KÍN
ĐÁO
1.
KÍN ĐÁO LÀ KHÔNG NÓI VỀ BẢN THÂN MÌNH CHO NGƯỜI KHÁC BIẾT.
Thông
thường, sự kín đáo không nói về bản thân mình cho người
khác biết được xét trên hai phương diện: một là Đạo
đức, hai là sự khôn ngoan. Đang học về Tâm lý Đạo đức
cho nên chúng ta chỉ tìm hiểu sự Kín đáo như một hạnh
đẹp của Đạo đức.
Là
một người tu hành, dù là cư sĩ hay người xuất gia, vì Đạo
đức, chúng ta ít nói về bản thân mình. Ngay cả khi có những
điều hay, chúng ta cũng không nói cho người khác biết. Trong
khi đó, theo tâm lý thường tình của con người, khi thấy
mình có những điều hay, người ta dễ bộc lộ ra bên ngoài
hoặc kể lại cho người khác nghe. Có chút tài năng gì, có
một tài sản gì, họ cũng nói ra. Hoặc làm được một việc
phước lành, họ cũng kể cho người khác biết. Hay nói cách
khác, những gì làm cho mình có giá trị trước mắt mọi người,
họ đều thích kể cho nhiều người biết.
Thích
nói ra những cái hay, cái tốt của mình cho người khác biết,
đó là tâm lý thường tình của con người. Vì người ta nghĩ
rằng, những điều đó làm cho họ tăng thêm giá trị và khiến
người khác phải nể phục. Tâm lý thèm khát sự cảm phục
của người khác là tâm lý rất mãnh liệt của con người.
Nhưng chúng ta phải hiểu rằng, Kín đáo- không kể những
điều tốt của mình cho người khác biết là một biểu hiện
của Đạo đức. Vì trong thâm sâu, chúng ta không thấy mình
là người quan trọng, không cần sự nể phục của người
khác nên cũng không cần phải kể những chuyện tốt của
mình. Đây là Tâm của một người có chấp ngã tương đối
nhẹ. Thường những người ấy đã đạt được Thiền định
rất tốt sẽ không thấy mình là quan trọng. Thực ra, họ
không muốn kể cho ai nghe về mình chứ không phải giấu giếm
điều gì về mình. Chúng ta phải phân biệt được hai trường
hợp như vậy. Vì có những người vẫn thấy mình quan trọng
nhưng muốn giấu người khác nên không nói ra. Tâm của những
người này chưa thật sự hợp với Đạo.
Ví
dụ, một người thấy mình có một món tiền kha khá nên rất
tự hào vì nghĩ mình có giá trị hơn mọi người nhưng họ
vẫn giấu, không nói ra vì sợ phải giúp đỡ những người
khác. Rõ ràng, trường hợp này cũng giấu, cũng kín đáo không
nói về bản thân mình nhưng không phải là biểu hiện của
Đạo đức. Điều này hoàn toàn khác với người biết mình
có nhiều tiền hơn người khác nhưng cho rằng như vậy không
có gì quan trọng. Trên thực tế, số tiền ấy cũng chưa cần
phải giúp ai nên họ không cần nói ra. Bởi thấy những gì
thuộc về mình không quan trọng nên khong cần phải bày tỏ
cho người khác biết. Đây là yếu chỉ căn bản nhất của
hạnh Kín đáo.
Khi
nói ra những cái hay của mình nghĩa là chúng ta đang khoe khoang,
trong tâm chúng ta đang ngầm có sự kiêu mạn về điều hay,
điều tốt đó của mình. Đây là sự tổn thất trong Đạo
đức, chúng ta phải cẩn thận. Khi lớn lên, càng tu hành,
càng giữ giới, càng làm được nhiều việc thiện, chúng
ta càng có công đức với Phật pháp và phước cũng tăng lên.
Sự ngưỡng mộ của người khác cũng dần dần xuất hiện.
Lúc đó, chúng ta dễ chấp vào nó và sinh tâm kiêu mạn. Chính
kiêu mạn là cái gốc làm nên sự khoe khoang.
Trong
bài Khiêm hạ, chúng ta đã nói rất nhiều về kiêu mạn, kiêu
mạn ở trong tâm. Bây giờ, sự kiêu mạn dễ nhìn thấy hơn
khi đã thốt lên thành lời khoe khoang. Thật vậy, có những
lỗi trong tâm mình, chúng ta không dễ dàng nhìn thấy, trong
đó có sự kiêu mạn. Nhưng khi buột miệng nói ra lời khoe
khoang, tự nhiên chúng ta sẽ sực tỉnh: “Thì ra mình vừa
mới khoe khoang, mình đã có sự kiêu mạn”. Như vậy, trường
hợp không đủ trí tuệ để nhìn thẳng vào tâm, để thấy
kiêu mạn trong tâm mình, chúng ta sẽ nhờ lời nói để biết
được lầm lỗi tiềm tàng trong tâm mình.
Chúng
ta biết rằng, tâm của con người rất phức tạp, thường
có 2 phần: ý thức và vô thức. Ý thức là phần tâm
mình thấy được. Vô thức là những hoạt động của tâm
mà mình không tự thấy được. Ví dụ, những suy nghĩ, hình
ảnh mà chúng ta có thể tưởng tượng, hình dung được, biết
được đều thuộc về ý thức. Hoặc một người nào đó
nói một câu nặng làm mình buồn. Cái buồn đó chúng ta có
thể thấy được, cảm được nên thuộc về ý thức. Ngoài
ra, trong con người còn có nhiều tâm phức tạp của vô thức.
Hoạt động của vô thức rất nhiều, rất bí mật, chúng
ta không thể nhìn thấy được. Muốn thấy được hoạt động
của vô thức, chúng ta phải vào trong Định rất sâu. Bình
thường, ranh giới giữa ý thức và vô thức trong con người
chúng ta không rõ ràng. Điều này tùy thuộc vào trí tuệ bẩm
sinh của mỗi người. Có người, sự ý thức rất hạn chế,
nghĩa là tâm nào rất thô mới nhìn thấy, còn tâm hơi tế
một chút, họ sẽ không nhìn thấy được. Trong khi đó, có
người trí tuệ rất sáng, ý thức rất sâu nên có thể thấy
được nhiều tâm bí mật trong lòng họ. Người ta gọi đây
là người có trí tuệ. Những người này, khi phạm lỗi, họ
sẽ thấy ngay hoặc chỉ cần người khác nhắc nhẹ là họ
nhận ra ngay lỗi của mình. Vì họ nhìn rất sâu vào trong
tâm họ, những lỗi lầm tiềm ẩn họ đều nhìn thấy. Đây
là người có căn cơ tu hành. Ngược lại, những người kém
trí tuệ, chỉ nhìn thấy tâm thô, thường khó nhìn thấy lỗi
mình. Những người này căn cơ thấp, rất khó tu.
Có
khi kiêu mạn phát ra thành hành động. Trong mỗi trường hợp,
hành động phát ra sẽ khác nhau. Nhờ hành động, chúng ta
sẽ biết mình đã bị kiêu mạn chi phối. Ví dụ, một người
mới vào chùa để làm điệu tu hành. Trong chùa có một ông
già vốn là trí thức nhưng thất cơ, lỡ vận phải vào nương
chùa ở để sống qua ngày. Cứ một, hai ngày, đứa con gái
của ông ta lại vào thăm cha và tiện thể nhờ cha giảng bài
cho. Một hôm, chú tiểu đang nằm võng ở nhà kho xem kinh, ông
già đến hỏi một bài Hoá học (có lẽ cô con gái lại vào
nhờ cha giảng giúp bài vở). Chú tiểu thấy bài quá dễ nên
vẫn nằm trên võng, tay cầm lấy cuốn vở của ông già và
giải thích cho ông ta. Khi hiểu ra được, ông rất vui, vội
cầm vở chạy về phòng mình để giảng lại cho con gái. Sau
đó, một Thầy lớn thấy vậy đã nhắc chú tiểu rằng hành
động của chú đã sai. Vì chú là người mới tu, còn nhỏ
nhưng khi nói chuyện với một người lớn tuổi như thế vẫn
nằm trên võng. Rõ ràng, trong tâm người ấy có sự kiêu mạn
tiềm tàng và đã bộc lộ bằng hành động. Điều ấy không
chối cãi được. Nhờ bộc lộ bằng hành động và được
người khác nhắc nhở mà người ấy biết rằng mình đã
kiêu mạn mà bản thân không nhìn thấy được.
