BIẾT
ƠN
1.
BIẾT ƠN LÀ TÍNH CHẤT CỦA ĐẠO ĐỨC.
Sống
trên cuộc đời này, chúng ta đã chịu ơn rất nhiều người.
Nhưng đối với vấn đề ơn nghĩa, con người thường có
hai thái độ: Một là biết ơn ân nhân của mình và luôn nghĩ
đến chuyện đền trả. Hai là tỏ thái độ vô ơn.
Ở
đây, chúng ta thừa nhận một điều : Người biết ơn là
người có Đạo đức, còn người vô ơn là người không có
Đạo đức. Nhưng tại sao thái độ biết ơn là biểu hiện
thuộc về Đạo đức ? Phân tích rõ điều này, chúng ta sẽ
chọn cho mình một cách sống thích hợp.
Ngay
ở tiêu đề, chúng ta đã định nghĩa biết ơn là một tính
chất của Đạo đức. Để hiểu điều này, chúng ta phải
dựa trên một cơ sở lý luận. Trước hết, mỗi người là
sở hữu chủ của chính mình và phải tự lo cho bản thân
mình, tự chịu trách nhiệm với cuộc đời mình. Dẫu lâm
vào cảnh nghèo khổ, đói rách, không người giúp đỡ, chúng
ta cũng không có quyền trách bất cứ ai. Hoặc thấy người
hàng xóm đói khổ, chúng ta không quan tâm cũng chẳng ai trách
móc hay bắt tội mình. Đó là lý thường tình trong cuộc đời.
Nghĩa là trên nguyên tắc, điều đó không ai bắt buộc được
ai. Đây là một nguyên tắc căn bản. Nếu trong cuộc sống,
con nguời có sự san sẻ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn là
nhờ những nguyên tắc ứng xử giữa người với người khi
đạo đức xã hội phát triển.
Tuy
nhiên, trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng ta cũng tự
lo được cho mình một cách chu đáo. Có những lúc, thực sự
chúng ta không đủ sức để lo cho mình. Đó là những lúc
rơi vào hoàn cảnh hoạn nạn, ốm đau mà ngay đến những
việc đơn giản nhất trong sinh hoạt hằng ngày như ăn uống,
tắm rửa, giặt giũ…, chúng ta cũng không tự làm được.
Những lúc ấy, có người đến chia sẻ trách nhiệm đó với
mình hay nói đơn giản hơn là đến giúp đỡ mình, chúng ta
cảm thấy đó là điều rất quý. Khi quý trọng sự giúp đỡ
của người khác, trong chúng ta xuất hiện một tâm lí gọi
là biết ơn. Như vậy, biết ơn là quý trọng sự giúp đỡ,
là luôn nhớ đến ân nhân của mình với lòng quí mến và
mong có dịp đền ơn.
Từ
tâm lí đó, chúng ta có thể suy ra biết ơn cũng có nghĩa là
quý trọng lòng tử tế, sự hy sinh của người khác. Vì hành
động giúp đỡ của người khác đối với chúng ta là biểu
hiện của đức hy sinh, lòng tử tế. Người yêu thích sự
tử tế, xem trọng sự tử tế nghĩa là xem trọng tính thiện
của con người trong cuộc đời. Từ đó, chúng ta cũng
xuất hiện một tâm lý là chính mình sẽ cư xử tử tế với
người khác. Theo định nghĩa, Đạo đức là những khuynh hướng
tốt ở trong tâm, được biểu lộ ra bên ngoài trở thành
sự ứng xử tốt đẹp giữa người và người với nhau. Vì
vậy, biết ơn là tính chất của Đạo đức.
Trái
với lòng biết ơn là thái độ vô ơn. Vô ơn nghĩa là không
quý trọng sự tử tế, sự giúp đỡ của người khác đối
với mình. Chẳng hạn, một lần rơi vào cảnh khó khăn, thiếu
thốn, chúng ta được người khác giúp đỡ nhưng khi đã vượt
qua cơn khó khăn đó, chúng ta lại không quan tâm, không nhớ
đến, nghĩa là không quý trọng sự giúp đỡ của họ. Như
vậy, đối với sự tử tế trong cuộc sống, chúng ta đã
không trân trọng. Điều đó cũng có nghĩa là chính mình không
cần tử tế với ai. Vô ơn là thái độ trái với Đạo đức,
với lẽ phải nên thường bị người đời lên án, chỉ trích.
2.
CẢ MỘT ĐỜI TRĨU NẶNG ÂN NGHĨA.
Nhìn
lại quãng đời đã qua, chúng ta sẽ thấy mình mang nặng ơn
nghĩa của không biết bao nhiêu người. Trước hết, là ơn
của cha mẹ. Chúng ta sẽ bàn về vấn đề này sâu sắc hơn
trong đề tài Hiếu. Tuy nhiên, nói đến lòng biết ơn, chúng
ta không thể không nhắc đến ơn cha mẹ. Vì đây là công
ơn trời bể.
Cha
mẹ đã sinh ta ra, cho ta hình hài thể xác để đựợc làm
người trên cuộc đời này. Chỉ như thế thôi, công ơn ấy
đã không có gì so sánh được. Khi chúng ta chưa thể tự lo
cho mình, cha mẹ đã không quản sớm hôm, nhọc nhằn vất
vả để nuôi dạy chúng ta nên người. Ân nghĩa ấy không
thể cân đong đo đếm được. Dẫu có ví với “núi Thái
Sơn” hay “nước trong nguồn chảy ra” cũng không diễn tả
hết được công ơn “sinh thành dưỡng dục” của cha mẹ.
Nhiều người trong chúng ta bước vào con đường tu hành quá
sớm nên chưa thấm thía được công ơn của cha mẹ. Ngoài
đời, không ít người tâm sự khi đã có gia đình mới biết
thương cha mẹ. Khi có con, phải lo lắng, thức khuya dậy sớm
chăm sóc trong những hôm con trái gió trở trời, họ mới nhận
ra ngày xưa cha mẹ mình cũng vất vả như thế và càng thấm
thía hơn công ơn của cha mẹ.
Bây
giờ thử nghĩ lại, những lúc bị bệnh không giặt nổi quần
áo phải nhờ huynh đệ giặt giúp, chúng ta thấy cảm đôïng
và biết ơn vô cùng. Vậy mà, những việc ấy cha mẹ đã
làm giúp chúng ta cả hàng ngàn lần. Hoặc hôm nào đó lỡ
đường, bụng đói, được người khác tốt bụng, mời cơm
nước tử tế, chúng ta luôn biết ơn họ. Trong cuộc đời,
không biết đã bao nhiêu lần cha mẹ cho ta ăn no, mặc
đẹp. Từ lúc mới chào đời, chúng ta đã được cha mẹ
cho bú mớm, nâng niu để nên vóc nên hình. Ân nghĩa đó lớn
như trời bể. Chưa kể những lúc chúng ta ốm đau, mẹ cha
phải thức canh hôm sớm. Nếu một lần đi đường, lỡ bị
ngã chân đau không thể nào đi được và người nào
đó đã cõng chúng ta cả cây số đến trạm xá để cấp
cứu, chúng ta sẽ biết ơn họ vô cùng. Và cũng vì thế mà
chúng ta thấm thía hơn công ơn cha mẹ. Vì cả quãng đời
thơ ấu của mình, cha mẹ đã bồng ẵm, nâng niu, đã vất
vả biết bao nhiêu mỗi khi chúng ta đau bệnh. Viết bao nhiêu,
kể bao nhiêu cũng không hết được ơn nghĩa ấy.
