GIẢI
THOÁT ĐỂ LÀM GÌ ?
1.
GIẢI THOÁT LÀ MỤC TIÊU CỦA ĐẠO PHẬT.
Khi
đến với đạo Phật, tất cả chúng ta đều xác định mục
tiêu là tìm đến sự giác ngộ, sự giải thoát. Đó là lời
khẳng định đúng đắn con đường đi của đạo Phật. Nhưng
trong đạo Phật, ý niệm đem lợi ích cho chúng sinh cũng là
một mục tiêu quan trọng không kém.
Như
vậy, vừa tìm đến sự giải thoát, vừa đem lại lợi ích
cho cuộc sống của con người luôn luôn là đôi cánh của
con chim mà người tu theo Phật phải nhận thức chắc chắn
không lầm lẫn. Đó cũng là sự minh chứng hùng hồn rằng
Đạo Phật hoàn toàn không phải là đạo tiêu cực.
Nhưng
để thiết tha đi tìm sự giải thoát, trước hết chúng ta
phải hiểu sâu sắc thế gian này là ràng buộc, là đau khổ.
Hiểu như vậy, chúng ta mới thấy được ý nghĩa của sự
giải thoát. Nếu không ý thức được cuộc sống hiện nay
là đau khổ thì lý tưởng giải thoát sẽ trở nên vô nghĩa.
Bao
giờ cũng vậy, khi rơi vào hoàn cảnh bức xúc, ngặt nghèo,
lý tưởng tìm đến giải thoát sẽ mạnh mẽ hơn. Trong hòan
cảnh sung sướng no đủ, người ta dễ mãn nguyện và không
thiết tha tìm cầu điều gì vượt thóat hơn. Đạo Phật được
gọi là đạo của trí tuệ chính vì ngay trong bất cứ hòan
cảnh nào, dù khổ đau hay sung sướng, người ta cũng được
soi sáng một chân trời cao siêu hơn, tòan thiện hơn. Người
ta sẽ luôn luôn được cảnh báo rằng cái sung sướng mà
họ đang hưởng thực chất cũng chỉ là cạn cợt, tầm thường,
mong manh và nguy hiểm.Đây là trí tuệ then chốt của người
học Phật .
Nếu
không hiểu sâu sắc sự đau khổ của cuộc sống, chúng ta
sẽ không có khát vọng hướng đến sự giải thoát. Một
lúc nào đó, có người không tin tôn giáo, thắc mắc rằng
tại sao Đức Phật nói cuộc đời là khổ trong khi con người,
ai cũng có lúc khổ, có lúc sướng, chúng ta sẽ lúng túng
không trả lời được. Hỏi như vậy, có nghĩa là người
ta cảm thấy sự khẳng định của Đức Phật là cực đoan
và cách nhìn thế gian của đạo Phật quá bi quan.
Về
sự khổ, chúng ta đã học một phần trong kinh: Bát Đại Nhân
Giác. Trong Tứ Diệu đế, khổ được chia ra làm tám loại:
Sanh, lão, bệnh, tử, cầu bất đắc, oán tán hội , ái biệt
ly và ngũ ấm xí thạnh. Chúng ta chưa bàn đến Sanh, lão, bệnh,
tử vì đó là những vấn đề lớn. Cầu bất đắc là
cầu không được. Ái biệt ly là thương yêu mà phải chia
cách. Oán tắng hội là ghét mà cứ gặp hoài. Ngũ ấm xí
thạnh là thân tâm là một khối khổ.
Xét
từng trường hợp, chúng ta thấy rằng, có người cầu mong
điều gì đều được như ý. Người ấy không có gì phải
đau khổ. Như vậy, làm sao khẳng định rằng cuộc đời này
toàn là đau khổ? Hoặc nói ái biệt ly là đau khổ. Nhưng
nếu người mình thương yêu luôn ở bên cạnh, không hề xa
cách, thì làm gì có sự đau khổ. Như vậy, khẳng định cuộc
đời này toàn là đau khổ, phải chăng đó là điều không
đúng? Hoặc nói oán tắng hội là ghét mà gặp mặt hoài là
khổ. Nhưng có những người mình ghét mà chẳng ở chung với
họ thì không có gì gọi là khổ v.v… Nhiều người cứ lý
luận như vậy, nếu chúng ta không hiểu rõ được nỗi đau
khổ của cuộc đời thì sẽ không trả lời được. Cho nên,
dù làm Giảng sư hay không, chúng ta cũng phải chuẩn bị cho
mình những lý luận cơ bản để có thể giải thích vấn
đề một cách hợp lý. Trứơc hết, chúng ta phải hiểu rõ
nỗi đau khổ của cuộc đời để thiết tha tu hành. Nhưng
làm sao chúng ta nhận ra cuộc đời mình đang sống là đau
khổ, là ràng buộc ?
Để
trả lời điều đó, chúng ta phải biết so sánh. Chẳng hạn,
nếu nhìn một con chó hoang ghẻ lác, lông rụng hết, mùa đông
đến, phải sống trong giá lạnh, lại bị con người xua đuổi,
phải sống lang thang ngoài đường phố, chúng ta sẽ thấy
thân phận nó khổ biết chừng nào. So sánh với thân phận
con người, chúng ta sẽ nghĩ nếu thoát được thân chó và
làm người, chắc chắn nó sẽ sung sướng hơn. Hoặc nhìn
thấy những con kiến bé nhỏ đang ì ạch tha mồi mang về
hang, về tổ, chúng ta sẽ xót thương thân phận chúng vô cùng,
vì chúng quá cực khổ. Thân phận con kiến đã quá bé nhỏ
lại phải cần mẫn tha từng miếng mồi to hơn mấy lần thân
nó một cách vất vả. Với con người chúng ta, miếng mồi
ấy có đáng gì, có thể đó chỉ là mảnh vụn rơi ra từ
cái bánh ta vừa ăn. Nhưng đối với họ nhà kiến, miếng
mồi ấy quí giá vô cùng. Như vậy, thử so sánh thân phận
con kiến với con người, chúng ta sẽ thấy nó quá khổ còn
mình thật sung sướng, hạnh phúc. Dẫu sao, chúng ta cũng có
cái ăn, có cái dự trữ, chúng ta còn được đi đó đi đây,
xa hơn và tự do hơn. Trong khi đó, con kiến bị ràng buộc
trong một phạm vi nhỏ hẹp.
Bao
giờ cũng vậy, nhìn xuống dưới, chúng ta luôn thấy mình
sướng hơn nhiều người, nhưng nếu so sánh với Chư Thiên,
chúng ta sẽ chợt thấy đời mình đầy ắp những nỗi khổ
đau. Chư Thiên sống một cuộc sống thong dong an vui, tự do,
tự tại và muốn gì được nấy. Nếu muốn đi đâu,
chỉ cần khởi ý niệm bên này, chư Thiên sẽ biến mất và
hiện ngay lập tức ở bên kia. Hoặc muốn liên lạc với ai,
chỉ bằng ý niệm của mình, Chư Thiên sẽ làm cho người
kia nhận ngay được ý tưởng. Các vị sống trong một thế
giới mà mọi điều đều tốt đẹp. Rõ ràng, so sánh như
vậy, chúng ta sẽ thấy con người sống khổ hơn rất nhiều
so với chư Thiên.
Trong
cuộc sống, cũng có những lúc chúng ta thấy mình được
vui, được hạnh phúc, nhưng cái vui của thế gian này nếu
so sánh với Niết Bàn tuyệt đối của Phật chẳng có ý nghĩa
gì. Như vậy, sở dĩ Đức Phật tuyên bố cuộc đời này
đau khổ là vì Ngài dựa vào Niết Bàn tuyệt đối mà Ngài
đã chứng được. Khi đã chứng được Niết Bàn tuyệt
đối, Ngài mới hiểu rằng, mọi cái gọi là niềm vui hay
hạnh phúc của thế gian thực chất chỉ là đau khổ vì nó
quá tầm thường. Chúng ta chưa chứng được điều đó, chỉ
nghe Phật nói nên thường hiểu không sâu sắc.
