗi của mình. Mọi người đều có
lỗi và lỗi thường không giống nhau. Vì vậy, người nào
thấy mình bị sân, cứ sám hối sân; người nào có tội tham,
cứ nhắm đến tham mà sám hối; người kiêu mạn, cứ nhân
sự kiêu mạn mà sám hối… Cứ như thế, khi hết lỗi, tâm
sẽ dần dần vào định.
Song
song với việc sám hối lỗi lầm, chúng ta vẫn tạo phước.
Chính đời sống vị tha, làm việc tận tụy, vất vả vì
người khác, đem lại lợi ích an vui cho người khác sẽ biến
thành một kết quả giúp chúng ta xuất hiện định ở trong
tâm. Như vậy gọi là làm tức là tu.
4.
LÀM MÀ KHÔNG LÀM.
Đây
là ý rất cao siêu. Làm mà không làm nghĩa là tuy làm lụng
cực khổ nhưng chúng ta vẫn thấy như không làm gì cả. Chúng
ta phải tránh tư tưởng cậy công hay chấp công. Có thể chúng
ta rất siêng năng, tận tụy làm việc cho người khác nhưng
làm rồi cứ nhớ mãi và nói cho mọi người biết công lao
của mình, tâm chấp công sẽ dần dần tăng lên. Càng làm
được nhiều bao nhiêu, sự chấp công của chúng ta càng tăng
lên bấy nhiêu. Chấp công sẽ tạo ra kiêu mạn và qua kiếp
sau xuất hiện hai quả báo: Điều làm lợi cho người khác
sẽ đem lại vinh quang, nhưng kiêu mạn đem đến cho chúng ta
sự hống hách, kiêu ngạo, tự cao, coi thường người khác…Tất
cả những điều ấy chuẩn bị cho một sự đổ vỡ ở nhiều
kiếp sau. Điều này rất nguy hiểm.
Như
vậy, làm mà thấy mình có làm là một cái họa. Tuy có phước
trước mắt nhưng đổ vỡ, đau khổ, hèn kém sẽ chờ đợi
mình ở nhiều kiếp sau. Thực ra, không cần đến nhiều kiếp
sau, ngay trong kiếp này, nếu cứ chấp công, làm gì cũng nhớ
công, tâm cứ khoe công mình thì quả báo cũng xảy ra ngay.
Chúng ta sẽ bị rơi vào một hoàn cảnh nào đó: hoặc bị
đau ốm, hoặc bị một tai nạn bất ngờ…để không thể
làm việc được nữa. Lúc ấy, chúng ta chỉ có thể nhờ
vào người khác để trả lại tư tưởng chấp công của mình.
Tư
tưởng cậy công nguy hiểm như vậy nên chúng ta cần phải
tránh. Có hai cách giúp chúng ta tránh tư tưởng cậy công,
làm mà vẫn không thấy mình làm gì. Cách thứ nhất là làm
mọi việc nhưng lúc nào chúng ta cũng giữ chánh niệm trong
công việc. Nếu lúc nào cũng giữ tâm trong chánh niệm, trong
chánh định thì tự nhiên chúng ta làm mà không thấy mình
làm. Điều này rất vi diệu, lạ lùng không thể giải thích
được.
Ví
dụ, một ngày nào đó, trong chùa có việc, quý Phật tử vào
làm công quả: nấu cơm, chẻ củi, dọn dẹp… nhưng khi làm
việc lúc nào cũng giữ câu niệm Phật trong tâm. Những người
như vậy có phước sẽ vào định luôn. Hoặc có khi cả ngày
chúng ta làm việc vất vả nhưng khi có người hỏi ngày nay
làm được việc gì, ngẫm nghĩ mãi cũng thấy mình làm gì
đó nhưng tự nhiên không thấy mình có làm nữa. Đây không
phải là đạo lý gì cao siêu mà do định đã đạt được
nên tự nhiên như vậy. Cái định thật vi diệu! Chính Đức
Phật chúng ta từng thuyết pháp suốt cuộc đời 45 năm, cuối
cùng cũng tự nhận: “ 45 năm ta chưa hề nói một lời”.
Nói như vậy vì Ngài đã thuyết pháp trong chánh định.
Vì
vậy, người giữ tâm trong chánh niệm, chánh định khi làm
việc, nói năng sẽ không có tư tưởng chấp công. Hiểu được
điều này, chúng ta cố gắng tận tụy làm lụng cho mọi
người nhưng phải giữ tâm tu hành, lúc nào cũng giữ tâm
trong thiền định, tùy theo pháp môn mình đang tu tập.