Bây
giờ, có thể ký ức tuổi thơ trong mỗi chúng ta đã nhạt
nhòa theo năm tháng. Chúng ta không nhớ được tất cả những
hình ảnh ấy. Những lo toan, vất vả trong việc chăm sóc con
cái để gợi nhớ công ơn cha mẹ, chúng ta cũng không thể
trải qua. Nhưng chắc chắn ai cũng hiểu rằng, ơn nghĩa đó
không thể so sánh với bất kỳ ơn nghĩa nào khác. Nghĩa là
trong cuộc sống của chúng ta từ đây cho tới khi lìa khỏi
cuộc đời này, sẽ không bao giờ có một ân nghĩa thứ hai
nào có thể so sánh được với ân nghĩa của cha mẹ. Khi đã
trưởng thành, nhìn mái tóc pha sương của cha mẹ, chúng ta
mới thấm thía nghĩ rằng mái tóc ấy bạc là để tóc con
ngày một xanh hơn. Hay nhìn dáng mẹ cha gầy yếu, lưng còng,
chúng ta càng hiểu rằng lưng mẹ cha còng xuống là do đã
dành trọn sức lực của cuộc đời mình cho con khôn lớn,
trưởng thành.
Đúng
ra, chúng ta phải tự chịu trách nhiệm với cuộc đời mình
nhưng cha mẹ lại lo cho chúng ta từng ly, từng tí. Công ơn
đó lớn không sao tính kể được. Bởi vậy, chúng ta phải
biết ơn cha mẹ. Biết ơn là một trong những tính chất của
lòng Hiếu. Để làm tròn đạo Hiếu, con cái phải biết ơn,
đền ơn cha mẹ, kính thương, chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ
khi người tuổi cao sức yếu. Theo quan niệm Đông phương,
Hiếu có nghĩa là thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của người
con đối với cha mẹ. Trong tiếng Anh, người ta không có khái
niệm về chữ hiếu, chỉ có chữ obedient là ngoan, vâng lời,
dễ
bảo; hoặc chữ pious là ngoan. Vì vậy, có thể nói khái
niệm biết ơn cha mẹ của người Tây phương không sâu sắc
bằng người phương Đông chúng ta.
Người thế gian phải đền ơn cha mẹ bằng lòng hiếu. Còn
người xuất gia chúng ta đền ơn cha mẹ bằng cách nào? Người
thế gian còn sống với gia đình nên có trách nhiệm phải
lo cho cha mẹ lúc tuổi già để đáp đền ơn nghĩa. Nhưng
người xuất gia không còn cơ hội đó nữa. Vì chúng ta đã
từ giã gia đình vào chùa đi tu là nhận lấy trách nhiệm
đối với Phật pháp. Chúng ta được quyền không đền ơn
cha mẹ như cách của người thế gian, nghĩa là không cần
phải chăm sóc, phụng dưỡng. Tuy nhiên, chúng ta không được
quên ơn cha mẹ và phải luôn luôn có ý thức đền ơn theo
cách của người tu. Là người xuất gia, chúng ta đền ơn
cha mẹ bằng cách làm cho công lao của cha mẹ không dừng lại
nơi mình. Nghĩa là đem công lao tạo thành hình hài cho chúng
ta của cha mẹ biến thành sự tu tập, sự thương yêu, sự
lợi ích cho tất cả chúng sanh. Như vậy, công lao cha mẹ tạo
ra mình không còn dừng lại nơi mình mà trở thành lợi ích
cho toàn thể chúng sinh. Chúng ta làm cho cha mẹ có một phước
đức vô lượng vì đã may mắn tạo ra mình. Đó là sự đền
ơn vô cùng lớn lao.
Hiểu
như vậy, chúng ta phải cố gắng làm sao để trong cuộc đời
tu hành của mình có vô số chúng sinh được lợi ích. Nghĩa
là chúng ta sẽ tu học, thực hành cho tốt để sau này đem
Giáo pháp trang trải khắp nơi. Đó chính là cách đền ơn
cha mẹ có ý nghĩa nhất.
Nhắc
đến lòng hiếu của người xuất gia, chúng ta nhớ lại câu
chuyện về “Hòa Thượng Cua”. Ngày xưa, ở miền Bắc Việt
Nam có một gia đình nọ, người chồng chết, chỉ còn hai
mẹ con sống với nhau. Bà mẹ rất thích ăn cua, hay đi
bắt cua hoặc ra chợ mua cua về ăn. Một hôm, bà sai người
con đi bắt cua nhưng người con không chịu. Khi bà bắt cua
về, người con đem giỏ cua đổ đi vì thấy thương quá. Bà
giận con, rượt đánh nó. Cậu bé đâm đầu chạy trốn trận
đòn rồi đi luôn, không bao giờ trở lại. Qua trận đòn đó,
bà vô cùng hối hận và bỏ tất cả công việc để đi tìm
con. Bà lang thang ăn xin nơi này, nơi khác để mong tìm được
con mình, nhưng tin tức của con ngày một vắng. Ba, bốn chục
năm sau, bà đã già và cũng sống bằng cách xin ăn bên đường.
Một hôm, một vị Hòa thượng gặp bà và hỏi :
- Nhà
bà ở đâu? Tại sao bà ngồi đây ăn xin? Con của bà đâu?
Bà
già trả lời:
- Tôi
không có con. Tôi chỉ có một đứa nhưng một lần tôi giận
đánh, nó đã bỏ tôi đi và không bao giờ trở lại. Bao nhiêu
năm nay tôi vừa ăn xin, vừa đi tìm con nhưng chưa gặp.
Nghe
vậy, Ngài nói:
- Thôi,
bây giờ bà về chùa làm công quả, sống không nhà, không
cửa lang thang xin ăn như vậy rất khổù.
Bà
đồng ý và về chùa cùng Hòa Thượng. Ngài cho bà ăn chay,
mặc áo nâu sòng, chỉ công quả quét lá và niệm Phật vì
bà tuổi già, sức yếu. Một hôm, trước khi đi vắng, Ngài
dặn Tăng chúng trong chùa:
- Thầy
đi rồi có thể bà già mất. Nếu bà mất, các con đừng chôn,
quàn để đó chờ Thầy về.
Quả
thật, khi Ngài đi rồi, bà già đã qua đời. Vì có đạo nhãn
hay đã đắc đạo nên Ngài biết được cả quá khứ lẫn
vị lai. Khi Ngài về, xác bà cụ vẫn còn để đó. Ngài đứng
trước hòm và nói:
- Kinh
nói là khi một người thành Đạo thì cha mẹ bảy đời được
siêu sinh lên cõi trời. Nếu đúng như vậy thì mẹ Ngài phải
được sinh lên cõi trời. Nếu không đúng thì lời chư Phật
nói là dối.
Ngài
vừa nói xong, bà cụ hiện lên giữa hư không với hào quang
sáng chói, với hình ảnh của một thiên nữ. Bà nói ra những
điều kì lạ, chứng tỏ bà đã được sanh về cõi trời,
rồi biến mất. Lúc đó, Tăng chúng hiểu được hai điều:
Điều thứ nhất là Ngài đã thành Đạo. Điều thứ hai là
bà già làm công quả đó chính là mẹ Ngài. Vậy mà, lâu nay
Ngài đã giấu kín trong lòng, không nói cho ai biết.
Thực
ra, Ngài vẫn hiểu nỗi nhớ con, nỗi đau khổ tìm con trong
bao nhiêu năm qua của người mẹ. Nó ray rứt, thấm thía lắm.
Nếu biết đã tìm được con mình, chắc bà sẽ rất hạnh
phúc. Hạnh phúc ấy vô cùng lớn lao và không thể diễn tả
thành lời. Hiểu như vậy, đúng ra Ngài đã cho bà hạnh phúc
đó, đúng ra Ngài đã nói cho bà biết mình là con ruột của
bà. Là người có trí tuệ, Ngài hiểu rằng hạnh phúc đó
sẽ mang theo mầm họa. Khi biết bà là mẹ mình, Ngài không
thể nào bỏ rơi bà nên đã đem bà về chùa nuôi. Nhưng nếu
biết mình là mẹ của một vị Trụ trì, bà sẽ xuất hiện
lòng kiêu mạn, sẽ đối xử với Tăng chúng không đàng hoàng.
