NIỀM
TIN
1.
TIN LÀ CHẤP NHẬN ĐIỀU GÌ ĐÓ ĐÚNG SỰ THẬT
Con người sống trên đời này không thể không có một niềm
tin. Niềm tin là chấp nhận có cái gì cao đẹp để ta vươn
tới. Có thể niềm tin đó đã được kiểm chứng chắc chắn,
và cũng có thể chưa, chỉ là tin suông. Hoặc là ta tin rằng
có thần linh theo dõi hành vi thiện ác của con người để
thưởng phạt công minh; hoặc ta tin rằng sống trên đời phải
biết hy sinh cho đất nước. Trong thái độ ứng xử cũng như
trong việc chọn lựa con đường đi cho cuộc đời mình, niềm
tin là điều rất quan trọng. Nhưng quan trọng hơn cả là tin
điều gì, tin ai và tin như thế nào?
Cuộc
sống vốn rất phức tạp. Xung quanh chúng ta hằng ngày xảy
ra bao nhiêu chuyện vui buồn, bao nhiêu điều đúng sai, có những
điều đáng tin và những điều không đáng tin. Đôi khi vì
cả tin, chúng ta mắc phải những sai lầm đáng tiếc. Cũng
có lúc vì quá hoài nghi, vì mất niềm tin, chúng ta lại bỏ
qua những cơ hội tốt cho cuộc đời mình, thậm chí còn phụ
mất bao tấm lòng trong thiên hạ. Bởi vậy, thái độ đối
với niềm tin của mỗi người rất quan trọng. Nhất là trong
thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, chúng ta phải có trí
tuệ và bản lĩnh để chọn cho mình một cách xử lý thông
tin đúng đắn nhất, có hiệu quả nhất.
Tin
là chấp nhận một điều gì đó là đúng sự thật. Chúng
ta có thể tin vào một câu chuyện kể, tin nhân cách của một
con người, tin một lý thuyết hoặc một giáo điều…Nhưng
chúng ta chỉ tin khi nào ? Trước một câu chuyện kể, chúng
ta phải cân nhắc. Nếu nghe người ta kể lại một câu chuyện,
chúng ta không suy xét mà tin ngay, đó là lối tin sai lầm. Vì
ngay cả những chuyện xảy ra trong lịch sử đã được ghi
vào sử sách cũng có lúc sai. Chuyện kể về Công Chúa Ngọc
Hân, Hoàng hậu vua Quang Trung là một ví dụ. Chuyện kể rằng,
khi Tây Sơn bị quân Nguyễn Ánh đánh bại, bà Ngọc Hân vẫn
ở lại kinh đô Phú Xuân- Huế. Sau đó, Nguyễn Ánh thấy bà
đẹp quá nên giữ lại và bà tiếp tục làm vợ của Nguyễn
Ánh. Câu chuyện được người đời thêm “gia vị” vào
càng trở nên hấp dẫn. Nhưng đến bây giờ, qua nghiên cứu,
tìm hiểu, những nhà sử học đã phát hiện ra đó là chuyện
bịa đặt, sai lầm. Như vậy, một thời gian dài, ai cũng tin
chuyện đó là có thật. Thực ra, khi có biến cố xảy ra,
bà cùng hai người con chạy trốn khỏi kinh thành. Sau đó,
ba mẹ con bà bị quân Nguyễn Ánh bắt và giết chết. Trên
thực tế, không có một Ngọc Hân nào ở lại làm vợ vua
Nguyễn Ánh cả.
Hoặc
một câu chuyện khác trong đạo Phật, chuyện về tiền thân
của Đức Phật. Thái Tử Tu Đại Noa tu hạnh bố thí, bố
thí Ba la mật, ai xin gì Ngài cũng cho. Chính vì điều đó nên
vua cha giận và đày đi nơi khác mang theo cả vợ con. Trên
đường đi, người ta xin vợ con, Ngài cũng cho nốt. Vì đây
là câu chuyện được kể lại trong kinh Phật nên được rất
nhiều người tin. Theo tư duy của con người lúc bấy giờ,
người ta cho rằng câu chuyện đó có thật. Vì đối với
người đàn ông, vợ con là sở hữu của họ. Một khi đã
là sở hữu, họ muốn cho ai cũng được. Đối với người
có tâm bố thí rộng lớn, cái sở hữu lớn nhất, quý nhất
là vợ con ruột thịt, họ cũng sẵn sàng cho đi. Như vậy,
người ấy đúng là người có hạnh bố thí viên mãn. Đó
là lý luận của người xưa. Nhưng nếu đặt ngược lại
vấn đề, chúng ta sẽ thấy quan điểm ấy hòan tòan trái
với đạo Phật. Bởi vì, khi sẵn sàng cho cả vợ con, Thái
Tử tỏ ra tốt với người khác nhưng không tốt đối với
vợ con mình. Ngài có biết khi vợ con mình về ở với người
kia, họ có được đối xử đàng hoàng hay không? Nếu cứ
nhắm mắt cho liều, không băn khoăn, day dứt, dù là cái mình
yêu quý nhất, để được gọi là tu hạnh bố thí Balamật
thì đó là điều rất vô lý, không thể chấp nhận được.
Xét trên góc độ nhân bản, người này không có trí tuệ,
không biết cân nhắc, đối xử vợ con như vậy là không tôn
trọng, không hợp với đạo lý.
Một
câu chuyện bộc lộ nhiều điểm vô lý, sai lầm như vậy
mà cả thời gian dài chúng ta đã tin là thật. Phải thừa
nhận rằng, không phải mọi câu chuyện trong Đạo được
kể lại đều là sự thật, đều chính xác. Tính xác thực
của những câu chuyện cổ trong đạo Phật rất thấp. Bởi
vậy, trong quá trình thuyết giảng cho đệ tử, chúng ta chỉ
kể những câu chuyện mình tin chắc là có thực. Sống trong
thời đại khoa học, văn minh, con người thường cân nhắc
kỹ lưỡng trước khi tin một vấn đề. Chúng ta phải cẩn
thận, nếu không sẽ làm mất niềm tin trong lòng họ, có khi
lại trở thành trò cười cho thiên hạ.
Trong
đạo Phật có chuyện Lòng hiếu của chim Oanh Vũ. Chuyện kể
về tiền thân Đức Phật lúc đó là con chim Oanh Vũ. Vì ba
mẹ bị mù, chim Oanh Vũ đi gắp lúa về nuôi ba mẹ. Lúc
bấy giờ, ngài Xá Lợi Phất là một điền chủ trồng lúa.
Khi bị mắc bẫy, chú chim cất lên tiếng nói, tiếng nói của
con người. Những câu chuyện như thế này chỉ mang tính chất
ngụ ngôn chứ không có thật. Bởi vậy, khi sử dụng những
câu chuyện ấy để chứng minh cho bài giảng của mình, chúng
ta không được khẳng định đây là chuyện có thật trong
đạo Phật mà phải nói rõ chuyện được xem như là một
chuyện ngụ ngôn để răn dạy người đời.
Trong
cuộc sống, đôi khi chúng ta cũng nghe được những câu chuyện
lạ. Những chuyện ấy rất hấp dẫn nhưng vì không kiểm
nghiệm được nên thật khó tin. Chẳng hạn, chúng ta từng
nghe chuyện lạ về một người thợ săn. Vào thời Pháp thuộc,
khi rừng Sác còn dày đặc, còn nhiều những cây cao bóng cả,
với muông thú rất nhiều. Có một người thợ săn hằng ngày
mang súng vào rừng săn bắn. Một ngày nọ, ông vào rừng săn
như thường lệ. Nhưng một điều rất lạ là đã vào sâu
trong khu rừng mà ông vẫn không nghe một tiếng chim, không
nhìn thấy một con thú nào. Bốn bề vắng lặng, tịnh không
một bóng chim, một con thú nào. Thế rồi ông đi mãi, đi mãi
tới một khu rừng lạ mà trước đây ông chưa hề đặt chân
tới. Khi qua khu rừng vắng, đến một cánh đồng cỏ, ông
nhìn thấy xa xa có một bà già đội nón lá lụp sụp đang
đi về phía ông. Trong rừng vắng, gặp được con người,
ông lấy làm ngạc nhiên lắm. Nhưng do kinh nghiệm hoặc nghe
phong thanh điều gì đó, ông bèn ngồi xuống nhìn cho kỹ.
Lúc bấy giờ ông mới phát hiện ra chân của bà già đi không
chạm đất. Ông nghĩ rằng hôm nay mình đã gặp quỷ và giương
súng lên, hướng mũi súng về phía bà già. Với cái nón lá
lụp sụp, bà ta cũng đang đi về phía ông. Hai người đi dần
dần về phía nhau. Lúc bà già đến vừa tầm ngắm, ông bắn
liền một phát. Tiếng súng nổ, bà già phóng đến chỗ ông
đang đứng. Với kinh nghiệm của một người thợ săn, khi
bắn xong, ông lăn ngay sang một bên. Khi bà già nhảy xuống
đúng chỗ ông đứng, ông bắn thêm một phát nữa, bà ta ngã
lăn ra chết và hiện nguyên hình là một con cọp bạch. Sau
đó, ông về làng kêu mọi người vào rừng kéo xác con cọp
về. Biết là cọp bạch, lại là cọp thành tinh, họ rất
sợ nênï lập miếu thờ. Từ đó, người thợ săn giải nghệ
luôn, không dám đi săn nữa. Ông cho rằng quỷ đã dụ ông
vào rừng săn, có nghĩa là thời của ông đã hết. Nếu ông
vẫn cứ lì lợm, vẫn tiếp tục đi săn sẽ động đến “chúa
sơn lâm”.
Câu
chuyện cũng hấp dẫn, người kể cũng có lý luận, nghe hay
hay nhưng không biết thật giả ra sao. Những câu chuyện nghe
có vẻ hấp dẫn như vậy chúng ta đừng vội tin. Nếu tin
nghĩa là chúng ta đã chấp nhận điều đó là đúng sự thật.
Nhưng để xác nhận một điều có thật, chúng ta phải rất
cẩn thận, cảnh giác. Chúng ta chỉ tin vào những điều mình
đã kiểm nghiệm, không được nghe điều gì tin ngay điều
đó. Đó mới thật sự là thái độ sống đúng đắn.
Đối
với nhân cách của một con người cũng vậy, trong cuộc sống,
qua việc gặp gỡ, tiếp xúc, chúng ta sẽ có sự đánh giá
đúng đắn về mọi người hơn. Tùy mức độ tin cậy, chúng
ta sẽ có mối quan hệ giao tiếp đúng mực.
