SỰ
HÒA HỢP
1.
SỐNG TRONG CỘNG ĐỒNG LÀ MỘT ĐẶC TÍNH CHUNG.
Chúng
ta biết rằng, trong vũ trụ không có một sự vật, hiện tượng
nào có thể tồn tại độc lập mà không có mối quan hệ
với các sự vật, hiện tượng khác. Một chiếc lá vàng rơi,
một con kiến bé nhỏ bò trên mặt đất, một hạt cát giữa
sa mạc mênh mông…tưởng rằng sẽ không liên quan gì đến
nhau, không liên quan gì đến con người. Nhưng thực ra, tất
cả đều có một sự tương tác với môi trường sống chung
quanh. Có thể sự tương tác đó quá nhỏ chúng ta không nhìn
thấy được. Đó là cách nói theo vật lý. Theo lý thuyết
của kinh Hoa Nghiêm thì vạn vật là “trùng trùng duyên
khởi”, một hạt bụi có thể chứa đầy cả mười phương
Chư Phật. Lý thuyết đó vô cùng cao siêu khi nói đến sự
tương quan chặt chẽ giữa một cá thể với toàn thể Pháp
giới. Đó là cách nói trên lý Bát Nhã. Trong bài này, chúng
ta không nói về lý Bát Nhã. Sau này, khi đã có duyên, chúng
ta sẽ đề cập vấn đề này.
Như
vậy, dù nói theo lý Đạo hay trên vật lý, chúng ta cũng thừa
nhận rằng, không ai có thể tồn tại độc lập giữa thế
gian này mà tất cả đều phải có sự tương quan. Trong cuộc
sống, chúng ta không thể tách mình ra khỏi môi trường chung
quanh. Ngay cả trường hợp người nhập thất cũng vậy. Người
nhập thất không tiếp xúc với người chung quanh. Nhưng trên
thực tế, ít nhất họ cũng còn một người hộ thất, lo
vấn đề cơm nước. Qua đó, họ còn có sợi dây liên lạc
với thế giới bên ngoài, chứ không hoàn toàn tách biệt.
Tất nhiên, lúc đó mối tương quan giữa người nhập thất
và mọi người chung quanh giảm đi rất nhiều vì họ phải
xoay vào nội tâm để tu hành. Hoặc trường hợp người tội
phạm bị biệt giam. Vì phạm tội quá nặng, thuộc vào loại
tội phạm nguy hiểm, họ bị giam riêng, gần như bị cắt
đứt mọi mối quan hệ với người chung quanh. Tuy nhiên, người
biệt giam vẫn có sự quan hệ với người cán bộ canh giữ
tù, vẫn còn một chút quan hệ chứ không hoàn toàn mất hẳn.
Người
ta hay truyền tụng câu chuyện về Robinson Crusoe để nêu bài
học quý báu về trí thông minh, tinh thần dũng cảm, vượt
khó cho con người. Bị đắm tàu, lạc vào trong một hoang đảo,
đối mặt với biết bao khó khăn nguy hiểm nhưng Robinson vẫn
kiên trì, tự sáng chế ra mọi cách để sống giữa thiên
nhiên hoang dã bằng vốn kiến thức của thời đại mình.
Tuy nhiên, nhà văn đã đưa vào tác phẩm nhân vật người
da đen để làm bạn với Rôbinsơn. Điều này có ý nghĩa gì
? Phải chăng nhà văn muốn khẳng định, nhu cầu tiếp xúc,
quan hệ giữa con người với con người là một nhu cầu không
thể thiếu. Chúng ta không thể nào sống cô độc, tách khỏi
mối dây liên hệ với mọi người chung quanh. Chúng ta không
thể sống mà không có mối tương quan với cộng đồng loài
người được. Vì sống như vậy, con người sẽ buồn đến
chết, thậm chí có thể hoá điên. Nhất là những người
bị lạc vào rừng, sống lâu trong rừng vắng, cuối cùng đã
trở thành những “người rừng” trông thật đáng sợ.
Hằng
ngày, trong mọi sinh hoạt, chúng ta đều có quan hệ gần gũi
với người khác nên cảm thấy rất bình thường. Nhưng một
lúc nào đó, nếu chỉ một mình ta sống trong một thành phố
hoang, không một bóng người, bên này bên kia đều là những
cánh cửa mở toang, những ngôi nhà đã sụp đổ … tưởng
tượng chúng ta sẽ sống như thế nào? Chúng ta sẽ rơi vào
trạng thái căng thẳng, khủng hoảng về tinh thần đến không
chịu đựng nổi. Và có thể, nếu kéo dài tình trạng đó,
chúng ta sẽ chết trong cô độc vì đau khổ, buồn chán. Như
vậy, tương quan giữa người và người là nhu cầu có thật
trong đời sống của chúng ta.
Trong
truyện “Lặng lẽ Sapa”, nhà văn Nguyễn Thành Long đã xây
dựng một nhân vật rất đáng để chúng ta cảm phục. Đó
là anh thanh niên làm công tác khí tượng thủy văn ở Sapa.
Suốt ngày, một mình thui thủi trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m
với công việc đo mưa, đo gió.. Anh ta sống gần như cách
biệt với con người. Bởi vậy, một lần vì thèm nghe tiếng
nói của con người quá, người thanh niên đã tìm cách lăn
cây ra đường, chặn một chuyến xe khách đi ngang và mời
mọi người lên tham quan nơi ở, nơi làm việc của mình khiến
ai cũng xúc động. Thế mới biết nhu cầu được giao cảm,
giao hòa với ngưòi khác trong mỗi người mãnh liệt biết
chừng nào.
Chúng
ta cũng đã từng nghe câu chuyện về vị Thánh Sư Milarepas.
Ông sống ẩn tu mười một năm trên núi hoang, không tiếp
xúc với một ai. Khi tuyết rơi xuống trắng xóa, ông vẫn
ngồi thiền lặng lẽ chịu đựng cái lạnh buốt giá ấy.
Phải thừa nhận rằng, ông thành tựu Định lực rất vững
khiến ai cũng cảm phục. Sau mười một năm sống cách biệt
với cộng đồng để tu tập, ông trở ra giáo hóa và rất
thành công. Người Tây Tạng tôn thờ ông như tôn thờ một
vị Thánh. Đó là trường hợp rất hiếm hoi và cá biệt.
Khi đã có được cái Định ở trong tâm, người ta cảm thấy
nhu cầu về mối tương quan với con người không còn là điều
bức xức nữa. Còn đa số chúng ta đều sống trong sự tương
quan và phải có bổn phận với người khác.
