CAN
ĐẢM
1.
ĐINH NGHĨA.
Xét
trên khía cạnh Đạo đức, can đảm là dám đương đầu với
nguy hiểm để làm điều tốt. Trong đạo Phật, đó là Hùng
lực hay Dũng trong Bi- Trí -Dũng.
Can
đảm khác với táo tợn, liều lĩnh khi làm điều không chính
đáng. Vì vậy, hành động cướp giật của một tên cướp
không phải là hành động can đảm mà là táo tợn, liều lĩnh
mặc dù phải rất có gan hắn mới làm được điều đó.
Ở đây, chữ can đảm bao hàm ý nghĩa Đạo đức.
Trong
đạo Phật, một vị Thánh hay một người đệ tử Phật chỉ
xứng đáng được ca ngợi khi phải hội đủ ba đức
tính là Bi- Trí - Dũng. Bi là lòng thương yêu chúng sinh.
Trí là trí tuệ, hiểu rõ mọi điều. Nhưng Bi, Trí chưa đủ,
phải có Dũng-sự gan dạ, can đảm- mới có thể làm được
những điều tốt. Vì không phải mọi điều tốt trên đời
này đều dễ dàng thực hiện. Có rất nhiều điều tốt nằm
trong hoàn cảnh nguy hiểm, khó khăn. Nếu không đủ hùng lực,
dũng cảm, chúng ta sẽ không thực hiện được.
Trong
cuộc sống, khi muốn làm việc thiện, chúng ta có thể đối
diện với vô vàn những nguy hiểm, khó khăn. Trong đó, nguy
hiểm nhất là cái chết. Có khi để làm được một việc
thiện, chúng ta phải đánh đổi bằng cả sinh mạng của mình.
Nếu dám hy sinh như vậy, chúng ta được coi là người rất
dũng cảm. Nguy hiểm đứng thứ hai sau cái chết là sự thương
tật. Khi cứu người khác, chúng ta có thể sẽ bị thương
tật, phải chịu đựng những đau đớn. Ngoài ra, những nguy
hiểm chúng ta có thể gặp là bị tù đày, có khi phải hứng
chịu sự căm ghét, sự phỉ báng của người khác… Quả
thật, làm việc thiện không phải lúc nào cũng đơn giản.
Nhưng bù lại những nguy hiểm, khó khăn ấy, chúng ta có thể
làm được vô số những điều tốt. Đó là cứu người khi
lâm nguy, dấn thân trên chiến trường để bảo vệ đất
nước, lên tiếng bày tỏ sự thật mặc dù sự thật đó
làm cho mọi người bất bình, căm ghét hay vạch trần sự
bất công, chống lại tội ác - nhất là những tội ác được
tổ chức rất chặt chẽ, tinh vi….
Như
vậy, khái niệm Can đảm chỉ được dùng cho những hành động
hướng về điều thiện. Trong cuộc sống, nhiều khi chúng
ta phải đối diện với những nguy hiểm, và trong những trường
hợp đó, can đảm là yếu tố cần thiết giúp chúng ta vượt
lên hoàn cảnh và sống tốt hơn. Cuộc đời vốn không bình
yên, phẳng lặng như mặt hồ thu mà luôn chứa đựng những
bất trắc, những nghịch cảnh éo le, những nguy hiểm. Chúng
ta, những đệ tử Phật phải xác định được điều đó
và sẵn sàng vượt qua bằng lòng can đảm của mình.
Trong
quá trình làm việc Đạo, không phải lúc nào chúng ta cũng
gặp thuận lợi, dễ dàng. Ngay cả những việc thiện đơn
giản trong đời sống cũng đòi hỏi lòng can đảm. Chẳng
hạn, khi có một món tiền lớn, chúng ta có thể sẵn sàng
bớt ra giúp đỡ người khác một trăm ngàn mà không cần
băn khoăn, tính toán. Vì số tiền nhỏ đó không ảnh hưởng
đến cuộc sống của mình. Nhưng nếu chỉ có trong tay năm
chục ngàn, người khác lại rơi vào hoàn cảnh cấp bách cần
cả số tiền đó, liệu chúng ta dám nhịn ăn để cho họ
hay không? Đây chính là lúc đòi hỏi chúng ta phải có đức
hy sinh, lòng can đảm. Tất nhiên, điều này cũng không khó
bằng việc phải nhảy vào đám lửa để cứu người vì khi
nhảy vào đám lửa có thể chúng ta phải đánh đổi cả sinh
mạng của mình. Phải có một quyết tâm rất cao, phải có
lòng can đảm, chúng ta mới làm được điều đó.
Chúng
ta biết rằng, cái phước có được ở kiếp sau của con người
được tính bằng một công thức. Công thức phước ấy được
tính bằng tích số giữa việc làm lợi ích cho người khác
với sự cố gắng của chính bản thân mình. Ví dụ, khi có
trong túi một triệu đồng, chúng ta cho người khác một trăm
ngàn thì sự cố gắng không có bao nhiêu. Và phước chúng
ta có được sẽ không lớn. Nhưng nếu chỉ có năm chục ngàn
đồng, người ta cần, chúng ta cho sẵn sàng tất cả thì lúc
này sự cố gắng rất cao. Như vậy, số tiền tuy ít nhưng
nhân với hệ số cố gắng lớn, phước của chúng ta sẽ
lớn hơn.
Từ
ví dụ đơn giản ấy, chúng ta thấy hành động nhảy vào
lửa để cứu người đòi hỏi một sự cố gắng vượt bậc.
Vì lúc đó, người nhảy vào lửa biết mình có thể bị phỏng,
bị nguy hiểm đến tính mạng mà vẫn cố gắng làm. Vì vậy,
cái phước có được sẽ rất lớn.
Chúng
ta nhớ lại câu chuyện kể về tiền thân Đức Phật. Trong
một kiếp, Đức Phật là một vị Sa Môn tu hành. Một lần,
Ngài thấy một con chim Cắt, loài chim ăn thịt các con vật
khác, đang rượt đuổi một con chim Bồ Câu. Chim Bồ
Câu sợ quá bay núp vào người Ngài. Chim Cắt nói rằng, đây
là bữa ăn của nó. Nếu Ngài cứu con chim Bồ Câu thì nó
sẽ đói. Đây là sự công bằng của cuộc sống. Nó đi săn
được mồi để sống, Ngài giành con mồi của nó chắc chắn
nó không chịu. Nghe vậy, Ngài đành phải cắt một miếng
thịt của mình cho chim Cắt ăn, thay cho mạng sống của chim
Bồ Câu. Như vậy, Ngài sẵn sàng chịu thương tật đau đớn
để cứu mạng chú chim Bồ Câu tội nghiệp. Đó là một thái
độ, một hành động rất dũng cảm, người thường không
làm được. Câu chuyện thực ra mang tính ngụ ngôn hơn là
có thật, nhưng cũng giúp chúng ta hiểu được tấm gương
sáng về lòng can đảm, đức hy sinh cứu người của Đức
Phật. Sau này, nhiều chùa đã vẽ biểu tượng ấy lên tường
với ý nghĩa Đức Phật đã từng cắt thịt cho chim Cắt ăn
để cứu mạng chim Bồ Câu.
Trong
thực tế, chúng ta cũng gặp không ít những gương hy
sinh cứu người rất cảm động. Không chỉ người lớn mà
trẻ em cũng làm được điều đó. Báo chí đã từng đưa
tin về một bé gái dám hy sinh thân mình để cứu bạn. Khi
cùng với bốn người bạn đi chơi ngoài bờ đê, dòng nước
chảy xiết đã làm bốn người bạn rơi xuống đê. Trong tình
huống nguy cấp đó, đứa bé đã nhảy xuống lần lượt kéo
từng bạn vào bờ. Nó vốn bơi giỏi nhưng kéo được người
thứ ba thì sức gần như cạn kiệt. Biết còn người bạn
nữa đang cần sự giúp đỡ của mình, đứa bé lại nhảy
xuống tiếp tục cứu. Khi đưa được người thứ tư vào
bờ thì nó kiệt sức và bị dòng nước cuốn đi mất. Như
vậy, trong lúc quá mệt nhưng nghĩ đến người bạn đang sắp
chết đuối ngoài kia, đứa bé đã hết sức cố gắng. Đó
là sự cố gắng vượt bậc. Khi vớt được xác đứa bé,
người ta đã an táng đàng hoàng và mọi người đến viếng
với lòng quý trọng, tiếc thương vô hạn. Với sự cố gắng
đánh đổi cả sinh mạng của mình để cứu người, công
đức của cô bé vô cùng lớn và chắc chắn cô sẽ được
lên cõi trời sau khi chết.