Ví
dụ, khi biết một người là xấu, chúng ta chỉ quan hệ giao
thiệp với họ trong một chừng mực nào đó, không để họ
đi sâu vào cuộc đời mình, cũng như chúng ta không cần đi
sâu vào cuộc đời của họ. Chúng ta nên biết rằng, đó
không phải là người tốt, nếu gặp nhau ngoài đường, chỉ
cần chào xã giao hay mời nhau ly nước và sau đó không cần
mời họ đến nhà và mình cũng chẳng đến nhà họ.
Trong
quan hệ giao tiếp, một khi đã tin nhân cách của người
khác, chúng ta có thể hợp tác dễ dàng hơn. Trong cuộc sống,
nhu cầu hợp tác với nhau rất quan trọng bởi không ai muốn
mình sống cô đơn, cô độc giữa cuộc đời này. Chúng ta
luôn cần có người để hợp tác, quan hệ. Khi có niềm vui,
nỗi buồn, chúng ta cũng cần có người để sẻ chia, tâm
sự. Nhu cầu được kết bạn là nhu cầu lớn của con người.
Nhưng chúng ta phải biết “chọn mặt gửi vàng”, không phải
gặp ai cũng đem chuyện đời mình ra tâm sự. Đôi khi những
lỗi lầm trong quá khứ chúng ta đã vượt qua rồi, nhưng khi
kể cho người khác nghe, họ lại đồn ầm lên và thêm
chút “gia vị” vào, vậy là lỗi lầm trở nên mới như
chúng ta vừa phạm phải. Điều ấy không tốt chút nào và
bao nhiêu phiền phức từ đó lại nảy sinh.
Khi
hợp tác với người khác cũng vậy. Trong quá trình đi làm
Phật sự, có khi chúng ta mời huynh đệ nào đó về chùa ở
chung với mình, cùng hợp tác lo việc Đạo với mình. Nhưng
lúc ấy, chúng ta phải biết rõ người đó như thế nào, phải
tin được nhân cách của họ mới có thể hợp tác được.
Trong trường hợp làm Trụ trì, muốn nhận đệ tử, chúng
ta cũng phải tin tưởng phần nào vào nhân cách của người
học trò mình. Còn tin như thế nào, tin ở mức độ nào, điều
đó phụ thuộc vào sự đánh giá của mỗi người, vào
bản lĩnh của mỗi người. Nếu là người có bản lĩnh, chúng
ta sẽ nhìn sâu sắc hơn, hoặc do tiếp xúc lâu ngày, chúng
ta sẽ đánh giá chính xác đối tượng và có niềm tin. Có
khi nghe người ta nói, chúng ta tin, hoặc cũng có khi tin do trực
giác.
Ví
dụ, có người đến với chúng ta và hay tự kể chuyện tốt
về họ, nào là cúng dường chùa này, chùa khác; nào là giúp
đỡ người nọ, người kia…Nghe kể, chúng ta tin họ là người
tốt thật. Đây là điều chúng ta hay mắc phải. Nếu chỉ
tin nhân cách của một người qua lời nói của họ mà chưa
một lần chứng kiến, kiểm nghiệm, là chúng ta đã sai lầm.
Trường
hợp tin người do sống gần với nhau lâu ngày là niềm tin
có cơ sở nhất. Bởi sống với nhau lâu ngày, không ai giấu
người khác được điều gì. Ông bà ta rất thâm thúy khi
đưa ra kinh nghiệm trong việc đánh giá một con người:
“Thức
đêm mới biết đêm dài.
Ở
lâu mới biết lòng người cạn sâu”.
Quả
thật, nhìn nhận, đánh giá con người để có một niềm tin
qua thời gian gần gũi tiếp xúc là cách chắc chắn nhất.
Có
khi chúng ta dùng trực giác để tin. Nghĩa là gặp một người
nào đó, bằng trực giác, chúng ta cảm nhận ngay ban đầu
là người này tốt hay xấu. Điều này thường thấy ở người
phụ nữ. So với nam giới, người phụ nữ có linh cảm, có
trực giác mạnh hơn. Nhưng sở dĩ họ vẫn sai lầm trong quan
hệ, đánh giá là do họ rất dễ xiêu lòng. Ban đầu, chỉ
cần thoáng nhìn qua, họ biết ngay đó là người không tốt,
nhưng nghe người ta khen mình hay quá, người ta ngọt ngào quá
lại tin ngay. Người nam không có trực giác mạnh như phụ
nữ nhưng bù lại, họ rất cứng rắn.
Ngoài
việc tin vào nhân cách của một người, chúng ta còn có những
niềm tin khác, tin vào một lý thuyết. Đó có thể là lý thuyết
về kinh tế, chính trị hay vật lý… Đây là niềm tin về
những vấn đề trừu tượng cao cấp hơn .
Một
thời gian dài ở Âu Châu người ta tin rằng, cứ để cho con
người làm ăn tự do thì xã hội sẽ giàu mạnh, phát triển.
Nhưng đến một lúc nào đó, vì tự do quá, xã hội sẽ xuất
hiện tình trạng người bóc lột người. Người có nhiều
tiền, làm chủ một xưởng sản xuất, khi người công nhân
đến làm việc phải chịu sự quản lý, đối xử của người
chủ. Vì có quyền hành trong tay, ông chủ muốn trả lương
cho người lao động bao nhiêu mặc kệ, hoặc muốn bắt họ
làm bao nhiêu giờ trong ngày mặc kệ. Nếu ai không đồng ý,
không chấp hành sẽ bị chủ đuổi việc. Như vậy, vì sự
sống còn, người làm công phải lệ thuộc hoàn toàn vào chủ.
Và những tay chủ thấy mình có quyền cứ ra sức bóc lột
công nhân, bắt họ làm việc nhiều, điều kiện làm việc
thiếu thốn, trả lương ít để được lợi nhuận cao. Xã
hội đã có sự bất công.
Có
thời gian, người ta lại thay đổi quan điểm. Họ nghĩ rằng,
không nên để con người tự do như vậy, Nhà nước phải
quản lý, điều khiển mọi hoạt động kinh tế. Sau một thời
gian làm việc, tình trạng làm việc cầm chừng xuất hiện.
Vì người ta cho rằng mọi cái đều là của Nhà nước và
không ai chịu làm việc. Nhà nước đã có chế độ bao cấp,
làm nhiều hay làm ít họ cũng đều được nhận một mức
lương ổn định trong một tháng. Không ai chịu nỗ lực làm
việc, công chức thì cứ “sáng vác ô đi, tối vác về”
nên kinh tế bị suy giảm nghiêm trọng.
Hiện
nay, ở một số nước phương Tây, người ta vẫn tin rằng
cứ để con người tự do thì xã hội sẽ phát triển. Nhưng
gần đây, ( khoảng hai năm nay) ở vùng Đông Nam Á xuất hiện
tình trạng khủng hoảng kinh tế, bắt đầu từ Thái Lan, qua
Inđônêxia, vòng lên đến Nhật Bản, Đại Hàn… Lúc
bấy giờ, các nước Đông Nam Á bắt đầu xét lại cái gọi
là thị trường tự do để thấy được những hạn chế của
nó. Vì tin tưởng một cách tuyệt đối và áp dụng triệt
để những lý thuyết kinh tế ấy nên nhiều nước đã thất
bại. Bởi vậy, chúng ta không nên tin một cách tuyệt đối,
cần phải cẩn thận để tránh khỏi những sai lầm đáng
tiếc.
Có
khi đó là niềm tin vào một lý thuyết về vật lý, về sinh
vật, là các lý thuyết về khoa học …Chẳng hạn, thuyết
tiến hóa của Darwin cho rằng mọi sinh vật trên trái đất
tiến hóa từ các loài đơn giản đến phực tạp, phức tạp
nhất là loài người. Và trước con người là loài
Khỉ. Hay nói cách khác, theo học thuyết ấy thì tổ tiên của
loài người là loài khỉ. Xét cho cùng, chúng ta thấy
rằng thuyết tiến hóa của Darwin dù được rất nhiều người
tin nhưng mới chỉ là một thuyết, chưa được chứng
minh một cách khoa học. Trong khi đó, chúng ta chưa tin vào điều
gì khác để tạo nên một sự ứng xử mới.
Thử
tưởng tượng nếu tin rằng con người có nguồn gốc từ
loài khỉ thì trong chúng ta sẽ có người nhìn thấy trước
mặt mình bao nhiêu con người với những gương mặt đáng
yêu, đáng mến cũng như nhìn thấy những con khỉ. Họ sẽ
ứng xử ra sao với mọi người ? Có thể đó là một sự
coi thường, vì họ nghĩ rằng xét cho cùng con người cũng
chỉ là con vật mà thôi. Đây là điều chúng ta nên cẩn thận.
Trong
đạo Phật của chúng ta có một lý thuyết: Tất cả chúng
sinh đều có Phật tánh. Phật tánh là cái gì tuyệt đối,
cao cả nằm trong thâm sâu tâm hồn mình. Nếu chúng ta tin vào
điều đó, tin là nơi mình có Phật tánh và nơi người cũng
có Phật tánh thì trước mắt chúng ta những gương mặt đều
trở nên đẹp đẽ, đáng yêu. Bởi nhìn thấy những gương
mặt này, chúng ta không phải nhìn thấy những con người nữa
mà thấy trong họ hình ảnh của Phật. Nếu nhìn thấy tất
cả hiền lành, từ bi như Phật, chúng ta sẽ tôn trọng và
thương yêu. Như vậy, chúng ta có thể rút ra một kết luận,
niềm tin trong lý thuyết nào đó sẽ tạo nên thái độ ứng
xử cho con người. Nếu niềm tin đó đúng sẽ tạo ra một
lối ứng xử tốt cho cuộc đời mình, cho quan hệ giữa người
và người trong xã hội. Ngược lại, nếu tin một cách mù
quáng, tin vào những điều không có căn cứ, chúng ta sẽ có
những cách ứng xử sai lầm.