Không
ai có thể sống cô độc mãi trên cuộc đời này. Bây giờ
sống với nhau trong một tập thể, một cộng đồng, có khi
chúng ta cảm thấy không cần phải thương nhau, có khi chúng
ta coi thường tình cảm của người khác. Nhưng những người
hay phụ bạc tình nghĩa đó sau này sẽ không bao giờ tìm lại
được nữa. Hãy nhớ rằng, hễ phụ bạc điều gì, chúng
ta sẽ mất nó mãi mãi. Đó là Nhân Quả.
Ví
dụ, một người còn phước, sống trong giàu có sung sướng
và thường đến ăn uống ở những nhà hàng lớn. Bao nhiêu
lần họ gọi thức ăn thừa mứa để rồi phải đổ đi.
Cuối cùng, quả báo cũng xảy ra. Một lần nọ, trong một
chuyến xe đang đi vào đường rừng, băng qua một cái đèo,
nửa chừng xe bị chết máy, phải nằm lại ba, bốn ngày.
Khi đó, vì không mang theo thức ăn dự trữ nên họ đành phải
nhịn đói suốt mấy ngày liền. Mặc dù tài sản, tiền bạc
vẫn còn đầy ắp nhưng họ cũng phải rơi vào một hoàn cảnh
éo le, phải nhịn đói, nhịn khát để trả cái quả báo những
lúc phí phạm thức ăn. Bởi vậy, ngày xưa ông bà chúng ta
thường khuyên con cháu phải biết quí trọng từng hạt gạo,
hạt cơm. Đó là những “hạt ngọc”. Khi ăn, một hạt cơm
rơi xuống chúng ta cũng phải nhặt lên. Đạo lý ấy tưởng
như đơn giản nhưng thực ra sâu sắc vô cùng. Mỗi người
không bao giờ được coi thường điều đó.
Thực
tế đã cho chúng ta nhiều bài học về vấn đề Nhân Quả.
Không ít vị giám đốc khi còn đương nhiệm đã không ngần
ngại quăng tiền qua cửa sổ, lao vào những cuộc chơi, sống
sa đọa, trác táng. Họ có thể tiêu hàng chục triệu đồng
chỉ trong một đêm. Vì lúc đó, tài sản trong tay họ tính
bằng tỉ, số tiền vài chục triệu đồng ấy có nghĩa lý
gì. Như vậy, coi thường, phung phí đồng tiền, quả báo xảy
ra với họ là gì ? Đến một lúc nào đó làm ăn phá sản,
họ trở thành những kẻ trắng tay. Từ một vị giám đốc
sang trọng “lên xe xuống ngựa”, có khi họ trở thành một
người nghèo khổ, nợ nần bao vây, thậm chí phải ngồi tù.
Điều
dễ thấy nhất là khi sống trong tình thương yêu của cha mẹ,
con cái thường coi thường, phụ bạc. Một ngày nào đó lớn
lên thành gia thất, được làm cha làm mẹ mới chợt hiểu
ngày xưa cha mẹ mình đã thương mình biết chừng nào. Khi
nhận ra, biết thương yêu cha mẹ thì mọi cái đã muộn mất
rồi, có khi không còn gặp lại nữa.
Hiểu
như vậy, chúng ta phải biết quí trọng những gì mình có
hôm nay để không phải chịu quả báo. Cùng sống bên nhau
trong một mái trường, cùng đi một con đường, chung một
lý tưởng mà chúng ta không tôn trọng mối quan hệ gắn bó,
không tôn trọng tình nghĩa huynh đệ đồng học với nhau,
sau này chúng ta cũng sẽ bị quả báo. Đó chính là sự cô
độc, không bạn bè, không người sẻ chia những nỗi niềm
trong cuộc sống. Có thể chúng ta cũng thành đạt, ra ngoài
làm việc sẽ được làm Trụ trì hoặc sẽ đi thuyết giảng.
Nhưng dù làm gì, quanh đi quẩn lại chúng ta vẫn một
mình, vẫn thấm thía sự cô độc.
Trong
cuộc sống, mối quan hệ tốt đẹp, hòa hợp là một nhu cầu
cũng là một yếu tố của hạnh phúc. Nghĩa là, nếu đó là
mối quan hệ xấu, chúng ta sẽ đau khổ. Ngược lại, đó
là mối tương quan tốt, chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc.
Về tương quan xấu khiến con người đau khổ, chúng ta đã
được biết đến trong giáo lý: “Tứ Diệu Đế”.
Trong bát khổ, có một nỗi đau khổ mà con người khó tránh
khỏi là oán tắng hội, ghét mà gặp nhau. Quả thật, ghét
mà gặp nhau cũng là một nỗi khổ lớn của con người.
Chẳng
hạn, chúng ta, nhất là người đời, thường có cái thương
ghét phàm tình. Nhưng dân gian thường nói :“ Ghét của nào
trời trao của đó”. Thường những người mình ghét, trời
xui đất khiến lại cho gặp nhau, thậm chí còn phải ở chung
phòng, làm chung công việc. Bởi vậy, đi ra đi vào chúng ta
hay cảm thấy bực mình, khổ sở. Đó là đau khổ, gọi là
oán tắng hội. Nghĩa là mối tương quan không tốt đã làm
cho mình đau khổ. Để vượt qua điều đó, chúng ta chỉ
có một cách là đừng ghét người ta nữa. Khi không ghét nữa,
tự nhiên chúng ta thấy mọi cái bình thường, không có gì
phải khổ sở. Tuy nhiên, không phải điều gì cũng đơn giản
như chúng ta nghĩ, điều ấy còn phụ thuộc vào sức mạnh
của nghiệp quá khứ.
Nếu
oán tắng hội là một trong những điều khổ của con người
thì thương nhau mà gặp nhau, ở bên nhau là điều hạnh phúc,
là niềm vui.
Là
đệ tử Phật, chúng ta phải cố gắng xây dựng mối tương
quan tốt đẹp với cộng đồng. Khi còn là Tăng Ni sinh, không
có gì để cho nhau, chúng ta hãy cho nhau cái tương quan tốt
đẹp, cách cư xử tốt đẹp. Đó cũng là cách giúp nhau được
hạnh phúc. Chúng ta phải sống làm sao để thương được
tất cả mọi người và mọi người cũng thương mình. Khi
nói điều này, có người cho rằng chúng ta lý tưởng quá,
thậm chí thành ảo tưởng. Vì người ta nghĩ rằng, con người
sống với nhau luôn luôn có thương, có ghét, không bao giờ
có tình thương trọn vẹn. Hay nói cách khác, chúng ta không
thể thương yêu tất cả mọi người và không phải mọi người
ai cũng thương mình. Đó là thực tế.
Trong
cuộc sống, có rất nhiều lý do để người ta ghét nhau. Có
những lý do rất vô lý, rất vặt vãnh cũng khiến cho họ
ghét nhau, không thể thương nhau. Bởi vậy, khi nói chúng ta
thương tất cả mọi người, điều ấy có vẻ như ảo tưởng.