Hoặc
câu chuyện sẵn sàng chịu tù đày thay bạn của một người
trong giới xã hội đen cũng khiến chúng ta phải suy nghĩ. Người
ta kể rằng, một lần nọ do nóng giận, người này đã đánh
người kia đến chết. Khi Công an ập tới bắt thủ phạm
đánh chết người, một người khác, bạn của anh ta đứng
ra nhận mình là thủ phạm vì vợ của người kia có mang gần
đến ngày sinh nở. Người này đã chấp nhận ở tù cực
khổ để bạn mình ở lại nuôi vợ con. Thái độ ấy tưởng
đơn giản nhưng thực ra rất can đảm. Dù không đồng tình,
thậm chí còn lên án những hành động làm ăn phi pháp, giết
người tàn bạo của bọn giang hồ trong giới xã hội đen
nhưng chúng ta cũng thừa nhận rằng, họ sống rất hào hiệp,
rất tình nghĩa, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nhau.
Hành
động dấn thân ngoài mặt trận, sẵn sàng đối diện với
cái chết của những người chiến sĩ cũng là hành động
can đảm vì điều tốt. Nếu là một người lính chiến đấu
trong cuộc chiến tranh phi nghĩa thì tội sẽ rất nặng vì
họ cầm súng giết người, vừa phạm tội sát sanh vừa mang
tội cướp nước. Nhưng người lính chiến đấu chống xâm
lăng, bảo vệ đất nước thì phước của họ rất lớn.
Khi đối diện với cái chết, trong tâm họ vẫn nghĩ đến
sự bình yên cho đất nước, nghĩ đến hạnh phúc của nhân
dân. Chính vì thế, không ít những nhà văn, nhà thơ, nhạc
sĩ… đã viết lời ngợi ca họ: “Một ba lô cây súng trên
vai. Người chiến sĩ quen với gian lao. Đường dài đêm thâu,
bóng tối quân thù trước mặt . Nặng tình quê hương anh dâng
trọn tuổi đời thanh xuân. Cho em thơ ngủ ngon, và vui bước
sớm hôm đến trường…”
Những
người dám đứng ra bảo vệ sự thật, vạch trần sự bất
công, chống lại tội ác đều là những người can đảm.
Vì họ dám đương đầu với nguy hiểm để làm điều tốt.
Đó có thể là những ký giả ở một số nước tham gia đấu
tranh chống tiêu cực. Trong những năm qua, người ta thống
kê trên thế giới có khoảng ba đến bốn ngàn ký giả bị
bắt, bị giết, bị tù đày vì họ dám nói lên sự thật
để chống lại những bất công đang tồn tại trong xã hội.
Khi sự thật được phơi bày, điều xấu sẽ bị khống chế.
Nếu sợ hãi, không dám lên tiếng bảo vệ sự thật thì cái
xấu sẽ tồn tại và tiếp tục phát triển. Bởi vậy, nói
điều đúng, nói điều có lợi cũng sẽ tạo nên công đức
lớn.
2.
SỰ TẠO THÀNH
Tâm
can đảm được tạo thành bởi hai điều: Một là tinh thần
mạnh mẽ, vững vàng. Hai là sự thúc đẩy của Thiện tâm.
Tinh
thần mạnh mẽ là cái không thể định nghĩa được.
Nó cũng giống như tình thương yêu, lòng từ bi vậy. Trong
bài Tâm từ, chúng ta đã hiểu tình thương yêu không thể
định nghĩa được bằng lời. Chúng ta chỉ nhìn thấy biểu
hiện của nó và biết rằng lúc ấy tình thương đang hiện
diện. Tinh thần mạnh mẽ cũng vậy. Chúng ta chỉ hiểu, chỉ
cảm nhận được tinh thần ấy trong những trường hợp bị
thử thách mà vẫn quyết đoán, vẫn bền gan, vững chí. Đó
chính là những biểu hiện của tinh thần mạnh mẽ.
Một
chuyện rất đơn giản là đi qua cầu khỉ của người miền
Tây cũng đòi hỏi ở chúng ta lòng can đảm. Những người
chưa đi quen sẽ rất sợ hãi khi nhìn chiếc cầu bắc qua dòng
nước đang cuộn trôi chỉ là một thân cây trơ trọi. Nếu
lần đầu tiên về miền Tây và tập đi cầu khỉ, chúng ta
phải hết sức can đảm, tinh thần phải vững vàng, không
dao động. Lúc bấy giờ , nếu sợ hãi, chúng ta sẽ bị ngã
xuống sông. Khi qua rồi, chúng ta sẽ thấy mình làm được
điều đó là nhờ có một lòng can đảm, một quyết tâm rất
cao.
Hoặc
chuyện kể về những người dẫm chân đi trên than hồng thật
khó tin nhưng đó là điều có thật. Lửa than cháy đỏ rừng
rực, họ dẫm chân lên, miệng tụng những câu thần chú bí
hiểm. Thực ra, đó không phải là điều gì mầu nhiệm. Những
câu thần chú ấy sẽ làm cho họ vững tâm hơn, có niềm tin
hơn. Khi đã vững tâm, họ bước đi một cách tự nhiên mà
chân không hề bị bỏng.
Người
ta kể rằng, có một ông Thầy dạy đệ tử mình đi trên
than hồng. Thầy rải than và bắt đệ tử đi trên đám lửa
cháy đỏ rực. Trước khi thực hành, Thầy đi qua một lần
cho họ xem nhưng những đệ tử vẫn không dám đi. Lúc ấy,
Sư phụ yêu cầu họ lấy mỗi người một tờ giấy và viết
lên đó nỗi sợ hãi của mình. Tất cả đều viết:
“Bước lên sợ nóng chân, sợ phỏng chân”. Sư phụ cầm
những tờ giấy đứng niệm điều gì đó một lát. Niệm
xong, ông đốt đi và nói : “Thầy đã đốt hết những
sợ hãi. Bây giờ các con không còn sợ hãi nữa, hãy dẫm
lên mà đi, chân sẽ không bị cháy”. Nghe lời Thầy, họ
vững tin đứng lên than và đi được một cách dễ dàng.
Hoặc
có người biểu diễn cho người khác xem bằng cách cầm
cái chai đập vào đầu, nhưng chai vỡ mà đầu không vỡ.
Người ta cho rằng đó là kết quả của việc rèn luyện ý
chí chứ không có gì đặc biệt. Khi cầm cái chai, họ
cứ chí nguyện quyết đập vỡ cái chai mà đầu không vỡ.
Khi lòng tin đã vững, họ đập mạnh một cái, chai sẽ vỡ
mà đầu không hề gì.
Tinh
thần, ý chí của con người có sức mạnh ghê gớm như vậy.
Sức mạnh đó luôn tiềm ẩn trong tâm mỗi người mà chúng
ta chưa phát huy được. Chính tinh thần mạnh mẽ, vững vàng
ấy làm cho con người gan dạ, can đảm hơn khi đối diện
với nguy hiểm. Trước cái chết, trước những hoạn nạn,
khó khăn, họ vẫn vượt qua được.
Can
đảm còn được tạo thành bởi sự thúc đẩy của Thiện
tâm - tâm thương người, vì người. Chẳng hạn, khi thấy
một đứa bé rơi xuống sông đang loi ngoi vật lộn với
cái chết trong khi nước sông lại sâu, lòng sông lại rộng,
sức mình bơi không nổi nhưng vì tình thương trỗi dậy, chúng
ta liều nhảy xuống để cứu nó. Thấy vậy, những người
khác tiếp tục quăng phao xuống cứu và cả hai thoát chết.
Thực ra, bình thường chúng ta không phải là người can đảm
nhưng vì tình thương đối với đứa bé mà mình trở nên
can đảm và làm được việc tốt.