Sự
thật, những gì chúng ta gọi là hạnh phúc ( được nhà cao
cửa rộng, lắm của nhiều tiền…) so với trạng thái Niết
Bàn tuyệt đối của Chư Phật, chỉ là điều vụn vặt không
đáng kể. Nếu so sánh với con kiến, chúng ta thấy nó quá
cực khổ, quá ràng buộc, còn mình quá tự tại thì Đức
Phật nhìn cuộc sống của chúng ta cũng vậy. Ngài thấy mình
tự do, tự tại mà chúng sinh phải lặn hụp kiếm từng miếng
ăn nho nhỏ chẳng khác gì con kiến.
Chúng ta thử hình dung chứng kiến cảnh hai con kiến đang giành
nhau một mẩu bánh của con người làm rơi, chúng ta sẽ nghĩ
gì ? Có thể lúc ấy chúng ta cảm thấy buồn cười vì sự
tranh giành lặt vặt, xâu xé lẫn nhau vì một vật không đáng
gì của chúng. Điều đó chẳng khác gì cách nhìn và cách
nghĩ của Chư Thiên hay Chư Phật đối với chúng ta. Đối
với các vị Bồ Tát, Alahán, địa vị, danh lợi chỉ là những
thứ tầm thường chẳng khác gì hạt bụi rơi ra từ chiếc
bánh. Vậy mà, chúng ta lại cứ giành nhau, xâu xé lẫn
nhau, cho đó là những gì quí nhất, quan trọng nhất. Khi hiểu
được như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời này thật
sự là bể khổ. Những lúc cảm thấy sung sướng là do chúng
ta chỉ so sánh lẩn quẩn trong phạm vi cuộc sống của
con người. Nếu so sánh với hạnh phúc của Chư Thiên hoặc
với sự an lạc của một vị Bồ Tát, một vị Alahán, một
vị Phật…thì những cái gọi là sung sướng trong cuộc đời
này thật quá tạm bợ, quá nhỏ bé tầm thường. Chừng
nào hiểu sâu sắc ý nghĩa đau khổ của cuộc đời,
hiểu được thân phận tầm thường, nhỏ nhoi của mình, chừng
ấy chúng ta mới hiểu sâu sắc đạo Phật và thiết tha đi
tìm sự giải thoát.
Vậy,
nguyên nhân của đau khổ là gì ?
Đó
là do khuynh hướng vị kỷ. Chúng ta biết rằng, vị kỷ sinh
ra nhiều hệ quả, trong đó có một hệ quả quan trọng là
sự đau khổ. Hay nói cách khác, tất cả những đau khổ của
con người đều bắt nguồn từ vị kỷ. Nói vị kỷ sinh ra
đau khổ thường dựa trên hai ý nghĩa. Một là trên hệ quả
của tâm lý hiện tại và một là trên hệ quả của luật
Nhân Quả đưa đến vị lai.
Ví
dụ, khi có người nào đó đem đến cho chúng ta một vật
quí, chúng ta sợ phải chia lại cho người khác nên vội vàng
tìm cách cất giấu và hưởng thụ riêng. Đó là tâm lý vị
kỷ. Như vậy, điều đau khổ thứ nhất là chúng ta rơi vào
trạng thái bất an. Hệ quả bất an là hệ quả về tâm lý.
Đó cũng là đau khổ trong hiện tại. Về vị lai, qua
một kiếp nào đó, theo luật Nhân Quả, chúng ta sẽ không
được may mắn trong cuộc sống. Muốn làm điều gì, chúng
ta cũng bị ràng buộc, khó khăn, chướng ngại, và cuối
cùng không làm được việc gì có ý nghĩa. Còn gì đau khổ
hơn khi sống mà chỉ có thất bại và hèn kém! Như vậy, vị
kỷ là nguyên nhân của đau khổ.
Ngược
lại, người sống vị tha, sống cho người khác sẽ được
nhiều phước nên dần dần được tự do và làm điều gì
cũng được như ý nguyện. Đây là công thức rất đúng, tuyệt
đối đúng. Nhìn vào thực tế, chúng ta sẽ thấy điều này
rất rõ. Chẳng hạn, người thiếu phước muốn đi đâu, làm
gì cũng khó khăn vì không đủ điều kiện. Trong khi đó, người
có phước được giàu có về vật chất, muốn điều gì họ
sẽ thực hiện được ngay, không bị ai ngăn cản. Như vậy,
người không được tự do làm theo ý mình muốn là người
thiếu phước. Hay nói cách khác, càng có phước chúng ta càng
được tự do. Tiên đề này rất quan trọng. Tự do còn có
nghĩa là giải thoát. Trong tiếng Anh, giải thoát và tự do
đều được dùng một chữ là freedom, hoặc liberty, là sự
tự do.
Nói
càng có phước chúng ta càng được tự do nghĩa là càng được
giải thoát. Cho nên, chúng ta phải sống vị tha để tạo thêm
phước. Nếu sống vị tha nhiều, phước sẽ càng lớn và
chúng ta càng tự do hơn.
Người
tu đến độ vị tha hoàn toàn tuyệït đối là người cả
cuộc đời chỉ sống cho mọi người, tuyệt đối không cầu
cho mình điều gì dù chỉ trong ý nghĩ. Những người ấy sẽ
có được Phước đến vô biên và Tự do không còn giới hạn.
Đó thực sự là người được giải thoát. Như vậy, có hai
con đường để chúng ta đi đến giải thoát. Một là tu tập
trí tuệ Thiền định để phá chấp ngã, phá vô minh và đạt
được giải thoát. Hai là chúng ta sống cuộc đời vị tha,
tạo phước cho đến vô biên vô lượng, để đạt được
sự Tự do tuyệt đối.
Thực
ra, hai con đường này chỉ có chung một lối. Con đường tu
tập Thiền định, trí tuệ để phá chấp ngã, phá vô minh
gọi là con đường tu Huệ. Con đường thứ hai gọi là tu
Phước. Phước Huệ song tu là điều Đức Phật đã nói từ
ngàn xưa. Chúng ta đi tìm sự giải thoát phải đi trên cả
hai con đường này, vừa tu Phước vừa tu Huệ. Gọi là tu
Phước, tu Huệ nhưng sự thật chỉ có một lối duy nhất
để đi đến giải thoát.
Có
người hỏi Như Sanh rằng, đạo Phật là đạo tìm sự giải
thoát vượt ra ngoài cả thiện và ác. Vậy khi tu hành giải
thoát trong đạo Phật, chúng ta không làm tội cũng không tạo
phước, điều đó có đúng không? Như Sanh đã trả lời không
đúng. Ông lý giải rằng, càng có tội, người ta càng bị
ràng buộc và càng làm phuớc, người ta càng được tự do.
Người ta chỉ được tự do trong phước và bị ràng buộc
trong tội. Câu trả lời ấy làm cho đạo Phật viên mãn. Vì
khi đi tìm sự giải thoát, chúng ta sẽ sống một cuộc đời
hết sức vị tha, làm lợi ích cho tất cả mọi nguời. Điều
này hoàn toàn trái với quan niệm cho rằng, muốn tìm sự giải
thoát phải buông bỏ tất cả, quên hết tất cả mọi người,
chỉ lo đóng cửa tu tập, lo cho chính mình. Đó là quan niệm
rất sai lầm.