Nhưng đó là những suy nghĩ của thế gian. Người thế gian
thường dựa vào thực tế để đối xử. Nghĩa là, sống
trong trong cuộc đời này, họ biết có người thương mình
và cũng có người ghét mình. Vậy, ai thương họ sẽ được
họ thương lại, ai ghét họ cũng sẽ bị họ ghét lại. Đó
là cuộc sống thường tình. Còn những người tu theo đạo
Phật phải vượt lên thường tình và phải tìm đến sự
hoàn hảo. Nói đến tình thương và sự hòa hợp trong Đại
chúng, mỗi người phải sống làm sao để thương được tất
cả mọi người và cũng để mọi người thương mình. Chúng
ta không đòi hỏi điều đó, nhưng được mọi người thương
lại là dấu hiệu tốt của tâm mình. Tuy điều đó khó có
thể thực hiện nhưng chúng ta vẫn phải tìm đến, vẫn phải
thực hiện cho bằng được.
Tuy
nhiên, đạt được đạo lý về sự hòa hợp của đạo Phật
trong Đại chúng vẫn chưa đủ. Cái tâm của chúng ta là phải
đi tìm được sự hòa hợp với tất cả mọi người trên
thế giới này. Làm sao dưới mắt chúng ta mọi người ai cũng
là người để mình thương yêu, trìu mến. Đó là ước mơ,
là lý tưởng của người đệ tử Phật. Đó là lý tưởng
rất cao mà có người cho là “không tưởng”, nhưng chúng
ta vẫn quyết tâm đạt đến lý tưởng đó, nhất định không
dừng lại. Trước mắt, chúng ta phải phấn đấu sống
một đời tốt đẹp, hòa thuận trọn vẹn với những người
xung quanh. Còn Tâm phải trải rộng đến tất cả mọi người
trên thế giới này.
2.
TINH THẦN LỤC HÒA.
Nhắc đến đạo lý về sự hòa hợp, trong đạo Phật có
giáo lý Lục Hòa. Lục Hòa là sáu điều hòa hợp. Ý nghĩa
lục Hòa thường được Phật chỉ dạy cho Tăng chúng trong
một trú xứ để sống một đời hòa hợp với nhau. Học
bài Hòa hợp, chúng ta không thể không tìm hiểu, phân tích
giáo lý này.
a.
Thân hòa đồng trú:
Đây
là sự hòa thuận khởi đầu nơi việc ở chung với nhau trong
một trú xứ. Sự hòa thuận này là khởi điểm để có năm
sự hòa hợp tiếp theo.
Chúng
ta từ muôn phương có mặt ở đây, trong một tập thể, thì
thân xác này, hình hài này ( gọi theo bây giờ là hộ khẩu)
phải bước vào một cuộc sống hòa thuận. Cuộc sống hòa
thuận này dựa vào những điểm nào ? Tuy có nhiều lớp người
khác nhau nhưng chúng ta phải có sự nương tựa, tin cậy và
giúp đỡ lẫn nhau. Đó là tinh thần hòa thuận trong một
môi trường sống. Trong một ngôi chùa, có thể chúng ta có
nhiều điều khác biệt về nơi xuất thân: người đến từ
“ vùng nước mặn đồng chua”, người về từ vùng quê
“đất cày lên sỏi đá”…Điều quan trọng là chúng ta
vẫn từ bỏ hết những khác biệt đó để sống chung với
nhau trong một trú xứ và hòa thuận được với nhau. Nhưng
điều này không phải bắt đầu từ chúng ta mà từ các vị
Thầy lớn: Thầy Trụ Trì, Thầy Giám viện, Giám hiệu, Thầy
Thư ký…Trước hết, trong chùa, Thầy Trụ trì phải là người
vượt qua mọi sự sai biệt, thương yêu, đối xử bình đẳng,
không phân biệt với tất cả mọi người. Chính tinh thần
ấy của Thầy sẽ là tấm gương cho những đệ tử trong chúng
noi theo. Đối với chúng ta, khi còn trong chúng, phải biết
quan sát cách làm việc của quý Thầy lớn để học tập,
rút ra ưu khuyết điểm về sau. Có người khi còn ở trong
chúng đã được Thầy mình nhờ viết tài liệu dạy cho một
khóa Trụ trì và viết rất thành công. Sở dĩ làm được
như vậy là do người ấy thường xuyên quan sát sự làm việc,
quản lý của quý Thầy lớn và rút ra được những kinh nghiệm,
những kết luận.
Quý
Thầy lớn đã nêu tấm gương, tạo sự hòa hợp cho chúng
ta- sự hòa hợp trải rộng không có một chút phân biệt nào.
Bản thân chúng ta cũng phải vượt qua mọi sai biệt để thân
hòa đồng trú, thương yêu nhau, nương tựa, tin cậy và giúp
đỡ lẫn nhau. Sống như vậy, một ngày nào đó gặp lại
sau bao nhiêu năm xa cách, chúng ta vẫn vui, vẫn tình cảm tràn
đầy. Nếu đã từng trải qua những năm tháng gắn bó, sẻ
chia những khó khăn, vui buồn trong cuộc sống, chúng ta sẽ
nhận ra rằng, tình Đạo còn thiêng liêng hơn cả tình ruột
thịt. Đó không phải là sự cường điệu hay ảo tưởng.
Đó là sự cảm nhận sâu sắc khi chúng ta trải qua bao nhiêu
năm tu hành gian khó. Chúng ta ai cũng có gia đình, cha mẹ, anh
chị em…, vẫn sống trong tình yêu thương trìu mến của gia
đình nhưng ngẫm lại, chúng ta vẫn thấy tình máu mủ không
thiêng liêng bằng tình Đạo. Điều này thật khó giải thích
cặn kẽ. Chỉ khi nào thương được những người huynh đệ
chung quanh mình, khi nào nhắc đến họ, lòng mình trào dâng
bao tình cảm thương yêu, khi đó chúng ta sẽ thấy đúng là
tình Đạo vượt lên trên tình của thế gian. Tình gia đình
cũng không bằng được. Thật ra, gia đình, máu mủ là duyên
nghiệp của nhiều đời. Đôi lúc người ta cũng chẳng còn
coi đó là vấn đề thiêng liêng nữa. Không ít gia đình, anh
em đã giết nhau để tranh giành gia tài. Chỉ có Đạo đức
mới có thể chuyển cái không thành cái có. Ví dụ, chúng
ta là những con người xa lạ, từ khắp nơi về đây, không
một chút ràng buộc nào cả. Nhưng nếu ai cũng có Đạo đức,
cũng thương nhau trên tình Đạo trong lý tưởng của Phật
pháp, chúng ta sẽ thấy mình sống với nhau vui hơn, hạnh phúc
hơn là sống trong gia đình, nhất là gia đình không có Đạo
đức. Nếu đem Đạo đức đối xử với nhau, chúng ta sẽ
hạnh phúc hơn bất cứ điều gì khác trên đời này.