Ngày
xưa, vào thời nhà Trần, quân Mông - Nguyên đã ba lần đem
quân sang xâm lược nước ta. Chúng đi tới đâu, chém giết
tới đó, cỏ cây cũng không mọc nổi dưới vó ngựa của
chúng. Triều đình phải tổ chức tiêu thổ kháng chiến. Nghĩa
là người dân bồng bế, dắt díu nhau mang theo lương thực
vào rừng ẩn náu. Sau đó, quân đội tổ chức chiến đấu.
Có những người do căm phẫn tột độ trước sự độc ác
của quân thù đã tham gia vào quân đội để chiến đấu.
Lòng căm phẫn ấy xuất phát từ tình yêu đối với quê hương,
đất nước, đối với nhân dân. Chính tình yêu thương đã
tạo cho họ lòng can đảm, thúc đẩy họ làm những điều
tốt, sẵn sàng xả thân vì đất nước : “Dẫu cho trăm
thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa”,
họ vẫn cam lòng.
Người
không có khả năng, trí tuệ, sức khỏe, thế lực… khó có
một tinh thần mạnh mẽ. Thậy vậy, khi không đủ trí
tuệ để phán đoán, nhận định một sự vật, hiện tượng
nào đó, người ta thường cảm thấy bất an khi đối diện
với nó. Chẳng hạn, chúng ta hay nghe người đời nhắc đến
ma. Khi còn nhỏ, nhiều người rất sợ ma và khi đã trở thành
người lớn, không ít người vẫn còn sợ. Ngay trong một ngôi
chùa, khi nghe có người kể là đã nhìn thấy ma, ai đi lại
ban đêm cũng sợ. Có lần vào lúc nửa đêm, nghe chó sủa
quá, một Thầy sợ ăn trộm vào chùa nên thức dậy xem. Khi
đi từ nhà tăng qua nhà khách, Thầy thấy một người không
rõ nam hay nữ cầm một vật rất sáng, theo sau là một đám
trẻ con, nhưng tất cả đều bước đi rất nhẹ, chân không
chạm đất. Khi qua chiếc cầu bắc ngang con suối nhỏ, cả
đoàn nhảy lên cây sộp và biến mất. Lúc ấy, Thầy vẫn
còn nghe léo nhéo tiếng trẻ con nói: “Cho ăn gì, đói quá!”.
Có lẽ mấy ngày Tết vì quá mệt, chùa cúng thí thực không
đàng hoàng nên thế giới siêu hình ăn không được no. Sau
khi nghe kể chuyện, chùa đã bày một mâm cơm ngon lành cúng
cho họ. Nhưng cũng từ đó, nhiều người không dám qua cầu
ban đêm nữa vì tin ở đó có ma.
Như
vậy, vì sao trong nhiều trường hợp, người ta tin và sợ
ma ? Có lẽ người ta sợ ma vì không biết rõ về nó. Vì là
“hồn ma bóng quế” nên chúng thoắt ẩn, thoắt hiện, lúc
vô hình khiến người ta sợ hãi . Nếu biết rõ ma ở đâu,
đi lại ra sao, gương mặt như thế nào, có lẽ con người
không còn sợ chúng nữa. Trong cuộc sống cũng vậy, những
điều làm chúng ta sợ hãi thường do chúng ta không biết rõ
về nó. Hay nói đúng hơn là do chúng ta không có trí tuệ để
nhận định.
Trường
hợp người ta hay đồn về những ông thầy bùa cũng vậy.
Ông ta có thể yểm, có thể thư người khác được.
Nếu ghét người nào, ông chuốc bùa người đó bệnh rồi
chết. Nghe đồn như vậy, đa phần ai cũng sợ thầy bùa. Sở
dĩ chúng ta sợ vì chúng ta không biết rõ bùa là gì . Nếu
biết rõ về nó, về lực của bùa chú, chúng ta sẽ không
sợ. Thực ra, bùa cũng có tác dụng nhất định. Bùa có tác
dụng của tâm linh, của niềm tin nhờ sự luyện tập lâu
ngày và nhờ định lực của thầy bùa. Nhưng tác dụng bùa
chú còn lệ thuộc vào nghiệp. Ví dụ, một cái đánh của
người khác tác động lên cơ thể làm chúng ta đau, nhưng
nó lệ thuộc vào nghiệp. Nếu không bị cái nghiệp nào đó
thì người ta không đánh mình được. Bùa cũng vậy. Nếu
không mắc cái nghiệp gì đó thì người ta không đánh bùa
mình được. Nó không phải là cái gì quá huyền bí, quá siêu
nhiên mà con người không thể biết được. Khi hiểu về nó,
chúng ta sẽ không còn sợ hãi nữa.
Nói
đến bùa chú, chúng ta không thể không liên hệ đến chuyện
ngài A Nan với Ma Đăng Già. Vì ngài A Nan rất đẹp nên cô
Ma Đăng Gìa gặp vài lần đã đem lòng thương nhớ rồi lâm
bệnh. Người mẹ tìm hiểu và cô đã kể thật mọi điều.
Thương con nhưng bà mẹ không biết làm cách nào cho con khỏi
bệnh. Nghe lời mách, bà đến nhờ một thầy bùa. Thầy bùa
làm phép và cô gái đã tỉnh ra. Đợi ngài A Nan khất thực
đi ngang, cô gái bước ra chào để cúng dường. Do sự thúc
đẩy vô hình không ngờ được trong tâm mình, ngài A Nan tự
nhiên đi theo cô gái vào nhà. Khi Ngài đi vào, cô Ma Đăng Già
nói lời yêu thương tha thiết. Tâm đạo Ngài rất vững nhưng
bị bùa khống chế nên bị lung lay. Lúc ấy, Phật biết chuyện
nên dùng thần thông hóa độ cho Ngài thoát ra. Sau đó, Phật
cũng độ cho cô Ma Đăng Già xuất gia luôn.
Qua
câu chuyện, chúng ta thấy tác dụng của bùa chú thật ghê
gớm. Ngài A Nan là người đã tu tập đàng hoàng vậy mà vẫn
bị năng lực của bùa chú tác động. Sự thật, điều này
còn do nghiệp quá khứ. Trong quá khứ, ngài A Nan và Ma Lăng
Già đã từng có duyên vợ chồng với nhau, đã từng thương
yêu nhau thắm thiết nên bây giờ gặp nhau, duyên xưa
trỗi dậy. Cả hai yếu tố hợp lại khiến tâm Ngài bị lung
lay chứ không hoàn toàn do bùa chú.
Cũng
có trường hợp nhiều người đi trên xe bị người ta
đánh bùa, lấy sạch đồ đạc. Điều này không chỉ do bùa
mà còn do nghiệp của người ấy trong quá khứ. Có thể trước
kia, họ cũng đã làm điều gì đó nên bây giờ đến lúc
phải trả nghiệp. Khi hiểu được điều này, hiểu nhân quả
chi phối, chúng ta sẽ không sợ hãi thế lực siêu nhiên nữa.
Nếu ai nói ông thầy bùa này ghê gớm, cao tay ấn, chúng ta
cũng không sợ. Chỉ cần giữ được đạo đức, giữ lòng
tôn kính Phật và siêng năng làm việc thiện, chúng ta sẽ
không sợ bất cứ thế lực nào, kể cả những thế lực
siêu nhiên.
Như
vậy, can đảm cũng do trí tuệ mà có. Nếu đã có Trí, có
Bi, chúng ta cũng dễ dàng có được cái Dũng.
Tinh
thần mạnh mẽ khiến chúng ta trở nên gan dạ, có thể
đối diện với hiểm nguy còn được tạo nên nhờ sức khỏe.
Một người không có sức khỏe, cơ thể yếu đuối, thường
có tinh thần bạc nhược. Khi có sức khỏe, chúng ta cảm thấy
xốc vác trong công việc, dám làm mọi việc dù rất khó khăn,
vất vả. Cũng nhờ có sức khỏe, tinh thần chúng ta vững
vàng hơn và dám làm được những điều mà người khác e
ngại. ( Tất nhiên, trừ một số trường hợp ngoại lệ ).
Nếu chùa có việc gấp, dù giữa trưa nắng chang chang hay giữa
lúc mưa tầm tã, chúng ta cũng sẵn sàng nhận lãnh.
Chúng
ta cũng gặp không ít trường hợp người có thể chất yếu
đuối nhưng tinh thần vô cùng mạnh mẽ. Có được điều
đó là nhờ họ có phước. Chính phước cũng tạo nên tinh
thần mạnh mẽ cho con người.