Xét
lại chuyện Tôn giả Losaka Tissa bị đói suốt đời, đến
giờ phút cuối cùng nhờ thần lực và Đức của ngài Xá
Lợi Phất mới được ăn một bữa no đủ trước khi
nhập diệt, và sau đó được chứng Alahán, chúng ta có quyền
hoài nghi. Vì một người thiếu phước như ngài Losaka Tissa
làm sao có thể đạt được sự giải thoát như vậy. Chúng
ta luôn nhớ một điều, sự Tự do, sự Giảøi thoát bao giờ
cũng phải xuất phát từ Phước. Trong suốt truyện tích về
ngài Losaka Tissa, chúng ta chỉ thấy từ nghiệp đố kỵ mà
Ngài bị quả báo quá nặng nề. Trong khi đó, không có chi
tiết nào kể về việc Ngài tạo phước lớn hơn để vượt
qua sự quả báo ấy. Vậy mà, cuối cùng Ngài vẫn chứng được
Alahán.
Chính vì những sự vô lý như vậy nên một số học giả
phương Tây thường tỏ ra hoài nghi những Kinh điển cổ. Trong
chuyện này họ cho rằng, người sau có thể thêm thắc vào
để có một kết thúc như vậy. Vì một người đang trong
tình trạng thiếu phước cực độ không thể có được sự
giải thoát. Chúng ta khi bàn đến vấn đề này, cũng có quyền
xét lại câu chuyện về tôn giả Losaka Tissa. Có thể ngài
còn một cái Nhân lành rất đặc biệt khác nữa để trợ
giúp cho sự chứng ngộ mà kinh điển không ghi ra hết.
2.
MỤC ĐÍCH GIẢI THOÁT CHO MÌNH CHỈ LÀ SỰ VỊ KỶ TRÁ HÌNH.
Khi
biết chắc rằng cuộc đời này vô cùng đau khổ, chúng ta
xác định phải đi đến sự giải thoát. Nhưng nếu chỉ đi
tìm sự giải thoát cho chính mình, chúng ta sẽ rơi trở lại
tâm vị kỷ. Mà vị kỷ chính là nguyên nhân của mọi đau
khổ trên đời. Bởi vậy, không ít người muốn thoát khỏi
đau khổ nhưng không ngờ lại gieo nhân đau khổ. Đây là cái
vòng lẩn quẩn mà không phải ai cũng dễ dàng thoát ra được.
Chúng ta phải cẩn thận điều này. Nếu phát tâm tinh tấn
tu hành mà chỉ tu cho bản thân mình, vĩnh viễn không bao giờ
chúng ta đạt được sự giải thoát. Thực tế đã chứng
minh điều đó.
Chúng
ta phải hiểu rằng, thực chất của việc đi tìm sự giải
thoát, giác ngộ nằm ngay trong cuộc sống của chúng ta. Nếu
tách khỏi đời sống, những danh từ ấy sẽ trở nên vô
nghĩa. Muốn giải thoát, mỗi người phải xem lại mình có
thương yêu mọi người hay không, có giữ được tâm khiêm
hạ hay không. Nếu nói chuyện giải thoát giác ngộ thật xa
vời để rồi trong đời sống, chúng ta không có tình yêu
thương, chúng ta cứ hống hách kiêu mạn, cứ ganh ghét đố
kỵ với mọi người thì sự giải thoát, giác ngộ chỉ
là vô nghĩa.
Đức
Phật xuất gia vì có một mục đích rõ ràng là đi tìm đường
giải thoát cho chúng sinh. Mặc dù sống một cuộc đời sung
sướng vương giả nhưng do lòng thương yêu của một vị Bồ
Tát nên Ngài nhìn thấy thân phận con người là vô nghĩa.
Lúc bấy giờ, ở Ấn Độ, người đã tin có luân hồi và
Đức Phật cũng theo tín ngưỡng thời đó. Vì tin có luân
hồi nên Ngài nhìn thấy sự đau khổ của con người.
Người ta cứ sinh ra, lớn lên, già đi rồi chết, rồi lại
tái sinh. Cứ sống trong vòng lẩn quẩn như thế không biết
bao giờ con người mới thoát ra được. Trong vòng lẩn quẩn
đó, có khi con người cũng cảm thấy được sung sướng nhưng
không phải là sự sung sướng đích thực. Tất cả rồi cũng
trôi qua, con người rồi cũng vướng vào sự hơn thua, tranh
giành, hận thù, tham lam, ích kỷ rồi cuối cùng cũng chấp
nhận cái chết. Có thể bây giờ nghe câu chuyện này, chúng
ta cảm thấy bình thường nhưng so sánh với những người
khác, chúng ta sẽ thấy được sự vĩ đại trong cái nhìn
của Đức Phật.
Hiện nay, trên thế giới cũng có nhiều nhà từ thiện, nhìn
thấy những nỗi đau khổ nào đó của kiếp người.
Họ cũng nỗ lực làm điều gì đó để xoa dịu nỗi đau
cho con người. Chẳng hạn, có một nhóm người thấy rằng
sử dụng mìn bẫy trong chiến tranh là điều rất vô nhân
đạo. Không biết bao nhiêu người dân vô tội đã bị thương
tật, đã bị bỏ mạng bởi vướng phải những quả mìn ấy.
Nhìn thấy đó là một nỗi khổ lớn của nhân loại, họ
đã đoàn kết kêu gọi các nước trên thế giới chấm dứt
sản xuất mìn bẫy, chấm dứt sử dụng mìn bẫy trong chiến
tranh để giết hại con người. Họ đấu tranh dữ dội khiến
một số nước lớn đã phải ngồi vào bàn Hội nghị để
thảo luận và thống nhất vĩnh viễn chấm dứt sản xuất
mìn. Những việc họ làm thật vĩ đại. Những người ấy
cũng nhìn thấy nỗi đau khổ của kiếp người và ra sức
làm điều gì đó có lợi cho con người. Hoặc có người nhìn
thấy nỗi đau khổ của những người bị bệnh phong cùi,
tay chân bị mòn dần, thân hình lở lói khiến người ta sợ
hãi, xa lánh mà động tâm. Họ tìm cách giúp đỡ những con
người bất hạnh ấy. Những nhà khoa học thì miệt mài trong
phòng thí nghiệm để tìm ra loại thuốc chữa bệnh cùi. Những
người khác thì không ngần ngại vào những trại cùi để
săn sóc, an ủi bệnh nhân cùi. Họ quả thật là những con
người vĩ đại.
Trong
cuộc sống, còn biết bao nhiêu tấm gương sống vị tha như
thế. Họ đều là những người biết yêu thương con người,
thấy được nỗi khổ của con người và cố gắng làm một
cái gì đó có lợi cho chúng sinh. Họ đều là những con người
vĩ đại. Nhưng tất cả những cái họ nhìn thấy chỉ là
một góc nhỏ trong nỗi khổ của kiếp người. Còn nỗi khổ
lớn, bao trùm vĩnh viễn lên kiếp người là Luân hồi thì
họ không nhìn thấy được. Đây là chỗ khác biệt giữa
họ và Đức Phật. Khi nhìn thấy bên kia làng có một số
người nghèo khổ, vất vả không có miếng ăn, Ngài cảm thấy
đó thật sự là nỗi khổ nhưng chưa phải là nỗi khổ cuối
cùng. Hoặc thấy những người bị bệnh, lăn lóc đau đớn
không có thuốc thang, không người chăm sóc, Ngài biết là
khổ thật nhưng vẫn chưa phải là nỗi khổ cuối cùng. Nỗi
khổ cuối cùng, lớn nhất theo Ngài, đó chính là Luân hồi
.