Trong
cuộc sống có nhiều trường hợp tương tự như vậy. Điều
quan trọng là khi được nhắc nhở, chúng ta phải chân thành
nhận lỗi và phải sám hối ngay, tuyệt đối không được
chối cãi. Vì đây chính là chỗ mà chúng ta không đủ trí
tuệ để nhìn thấy chính mình. Một khi đã nhận ra được
lỗi và cố gắng sửa, có tâm nguyện sửa, chắc chắn chúng
ta sẽ vượt qua được.
Người
hiếu danh thường khoe khoang về mình. Bởi vậy, không nói
về mình cho người khác biết nghĩa là chúng ta không hiếu
danh, không mong muốn được kính trọng. Chữ danh ngoài nghĩa
là tên còn có nghĩa là tiếng khen, là danh dựï, là sự cảm
phục trong lòng người khác. Thói thường, con người chúng
ta hay mắc một bệnh, bệnh thèm khát sự cảm phục của người
khác. Nhiều khi vì sự thèm khát ấy trỗi dậy quá mãnh liệt,
người ta đã giả mạo, đã bịa đặt bao nhiêu chuyện để
lừa dối mọi người. Sự cảm phục về người này chỉ
xuất hiện trong tâm người kia nhưng có thể làm cho họ sung
sướng khi biết người khác cảm phục mình. Đều này có
sức mạnh thật ghê gớm. Trong cuộc đời, người ta theo đuổi
rất nhiều thứ: tiền bạc, tình yêu, danh lợi…Trong đó,
thèm muốn sự cảm phục của người khác cũng là điều khiến
con người đuổi theo một cách dữ dội. Đây cũng có thể
xem là nhu cầu của con người, một nhu cầu rất tai hại.
Chúng
ta từng nghe người ta nói với nhau về công án của ngài Động
Sơn. Ngài nói: “Ta có tiếng tăm ở đời, ai có thể
vì ta trừ dẹp nó”. Một vị Tăng trả lời bằng cách xoè
tay ra:“ Hòa Thượng cho con đi”. Ngài Động Sơn nói:“ Vậy
là tiếng tăm ta đã hết”. Nghĩa là vị Tăng kia thấy được
sự cảm phục của người khác nằm trong tâm của người
ta chỉ là một cái gì đó giả dối, không cầm, không nắm
được. Vậy mà, con người cứ chấp nó là có thật để
rồi vui buồn theo nó. Khi được người ta cảm phục thì vui.
Khi bị người ta khinh ghét lại buồn. Xòe bàn tay ra xin Hòa
Thượng cho tiếng tăm là vị Tăng muốn nói cái đó không
có thật, không cụ thể như cơm ăn áo mặc, vô hình, giả
dối. Bởi vậy, ngài Động Sơn đã nói : “Tiếng tăm của
ta đã hết”. Thực ra, đó là một lời khen, khen vị Tăng
kia đã hiểu được bản chất vấn đề.
Khi
còn nhỏ, trong chúng ta không ít người được người lớn
khen vài lần. Nếu từng được người khác khen ngợi và tỏ
ra cảm phục, chúng ta sẽ rất khó quên cảm giác sung sướng
ấy. Đó là cảm giác rất mạnh, rất rõ mà chính chúng ta
cũng không sao hiểu nổi. Như vậy, được người khác cảm
phục cũng là một hạnh phúc và điều ấy luôn được người
ta đeo đuổi, thèm khát. Cũng chính nó đã gây nên biết bao
nhiêu thảm cảnh, bao nhiêu oan trái trong cuộc đời này.
Chúng
ta phải nhìn thấy tâm thèm khát sự cảm phục của người
khác là điều rất nguy hiểm, là một ảo tưởng, ảo vọng,
giả dối và phải vượt qua được điều đó. Chúng ta nên
chấp nhận sống một đời thanh bai, kín đáo, không cần ai
biết đến mình. Có thể trong cuộc đời, chúng ta sẽ làm
được nhiều việc tốt cho Đạo, được nhiều người biết
đến và nể phục. Những lúc ấy, chúng ta càng cần phải
cẩn thận, đừng rơi vào trạng thái thèm khát sự cảm phục
của người khác.
2.
KÍN ĐÁO KHÁC VỚI THÂM HIỂM.
Kín
đáo trong Đạo là không mong sự cảm phục của người khác,
vì chúng ta không muốn sinh tâm kiêu mạn, không muốn thấy
mình là quan trọng trước mắt moi người. Như vậy, xét trên
khía cạnh Đạo đức, chúng ta cần phải sống kín đáo, không
khoe khoang về mình. Nhưng trong thế gian, không phải bao giờ
người kín đáo cũng là người tốt. Có những người kín
đáo vì thâm hiểm. Thâm nghĩa là sâu. Hiểm là hiểm độc.
Người thâm hiểm thường giấu kín ý định xấu của mình
để thừa cơ hội ra tay thực hiện. Những ý định xấu đó
là mưu hại người, làm những điều ác độc với cuộc đời.
Bề ngoài, lúc nào cũng thấy họ ít nói, chỉ im lặng hoặc
mỉm cười nhưng bên trong họ là người thâm hiểm, sẵn sàng
làm bất cứ điều gì để hại người khác.
Trong
cuộc sống, chúng ta gặp nhiều người rất ít nói. Có người
ít nói vì hiền lành. Tâm họ rỗng rang, thanh thản, không
bận tâm nên không có gì để nói. Theo khoa học, đó là người
có vùng não của ngôn ngữ không hoạt động nhiều nên
ít nói. Những người như vậy là người có căn tu, hiền
lành, hợp với Đạo. Nhưng có trường hợp ít nói không phải
là hiền lành. Họ vẫn có thể là người độc ác hoặc cộc
cằn. Chúng ta phải cẩn thận khi đánh giá hai loại đối
tượng này để tránh nhầm lẫn. Muốn biết một người ít
nói là hiền lành, hợp với Đạo hay thâm hiểm, chúng ta nên
nhìn vào đôi mắt của họ. Người ta nói :“Đôi mắt là
của sổ của tâm hồn”. Quả thật như vậy. Nếu nhìn đôi
mắt họ từ ái, thong dong, thư thả, chúng ta biết đó là
người hiền lành. Còn nhìn vào đôi mắt sâu hiểm, chúng
ta biết ngay con người ấy cộc cằn và ác độc.
Không
ít người từng rơi vào hòan cảnh thất điên bất đảo cũng
vì những con người có bề ngoài tưởng như hiền lành ấy.
Một Thầy kể rằng, khi được Thầy lớn giao về Trụ trì
một ngôi chùa trong làng để giữ khu đất mới khai khẩn,
các Phật tử họp bàn, đồng ý và Thầy đã về nhận chùa.
Khi về, chùa đã có sẵn một người giữ chùa, gọi là chủ
chùa. Nhờ các Phật tử thuyết phục, ông ta đồng ý cho Thầy
ấy về Trụ trì. Ở đấy, ai cũng bảo rằng ông ta hiền.