Hoặc
là có một lý thuyết là Big bang, một vụ nổ lớn đầu tiên
của vũ trụ. Khi đưa kính thiên văn nhìn lên vũ trụ, các
nhà khoa học học nhìn thấy các thiên hà đang càng ngày càng
rời xa nhau. Chúng ta hình dung, một thiên hà có tỉ tỉ những
ngôi sao như mặt trời tập hợp thành. Trong các ngôi
sao đó có thể có nhiều hành tinh vây quanh như Thái dương
hệ của của chúng ta vậy. Mặt trời cũng chỉ là một ngôi
sao rất nhỏ, một thiên hà gồm hàng tỉ các mặt trời giống
như mặt trời của chúng ta. Từ chỗ nhìn lên bầu trời hấy
các thiên hà ngày càng rời xa nhau, các nhà khoa học suy luận
rằng ngày xưa chắc chắn nó gần nhau. Họ cho rằng những
suy luận ấy là hợp lý. Và vì trước kia các thiên hà tập
trung một chỗ nên hấp lực rất cao. Các nhà khoa học tin
rằng vũ trụ ngày xưa chỉ là một điểm duy nhất, sau đó
bùng nổ thành một vụ nổ lớn. Trong quá trình bùng nổ của
vũ trụ, sự sống hình thành, các hành tinh hình thành, con
người, sinh vật thành hình…
Ngày
nay, rất nhiều nhà khoa học lớn, những nhà bác học lớn
đều tin vào thuyết Big bang, tin rằng vũ trụ bắt đầu bằng
một vụ nổ. Tuy nhiên, chúng ta có thể không tin vì nhận
ra có nhiều điểm rất vô lý. Thật khó tin rằng vũ trụ
bắt đầu bằng vụ nổ. Các nhà bác học đang ra sức chứng
minh thuyết này, chứng minh bằng tất cả phương tiện hiện
đại của vệ tinh, bằng phương tiện của máy tính. Một
trong những nhà bác học lớn của thế giới, rất nhiệt tình
và cố gắng chứng minh thuyết ấy là ông Stephen Hawking. Ông
vốn bị tật không nói được, không nhúc nhích được, chỉ
có bàn tay là còn hoạt động, có thể bấm phím được. Vậy
mà ông vẫn đi giảng ở các trường Đại học và ra sức
chứng minh thuyết Bigbang. Nhưng nhiều người cho rằng không
bao giờ các nhà bác học chứng minh thành công, họ không bao
giờ tin vào thuyết đó. Như vậy, trong cuộc sống này có
nhiều thuyết rất hấp dẫn nhưng không phải mọi cái đều
có thể đem lại cho chúng ta niềm tin. Chúng ta chỉ tin những
gì đã được chứng minh, đã được kiểm nghiệm. Và thuyết
Big bang đúng hay sai, chúng ta phải chờ câu trả lời của
khoa học và thời gian.
Ngoài
những vấn đề trên, chúng ta còn những niềm tin khác nữa,
tin vào một giáo điều (tín ngưỡng). Chẳng hạn, chúng ta
là người Phật tử, tin theo lời Phật dạy, tin rằng trên
đời này có Nhân quả, có luân hồi. Đó là điều may mắn
cho chúng ta vì niềm tin ấy hòan tòan đúng đắn. Khi tin có
Nhân quả, chúng ta sẽ biết cân nhắc cuộc sống của mình,
cân nhắc mọi hành động của mình để trở thành người
có Đạo đức. Nhưng cũng có nhiều người không có được
cái may mắn ấy vì họ chưa có niềm tin hoặc tin vào những
giáo lý khác. Hiện nay, ở Mỹ tồn tại hàng trăm ngàn đạo,
có đạo chỉ một người, có đạo hai ba người, có đạo
hàng trăm ngàn người. Như vậy, tín ngưỡng là vấn đề
rất quan trọng đối với đời sống con người. Nếu tin vào
một giáo lý đúng, cuộc đời chúng ta sẽ thăng hoa, tốt
đẹp. Ngược lại, nếu tin vào những giáo lý sai lầm, chúng
ta sẽ rơi vào tà kiến. Đó là điều rất nguy hiểm và cũng
rất đáng thương. Tóm lại, trong cuộc sống có nhiều điều
để chúng ta tin, nhưng có thể khái quát trong bốn điều:
Tin vào câu chuyện kể, tin vào nhân cách một con người, tin
vào một lý thuyết (về kinh tế, chính trị…) và tin vào
một giáo điều nào đó.
Đây
là những điều thường gặp trong cuộc sống và có ảnh hưởng
rất lớn đến cuộc đời mỗi con người. Nếu có niềm tin
vào những điều đúng đắn thì cuộc đời chúng ta sẽ tốt
đẹp. Nếu tin vào những điều không đáng tin, cuộc đời
chúng ta có thể đi xuống địa ngục .
2.
NHỮNG CÁCH TIN.
Trước
một sự kiện, một vấn đề, có thể có nhiều cách tin.
Điều này phụ thuộc vào tính chất của sự việc, vào bản
thân người truyền thông tin và người nhận thông tin.
Trước
hết là tin một cách dễ dàng không suy xét. Trường hợp này
người ta gọi là cả tin. Người cả tin là người đứng
trước một vấn đề, một câu chuyện nào đó không có sự
suy xét mà tin một cách dễ dàng, thậm chí tin một cách rất
ngây thơ. Những người như vậy thường là người không có
bản lĩnh, không có trí tuệ. Đây cũng có thể xem là một
căn bệnh. Vậy, người thường mắc căn bệnh này là ai ?
Đó là những người quá thật thà, nghĩ rằng ai cũng tốt
như mình. Nhiều khi vì quá thật thà, những người ấy đã
phải trả giá rất đắt cho cuộc đời mình vì họ đã bị
người khác lợi dụng lòng tin mà không biết. Bởi vậy, ông
cha ta thường nói :“Thật thà là cha đứa dại ”. Một đối
tượng khác cũng được xếp vào loại người cả tin là những
người đàn bà hay ngồi lê đôi mách. Họ rất dễ tin lời
người khác. Khi qua nhà hàng xóm chơi, nghe kể chuyện gì họ
cũng thấy hấp dẫn cả và tin ngay. Khi đã tin, trong lòng lại
không yên muốn báo tin ngay cho người khác. Cứ thế, câu chuyện
được truyền đi rất nhanh và có khi được thổi phồng lên
so với sự thật ban đầu. Lafontaine, nhà thơ dược coi là
bậc thầy về thơ ngụ ngôn của thế giới, đã có bài thơ
“ Bí mật với đàn bà” rất hay. Từ câu chuyện đức ông
chồng qua một đêm ngủ dậy bỗng hô lên mình đẻ được
một quả trứng vàng, người vợ đã tin là thật và đem câu
chuyện lạ kỳ ấy qua kể cho bà hàng xóm nghe như một điều
bí mật. Dù đã được dặn dò kỹ lưỡng là phải giữ bí
mật vì tôi chỉ kể cho mình chị nghe, nhưng chờ cho người
đàn bà ra khỏi nhà, người bạn quí hóa ấy đã vội chạy
sang hàng xóm kể lại câu chuyện vừa nghe được. Cứ thế,
câu chuyện qua đến người thứ 10 thì người đàn ông kia
không phải đẻ được một nữa mà là mười quả trứng
vàng. Mà sự thật, ông ta có đẻ được quả trứng nào đâu.
Câu
chuyện hết sức vô lý ấy đã được các bà tin một cách
dễ dàng và truyền đi rất nhanh. Thói quen thích có chuyện
để làm quà, bất kể là chuyện gì từ chuyện trên trời
đến chuyện dưới đất, miễn là cho vui miệng, đã trở
thành thói quen xấu đối với một số phụ nữ. Vì cả tin,
vì gặp nhau không có chuyện gì để nói, những câu chuyện
của họ đôi lúc đem lại cho người khác những hậu quả
khôn lường.
Trong
Đạo, điều này càng phải cẩn thận hơn nữa. Khi nghe được
những chuyện không đâu, những điều sai lầm, có người
không chịu phán đoán, suy xét mà tin ngay. Đó là những người
không có bản lĩnh. Những người ấy rất dễ tin và vì thế
cũng dễ bị người khác lừa gạt. Trong cuộc đời, chúng
ta gặp biết bao tình huống bất ngờ, nghe biết bao chuyện
“động trời”. Nhưng điều quan trọng là chúng ta phải
biết phán đoán, không phải nghe nói điều gì cũng tin ngay.
Ví
dụ, một hôm, có người từ đâu chạy vào chùa hớt ha, hớt
hải kêu lên: “Trời ơi ! Ngoài đường có một vụ đánh
lộn, đâm chém nhau thật kinh khủng”. Trước tin ấy, chúng
ta có tin hay không? Tại sao? Chúng ta phải phán đoán, xem chuyện
ấy có thật hay không. Nhưng dựa vào đâu để biết là có
thật hay không ? Nếu không phải là người cả tin, trước
hết chúng ta cứ bình thản nghe người ta nói, sau đó là kiểm
tra, thăm dò bằng cách dựa vào thái độ và nét mặt của
những người khác. Nếu có thêm vài người cũng chạy vào
hớt ha, hớt hải như thế, chúng ta tin chuyện người ấy
nói là đúng. Nếu nhiều người cũng từ ngoài đường đi
vào chùa, nhưng họ không tỏ ra hốt hoảng, cũng chẳng có
thái độ gì khác, chúng ta biết ngay là không có chuyện gì
xảy ra ngoài ấy. Vì nếu quả thật có chuyện đâm chém nhau
động trời xảy ra như vậy làm sao họ có thể bình thản
được. Như vậy, có thể người ta muốn dựng chuyện lừa
chúng ta cho vui vậy thôi. Trong cuộc sống có nhiều chuyện
đến với mình như thế, chúng ta phải phán đoán, đừng vội
tin ngay.
Hoặc
nhiều khi có những chuyện rất buồn cười nhưng lại ảnh
hưởng rất lớn đến người khác nếu chúng ta tin một cách
vội vã, không suy xét. Ví dụ, có một người nào đó đến
chùa chơi và trong lúc huyên thuyên đủ điều, người ấy
bỗng nhìn thấy một Thầy đi sau nhà Tăng và nói, Thầy đó
trước kia ở gần nhà tôi, vì cha mẹ không đồng ý cho ông
ta cưới người mình yêu nên đã hận đời bỏ đi tu. Nghe
câu chuyện đó, chúng ta nên có thái độ như thế nào? Phải
phán đoán xem chuyện đó có thật hay không. Vậy, chúng
ta dựa vào đâu để biết sự thật và có thái độ tin hay
không tin?