Chúng ta biết rằng, trong kiếp người này, dù người giàu
hay người nghèo, dù người bệnh hay người khỏe, may mắn
hay bất hạnh, tất cả đều phải bệnh, phải già, phải
chết, phải tái sinh. Con người cứ lẩn quẩn một cách mệt
mỏi như thế. Nếu chúng ta hiểu được rằng, không phải
đây là lần duy nhất mình vào ra thế gian này mà mấy triệu
kiếp rồi, và sẽ còn nhiều kiếp nữa phải tiếp tục lang
thang, vào ra như thế, chúng ta sẽ thấy chán ngán và mệt
mỏi.
Trong
bài Khấn nguyện chúng ta vẫn tụng hằng đêm, có đoạn viết:
Cúi lạy mười phường Phật
Đau khổ đã nhiều rồi
Vô lương kiếp luân hồi
Đắng cay và mỏi mệt.
Như
vậy, khi hiểu được mình đã lang thang vô lượng kiếp bây
giờ còn phải lang thang nữa, chúng ta sẽ cảm thấy cay đắng
và mệt mỏi. Đức Phật nhìn thấy ngay điều đó và thấy
được nỗi khổ bất tận của chúng sinh nên quyết tâm tìm
con đường giải thoát để cứu chúng sinh. Động cơ xuất
gia của Đức Phật hoàn toàn vị tha. Và sau đó, Ngài sống
những năm tháng lặn lội, khổ sở trong rừng để tu tập
cũng vì chúng sinh.
Chúng
ta cũng vậy, phải xác định dù tu hay học cũng vì lợi ích
cho chúng sinh, đừng bao giờ nghĩ đến lợi ích của chính
mình. Trong từng giây phút tu hành, chúng ta phải tinh tế nhìn
ra điều sai điều đúng, kiểm soát tâm mình để rút ra những
kinh nghiệm quí báu. Khi đã có kinh nghiệm, nếu có duyên chúng
ta sẽ đứng trên pháp đàn tuyên dương hoằng hóa đạo Phật,
thay Phật thay Tổ đem chánh pháp đến cho mọi người. Nếu
không có duyên, chúng ta vẫn có lời để khuyên lơn, an ủi
những người đang đau khổ khi họ tìm đến với mình. Làm
được điều đó nghĩa là chúng ta đã làm lợi ích cho chúng
sinh. Nếu cứ vị kỷ, học hành tu tập để được bằng
cấp, danh tiếng cho mình, chắc chắn sau này cái chờ đợi
chúng ta là khổ đau chồng chất vì lúc ấy chúng ta bị ràng
buộc đủ điều.
Để
làm được những điều ấy, chúng ta phải nhìn kỹ tâm mìmh,
xem mình có còn tâm đố kỵ, còn ganh tị với người khác
hay không. Nếu tâm đố kỵ còn tồn tại, chúng ta phải sám
hối cho thật kỹ. Nói gạn lọc tâm mình là như vậy. Chúng
ta phải sống hết sức vị tha, vượt qua hết những phiền
não. Nhiều khi, chúng ta cũng mắc phải những lỗi lầm. Điều
quan trọng là mỗi người phải chân thành nhận đó là lỗi
để sửa chữa, để tìm cách vượt qua. Nhờ những lầm lỗi
và sự chân thành nhận lỗi mà chúng ta có thêm nhiều kinh
nghiệm tu hành. Đó là những kinh nghiệm mà chúng ta tu tập
để dạy cho người khác. Người có lỗi mà không cho đó
là lỗi sẽ không bao giờ tiến bộ.
Như
vậy, nhờ những lời dạy của Phật, những lời dạy của
Thầy Tổ, kết hợp với sự chân thành nhìn lỗi của mình,
chúng ta rút ra được nhiều kinh nghiệm, nhiều nguyên tắc
để truyền đạt lại cho người sau. Xét cho cùng, khi phạm
sai lầm, chúng ta biết rút kinh nghiệm là đã nghĩ đến người
khác. Nếu đã phạm sai lầm, chúng ta phải làm sao cho người
khác đừng mắc phải sai lầm như mình. Đó là vị tha.
Ngược
lại, được điều gì hay chúng ta đều muốn cho chúng sinh
cùng được. Ví dụ, khi được hướng dẫn ngồi Thiền điều
thân, biết được toàn thân và nhận ra đây là căn bản quan
trọng của Thiền, chúng ta phải nhớ đến những người khác.
Chúng ta mong sao mọi người trước khi vào ngồi Thiền đều
biết được sự điều thân, vì điều này rất có lợi cho
công phu của họ. Như vậy, được điều gì đúng, chúng ta
luôn luôn mong cho mọi người cùng được. Và vấp điều gì
dở, chúng ta lại muốn mọi người không bị vấp như mình.
Đó là vị tha.
Chẳng
hạn, khi tâm mình khởi lên điều ham thích nào đó, chúng
ta biết ngay đó là điều dở. Từ chỗ nhận thức như vậy,
chúng ta phải tìm cách vượt qua. Khi vượt qua được,
chúng ta sẽ nghĩ đến bao nhiêu người khác còn đang vướng
kẹt và mong mỏi giúp họ đều vượt qua như thế. Ví dụ
vấn đề ái dục, nếu có con đường, có phương pháp đúng
đắn để vượt qua được ái dục sẽ có lợi cho những
người tu hành biết bao nhiêu. Từ đó, mỗi người một ý
kiến để có thể tìm ra được con đường ấy, giúp cho đời
sống tu hành của Tăng Ni được thanh tịnh hơn, trong sạch
hơn.
Tóm
lại, chúng ta không nên đặt ra mục đích giải thoát cho bản
thân mình. Vì đó làsự vị kỷ. Là người tu hành, chúng
ta phải luôn tìm đến mục đích giải thoát cho chúng sinh.
3.
BIỂU HIỆN CỦA GIẢI THOÁT LÀ ĐẠO ĐỨC.
Đạo đức là nền tảng ban đầu. Khi tu, chúng ta bắt đầu
bằng Đạo đức, phải rèn luyện bằng
Đạo đức. Nhờ có Đạo đức, chúng ta mới tạo được
Phước. Nhờ Phước, chúng ta mới giữ được Giới. Người
không có Phước, không thể giữ Giới được. Vì vậy, chúng
ta phải tạo Phước, phải lạy Phật, sống một cuộc sống
vị tha, phải khiêm hạ…để có bản lĩnh giữ được Giới
cho trong sạch. Khi đã giữ được Giới, chúng ta mới vào
Định được. Khi Định đã thành, chúng ta sẽ được Tuệ
giải thoát. Và biểu hiện của giải thoát lại là Đạo đức.
Vì khi đã đạt được Tuêï giải thoát, Đạo đức còn sáng
tỏ hơn bao giờ hết. Chúng ta bắt đầu bằng Đạo đức
và kết thúc cũng bằng Đạo đức. Người được xem là tu
tiến trong Phật pháp cũng biểu hiện bằng Đạo đức, không
phải là điều gì xa xôi, khó hiểu. Chúng ta đừng bao giờ
nghĩ rằng, người được giải thoát là người có những
lời nói bí hiểm kỳ lạ, có hành vi khó hiểu, có cuộc sống
ung dung, nhàn hạ chỉ thích ngao du sơn thủy:
Bình
bát cơm ngàn nhà
Thân
chơi muôn dặm xa.
Mắt
xanh xem người thế
Mây
trắng hỏi đường qua.
Hòan
tòan không phải như thế. Người được giải thoát là người
có Đạo đức, sống cuộc đời vị tha, lo cho người khác.
Những người sống phong lưu, nhàn hạ vân du nơi này nơi khác
mà chúng ta gặp chưa hẳn là người đã được giải thoát.
Vậy, biểu hiện của Đạo đức là gì ?