Ông ta rất ít nói nhưng khi đã tiếp xúc, mới biết đây
là con người rất thâm hiểm và ác độc. Được một tuần,
vào lúc trời vừa rạng sáng, thừa lúc chùa không có ai, ông
ta vào chùa và yêu cầu vị Trụ trì mới phải rời chùa ra
đi. Thì ra, bao nhiêu Thầy, bao nhiêu Ni cô đến đây đều
phải ra đi vì bị ông ta đuổi đi một cách bí mật. Những
người ấy cũng ngại điều gì đó nên không nói cho ai biết,
lặng lẽ xách gói ra đi. Riêng vị Trụ trì này không chấp
nhận yêu cầu của ông ta, cũng không tự ái nên đã đề
nghị hỏi ý kiến Phật tử. Tối hôm đó, Phật tử và cả
mặt trận chính quyền họp lại. Tất cả đều ủng
hộ vị Trụ trì đó. Cuối cùng, chính ông ta đã bỏ đi khỏi
chùa. Sau đó, ông ta vẫn nuôi hận trong lòng và mưu hại vị
Trụ trì kia thật thê thảm. Con người được mọi người
cho là hiền lành, ít nói ấy thực chất là như vậy.
Cũng
có những trường hợp, người ta giấu sở trường, giấu
tài sản, giấu ưu thế, giấu thực lực… của mình. Đây
là loại người có bản lĩnh. Chúng ta chưa nói như vậy là
xấu hay tốt nhưng phải thừa nhận rằng họ là người có
bản lĩnh. Có khi chúng ta cũng phải biết áp dụng cái bản
lĩnh ấy trong cuộc sống. Không nói ra thực lực, sở trường
của mình trước hết là vì Đạo đức, sau nữa là vì khôn
ngoan. Người khôn ngoan thường không nói ra những gì mình
có được, nhất là về tiền bạc. Trong thế gian, những người
hay khoe cái mình có thường là người không có bản lĩnh.
Trường hợp người không có tiền của cũng cố gắng chạy
vạy mua sắm cho bằng thiên hạ càng cạn cợt hơn nữa. Những
người như vậy rất khó làm nên việc lớn.
Những
người có dịp tiếp xúc với giới xã hội đen đều cho rằng,
những tay trùm, những tay anh chị thường là những người
tỏ ra hiền lành, nói năng lịch sự, khác hẳn với bọn đàn
em luôn tỏ ra dao búa, gặp đâu gây đó, nói năng thô tục.
Đó là những người có bản lĩnh, biết giấu thực lực của
họ để không bị người khác nhòm ngó. Trong giới kinh doanh
cũng vậy, những người làm ăn lớn thường không cho người
khác biết thực lực của mình vì sợ bị cạnh tranh. Hiện
nay, việc “ăn cắp” kỹ thuật trong sản xuất để cạnh
tranh là một trong những vấn đề bức xúc nhất trên thế
giới. Bởi vậy, người ta thường giấu những bí mật về
công nghệ, về kỹ thuật. Ngày xưa, người Việt Nam ta và
người Trung Hoa thường có hiện tượng “giấu nghề”, nhất
là những nghề gia truyền. Cho nên, có nhiều nghề dần dần
bị mai một đi và thất truyền, bây giờ không còn nữa.
Trong
khi đó, ở phương Tây, khi phát minh ra những lý thuyết về
khoa học, người ta thường công bố cho mọi người cùng biết.
Ví dụ, một nhà khoa học người Anh phát minh ra một kỹ thuật
hiện đại trong chế tạo máy hơi nước. Sau đó, nhà khoa
học người Đức lại tiếp tục nghiên cứu và phát minh ra
kỹ thuật khác hiện đại hơn. Nền văn minh của họ vì thế
mà tiến bộ vượt bậc. Hiện nay, về khoa học - kỹ thuật,
chúng ta phải học theo phương Tây rất nhiều. Có thể nói,
họ gần như cho không nhân loại về công nghệ kỹ thuật.
Tuy nhiên, khi xã hội có sự canh tranh gay gắt về kinh tế,
người ta cũng bắt đầu giấu sở trường, giấu những cái
hay, sự tiến bộ của mình. Bởi vậy, luật bảo vệ tác
quyền của con người ra đời. Tất cả những sáng chế, phát
minh đều được đăng ký bảo vệ. Nếu ai bắt chước, tác
giả có thể nhờ luâït pháp can thiệp. Nhưng sau 50 năm, những
sở hữu trí tuệ đó đều trở thành của chung nhân loại,
ai cũng có quyền sử dụng. Nhờ vậy mà nhân loại ngày càng
tiến bộ.
Như
vậy, người có bản lĩnh, khôn ngoan, thường giấu sở trường
của mình. Nhưng không phải bao giờ người khoe khoang cũng
là người cạn cợt, không đáng sợ, không làm được việc
lớn. Có trường hợp, khoe khoang mà vẫn khôn ngoan, thủ đoạn.
Đó là trường hợp khoe khoang để lừa đảo. Chúng ta thường
gặp đối tượng này trên hai lĩnh vực : tôn giáo và kinh
tế.
Trong
tôn giáo, những người này thường bắt chước Phật và Chúa.
Khi Phật đắc đạo, Ngài tuyên bố là Ngài thành Phật, thành
đấng Giác Ngộ. Chúa cũng nói Ngài là con của Đức Chúa
Trời. Nhưng cuộc sống của các Ngài đã chứng minh những
lời nói đó là thật. Chúng ta phải thừa nhận rằng, những
giáo pháp mà Đức Phật để lại thật tuyệt vời. Trước
Ngài, không ai nói được như vậy. Và sau Ngài, cũng không
ai có thể nói hay hơn. Ngày nay, người ta nói rất nhiều,
sách viết về Phật còn nhiều hơn Phật thuyết. Nhưng tất
cả đều phải dựa vào những điều Phật đã nói. Cuộc
sống của Phật là cả một bức tranh Đạo đức tuyệt vời,
không ai có thể sánh bằng. Bởi vậy, những điều Ngài nói
về Giác ngộ đã được Ngài chứng tỏ trong suốt cuộc sống
rất Thần thông, Trí tuệ và rất Đạo đức của Ngài. Chúa
cũng chỉ đi giảng đạo 3 năm rồi mất nhưng Ngài đã thể
hiện được thần thông, phép lạ, Trí tuệ và Đạo đức
của mình.
Về
sau, nhiều tôn giáo đã được thành lập bởi những giáo
chủ cũng lớn tiếng khoe khoang, quảng cáo về mình. Họ tự
xưng mình là Thần, là Thánh và mười người nghe được cũng
có đến hai, ba người tin. Bởi vậy, gặp những đối tượng
nói như đinh đóng cột là đã chứng đạo, chúng ta phải
cẩn thận, không khéo họ thuộc về trường hợp này. Ví
dụ, giáo chủ của đạo Aum Shrykyu cũng từng tuyên bố là
mình đã đắc đạo. Nhiều người nghe hấp dẫn quá đã tin
theo và cúng cho ông ta bao nhiêu là tiền bạc. Ông ta cho xây
dựng những trung tâm chế tạo vũ khí, chế tạo chất hoá
học với mục đích chiếm và cai trị luôn nước Nhật. Cuối
cùng, việc đã không thành, ông ta và các tín đồ đã bị
bắt.