Cách
thứ hai để diệt trừ tâm cậy công, chấp công là chúng
ta phải tác ý suy nghĩ. Dù làm được việc, chúng ta cũng
nghĩ những điều mình làm được trong những năm tháng qua
chưa đáng gì so với chư Thánh, chư Phật, chư Bồ Tát. Các
Ngài trong vô lượng kiếp đã làm biết bao nhiêu điều đem
lại lợi ích cho chúng sinh. Nhờ suy nghĩ như vậy, chúng ta
không rơi vào tư tưởng chấp công, tránh được quả báo
về sau. Đó là hai cách giúp chúng ta tuy làm rất nhiều mà
vẫn không thấy mình làm điều gì hết.
Để
giữ được ý nghĩa của tận tụy, chúng ta cũng cần lưu
ý một điều là nên làm mọi điều một cách thầm lặng,
tránh tâm niệm muốn mọi người biết đến việc làm tốt
của mình. Có như vậy, công việc chúng ta làm mới được
bền bỉ. Nếu chấp công, lại không kín đáo, khoe khoang công
của mình cho người khác biết thì về lâu dài, chúng ta sẽ
không duy trì được việc làm phước của mình, tất cả sẽ
bị đổ vỡ. Vì thế, Tận tụy hàm nghĩa siêng năng nhưng
là sự siêng năng trong thầm lặng.
5.
VIỆC LÀM PHẢI ĐEM LẠI LỢI ÍCH THIẾT THỰC.
Tuy
tận tụy làm việc nhưng chúng ta phải xét xem việc làm đó
có đem lại lợi ích thiết thực cho mọi người hay không.
Có những việc làm cũng rất vất vả nhưng vô bổ, không
mang ý nghĩa, không đem lại lợi ích cho ai. Trên thực tế,
một số chùa còn mắc phải điều này. Xét cho kỹ, chúng
ta thấy trong chùa hiện nay còn tồn tại một số nghi lễ
rất vô nghĩa. Nói ra điều này có thể đụng chạm đến
một số chùa, một số Thầy nhưng chúng ta cũng không nên
tránh né. Nhất là thế hệ đi sau, chúng ta phải nhìn vào
thực tế để có ý thức sửa đổi.
Thử
xét qua ý nghĩa của một số nghi lễ trong đạo Phật, chúng
ta sẽ thấy nghi lễ nào cần thiết và nghi lễ nào không cần
thiết. Trước hết là lễ khánh thành chùa. Lễ được tổ
chức sau khi chùa đã xây cất hoàn chỉnh. Thông thường, các
chùa tổ chức lễ khánh thành với ý nghĩa tạ ơn sự giúp
đỡ của mọi người. Đây là nghi lễ có ý nghĩa, các chùa
nên tổ chức. Cất được một ngôi chùa là nhờ sự đóng
góp của rất nhiều người. Khi chùa đã cất xong, đây là
dịp quý Thầy mời mọi người gặp mặt như là một sự
tạ ơn.
Thứ
hai là lễ đặt viên đá đầu tiên. Một số chùa tổ chức
lễ này khi chùa mới bắt đầu đặt viên đá đầu tiên.
Đây là lễ cầu nguyện chư Phật gia hộ cho công trình sẽ
được viên mãn, đồng thời cũng có ý thông báo rộng rãi
cho mọi người biết để góp phần ủng hộ.
Nhiều
chùa tổ chức hết lễ này đến lễ khác khiến Tăng Ni chúng
trong chùa chuẩn bị, lo toan quá cực khổ. Chỉ riêng việc
dọn dẹp, mượn bàn ghế, chuẩn bị chén đũa, đi chợ nấu
ăn… cũng đủ làm mọi người quay đến chóng mặt. Lễ quả
thật có đông vui nhưng quá vất vả. Nếu chùa cứ tổ chức
hết lễ này đến lễ kia, cực khổ mất thời gian như vậy,
trong nhân quả, người Trụ trì sẽ bị tổn phước rất nặng.
Vì chính người Trụ trì đã làm cho chúng trong chùa mình mất
thời gian tu học, chạy theo nghi lễ hình thức, không có chiều
sâu.