Trước
hết, đó là tâm từ bi, từ bi rất mạnh. Khi chưa giải
thoát, chúng ta phải tu tập lòng từ bi. Khi giải thoát rồi,
lòng từ bi sẽ cực mạnh. Có người ngay từ nhỏ đã là
người tốt, sẵn sàng giúp đỡ người khác. Khi lớn lên,
biết Đạo người ấy lại càng tốt hơn, rất giàu đức
hy sinh. Nhất là khi hiểu Đạo một cách sâu sắc, thấy lòng
từ bi là một thuộc tính quan trọng không thể thiếu của
người tu, người ấy rất siêng năng tu tập từ bi. Khi trở
thành Giảng sư, đi giảng khắp nơi, vị chân tu ấy cũng luôn
kêu gọi mọi người phải tu tập từ bi, sống với nhau trong
tình thương yêu. Vậy mà, có lúc vị này chợt nhận ra mình
chưa biết thương ai. Đây là điều rất lạ. Dù đã
sống rất tốt, hy sinh tất cả cho mọi người, không giữ
lại gì cho riêng mình, cực khổ gian nan cũng không nề hà,
nhưng vẫn có lúc thấy mình chưa đủ tình yêu thương với
mọi người.
Sở
dĩ nhận ra điều ấy là do vị chân tu vừa đạt được sự
từ bi đích thực. Người chợt hiểu sự quan tâm đến người
khác, hy sinh cho người khác của mình trước kia chưa phải
từ bi. Đó là cái tốt của lý trí. Nghĩa làvì hiểu Đạo
lý, hiểu Đạo dạy phải sống tốt, phải hy sinh, không được
ích kỷ mà người ấy đã đối xử tốt với mọi người.
Cái tốt đó không xuất phát từ lòng thương yêu thật sự
của trái tim. Chỉ khi nào người tu hành cảm thấy trái tim
mình thật sự có lòng thương yêu con người thì lúc ấy mới
gọi là có từ bi. Và chính lúc ấy, chúng ta mới nhận ra
trước kia mình chưa thực sự thương ai. Đây là điều rất
khó. Khi đã có một chút từ bi, nhìn thấy ai chúng ta cũng
có thể khởi lòng thương yêu. Ngay cả những người sống
giang hồ, quậy phá, nói năng thiếu văn hóa, chúng ta cũng
có thể khởi lòng thương yêu mà không hề ghét bỏ. Điều
này chúng ta đã được học trong bài Tâm từ. Tuy nhiên, tình
yêu thương con người của chúng ta như vậy vẫn chưa đủ,
cường độ vẫn còn yếu. Chúng ta chưa thể có tình yêu phủ
trùm pháp giới một cách mạnh mẽ như Chư Phật hay Chư Bồ
Tát. Đó là lý do vì sao nói người đã được giải thoát,
từ bi rất mạnh.
Nếu
không cố gắng tu tập, lòng từ bi sẽ bị chai lì đi, chúng
ta sẽ không thương yêu được chúng sanh và dễ dàng rơi trở
về tâm vị kỷ. Lúc ấy, đau khổ sẽ ngập tràn. Bởi vậy,
chúng ta phải tu tập từ bi để hỗ trợ cho Đạo đức của
sự giải thoát. Mỗi khi lễ Phật hay ngồi Thiền, chúng ta
đều phải tác ý quán từ bi, thương yêu chúng sanh. Cứ thế
đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ nhận thấy trong trái tim
mình tràn ngập tình thương yêu đối với chúng sinh. Đó là
lúc chúng ta bắt đầu có được lòng từ bi. Và điều đó
chỉ bản thân chúng ta mới hiểu được.
Một
biểu hiện khác của Đạo đức giải thoát làsự khiêm hạ,
khiêm hạ rất sâu vì có trí tuệ Vô ngã. Khiêm hạ là
khiêm tốn, không khoe khoang, không tranh hơn thua với bất cứ
ai. Người nào hiểu, chúng ta giãi bày, dạy dỗ. Người nào
không hiểu, chúng ta không trình bày, không khoe, không nói.
Họ có coi thường cũng mặc, chúng ta không quan tâm.
Khi
chưa được vô ngã, chúng ta giữ khiêm hạ bằng Đạo lý.
Hàng ngày, hàng đêm, chúng ta luôn thấy mình như cỏ rác,
cát bụi, mọi lời khen chê chỉ là bóng mây. Tự nhủ thường
xuyên như vậy, tự nhắc nhở thường xuyên như vậy nhưng
cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, chúng ta vẫn chưa hẳn đạt
được khiêm hạ thật sự. Chỉ trừ khi được giải thoát
hòan tòan, chúng ta mới mong đạt được điều đó. Khi chưa
thật sự giải thóat, Ngã chấp luôn tồn tại. Rồi chấp
ngã luôn tạo nên khuynh hướng kiêu mạn. Những tâm niệm
kiêu mạn ấy rất dễ khởi lên trong tâm của mỗi người
để thấy mình hơn người khác. Điều đó luôn luôn có thể
xảy ra nếu chúng ta không kiểm soát kỹ tâm mình.
Xuất
phát từ chấp ngã, những tâm kiêu mạn có thể khởi ra từng
giờ, từng phút, nếu chúng ta không biết tỉnh táo thường
xuyên kiểm soát tâm mình. Nếu chúng ta không siêng năng lạy
Phật, không siêng năng phát nguyện thì những tâm niệm kiêu
mạn ấy sẽ tàn phá hết tâm hồn mình.
Trong
bài Lời khấn nguyện, chúng ta vẫn thiết tha mỗi ngày:
Cho con biết khiêm hạ
Biết tôn trọng mọi người
Tự thấy mình nhỏ thôi
Việc
tu còn kém cỏi .
Đó là những lời tâm niệm để giữ tâm hồn mình lại.
Nếu không giữ được, kiêu mạn sẽ xuất hiện. Người giải
thoát do đạt được trí tuệ Vô ngã nên không một hạt bụi
nào có thể che mờ tâm các Ngài. Hay nói cách khác, tâm phiền
não hay kiêu mạn dù nhỏ như một hạt bụi cũng không ngự
trị trong tâm các Ngài. Bao giờ cũng vậy, các Ngài luôn kiểm
soát tâm mình rất kỹ nên tâm kiêu mạn không khởi lên được.
Những người như vậy rất khiêm hạ, rất kín đáo, nhẹ
nhàng.
Cũng
có những người được gọi là tu có tiến bộ, có tâm linh,
có sở đắc, nhưng trong lời nói của họ vẫn còn cái ngông
nghênh. Những người ấy rõ ràng chưa thật sự giải thoát,
vẫn còn ngã chấp rất nặng. Đây là chỗ để chúng ta đánh
giá mức độ tu tập của người khác và rút ra kinh nghiệm
cho bản thân mình. Đừng bao giờ nghĩ rằng, tâm linh tiến
bộ là hết kiêu mạn. Có người tu vào được Định lại
kiêu mạn hơn trước. Đây cũng là điều mà chúng ta phải
cẩn thận.
Với người giải thoát, Đạo đức còn được biểu hiện
ở sự tùy hỷ với ưu điểm và thành công của người khác.
Nghĩa là khi nghe nói người khác có đức, có nhiều ưu điểm,
có lòng từ bi, chúng ta phải mừng vui thực sự. Ví dụ, khi
gặp một vị Thầy tinh tấn tu hành, gương mặt phúc hậu,
tỏa ra vẻ đẹp tâm hồn chân chính, nghiêm túc, chúng ta phải
vui mừng vì biết đây là một trong những cột trụ của Phật
Pháp. Có thể bây giờ chưa có tiếng tăm gì, nhưng sau này
chắc chắn người ấy sẽ làm lợi ích cho nhiều người.