Từ trước đến nay, bà vốn không phải là người tu, là
người hiểu Đạo. Mấy chục năm qua sống lang thang ngoài
đường xin ăn, không biết gì đến việc tu tập, bây giờ
bất ngờ trở thành mẹ của một vị trụ trì danh giá, chắc
chắn tâm kiêu mạn của bà sẽ khởi lên. Chính tâm kiêu mạn
này sẽ làm cho bà thoái đọa về sau. Là người tu, Ngài thấy
rằng cho bà hạnh phúc tìm lại được con không quý bằng
giữ cho bà tâm khiêm hạ. Vì tâm khiêm hạ quý hơn những
hạnh phúc tạm bợ, nhỏ nhoi, ngắn ngủi đó. Nếu giữ được
tâm khiêm hạ khi có người con đi tu đắc đạo, sau này bà
sẽ được hưởng phước một cách trọn vẹn.
Qua
câu chuyện, chúng ta thấy trí tuệ của Ngài rất siêu việt.
Ngài luôn quý trọng Đạo đức, quý trọng tâm khiêm hạ.
Đồng thời, câu chuyện của Ngài cũng cho chúng ta thấy lòng
hiếu đặc biệt của người xuất gia. Đó là mong cho mẹ
mình được an vui lâu dài về sau chứ không chỉ đem lại
hạnh phúc tạm bợ nhỏ nhoi trong cuộc đời thường. Câu
chuyện cảm động về lòng hiếu của Hòa thượng Cua đã
đem lại cho chúng ta bài học quí báu. Chúng ta cũng sẽ cố
gắng tu hành đắc đạo, làm lợi ích cho chúng sinh để đền
ơn cha mẹ mình. Hiện tại, chúng ta phải biết giữ tâm khiêm
hạ vì nó quý hơn tất cả mọi hạnh phúc khác, mọi niềm
vui tạm bợ trên thế gian này.
Ngoài
việc chịu ơn cha mẹ, chúng ta còn chịu ơn anh chị, em trong
gia đình. Đó là những người gần gũi thân yêu nhất của
chúng ta. Trong suốt thời gian sống bên nhau dưới một mái
ấm gia đình, anh chị em đã thương yêu và thường xuyên giúp
đỡ nhau. Trong đó, những người em thường chịu ơn anh chị
nhiều hơn. Vì bao giờ cũng vậy, anh chị lớn tuổi hơn nên
phải chịu đựng, gánh vác nhiều trách nhiệm. Ông bà ta từng
dạy: “Làm chị lành, làm anh khó”. Bởi vậy, sự nâng đỡ
nhau của những người thân trong gia đình đã trở thành ơn
nghĩa lớn trong cuộc sống này mà mỗi chúng ta phải
luôn ghi nhớ.
Trong
quan hệ xã hội, chúng ta còn chịu ơn của nhiều người khác.
Trước hết, đó là ơn của thầy cô giáo. Đây cũng là ơn
nghĩa lớn. Ngày xưa, người Á Đông theo đạo Nho rất coi
trọng công ơn của người thầy. Họ đã đặt sự tôn trọng
theo thứ bậc : Quân – Sư – Phụ. Quân là Vua. Hiểu theo
bây giờ là những viên chức nhà nước, những người có
công điều hành đất nước, giữ gìn đất nước bình yên
để người dân có thể sống yên vui, yên tâm học hành, làm
việc. Với người dân, ơn bảo vệ sự ổn định cho đất
nước là một ơn nghĩa lớn. Hơn nữa, ngày xưa, người ta
tôn Vua lên hàng đầu còn vì quan niệm Trung quân. Người được
tôn kính thứ hai sau Vua là Sư- người thầy. Sau đó, mới
đến Phụ- người sinh thành ra mình. Đây là điều rất lạ.
Vậy,
tại sao người xưa lại coi công ơn thầy cô nặng hơn công
ơn cha mẹ ? Phân tích điều này, chúng ta mới thấy đựơc
sự sâu sắc trong cách nghĩ của người phương Đông. Quan
niệm như vậy vì người ta cho rằng công ơn sinh thành dưỡng
dục của cha mẹ đối với con cái không thể tính kể được
nhưng dẫu sao công ơn đó cũng mang ý nghĩa vật chất. Cha
mẹ cho chúng ta hình hài, nuôi chúng ta khôn lớn…. nhưng tất
cả những điều đó đều thuộc về vật chất. Còn thầy
cô cho chúng ta trí tuệ, đời sống tâm hồn. Đó là những
yếu tố thuộc về giá trị tinh thần nên có ý nghĩa lớn
lao. Thử nghĩ, nếu không biết đọc, biết viết, không được
dạy dỗ về lẽ sống, về cách cư xử…, chúng ta sẽ sống
như thế nào ? Chúng ta sẽ không hiểu biết gì về cuộc sống,
chúng ta tỏ ra hỗn láo với người lớn tuổi, sẵn sàng gây
gổ với mọi người. Lúc ấy, chúng ta không có một chút
giá trị nào vì giá trị của con người được đánh giá
trên khía cạnh tinh thần hơn là vật chất. Điều này được
biểu hiện qua trí tuệ, đạo đức, khả năng ứng xử với
mọi người. Người tu hành, người đệ tử Phật hay người
thế gian sống trong cuộc đời này đều cần những điều
ấy để làm tăng giá trị của mình. Bởi vậy, thân tuy quan
trọng nhưng giá trị tâm hồn, giá trị tinh thần còn quan
trọng hơn. Người Á Đông đã khẳng định điều đó. Đây
là điều rất sâu sắc, táo bạo mà người phương Tây không
nghĩ đến.
Nhưng
giá trị tinh thần ấy có được phần lớn là nhờ công ơn
dạy dỗ của thầy cô giáo. Nhờ được học hành mà chúng
ta có trí tuệ, hiểu sâu sắc những vấn đề về tự nhiên
- xã hội, biết nói năng lễ độ, biết cư xử đúng mực,
không xâm phạm đến quyền lợi của người khác vv... Chính
vì thế mà người phương Đông đã đặt công lao của người
thầy trên công lao của cha mẹ. Cho đến hôm nay, truyền thống
“Tôn sư trọng đạo”, “Uống nước nhớ nguồn” đều
được mỗi thế hệ người dân Việt Nam gìn giữ và phát
huy. Tuy nhiên, theo hệ thống giáo dục ngày nay, từ khi mới
chập chững vào trường cho đến khi thành tài, chúng ta đã
được rất nhiều thầy cô dạy dỗ, chăm sóc. Mỗi người
lớn lên đều mang theo biết bao nhiêu hình ảnh thầy cô trong
trái tim mình. Vì vậy, để bày tỏ lòng biết ơn đối với
tất cả những người đã dạy dỗ mình không phải là điều
đơn giản. Năm tháng qua đi, cuộc sống có biết bao thay đổi,
nhiều khi hình ảnh các thầy cô giáo đã dõi theo bước chân
mình một thời thơ ấu cũng dần nhạt phai. Đôi lúc nghĩ
lại, chúng ta cũng cảm thấy bùi ngùi xúc động, biết ơn
thầy cô vô vàn nhưng có thể sẽ không bao giờ được gặp
lại. Vì vậy, biết ơn thầy cô, chúng ta chỉ cần sống tốt,
tu dưỡng tài năng, đạo đức từng ngày góp phần đem lại
lợi ích cho chúng sinh. Đó cũng là cách đền ơn có ý nghĩa
nhất đối với những người đã có công bồi dưỡng cho
chúng ta những giá trị tinh thần.
Trong
cuộc đời, không ai có thể sống mà không có bạn bè. Bên
cạnh những người thân trong gia đình, những người bạn
tốt cũng có thể chia sẻ với chúng ta những niềm vui, nỗi
buồn trong cuộc sống. Những lúc gặp khó khăn, bạn bè sẽ
giúp đỡ chúng ta vượt qua để cùng hướng về phía trước.
Nếu có những người bạn tốt, chúng ta có thể san sẻ kinh
nghiệm, học hỏi lẫn nhau những điều hay lẽ phải để
cùng tiến bộ. Chúng ta cũng phải quý trọng và biết ơn những
người bạn ấy.