Có
người cho rằng, vì chưa tận mắt chứng kiến nên họ không
tin chuyện đó. Nhưng thực tế, cũng có không ít những điều
có thật mà chúng ta không được tận mắt nhìn thấy. Như
vậy, chỉ dựa vào việc được “mục sở thị” hay không
để phán đoán, có khi không chính xác. Chúng ta phải suy luận
dựa trên những yếu tố khác. Trong trường hợp này, tốt
nhất là chúng ta nên nhìn vào thái độ tu của Thầy ấy.
Nếu đó là người tu hành nghiêm túc, hoan hỉ phấn khởi
thì chúng ta không thể tin điều người ta nói là thật. Nếu
cứ tin một cách vội vã và truyền những thông tin sai sự
thật ấy đi, chúng ta sẽ mang tội với người khác.
Bên
cạnh việc tin một cách dễ dàng, không suy xét còn một cách
tin khác là tin vì thấy điều đó hợp lý. Sự hợp lý ấy
lệ thuộc vào khả năng phán đoán sâu hay cạn của người
nghe. Khi nghe bất cứ chuyện gì, chúng ta phải phán đoán xem
có đúng hay không rồi hãy tin. Nếu phán đoán không cạn lẽ,
điều chúng ta tin cũng không chắc chắn lắm. Nếu phán đoán
một cách sâu sắc, điều chúng ta tin tạm coi là xác thực.
Ví
dụ, có tin đồn rằng, năm 2000 là năm “tận thế”. Điều
này có đáng tin hay không chủ yếu dựa vào khả năng phán
đoán, kiểm tra của mỗi người. Trước hết, chúng ta phải
hỏi người truyền thông tin dựa vào đâu mà nói năm 2000
tận thế. Nếu họ cho rằng dựa vào kinh, chúng ta phải tìm
hiểu là kinh nào. Nếu là kinh của ông “đạo Dừa” thì
chuyện ấy rõ ràng là bịa. Nếu họ khẳng định khoa học
nói 2000 có một thiên thạch, hành tinh đụng vào Trái Đất,
báo đã đăng tin, chúng ta cũng không được tin ngay, phải
hỏi báo nào đã đăng tin đó và yêu cầu người ta cho xem
trực tiếp bài báo. Nếu quả thật, có một tờ báo đã đăng
kết quả nghiên cứu của một nhà khoa học với lý luận
rất hợp lý, chúng ta có thể tin. Dựa vào đường đi của
các thiên thạch, sự vận hành của quỹ đạo Trái Đất,
họ cho rằng sẽ có một thiên thạch cắt ngang rất gần quỹ
đạo của Trái Đất. Họ tính toán thời điểm cắt ngang
này vào đúng năm 2000. Lúc ấy, sự va chạm lớn này sẽ gây
ra một cuộc tận thế, có thể Trái Đất bị móp đi, nước
biển bị sôi trào lên, sự sống bị tiêu diệt…
Tuy
nhiên, điều đó cũng không chắc chắn. Vì từ thời điểm
họ tuyên bố kết quả nghiên cứu của mình đến thời điểm
xảy ra sự cố còn một khoảng cách khá lớn về thời gian
và sự tính toán có thể bị sai số nửa giây. Trong nửa giây
đó, đường đi của thiên thạch có ïthể chệch đi khoảng
ba trăm cây số. Đối với kích thước của vũ trụ, khoảng
cách ấy có thể chỉ là hạt cát, nhưng đối với Trái Đất
, khoảng cách ấy quá lớn. Bởi vậy, theo tính toán, chúng
ta có thể tạm thời tin nhưng điều ấy chưa chắc đã xảy
ra. Trong hiện tại, chúng ta không có gì phải lo ngại, cứ
tiếp tục sinh hoạt bình thường, cứ bình thản nghe giảng
kinh và niệm Phật. Tóm lại, khi nghe điều gì chúng ta phải
suy xét cho cạn lẽ, suy xét một cách hợp lý, không phải
ai nói gì cũng tin.
Một
cách tin nữa là vì dựa vào uy tín của người nói. Khi nghe
người khác nói điều gì, chúng ta phải xem người đó có
uy tín đến mức nào. Nếu đã từng sống và làm việc với
họ nhiều năm qua, thấy họ nói điều gì cũng đúng, chưa
hề mất uy tín với ai, chúng ta có thể tin điều họ nói
là đúng. Tin như vậy gọi là dựa vào uy tín mà tin. Nếu
họ chưa nói dối ai, nhưng cũng chưa có gì đặc biệt để
có thể tin, trước một thông tin quan trọng mà họ nói ra,
chúng ta cũng không nên tin vội.
Có
một câu chuyện mà người ta kể cho nhau nghe để làm bài
học kinh nghiệm, chúng ta cũng nên lưu ý. Đó là chuyện quan
hệ giữa một người đàn ông người Tàu với người đàn
ông Việt Nam. Người đàn ông gốc Tàu quen biết với người
đàn ông Việt Nam rất giàu có. Một hôm, ông ta đến mượn
bạn mình một ngàn đồng vì có việc cần đột xuất và
hứa ba ngày sau sẽ trả. Đúng hẹn, ba ngày sau ông mang số
tiền ấy đến trả, kèm theo một nải chuối và một ít trái
cây. Khoảng một tháng sau, ông ta lại đến mượn năm ngàn
đồng và hẹn hai ngày sau sẽ trả. Đúng hai ngày sau, ông
mang số tiền đã mượn đến trả cùng với ít trái cây để
hậu tạ. Cứ thế, ông ta đã gây được niềm tin cho người
khác. Trong vòng ba năm mượn rồi trả rất đúng hẹn như
thế, người bạn ông không tỏ chút nghi ngờ. Cuối cùng,
khi số tiền mượn lên đến hàng triệu, một số tiền rất
lớn, ông ta đã biến mất tăm. Đây là lối “kinh doanh uy
tín”, nghĩa là tạo uy tín cho người ta tin mình, rồi lừa
họ. Bản chất của những con người như vậy không thật.
Tuy nhiên, trường hợp này rất khó nhận định. Còn thông
thường, chúng ta tin người nào đó qua quá trình tiếp xúc
với họ. Thường ngày họ vốn nói thật, bây giờ nói điều
gì chúng ta có thể tin được.
Thứ
tư là tin vì truyền thống. Nghĩa là ngày xưa, tổ tiên ông
bà nói một điều gì đó, qua thời gian thấy điều đó là
hợp lý, chúng ta có thể tin được. Chẳng hạn, người xưa
cho rằng,
“Muốn
sang thì bắt cầu kiều,
Muốn
con hay chữ phải yêu lấy thầy”
Nghĩa
là cha mẹ có kính trọng thầy cô giáo thì con cái mới có
thể chăm học vì cũng vâng lời thầy cô. Y
Tuy
nhiên, có những điều ông bà ta để lại không còn phù hợp
với thời đại ngày nay. Nếu tin như vậy, chúng ta sẽ có
sự bất công trong việc đối xử. Chẳng hạn, trong thời
đại phong kiến, người ta quan niệm rằng: “ nhất nam viết
hữu, thập nữ viết vô”, một người con trai cũng cho là
có, mười người con gái cũng cho là không. Xã hội ấy coi
trọng con trai hơn con gái. Vì họ cho rằng, con trai trai là
người nối dõi tông đường, thờ phụng tổ tiên, còn con
gái là con người ta, lớn lên sẽ theo chồng, gánh vác giang
sơn nhà chồng. Quan niệm ấy ăn sâu vào đời sống của người
dân Việt Nam từ bao đời nay và để lại không ít những
bi kịch cho người phụ nữ. Thực ra, ngày nay không ít con
trai lập gia thất rồi chỉ biết vợ con, bỏ bê cha gìa mẹ
yếu. Ngược lại, không ít những người con gái hiếu thảo
dù ở trong hoàn cảnh nào cũng lo lắng cho cha mẹ mình.
Chúng
ta tin vào truyền thống của cha ông nhưng tùy hoàn cảnh, tùy
đối tượng mà vận dụng cho hợp lý. Nói đến truyền thống,
chúng ta nhớ lại bài kinh Kalama:
Một
lần, Đức Phật đến vùng Kalama, các trưởng lão ở đó
đến gặp Ngài và nói:
-Thưa
tôn giả Gotama, người ta đồn rằng tôn giả có bùa khiến
các đệ tử của những đạo khác gặp tôn giả rồi bỏ
đạo theo tôn giả. Chúng tôi không muốn xuyên tạc tôn giả,
chúng tôi không muốn xuyên tạc sự thật . Xin tôn giả hãy
xác nhận điều đó đúng hay không, tôn giả có bùa hay không?
Đức
Phật trả lời :
- Đừng
tin những gì do lời đồn đại, đừng tin những gì do truyền
thống để lại, đừng tin những gì do một người có vẻ
khả kính nói ra, đừng tin những gì do ý nghĩ chủ quan của
mình cho là đúng. Hãy tin điều gì chúng ta đã thực hành,
suy xét, cân nhắc và thấy rõ kết quả.
Đức
Phật không trả lời câu hỏi của các trưởng giả mà có
một lời khuyên. Câu trả lời của Ngài đã trở thành một
tuyên ngôn độc đáo của đạo Phật mà bây giờ cả thế
giới đều ca ngợi. Vì người ta cho rằng, không một giáo
chủ nào khuyến khích sự hoài nghi, giáo chủ nào cũng kêu
mọi người tin mình, chỉ có Đức Phật khuyên mọi người
phải biết suy xét, phải biết hoài nghi. Nhà triết học
nổi tiếng Descart cũng từng nói rằng: “Tôi hoài nghi là
tôi tư duy. Tôi tư duy là tôi tồn tại”. Ở đây, Phật đã
cho chúng ta một thái độ hoài nghi đúng đắn.
Cũng
có trường hợp tin vì nghe nhiều người đồn đại. Quả
thật, trước một sự việc, nghe nhiều người đồn chúng
ta sẽ rất dễ tin.
Ngày
xưa, có một ông vua trong thời gian trị vì nghe rất nhiều
người tâu trình là vị quan kia không tốt, một đại
thần không tốt. Vua bèn hỏi Án Tử. Án Tử tâu rằng:
-
Thưa Bệ hạ, có một người nói với Bệ hạ ở chợ có
cọp, Bệ hạ có tin không ?
-
Trẫm không tin, chợ làm sao có cọp - Vua trả lời.
Lúc
đó, Án Tử hỏi tiếp:
-
Nếu có người thứ hai cũng đến nói với Bệ hạ là ở
chợ có cọp, Bệ hạ có tin không ?
-
Bây giờ Trẫm bắt đầu tin vì đã có hai người nói.