Nghĩa là sau này khi đến với họ, chúng sinh sẽ được an
lạc, hoan hỷ. Chúng ta phải thực sự vui mừng khi nhìn thấy
trong Đạo có những con người như thế. Trước ưu điểm
và sự thành công của người khác, người đã giải thoát
sẽ thấy lòng tự nhiên chan hòa, vui sướng. Như vậy gọi
là tùy hỷ. Hạnh tùy hỷ ngược lại đố kỵ.
Một
điều quan trọng nữa là người đã được giải thoát không
bao giờ khinh miệt người kém hơn mình, không bao giờ
khinh miệt người lầm lỗi. Họ luôn mong cho tất cả mọi
người trở thành người tốt dù biết rất rõ ai cũng có
khuyết điểm. Đây là điều rất quan trọng. Người đã giải
thoát rồi dù không muốn, không suy nghĩ nhưng tính cách của
họ, tâm của họ lúc nào cũng bao dung như người cha, người
thầy, người bạn lành của chúng sinh. Khi chưa giải thoát,
chúng ta ai cũng có khuyết điểm, nhưng giải thoát rồi khuyết
điểm không còn nữa. Lúc ấy, nhìn thấy những người khác
có khuyết điểm, chúng ta vẫn không khinh bỉ, chỉ mong cho
họ tốt lên . Đó chính là lòng bao dung, lòng từ bi cao cả.
Người
giải thoát thật sự có thể được xem là bóng cây râm
mát, làm nơi che chở, làm chỗ nương tựa cho chúng sinh. Ví
dụ, khi biết rằng, tâm bao dung là biểu hiện của Đạo đức,
người giải thoát có tâm bao dung như một người cha, một
người thầy, chúng ta có thể yên tâm đem lỗi của mình giãi
bày với họ. Những lỗi đó chúng ta bí mật giấu kín trong
lòng không cho ai biết, nhưng khi đến với người đã giải
thoát, chúng ta không ngaiï ngần nói ra tất cả. Nghĩa là chúng
ta tin ở lòng thương yêu và bao dung của họ. Chúng ta biết
rằng, khi nghe nói lỗi, người ấy sẽ không tỏ ra khinh bỉ
mà vẫn bao dung, vẫn răn dạy mình, vẫn khuyên mình những
điều sáng suốt để mình vượt qua được lỗi lầm. Đó
là tấm lòng, là tính cách của người giải thóat. Ngược
lại, khi có lỗi, chúng ta thường che giấu người khác vì
biết họ không thương yêu mình, không đủ sức cảm thông
với mình.
Người
giải thoát có khả năng bao dung được các Pháp môn tu hành
trong đạo Phật. Đạo Phật có nhiều Pháp môn, người giải
thoát có thể đắc đạo nhờ một Pháp môn nào đó nhưng
vẫn bao dung được các Pháp môn khác. Không bao giờ họ cho
rằng, chỉ có Pháp môn mình tu mới đúng, còn những Pháp
môn khác là sai. Đây là điểm để chúng ta nhận ra người
đã giải thoát thật sự và người chưa thật sự giải thoát,
cũng là điểm để kiểm tra chính mình đã đi gần đến sự
giải thoát hay chưa. Ví dụ, một người niệm Phật có kết
quả nên chê những Pháp môn khác, người đó chưa phải là
người giải thoát. Hoặc người tu quán hơi thở, nhiếp được
vào trong Định, gặp Pháp môn nào cũng chê cả. Cái định
của họ chưa phải là giải thoát. Bởi vậy, tâm bao dung là
một thuộc tính của Thánh. Một vị được gọi là chứng
Thánh, được giải thoát phải có tâm bao dung, trước hết
là trong đạo Phật và sau nữa là đối với các tôn giáo
khác.
Hiện
nay, ở nước ta có 6 tôn giáo được Nhà nước công nhận
: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa hảo và
Hồi giáo. Giữa các tôn giáo có nhiều điểm khác biệt. Người
theo tôn giáo nào sẽ cho tôn giáo đó là đúng nhất. Chúng
ta cũng vậy. Vì tin tưởng chắc chắn đạo Phật là chân
lý đúng nhất nên chúng ta đã tu theo đạo Phật. Nhưng hãy
nhớ rằng, không vì có niềm tin như vậy chúng ta chê bai,
phỉ báng các tôn giáo khác. Một trong những biểu hiện Đạo
đức của người giải thoát là luôn tìm những chỗ tương
đồng giữa các tôn giáo..
Ví
dụ, giữa đạo Thiên Chúa và đạo Phật có nhiều điểm
rất khác nhau. Chúng ta không tin có Thượng đế và không tin
chính Thượng đế tạo ra muôn lòai. Trong khi đó, những người
theo đạo Thiên Chúa lại rất tin điều đó. Đây là điểm
khác nhau rất căn bản giữa hai tôn giáo. Nhưng không để
ý đến sự khác biệt đó, chúng ta nên tìm những điểm tương
đồng như tình thương yêu, lòng bác ái, sự công bằng, thưởng
phạt nghiêm minh của Thượng đế…Những điều ấy chúng
ta vẫn có thể lý giải để thấy sự tương đồng với đạo
Phật ở lòng từ bi, ở luật Nhân Quả….Từ đó, khi gặp
người theo đạo Thiên Chúa, chúng ta vẫn có điểm để tôn
trọng họ. Chúng ta tin rằng, khi thực hiện những giáo lý
đó, họ cũng trở thành những người tốt. Chúng ta đừng
nghĩ rằng, chỉ có đạo Phật là chánh, những đạo khác
là tà.
Hoặc
đối với đạo Hồi, một đạo thật khủng khiếp, tàn bạo,
chỉ nói chuyện bằng bom đạn, chúng ta vẫn cố gắng tìm
những điểm hay của họ. Ví dụ, trong cuộc sống, họ rất
khắc khe với người phụ nữ. Phụ nữ đi ra đường phải
trùm kín từ đầu đến chân, chỉ ló ra hai con mắt. Vì họ
cho rằng, thân hình của người phụ nữ sẽ làm kích động
dục vọng của người đàn ông, che kín như vậy để đàn
ông không bị kích động dục vọng. Quả thật là quá bất
công đối với người phụ nữ!
Thay
vì qui định phụ nữ đừng ăn mặc quá hở hang khi ra đường,
lẽ ra phải buộc đàn ông phải lo giữ tâm mình, đừng dễ
dàng xao động, họ lại đổ tất cả trách nhiệm lên đầu
người phụ nữ, buộc họ phải sống tù túng khổ sở suốt
đời như vậy. Đó chính là sự bất công của đạo Hồi.
Tuy nhiên, chúng ta phải thấy rằng, những luật lệ nghiêm
khắc của họ đã góp phần làm cho xã hội ổn định. Điều
này chúng ta sẽ đề cập trong một bài khác.
Một biểu hiện Đạo đức nữa của người giải thoát là
tùy duyên mà sống, làm lợi ích cho mọi người, dù lớn hay
nhỏ. Nghĩa là dù làm một việc rất lớn là đăng đàn thuyết
Pháp, hoằng hóa đạo Phật cho nhiều người hay chỉ một
vài lời khuyên giúp người đau khổ, chúng ta cũng không từ
nan. Việc lớn chúng ta cũng làm, việc nhỏ cũng không bỏ
qua, miễn là những việc ấy đem lại lợi ích cho tất cả
mọi người.
4. SỰ KHỦNG HOẢNG ĐẠO ĐỨC CỦA THẾ GIỚI VÀ TRÁCH
NHIỆM CỦA ĐẠO PHẬT.