Tóm
lại, hòa thuận chỉ là bước đầu, điều quan trọng là
chúng ta phải đạt đến được sự đối xử với nhau như
ruột thịt. Muốn đối xử với nhau như ruột thịt, chúng
ta phải sống như thế nào? Mỗi người tự cân nhắc lại
thái độ của mình, cách cư xử của mình trong quá trình sống
với huynh đệ sẽ thấy rõ hơn.
Nếu
còn ở trong chúng, sống được như vậy, chúng ta sẽ là tấm
gương Đạo đức tuyệt vời cho mọi người noi theo. Nếu
thờ ơ, dửng dưng với mọi người xung quanh, khi bước ra
làm Phật sự, Tâm chúng ta sẽ còn khô khan lạnh lùng nhiều
hơn nữa. Lúc ấy, chúng ta không thể là hình ảnh Đạo đức
cho mọi người noi theo, cũng không thể là một tàng cây che
mát cho mọi người được. Chúng ta phải nhớ rằng, người
ta nương tựa vào người tu là nhờ lòng thương yêu, một
lòng thương yêu chúng sinh mênh mông và không phân biệt. Điều
này chúng ta đã được học trong bài Tâm từ. Để phát huy
điều đó, chúng ta phải xem môi trường huynh đệ là môi
trường tốt nhất để mình thực hành.
b.
Khẩu hòa vô tránh:
Là
sự hòa thuận bộc lộ nhiều ở lời nói. Trước hết, sự
hòa thuận này được biểu hiện ở việc không tranh cãi nặng
lời. Trong một ngày, chúng ta thường làm ít hơn nói. Chỉ
có một vài người đặc biệt, làm nhiều hơn nói. Dĩ nhiên,
những người ấy làm chuyện tốt chứ không phải chuyện
xấu. Khi đi học, họ cứ lặng lẽ không nói gì. Những người
đó rất tốt, tâm khá an định. Còn bình thường, đa phần
chúng ta nói nhiều hơn làm. Trong việc thiết lập tương quan
với mọi người, lời nói là đường dây quan trọng. Theo
kinh Phật, lời nói phải êm dịu, tao nhã, khả ái đẹp lòng
người. Đó là lời nói tốt để tạo thành tương quan tốt.
Chúng ta phải cố gắng tập luyện, phải học nói lời hay,
phải cố gắng giữ gìn lời nói của mình. Vì nếu không
tập, không sửa được chúng ta sẽ nói lời thô bạo, làm
mất lòng người khác. Tất nhiên, lời nói xuất phát từ
Tâm. Nếu để ý lời nói một chút, chúng ta sẽ nhận xét
được cái Tâm của mình.
Chẳng
hạn, khi có một huynh đệ sẵng giọng với mình, chúng ta
cũng bực bội phản ứng lại bằng lời nói sẵng. Chính lời
nói không đẹp ấy khiến chúng ta không thiết lập được
mối tương quan tốt. Chúng ta sống không phải vì mình
mà vì chùa mình, vì Phật pháp. Nếu lỡ nói nặng lời, chúng
ta phải nhìn Tâm của mình ngay, tập sửa Tâm mình để lời
nói phát ra trở thành ái ngữ , làm đẹp lòng người. Trong
cách xưng hô của người Việt Nam, chúng ta cần tránh năm
từ tiêu biểu cho sự kém văn hóa là thằng, con, mày, tao,
nó. Đó cũng là một trong những yếu tố khiến người Việt
Nam chúng ta tổn phước so với các nước khác trên thế giới.
Những cách xưng hô như vậy, người đời có thể dùng nhưng
người tu chúng ta hoàn toàn không nên. Khi nói về người thứ
ba, chúng ta chỉ nên gọi bằng tên, không cần dùng đại từ.
Trong Đạo, khi nói chuyện, xưng hô với nhau, chúng ta nên dùng
Pháp danh.
Một
biểu hiện nữa của khẩu hòa vô tránh là không nói xấu
sau lưng. Nói xấu người khác sau lưng là một việc không
tốt. Nếu nghe được, người ta sẽ rất giận và dẫn đến
mất hòa khí, mất đoàn kết. Mối tương quan hòa hợp vì
thế cũng không còn. Nói xấu sau lưng thường có hai trường
hợp: ác ý và không ác ý. Người nói xấu sau lưng người
khác có ác ý là người thực sự muốn hạ nhục người kia,
muốn hạ uy tín người kia. Trường hợp còn lại, người
nói không có ác ý nhưng do vô tình mà trở thành nói xấu
người khác. Có khi chỉ là một câu nói đùa, không có ác
ý nhưng sự thật vẫn làm cho người nghe đánh giá thấp về
người được nói đến. Cho nên, dù có ác ý hay không
ác ý, chúng ta cũng không nên nói sau lưng người khác. Khi
nghe được, họ sẽ buồn lòng và mối tương quan giữa chúng
ta với họ sẽ không còn tốt đẹp nữa. Nếu không đồng
ý với người ta ở điểm nào đó, chúng ta cũng không được
phát ngôn một cách tuỳ tiện, nhất là khi có người hỏi
đến người đó. Vì nhiều khi do sự bất đồng, chúng ta
không kìm chế được buộc miệng nói ra những điều không
hay. Như vậy, vô tình chúng ta trở thành kẻ nói xấu sau lưng
người khác. Tốt hơn hết, khi có sự bất đồng, chúng ta
nên trực tiếp góp ý với họ. Nếu thấy không có duyên hay
không tiện, chúng ta cũng im lặng, đừng nói qua người thứ
ba làm mất uy tín của họ.
Một
điều cần lưu ý nữa là chúng ta đừng gây gổ với nhau.
Thực ra, điều này cũng đã từng xảy ra trong giới tu sĩ
ở một vài chùa. Để xảy ra gây gổ nặng nề như vậy chứng
tỏ việc kiểm soát ngôn hạnh và cái tâm của người
tu còn kém. Nếu không đồng ý với nhau, lòng mình vẫn điềm
tĩnh, tìm xem lỗi từ ai. Nếu lỗi thuộc về mình, chúng ta
phải thành thật nhận lỗi và quyết tâm sửa chữa. Nếu
lỗi thuộc về người, chúng ta cố gắng góp ý để giúp
họ vượt qua.
c.