-
Nếu có người thứ ba đến nói với Bệ hạ ở chợ
có cọp, Bệ hạ có tin không?
-
Bây giờ thì Trẫm tin vì đã ba người nói cùng một thông
tin - Vua nói một cách dứt khoát.
Bấy
giờ, Án Tử mới trả lời:
-
Bệ hạ thấy không, chuyện ở chợ có cọp là chuyện không
thể có, ngay từ đầu Bệ hạ đã không tin nổi. Nhưng tới
người thứ ba nói điều ấy, Bệ hạ đã tin rồi. Như vậy,
trên cuộc đời này cũng có những điều không có thật, không
thể tin được, nhưng vì nhiều người lặp đi, lặp lại
khiến chúng ta tin. Bệ hạ hãy cẩn thận.
Nghe
xong, nhà vua mới vỡ lẽ. Từ đó ông không nghe những lời
dèm pha nữa. Vì có những Đại Thần rất tốt nhưng bị ganh
ghét, dèm pha nhiều lần nên nhà vua tin và truất phế.
Trong
cuộc sống có không ít những chuyện tương tự như vậy nên
chúng ta phải cẩn thận. Có chuyện vui về cách chữa bệnh
của một bác sĩ nhưng ngẫm ra cũng rất thâm thúy. Một hôm,
có một bệnh nhân bị tai nạn được đưa đến bệnh viện
cấp cứu. Sau khi xem xét và xử lý vết thương, bác sĩ điều
trị nói với người nhà bệnh nhân rằng: “Vết thương không
có gì nghiêm trọng, bệnh nhân chỉ cần ở lại một hôm
là có thể ra viện”. Gia đình rất mừng, chuẩn bị làm
thủ tục xuất viện. Nhưng sáng hôm sau gặp lại, vị bác
sĩ ấy làm ra vẻ rất quan trọng và yêu cầu bệnh nhân phải
nằm điều trị tại bệnh viện ít nhất một tháng. Gia đình
thắc mắc và được bác sĩ trả lời :“Đúng là hôm qua
tôi thấy không có gì nghiêm trọng nhưng khi về nhà, ai cũng
cho rằng như thế là nghiêm trọng và tôi cũng thấy như thế
nên phải quyết định để bệnh nhân lại tiếp tục điều
trị”. Chuyện đúng là cười ra nước mắt.
Hoặc
khi nghe một người nào đó nói rằng chính mắt họ nhìn thấy
các Thầy trong chùa đi chợ mua thức ăn mặn, lúc đầu không
ai tin. Nhưng hôm sau, một người khác lại nói tương tự như
vậy, rồi đến người thứ ba, thứ tư…Nghe nhiều người
đồn, người ta bắt đầu tin, mặc dù người trước đó
họ không hề tin.
Những
lời đồn vốn có sức mạnh rất lớn, có thể giết chết
con người. Bởi vậy, chúng ta phải tỉnh táo thoát ra những
lời đồn đại. Trước những lời đồn, chúng ta đừng vội
tin, phải suy xét cho kỹ. Nếu sự thật điều ấy không
bao giờ xảy ra nhưng do nghe đồn nhiều quá mà chúng ta tin
là thật thì niềm tin ấy đem lại tội cho chúng ta. Hãy nhớ
rằng, nghĩ sai cho một người tốt là chúng ta đã mang tội.
Một
cách tin khác là tin vì dựa vào cảm nhận của trực giác.
Nghĩa là khi có một người nào đó kể cho chúng ta nghe một
câu chuyện ở đâu đó, chỉ nghe qua chúng ta đã đoán câu
chuyện có thật và có một niềm tin. Hoặc có những câu chuyện
kể không có thật, nghe qua chúng ta cũng đoán ra ngay. Điều
này dựa vào trực giác của mỗi người. Người tu lâu thường
có trực giác như vậy. Cách tin do trực giác không lý luận
được, không lý giải được. Khi nào còn phước, trực giác
sẽ còn, còn có tu, nếu không thì sẽ hết.
3.
HAI CÁCH TIN SAI LẦM
a.
Mê tín:
Mê
là mê muội, không biết phán đoán. Mê tín là tin một cách
vô lý về những điều thần bí, không dùng lý trí để phán
đoán. Chính việc tin một cách mù quáng những điều sai lầm
tà kiến đã dẫn dắt chúng ta đi vào lầm lỗi, phước bị
suy tổn. Vậy, tin như thế nào, tin vào điều gì sẽ bị gọi
là mê tín?.
Trước
hết, đó là tin vào những giáo điều quá sai lầm, phần lớn
những giáo điều này thuộc về tôn giáo.
Ví
dụ, ngày xưa, vì không giải thích được mọi hiện tượng
tự nhiên nên con người thường cho rằng, mỗi hiện tượng
là do một vị thần tạo nên. Chẳng hạn, họ tin rằng, chính
Thần Lửa đã tạo ra lửa cho muôn loài. Người xưa tìm lửa
rất khó khăn, gian khổ. Họ phải lấy đá đánh vào nhau và
đặt cây bùi nhùi ở giữa. Khi nóng, cây bùi nhùi sẽ bốc
cháy và có lửa. Sau đó, người ta phải đốt củi để giữ
lửa. Nếu lửa bị tắt, phải mồi lại rất khó. Từ chỗ
kiếm được lửa khó khăn như vậy nên họ phải luôn cầu
nguyện các vị Thần cho lửa. Họ nghĩ rằng, khi cọ lửa
phải gọi tên một vị Thần nào đó, lửa mới nhanh xuất
hiện. Và họ tin là có vị Thần Lửa. Vì tin như vậy nên
họ coi Thần Lửa là vị thần rất thiêng liêng. Họ đốt
lửa, nhảy múa xung quanh để cầu nguyện, rồi cúng bái, tôn
thờ…Tín ngưỡng thờ cúng Thần Lửa tồn tại rất lâu
trong đời sống người dân.
Như
vậy, chỉ vì kỹ thuật làm ra lửa của người xưa rất sơ
đẳng nên họ phải tin vào một điều hoàn toàn không có
thật. Phần lớn thời gian quí báu họ dành cho việc đốt
lửa lên và cứ thế qùy lạy ngọn lửa, vì tin trong đó có
một vị Thần. Bây giờ sống trong thời đại văn minh, muốn
có lửa, con người chỉ cần bật hộp quẹt ga một cách nhẹ
nhàng.
Hoặc
người ta tin rằng, trên đời này có Thượng Đế, là đấng
tối cao đầy quyền uy. Mọi tội phước trên cuộc đời này
không phải do con người mà do Thượng Đế quyết định. Nếu
con người đã làm tổn hại đến chúng sinh, giết người,
cướp của, chỉ cần quỳ xuống trước Thượng Đế cầu
xin, sám hối, mọi tội lỗi sẽ không còn nữa. Đó là niềm
tin rất mù quáng, sai lầm. Người ta có thể gây ra bao tội
lỗi rồi mua lễ vật dâng lên Thần linh, Thượng Đế để
xin tha tội và khi chết, cũng được lên Thiên Đường. Nếu
có một niềm tin như thế, chúng ta sẽ trở thành loại người
độc ác vô cùng. Vậy mà, trên thế giới niềm tin này vẫn
đang tồn tại. Có những tôn giáo vẫn khuyến khích con người
tin theo kiểu như thế. Và thậm chí, con người có thể giết
hại, tàn sát lẫn nhau miễn điều đó làm đẹp lòng Thượng
Đế của họ. Đó là những giáo điều hết sức sai lầm,
nếu tin theo, con người sẽ đi vào con đường sai lầm,
tà kiến. Hay gọi là mê tín, không phán đoán, suy xét.
Thứ
hai là tin vào vận số mà không dựa vào luật nghiệp báo.
Điều
này chúng ta thường gặp trong đời sống, sinh hoạt của người
dân. Ví dụ, người ta tin rằng hễ con người được sinh
ra trong một gia đình giàu có, lớn lên chắc chắn sẽ sung
sướng. Hoặc sinh ra trong gia đình dòng dõi quan lại thì con
người sẽ giỏi giang. Ngược lại, người nào sinh ra trong
một gia đình nghèo khó, sau này họ chỉ là người hạ tiện,
tầm thường v..v…Niềm tin đó không có cơ sở, không có
Nhân Quả. Đức Phật phủ nhận: “Không có giai cấp khi mà
máu người cùng đỏ”. Giá trị của con người không nằm
ở việc xuất thân từ dòng dõi giàu sang hay nghèo hèn mà
ở nhân cách, trí tuệ và đức hạnh của họ. Không cần
biết nguồn gốc và hoàn cảnh xuất thân, chỉ nhìn trong hiện
tại, nếu một người có Đạo đức, có trí tuệ, họ đã
xứng đáng để chúng ta tôn trọng. Bởi vậy, điều Đức
Phật nói là dựa vào Nhân Quả thực; còn tin vào giai cấp,
dòng dõi là một lối tin sai lầm, cũng có thể gọi là mê
tín. Chính cách tin này khiến cho con người có những sai lầm
trong việc đối xử cũng như trong việc tu dưỡng, rèn luyện.
Người xuất thân từ gia đình dòng dõi, giàu có sẽ ỷ lại,
không phấn đấu, rèn luyện. Người xuất thân nghèo hèn sẽ
mặc cảm, tự ti và bi quan không muốn nỗ lực để thay đổi
cuộc đời mình.
Trên
thực tế, có một điều nữa hiện nay nhiều người vẫn
còn tin nhưng không biết đúng sai như thế nào. Đó là tin
vào ngày giờ “Hoàng đạo”. Người ta cho rằng, nếu đi
ra đường vào ngày giờ tốt, công việc sẽ tốt đẹp; ngược
lại gặp giờ xấu, công việc sẽ không thành công, hay gặp
chuyện xui xẻo. Thực ra, việc coi ngày, coi giờ là việc rất
khó hiểu, khó lý giải. Có trường hợp người ta nghiệm
ra cũng đúng nhưng nếu dựa vào lý Nhân Quả lại sai.
Ví
dụ rõ nhất là vấn đề tử vi của con người. Khi chấm
ngày giờ sinh của một người nào đó, theo lá số tử vi
người ta biết cuộc đời của họ sẽ ra sao. Nhiều lúc,
trải qua những thăng trầm của cuộc sống, so lại với số
tử vi, họ thấy những điều được luận giải trong ấy
rất đúng. Như vậy, người ta tin thời gian, thời điểm con
người được sinh ra đời báo hiệu cuộc đời của họ.