Ở
miền Tây nước ta, trước kia có một người tên là Nguyễn
Long Châu cũng tự xưng là Thần, Thánh. Ai chống lại sẽ bị
ông ta bí mật cho người hạ thủ ngay. Hoặc có một thời,
người ta truyền cho nhau nghe cuộn băng thu giọng nói của
một người đàn bà tự xưng là được Thượng đế nhập
để giảng đạo. Những điều bà ta nói không có gì sâu sắc,
giọng nói cũng không có vẻ gì thần lực. Nhưng nhiều người
vẫn tin, vẫn lạy lục để bà ta ban phép…
Người
đời cũng lắm kẻ dễ tin. Cho nên, lợi dụng lòng tin của
con người, nhiều tôn giáo, nhiều tín ngưỡng đã được
thành lập. Mục đích của những tôn giáo ấy là lừa bịp
để thỏa mãn những tham vọng cá nhân. Trong đạo Phật của
chúng ta cũng có người cố làm ra vẻ mình là người đã
đắc đạo để tìm sự ngưỡng mộ của Phật tử. Tuy trường
hợp này trong đạo Phật không nhiều vì có giới cấm, nhưng
chúng ta phải cẩn thận.
Ở
những quốc gia cho tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, nhiều
người đã lập nên nhiều đạo kỳ quái, truyền bá những
tư tưởng sai lầm, đem lại tà kiến cho con người. Tất nhiên,
sau khi chết, những kẻ ấy phải đoạ địa ngục để trả
lại những điều dối trá mà họ đã gây nên. Nhưng trong
cuộc sống hiện tại, bước đầu họ đã đạt được tham
vọng, chiếm được sự quy phục, ngưỡng mộ của một số
người dễ tin.
Trên
lĩnh vực kinh tế, có nhiều trường hợp khoe khoang về thực
lực của mình để lừa người khác. Thực tế đã cho thấy,
không ít người tan cửa nát nhà vì tin vào sự giàu có của
người khác. Tiền bạc họ dành dụm được từng đồng đã
góp cho các chủ hụi để rồi trắng tay, chỉ còn cách ngửa
mặt kêu trời. Nhiều vụ án động trời xảy ra gần đây
phần lớn đều có liên quan đến vấn đề kinh doanh của
những công ty lớn. Các vị Giám đốc không ngần ngại phô
trương tài sản của mình để vay thế chấp Ngân hàng và
lao vào vòng quay nghiệt ngã của nền kinh tế thị trường.
Cuối cùng, khi mọi việc vỡ lỡ, người ta mới biết rằng
đó cũng là một cách lừa đảo vay chỗ này, thế chấp chỗ
kia. Đây là trường hợp khoe khoang nhưng hoàn toàn không phải
do cạn cợt mà là thủ đoạn.
3.
TRONG SỰ TU HÀNH, HẠNH KÍN ĐÁO LÀ QUAN TRỌNG
Đó
là vấn đề kín đáo, khoe khoang đối với người đời. Trong
sự tu hành, hạnh Kín đáo là điều quan trọng. Vì khi nói
cho người khác biết về cái hay của mình thì điều không
hay sẽ xuất hiện. Đó cũng là lý do tại sao cuộc sống của
chúng ta lại lắm thăng trầm. Thăng vì đôi lúc chúng ta biết
khiêm hạ nhưng trầm vì chúng ta còn mắc bệnh khoe khoang.
Ví
dụ, một người thấy mình có nhiều ưu điểm: giỏi giang,
siêng năng, lanh lợi, làm việc chu đáo, liền đem khoe với
người khác, sau đó điều không hay đã xảy ra ngay. Họ làm
việc gì cũng gặp điều xui xẻo, không thành công. Không chỉ
riêng người tu hành, các Phật tử cũng thường mắc phải
điều này. Nếu để ý chúng ta sẽ thấy, hễ cái gì mình
tự cho là hay, cái không hay đó sẽ đến ngay.
Về
công phu tu tập mỗi ngày, chúng ta cũng phải kín đáo. Nếu
nói ra cho người khác biết, chúng ta sẽ gặp trở ngại, không
thực hành được nữa. Ví dụ, một người ngồi Thiền rất
siêng năng, mỗi ngày ngồi ba thời đều đặn. Một hôm, trong
lúc nói chuyện với người khác, người ấy bộc lộ: “Một
ngày tôi ngồi Thiền được ba lần”. Bỗng dưng qua ngày
sau, người ấy không ngồi Thiền được nữa. Đến giờ ngồi
Thiền, chuyện không đâu tự nhiên kéo đến: khi bệnh hoạn,
ốm đau, khi trở ngại công việc... Cứ thế, có khi họ phải
bỏ luôn cả tháng trời không ngồi Thiền được.
Hoặc
một người tu pháp môn niệm Phật. Đi, đứng, nằm, ngồi…họ
đều niệm Phật. Nếu chỉ niệm trong tâm thì không ai biết.
Nhưng vì muốn khuyến khích Phật tử tu hành, người ấy đã
nói cho Phật tử biết: “Thầy lúc nào cũng vậy, đi, đứng,
nằm, ngồi đều niệm Phật”. Sau đó, người ấy gặp nhiều
khó khăn trở ngại trong việc niệm Phật. Nhiều khi cũng niệm
Phật nhưng Thầy toàn nghĩ đến những chuyện đâu đâu. Câu
niệm Phật vì thế cũng biến đâu mất.
Nói
chung, chúng ta không được lộ công phu thực hành ra cho người
khác biết. Ngay cả lúc ngồi Thiền, chúng ta cũng phải tìm
chỗ kín đáo, không được ngồi chỗ trống trải nhiều người
biết, trừ khi ngồi Thiền tập thể ở trong chúng. Nếu ở
gia đình, quý Phật tử tập ngồi Thiền cũng cần phải kín
đáo. Đến giờ ngồi Thiền, mỗi người nên vào phòng đóng
cửa lại, không cho ai biết. Có như vậy, việc ngồi Thiền
của chúng ta mới được lâu bền. Đó chính là công phu tu
tập của chúng ta.
Có
một vị Sư từng khoe là mình tu Thiền rất tốt. Một lần,
ông ta đắp y, mặc áo vàng, ngồi Thiền trên một tảng đá.
Vị trí ngồi Thiền của vị Sư ấy rất trống trải, ai qua
lại cũng nhìn thấy. Ngồi được ngày thứ nhất, ngày thứ
hai, rồi sau đó ông chẳng bao giờ ngồi Thiền được nữa.
Lý do thứ nhất là vị Sư ấy đã khoe khoang công phu của
mình bằng lời nói, sau đó là khoe khoang về hành động. Ngồi
Thiền nhưng ông đã chọn vị trí mà những Phật tử đi qua
đi lại đều nhìn thấy. Công phu của ông vì thế mà mất
hết.
Như
vậy, một lời nói có khi làm mất công phu của mình đến
hàng tháng, có khi vài ba năm hoặc vài ba kiếp. Nhiều khi đã
nhìn thấy lỗi, chúng ta phải sám hối đến mấy tháng sau
mới lấy được công phu trở lại. Có những trường hợp,
vì lỡ một lời mà vài ba năm hoặc vài chục năm sau, có
khi vài ba kiếp sau, chúng ta mới lấy lại được. Bởi vậy,
chúng ta phải cẩn thận trong lời nói, đừng bao giờ khoe
khoang.
Chúng
ta cũng không nên nói về kết quả đạt được vì sẽ bị
thối thất. Trong cuốn Luận về Nhân Quả, tác giả có dẫn
câu chuyện về ngài Trí Khải và một vị Tăng trong Tùng Lâm
tuyển tập. Khi ngài Trí Khải đến gặp vị Tăng, ông ta không
thèm ngồi dậy chào mà chỉ nói về Định mà mình có được.