Giới hòa đồng tu: Là cùng nhau giữ được giới pháp, Đạo
đức thì sự hòa thuận dễ đạt được.
Những
oai nghi giới luật mà chúng ta cùng nhau giữ được, cuộc
sống sẽ vui hơn. Ví dụ: Chùa có luật là bước ra khỏi
giới tràng( khuôn viên của chùa) phải xin phép. Chúng ta phải
tuân thủ điều đó. Dù có đi bách bộ buổi chiều, chúng
ta cũng chỉ ra đến cửa rồi lại quay vào. Như vậy, mọi
người sẽ nhìn nhau bằng niềm vui vì ai cũng giữ giới. Hoặc
chúng ta cùng nhau thực hành những vấn đề về Đạo đức
như Từ bi, Khiêm hạ thì cuộc sống sẽ rất vui và hạnh
phúc. Khi tu tâm Từ bi, chúng ta thương yêu những người huynh
đệ xung quanh mình. Khi có huynh đệ bị bệnh, chúng ta sẽ
chăm sóc trong tình yêu thương. Khi chúng ta đau ốm, lại có
người khác chăm sóc cho mình. Cứ như thế, cuộc sống này
sẽ đẹp hơn. Nếu ngược lại, vấn đề tu tập, rèn luyện
Đạo đức không đồng với nhau, cuộc sống sẽ mất đi niềm
vui, không còn tương quan hòa thuận nữa.
d.
Kiến hòa đồng giải: Là chia sẻ sự hiểu biết với nhau,
nhất là trong giáo pháp.
Sự
hiểu biết của con người vốn không đồng đều. Khi biết
điều gì hay, chúng ta không cố ý giữ lại cho riêng mình
mà muốn cho người khác, muốn cho chúng sinh đều biết. Những
người sống được như vậy, đời sau sẽ có trí tuệ vượt
bậc và sẽ được nhiều phước. Trong giáo lý cũng vậy.
Khi nghe Thầy giảng, nếu hiểu vấn đề một cách sâu sắc,
chúng ta không nên giấu điều mình hiểu được mà cố gắng
phân tích thêm để huynh đệ cũng hiểu sâu sắc như mình.
Và nhờ thế, bài học càng được mở rộng thêm. Điều đó
sẽ làm cho huynh đệ phấn chấn, cùng nhau tu hành ngày một
tiến bộ.
Trong
dụng công tu Thiền, nói ra những điều mình đạt được
sẽ mất công phu, nhưng nếu thấy cách dụng công nào hay,
chúng ta cũng tìm cách chỉ cho huynh đệ biết để cùng đạt
được trạng thái an lạc. Ví dụ, thấy điều hòa hơi thở
là cách dụng công có kết quả tốt, chúng ta hướng dẫn
huynh đệ cách hít thở để đạt được trạng thái khinh
an, hỷ lạc…Nhưng chúng ta không nói với huynh đệ là mình
tu được như vậy mà chỉ nói là nghe người khác hướng
dẫn. Đó cũng là cách giảng giải cho nhau, không muốn giữ
gìn cái hay cho bản thân mình.
Không
chỉ riêng về giáo lý, trong cuộc sống, có những điều
vặt vãnh chúng ta cũng có thể chia sớt kinh nghiệm cho người
khác. Chẳng hạn, khi phạm lỗi lầm gì, chúng ta mong người
khác đừng bao giờ phạm lỗi như mình. Hoặc trong sự lầm
lỗi đó, nếu đã cố gắng vượt qua, chúng ta cũng nên phân
tích và đưa ra kinh nghiệm để người khác có cách vượt
qua lỗi lầm. Tấm lòng mình lúc nào cũng chan hòa, khám phá
ra được điều gì hay đều muốn san sẻ cho người khác để
ai cũng được ích lợi, tiến bộ trong sự tu hành cũng như
trong đời sống. Như thế chính là kiến hòa đồng giải.
Người tu chúng ta chẳng có gì để cho nhau. Bởi vậy, cho
nhau vốn hiểu biết chính là món quà vô giá, đừng bao giờ
giữ một chút gì cho riêng mình.
Sau
này, nếu có duyên đi giảng pháp nhiều nơi, được Phật
tử khen ngợi, chúng đừng vội tự hào. Trong bài Khiêm
hạ, chúng ta đã nói đến tâm tự hào bí mật. Đó là điều
rất nguy hiểm, chúng ta cần dập tắt ngay bằng những suy
nghĩ rất đơn giản. Chúng ta có thể nghĩ rằng, người nghe
băng mình giảng phần lớn là những người bình dân, trình
độ còn thấp nên thấy hay. Nếu người có trình độ cao,
nghe những điều mình giảng sẽ cảm thấy bình thường, không
có gì phải khen cả. Hoặc chúng ta có thể nghĩ mình giảng
hay thật, sâu sắc thật nhưng xin nguyện cho tất cả những
vị Giáo Thọ, Giảng Sư đều giảng hay hơn mình. Và lúc nào,
ở đâu trên mọi nẻo đường của Phật pháp, chúng ta đều
mong gặp được những vị giảng sư giỏi, giảng pháp hay.
Khi đến bất cứ môi trường nào, dù là Phật tử hay Tu sĩ
cũng đều được nghe những bài pháp tuyệt vời và tăng được
tín tâm với Phật pháp. Cao hơn nữa, chúng ta luôn cầu nguyện
cho thế giới này ai ai cũng là những vị Thánh, không còn
ai muốn hơn ai nữa. Đó là một Thế giới tuyệt vời tốt
đẹp. Khi có tâm nguyện mong điều tốt đến được với
mọi người, chúng ta sẽ thấy mình vô cùng bình thường,
chẳng có gì đặc biệt và sẽ dập tắt niềm tự hào có
thể trỗi dậy trong lòng mình.
e.
Ý hòa đồng duyệt: Là trong tâm nghĩ tốt về nhau, tự nhiên
niềm vui phát sinh giữa mọi người.
Sở
dĩ khi nhìn huynh đệ tâm chúng ta cảm thấy vui vì chúng ta
biết nghĩ tốt về huynh đệ mình. Nghĩa là chúng ta thường
nhìn thấy ưu điểm của huynh đệ. Điều này rất sâu sắc.
Sống trong một môi trường mà nhìn thấy ai cũng là người
tốt: người học rất giỏi, có trí tuệ sâu sắc; người
rất siêng tu, lạy Phật, sám hối, ngồi thiền đều đặn;
người có hạnh thích công quả; người hay dùng lời
nói để khuyên giải, giúp người khác vượt qua lỗi lầm
vv…, tự nhiên chúng ta sẽ thấy niềm vui tràn ngập trong
lòng. Một khi tâm ý mình luôn luôn vui vẻ với mọi người,
không nhìn điểm xấu, không soi mói, ác cảm, luôn bao dung
tha thứ, chỉ dựa vào điều tốt để sống, chúng ta sẽ
có thêm nhiều kinh nghiệm sống và nhiều niềm vui. Đó là
Ý hòa đồng duyệt.
g.