Khi
đọc cuốn Trở về từ cõi sáng của Nguyên Phong, chúng ta
sẽ thấy có một chi tiết hơi khó hiểu. Nội dung chuyện
kể về một người đàn ông, sau khi chết, ông ta gặp một
vị Thiên sứ trong thế giới vô hình. Ông nói với vị
Thiên sứ về ý nguyện của mình là muốn đi theo lý tưởng
phụng sự cho Chúa. Nghe xong, vị Thiên Sứ trả lời rằng:
“Muốn đạt được ý nguyện đó, ông phải sống một đời
cô độc, không vợ con, không bè bạn, chấp nhận mọi nghịch
cảnh đau khổ…”. Những điều kiện khác có thể hiểu
được nhưng không có bè bạn là điều rất lạ, rất khó
lý giải.
Con
người sống cũng không thể tách rời mối quan hệ với cộng
đồng, xã hội. Trong cuộc đời, chúng ta còn chịu ơn của
láng giềng, của bà con hàng xóm. Ông bà ta thường nói : “Bà
con xa không bằng xóm giềng gần”. Những lúc “tối lửa
tắt đèn”, những khi gặp khó khăn hoạn nạn, hàng xóm láng
giềng là người gần gũi nhất có thể giúp đỡ chúng ta.
Càng
trưởng thành, càng hiểu biết nhiều, chúng ta càng thấy rõ
tương quan xã hội là một ân nghĩa lớn. Chúng ta gần như
bị đặt trong mối tương quan ơn nghĩa chằng chịt của xã
hội. Bát cơm chúng ta ăn là kết quả những ngày lao động
vất vả “một nắng hai sương” của người nông dân. Quần
áo chúng ta mặc có công lao của những người thợ dệt. Những
vật dụng hằng ngày chúng ta vẫn sử dụng như: cây bút,
quyển vở, bàn ghế, tủ giường, chén đũa vv… có công lao
không nhỏ của những người công nhân – kỹ thuật, những
người thợ. Chúng ta phải biết ơn tất cả những con người
ấy. Vì thế, khi ăn cơm xong, chúng ta thường thấy các vị
chủ lễ tụng bài Hồi hướng:
Thân phi nhất lũ, thường tư chức nữ chi lao.
Nhật thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ…
Thân
phi nhất lũ - thân này mặc một manh áo thô sơ phải nghĩ
đến nỗi cực nhọc của những cô gái làm nghề dệt (thường
tư chức nữ chi lao). Nhật thực tam xan, mỗi niệm nông phu
chi khổ - mỗi ngày ăn ba bữa, trong mỗi bữa ăn vẫn nghĩ
đến công lao khó khổ của người nông dân. Cái hay của đạo
Phật là vậy. Khi ăn cơm vẫn nhắc người tu nhớ đến ân
nghĩa chằng chịt trong cuộc sống mà mình phải chịu. Trong
đó, ơn nghĩa của những người đáp ứng hai nhu cầu căn
bản nhất của con người (ăn và mặc) là ơn nghĩa lớn nhất,
đáng ghi nhớ nhất.
Suy
rộng ra, trong cuộc sống còn rất nhiều người chúng ta cần
phải biết ơn. Đối với người tu, lòng biết ơn càng phải
lớn hơn, sâu sắc hơn. Không chỉ biết ơn người nông dân
tạo ra lương thực, người thợ dệt tạo ra vải vóc, chúng
ta còn biết ơn tất cả những người đã góp phần xây dựng
cuộc sống này, xã hội này. Bất kể họ đã làm được
điều gì, miễn là có ích cho xã hội, đều tạo thành ơn
nghĩa đối với chúng ta. Những người cảnh sát giữ gìn
an ninh trật tự đem lại cho mọi người cuộc sống bình yên
cũng làm chúng ta biết ơn. Nếu không có họ, xã hội sẽ
rối loạn, mạnh ai nấy sống, chúng ta cũng không thể yên
tâm tu hành. Bệnh tật là một nỗi khổ lớn của con người.
Những bác sĩ, những thầy thuốc đã cố gắng xoa dịu phần
nào nỗi đau khổ về bệnh tật cho chúng ta. Mỗi người chúng
ta ai cũng phải biết ơn họ. Những người lãnh đạo trong
bộ máy Nhà nước (trừ những người lãnh đạo độc tài,
tham nhũng, vơ vét, bóc lột nhân dân… ) đều là những người
chúng ta phải biết ơn. Vì họ đã “đứng mũi chịu sào”,
lo cho dân, cho nước, tìm cách làm cho xã hội ngày càng văn
minh, tiến bộ. Nếu chúng ta luôn mong cho xã hội được phát
triển, tăng tiến về mặt Đạo đức, ai cũng biết thương
yêu nhau thì những người làm trong bộ máy Nhà nước mong
xây dựng một đất nước có nền kinh tế phát triển, vật
chất dư thừa, đời sống người dân ổn định vv… Nói
đến điều này, chúng ta nhớ đến một sự kiện xảy ra
gần đây ở Đài Loan khiến nhiều người phải ngạc nhiên.
Sau khi tốt nghiệp Đại học, mấy chục sinh viên không đi
làm việc mà vào chùa tu hành. Một vị lãnh đạo cao cấp
của Đài Loan, trong một bài diễn văn, cho rằng đây là một
ngày ảm đạm của đất nước. Vì bao nhiêu nhân tài đã
bỏ công lao học tập để đi tu. Nhưng qua tìm hiểu, người
ta tỏ ra rất nể phục vị Hòa thượng đã làm cho những
con người trẻ tuổi đầy mơ ước ấy dám khước từ tương
lai phía trước để đi vào cuộc sống tu hành đạm bạc.
Phải là người tu hành chân chính, đầy uy đức, vị Hòa
thượng mới có thể làm được điều đó.
Qua
sự kiện này, chúng ta thấy suy nghĩ của vị Tổng thốâng
không giống với suy nghĩ của những người tu. Chúng ta cảm
thấy vui mừng khi có những người tuổi trẻ, học cao chọn
con đường tu hành làm lý tưởng cho cuộc đời mình. Vì những
người có trình độ như vậy, khi đi đi tu, chắc chắn sẽ
đem lại nhiều lợi ích cho Phật pháp, có thể đem chánh pháp
đến cho chúng sinh. Chính điều này sẽ góp phần làm cho xã
hội tăng trưởng đạo đức, tăng điều thiện, giảm đi
cái xấu, cái ác. Sự chọn lựa của họ không những không
gây trở ngại cho sự phát triển của đất nước mà còn
đem lại nhiều lợi ích.
Tuy
lý tưởng của người tu và lý tưởng của những người
trong bộ máy lãnh đạo của chính quyền có nhiều điểm không
giống nhau nhưng chúng ta vẫn biết ơn họ vì họ phải lo
lắng ưu tư, có khi phải làm việc vất vả suốt ngày đến
quên ăn, quên ngủ để tìm ra kế sách đưa đất nước đi
lên.
Sống
trong thời bình, nhiều người không nghĩ đến công ơn của
những chiến sĩ đã từng chiến đấu ngoài mặt trận. Nhưng
nếu sống trong hòan cảnh đất nước có chiến tranh, chúng
ta mới thấy được công ơn của họ lớn đến mức nào.
Họ không tiếc tính mạng, tuổi xuân của mình, sẵn sàng
hiến dâng cuộc đời cho Tổ quốc, đem lại cuộc sống bình
yên cho nhân dân. Gần đây nhất là cuộc chiến tranh chống
bọn Khơmer Đỏ trên chiến trường Campuchia. Sau năm 1975, ở
Campuchia, bọn Khơmer Đỏ lên nắm chính quyền. Chúng tiến
hành cuộc thanh lọc chủng tộc rất tàn bạo. Người nào
bị liệt vào danh sách không tốt đối với việc xây dựng
chủ nghĩa cộng sản, chúng đập đầu cho đến chết. Khoảng
hai triệu người dân đã bị giết trong cuộc thanh lọc đó.