Người
thế gian cũng bị những tục lệ, những lễ lộc rất tốn
kém chi phối, nhất là trong việc tổ chức đám cưới. Họ
thường thích làm đám cưới rình rang để rồi đôi bạn
trẻ phải trả nợ ba, bốn năm chưa hết. Họ đâu biết rằng,
đám cưới linh đình không phải là điều kiện để bảo
đảm trăm năm hạnh phúc cho lứa đôi. Hạnh phúc trăm năm
có được là do đạo đức, tình thương yêu cùng với duyên
nợ nhiều kiếp đem lại.
Hiện
nay, việc đi cứu trợ, làm từ thiện ở một số nơi vẫn
còn mang tính hình thức. Một số người tổ chức đi cứu
trợ mà tiền vật dụng ít hơn tiền xe. Như vậy là không
thực tế, có tính phô trương, khoe khoang. Việc đi cứu trợ
nặng về hình thức như thế chưa biết có tạo được phước
hay không nhưng trước mắt chỉ thấy đó là sự phí phạm.
Vì vậy, làm việc gì, chúng ta cũng phải suy nghĩ, cân nhắc.
Phải hiểu rằng, chúng ta tận tụy, siêng năng là vì lợi
ích thiết thực cho con người chứ không vì hình thức.
Tóm
lại, chúng ta tận tụy làm lợi ích cho người khác phải
xét trên hai phương diện chính: nâng cao Đạo đức cho con
người hoặc giúp con người đạt sâu vào trong Thiền định.
Chẳng hạn, giáo dục trẻ em đường phố chúng ta cũng nhằm
tăng trưởng được Đạo đức cho các em. Hoặc đến giúp
đỡ người già chúng ta cũng kết hợp khuyên các cụ niệm
Phật tu hành để được yên ổn cho đời này, đời sau. Đó
mới là những việc làm thiết thực trong cái nhìn của đạo
Phật. Nếu đi xa quá hai mục đích đó, chúng ta phải xét
lại. Không cẩn thận, sự siêng năng tận tụy của chúng
ta sẽ đi xa Phật pháp, trở thành những việc làm hình thức,
vô nghĩa.
6.
QUÝ THỜI GIỜ.
Ngạn
ngữ phương Tây có một câu rất hay :
Mất
tiền bạc là mất ít
Mất
thời gian là mất nhiều
Mất
sức khoẻ là mất tất cả.
Thời
gian đối với con người và vạn vật quý giá vô cùng. Vì
thời gian đã qua đi, không bao giờ trở lại. Qua câu chuyện
của ngài Dương Kỳ, chúng ta thấy Ngài rất quý thời gian,
luôn dành thời gian cho sự tu học. Vì vậy, chúng ta cũng phải
biết quý thời gian. Trong mọi lúc, mọi nơi, chúng ta phải
tận dụng thời gian để tu học, để làm việc, đừng bao
giờ để thời gian trôi qua trong lãng phí. Chúng ta phải luôn
luôn ý thức được nhiệm vụ của mình. Ngay cả những lúc
mệt mỏi, không thể làm việc tay chân được nữa, chúng
ta nằm nghỉ ngơi nhưng vẫn giữ câu niệm Phật, không để
phí phạm thời gian. Đã là người tu, chúng ta không bao giờ
chấp nhận tình trạng bên trong tâm không tu, bên ngoài lại
không có việc gì làm. Có thể lúc nào đó, bên ngoài không
làm gì nhưng bên trong chúng ta vẫn kiểm soát tâm, không được
để giây phút nào trống trải. Điều cấm kỵ đối với
người tu là để rơi vào tình trạng trống trải, chán chường
phải tìm đến đối tượng nào đó để tâm sự. Nếu để
cho lòng cảm thấy trống trải, không biết phải làm gì là
chúng ta đã có sai lầm trong bổn phận của một tu sĩ.
Để
tận dụng mọi thời gian cho việc tu học, chúng ta cố gắng
tránh những nghi thức rườm rà, mất thì giờ. Đạo Phật
thường có lễ trai Tăng. Thực ra, nghi lễ này không cần thiết.
Vì quý Phật tử cúng dường trai Tăng làm mất rất nhiều
thì giờ của quý Thầy. Có khi ở rất xa nhưng được Phật
tử mời, quý Thầy cũng phải về dự lễ trai Tăng. Nếu dành
thời gian đi lại đó cho việc khác, chúng ta sẽ làm được
nhiều việc có ý nghĩa. Ông bà ta chẳng nói: “Ăn một bữa
giỗ lỗ ba bữa cày”đó hay sao? Sở dĩ đạo Phật thích
làm lễ trai Tăng vì cho rằng trai Tăng cúng dường là có phước.