Lợi hòa đồng quân: Là chia sẻ đồng đều các quyền lợi
như quần áo, thức ăn, thuốc men, giường chiếu, tập viết,
giờ nghỉ ngơi, phiên nhập thất v.v…
Những
sự hòa hợp thuộc về tâm ý thường đơn giản hơn những
vấn đề liên quan đến quyền lợi. Nếu quyền lợi gì cũng
chia đều không cẩn thận sẽ dẫn đến bất công. Chẳng
hạn, quyền lợi, chế độ của người ốm sẽ khác với
ngườì bình thường, mọi người không thể đòi hỏi được
hưởng như nhau. Hoặc người làm việc nhiều, làm những công
việc nặng nhọc phải được ưu tiên hơn về quyền lợi…Vì
vậy, Lợi hòa đồng quân phải dựa trên tình thương yêu.
3.
TÌNH THUƠNG LÀ GỐC CỦA SỰ HOÀ HỢP.
Như
đã nói ở trên, không phải chia sẻ quyền lợi đồng đều
một cách răm rắp mới gọi là Hòa hợp. Chính tình thương
mới là gốc của sự hòa hợp. Quyền lợi chia sẻ xuất phát
từ tình thương yêu sẽ thành lợi hòa đồng quân một cách
hợp lý. Có những trường hợp đặc biệt chúng ta không thể
xử lý đồng đều. Ví dụ, theo tiêu chuẩn, mỗi người trong
một năm được may một bộ quần áo. Trong đó, một Thầy
rất siêng năng làm lụng, gặp chuyện gì bất kể là mưa
hay gió cũng xông xáo nên quần áo bị rách trước. Nếu cứ
theo nguyên tắc cứng nhắc, chưa đến kỳ may đồng loạt,
người ấy phải chờ đợi với bộ quần áo rách trên mình
thì sẽ bất công và vô lý. Như vậy, chia đồng đều có
thể ngược với ý nghĩa công bình.
Sự
nhường nhịn chính là biểu hiện của sự hòa hợp vì xuất
phát từ tình thương yêu. Bởi vậy, trong những trường hợp
cần thiết, chúng ta có thể hy sinh quyền lợi của mình, nhường
nhịn cho người khác. Chẳng hạn, thấy mùa lạnh đến, Phật
tử mang đến cúng cho mỗi Thầy trong chùa một cái áo ấm.
Nhưng do nhầm lẫn nên họ cúng thiếu một cái. Trên nguyên
tắc, nếu chia từ quý Thầy lớn trở xuống, tính ra tuổi
hạ chúng ta vẫn nhận được một phần, chỉ có người nhỏ
nhất là bị mất quyền lợi. Điều đó cũng hợp lý nhưng
trên Đạo đức, điều ấy hoàn toàn sai vì thiếu đi tình
thương yêu, sự nhường nhịn. Nếu là người đầu tiên biết
sẽ thiếu một chiếc áo, chúng ta phải chấp nhận không có
áo mặc để nhường cho người khác cần hơn. Trong trường
hợp này, nhường nhịn mới là lục hòa chứ không phải theo
nguyên tắc chia từ trên xuống dưới, người chức lớn thế
nào cũng được phần, người nhỏ phải chịu thiệt thòi
là lục hòa. Được lục hòa mà mất đạo lý là hoàn toàn
không nên. Bởi vậy, mọi khía cạnh khác của lục hoà
đều cần cái gốc tình thương.
4.
BỎ QUA SỰ KHÁC BIỆT ĐỂ HƯỚNG ĐẾN CÁI TƯƠNG ĐỒNG.
Muốn
tìm đến sự Hòa hợp với mọi người, chúng ta phải bỏ
qua sự khác biệt để tìm đến cái tương đồng. Nếu cố
tìm sự khác biệt, chúng ta sẽ thấy giữa người và người
sống với nhau đầy rẫy sự khác biệt.
Trước
hết, đó là sự khác biệt về ngoại hình: người cao, người
thấp; người mập, người ốm; người có gương mặt đẹp,
người trông lại khó coi…Trong cuộc sống, không ít người
vì quá coi trọng ngoại hình mà gây phân biệt, chia rẽ. Tiếp
theo là khác nhau về giọng nói. Mỗi địa phương có một
giọng nói riêng, có vùng nói giọng rất dễ nghe, có nơi giọng
nặng nề không nghe được. Từ đó, dựa vào giọng nói, người
ta có cảm tình với người nơi này, lại có ác cảm với
người nơi khác. Vì giọng nói, con người cũng có thể xa
cách nhau. Hiện nay, ở một vài chùa xảy ra tình trạng phân
biệt địa phương, quê quán rất gay gắt. Đây là điều trái
với đạo lý của dân tộc ta :“Tuy rằng khác giống nhưng
chung một giàn”. Tất nhiên, lúc đầu chỉ do một vài người
có sự phân biệt, sau đó người khác hùa theo rồi trở thành
phong trào. Khi gặp trường hợp như vậy, chúng ta phải tìm
cách hoá giải, phải giúp nhau vượt qua tư tưởng kỳ thị
địa phương để sống hòa hợp. Vì theo đạo Phật,
mười phương chúng sinh đều cùng một Phật tánh.
Quá
trình tu tập cũng là điểm khác biệt có thể làm cho con người
phân biệt, chia rẽ nhau. Ngườøi này tự hào mình vào chùa
tu lâu hơn người kia nên thấy có sự khác biệt, thấy người
đó không bằng mình và không có sự hòa hợp với mình. Ngoài
ra, giữa con người còn có sự khác biệt về địa vị , dòng
dõi , trí tuệ, thể chất… Nếu cứ dựa vào những khác
biệt đó, chúng ta sẽ kỳ thị, chia rẽ, ác cảm với nhau
và dần dần xa cách nhau.
Vì
vậy, chúng ta cố gắng tìm kiếm sự tương đồng và sẽ
thấy giữa con người đâu chỉ có sự khác biệt, mà còn
có vô số điểm tương đồng. Sự tương đồng lớn nhất
là nước mắt cùng mặn và máu cùng đỏ. Chúng ta nhớ rằng,
thời Đức Phật, xã hội Ấn Độ chia ra nhiều giai cấp.