Trong khi đó, tổng số dân Campuchia lúc bấy giờ chỉ
vào khoảng bốn triệu người. Thật khủng khiếp! Chưa hết,
chúng còn tràn qua vùng Châu Đốc, vào làng Ba Chúc, giết hàng
loạt người dân Việt Nam. Hiện nay, Nhà nước ta còn trưng
bày hàng đống sọ để ghi lại tội ác của bọn chúng. Đó
là vào khoảng năm 1979. Không chịu nổi sự tàn bạo ấy,
Nhà nước ta đã lập kế hoạch đem quân qua đánh đuổi Khơmer
Đỏ, giải phóng Campuchia. Lúc bấy giờ, sự diệt chủng của
quân Khơmer Đỏ mới tạm dừng lại. Ngày nay, người dân
Campuchia phải biết ơn chính phủ ta. Nếu không có bộ đội
ta đổ biết bao xương máu để giải phóng họ thoát khỏi
tay bọn Khơmer Đỏ thì liệu Nhà nước Campuchia có còn tồn
tại và nhân dân Campuchia còn được bao nhiêu người sống
sót ? Vậy mà, lúc ấy, Quốc tế lại cho rằng Việt Nam xâm
lược Campuchia và lên án chúng ta. Đối với Campuchia, Việt
Nam là ân nhân của họ. Người dân Campuchia đến bây giờ
vẫn chưa biết cái ơn đó mặc dù chúng ta đã cứu họ bằng
xương máu của mình. Cho đến mười mấy năm sau, bộ đội
Việt Nam vẫn tiếp tục qua Campuchia chống bọn Khơmer Đỏ
trong rừng. Số bộ đội chết còn nhiều hơn trong chiến tranh
hai chục năm trước. Nhà nước ta đã không kể công vậy
mà Quốc tế cứ lên án Việt Nam đi xâm lược. Nhưng sự
thật vẫn luôn là sự thật. Chúng ta đã đổ bao nhiêu máu
xương để giúp nhà nước Campuchia đồng thời giữ được
sự bình yên cho miền Tây Nam bộ của đất nước mình. Chúng
ta không thể phủ nhận công lao và sự hy sinh của những chiến
sĩ trong những năm tháng ấy.
Cho
đến hôm nay, mỗi khi nghe lại những bài hát viết về anh
bộ đội, lòng chúng ta vẫn bùi ngùi xúc động và vô cùng
biết ơn họ. Sống ở hậu phương, xa rời tiếng bom, tiếng
súng, chúng ta cứ thanh thản ăn ngủ và làm việc. Trong khi
đó, suốt cả ngày đêm, ngoài trận tuyến, những anh bộ
đội phải đối diện với quân thù, đối diện với cái
chết từng ngày, từng giờ. Vì vậy, ơn nghĩa của họ đối
với quê hương, đất nước to lớn vô cùng. Nếu chỉ biết
thỏa mãn với đời sống yên lành như hôm nay, chúng ta sẽ
không hiểu được sự hy sinh thầm lặng của họ ngày hôm
qua.
Nói
tóm lại, chúng ta phải luôn nhớ rằng, sống trong cuộc đời
này mình đã chịu biết bao ơn nghĩa chằng chịt và mỗi người
phải có ý thức đền ơn.
3.
ƠN TAM BẢO LÀ VÔ BIÊN VÔ LƯỢNG
Chúng
ta biết rằng, thân xác này đến một lúc nào đó sẽ tan
hoại, không thể tồn tại vĩnh viễn. Cho nên, ơn nghĩa về
vật chất mà bao nhiêu người đã cho chúng ta cũng tương đối
tạm bợ, không lâu bền. Cuộc đời này lại lắm niềm vui,
nhiều đau khổ và cũng đầy sự đày đọa. Có lúc con
người sống giàu sang sung sướng, có khi lại rơi vào nghèo
khổ lầm than. Nói như vậy để chúng ta hiểu một điều,
trong cuộc sống này, chúng ta mang ơn rất nhiều người nhưng
cũng chịu không ít những vui buồn sướng khổ mà cuộc đời
đem lại. Vì vậy, ơn nghĩa mà chúng ta chịu của bao nhiêu
người có khi rất quý, cũng có khi không còn quý nữa.
Lấy
ví dụ từ câu nói đơn giản của một đứa trẻ, chúng ta
có thể hiểu được điều này. Có một đứa bé đang chơi
thì bị muỗi cắn. Nó khóc và trách mẹ: “Trời ơi, sao đẻ
con ra làm chi để cho muỗi nó cắn con”. Lời trách rất trẻ
con nhưng cũng gợi cho chúng ta những suy nghĩ. Đúng là cha
mẹ cho chúng ta cuộc sống này; thầy cô giáo chăm sóc, vun
đắp cho chúng ta cuộc sống này; người nông dân, người
thợ dệt, người bác sĩ, kỹ sư … góp phần đem lại cho
chúng ta cuộc sống này. Nếu hạnh phúc, chúng ta sẽ vô cùng
biết ơn họ. Nhưng cuộc sống lại có khi vui sướng, có khi
khổ đau tê tái. Đôi lúc quá đau khổ, chúng ta đâm ra hận
những người đã cho mình cuộc sống này và không biết ơn
họ nữa. Điều đó chẳng khác gì lời trách của đứa bé
đối với mẹ.
Vì
vậy, tuy biết ơn mọi người nhưng chúng ta vẫn hiểu cuộc
sống này chỉ tương đối, vừa ngắn ngủi vừa khổ vui đắp
đổi. Ơn nghĩa của bao nhiêu người cho ta vô cùng nặng nhưng
cũng tương đối, cũng ngắn ngủi, cũng tạm bợ vậy thôi.
Nói như thế không phải chúng ta tỏ ra vô ơn mà để so sánh
với một ơn nghĩa khác lớn lao hơn, vĩnh hằng hơn, thiêng
liêng hơn, bất diệt hơn. Đó là ơn Tam Bảo, ơn của người
cho chúng ta con đường về với ánh sáng vô tận, cho chúng
ta con đường đi đến nơi an lạc vĩnh hằng, đến nơi giải
thoát không còn biên giới. So sánh như vậy để chúng ta thấy
cái ơn mà chúng ta phải chịu đối với Tam Bảo là vô biên
vô lượng, không thể tính kể được.
Mặt
khác, chúng ta cũng biết luân hồi vốn vô tận. Nghĩa là trong
mỗi kiếp sống, chúng ta đã thọ ơn và cũng đã đền ơn.
Khi đã chết, qua kiếp sống khác, chúng ta lại thọ ơn và
lại đền ơn. Cứ tiếp tục như vậy, thật là đắng cay
và mỏi mệt. Quả thật, chúng ta phải chịu trách nhiệm đối
với bản thân mình nhưng cũng chịu bao nhiêu sự giúp đỡ
của người khác nên phải biết ơn. Nhưng những cái ơn ấy
cũng chỉ lẩn quẩn trong luân hồi, ràng buộc, cay đắng,
mỏi mệt. Vì vậy, dù chịu ơn rất nhiều người, chúng ta
vẫn khổ đau chứ không có an vui, hạnh phúc thật sự.
Trong
vòng luân hồi này, Nhân Quả thật đáng sợ. Chỉ cần làm
một điều lỗi là chúng ta phải trả giá ngay, chỉ cần làm
một điều lỗi là quả báo đến liền. Có người chỉ lỡ
nói một câu không đúng mà bị hóa điên bao nhiêu năm trời
mới khỏi. Hoặc có người trong lúc giận, lỡ đánh người
khác một cái, quả báo trả đến năm, mười năm chưa hết.
Nhân Quả đáng sợ như vậy, cho nên, sống trong cuộc đời
này, ơn nghĩa bao nhiêu người vẫn không bằng ơn của một
người cho chúng ta ánh sáng, đường đi và chân lý. Chỉ riêng
giáo lý về Nhân Quả thôi đã cho chúng ta con đường để
đưa cuộc đời mình đi về nơi bình yên, thánh thiện và
hạnh phúc. Nhờ hiểu được Nhân Quả của Phật dạy, chúng
ta cẩn thận trong từng hành vi, từng lời ăn tiếng nói, tránh
Nhân xấu, mãi mãi cố gắng gây tạo những Nhân lành. Nhờ
gây tạo Nhân lành, cuộc đời chúng ta dần dần phát triển.