Những
người có khả năng, giỏi giang sẽ có sự tự tin, tinh thần
cũng vững vàng và làm được nhiều việc. Gặp bất cứ việc
gì họ cũng có thể làm được. Ngược lại, những người
không có khả năng dễ mất tự tin, tinh thần cũng yếu đuối,
không mạnh dạn bắt tay vào việc. Ai nhờ làm việc gì, họ
cũng ngại không dám nhận lời. Bởi vậy, sự vụng về, thiếu
khả năng cũng làm cho con người ta xuống tinh thần, luôn mang
mặc cảm và khó thành công.
Người
có tiền bạc, có địa vị, có thế lực thường là người
có tinh thần mạnh mẽ. Nếu có một cơ sở vật chất vững
chắc, khi ngoại giao hay trao đổi làm ăn với ai, chúng ta cảm
thấy mình có một tư thế vững vàng. Nếu quá nghèo khó,
tiếp xúc với người khác, chúng ta thường rụt rè, không
đủ tự tin. Hoặc một người có quyền hành trong tay thường
quyết định mọi việc một cách dễ dàng. Những người này
tinh thần cũng mạnh mẽ. Trong khi đó, những người không
có quyền hành gì, thường là dân đen, chỉ biết nghe theo
lời người khác. Tinh thần họ cũng trở nên yếu đuối.
Như
vậy, người có trí tuệ, có khả năng, có sức khỏe, có
tiền bạc, có địa vị… thường là những người có
tinh thần mạnh mẽ, vững vàng. Tất cả những điều
ấy có được đều do phước. Hay nói cách khác, người có
phước sẽ có tinh thần mạnh mẽ. Dựa vào đó, chúng ta có
thể đánh giá được những người sống quanh mình. Nhìn người
nào có tinh thần mạnh mẽ, chúng ta biết người đó có phước
bên trong. Những người tinh thần bạc nhược, yếu đuối,
lúc nào cũng rụt rè sợ sệt, muốn nói mà không dám nói,
muốn làm cũng không dám làm thường là người thiếu phước.
Trên
cơ sở đó, chúng ta cũng có thể đánh giá được cái phước
có được nơi bản thân mình. Nếu từ trước đến nay, bản
thân là người xốc vác, dám nói, dám làm, chúng ta biết mình
là người có phước. Hiểu như vậy, chúng ta cố gắng nuôi
dưỡng, giữ gìn. Còn nhận ra bản thân mình lúc nào cũng
sợ sệt, rụt rè, chúng ta biết mình thiếu phước, phải
cố gắng làm phước nhiều hơn. Mỗi ngày, chúng ta nên giúp
đỡ mọi người, làm lợi ích cho Phật pháp. Dần dần, tinh
thần chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ. Nếu chịu khó quan sát
chúng ta sẽ thấy điều này rất hiệu nghiệm. Nhiều người
khi mới vào chùa trông hiền lành, thậm chí còn khờ khạo,
ai nói gì cũng nhịn, ai sai gì cũng làm nhưng lại cặm cụi
lo công quả, tu tập. Sau này, người đó rất có uy đức,
trở thành cột trụ của Phật pháp.
Một
điều chúng ta cần nhớ là khi đã có phước, tinh thần, cá
tính được mạnh mẽ, chúng ta không nên lấn át người khác
vì nếu sử dụng không đúng chỗ, phước dần dần sẽ hết.
Khi đó, tinh thần của chúng ta lại trở nên yếu đuối. Thói
thường, những người được nhiều người khen, được nhiều
người cung kính hay xuất hiện tâm tự hào. Một khi tâm tự
hào xuất hiện, họ bắt đầu chấp vì danh lợi và coi thường
người khác. Bởi vậy, khi tu có tiến bộ, có những kết
quả, được người khác sùng bái, khen ngợi, chúng ta phải
cẩn thận, phải chuẩn bị một đạo lý, một công phu gì
đó để làm cho nó trở nên vô hiệu.
Sự
tham lam ích kỷ, thù hận có thể thúc đẩy con người dám
làm những điều nguy hiểm. Ví dụ, những tên cướp dám hành
động giữa ban ngày hoặc những tên trộm, ban đêm dám leo
tường vào cạy cửa nhà người ta để trộm tiền bạc, của
cải đều là những người có “gan to”. Nhưng cái gan của
họ có được không phải do tinh thần mạnh mẽ, do sự thúc
đẩy của Thiện tâm hoặc do trí tuệ mà do lòng tham. Chính
lòng tham đã thúc đẩy họ dám làm những việc khó khăn,
nguy hiểm ấy.
Ở
nông thôn, có nhiều người ăn trộm rất liều. Họ thường
lẻn vào nhà người khác lúc xâm xẩm tối, khi chủ nhà chưa
đóng cửa và chui xuống gầm giường nằm im ở đó. Khi gia
đình người ta đã tắt đèn đi ngủ, người ăn trộm
từ từ bò ra lấy đồ đạc và mở cửa tẩu thoát. Họ ăn
trộm một cách nhẹ nhàng mà táo bạo như vậy. Tất nhiên,
sự gan dạ ấy có được là do họ còn phước. Khi hết phước,
họ sẽ rơi vào trạng thái yếu đuối, sợ hãi. Trường hợp
“Phước tám ngón” là một ví dụ. Đây là một tên cướp
nổi tiếng, từng cướp của, giết người không gớm tay,
dám đưa ngón tay mình ra chặt trước mặt mọi người,
Công an phải truy nã bao nhiêu năm mới bắt được. Nhưng khi
vào tù, phước hết nên tinh thần cũng xuống. Ngày bị đem
ra pháp trường xử bắn, anh ta run sợ, chân không bước nổi
nữa. Sở dĩ phước của những tên cướp như “Phước tám
ngón” không còn khiến tinh thần bị sa sút trầm trọng vì
trước kia họ đã gây nên quá nhiều lầm lỗi.
Ngược
lại, những người thật sự có Thiện tâm, tinh thần sẽ
mạnh dần đến lúc chết. Lịch sử còn ghi lại những tấm
gương sáng về tinh thần chiến đấu, hy sinh vì quê hương
đất nước của những chiến sĩ cách mạng. Họ chiến đấu
dũng cảm, đến giây phút cuối cùng của cuộc đời mình,
tinh thần họ vẫn vững vàng. Liệt sĩ Nguyễn Thái Học, lãnh
tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị bắt trong cuộc khởi nghĩa
Yên Bái, khi bị đưa lên đoạn đầu đài vẫn hiên ngang,
không hề run sợ. Trước lúc chết, người chiến sĩ cách
mạng ấy vẫn còn hô lớn: “Việt Nam muôn năm !” Sở dĩ
tinh thần của những chiến sĩ mạnh mẽ cho đến phút cuối
cùng vì họ có phước lớn. Họ đã sống và chiến đấu
vì quê hương đất nước, vì tâm thiện.
Trong
cuộc sống, nhìn vào tinh thần của những người già, chúng
ta cũng sẽ biết trong suốt cuộc đời, họ có làm nhiều
điều thiện hay không. Những người lớn tuổi mà đầu óc
vẫn minh mẫn sáng suốt, tinh thần vẫn vững vàng, mạnh mẽ
là những người suốt cả một đời chất chứa điều thiện.
Ngược lại, những người già có tinh thần yếu đuối, hiu
hắt như ngọn đèn trước gió thường là những người không
làm được bao nhiêu điều thiện trong cuộc đời mình.
Nếu
nhìn thấy những người thân của mình có một tinh thần yếu
đuối, các Phật tử hãy khuyên họ làm phước. Chúng ta biết
rằng, người sắp lìa khỏi cuộc đời mà tinh thần yếu
đuối thì khi chết sẽ không được đi về cõi siêu thoát.
Ngược lại, những người đến lúc chết vẫn vững vàng
sáng suốt, hiền lành, tỉnh táo thì khi chết sẽ được đi
về nơi sang quý, về cõi trời. Đặc biệt, những người
còn trong độ tuổi thanh xuân thường có sức khỏe tốt nên
tinh thần mạnh mẽ. Nếu ở vào tuổi này mà cảm thấy tinh
thần yếu đuối, chúng ta phải lo làm phước, sống một đời
hy sinh cho người khác.