Thực ra, phước chưa thấy nhưng e rằng có tội vì đã làm
quý Thầy nhọc nhằn, mất thời gian tu học. Trong hoàn cảnh
bây giờ, thực tế nhất là quý Phật tử nên đem đến chùa
cúng. Tiền gạo dù ít, dù nhiều cũng quý lại không làm mất
thì giờ quý Thầy. Làm như vậy sẽ có phước hơn.
Tất
nhiên, đối với những nghi lễ cần sự trang trọng để in
sâu vào lòng người những ấn tượng, ý niệm tốt lành nào
đó, chúng ta phải tổ chức đàng hoàng, không được sơ sài.
Vì nếu tổ chức sơ sài, chúng ta sẽ mang tội. Ví dụ, lễ
quy y cho Phật tử là lễ quan trọng, các chùa không được
tổ chức sơ sài. Vì giờ phút quy y là giờ phút người ta
bước vào cuộc sống mới, trở thành đệ tử Phật. Buổi
lễ quy y phải có một ý nghĩa trang trọng, thiêng liêng; phải
đem lại một ấn tượng tốt đẹp để họ ghi nhớ suốt
đời. Tuy nhiên, nhiều chùa lại tổ chức lễ quy y rất sơ
sài. Điều này sẽ khiến không ít người có cảm giác những
chùa ấy muốn ghi danh sách Phật tử vào chùa cho đông. Vậy
thôi. Vì có trường hợp, Phật tử quy y rồi nhưng hỏi Pháp
danh gì lại không nhớ. Hỏi ra mới biết, người ấy có người
quen vào chùa ghi tên quy y hộ, hôm sau lại gửi cho lá phái
nên họ chẳng có chút ấn tượng gì về việc quy y.
Hoặc
buổi lễ xuất gia cũng vậy. Đây là bước ngoặt quan trọng
đối với cuộc đời một con người. Quyết định xuất gia
là người ta từ giã gia đình, bạn bè, người thân; từ bỏ
những mơ ước của một thời tuổi trẻ để bước vào cuộc
sống tu hành. Bổn phận của họ là phải tu hành cho tốt,
đem lại lợi ích cho chúng sinh. Từ giây phút này, họ không
còn là một người thế gian vất va vất vưởng nữa, không
còn là đứa con hoang lang thang trong luân hồi vô tận nữa.
Từ đây, họ có được vị Cha lành – một bậc Thầy vĩ
đại, có chư Tăng để nương tựa, có Giáo pháp để học
hỏi. Vì vậy, các chùa phải tổ chức sao cho không quá rườm
rà nhưng thật có ý nghĩa để người ta phải nhớ bổn phận
của mình suốt đời.
Vì
thời gian là vốn quý nhất của con người nên chúng ta phải
biết tiết kiệm, biết tận dụng thời gian. Người phí thời
gian sẽ không sống thọ (mặc dù biết rằng thọ mạng còn
do nhiều nguyên nhân khác ). Điều này cũng dễ hiểu. Vì theo
quy luật Nhân Quả, chúng ta “phí cái gì sẽ mất cái đó”.
Ví dụ, những người thường quen nấu cơm thừa mứa rồi
đổ bỏ sẽ bị quả báo. Nhiều khi phước còn đó nhưng
có lúc rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vẫn phải bị đói.
Còn khi đã hết phước thì sẽ rơi vào cảnh nghèo đói, không
làm ra tiền bạc, thậm chí đi xin cũng không ai cho. Vì vậy,
nếu ăn cơm còn dư, không có ai để cho, xung quanh cũng chẳng
có chó, mèo, heo, gà, chúng ta cũng phải tìm cách đem cho chim,
chuột ăn. Mặc dù hành động cũng giống như đem đổ nhưng
bên trong, chúng ta không có tâm đổ bỏ, luôn nghĩ là đem
cho chim, chuột ăn. Tâm như vậy là tâm bố thí, sẽ không
có tội và không mắc quả báo.