Ông cho rằng, mình đã được Định. Nhờ Định này, khi nghe
trong núi có một chấn động, hướng tâm về đó, ông ta biết
có một vị Tăng đang quán lý Vô thường và quán rất đắc
lực. Cho nên, khi thần lực đó phát ra, ở đây nhờ có Định,
ông ta nhận được điều đó. Vị Tăng hỏi ngài Trí Khải:
“Đó là định gì ?”. Ngài Trí Khải trả lời: “Đó là
biên Định, chưa sâu, mới chỉ bên ngoài nhưng vì nói ra nên
mất”. Nghe nói, ông ta giật mình, đứng lên và nói: “Mất
rồi”. Ông vừa nói xong, tự nhiên Định đang có trong Tâm
mấy tháng nay, mấy năm nay đã biến mất. Muốn lấy lại
Định đó không phải là chuyện đơn giản, có khi phải mất
hai ba chục năm sau. Vì nguy hiểm như vậy nên chúng ta phải
cẩn thận, không nói về những kết quả tốt mà mình đạt
được.
Ví
dụ, khi tu Thiền đã nhiếp tâm được vào trong Định, chúng
ta sẽ cảm thấy an lạc, hạnh phúc. Cảm giác sung sướng,
hạnh phúc, an lạc ấy không thể diễn tả được bằng lời.
Đôi khi không kiềm chế được, chúng ta bộc lộ cho người
khác biết. Như vậy, chúng ta sẽ mất ngay cái Định đó.
Nhưng vì sao chúng ta lại nói ra cái hay của mình ? Quá trình
này thường trải qua hai giai đoạn. Trước hết, trong tâm
chúng ta tự công nhận mình có cái hay và sau đó là nói ra
cái hay đó.
Ví
dụ, chúng ta là người tu hạnh Nhẫn nhục, tùy thuận ở
trong chúng. Nghĩa là trong chúng ai nói nặng nhẹ điều gì,
chúng ta cũng hoan hỷ, không giận hờn ai. Đây là điều tốt
mà chúng ta có được trong nhiều năm nay. Một hôm, thấy người
này người kia hay cãi nhau, hay sân với nhau, chúng ta bỗng
so sánh và chợt nhận ra mình là người nhẫn nhục. Nghĩa
là trong tâm ta đã tự công nhận mình là người nhẫn nhục
trước. Khi đã thừa nhận điều này, một lúc nào đó, khi
nói chuyện với người khác, chúng ta bỗng nói : “Tôi là
người rất nhẫn nhục”. Nói như vậy, tưởng không có gì
quan trọng nhưng sau đó chuyện bực mình đã liên tiếp xảy
ra khiến chúng ta nổi giận. Nghĩa là sự nhẫn nhục không
còn nữa.
Đó
là những chuyện nhỏ. Trong quá trình tu tập, có những chuyện
lớn hơn, quan trọng hơn nhất là công phu tu tập, những Trí
tuệ đạt được, những Định đạt được…, chúng ta phải
hết sức kín đáo. Khi có điều gì hay và chúng ta đã tự
công nhận thì phải nhớ tâm niệm: “ Điều ấy chưa chắc
chắn đâu”. Nếu nói ra, tất cả điều tốt ấy sẽ mất
hết, sẽ tan vỡ hết. Chúng ta phải luôn ý thức rằng, vì
chưa thật sự chứng Thánh nên hạnh mà mình có được, điều
hay mình có được chưa chắc chắn. Hoặc tuy có hạnh tốt
ngày hôm nay nhưng có thể chưa qua thử thách, khi gặp khó
khăn, trở ngại chưa chắc mình giữ được vv…Hễ vừa phát
hiện ra điều tốt của mình, chúng ta phải tự nhủ điều
ấy. Vượt qua giai đoạn thứ nhất, chắc chắn chúng ta không
vấp phải sai lầm ở giai đoạn thứ hai là nói lời khoe khoang.
Có
những điều hay mất đi chỉ vài tháng sau chúng ta có thể
lấy lại, nhưng cũng có những cái trầm trọng đến
vài ba kiếp sau mới lấy lại được. Nói như vậy hoàn toàn
không cường điệu. Có vị tu Thiền đắc đạo, phát ra được
trí tuệ, bát nhã, thong dong, tự tại, đối đáp Thiền ngữ
như mây, như gió. Trong những bài giảng pháp, vị này nói
rằng chỉ một cái tâm này là Phật, cái tâm rỗng rang như
không, cái tâm trùm khắp pháp giới. Nghĩa là, người ấy
diễn tả cái tâm mình chứng được và nói tâm đó là Phật,
nghĩ mình là triệt ngộ bằng Phật, không cần tìm đâu nữa.
Đến khi chết, ông ta ngồi kiết già tịch đàng hoàng. Đến
mức độ như vậy, chúng ta cũng nghĩ rằng chưa chắc
chắn. Vì sao? Vì qua kiếp sau, tùy phước, có khi ông ta lên
làm vua. Qua một kiếp làm vua như vậy, nhân ái dục đã
gieo sẽ kéo dài đến bao nhiêu kiếp mới có thể lấy lại
được. Có khi đi qua hai ba chục kiếp dần dần vị ấy mới
hiểu được lỗi của mình và cố gắng lấy lại công phu
trong kiếp mình chứng được. Chúng ta biết rằng, công phu
ngồi kiết già tịch phải mất hai chục kiếp sau mới có
thể lấy lại đúng trình độ đó.
Chúng
ta ít nhiều đều biết đến Tô Đông Pha ( Trung Quốc ), con
người có tâm hồn phóng khoáng nhưng lại lận đận trong
chốn quan trường. Người ta kể rằng, kiếp trước ông ta
là Sư Giới, tu ở chùa Ngũ Tổ. Vị Thiền sư Sư Giới này
có sức ngộ rất khủng khiếp. Bao nhiêu người dùng Thiền
Ngữ đối đáp với ông đều thất bại. Vì sắc bén như
vậy nên ông được các Thiền sư khác khen ngợi. Khi chết,
ông đầu thai thành Tô Đông Pha. Vậy, tại sao người ta biết
Tô Đông Pha là hậu thân của Ngũ Tổ Sư Giới ? Chuyện kể
rằng, một lần, nhân có công việc gì đó, ông Tô Đông Pha
đã đi đến vùng nọ. Trong khi đó, có ba người, kể cả
hai vị sư nữa cũng đi đến đó. Khi đến nơi, ba người
cùng kể là đêm qua mình nằm mơ thấy Ngũ Tổ Sư Giới. Họ
không hiểu tại sao hôm nay người mình gặp chính là Tô Đông
Pha. Lúc ấy, ông Tô Đông Pha mới nhớ ra rằng, khi còn nhỏ
(khoảng bảy, tám tuổi ), ông thường nằm mộng thấy mình
là một vị Tăng ở ngôi chùa mà kiếp xưa có ông Ngũ Tổ
Sư Giới tu tại đó. Từ những câu chuyện như vậy mà người
ta cho rằng ông Tô Đông Pha là hậu thân của Ngũ Tổ Sư Giới.
Cả cuộc đời, ông Tô Đông Pha chịu biết bao long đong, lận
đận, bị đày lên, đày xuống trong chốn quan trường. Trong
khi đó, đời trước ông từng là một vị Tăng xuất sắc.
Như
vậy, có những trường hợp chỉ lỡ một lời hay có sự
hiểu sai về một điều gì đó, con người phải chịu biết
bao gian truân, và những công phu, những điều hay có được
bị mất đi đến hai, ba kiếp hoặc có khi hai, ba chục kiếp
sau mới lấy lại được. Bởi vậy, chúng ta phải luôn có
câu “thần chú” gì đó để hộ mạng mình, để giữ miệng
mình không bật ra lời nói khoe khoang.
Trong
cuộc sống, có những kế hoạch làm việc, đôi khi chúng ta
cũng không nên nói sớm. Những người hay nói trước điều
mình định làm thường hay gặp trở ngại trong công việc.