Có thể chặng đầu của cuộc đời, chúng ta là con người
tầm thường, nghèo khổ nhưng nhờ biết tin theo lời Phật
dạy, biết làm phước giúp người, biết làm việc công quả
mà quãng đời còn lại chúng ta sống sung sướng hơn. Khi chết,
qua kiếp sau, chúng ta còn vinh quang hơn nữa. Như vậy, chỉ
nhờ biết Nhân Quả mà cuộc đời chúng ta đã dần dần chuyển
sang hướng tốt đẹp, yên vui thánh thiện.
Cao
hơn nữa, với giáo lý Giải thoát, Thiền định…, Phật đã
mở cho chúng ta con đường thoát khỏi tam giới ngục tù này.
Trong vô lượng kiếp trước, chúng ta là những kẻ còn lang
thang trong luân hồi, không có ánh sáng, không có lối ra. Mãi
mãi chúng ta sẽ chìm sâu trong bóng tối của vô minh, của
si mê, của tham lam hờn giận, chỉ biết sống cho mình, giành
giật đấu tranh chém giết và gây tạo nhiều điều lầm lỗi
nếu không có Đức Phật mở ra con đường đi về nơi ánh
sáng, thoát khỏi luân hồi đầy đắng cay và mỏi mệt này.
Trên con đường ấy, chúng ta biết vượt qua chính mình, thoát
khỏi sự hận thù nhỏ nhoi, tầm thường, ích kỷ; biết trải
lòng thương yêu, lo cho tất cả mọi người. Chính những Nhân
lành ấy giúp chúng ta đi trong luân hồi bớt đau khổ. Nhân
lành ấy cũng giúp chúng ta đi dần ra khỏi luân hồi, khỏi
tam giới hướng về phía ánh sáng.
Một
khi chúng ta đã giác ngộ, bước ra khỏi luân hồi thì niềm
vui, niềm hạnh phúc có được là bất tận, không có giới
hạn. Vì vậy, khi làm lễ giỗ Hòa thượng Thiện Hoa, Thầy
mình, Hòa thượng Thanh Từ có nói một câu rất hay : “Cha
mẹ con cho con cái hình hài này, rồi sau mấy chục năm cũng
phải tan hoại. Nhưng Thầy cho con trí tuệ, mà một khi con
mắt trí tuệ này mở thì đường luân hồi vĩnh viễn bước
ra”. Đây là sự nhận định rất sâu sắc, chính xác đối
với Tam Bảo. Chúng ta có được ngày hôm nay, có được giá
trị này đều nhờ ơn của người đầu tiên là Đức Phật.
Nếu không có luật Nhân Quả, chúng ta không biết cuộc đời
mình hôm nay sẽ ra sao.
Mỗi
ngày đi lại trên đường phố, chúng ta vẫn thường thấy
những con người nghèo khổ không nhà cửa, trong đêm mưa bão
phải co ro nấp vào mái hiên của người khác hay trú dưới
những gầm cầu. Chúng ta cảm thấy thương họ khi bị rơi
vào hoàn cảnh khốn cùng như thế. Nhưng xét trên Nhân Quả,
có lẽ trước kia họ đã gây nên những lầm lỗi gì đó
nên bây giờ phước không còn, họ phải chịu quả báo như
vậy. Khi nghĩ đến điều này, chúng ta biết ơn Tam Bảo vô
hạn. Chính nhờ Phật dạy dỗ luật Nhân Quả, nghiệp báo
mà từ nhiều kiếp trước, chúng ta đã cố gắng giữ được
tư cách của con người, biết làm điều hay, lẽ phải, biết
tránh những điều xấu, điều ác nên bây giờ có một cuộc
sống bình yên. Là Tăng Ni, chúng ta được thảnh thơi tu hành.
Là Phật tử, chúng ta cũng là người có giá trị trong cuộc
sống, không ai dám khinh bỉ.
Chỉ
giáo lý đó thôi mà Phật đã mở ra cho cuộc đời chúng ta
không biết bao nhiêu an vui, hạnh phúc. Khi tin được Nhân Quả,
biết làm điều thiện, giáo lý đó in sâu vào lòng chúng ta
từ kiếp này sang kiếp khác. Cứ như vậy, ở kiếp nào
chúng ta cũng dễ gặp được Phật pháp, dễ làm được những
điều thiện và tránh rơi vào đau khổ. Cũng nhờ tin được
giáo lý Giải thoát, nhờ phát tâm tu tập Thiền định, phát
những lời nguyện đi về phía giải thoát mà kiếp này sang
những kiếp khác, chúng ta luôn luôn gặp được Phật pháp
để tu hành. Chúng ta biết niệm Phật, biết ăn chay, biết
giữ giới, thực hành thiền định… để từng bước,
dần dần đi ra khỏi luân hồi đau khổ. Vì vậy, ơn nghĩa
mà chúng ta chịu đối với Phật rất lớn, không thể tính
kể được.
Thử
so sánh niềm vui có được trong cuộc sống bình thường tạm
bợ, ngắn ngủi này với niềm vui Tam Bảo đem lại, chúng
ta sẽ thấy sự bình yên, thánh thiện, niềm vui, niềm hạnh
phúc… mà Phật pháp cho chúng ta thật cao cả và trường cửu.
Niềm vui đó vượt hơn hẳn vật chất tầm thường. Chúng
ta đã thừa nhận giá trị của con người là ở tâm hồn,
mà Phật pháp làøđỉnh cao của giá trị tinh thần nên sự
bình yên thánh thiện mà Tam Bảo đem lại cho chúng ta là vô
giá. Vì vậy, lòng biết ơn của chúng ta đối với Tam Bảo
là vô hạn.
Mặt
khác, vì giá trị của sự giác ngộ siêu thoát là tuyệt đối
nên lòng biết ơn của chúng ta đối với Phật là tuyệt đối.
Khi mới bước vào con đường tu hành, nghe nói điều này,
nhiều khi chúng ta chưa cảm nhận được. Một ngày nào đó,
khi đã cố gắng tu hành, lễ Phật, cố gắng tu tập Thiền
định, làm bao nhiêu điều lành và bất ngờ đạt được
sự giác ngộ, đạt được một sự bừng ngộ thật sự,
tâm hoàn toàn chuyển sang một trạng thái khác vô cùng an lạc;
lúc đó chúng ta mới có cảm xúc mãnh liệt đối với ơn
nghĩa của chư Phật, đối với ơn của Tam Bảo.
Ngày
nay, gặp được Phật Pháp, chúng ta biết ơn vô số các bậc
tôn túc, Tổ sư đã giữ gìn chánh pháp. Đó là những người
tu hành sâu sắc, trí tuệ lỗi lạc, gây được ảnh hưởng
và phát triển được Phật pháp. Như chúng ta biết, Phật
pháp đã trải qua nhiều giai đoạn, tâm tình con người luôn
thay đổi, lời Phật dạy lại cô đọng. Nếu không có các
vị Tổ sư sáng suốt, tùy tâm tình mà phát triển làm phong
phú thêm cho Phật pháp, gây được ảnh hưởng lâu dài đối
với con người thì ngày hôm nay, chúng ta có còn gặp
được Phật pháp hay không ? Vì vậy, ơn nghĩa của các
vị Tổ sư cũng vô cùng lớn lao.
Hiện
nay, chúng ta được tu học trong trường là nhờ công lao của
các bậc tiền bối Tôn sư. Vì chính các vị ấy đã có công
giáo hóa, dạy dỗ những tín đồ cư sĩ giúp đỡ chúng ta
tu học. Biết ơn đàn na tín thí cũng có nghĩa là chúng ta
biết ơn những vị Hòa thượng, những bậc tiền bối Tôn
sư ấy.
Chưa
hết, chúng ta còn biết ơn của Bổn sư quy y đầu tiên, người
đã cho chúng ta thọ được tam quy ngũ giới. Khi quy y, có nhiều
vị Bổn sư giỏi đã dạy cho đệ tử được nhiều điều
hay trong cuộc sống. Chúng ta không thể không nhớ ơn người
có công đầu tiên ấy. Bên cạnh đó, chúng ta còn biết ơn
vị Bổn sư thế độ, người đã cho mình xuống tóc để
bước vào hàng ngũ của Tăng sĩ. Khi vì nhân duyên học
hỏi, chúng ta tìm đến với một vị Y chỉ để nương tựa.