Trong
thời đại ngày nay, nhiều người khi có chức có quyền, làm
ra tiền như nước đã không ngại vung tiền qua cửa sổ. Họ
đắm chìm trong những cuộc nhậu thâu đêm, những cuộc chơi
bời trác táng. Có khi họ uống một chai rượu Tây bằng cả
gia tài của một người lao động nghèo khổ. Có khi tàn một
cuộc vui, họ đã lãng phí hàng mấy chục triệu đồng. Trong
khi đó, số tiền này là giấc mơ cả một đời của những
người nghèo khổ. Chỉ cần có nó, một người nghèo có thể
gầy vốn làm ăn để thay đổi cuộc đời mình. Chưa kể,
trong lúc hào hứng, những tay Giám đốc giàu có ấy có thể
boa cho những cô tiếp viên hàng trăm dolla. Những việc làm
đó quá sức phí phạm. Và quả báo đã xảy ra ngay trong hiện
tại. Không ít những vị đã có kết cục là “tay trắng
trắng tay” hoặc được nghỉ ngơi trong tù để có dịp hồi
tưởng lại những tháng ngày qua đã từng vẫy vùng trong thiên
hạ. Trong khi đó, người biết Đạo không bao giờ phí phạm.
Họ rất tiết kiệm nhưng lại rất rộng rãi. Khi cần thiết,
họ sẵn sàng bỏ tiền của ra để giúp người mà không hề
tính toán thiệt hơn. Có như vậy, họ mới giữ được phước
lâu dài.
Tương
tự như vậy, nếu ai phí thời gian thì sẽ bị quả báo là
thời gian không còn nữa. Không còn thời gian nữa có nghĩa
là không còn cơ hội tồn tại trên cõi đời này nữa. Những
người như vậy thường hay chết yểu. Tất nhiên, có nhiều
nguyên nhân dẫn đến chết yểu ( trong đó có nguyên nhân
do đời trước sát sanh nhiều ) nhưng nguyên nhân không kém
phần quan trọng là do phí thời gian nhiều quá nên những người
này không đáng sống nữa, thọ mạng chấm dứt sớm. Đây
cũng là điều rất lạ. Nói như vậy nhưng chúng ta cần hiểu
rằng, vấn đề không phải là sống lâu hay sống ngắn ngủi.
Điều cốt yếu là chúng ta chỉ mong được sống để làm
lợi ích cho người khác. Có những công việc cần thiết phải
làm để đem lại lợi ích cho Phật pháp, cho chúng sinh mà
chưa làm được thì chúng ta phải sống. Và để được phước
sống lâu, chúng ta đừng bao giờ phí thời gian, phải sống
cho hợp lý.
Trong
cuộc sống, chúng ta phải siêng năng làm việc, tận tụy vì
người khác. Tuy nhiên, phải khéo léo, đừng làm quần quật
để rồi kiệt sức, về sau không làm gì được nữa. Là
người hiểu Đạo, chúng ta biết thân này không phải của
mình. Khi đã chọn con đường tu hành thì thân này là của
Phật pháp, của chúng sinh. Trước đây, vì nghĩ thân này là
của mình nên chúng ta hoặc cung phụng nó quá đáng, hoặc
đày đọa nó quá đáng bằng cách làm quần quật để kiếm
tiền. Bây giờ, khi đã hiểu Đạo, có lý tưởng tu hành,
biết thương yêu tất cả chúng sinh, biết trân trọng gần
gũi Phật pháp, chúng ta cũng biết thân giả tạm này không
phải của mình nữa mà là của chư Phật. Cuộc đời chúng
ta từ đây đã đặt vào bàn tay của Phật, chúng ta chỉ là
tôi tớ của Phật. Do đó, chúng ta không được quyền cung
phụng hay đày đọa nó. Chúng ta phải đối xử với thân
mình một cách khéo léo để nó là một công cụ, phương tiện
giúp mình làm việc Phật pháp được lâu dài. Có như vậy,
chúng ta mới có thể làm những việc Đạo đức, những điều
lợi ích, đem lại hạnh phúc cho chúng sinh. Nghĩa là chúng
ta cũng làm việc, cũng hy sinh vì mọi người. Nhưng mọi việc
phải khéo léo, không quá đáng để giữ gìn công việc lâu
dài. Tất nhiên, công việc lâu dài đó không phải cho mình
mà vì Phật pháp, vì chúng sinh. Chúng ta luôn nhớ một điều,
động cơ sâu thẳm cũng là vì người khác nhưng biện pháp
xử lý đối với công lao, đối với sức khỏe như thế nào
cho hợp lý là một biểu hiện của sự khôn ngoan, của trí
thông minh.