Quả thật, sống lâu ở ngoài đời, chúng ta sẽ thấy điều
này rất đúng. Dân gian ta có câu: “Nói trước bước không
tới”. Còn ngạn ngữ phương Tây cho rằng: “ Một trong những
bí quyết giúp con người thành công là phải giữ bí mật
đến cùng”. Để rút ra những kinh nghiệm như vậy, chắc
chắn người xưa phải trải qua những thất bại cay đắng
lắm.
Vì
vậy, có những công việc, thường là dự định việc gì,
chúng ta chỉ bàn với những người có bổn phận, có trách
nhiệm và với những người có quyết tâm, không nên nói rộng
rãi cho người khác biết. Khi đã nói ra dự định, chúng ta
có cảm giác như mình đã làm rồi, đã hưởng được danh
dự rồi và vì thế mà không làm được nữa. Điều này nghe
có vẻ kì lạ, không giải thích được nhưng lại là điều
có thật, chúng ta cần phải lưu ý.
Ví
dụ, có người gặp ai cũng luôn miệng nói : “ Mai mốt, chắc
chắn tôi đi tu, tôi sẽ làm Phật”. Thực tế cho thấy, người
ấy không bao giờ đi tu được nữa, đừng nói là được
làm Phật. Có một Thầy kể rằng, khi chưa xuất gia, Thầy
cùng với một người bạn ước hẹn với nhau là sẽ đi tu
và chỉ có hai người biết điều này thôi. Nhưng mấy hôm
sau, không ngờ những người bạn khác cũng biết chuyện đó,
biết chuyện người bạn định đi tu. Rồi ý định của hai
người không thực hiện được vì không hiểu sao hoàn cảnh
lúc ấy rất khó khăn, duyên hình như cũng chưa đến. Cho đến
khi bất ngờ, duyên hiện ra, người này không nói với ai hết
và vào chùa luôn. Sau này, người ấy mới biết anh bạn cùng
ước hẹn với mình khi xưa đã lập gia đình, không bước
chân vào con đường tu hành.
Không
chỉ riêng trong việc tu hành, việc ngoài đời cũng vậy. Những
kế hoạch làm việc, nếu nói sớm quá, người thế gian cũng
khó thành công. Bởi vậy, làm bất cứ việc gì, chúng ta cũng
nên âm thầm, lặng lẽ, lặng lẽ một cách khiêm tốn, không
khoe khoang, chắc chắn chúng ta sẽ thành công.
4.
NHỮNG TRƯỜNG HỢP CÓ THỂ KỂ VỀ ƯU ĐIỂM CỦA MÌNH.
Tuy
nhiên, trong cuộc sống cũng có những trường hợp có thể
kể về những ưu điểm của mình. Đó là những người có
sự hiểu biết uyên thâm, có được nhiều điều hay. Khi tự
biết mình được mười, người ấy có thể kể một hoặc
hai khi cần khuyến khích người khác. Ví dụ, khi thấy một
người vào chùa tu hành nhưng ít lạy Phật, chúng ta khuyên
người ấy nên cố gắng lạy Phật. Để có sức thuyết phục,
chúng ta có thể kể những điều mình có được khi siêng
năng lạy Phật. Nhưng phải lưu ý một điều, những cái đạt
được có thể rất đặc biệt, chúng ta chỉ nói rất ít
thôi. Chẳng hạn, nhờ siêng năng lạy Phật, tự nhiên chúng
ta có được trực giác, có thể biết chuyện này, chuyện
kia. Hoặc khi lạy Phật nhiều, đi đến nơi nào, chúng ta cũng
đem may mắn đến cho người khác. Hoặc ai đối xử tốt với
mình, hôm sau họ sẽ gặp may mắn vv…Tất cả những điều
ấy, chúng ta phải giấu, không nên nói ra. Khi khuyên người
khác lạy Phật, chúng ta chỉ kể một chút rất nhỏ để
khuyến khích họ. Chúng ta có thể nói cho họ biết, nhờ lạy
Phật mà đạo tâm mình vững hơn, lỗi lầm mình bớt phạm
hơn.
Một
ví dụ khác, khi thấy một người vào chùa mà không siêng
năng công quả, chúng ta biết người ấy sẽ không có phước.
Người đã xuất gia phải sống một đời hết sức vị tha,
lo cho Tam Bảo, cho Phật pháp; lo cho huynh đệ, cho chúng sinh,
lo cho tất cả mọi người, không bao giờ chỉ lo cho bản thân
mình hay đi tìm sự nhàn nhã. Có như vậy, phước mới dần
dần tăng trưởng. Có thể người ấy hiểu Đạo chưa sâu
nên lười công quả. Chúng ta phải khuyên người ấy cố gắng
công quả, siêng năng làm việc, coi như lấy công quả để
cúng dường Tam Bảo. Chúng ta có thể nói, nhờ siêng năng
công quả mà mình cảm thấy đời sống được dễ chịu,
khi cần cái gì tự nhiên không bao lâu sẽ lại có được…
Kể về những điều có được của bản thân mình cho huynh
đệ biết là để khuyến khích, sách tấn họ. Sự thật,
kết quả đạt được do công quả gấp mười lần như vậy
nhưng chúng ta không nói. Khi siêng năng công quả, tâm Vị tha
sẽ phát triển. Rồi tâm Vị tha sẽ là nguồn sức mạnh ủng
hộ cho Thiền định rất hiệu quả. Siêng năng công quả sẽ
tạo nên Phước, Phước đi sâu vào trong đầu, Trí tuệ được
mở ra, bỗng nhiên chúng ta học rất sáng, học rất giỏi,
có thể thuyết Pháp rất sâu…Những điều hay do công quả
chúng ta không nói hết, chỉ nói những cái phước nhỏ để
khuyên huynh đệ mình. Đây là trường hợp được mười mà
chỉ kể một, hai.
Trường
hợp thứ hai có thể nói chuyện mình đó là người đã tu
đến chỗ không thấy mình nữa. Tuy kể chuyện mình mà người
ấy vẫn thấy như chuyện của người khác. Vì thấy rằng,
đó là quy luật tất nhiên phải xảy ra.
Ví
dụ, khi gặp một Phật tử, chúng ta nói: “Đường sá trong
làng hay hư, quý Phật tử cố gắng làm, đắp đường có
phước lắm. Tôi rất siêng đắp đường. Ở đâu có đường
hư là vác cuốc đi làm, tìm đắp những ổ gà, có chút tiền
là thuê người phụ làm đường. Sau này, khá hơn một chút,
lại làm những con đường lớn hơn. Nhờ vậy mà bây
giờ tôi có xe hơi đi”. Cách nói như vậy không hay lắm.
Hãy kể giống như vậy, nhưng giả định câu chuyện đó thuộc
về một người khác: “Ngày xưa có một người hay siêng
năng đắp đường….”. Kể chuyện của chính mình nhưng
chúng ta làm như kể chuyện của người khác, không xem mình
là quan trọng nữa.
Trường
hợp thứ ba, chúng ta có thể kể về mình là khi kể một
ưu điểm thì tự kể thêm vài khuyết điểm. Ví dụ, khi khuyên
Phật tử cố gắng tu hạnh Khiêm hạ, chúng ta lỡ lời, tự
khoe mình Khiêm hạ, lúc nào cũng thấy mình như cát bụi, nhờ
vậy trong đời sống luôn được huynh đệ thương và mọi
chuyện dễ thành công vv… Sau đó, chúng ta phải kể thêm
vài lỗi của mình để bù lại. Trong cuộc sống, có nhiều
người làm chúng ta phải ngạc nhiên vì họ không bao giờ
kể những thành công hay những điều tốt của mình mà toàn
kể chuyện xấu, chuyện thất bại. Những người ấy đáng
để cho chúng ta học hỏi.