Công lao của vị này cũng rất lớn, chúng ta phải nhớ ơn.
Khi đã bước vào cuộc sống tu hành, chúng ta phải biết ơn
Giới
sư, những người đã có công truyền giới, dạy luật cho
chúng ta.
Trong
thời gian đang tu học tại trường, chúng ta phải biết ơn
của Giáo thọ, Giám viện, Giám hiệu. Đó là những vị đã
cưu mang, lo lắng cho chúng ta từng ly, từng tí. Cứ nhìn ra
ngoài thế gian, thấy nỗi vất vả, khó nhọc của cha mẹ
trong quá trình nuôi dạy con cái như thế nào, chúng ta sẽ
hiểu được nỗi cực nhọc của quý Thầy lớn trong Ban giám
hiệu khi lo lắng cho bao nhiêu người chúng ta yên tâm tu học.
Công lao đó lớn vô cùng. Thực ra, quý Thầy quan tâm lo lắng
như vậy không phải vì lợi ích của bản thân mình sau này
mà vì tiền đồ của Phật pháp. Tạo điều kiện cho thế
hệ sau tu học là quý Thầy mong chúng ta trở thành người
tốt, lớn lên giữ gìn Phật pháp, đem Phật pháp giáo hóa
lại cho vô số những chúng sanh về sau.
Ngoài
ra, để được yên tâm tu học, chúng ta còn biết ơn của
Giáo hội, Tăng đoàn. Đạo Phật chúng ta có truyền thống
tập hợp các chư Tăng lại trong một tổ chức đểø giúp
đỡ, nương tựa lẫn nhau. Trong đó, những vị trong Giáo hội
thường là người gánh vác trách nhiệm nhiều nhất (trừ
một vài trường hợp cá biệt, đó là những người ở trong
Giáo hội nhưng ích kỷ, không lo được cho Tăng chúng).
Nói
tóm lại, để được ổn định tu học như ngày hôm nay, chúng
ta đã chịu ơn vô biên vô lượng từ Tam Bảo. Ở đâu, lúc
nào, chúng ta cũng có thể nhìn thấy được công ơn đó.
4.
ĐỀN ƠN.
Biết
ơn là một tính chất của Đạo đức. Bởi vậy, từ lòng
biết ơn sâu sắc đối với tất cả những ơn nghĩa đã thọ
trong cuộc sống, chúng ta nguyện sẽ đền ơn xứng đáng.
Nhưng ân nghĩa mà chúng ta đã thọ nhận trong suốt cuộc đời
này là vô hạn, không tính kể được trong khi cuộc đời
chúng ta thì ngắn ngủi, đôi tay chúng ta lại nhỏ bé, làm
sao để đền ơn cho xứng đáng ? Làm sao chúng ta có thể đem
đôi tay nhỏ bé này, cuộc đời hữu hạn này để đền được
công ơn vô hạn của bao nhiêu người đã cho ta trong cuộc
sống này ?
Để
đền đáp công ơn vô hạn ấy, chúng ta nguyện lòng đem cả
cuộc đời này sống vì Phật pháp, sống để làm lợi ích
cho chúng sinh. Nghĩa là, chúng ta phải thực hiện một cuộc
sống vị tha trọn vẹn. Vì khi đã hiểu được ơn nghĩa mà
mình đã thọ nhâïn như vậy, nếu chỉ sống cho mình, chúng
ta không xứng đáng làm người đệ tử Phật nữa. Nếu trong
tâm còn tồn tại, dẫu rất ít ỏi, dấu hiệu của sự vị
kỷ thì không bao giờ chúng ta đền được ơn nghĩa lớn lao
mà trong đời mình đã thọ nhận. Chúng ta chỉ còn một cách
duy nhất là nguyện sống trọn đời vị tha. Trong mỗi lời
nói, hành động cũng như trong những ý nghĩ thầm kín, chúng
ta đều vì mọi người, không bao giờ vì bản thân mình. Phải
tích lũy hết kiếp này đến kiếp khác chúng ta mới có thể
đền được ơn nghĩa lớn lao mà người khác đem đến cho
chúng ta từ bên ngoài thế gian cũng như trong Đạo. Như vậy,
sống vị tha là cách đền ơn hay nhất đối với Tam Bảo.
Trong đó, quan trọng nhất là chúng ta phải làm cho mọi người
đều biết Phật pháp.
Sự
thật, trong cuộc sống không phải lúc nào chúng ta cũng có
thể trực tiếp đền ơn trở lại người mà mình đã thọ
ơn. Chẳng hạn, khi đã lớn, thấu hiểu công ơn cha mẹ, chúng
ta muốn đền đáp công ơn to lớn ấy nhưng cha mẹ lại không
còn nữa. Hoặc một lần nào đó trong đời, chúng ta rơi vào
tình cảnh éo le, giữa đường bị trộm vét sạch túi. Lúc
bấy giờ, một người tốt bụng đã cho tiền chúng ta về
xe. Chỉ gặp nhau trong thoáng chốc giữa đường luân hồi
vô tận này rồi người ta đi mất, biết bao giờ chúng ta
tìm được họ để đền ơn ?
Một
cư sĩ kể rằng, một lần, khi trở về từ một làng quê,
trong túi anh ta không còn lấy một đồng trong khi bụng đói,
lại phải cuốc bộ trên con đường rất dài giữa trưa nắng.
Lúc ấy, trông thấy một ngôi chùa, anh ghé vào xin cơm ăn.
Nghe anh nói rất thành thật, Sư cô đã vồn vã, ân cần mời
anh ăn cơm, sau đó còn cho anh tiền về xe nữa. Ân nghĩa đó
suốt đời anh không quên. Vì trong lúc khốn cùng, anh đã được
người ta giúp đỡ lại giúp trong thái độ ưu ái. Sau này,
nghĩ đến điều đó, lòng anh cứ canh cánh một điều mong
tìm lại chốn cũ để đền ơn Sư cô, đền ơn ngôi chùa
đó. Nhưng do bận sinh kế, vợ con hàng ngày, anh chưa có điều
kiện trở lại. Khi tâm sự với một Thầy trụ trì ngôi chùa
gần nhà, Thầy đã khuyên anh đừng bận tâm nghĩ đến chuyện
đền ơn ngôi chùa và Sư cô đã giúp mình mà có thể giúp
đỡ bất cứ người nào xung quanh mình bằng tình thương yêu
như Sư cô đã từng giúp anh. Làm được như vậy nghĩa là
anh đã đền ơn được Sư cô ấy. Nghe lời khuyên, anh đã
hiểu ra và nguyện sẽ sống tốt với mọi người. Từ khi
thay đổi quan niệm về cách trả ơn, anh cảm thấy lòng mình
tự nhiên rộng mở hơn.
Như
vậy, nhiều khi chúng ta không đền ơn trực tiếp mà chỉ
đền ơn gián tiếp với những người khác. Điều ấy còn
cao cả hơn, quý giá hơn là mong đền ơn trực tiếp với ân
nhân của mình. Chỉ nghĩ đến việc trả ơn người đã giúp
mình, tâm chúng ta còn quá nhỏ hẹp. Hãy nghĩ rằng, không
đền ơn trực tiếp được cho cha mẹ, chúng ta sẽ đền ơn
bằng cách làm lợi ích cho bao nhiêu người khác; không đền
ơn được Phật, chúng ta đem Phật pháp cứu giúp những người
khác. Đó là cách đền ơn tốt nhất. Tương tự như
vậy, đối xử tốt với mọi người là chúng ta đã trả
được ơn đối với ân nhân của mình.
5.
SỰ ĐỀN ƠN CÓ Ý NGHĨA NHẤT.
Trong
tất cả những sự đền ơn, việc đem Phật pháp đến với
chúng sinh là sự đền ơn có ý nghĩa nhất. Vì sao như vậy?