3.
MỘT VÀI TẤM GƯƠNG.
Tìm
hiểu một vài tấm gương của người xưa, chúng ta sẽ có
thêm những bài học quý trong việc rèn luyện tinh thần, ý
chí. Ngày xưa, vào thời Đức Phật, trong những khu rừng Ấn
Độ có rất nhiều thú dữ, nhất là cọp, beo, sư tử, mãng
xà… sinh sống. Vậy mà, có những lúc Phật chấp nhận sống
một mình cô đơn trong rừng sâu để tu tập, nhất là trong
49 ngày Ngài ngồi thiền nhập định, trước khi thành tựu
Phật quả. Đó là một thử thách ghê gớm đòi hỏi phải
có một lòng can đảm đặc biệt. Khi nhập được định
vào khoảng Nhị thiền, những ảo ảnh Ma Vương hiện ra quấy
phá Ngài. Trong những cảnh quấy phá ấy có cảnh Ma Vương
muốn làm cho Ngài phải khiếp sợ, phải di động cơ thể
để mất Thiền định. Muôn ngàn Ma quân cầm gươm dao chém
tới tấp vào Ngài. Cảnh hiện ra trông như thật chứ không
phải là ảo ảnh. Chỉ cần cơ thể nhúc nhích, tâm dao động
là Ngài sẽ mất ngay Thiền định. Nhưng lúc ấy, Ngài vẫn
không nhúc nhích. Vì trước khi bắt chân lên ngồi, Ngài đã
phát lời đại nguyện : “Nếu không thành tựu vô thượng
chánh đẳng chánh giác, ta thà tan xương, nát thịt chớ không
rời khỏi tòa này” - một lời thề thật quyết liệt. Vì
vậy, khi muôn cảnh hiện ra với những người cầm dao chém
tới tấp, Ngài coi như mình đã chết, ngồi yên không cử
động. Nhưng tất cả vẫn không chém được Ngài bởi đó
chỉ là ảo ảnh. Một lần khác, khi Ma quân cầm cung tên bắn
vào người Ngài, Ngài vẫn ngồi đó, chấp nhận chết, quyết
không nhúc nhích cơ thể. Nhưng kỳ lạ thay, những mũi tên
ấy bay tới biến thành những đóa hoa rơi lả tả quanh Ngài.
Đây
là một câu chuyện đẹp và lãng mạn ca ngợi tinh thần dũng
cảm, lòng can đảm, cái đại hùng đại lực của một người
trên đường đi tìm sự giác ngộ vì con đường đi đến
giác ngộ không phải là con đường đơn giản.
Hoặc
chuyện ngài Quy Sơn Linh Hựu đối diện với cọp trên núi
cũng là một gương sáng về lòng can đảm. Một thầy Địa
lý đã nói cho ngài Bá Trượng, ngài Quy Sơn một thắng cảnh
tốt có thể quy tụ cả một ngàn năm trăm người. Ngài Quy
Sơn xin đi về vùng núi đó. Khi đến nơi, Ngài chỉ cất
một cốc nhỏ, một am tranh để ở và tu. Trên đường đi,
có khi Ngài phải lượm trái rừng mà ăn, có khi còn gặp cọp,
beo… nhưng Ngài vẫn không sợ. Chúng ta biết, cọp là loài
vật hung dữ, có tướng đi vững chắc, oai vệ, đôi mắt
sáng rực, tiếng gầm vang cả núi rừng. Người yếu đuối
đứng trước mặt một con cọp sẽ bủn rủn tay chân, có
khi ngất xỉu vì quá sợ hãi trước thần lực của nó. Muông
thú trong rừng đều sợ họ nhà cọp. Nhiều con vật khi đã
gặp nó, không đủ sức chạy nữa vì sức thôi miên của
nó. Nhưng tinh thần ngài Quy Sơn Linh Hựu vẫn vững vàng. Thấy
con cọp chặn đường, Ngài nói : “Nếu ta có duyên với núi
này, ngươi tránh qua bên; còn nếu ta không có duyên, ngươi
cứ ăn thịt”. Nói rồi, Ngài xăm xăm đi tới. Nhưng con cọp
đã tránh qua một bên. Thần lực của Ngài rất vững vàng,
tinh thần của Ngài rất mạnh mẽ đến cọp cũng phải nể.
Chuyện
cọp vào quy y với ngài Hư Vân cũng thật kỳ lạ. Hòa thượng
Hư Vân là người rất đặc biệt. Khi Ngài giảng Kinh trong
chùa, một con cọp trên núi cũng xuống vào chùa xin quy y. Gần
đây nhất là câu chuyện ngài Hư Vân dám đi thẳng vào quân
trại gặp thống binh Lý Căn Nguyên để ngăn chặn việc phá
chùa, bắt Tăng ở Trung Hoa. Khi Cách mạng Tân Hợi thành công
(1911) đánh đổ được triều đại nhà Mãn Thanh, chấm dứt
triều đại phong kiến tồn tại hàng mấy ngàn năm và thành
lập nước Trung Hoa Dân quốc, Tôn Văn ( là Tôn Dật Tiên )
lên làm Tổng thống đầu tiên của Trung Hoa. Ông là người
theo Tây học và có theo đạo Thiên Chúa. Vì vậy, chính quyền
của ông rất có ác cảm với đạo Phật và ra lệnh đập
phá chùa chiền, bắt Tăng sĩ. Trong đó, thống binh Lý Căn
Nguyên là người cực đoan, chống lại đạo Phật rất quyết
liệt. Ông đem quân tràn xuống miền Vân Nam, nơi ngài Hư Vân
đang ở, bắt Tăng sĩ giam vào tù, phá dỡ hết chùa chiền.
Nghe nói ngài Hư Vân rất nổi tiếng, là người thuộc hàng
lãnh đạo của Phật giáo, ông ta có ý định sẽ đến đó
bắt giam luôn Ngài. Ông đưa quân về đó lập doanh trại nên
Tăng chúng trong các chùa đều xin đi nơi khác, không ai dám
ở lại. Ai cũng lo sợ, khuyên Ngài hãy đi lánh nạn nhưng
Ngài nói: “Các vi muốn đi thì cứ đi. Nếu phải trả nghiệp
báo thì lẩn trốn có ích chi. Ta sẵn sàng đem thân mạng mình
hy sinh cho Phật pháp”. Rồi Ngài đích thân một mình đi đến
doanh trại xin gặp ông thống binh. Khi tới cổng trại, những
người lính biết Ngài là bậc chân tu đã khuyên Ngài nên
trốn đi, nếu không tai họa sẽ ập đến. Nhưng Ngài nói
: “Không, cho tôi vào gặp thống binh” và đi thẳng vào doanh
trại. Vốn không có cảm tình gì lại thấy Ngài dám vào nói
chuyện với mình, thống binh Lý Căn Nguyên sắc mặt nóng giận
hỏi Hòa thượng:
- Phật
giáo dùng để làm gì, có ích lợi chi ?
Hòa
thượng Hư Vân đáp:
- Ân
đức giáo hóa của Thánh nhân thật vô lượng.… Phật giáo
dùng để cứu đời, làm lợi ích cho nhân dân. Từ lời
dạy đơn sơ đến lý lẽ thâm sâu đều vì tạo việc lành,
dẹp trừ điều ác… Phật giáo dạy người trị bịnh trong
tâm. Tâm là gốc của muôn ngàn sự vật. Nếu gốc chân chính
thì muôn việc đều bình an, trời đất luôn thái bình.
Nghe
Hòa thượng trả lời như vậy, ông ta hỏi tiếp:
- Vậy
chứ còn tượng đồng, tượng gỗ để làm gì vậy, chỉ
tốn hao tiền của dân chúng thôi chứ ích lợi gì ?
……
- Nếu
thế, tại sao các tăng sĩ không làm những việc tốt mà lại
đi làm các việc kỳ quái, như những kẻ phế thải trong xã
hội ?
…….