(Tất nhiên, thời đó sự phân chia giai cấp không gay gắt
như xã hội Ấn Độ vào khoảng thế kỷ XVIII-XIX). Vậy mà,
Đức Phật không chấp nhận sự phân biệt giai cấp và đã
lên án quyết liệt. Khi thấy một người thuộc đẳng cấp
Tăng lữ Bàlamôn có vẻ tự thị bởi dòng họ của mình,
bởi giai cấp của mình, Phật phản đối ngay. Ngài từng nói
:“ Không có giai cấp khi mà máu cùng đỏ, không có giai cấp
khi mà nước mắt cùng mặn”. Lời khẳng định ấy tuyệt
vời trên cả hai phương diện: Đạo đức và Nghệ thuật.
Về
phương diện Đạo đức, Triết học, đó là một tư tưởng
tuyệt vời. Về phương diện nghệ thuật, đó cũng là một
câu văn tuyệt vời, mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Máu
tượng trưng cho sự sống. Trên đời này, ai cũng quý sự
sống. Và nơi sự sống đáng quý này, tất cả mọi người
đều bình đẳng, không có sự hơn kém. Không phải vì người
này giàu, người kia nghèo mà sự sống người này quý hơn
người kia. Nước mắt tượng trưng cho sự đau khổ. Sống
trong cuộc đời này, con người chúng ta đều phải chịu đựng
những nỗi khổ rất giống nhau. Ai cũng phải già, phải bệnh,
phải chết, phải chia ly với người thân yêu của mình, phải
gặp mặt người mình ghét, có những điều mong cầu không
đạt được … Nghĩa là những nỗi khổ trong cuộc sống
này rất giống nhau. Và chính những nỗi khổ ấy đay nghiến
chúng ta, dằn vặt chúng ta một cách bình đẳng. Những giọt
nước mắt chảy ra từ những nỗi đau khổ ấy của người
giàu sang hay người nghèo khổ đều như nhau. Đó là điểm
tương đồng trước hết chúng ta phải ghi nhận để thương
yêu hoà hợp với nhau trong cuộc sống.
Một
điểm tương đồng nữa là lý tưởng. Khi đến với đạo
Phật, trong lòng chúng ta ai cũng có lý tưởng về sự giác
ngộ, giải thoát. Đây là điểm để chúng ta có thể thương
yêu nhau. Vì có những người không cùng chung lý tưởng nhưng
trên lòng từ bi của đạo Phật, chúng ta còn phải thương
họ huống hồ là những huynh đệ cùng chung câu niệm Phật,
cùng sống trong một bầu không khí thanh tịnh của đạo Phật,
cùng hướng về sự giác ngộ giải thoát.
Chưa
hết, chúng ta còn một điểm tương đồng nữa là cùng chung
một loài người . Chúng ta giống nhau về lý tuởng, giống
nhau trong nỗi đau khổ và giống nhau cả trong sự lầm lỗi
nữa. Có thể người này đã vượt qua, người kia chưa vượt
qua được nhưng những lầm lỗi trong cuộc đời này từ ngàn
xưa đến bây giờ mà con người mắc phải đều rất giống
nhau. Đó là những lầm lỗi hơn thua, tham lam, kiêu mạn, chấp
ngã, oán hờn, vị kỷ … Rồi chúng ta còn cùng một Tôn giáo,
cùng Thầy Tổ, cùng trường lớp nữa. Bởi vậy, khi thấy
mọi người chung quanh có quá nhiều điểm giống mình, chúng
ta phải thương nhau, không còn xa cách, không còn phân biệt
nữa.
Đó
là tình thương yêu trong Đại chúng. Nhưng như vậy cũng chưa
đủ. Vì đạo Phật không có biên giới. Giữa nhân loại bao
la, chúng ta phải thường xuyên đi tìm cái tương đồng để
đạt đến sự hòa hợp. Đó là lý tưởng, là con đường
của đạo Phật. Ví dụ, giữa đạo Phật với đạo Thiên
Chúa có nhiều điểm khác nhau nhưng chúng ta vẫn tìm ra những
điểm tương đồng, thậm chí rất giống nhau. Đọc kinh Tân
ước ( kinh Phúc âm), những lời dạy của Chúa Jêsu, chúng
ta sẽ thấy có rất nhiều điểm giống với đạo Phật. Chúng
ta có thể kết luận: “Chúa Jêsu là một vị Bồ Tát thị
hiện” để cải cách đạo Do Thái. Đạo Do Thái dựa vào
Cựu ước, mà Cựu ước quả là có nhiều điểm sai lầm.
Chúa Jêsu xuất hiện và cải cách lại. Những lời dạy của
Chúa tập hợp lại thành một cuốn gọi là Phúc Âm. Năm người
viết về cuộc đời Chúa ( Bộ kinh gọi là Phúc Âm có đến
năm quyển) có điểm giống, có điểm khác nhau nhưng chúng
ta phát hiện trong đó rất nhiều điểm giống đạo Phật.
Nếu nghiên cứu sâu, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó.
Hoặc
điều mà chúng ta lo sợ nhất hiện nay là vấn đề Hồi giáo.
Họ chỉ nói chuyện với nhau bằng bom đạn, rất đáng sợ.
Hiện nay, chúng ta chưa tìm được nhiều tài liệu về Hồi
giáo để nghiên cứu, để có thể bắt đầu từ một điểm
tương đồng nào đó chuyển hóa được họ, khiến họ từ
bỏ con đường bạo lực, sống hòa bình với nhân loại, trước
hết là trên lý luận. Hiện tại, họ chỉ muốn tiêu diệt
tất cả những đạo khác để trên thế giới chỉ còn lại
một đạo Hồi. Họ thực hiện điều đó bằng bạo lực
và với một quyết tâm rất cao. Nếu không ý thức được
điều này là chúng ta có tội với nhân loại. Bởi vậy, mỗi
người trong quá trình tu phải nhìn thấy những vấn đề lớn
lao trên thế giới đang chờ rất nhiều người góp tay xây
dựng, không được tu một cách thụ động.
Là
Đạo của hòa bình, của khoan dung hòa hợp, của từ bi, chúng
ta phải nhìn thấy điều đó để chuyển hóa họ. Bây giờ,
chúng ta chưa tìm được cách có thể hóa giải tư tưởng
bạo lực của họ nhưng tin rằng, trong tương lai chúng ta sẽ
có cách giúp người anh em đạo Hồi của mình đang chìm trong
sai lầm, tà kiến, chìm trong sự hung dữ của bạo lực sống
trở lại trong sự hòa thuận với thế giới, với nhân loại.
Đối với những nhà chính trị, Hồi giáo cũng là một mối
lo ngại lớn. Họ đang tìm mọi cách, lập đủ âm mưu để
triệt hạ lẫn nhau. Trên quan điểm đạo Phật, chúng ta cũng
thấy Hồi giáo là một nỗi lo lắng của mình. Nhưng khác
với họ, chúng ta dựa trên đạo lý, đạo đức và sự khoan
dung mà chuyển hóa chứ không phải bằng sự đấu tranh tiêu
diệt lẫn nhau.