Nhưng xét cho cùng, sinh vào ngày giờ nào là do Nghiệp, do Nhân
Quả. Chỉ cần sinh nhích vào giờ đó, chúng ta sẽ có một
cuộc sống sung sướng, nhưng Nhân Quả không cho, Nghiệp đã
khiến như vậy, biết phải làm sao.
Hoặc
trường hợp dựa vào thời gian để bấm độn, tính toán
sự thành hay bại của con người. Nhiều người rất tin vào
điều này. Họ có quy luật bấm độn hẳn hoi. Nhưng điều
này cũng có lúc đúng, có lúc sai, không tuyệt đối. Có người
cũng thử bấm độn và cho rằng tỷ lệ đúng khoảng 50% đến
60%. Bởi vậy, chúng ta không nên tin việc này là đúng tuyệt
đối để tránh bị lừa bịp, phải hiểu rằng, gốc của
sự đúng tuyệt đối là ở Nhân Quả. Cứ tin rằng, trong
cuộc sống nếu làm những điều lành, chúng ta sẽ gặt hái
được những điều tốt. Tin vào Nhân Quả như vậy gọi là
chánh tín. Đừng bao giờ tin rằng, không cần giúp đỡ ai,
không cần cúng chùa, không cần bố thí, phóng sanh, không cần
làm điều thiện gì, chỉ cần chọn được ngày tốt để
khởi hành, để bắt đầu công việc là chúng ta sẽ thành
công. Đó là mê tín, tin không cơ sở.
Thứ
ba là tin vào những chân lý còn giới hạn ( khoa học). Khoa
học rất tiến bộ, khoa học vốn đúng nhưng không hoàn toàn
tuyệt đối. Sự thật, khoa học vẫn còn nhiều giới hạn,
vẫn còn nhiều điều phải bó tay. Vậy mà rất nhiều người,
nhất là những người có học thức, thường tin tưởng một
cách tuyệt đối vào khoa học. Họ cho rằng, cái gì khoa học
nói đúng là đúng, cái gì khoa học nói sai là sai và hay viện
khoa học để chứng minh cho ý kiến của mình trong những cuộc
tranh luận. Đây cũng là một loại mê tín.
Ví
dụ, hiện nay trong y học có nhiều bệnh tây y không chữa
được nhưng uống thuốc nam và châm cứu nhiều lần có thể
hết (bệnh thấp khớp). Hoặc bệnh viêm thận mãn, hai quả
thận bị viêm sẽ dần dần bị teo lại ,không còn chức năng
lọc máu, lọc nước nữa. Người mắc bệnh này nước bị
giữ lại, huyết áp tăng lên, người phù ra và rất dễ chết.
Tây y không chữa được. Thông thường, người ta chữa bằng
cách cắt bỏ quả thận bị viêm và xin thận của người
khác ghép vào hoặc chạy thận, mỗi tuần chạy vài ba lần
rất đau đớn, khổ sở. Những người bị bệnh này, gần
như không đi đâu xa bệnh viện, không rời xa máy lọc thận,
sống rất khổ sở. Vậy mà, có những ngườiï gặp thuốc
nam, thuốc bắc lại hết. Có nhiều bệnh nhân bị bệnh viện
trả về vì bó tay nhưng nhờ theo đông y lại qua khỏi…
Có
những điều khoa học phán đoán, kiểm nghiệm qua thực tiễn
lại hoàn toàn không đúng. Hoặc có những điều khoa học
chưa nhìn thấy được. Một thời gian dài vì khoa hocï không
thấy thế giới siêu hình nên phủ nhận sự tồn tại của
thế giới siêu hình, không tin có linh hồn. Nhưng thực tế
cho thấy đó là điều có thật, thế giới tâm linh là điều
có thật. Hiện nay, qua một số hiện tượng xảy ra trong cuộc
sống, nhiều người đã tin và tập hợp những thông tin trên
khắp thế giới về thế giới siêu hình. Tuy nhiên, chưa ai
tìm ra con đường để chứng minh điều đó.
Chẳng
hạn, hiện tượng đĩa bay xuất hiện cách đây khoảng tám,
chín năm ở nước Mỹ đã làm đau đầu biết bao nhà khoa
học. Trên các xa lộ ở nước Mỹ, người ta thắp đèn điện
sáng choang nên đĩa bay đã ghé xem. Một lần, đài Rađa của
quân đội báo động là có một vật thể lạ bay trên bầu
trời nước Mỹ. Nghe báo động, hai máy bay tức tốc tìm cách
đuổi theo. Theo dõi trên màn hình Rađa, các chuyên gia nhận
thấy một đĩa bay hiện ra rất rõ. Người phi công trưởng
bấm nút thâu lại hình ảnh đó trong máy Cassette, trong băng
Vidéo. Khi lao gần đến đĩa bay, bỗng nhiên họ thấy
đĩa bay hạ độ cao rất đột ngột, từ trên cao vèo một
cái, đĩa bay hạ xuống mặt đất rồi biến mất. Khi nghiên
cứu, tính toán qua việc xem băng Vidéo, người ta mới nhận
ra tốc độ gia tốc của đĩa bay quá nhanh. Gia tốc của trái
đất khoảng 9,8 m/s2. Trong khi đó, gia tốc của đĩa bay, người
ta tính toán được đến mấy ngàn. Chỉ trong một vài
giây, nó có thể tăng tốc khủng khiếp và biến mất. Người
ta không hiểu động cơ nào đĩa bay có thể tăng tốc nhanh
như vậy, trái đất không thể làm được việc đó. Thậm
chí, nó có thể tàng hình, không còn dấu vết như một bóng
ma. Nền khoa học của họ tiến xa như vậy đó, chúng ta còn
lâu mới có thể bắt kịp.
Thứ
tư là chủ quan tin vào ý nghĩ của mình. Hễ nghĩ ra điều
gì, chúng ta tuyệt đối tin điều đó là đúng. Đó cũng là
một loại mê tín do kiêu mạn mà ra. Nếu chủ quan do kiêu
mạn, lúc nào cũng tin ý nghĩ của mình là đúng, chúng ta sẽ
rơi vào cách tin sai lầm, cũng là mê tín. Chính mê tín đưa
đến tổn phước. Bởi vậy, mỗi lần suy nghĩ một điều
gì, chúng ta nên suy xét trong một thời gian. Nếu thấy hợp
lý, lúc ấy chúng ta hãy nghĩ rằng điều mình nghĩ là đúng.
Đây cũng là một kinh nghiệm quý báu cho chúng ta trong cuộc
sống để tránh khỏi những sai lầm.
b.
Cuồng tín.
Cuồng
tín là tin một điều gì quá cuồng nhiệt, dẫn đến
hành vi thái quá.
Ví
dụ, trước một ngôi chùa nọ có một cây mít sống lâu năm,
rất to. Một hôm, bỗng dưng có một người từ đâu đến
nhìn nó và bảo: Cây mít này linh lắm, che chở cho cả vùng
này, mọi người không được chặt phá nó. Người nào muốn
học giỏi, hằng ngày phải thắp nhang quỳ lạy cây mít.
Lúc đầu, mọi người nửa tin, nửa ngờ. Sau đó, ai cũng
tin một cách cuồng nhiệt và bắt đầu bảo vệ, làm hàng
rào, thắp nhang lạy nó. Thậm chí, có người còn đứng đó
canh chừng, ai đi qua đều bị bắt cúi đầu xá, không xá
sẽ bị phạt…Tin như vậy gọi là cuồng tín. Vì tin một
cách cuồng nhiệt, không có cơ sở dẫn đến hành vi thái
quá.
Một
số tôn giáo có những chủ trương cuồng nhiệt, bảo vệ
tôn giáo bằng bạo lực, truyền bá Tín ngưỡng cũng bằng
bạo lực. Chẳng hạn, những người theo đạo Hồi giáo nói
chuyện với nhau toàn bằng súng đạn. Nếu ai xúc phạm họ,
xúc phạm đến đạo của họ sẽ bị giết ngay. Họ tin rằng
hành động đó được Thánh Ala khen ngợi. Điều này hoàn
toàn trái với chủ trương của đạo Phật. Đức Phật khuyên
chúng ta rằng, phải biết nhẫn nhục và cảm hóa những kẻ
xúc phạm mình bằng lời nói, bằng lý lẽ, chứ không phải
bằng vũ khí, bạo lực.
Hoặc
có những tôn giáo tin rằng khi chết con người sẽ được
lên Thiên đường nên họ đã tự thiêu (giáo phái Đền Mặt
Trời ở Thụy Sĩ ). Đó cũng là sự cuồng tín. Hoặc có trường
hợp những tín đồ của tôn giáo Cổng Thiên Đường đã
uống thuốc độc tự tử vì tin rằng sẽ được lên hành
tinh khác sống sung sướng hơn. Tất cả những hành động
ấy đều cực đoan, thái quá xuất phát từ sự cuồng tín
của con người. Bởi vậy, chúng ta phải cẩn thận. Khi tin
điều gì mà cảm thấy điều ấy gây cho mình một sự nóng
nảy, nhiệt tình, chúng ta phải nhận ra ngay là mình đã bắt
đầu sai, bắt đầu xa chân lý, vì chân lý chỉ đưa đến
sự an lạc, điềm đạm. Hay nói cách khác, tin vào điều đúng
con người chúng ta sẽ trở nên điềm đạm, còn tin một điều
gì mà tỏ ra vội vàng, nóng nảy thái quá, lúc đó hãy cẩn
thận, điều mình tin là sai.
Hiện
nay trên thế giới có những trường hợp do cuồng tín đã
dẫn đến những cuộc xung đột sắc tộc đẫm máu.
Chẳng hạn, ở Phi Châu có nhiều bộ tộc căm thù nhau, vì
bộ tộc nào cũng tin rằng chỉ có họ mới đúng, còn những
bộ tộc khác là kẻ thù. Vì vậy, họ tìm cách chém giết
lẫn nhau rất dã man.