Khi
nói chuyện, ông ta công kích đạo Phật rất dữ dội. Tất
nhiên, trước sự công kích của người khác, chúng ta phải
suy nghĩ lại. Chúng ta phải nghĩ xem trong thời đó, quý Thầy
đã làm gì để người ta kết luận sự hiện diện của đạo
Phật không đem lại ích lợi cho cuộc đời này mà đem lại
sự tốn kém; còn các Tăng sĩ như những kẻ phế thải trong
xã hội ? Suy nghĩ về lời phê phán nặng nề của người
khác một cách sâu sắc, chúng ta sẽ thấy được lỗi của
mình. Trong trường hợp này, ngài Hư Vân đã bình tĩnh trả
lời từng câu hỏi của ông thống binh bằng đạo lực và
uy đức của mình. Nhờ vậy, từ một con người công kích
đạo Phật rất nặng, bắt hết Tăng sĩ, dọa bắt luôn
ngài Hư Vân, vị thống đốc kia trở nên có cảm tình với
Ngài và cảm tình với đạo Phật. Ông ta đã nhận ra Phật
pháp thật cao siêu . Sau này, vị tướng họ Lý vào chùa xin
quy y, nguyện xin làm đệ tử của Hòa thượng và thỉnh Ngài
làm tổng trụ trì toàn núi Kê Túc.
Câu
chuyện cho thấy tấm gương can đảm của ngài Hư Vân. Nếu
không do đức tu hành khổ hạnh và lòng can đảm, làm sao Hòa
thượng có thể chuyển tâm được viên tướng Lý Căn
Nguyên trong một khoảng thời gian ngắn ngủi như thế? Chuyện
ngợi ca những gương can đảm trong đạo Phật như vậy rất
nhiều. Chúng ta chỉ nêu một vài chuyện tiêu biểu để làm
gương.
Trong
chiến tranh, có biết bao tướng sĩ dũng cảm xông pha vào chỗ
chết để chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước. Chúng
ta từng nghe sử sách kể về tấm gương can đảm của ông
Trần Bình Trọng. Vào thời nhà Trần, quân Mông Cổ đem quân
xâm lược nước ta. Bọn chúng là những kẻ hiếu sát và
khát máu. Gặp quân ta, chúng giết ngay chứ không cần bắt
làm tù binh. Nhưng khi bắt được Trần Bình Trọng, bọn chúng
không giết mà yêu cầu ông hợp tác và hứa nếu ông đồng
ý, chúng sẽ phong Vương cho ông. Trần Bình Trọng trả lời
một cách khảng khái : “ Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không
thèm làm vương đất Bắc”. Câu trả lời nổi tiếng của
ông đã đi vào sử sách và tên tuổi của ông đã được
lưu danh muôn thuở.
Tuy
sự nghiệp của Trần Bình Trọng không được sử sách viết
nhiều nhưng là người tu học, chúng ta phải suy luận xem ông
có uy đức gì khiến những tên lính khát máu đó phải nể
phục ? Có thể nói, Trần Bình Trọng có một thần thái phi
thường, phát ra bên ngoài ở sự cương nghị, ở phong thái
đĩnh đạc và tư thế hiên ngang, bất khuất. Nếu không bị
bắt, không bị giết chết, có lẽ ông sẽ có nhiều cống
hiến lớn lao hơn cho đất nước. Con người ấy rất
phi thường mà chúng ta không thể nào khai thác hết được.
Hoặc
chuyện kể về Nguyễn Biểu cũng được lịch sử ghi lại
như một tấm gương sáng về lòng can đảm. Khi quân Minh
sang xâm lược nước ta, ông đại diện cho Lê Lợi đến thương
lượng với giặc. Một mình ông dám đi vào doanh trại của
giặc trong khi bọn chúng đang tìm cách tiêu diệt lực lượng
kháng chiến của nghĩa quân Lam Sơn. Khi tiếp kiến, bọn giặc
đã chặt đầu một tù binh đem hấp, mắt còn mở trừng trừng
và đặt lên bàn để đãi ông. Nhưng ông vẫn bình tĩnh
lấy đũa gắp hai con mắt bỏ vào miệng nhai nuốt trước
sự ngạc nhiên của bọn giặc. Con người ấy quả thật có
một lòng can đảm, một tinh thần mạnh mẽ, vững vàng.
Lật
lại từng trang lịch sử dựng nước và giữ nước của dân
tộc từ xưa đến nay, chúng ta còn thấy lấp lánh biết bao
tấm gương khác về lòng can đảm, về tinh thần dũng cảm,
không khuất phục trước kẻ thù. Chúng ta rất tự hào khi
tổ tiên mình có những con người phi thường như thế…
Hiện
nay, trên thế giới vẫn đang tồn tại những tổ chức tội
ác rất tinh vi như: Mafia ở Âu Châu hay Hội Tam Hoàng ở Hồng
Kông… Bọn Mafia hoạt động có tổ chức rất chặt chẽ
và có một quy định gần như thành luật, luật bất thành
văn gọi là luật im lặng. Nghĩa là thấy chúng giết người
hay làm bất cứ việc gì ở đâu, mọi người đều phải
im lặng. Nếu không, chúng sẽ trừng trị thẳng tay, không
tha thứ. Vì vậy, suốt một thời gian dài, không ai dám tố
cáo bọn tội phạm đó. Chúng vẫn lộng hành nhưng cảnh sát
không thể nào điều tra được. Cuối cùng, không chịu đựng
nổi, toàn dân Ý đã đứng lên chống lại. Họ chấp nhận
chết, quyết không chịu im lặng. Nhờ phá vỡ luật im lặng
ấy mà tổ chức tội phạm Mafia dần dần bị tiêu diệt.
Trong cuộc chiến đấu chống lại bọn tội phạm ấy, có
những vị quan tòa đã phải trả giá bằng cả sinh mạng của
mình. Tiêu biểu cho những con người kiên quyết chống lại
bọn Mafia ấy là Falcon. Ông chiến đấu chống bọn tội phạm
rất có hiệu quả. Nhưng cuối cùng, bọn chúng điều tra và
nắm được lộ trình của ông. Một lần trên đường đi
về từ sân bay, xe ông bị chúng đặt bom làm nổ tan tành.
Ông đã phải trả giá bằng cả sinh mạng của mình. Những
người sau vẫn kế tục sự nghiệp chống bọn tội phạm
của ông một cách gan dạï, kiên trì, không mệt mỏi.
Trong
cuộc đời, nếu nhiều người dám chống lại tội ác, không
hề sợ hãi, tội ác sẽ dần dần bị đẩy lùi. Nếu
chúng ta lúc nào cũng dè dặt, sợ hãi, tội ác sẽ lan tràn
mãi, lan tràn mãi như cỏ dại gặp mùa xuân.
4.
CÔNG ĐỨC.
Chúng
ta biết rằng, tạo phước trong điều kiện dễ dàng, phước
sẽ không nhiều. Chính sự cố gắng quá độ mới đem lại
cho chúng ta phước lớn. Nếu tạo phước trong điều
kiện nguy hiểm thì công đức vô cùng lớn. Đây là điều
chúng ta cần khẳng định lại.
Trong
hoàn cảnh thế giới hiện nay, Phật pháp còn gặp rất nhiều
khó khăn. Nếu nghĩ rằng Phật pháp hiện nay đang phát triển
trong hoàn cảnh thuận tiện, chúng ta sẽ mất đi ý thức phấn
đấu để giáo hóa chúng sinh, để xây dựng Phật pháp. Sở
dĩ đạo Phật gặp nhiều khó khăn là do những nguyên nhân
khách quan và chủ quan. Trước hết, bên cạnh những cán bộ
có thiện cảm, giúp đỡ cho đạo Phật phát triển, vẫn có
nhiều viên chức Nhà nước còn ác cảm với đạo Phật, luôn
gây khó khăn, cản trở những người làm Phật sự. Đây là
một sự thật. Vì vậy, hoạt động Phật pháp trong hoàn cảnh
có nơi chính quyền có thiện cảm với đạo Phật, có nơi
không có thiện cảm, chúng ta sẽ rất vất vả. Nhiều cán
bộ còn ảnh hưởng tư tưởng cho rằng đạo Phật, tôn giáo
là thuốc phiện của quần chúng theo tín ngưỡng cũng đồng
nghĩa với mê tín. Vì thế, họ luôn luôn gây khó khăn cho
chúng ta. Nhiều khi họ còn nghi kỵ những người về vùng
hẻo lánh mang Phật pháp, đạo đức đến cho con người.