Là
người tu theo đạo Phật, chúng ta phải thấy vấn đề Hồi
giáo là vấn đề lớn. Và còn nhiều vấn đề lớn khác nữa
của thế giới loài người, chúng ta phải tự mình nhận lấy
trách nhiệm để giải quyết. Hãy nhớ rằng, mơ ước tu hành
tiến bộ để được làm Giảng sư, Giáo thọ, Trụ trì…
chỉ là những mơ ước tầm thường. Là người tu chân chính,
chúng ta phải vượt lên những cái tầm thường ấy để hướng
đến mục đích, lý tưởng cao cả hơn.
5.
NƠI VÔ NGÃ, MỌI CÁI TRỞ THÀNH ĐỒNG NHẤT.
Trong
đạo Phật có một Trí tuệ cao tột, đó là Trí tuệ Vô ngã.
Chúng ta tu tập rất nhiều nhưng cuối cùng cũng hướng tới
Vô ngã. Có thể đang nhiếp tâm trong Thiền định, Tâm chúng
ta sẽ được Định. Nhưng phải nhớ một điều, chúng ta
dùng cái Định này để đi đến Vô ngã, không còn thấy mình
nữa. Càng hướng về Vô ngã bằng Thiền định, Tâm tự nhiên
sẽ chan hòa với mọi người, mọi vật. Chúng ta đừng bao
giờ tự nhận mình đã Giác ngộ, đã có Trí tuệ, đã thành
tựu, đã có sở đắc . Đây là điều nguy hiểm của một
người tu Thiền.
Thông
thường, khi dụng công có kết quả, chúng ta hay nghĩ đến
trí tuệ, thần thông, năng lực …và thấy giá trị của mình
tăng lên. Khi đã nhiếp Tâm vào Định, hàng loạt những ý
niệm bí mật ấy nảy sinh. Và chính những điều này đã
làm cho Định mất, hoặc làm cho ngã chấp tăng lên. Bởi vậy,
một điều quan trọng chúng ta phải nhớ là khi Tâm vừa vào
được Định, chúng ta vẫn nghĩ mình chưa đạt đến cái
cần đến và nguyện buông bỏ hết mọi điều khác để hướng
đến cái Vô ngã. Phải tâm nguyện như vậy, chúng ta mới
không bị cảm giác của cái Định lừa mị.
Khi
đi đến Vô ngã như vậy, Tâm chúng ta tự nhiên sẽ chan hòa
với mọi người, mọi vật. Đây là một điều không có lý
luận, không cần giải thích. Từ đầu, chúng ta đi tìm sự
hòa hợp trên lý luận, giải thích vì sao chúng ta phải sống
hòa hợp thương yêu nhau. Nhưng nếu một người vào được
Định và hướng về Vô ngã thì không cần nói một lời nào,
Tâm vẫn tự nhiên chan hòa với mọi người. Trước khi chưa
có Định, chúng ta thấy Tâm mình chỉ ở trong đầu mình thôi.
Nhưng khi đã có Định, chúng ta lại thấy mọi người ở
ngay trong Tâm mình và lòng thương yêu, sự hòa thuận tự nhiên
lan tỏa. Đó chính là giá trị của Định, mà phải là Định
hướng về Vô ngã.
Ngược
lại, người có Định mà chỉ nghĩ đến những sự sai biệt
với người khác, chấp ngã sẽ tăng lên, lại cách biệt với
mọi người và càng rời xa Vô ngã. Vì Vô ngã làm cho chúng
ta tìm thấy được sự tương đồng, còn chấp ngã khiến
chúng ta tìm thấy sự sai biệt. Hiểu như vậy, mỗi người
chúng ta cố gắng tu tập Thiền định, siêng năng Tinh tấn
đến khi nào Tâm chan hòa với mọi người, mọi vật. Dù không
nói nhưng sự hòa hợp thương yêu trong chúng ta vẫn lan tỏa,
vẫn tràn đầy với mọi người.
Trong
Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò, câu chuyện ba Tôn giả Anuruddha, Nadiya
và Kimbila sống đời sống thanh tịnh hòa hợp được giới
thiệu và tán thán. Đức Phật ấn chứng rằng, ai nghe đến
tên của ba Tôn giả Alahán sống hòa hợp này sẽ được nhiều
công đức lành. Khi Đức Phật đến thăm ba vị Tôn giả,
Ngài hỏi:
- Các
ông có thể sống hòa thuận với nhau được hay chăng?
Các
Tôn giả trả lời:
- Chúng
con sống với nhau hòa thuận như nước hòa với sữa.
Đức
Phật lại hỏi:
- Làm
thế nào các ông sống được như vậy ?
- Kính
Bạch Đức Thế Tôn! Vì con không sống bằng tâm của con mà
con sống bằng tâm của huynh đệ con.
Câu
trả lời thật tuyệt vời! Trước thời Đức Phật chưa có
câu trả lời này và vĩnh viễn đời sau không có câu trả
lời hay hơn nữa. “Con không sống bằng tâm con mà con sống
bằng Tâm của huynh đệ con”. Sở dĩ các Tôn giả ấy sống
hòa hợp một cách tuyệt vời như vậy vì họ sống bằng
Tâm của huynh đệ mình. Một khi thân khác nhau nhưng Tâm vẫn
tương đồng, họ sẽ nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm,
sống vui vẻ bên nhau, không tranh cãi hơn thua. Đó là một
điều tuyệt đẹp trong cuộc sống. Chỉ trong Đạo Phật,
những vị chứng được cái Vô ngã của Alahán mới có thể
nói được như vậy, mới có thể sống được cuộc đời
như vậy.
Là
đệ tử Phật, chúng ta cần phải hướng đến điều này
để sống hòa hợp với mọi người. Nghĩa là dù chưa đạt
được Alahán, chưa đạt được Vô ngã nhưng nếu cố gắng
bỏ ý riêng của mình để sống theo tâm ý của huynh đệ,
chúng ta cũng gieo được Nhân để đạt được Vô ngã, đạt
được Thánh vị Alahán. Hằng ngày, huynh đệ muốn làm việc
gì có ích, chúng ta nên cùng làm với họ. Nghĩa là chúng ta
sống hòa thuận theo huynh đệ, không còn cái gì của riêng
mình nữa, nhất là về ý kiến, về tư tưởng. Tất nhiên,
đạo lý phải thống nhất, không thể sai. Khi huynh đệ đi
sai đạo lý, chúng ta kiên quyết không theo. Đạt được như
vậy, chắc chắn chúng ta sẽ có một cuộc sống hòa thuận
tuyệt đẹp với mọi người.