Hiện
nay, sống trong một thế giới mà văn minh vật chất và kỹ
thuật hiện đại đang phát triển đến chóng mặt, con người
dần dần đánh mất đi những giá trị đạo đức, những
giá trị tinh thần đã từng ngự trị trong đời sống của
họ từ bao đời nay. Vì thế, tội phạm lan tràn trên mọi
lĩnh vực, ở khắp mọi nơi, mọi giới, mọi lứa tuổi. Ngành
nghề nào cũng có người phạm tội, khó mà kiểm soát được.
Ông bà ta thường nói: Túng quá hóa liều hoặc Đói ra ma,
no thành Phật. Có nghĩa là vì hoàn cảnh quá khó khăn, hoặc
rơi vào bước đừơng cùng, con người thường làm liều để
trở thành kẻ phạm tội. Ngày nay, kẻ phạm tội không hoàn
toàn là những người nghèo túng, khó khăn hay ngu si không biết
luật pháp. Họ còn là những trí thức, rất am hiểu luật
pháp, là những người giàu có, những kẻ có chức quyền
trong xã hội…Những con người này, một khi đã cố tình
phạm tội, rất khó phát hiện bởi thủ đọan của chúng
quá tinh vi, và hậu quả để lại vì thế thật khôn lường.
Chẳng hạn, một bác sĩ, người được tôn vinh là luơng y
như từ mẫu lại là con át chủ bài trong đường dây mua bán
số đề. Người ấy dám bỏ ra một trăm năm mươi cây vàng
để công ty xổ số phải ra đúng con số mà ông ta cần. Tất
nhiên, ông bao tất cả con số đó khắp các tỉnh và trúng
một quả rất đậm trong khi bao nhiêu người phải rơi nước
mắt. Khi bị bắt, ông ta lại tha thiết kêu oan rằng bị người
khác gài chứ mình không phạm tội. Đó là một ký giả có
tài đi tống tiền người khác bằng cách tìm đến những
công ty, xí nghiệp có sai phạm trong kinh doanh để hù dọa.
Nếu không muốn công ty mình bị phá sản và bản thân mình
bị pháp luật sờ gáy thì Giám đốc, bằng bất cứ
giá nào cũng phải mua bằng được bài báo đó. Cứ thế,
vị ký giả ấy tha hồ sắm xe hơi, tậu nhà lầu. Đó là
một cán bộ chống buôn lậu có cỡ nhưng lại tiếp tay cho
bọn buôn lậu. Nhờ thế, bao nhiêu vụ buôn lậu xuyên quốc
gia cũng đều trót lọt, làm thất thoát hàng trăm tỉ đồng
của Nhà nước.
Gần
đây nhất, vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn được đưa
ra trước pháp luật đã làm nức lòng nhân dân khắp nơi trong
nước. Nhưng khi được đưa ra ánh sáng, vụ án ấy cũng để
lại trong lòng người bao nỗi xót xa. Bởi người ta biết
rằng, bao nhiêu năm tung hoành ngang dọc, gây ra biết bao đau
khổ cho người dân lương thiện, bọn chúng vẫn không bị
sa lưới pháp luật là nhờ sự “bảo hộ” của những cán
bộ Nhà nước có uy tín. Những con người ấy, vì lợi ích
cho bản thân mình đã phụ lòng tin yêu của hàng triệu triệu
người dân.
Tình
trạng chủ bóc lột công nhân đang xuất hiện phổ biến trên
đất nước ta cũng là một hình thức phạm tội, vi phạm
Bộ luật Lao động của Nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Chúng ta biết rằng, từ thế kỷ XVIII-XIX, do bất
mãn về việc người chủ có tiền mở xưởng sản xuất,
thuê công nhân và bóc lột công nhân tàn tệ, Các Mác đã
tìm ra con đường phát triển xã hội theo hướng Chủ nghĩa
Cộng sản, Chủ nghĩa Xã hội. Bước đầu, do sự thắng lợi
của chủ nghĩa Cộng sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu,
các nước Tư bản phương Tây đã sửa lại Bộ luật
lao động, buộc các giới chủ phải chú ý đến quyền lợi
của công nhân. Vậy mà hiện nay, khi đất nuớc chúng
ta mở cửa cho các nhà tư bản nước ngoài vào đầu tư, tình
trạng bóc lột xuất hiện trở lại. Những công ty, xí nghiệp
ấy đã bắt buộc công nhân phải làm thêm giờ, trả lương
thấp, thậm chí còn giữ lại tiền lương của công nhân ....
Chưa
hết, báo chí thỉnh thoảng vẫn đăng những tội lỗi trời
không dung, đất không tha khác như : cưỡng hiếp trẻ em, con
giết cha mẹ vì tranh giành tài sản, vợ giết chồng rồi
chặt thành từng khúc v..v...Biết bao cảnh đau lòng như thế
đã xảy ra trong xã hội ngày nay. Nguyên nhân gây nên những
tội lỗi ấy là do Đạo đức của con người xuống cấp
nghiêm trọng. Một khi không có Đạo đức, không có lương
tâm, con người sẽ không từ bất cứ việc gì. Vì thế, họ
cứ gây ra đau khổ triền miên cho nhau.
Để chống lại những điều đó, Nhà nước phải làm gì?
Nhà nước đã sọan thảo nhiều Bộ luật như : Luật Hôn
nhân gia đình, Luật Lao động, Luật Tố tụng Hình sự, Luật
Dân sự…Luật pháp có vẻ cụ thểù, nhưng luôn luôn đi
sau tội lỗi và rốt cuộc vẫn lệ thuộc vào Đạo đức
của người thi hành. Đó là lực lượng Công an, cán bộ Viện
Kiểm sát, các quan tòa…
Ví dụ, luật pháp rất nghiêm, rất cụ thể, minh bạch. Người
phạm tội gì, được quy định rõ ràng phải chịu mức án
bao nhiêu năm. Nhưng khi có một người phạm tội, đưa đến
Công an xử lý, gia đình họ mua chuộc cán bộ Công an, thế
là kẻ phạm tội được xử một cách nhẹ nhàng hoặc thả
trôi theo thời gian. Hoặc Công an làm việc nghiêm túc, xử
lý điều tra rồi chuyển qua Viện Kiểm sát nhưng người ta
lo lót cho ông Viện trưởng nên vụ án rồi cũng chìm xuồng.
Trường hợp Công an, Kiểm sát thi hành đúng luật và đưa
lên Tòa án để xét xử, nếu các quan tòa được mua chuộc
sẽ tuyên bố trắng án, hoặc tuyên mức án rất nhẹ so với
tội danh…. Như vậy, nếu người thi hành luật pháp không
có Đạo đức, luật pháp sẽ không đem lại hiệu quả.
Trở
lại vấn đề Đạo đức, khi nói đến các cán bộ tham nhũng,
chúng ta thường gặp trên các báo, nhất là báo Công an Thành
phố Hồ Chí Minh cụm từ “cần cái tâm trong sáng của người
cán bộ”. Nói đến cái tâm trong sáng của người cán bộ
nghĩa là nói đến Đạo đức của họ. Nhưng chúng ta thấy,
cái gọi là giáo dục Đạo đức ở nước ta cũng như trên
thế giới chưa ổn, chưa có đường lối rõ ràng, dứt khoát.
Bước chân đến trường, học sinh được học rất nhiều
môn, thậm chí có những môn quá nặng nề so với độ tuổi
của các em, nhưng Đạo đức lại được học rất ít và
đó là môn được xem là không quan trọng. So với các môn
khác như Toán , Văn, Ngoại ngữ…, môn Đạo đức chỉ là
môn hệ số 1. Đó là lý do vì sao học sinh không tập trung
học tập và rèn luyện Đạo đức. Bởi vậy, ở nhiều nước
trên thế giới trong đó có nước ta, biết bao thế hệ con
người lớn lên nhưng không được giáo dục Đạo đức một
cách kỹ lưỡng. Một xã hội cứ tiếp tục sản sinh và lớn
lên những con người không được dạy kỹ về Đạo đức,
xã hội ấy sẽ hỗn loạn, Đạo đức ngày càng suy đồi
và tội lỗi sẽ tràn lan.