Trường
hợp thứ tư, chúng ta có thể kể chuyện mình khi tâm hiếu
danh không còn nữa. Chúng ta không có tâm thèm khát sự cảm
phục của người khác, không muốn được kính trọng, chỉ
kể để sách tấn hoặc giúp người khác một kinh nghiệm
tu hành. Tất nhiên, chúng ta phải diệt tận gốc tâm hiếu
danh, tâm thèm khát được người khác kính trọng. Khi nói
chuyện của mình, chúng ta cũng sẽ bị tổn phước, bị mất
công phu nhưng đôi khi vì kinh nghiệm đó cần thiết, chúng
ta cũng phải nói để người khác biết mà tu hành, nhất là
những lắc léo trong Thiền định.
Riêng
trường hợp Phật hay các vị Alahán tuyên bố quả vị mình
vì tâm của các Ngài đã hoàn toàn Vô ngã. Phật tuyên bố
vì Ngài hoàn toàn Vô ngã, không còn tâm hiếu danh. Đây cũng
là sự cần thiết để xác định danh nghĩa. Cũng như các
vị Alahán khi chứng xong, cái ngã tan biến, các Ngài cũng tuyên
bố:
Ba
minh ta chứng được
Lời
Phật dạy làm xong.
Ngài
nói một cách vinh quang, rống lên tiếng rống của con sư tử
bởi vì Ngài không còn ngã. Ngài nói câu đó không phải vì
tâm tự hào, hiếu danh nữa. Còn chúng ta không nên nói vì
chưa có cái Vô ngã nên nói ra dễ bị lỗi, dễ bị bản ngã
lừa gạt.
Những
vị Bồ Tát thị hiện cũng ít khi bộc lộ thân phận. Các
Ngài thường giấu kín thân phận mình. Phật và các vị Alahán
còn nói về mình, các vị Bồ Tát thị hiện bao giờ cũng
giấu. Có khi thị hiện vào trong cuộc đời, các Ngài giả
vờ làm vài lầm lỗi để chúng sinh đừng nghĩ các Ngài là
cao siêu. Khi mọi người nghĩ các Ngài cũng bình thường như
bao người khác, các Ngài dễ gần gũi và giáo hoá họ hơn.
Và nếu không có lầm lỗi, nếu đặc biệt quá, người ta
sẽ nghi ngờ, sẽ dè dặt, cẩn thận, các Ngài không làm được
những chương trình mà mình đã vạch ra.
Chúng
ta hay kể câu chuyện ngài Hư Vân đi triều sơn, về Ngũ Đài
Sơn, đi lễ Bồ Tát Văn Thù, cứ 3 bước lạy 1 lạy. Ngài
đi qua mùa đông tuyết phủ và bị bệnh, Bồ Tát Văn Thù
hiện ra làm ông già tên là Văn Cát cứu chữa cho Ngài. Lúc
đi, Ngài thấy ông già đi ngược đường lại. Khi Ngài bệnh,
ông ta săn sóc cho cho Ngài xong rồi đi luôn. Lúc bệnh phải
nằm lại, Ngài lại thấy ông ta. Ông nói: “Tôi vừa mới
đi về trở lại”. Cứu chữa cho Ngài xong, ông ta vác hành
lý giúp Ngài Hư Vân để Ngài lạy Bồ Tát. Thấy vậy,
ông già nói: “Thôi, lạy đủ rồi, đừng lạy nữa”. Ngài
Hư Vân đâu biết ông là Bồ Tát Văn Thù nên nói một cách
kiên quyết: “Tâm tôi đã quyết, tôi thà sinh mạng bỏ chứ
phải lễ Bồ Tát”. Thấy tội nghiệp quá, ông già bảo:
“Thôi, Thầy đưa hành lý tôi xách cho để Thầy lạy cho
khoẻ ”. Thế là ông già, vị Bồ Tát mà Ngài Hư Vân
lạy, xách túi đi đằng sau, còn Ngài cứ đi 3 bước lạy
1 lạy về phía trước. Khi Ngài hỏi: “Tiên sinh tên gì?”
Ông già trả lời : “Tôi tên là Văn Cát”. “Tiên sinh ở
đâu?” “Tôi ở núi Ngũ Đài Sơn. Thầy đến Ngũ Đài Sơn
hỏi tôi, ai cũng biết”. Ngài Hư Vân cứ tưởng ông già
hay đi chơi lòng vòng mấy chùa nên ai cũng biết, đâu có ngờ
chùa nào ở Ngũ Đài Sơn lại không thờ Bồ Tát Văn Thù.
Sau khi đến nơi, Ngài đi hết chùa này đến chùa kia và hỏi:
“Ở đây có tiên sinh Văn Cát không?”. Không ai biết cả.
Sau đó, khi gặp một Thượng tọïa, Ngài kể lại câu chuyện
gặp ông già Văn Cát trên đường đi triều sơn, Thượng toạ
giật mình : “Thôi chết rồi, Bồ Tát Văn Thù đó”. Câu
chuyện nghe rất thấm thía nhưng đó cũng là cách chứng minh
các vị Bồ Tát thị hiện thường giấu kín thân phận.
Đôi
khi, bên cạnh chúng ta cũng có một Bồ Tát thị hiện mà chúng
ta không nhận ra vì vẻ ngoài rất bình thường, thậm chí
còn rất ngu ngơ, còn mắc phải những lỗi lầm. Chúng ta phải
cẩn thận, không nên coi thường những người như vậy.
5.
NHỮNG ĐIỀU TRONG TĂNG CHÚNG, KHÔNG NÊN NÓI RA NGOÀI.
Trong
Tăng chúng, có những điều chúng ta phải kín đáo, không nên
nói ra ngoài. Ví dụ, chúng ta không được nói vấn đề tài
chính của chùa. Chùa giàu hay nghèo, chỉ những người trong
chùa biết mà thôi. Vì nếu nghèo, chúng ta nói ra ngoài, người
ta sẽ cho là mình tham, cầu cúng dường. Nếu nói rằng chùa
giàu, người ta không hiểu sẽ cho là mình khoe khoang. Điều
này rất nguy hiểm.
Hơn
nữa, chúng ta không hiểu hết những dự định của Thầy
mình. Đôi khi, Thầy cần tích lũy một số tiền để trùng
tu lại chùa hay làm một việc gì đó nhưng Thầy kín đáo,
không nói ra. Nếu đi đâu cũng khoe về nguồn tài chính tích
lũy được của chùa, vô tình chúng ta đã hại Thầy mình,
khiến Thầy không làm được Phật sự lớn như ý nguyện
nữa. Bởi vậy, tốt nhất là chúng ta không nên nói về vấn
đề tài chính của chùa cho ai biết.
Đối
với những lỗi lầm của huynh đệ, của Tăng Ni, chúng ta
cũng không nên nói ra ngoài. Ai sống mà không phạm lỗi lầm.
Hơn nữa, lỗi lầm đâu phải là cái cố định, không sửa
được. Nhiều khi, hôm trước chúng ta thấy huynh đệ phạm
lỗi đó nhưng hôm sau họ đã sửa rồi. Người xưa thường
nói : “ Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”. Nếu lỡ nói
ra ngoài về lỗi lầm của họ, chúng ta sẽ không thu hồi
lại được và người ta sẽ tiếp tục nghĩ xấu cho huynh
đệ mình. Vì vậy, chúng ta đừng nói lỗi lầm của huynh
đệ ra bên ngoài mà cố gắng tìm cách chỉ lỗi để huynh
đệ sửa chữa.