Họ cho rằng những người ấy có liên quan đến chính trị
và luôn theo dõi, rình rập. Những lúc như vậy, nếu sợ hãi,
không dám đương đầu với nguy hiểm, chúng ta sẽ không làm
được việc cho Phật pháp. Mỗi người phải can đảm, cứ
tiếp tục làm việc Phật pháp để giáo hóa chúng sanh. Chính
những việc làm tốt của chúng ta, chính nhân cách đạo đức
của chúng ta sẽ giúp họ hiểu ra sự thật.
Bên
cạnh đó, còn có không ít những quần chúng còn chỉ trích
tu sĩ. Đó là những người không có tín ngưỡng, không có
niềm tin vào Phật pháp. Nhiều khi nhìn thấy người tu,
họ còn xem thường, thậm chí công kích. Tất nhiên, người
xuất gia chúng ta cũng cần xem lại nhân cách, tư cách đạo
đức của mình. Có thể có trường hợp “một con sâu làm
rầu nồi canh”, khiến họ “vơ đũa cả nắm” và có ác
cảm với người tu. Bổn phận của chúng ta là phải cố gắng,
phấn đấu rèn luyện tư cách đạo đức của mình để làm
gương cho những người đi sau. Chúng ta làm sao cho tất cả
những người tu đều có đạo đức tốt, đều có lòng thương
yêu chúng sanh, có lý tưởng thiết tha hướng về sự giác
ngộ giải thoát. Có như vậy, cuộc đời này sẽ bớt đi
người xấu và quần chúng bên ngoài bớt đi sự công kích.
Đó cũng là cách để chúng ta đền ơn Phật. Chúng ta quyết
không để vì một người xấu mà ảnh hưởng đến uy tín
của đạo Phật.
Ngoài
những nguyên nhân trên, các cuộc cạnh tranh tôn giáo cũng
gây khó khăn cho sự phát triển của đạo Phật. Đạo Phật
vốn rất hiền lành, thậm chí nhu nhược trong khi các tôn
giáo khác luôn âm thầm có những kế hoạch lôi kéo tín đồ.
Chẳng hạn, một người trong đạo lấy chồng hay lấy vợ
đều phải chọn người theo đạo hoặc buộc người khác
phải theo đạo của họ. Hoặc con cái sinh ra phải theo đạo
của cha mẹ. Trong khi đó, đạo Phật không quan tâm đến điều
này. Nhiều người theo đạo Phật nhưng khi lấy chồng, lấy
vợ lại bỏ đạo để theo đạo của chồng hoặc vợ mình.
Có khi, cha mẹ theo đạo Phật nhưng lại không hướng cho con
cái theo đạo Phật, cứ quan niệm khi lớn lên, tùy con cái
lựa chọn tín ngưỡng cho mình… Đó là thái độ vô trách
nhiệm của Phật tử hiện nay mà người tu chúng ta cần phải
lưu ý.
Không
chỉ đơn giản là giành tín đồ, một số tôn giáo còn có
những kế hoạch phá đạo Phật rất thâm hiểm. Chúng ta biết
rất rõ điều đó. Mặc dù lòng vẫn từ bi, không thù ghét
nhưng chúng ta cũng phải hiểu đây là một sự đe dọa lớn
đến việc phát triển đạo Phật.
Đối
với đạo Thiên Chúa, việc truyền bá đạo cũng nằm trong
khuôn khổ luật pháp nên không gây nhiều khó khăn cho các
tôn giáo khác. Nhưng Hồi giáo là một trong những đạo tranh
giành tín đồ, tranh giành đất đai bằng súng đạn. Tại
những vùng đạo Hồi phát triển, thân phận người theo đạo
Phật rất nguy hiểm. Có những vùng trước kia là đạo Phật,
bây giờ trở thành đạo Hồi cũng bằng con đường bạo lực,
bằng sự mạnh mẽ, cuồng tín của họ. I-ran, Ba Tư ngày xưa
được coi là những nước có đạo Phật phát triển mạnh,
bây giờ trở thành một nước chỉ có đạo Hồi ngự trị.
Hay một đất nước Ấn Độ rộng mênh mông, trước kia đạo
Phật chiếm lĩnh, bây giờ thành đất nước của Hồi giáo,
của Ấn Độ giáo. Những vùng như Indonesia, Mã Lai cũng là
nơi đạo Phật phát triển bây giờ đã thành vùng đất của
Hồi giáo. Hay ở Thái Lan, Phật giáo vốn là Quốc giáo, bây
giờ miền Nam Thái Lan đang dần dần trở thành đất của
Hồi giáo….
Hiện
nay, tại Việt Nam, một số đền thờ Hồi giáo đã xuất
hiện. Họ cũng đang ngấm ngầm nhận được sự tài trợ
để truyền bá đạo của mình. Nếu chúng ta cứ thờ ơ, không
nhìn xa, nhìn rộng, không thấy được trách nhiệm của mình
đối với đạo Phật thì tiền đồ của Phật pháp sẽ không
thể nào tươi sáng. Ngay từ đầu, chúng ta đã xác định
là không có hành động tranh giành tín đồ nhưng mỗi người
phải có trách nhiệm đem Phật pháp giáo hóa rộng rãi khắp
nơi để mọi người biết được luật Nhân Quả. Không biết
luật Nhân Quả là một thiệt thòi lớn cho chúng sinh. Vì vậy,
chúng ta phải truyền bá Phật pháp để truyền được luật
Nhân Quả, đem ánh sáng trí tuệ đến cho con người. Nếu
chúng sinh tin được luật Nhân Quả, họ sẽ có chánh kiến
vững chắc để đi trong luân hồi bớt đau khổ. Đồng thời,
họ được soi mình trong ánh sáng của Phật pháp.
Trong
đạo Phật còn có lý tưởng, có con đường đưa đến sự
giải thoát giác ngộ. Đó là nơi hạnh phúc, an vui thật sự
tuyệt đối mà các đạo khác không có. Chính vì vậy, chúng
ta luôn luôn cố gắng đem Phật pháp truyền bá cho mọi người.
Tuy nhiên, lý tưởng thật cao đẹp nhưng do tinh thần
yếu đuối, nhu nhược nên cuối cùng chúng ta đã để biết
bao nhiêu chúng sinh rơi vào tà kiến của các tôn giáo khác.
Đó là một nhược điểm mà chúng ta phải khắc phục.
Hiện
nay, ngay trong nội bộ đạo Phật cũng chưa có sự đoàn kết,
vẫn còn những phần tử kết bè phái để mưu hại người
tốt. Đây là điều đau lòng nhất trong Phật pháp. Không ít
người tuy mang hình thức Tăng sĩ nhưng sự thật là người
không tốt. Có những người do quen biết, có thế đứng trong
Giáo hội, nắm được thế lực nhưng lại dùng thế lực
ấy để hà hiếp người khác, vơ vét quyền lợi cho mình,
không lo lắng gì cho Phật pháp. Sống trong những môi trường
như vậy, chúng ta cũng phải can đảm, không ngần ngại khi
nói ra sự thật này. Có những lúc không đấu tranh được,
chúng ta phải biết chịu đựng nhưng cũng chịu đựng với
một thái độ gan dạ.
Một
điều nữa chúng ta cũng cần phải quan tâm. Đó là những
cách thức có tính hủ bại trong sinh hoạt của Tăng sĩ. Ở
đây chúng ta không tiện phân tích kỹ nhưng sự thật có nhiều
chuyện rất đau lòng, cần phải được chấn chỉnh. Nói
ra điều này, chấn chỉnh điều này chắc chắn chúng ta sẽ
gặp những phản ứng gay gắt, thậm chí còn bị nhiều người
thù ghét, công kích và tìm cách mưu hại. Trong hoàn cảnh
hiện
nay, sự căm ghét, mưu hại cũng là một trong những mối nguy
hiểm mà chúng ta phải đối phó trong quá trình sinh hoạt
Phật giáo. Khi bước ra làm việc đạo, chúng ta phải xác
định rằng mình phải đi trong chông gai, trong sóng gió, biết
bao hiểm nguy đang rình rập. Bởi vậy, ngay từ bây giờ, chúng
ta phải trang bị cho mình lòng can đảm cao độ để có thể
vượt qua những khó khăn, nguy hiểm để có thể làm được
nhiều điều lợi ích cho chúng sinh, góp phần xây dựng Phật
pháp. Và quan trọng hơn nữa là để chúng ta đền ơn chư
Phật, chư Thánh, đền ơn những vị Tôn túc đã đi trước
dẫn dắt chúng ta. Được sống trong môi trường yên ả, thanh
bình để tu học, chúng ta hoàn toàn nhờ vào công lao của
những bậc Tôn túc đi trước, gần nhất là quý Thầy trong
Ban Giám hiệu, xa hơn nữa là bao nhiêu vị Hòa thượng chân
tu đã tiếp nối giáo hóa Phật pháp. Chính các vị đã giáo
hóa rất nhiều Phật tử cho những thế hệ đi sau mình. Chúng
ta phải hiểu rằng, việc hộ đạo luôn luôn là việc của
cư sĩ. Không có họ, chúng ta khó có thể duy trì được Phật
pháp. Nghĩ đến điều đó, chúng ta phải tiếp tục giáo hóa
để Phật tử về sau lại tiếp tục hộ đạo, duy trì Phật
pháp, nuôi dưỡng chư Tăng ở thế hệ sau. Đó cũng là trách
nhiệm vô cùng thiêng liêng của mỗi chúng ta.