Ở
Rwanđa, sắc tộc Hutou và Tussu rất căm ghét nhau, có khi tàn
sát nhau khủng khiếp. Bộ tộc này nếu gặp trẻ con mới
đẻ của bộ tộc kia sẽ nắm hai chân xé toạt ra. Họ đối
xử với nhau thật độc ác. Chúng ta nhìn vào chỉ thấy người
châu Phi ai nấy đều tóc quăn, da đen, răng trắng lóa, ai ai
cũng giống nhau. Nhưng giữa họ có những khoảng cách,
những sự khác nhau rất lớn. Họ tin rằng, mình mới là người
đáng sống, còn người bên kia đáng để chết. Rõ ràng, tin
như vậy, họ sẽ giết nhau một cách không thương tiếc. Đó
cũng gọi là cuồng tín. Tất nhiên, điều này cũng do nghiệp
quá khứ nào đó, nhưng không phủ nhận thái độ cuồng tín
của họ đã dẫn đến hành vi thái quá.
Sự
phân biệt màu da dẫn đến bạo lực cũng là một biểu hiện
của cuồng tín. Ngay khi sống vào thế kỷ này mà ở nước
Mỹ vẫn còn tình trạng phân biệt màu da, người da trắng
được ưu đãi, người da đen lại bị hất hủi. Người da
đen bị tước cả quyền được bầu cử của một công dân.
Ở đó, có những nhà hàng chỉ dành cho những người da trắng;
có những trường học, học sinh da đen không được vào; lên
xe buýt, người da đen luôn ngồi ở phía sau. Chính vì có sự
kỳ thị như vậy nên ở Mỹ liên tục xảy ra những cuộc
đấu tranh đòi quyền bình đẳng của người da den. Một mục
sư nổi tiếng trong việc đấu tranh cho quyền bình đẳng ấy
là Luther King Ông vốn là một nhà hùng biện nên nói chuyện
rất hay. Năm 1968, ông bị ám sát bởi tay của những người
da trắng cực đoan. Họ muốn giết ông để ngăn chặn làn
sóng đấu tranh ấy. Lúc bấy giờ, nước Mỹù xuất hiện
nhóm KKK là Klu Klux Klan. Mỗi khi hành động, nhóm này mặc
toàn đồ trắng, trùm mặt nạ, xông vào đốt nhà, bắt giết
những người da đen và phá nhà thờ của họ. Nhóm này bây
giờ vẫn còn tồn tại, nhưng hoạt động lén lút. Có thời
gian, FBI lùng bắt bọn chúng rất ráo riết.
Sở
dĩ có sự phân biệt và dẫn đến bạo lực như vậy là do
người da trắng tin rằng chỉ có họ mới là con người, là
ngưòi thông minh nhất; còn người da đen không phải là con
người, chỉ đáng sống để làm nô lệ mà thôi. Mục sư
Luther King đã vận động nhân dân khắp nước Mỹ đấu tranh
chống sự phân biệt này, đấu tranh một cách hòa bình. Những
lời nói của ông làm mọi người cảm động. Ông nổi tiếng
khắp nơi nhờ tài hùng biện, nhất là bài diễn thuyết:
“Tôi có một giấc mơ”. Trong những lần diễn thuyết, ông
thường nói :“ Tôi có một giấc mơ” nhưng không nói rõ
đó là giấc mơ gì. Một lần, khi diễn thuyết đề tài về
sự đấu tranh sắc tộc, ông cũng nói :“Tôi có một giấc
mơ”. Khi bài diễn thuyết vừa chấm dứt, chợt có một người
la lên: “Xin ông hãy nói cho tôi nghe giấc mơ của ông”.
Lúc ấy, ông ứng khẩu nói say sưa về giấc mơ của mình
và bài diễn thuyết ấy đã trở thành tuyệt tác của nhân
loại .
Ông
nói rằng: Tôi có một giấc mơ, trong giấc mơ đó, con người
trên thế giới sống với nhau, thương yêu nhau không phân biệt
màu da hay chủng tộc. Tôi có một giấc mơ, trong giấc mơ
đó có một ngôi trường mà những trẻ em da trắng và da màu
nắm tay nhau vui đùa, thương yêu nhau.Tôi có một giấc mơ
mà trong đó con người bỏ hết ý nghĩ về sự phân biệt
màu da, chủng tộc chỉ còn biết thương yêu, biết xây dựng
cuộc sống này tốt đẹp như một Thiên đường.Tôi có một
giấc mơ …
Ông
cứ nói say sưa như vậy khiến người nghe ai cũng xúc động
và bật khóc. Đây là bài thuyết pháp nổi tiếng của
ông. Khi ông qua đời, nỗi bức xúc dâng lên cao độ và chính
quyền Liên bang phải ra những sắc lệnh nghiêm khắc về sự
bình đẳng giữa người da đen va người da trắng. Xóa được
điều này là xóa đựơc sự cuồng tín tồn tại bao nhiêu
năm, gây ra bao nhiêu đau khổ cho người dân da đen sống
trong lòng nước Mĩ.
Một
biểu hiện nữa của cuồng tín là sự đấu tranh chính trị
khủng khiếp. Nói về Đạo, chúng ta không muốn liên hệ đến
chính trị. Nhưng phải hiểu rằng, chính trị đã đưa
con người đến cuồng tín. Chẳng hạn, khi lên cầm quyền,
Hitler đã tuyên bố rằng, chủng tộc Anglo thượng đẳng của
người Đức là chủng tộc xứng đáng cai trị cả loài người
này, còn mọi chủng tộc khác chỉ đáng làm nô lệ mà thôi.
Lý thuyết ấy đã truyền niềm tin vào người dân Đức một
cách mãnh liệt, cuồng tín. Vì thế, người Đức đã không
ngần ngại xếp hàng cầm súng lên đường đi đánh chiếm
hết nơi này đến nơi khác. Như vậy, tin vào một lý thuyết
nào đó để có thể chém giết người khác được, đó cũng
là một loại cuồng tín. Chủ thuyết chính trị có thể dẫn
đến những cuộc chiến tranh tàn bạo, khốc liệt. Bởi vậy,
chúng ta phải cẩn thận tránh xa.
Là
đệ tử Phật, chúng ta tin vào giáo lý từ bi của đạo Phật
để sống, để xây dựng một cuộc sống thanh bình cho con
người, tránh xa những lý thuyết làm tăng lòng sôi sục, căm
phẫn để phải chém giết đồng loại của mình. Hãy nhớ
rằng, cuồng tín đưa đến tạo tội rất nặng và mê tín
sẽ đưa đến tổn phước. Dĩ nhiên, mê tín cũng có tội
nhưng không nặng bằng cuồng tín. Cuồng tín gây nghiệp khủng
khiếp nên chúng ta cần có sự tỉnh táo, không bao giờ để
rơi vào cuồng tín.
4.
NIỀM TIN ĐÚNG ĐEM LẠI NHIỀU PHƯỚC LÀNH VÀ LỢI ÍCH.
Ngược
lại với mê tín và cuồng tín là niềm tin đúng. Nó đem lại
nhiều phước lành và lợi ích cho chúng ta. Vậy, tin những
gi đựơc gọi là có niềm tin đúng?
Đó
là tin Phật. Quả thật, tin Phật đem lại cho chúng ta nhiều
phước lớn. Vì chúng ta đã đặt niềm tin đúng nơi một
vị Thầy cao cả, siêu việt, viên mãn về đức hạnh. Khi
tin Đức Phật, trong chúng ta sẽ xuất hiện lòng tôn kính.
Ai cũng biết rằng, tôn kính một vị Thánh thì chính mình
dần dần sẽ xuất hiện nhân cách của một vị Thánh. Đây
chính là chìa khóa để chúng ta phát triển trí tuệ, nhân
cách. Hiểu điều này, chúng ta sẽ thương yêu, tin tưởng,
hy vọng nơi con người và không khinh miệt bất cứ ai. Thấy
một người lầm lỗi, chúng ta không khinh miệt vì biết người
đó chưa có lòng tôn kính Phật. Nếu một ngày nào đó có
lòng tôn kính Phật, họ sẽ vượt ra khỏi lầm lỗi. Do có
điểm Nhân Quả này mà chúng ta có niềm tin nơi con người,
không ruồng bỏ bất cứ ai.
Ngay
cả người xuất gia, nếu quên lễ Phật, tưởng là mình
đã bằng Phật thì phước sẽ tiêu tan. Người ấy sẽ hoàn
tục và trở thành con người xấu xa, có nhân cách tầm thường.
Có lẽ chúng ta đã nghe không ít chuyện về những thầy tu
hoàn tục, ra đời quậy phá hơn cả những người thường.
Đó là chuyện có thật. Tại sao lại có chuyện hoàn
tục ? Vì do có một tà kiến nào đó, họ tin mình bằng Phật,
không chịu lễ Phật thường xuyên, không tôn kính Phật, không
thấy mình đối với Phật chỉ là hạt cát mà thôi. Từ đó,
họ không còn phước và phải hoàn tục. Cũng con người đó,
nếu biết tôn kính Phật trở lại thì nhân cách của họ
sẽ nâng cao dần dần và sẽ có nhiều phước. Họ có thể
xuất gia trở lại mà không gặp trở ngại gì.
Bởi
vậy, chúng ta nói rằng, lòng kính Phật là chìa khóa để
mở ra muôn công hạnh lành. Điều này đã được khẳng định
trong bài: Hiểu và tôn kính Phật. Khi tin Phật và có sự tôn
kính Phật, chúng ta sẽ có niềm tin vào Niết Bàn Tuyệt Đối.
Đó là nơi mà tất cả chúng ta đều phải trở về, đều
phải đạt đến trong vô số điều tuyệt đối khác : An lạc
tuyệt đối, Đức hạnh, Trí tuệ tuyệt đối, Từ bi tuyệt
đối…
Một
niềm tin tốt nữa là tin Nhân Quả luân hồi. Chúng ta không
tin rằng quả báo tốt là do ai đem đến mà chỉ tin rằng
có luật Nhân Quả, làm điều lành, sẽ được hưởng Quả
lành; làm điều xấu, sẽ chịu Quả xấu. Tin như vậy, chúng
ta sẽ có sự cân nhắc kỹ trong hành vi, ý nghĩ và lời nói
của mình. Hay nói cách khác, niềm tin đối với luân hồi
Nhân Quả khiến cho con người tu sửa được Đạo đức. Cho
nên, chúng ta phải làm sao truyền bá giáo lý Nhân Quả thật
mạnh, thật rộng khắp. Làm được như vậy là chúng ta đã
góp phần xây dựng xã hội này tốt đẹp hơn.