Khi
lớn lên, đi làm Phật sự bên ngoài, tiếp xúc với nhiều
người, chúng ta sẽ nghe nhiều chuyện động trời về những
lỗi lầm của người tu có thể khiến mình choáng váng. Có
những trường hợp, nghe xong chúng ta bàng hoàng, không hiểu
tại sao có thể xảy ra như vậy. Nhưng rồi, chúng ta vẫn
phải im lặng. Im lặng vì chúng ta biết được nguyên nhân
dẫn đến lỗi lầm của họ cũng như tin rằng lỗi ấy không
cố định, một ngày nào đó, người ấy sẽ vượt qua được
lỗi lầm của mình. Nếu bây giờ, ai cũng nói lỗi ấy rộng
rãi ra ngoài, đến khi người ta sửa được rồi, tiếng xấu
vẫn còn. Do đó, trước lỗi lầm của người khác, chúng
ta phải bình tĩnh. Nghĩa là vẫn hi vọng, vẫn chờ đợi sự
sửa đổi, vẫn tin vào những điều tốt đẹp của con người,
không nên nghĩ rằng những lỗi họ phạm là vĩnh viễn.
Có
những dự định đặc biệt của chùa mà điều kiện chưa
đủ để thực hiện, chúng ta cũng không nên nói. Nhiều khi
nói ra sớm quá, mọi việc sẽ không tiến hành được suôn
sẻ.
Chúng
ta cũng không được khoe khoang uy tín của Thầy mình, của
tông phái mình. Có thể Thầy mình là người tài giỏi, có
đức độ, giáo hoá được nhiều nhưng chúng ta cũng không
nên khoe. Thực ra, nói những điều hay cho người ta quy hướng
cũng tốt, nhưng không cẩn thận dễ lẫn bản ngã trong đó.
Vì khoe Thầy cũng có nghĩa là trong đó có bản thân mình.
Cho nên, tốt nhất là chúng ta nên im lặng.
Một
điều nữa chúng ta cũng cần phải bàn là lợi ích về giáo
lý và hệ quả của nó - sự ngưỡng mộ. Ví dụ, sau này
khi ta đi giáo hoá, được nhiều Phật tử hay Tăng Ni lắng
nghe, hiểu được, tu được và sinh lòng ngưỡng mộ.
Đó là một hệ quả rất tự nhiên, nhưng ta không nên bận
tâm về hệ quả đó. Mục đích của chúng ta là đi giảng
dạy, đem lợi ích về giáo lý đến cho mọi người, làm sao
cho người khác nghe, hiểu và tu được. Khi đi giáo hoá, chúng
ta chỉ phát nguyện một điều là đem giáo lý, đem ánh
sáng Phật Pháp để khai mở cho mọi người. Chỉ có vậy
thôi. Bởi vậy, khi có hệ quả phát sinh là sự ngưỡng mộ
của Phật tử hay của những người khác, ta phải cắt ngay,
tuyệt đối không để vướng phải điều này. Chúng ta không
cần người ta biết tới mình, ngưỡng mộ, kính phục mình
mà chỉ cần họ hiểu được Phật pháp và tu được. Đây
là điều rất quan trọng, người tu phải ghi nhớ. Có
thể ban đầu mới đi giảng, người ta chưa ngưỡng mộ nhiều,
chúng ta không bị đắm vào đó. Nhưng một thời gian dài,
xuất hiện lòng ngưỡng mộ, chúng ta rất dễ bị đắm vào
sự khát khao ngưỡng mộ ấy. Điều này cũng có nghĩa là
chúng ta bắt đầu sai lầm. Cho nên, mỗi người phải
giữ tâm này cho thật kỹ.
6.
MỘT CHÚT Ý NGHĨA VỀ ÂM DƯƠNG.
Trong
bài Hơi thở và xả Thiền, chúng ta có tìm hiểu qua về Âm
Dương. Âm là phần khuất kín bên trong, Dương là phần bộc
lộ bên ngoài. Trong một cấu thể, phần khuất kín là phần
quan trọng, phần bộc lộ ra ngoài là phần dành đề sử dụng.
Theo vua Văn Vương (Trung Quốc), tỷ lệ thể hiện sự khôn
ngoan là 5/ 1. (5 âm thì 1 dương). Nếu thực lực bên trong của
mình có 5, chúng ta để lộ ra bên ngoài cho người ta biết
chỉ có 1 mà thôi. Hay nói cách khác, làm được 5 phần, chúng
ta chỉ bộc lộ 1 phần, không nên để cho người ta biết
nhiều. Những cái hay mình có được, không nên bộc lộ tất
cả ra ngoài. Chỉ có những người sống gần gũi lâu ngày
với mình mới biết được cái hay của mình mà thôi. Có như
vậy, những cái hay, cái tốt của mình mới giữ được bền
lâu.
Trong
một ngôi chùa, hình thức ngôi chùa thuộc về dương và nội
dung tu hành trong tâm của Tăng Ni thuộc về âm. Như vậy, nội
dung tu hành phải gấp 5 lần hình thức của ngôi chùa. Nếu
chùa nào đạt được tỉ lệ này, chùa ấy sẽ phát triển,
sẽ vững bền. Ngược lại, những ngôi chùa rất đồ sộ,
bên ngoài hào nhoáng, đẹp đẽ nhưng bên trong Tăng chúng
ít tu, chỉ sau một thời gian, chùa đó sẽ suy tàn. Cho nên,
khi đánh giá một ngôi chùa, chúng ta cần xem sức tu tập của
Tăng chúng như thế nào. Nói như vậy để chúng ta thấy rằng,
hình thức bên ngoài thường phá nội dung tu hành. Chúng ta
phải cẩn thận, luôn luôn chú trọng tâm linh hơn hình thức.
Có thể chùa không đẹp, không lớn nhưng chúng ta tu tốt vẫn
có giá trị hơn là sống trong ngôi chùa đẹp quá, lại khó
tu.
Hình
thức của y phục cũng vậy. Khi phủi tóc, mặc áo cà sa đi
ra đường, chúng ta đã tự khoe khoang rồi. Vì hình thức ấy
đã ngầm nói với mọi người chúng ta là Thầy tu, là người
có Đạo đức. Bởi vậy, chúng ta phải tu nhiều hơn người
ta nghĩ về mình. Nếu người ta nghĩ chúng ta từ bi, độ lượng,
chúng ta càng phải từ bi, độ lượng nhiều hơn, gấp 5 lần
điều người ta nghĩ để bù lại hình thức mà mình đã lỡ
khoe khoang ra ngoài. Chưa kể, nếu đeo thêm một sợi dây chuỗi,
đội thêm cái mão Tì Lư, đắp y, mang giầy trịnh trọng nữa,
chúng ta phải tu rất nhiều mới bù lại nổi. Hình thức nhiều
bao nhiêu, chúng ta phải cần nội dung lấp đầy hình thức
đó nhiều bấy nhiêu. Ví dụ, khi thấy chúng ta đeo xâu chuỗi
thường xuyên bên mình, người ta sẽ nghĩ chắc là chúng ta
siêng năng niệm Phật, tu chắc cao siêu lắm. Nếu người ta
nghĩ mình một ngày niệm cả trăm xâu chuỗi, chúng ta phải
niệm năm trăm xâu chuỗi mới đủ. Nếu chỉ đeo xâu chuỗi,
đi đâu cũng lần tràng hạt, đầu cứ đội mão Tì Lư mà
bên trong không tu thì một thời gian, chúng ta sẽ hết phước
và phải hoàn tục vì trong chúng ta, nội dung không bằng hình
thức. Hiểu như vậy, chúng ta phải biết giấu hình thức,
cho nội dung thật nhiều để cuộc đời tu hành của mình
được bền bỉ. Đây là điều rất khó, chúng ta phải cố
gắng mới làm được.
Khi
làm từ thiện, những đoàn Phật giáo cũng nên kín đáo, không
nên quay phim, chụp ảnh nhiều để phô trương danh tiếng.
Nếu ít khoe khoang thì mọi cái sẽ được bền lâu.