5.
NHỮNG PHẢN ỨNG PHỤ.
Tâm
can đảm cũng có những phản ứng phụ. Trước hết, sự can
đảm dễ trở thành sự kiêu mạn; người can đảm cũng dễ
là một người kiêu mạn. Vì qua một lần sử dụng sức mạnh
của tinh thần, tự nhiên bản ngã được kích động và lớn
dần lên.
Ví
dụ, một lần nọ, mấy tay du côn ở đâu kéo đến chùa,
tấn công mọi người. Trong chùa, có một Thầy biết võ, gan
dạ đứng ra đánh lại bọn chúng bảo vệ chùa, bảo vệ
Tăng đoàn, Tăng chúng. Sự can đảm, chiến thắng những kẻ
du côn hung bạo đó đã làm cho người ấy kiêu mạn, tự hào.
Đó là tâm lý rấât dễ xuất hiện trong mỗi người. Bởi
vậy, chúng ta phải xác định, đi tìm sự giải thoát phải
vừa can đảm, vừa khiêm hạ. Dũng là một đức tính rất
cần thiết của người tu nhưng trong gian nguy, làm được điều
gì cho Phật pháp, chúng ta cũng phải thấy mình chỉ là cỏ
rác, cát bụi mà thôi. Có như vậy, tâm kiêu mạn mới không
có dịp khởi lên.
Sự
can đảm cũng dễ tạo thành tính nóng nảy. Thông thường,
những người có tinh thần mạnh mẽ, xốc vác, dám xông pha
vào những nơi khó khăn cũng là người dễ nổi sân. Vì kiêu
mạn nổi lên thì sân sẽ đi theo. Do đó, chúng ta phải lưu
ý điều này. Chúng ta rất gan dạ, rất can đảm nhưng cũng
rất hiền lành, điềm đạm. Đó là tính cách đặc biệt
của người theo đạo Phật.
Đọc
những câu chuyện viết về cuộc đời ngài Hư Vân, chúng
ta thấy con người này có phong thái ung dung, tính tình vô cùng
hiền lành nhưng khi gặp nguy hiểm lại can đảm đối diện,
không hề sợ hãi. Chúng ta phải học theo tinh thần ấy của
Ngài. Nếu gặp khó khăn nguy hiểm, chúng ta sẵn sàng gánh
vác cho mọi người nhưng lúc nào cũng giữ thái độ khiêm
tốn, phong thái hiền lành, nhẹ nhàng.
Một
điều chúng ta cũng thường thấy là sau một khó khăn, nguy
hiểm để hoàn thành công việc tốt, người ta dễ sinh tâm
niệm cậy công. Đó là sự kể công, là nhớ công lao của
mình. Ví dụ, một người rất can đảm, từng xông xáo trong
đám lửa cháy rừng rực để cứu của, cứu người thoát
nạn nhưng sau đó cứ nhớ mãi việc làm của mình. Thỉnh
thoảng, người ấy nhắc lại với một niềm tự hào, một
chút cậy công theo kiểu: “Nếu không nhờ tôi, tất cả bây
giờ đã trở thành tro bụi …”.
Tâm
niệm cậy công cũng là một điều làm chướng đạo.
Chúng ta phải tránh tâm niệm ấy. Trong hiểm nguy, gian khó,
nếu đã quyết tâm làm được điều gì tốt thì chúng ta
phải để công lao đó bay theo mây, theo gió, đừng bao giờ
nhớ đến nữa, cũng đừng mong ai phải nhớ điều đó nữa.
Thử liên hệ đến truyền thống đánh giặc giữ nước của
dân tộc, chúng ta sẽ thấy không phải ngẫu nhiên mà cha ông
ta ngày xưa đã để cho câu chuyện “Thánh Dóng” kết thúc
một cách hoang đường kỳ lạ như vậy. Người anh hùng
làng Dóng sau khi đánh đuổi giặc Ân ra khỏi bờ cõi nước
nhà đã phi ngựa lên núi Sóc Sơn, cởi nón sắt, giáp sắt
bỏ lại, một mình một ngựa bay thẳng lên trời biến mất.
Đó cũng là biểu hiện của tấm lòng vì nước, vì dân, sẵn
sàng chiến đấu nhưng không cần người đời ghi nhớ và
biết ơn.
Tâm
can đảm còn có một phản ứng phụ khác. Đó là sau khi đối
diện với hiểm nguy, chết chóc trở về, con người dễ
trở thành những người tàn nhẫn. Thực tế đã chứng minh
điều đó. Nhiều người lính từng có những năm tháng gian
khổ, cận kề với cái chết từ chiến trường trở về đã
có những biểu hiện rất tàn nhẫn. Họ ra đi chiến đấu
vì chính nghĩa là điều hoàn toàn đúng. Nhưng khi đối diện
với nguy hiểm, lòng can đảm, sự gan dạ sẽ tăng lên. Rồi
bản ngã, sự tàn nhẫn vì thế cũng tăng lên theo. Khi trở
về hậu phương, nếu không biết tu sửa, kiềm chế, họ dễ
có những hành động thô bạo. Nhiều khi chỉ cần người
khác nói điều gì không vừa ý, họ có thể đánh đập
môït cách tàn nhẫn.
Hiểu
được những phản ứng phụ đi theo tâm can đảm như vậy,
chúng ta phải rất cẩn thận. Một mặt, chúng ta phải can
đảm gan dạ, đối diện với nguy hiểm nhưng mặt khác lại
hết sức từ bi, thương yêu con người. Đó là lý do vì sao
Phật đưa yếu tố Bi lên trước Trí và Dũng.
Là
đệ tử Phật, chúng ta phải tu tập tâm từ thuần thục,
ngày đêm quán từ bi cho thật kỹ để làm nền tảng cho tính
can đảm ( Hùng lực). Quán từ bi là việc rất quan trọng
nên chúng ta phải huân tập lâu dài. Khi quán được tâm từ
bi, chúng ta sẽ thấy mọi việc trong cuộc sống dần dần
thay đổi và thái độ của chúng ta đối với con người cũng
thay đổi. Được như vậy, sau này chúng ta sẽ làm được
nhiều việc tốt cho Phật pháp nhưng vẫn giữ được đức
khiêm tốn, vẫn thương yêu con người, vẫn không xem mình
là quan trọng.
Khi
còn là Tăng sinh, dù được quý Thầy che chở , được sống
trong môi trường bình yên, nhưng biết can đảm, dũng lực,
là một đức tính quan trọng của người tu Phật, chúng ta
phải tập dấn thân vào nguy hiểm, khó khăn để rèn luyện
đức tính ấy. Khi có việc khó khăn, cực nhọc hoặc nguy
hiểm, chúng ta không ngần ngại giành lấy về mình, không
được tránh né hay tỏ ra sợ hãi. Bên cạnh đó, chúng ta
cũng phải tích lũy phước từng chút để tinh thần được
mạnh mẽ. Chính tinh thần mạnh mẽ là yếu tố cơ bản để
tạo nên tính can đảm về sau. Nếu tinh thần yếu đuối,
khi gặp chuyện nguy hiểm, chúng ta sẽ không dám đương đầu.