Dù
khoa học chưa chứng minh được, nhưng tin được giá trị
Tâm linh chúng ta cũng đã có một niềm tin đúng. Chúng ta tin
rằng, trong con người ngoài sức mạnh vật chất còn có sức
mạnh Tâm linh. Nếu phát huy được, năng lực ấy sẽ trở
nên vĩ đại. Hoặc chúng ta tin là có thế giới siêu hình
tồn tại, trong đó cũng có nhiều chúng sinh đang sống. Có
thể không nhìn thấy, nhưng một khi đã tin đó là điều có
thật, chúng ta vẫn tôn trọng họ. Tin như vậy, chúng ta sẽ
sống mà không quá lệ thuộc vào thế giới vật chất này,
không lệ thuộc vào đồng tiền thế gian giả tạm này. Dù
sống trong cảnh giàu sang, chúng ta vẫn không chấp vào nó.
Vì chúng ta tin rằng thế giới tâm linh cao siêu hơn, còn cái
hữu hình thường dễ hoại.
Hoặc
tin được Đạo đức là nền tảng của mọi tiến bộ xã
hội là chúng ta đã có một niềm tin đúng. Khi tin rằng, xã
hội cần nhiều người tài giỏi, Kỹ sư, Bác sĩ, Luật sư…nhưng
ngoài tài năng, những con nguời ấy phải có đạo đức, xã
hội mới tốt được, chúng ta sẽ suốt đời phấn đấu
không ngừng để rèn luyện Đạo đức cho mình và truyền
bá Đạo đức cho mọi người. Có như vậy, chúng ta mới xây
dựng được một xã hội thực sự tiến bộ.
Cuộc
khủng hoảng kinh tế hiện nay của các nước trong khu vực
Đông Nam Á phần lớn cũng bắt nguồn từ lối ứng xử thiếu
Đạo đức của con người. Chẳng hạn, một quốc gia láng
giềng của chúng ta được coi là một đất nước giàu có,
nhưng sự thật đó là một nơi ăn chơi trác táng, tồn tại
nhiều tệ nạn xã hội. Du khách đến Thái Lan không ít người
chỉ nhằm mục đích thoả mãn những ham muốn tầm thường
của mình. Do vậy, khủng hoảng tất yếu phải xảy ra. Ở
mỗi sự khủng hoảng, nếu đi tìm nguyên nhân, chúng ta sẽ
nhận thấy phần lớn đều do sự thiếu Đạo đức của con
người. Như vậy, muốn xã hội thực sự tiến bộ, thực
sự ổn định, con người phải lấy Đạo đức làm nền
tảng. Chúng ta tin tưởng chắc chắn vào điều đó.
Một
điều tin đúng nữa là tin được một vị chân sư . Quả
thật, tìm được một vị chân sư để tin là một điều
may mắn, là niềm hạnh phúc lớn lao trong cuộc đời mỗi
chúng ta. Nếu tìm đúng vị chân sư để gửi gắm niềm tin,
cuộc đời của chúng ta sẽ đi theo một hướng tốt lành.
Nhưng điều này thực ra là do duyên may vì chúng ta khó đánh
giá đúng, khó nhận ra ai thật sự là chân sư. Khi đã biết
phân biệt vị nào đúng, vị nào sai, vị nào tài giỏi để
nương tựa, chúng ta cũng đã giỏi, đã đạt đến một trình
độ nhất định rồi. Bởi vậy, lúc này chúng ta chỉ biết
thường xuyên cầu Tam Bảo gia hộ cho mình gặp được Thầy
lành, bạn tốt.
5.
ĐA NGHI VÀ CẢ TIN ĐỀU LÀ BỆNH
Trong
cuộc sống, bên cạnh những người rất dễ tin, chúng ta còn
gặp rất nhiều người hay đa nghi, ít chịu tin hoặc không
tin vào bất cứ điều gì. Cả hai đều là bệnh. Vậy, tại
sao chúng ta hay đa nghi, ít tin vào người khác ?
Trước
hết, ít chịu tin vì chính mình hay nói dối. Thật sự, người
hay nói dối thường ít tin ai vì “suy bụng ta ra bụng người”.
Như vậy, gặp những người hay đa nghi, chúng ta phải cẩn
thận, không chừng người ấy là chuyên gia nói dối. Trong
lịch sử Trung Quốc, có một nhân vật nổi tiếng đa nghi.
Đó là Tào Tháo. Sở dĩ đa nghi đến nổi khi chết đi, phải
xây 72 ngôi mộ giả rải rác khắp nơi để người đời không
quật mộ trả thù được vì lúc sống, ông ta là một kẻ
bị cho là nhiều thủ đọan tuyệt gian (bên cạnh Lưu Bị
tuyệt nhân, Quan Công tuyệt nghĩa, Trương Phi tuyệt dũng, và
Khổng Minh tuyệt trí).
Trường
hợp khác, có người ít chịu tin vì có tính kiêu mạn. Đó
là mẫu người ai nói gì cũng không chịu nghe, luôn cho rằng
ý nghĩ của mình là hay hơn, là đúng hơn, người khác không
thể bằng mình. Người như vậy rất khó thành công trong cuộc
đời.
Trường
hợp thứ ba, ít chịu tin vì không đủ trí tuệ phán đoán.
Chúng ta gặp nhiều người vì không nhận ra điều người
khác nói là đúng hay sai nên không dám tin chắc chắn.
Nếu có đủ trí tuệ phán đoán, trước lời nói của người
khác, chúng ta sẽ biết được điều đó đúng hay sai để
có một niềm tin, một thái độ đúng đắn.
Ví
dụ, có một người đến nói với chúng ta là cần tiền để
cất chùa nên đi quyên góp. Nhìn vẻ ngoài, có thể không nhận
biết họ nói thật hay không, chúng ta phải có cách kiểm tra.
Chẳng hạn, hỏi Thầy tên gì? Chùa Thầy ở đâu? Chùa tên
gì ? Sau đó, chúng ta có thể điện thoại đến địa phương
xem có chùa đó hay không, chùa đang xây dựng như vậy phải
không vv…Chúng ta phải kiểm tra trước khi đặt niềm tin
để tránh khỏi sai lầm. Trong trường hợp này, vội tin hay
vội nghi đều sai nên cần phải kiểm tra cẩn thận.
Ngược
lại, trong cuộc sống còn có nhiều người rất dễ tin, vì
sao?
Trước
hết, người dễ tin vì tính tình thật thà, hiền lành. Người
thật thà, không bao giờ biết nói dối thường rất dễ tin
người vì nghĩ ai cũng thật thà như mình. Đây cũng là một
bệnh nguy hiểm. Vì cuộc đời không đơn giản như chúng ta
nghĩ, có rất nhiều người dối trên lừa dưới, lừa thầy,
phản bạn. Nếu quá tin người, chúng ta sẽ phải trả giá
đắt cho cuộc đời mình.
Cũng
có trường hợp dễ tin vì nghiệp đời trước hay dụ người
khác. Ví dụ, có người trước kia thường hay dụ dỗ trẻ
con để lấy đồ của, tiền bạc. Vì gieo nhân đó nên kiếp
sau họ bị người khác lừa mà vẫn tin một cách mê muội,
không nhận ra được. Đó là do nghiệp báo của quá khứ.
Hiểu như vậy, sống ở đời, chúng ta đừng bao giờ lừa
dối ai, dù là việc rất nhỏ.
Cũng
có trường hợp dễ tin vì yếu lòng. Có người mắc “bệnh”
yếu lòng nên ai nói gì cũng nghe, cũng tin. Đó là người không
có lập trường vững chắc với lẽ phải, không có trí tuệ
phán đoán.
Tóm
lại, cả tin và đa nghi đều là bệnh, chúng ta cần phải
tránh để đừng mắc phải. Nói về niềm tin, một nhà thơ
Nga nổi tiếng đã khẳng định:
Trong chúng ta, ai là người đau khổ nhất?
Đau khổ nhất là người chẳng ai tin.
Trong chúng ta, ai là người đau khổ nhất?
Đau khổ nhất là người chẳng tin ai.
6.
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA THỜI ĐẠI
Trong
niềm tin, chúng ta phải cẩn thận đối với các Tín ngưỡng
mới. Đó là sự pha trộn của khoa học giả tưởng và các
Tín ngưỡng cổ truyền. Quý Phật tử phải cẩn thận để
không bị lạc lòng.
Ví
dụ, tín ngưỡng cổ truyền nói rằng, có một Thượng đế
tạo ra muôn loài. Còn khoa học giả tưởng cho rằng có những
người ngoài hành tinh tới. Người ta trộn hai loại đó lại
thành một Tín ngưỡng mới. Tín ngưỡng đó nói rằng, Đức
Thượng đế Javê ở hành tinh khác sai Thiên sứ đi bằng đĩa
bay xuống đây để tiếp xúc với con người. Nếu ai tin theo,
sẽ được ông đưa lên đĩa bay, bay về gặp Thượng đế.
Đó là cách trộn hợp giữa Tín ngưỡng cổ truyền và khoa
học giả tưởng mới để đáp ứng được tâm tình của
thời đại. Nhưng những điều ấy đều sai lầm.
Gần
đây, chúng ta nghe tin đạo này, đạo kia xuất hiện trong đó
có đạo Địa mẫu. Người theo đạo này tin rằng có một
đạo mẫu là mẹ của Phật Thích Ca, đẻ ra mọi loài mẹ(
Phật, Bồ Tát …). Đó là niềm tin vô lý, là sự mê tín.
Vậy mà, không ít tín đồ nghe theo. Hoặc có trường hợp
tin rằng Thượng đế nhập vào một người đàn bà để giảng
pháp cho mọi người nghe, để phán xử con người vv… Đó
là những lý luận hoàn toàn giả dối, lừa bịp của những
kẻ thích nổi tiếng, thích được người khác tôn sùng.
Một
vấn đề mang tính chất thời đại nữa là sự tuyên truyền,
xuyên tạc, công kích giữa người này với người kia, giữa
Đạo này với Đạo kia do tính xấu của một số người.
Hiện tượng này rất thường xảy ra trong cuộc sống. Bởi
vậy, trước những sự tuyên truyền, công kích, chúng ta không
nên tin. Trong lòng chúng ta chỉ có một niềm mơ ước mọi
người đều trở thành người tốt nên khi nghe những điều
này, chúng ta cảm thấy đau lòng, không muốn nghe nữa, không
muốn tin nữa. Nếu tin theo, chúng ta sẽ bị nghiệp lây.
Qua
bài Niềm tin, chúng ta phải có thái độ đúng đối với những
thông tin mình nghe được, không bao giờ vội vã chấp nhận
ngay mà phải luôn luôn suy xét. Đặc biệt, chúng ta cần tránh
hai bệnh đa nghi và cả tin./.