Vì vật chất luôn tạm bợ. Nếu chúng ta cho người khác tiền
của nhiều bao nhiêu đi nữa cũng không có ý nghĩa vì đến
lúc nào đó, tiền của cũng hết. Nhưng nếu cho mọi người
lòng tin hiểu Nhân Quả để đi trong luân hồi, chúng ta có
thể cứu họ thoát khỏi đau khổ. Đó mới là điều đáng
quý. Vì vậy, chúng ta đền ơn Phật, đền ơn Tam Bảo không
phải chỉ biết lạy Phật, cúng dường tiền bạc mà phải
tiếp tục đem Phật pháp cao quý đến những người chưa biết.
Chúng ta phải xem việc những người xung quanh mình chưa biết
Phật pháp là nỗi đau khổ của chính mình. Chừng nào người
biết Phật pháp còn ít, chừng đó thế gian này bóng tối
còn nhiều hơn ánh sáng. Khi nhìn thấy trên cuộc đời này
còn nhiều người nhởn nhơ, sống một cách theo cảm tính,
không có ánh sáng, không có đạo lý, chúng ta phải biết đau
xót và nguyện lòng đem Phật Pháp đến cho họ. Làm được
như vậy nghĩa là chúng ta đã đền ơn Phật, đền ơn Tam
Bảo.
Từ
những người xung quanh mình, chúng ta mở rộng tầm nhìn ra
thế giới. Hiện nay, thế giới có khoảng năm tỷ người.
Trong đó chỉ có hơn ba trăm triệu người biết Phật pháp.
Trong khi đó, Thiên Chúa giáo chiếm khoảng hơn một tỷ, Hồi
giáo hơn một tỷ… Ngoài ra, một số ít người theo Ấn Độ
giáo và đạo địa phương, số còn lại không có đạo. Đó
là nỗi đau của tất cả những người con Phật có lương
tâm, có lòng biết ơn Tam Bảo. Chúng ta hãy nghĩ đến bao nhiêu
tỷ người trên thế giới này chưa biết Phật pháp, phải
nhận đó là trách nhiệm của mình và phải có sự phát nguyện
lớn - phát nguyện làm cho họ biết Phật pháp.
Trước
hết, chúng ta không được sống tầm thường, tu cho qua ngày
hay tu vì mục đích lớn lên làm trụ trì, làm giảng sư cho
có tiếng tăm. Chúng ta phải nghĩ đến thế giới còn nhiều
người chưa biết đến Phật pháp. Ơn nghĩa chúng ta nhận
được là vô hạn nên chúng ta cũng phải làm điều gì có
ý nghĩa lớn lao để đền lại ơn ấy. Hãy bắt đầu bằng
lòng vị tha, sau đó đem Phật pháp đến cho mọi người và
xa hơn nữa là làm cho tất cả mọi người trên trái đất
này đều có Đạo đức. Chúng ta cứ phát nguyện như vậy.
Một khi đã biết ơn Tam Bảo, đã nguyện lòng đền trả thì
dù gặp bao nhiêu khó khăn, dù kiếp này hay nhiều kiếp nữa,
chúng ta cũng phải thực hiện cho bằng được.
Một
điều nữa là chúng ta phải cho mọi người giáo lý Thiền
định để họ đi dần ra khỏi luân hồi. Vì chỉ có Thiền
định mới là con đường đi ra khỏi luân hồi sinh tử. Muốn
dạy người khác giáo lý Thiền định, chúng ta phải thực
hành trước, phải tu hết sức tinh tấn, hết sức hoàn hảo
vì nếu còn nhiều điểm sơ hở, chúng ta rất khó giáo hóa
người khác. Tất nhiên, bây giờ chúng ta không thể đạt
đến sự tuyệt đối nhưng phải khá hoàn hảo, ít có tì
vết để có thể đủ sức mạnh đem giáo pháp đến với
mọi người.
Tóm
lại, muốn đền ơn Tam Bảo, muốn đền ơn cuộc đời này,
chúng ta phải sống rất vị tha, phải làm lợi ích cho mọi
người và đem Phật pháp đến cho họ. Và muốn đem Phật
Pháp đến cho mọi người, chính chúng ta phải tu hành cho tinh
tấn.
6.
VÀI KHÍA CẠNH KHÁC.
Như
chúng ta đã biết, sự sống của con người có tương quan
chặt chẽ với thiên nhiên. Chúng ta không thể tồn tại được
nếu không có rừng cây, không khí, sông nước, mặt trời…
Bởi vậy, không chỉ biết ơn con người, biết ơn Tam Bảo,
chúng ta còn phải biết ơn thiên nhiên. Hãy nhớ rằng, yêu
thiên nhiên cũng là một tính chất của Đạo đức, nhất
là đối với nguời tu sĩ. Biết ơn thiên nhiên, mỗi người
phải có ý thức bảo vệ thiên nhiên. Điều này chúng ta sẽ
tìm hiểu sâu sắc hơn trong bài Yêu thiên nhiên.
Nói
đến biết ơn và trả ơn, chúng ta cũng cần lưu ý một điều:
Biết ơn nhưng chúng ta cũng biết cách đền ơn theo chánh pháp
vì có nhiều khi ân nhân chưa phải là người chân chính, chúng
ta không nên lệ thuộc vào họ. Chẳng hạn, một tên tướng
cướp thường có nhiều lâu la, nhiều tay chân vì kiếp trước,
những tên tay chân đó đã thọ ơn của tên cướp ấy. Vì
mang ơn nên bây giờ khi người đó làm tướng cướp, những
người này phải đi theo và nghe lời sai bảo. Hoặc người
giúp việc trong một gia đình Phật tử (vì kiếp trước có
mắc nợ gia đình ấy) chắc chắn cũng bị ảnh hưởng Phật
pháp. Hàng ngày, thế nào chủ nhà thường sai người ấy thắp
nhang, lau tượng Phật, đem kinh cho người khác, đem gạo cho
hàng xóm…
Như
vậy, thọ ơn một người xấu, chúng ta phải đi theo con đường
xấu; thọ ơn người tốt, chúng ta sẽ đi theo con đường
tốt. Nhưng cái khó là chúng ta không biết kiếp trước mình
đã thọ ơn ai. Có khi chúng ta đã lỡ thọ ơn người xấu
nhưng phải cẩn thận, phải tỉnh táo, không bao giờ được
lệ thuộc bởi ân nhân của mình. Có thể chúng ta đã mắc
nợ ơn nghĩa của họ nhưng quyết không trả nợ bằng cách
để họ sai xử. Chúng ta phải tỉnh táo thoát ra và trả ơn
họ bằng cách khác, đúng với chánh pháp.
Đối
với người tu chúng ta, ơn phải nhớ, thù phải quên. Trong
cuộc sống, nếu được người khác giúp đỡ, chúng ta không
được phép quên. Nhưng nếu bị người khác nói nặng lời,
gây gổ hoặc mưu hại, chúng ta phải quên, phải gạt ra khỏi
tâm. Chúng ta phải biết dùng tình thương xóa bỏ hận thù,
biết đền ơn nhưng không trả oán.
Điều
cuối cùng chúng ta cần nhớ là trước khi ngồi thiền phải
cố gắng nghĩ đến những ơn nghĩa mà mình đã thọ trong
cuộc sống này. Như vậy, chúng ta sẽ được tăng thêm sức
mạnh của sự tinh tấn. Mỗi khi ngồi thiền gặp khó khăn,
tâm không nhiếp được, chúng ta lắng lòng nghĩ đến ơn nghĩa
của Tam Bảo, của cha mẹ, của đàn na tín thí, của Thầy
trưởng, Sư trưởng…. rồi quyết nhiếp tâm, không nản chí,
chúng ta sẽ đạt được. Trong cuộc sống tu học cũng vậy,
nhiều lúc gặp những khó khăn, trở ngại, chúng ta hãy nhớ
rằng mình đã chịu ơn nhiều quá, không thể lui bước mà
phải tấn tới, thực hiện trọn vẹn lý tưởng của Phật
pháp để sau này đền ơn tất cả. Lòng biết ơn cũng làm
cho chúng ta tăng thêm sức mạnh, tăng thêm sự tinh tấn.