Nếu
mỗi người được dạy Đạo đức từ nhỏ thì xã hội sẽ
tốt đẹp và lành mạnh biết bao nhiêu. Trước tình trạng
Đạo đức suy đồi như hiện nay, chúng ta luôn mong ước mỗi
đệ tử Phật phải trở thành một chiến sĩ trên mặt trận
Đạo đức. Nghĩa là tự mình sống rất Đạo đức và
truyền bá Đạo đức cho mọi người.
Trong
khi chúng ta vẫn cho rằng, đạo lý đạo Phật là đúng đắn
nhất, phong phú nhất và xuất hiện sớm nhất. Tạng kinh của
đạo Phật thật mênh mông, đồ sộ. So với những Đạo khác,
chúng ta thấy rằng, chỉ có đạo Phật mới có hệ thống
Kinh điển rất lớn cho đến bây giờ vẫn chinh phục được
tầng lớp trí thức. Nhiều nhà bác học khi đọc giáo lý
của đạo Phật đều chấp nhận và ngợi ca. Nhưng theo con
số thống kê sơ bộ, chúng ta thấy giữa đạo Phật và những
đạo khác có sự tương quan rất lớn về số lượng tín
đồ. Chẳng hạn, Hồi giáo xuất hiện sau đạo Phật một
ngàn năm. Hiện nay, họ có khoảng một tỷ hai trăm năm mươi
triệu tín đồ trên toàn thế giới. Đạo Thiên Chúa sau đạo
Phật khoảng sáu trăm năm. Hiện nay, họ có khoảng một tỷ
một trăm mười triệu tín đồ trên toàn thế giới. Trong
khi đó, đạo Phật xuất hiện sớm hơn hai Đạo này nhưng
hiện nay chỉ có không tỷ ba trăm năm mươi triệu tín đồ
trên toàn thế giới.
Nguyên
nhân chính là do đâu? Do những người tu hành như chúng ta
không làm hết trách nhiệm, bổn phận của mình. Không ít
người đến với đạo Phật chỉ lo tu cho bản thân mình,
thờ ơ với mọi người, không thiết tha với sự nghiệp truyền
bá Chánh pháp. Vì vậy, trước tình trạng này, chúng ta không
được tu một cách thụ động như trước nữa, phải mạnh
mẽ hơn. Mỗi người phải sống vị tha, siêng năng dạy dỗ
truyền bá để cho ánh sáng Phật Pháp được lan tỏa khắp
mọi nơi.
Những người chưa hiểu đạo Phật, đi theo đạo khác, không
phải ai cũng tìm được chân lý của mình. Nếu được về
với đạo Phật, họ sẽ trong sáng hơn, thanh thản hơn. Bởi
vậy, nếu để thêm một người bước sang con đường khác
là lỗi của chính chúng ta, nhất là khi họ được dẫn đi
theo con đường của bạo lực, con đường của mê tín, mù
quáng.
Phật
hóa gia đình là vấn đề rất quan trọng trong việc hoằng
hóa Phật pháp. Hễ một người biết đạo Phật, người ấy
phải làm cho cả gia đình theo đạo Phật. Chúng ta phải dạy
điều đó cho các Phật tử, dứt khoát không để xảy ra tình
trạng mình biết đạo Phật nhưng những người trong gia đình
muốn đi đâu đi. Để họ rơi vào tà kiến, rơi vào tội
lỗi, không tin Nhân Quả, không kính trọng Phật Pháp, không
những là điều thiệt thòi cho họ mà còn là lỗi của chúng
ta. Cho nên, một người trong nhà biết Đạo, phải làm cho
tất cả mọi người đều biết Đạo. Nhất là những em bé,
nếu từ nhỏ đã biết lễ Phật, đã quy y Tam Bảo, lớn lên
chắc chắn sẽ có một cuộc đời tốt đẹp đồng thời
sẽ là một người tốt cho xã hội. Chúng ta phải hiểu rằng,
nếu để lại cho con cái một gia tài đồ sộ mà không để
lại Trí tuệ hay Đạo đức, gia tài ấy rồi cũng sẽ bị
phá cho tiêu tan. Nhưng nếu để lại phước, để lại Đạo
đức cho con cái, thì kiếp này đến những kiếp sau, nó sẽ
được sung sướng, an vui.
Vậy, sức mạnh nào khiến người Phật tử mạnh dạn đem
hết cả gia đình mình vào đạo Phật ? Tất nhiên, sức mạnh
ấy không phải tự nhiên mà có. Chính những người tu hành
chúng ta đã truyền sức mạnh đó cho họ. Khi có lý tưởng
thiết tha tu hành và tích cực ra làm việc, giáo hóa, chúng
ta sẽ truyền cho Phật tử sức mạnh, niềm tin giúp họ cảm
hóa được mọi người trong gia đình. Như vậy, việc Phật
pháp không được phục hưng, không được phát triển trước
hết là do lỗi của người xuất gia. Đây là điều chúng
ta phải nhìn thấy và phải lưu ý.
Khi thấy những kẻ tội phạm, trộm cướp, giết người…,
chúng ta phải tự nghĩ ra cách nào đó để cải hóa tâm hồn
họ, làm cho họ trở nên lương thiện. Tuyệt đối chúng ta
không ghét ai cả. Chẳng hạn, khi nghe có tên cướp khét tiếng,
giết người cướp của không ghê tay bị đem ra xử tử, chúng
ta không thấy thấy hả hê mà cảm thấy lòng mình xót xa.
Vì họ cũng là người như bao con người khác nhưng chỉ vì
trong tâm có chủng tử của tội lỗi mà trở thành một kẻ
cướp của giết người. Nếu cũng với con người đó, vẫn
mái tóc bồng bềnh đó, vẫn đôi mắt, đôi tay khỏe mạnh
đó, nhưng tâm của họ được thay bằng những tư tưởng
Đạo đức, chắc chắn họ sẽ trở thành con người tốt
cho xã hội.
Như vậy, lỗi không phải ở tòan bộ con người họ mà là
ở Tâm của họ, mà Tâm là cái có thể thay đổi được.
Cho nên, chúng ta không bao giờ được ghét bỏ ai, kể cả
người gây nhiều tội lỗi. Chúng ta phải suy nghĩ, phải băn
khoăn tìm cách làm cho họ tốt hơn. Đây chính là trách nhiệm
của người tu hành.
Ở Ấn Độ có trường hợp cho phép người ta vào dạy Thiền
trong nhà tù. Trước kia, có nhiều vị Thầy đã vào nhà tù
để giảng Đạo cho tù nhân. Ở nước ta, việc này chưa làm
được, nhưng chúng ta phải nghĩ đến điều đó, nghĩ đến
việc cải hóa Đạo đức cho phạm nhân. Chúng ta đừng nghĩ
cứ trừng phạt cái thân của họ, giam giữ đày đọa cái
thân của họ sẽ làm họ thay đổi. Một khi tâm chưa thay
đổi thì những việc làm đó mới chỉ chỉ là nắm cái ngọn
mà thôi .
Là người tu theo đạo Phật, chúng ta phải luôn mơ ước mọi
người đều hiểu luật Nhân Quả. Muốn vậy, chúng ta phải
vận động Nhà nước, nhà trường đưa Đạo đức - Nhân
Quả vào trong học đường dạy cho học sinh để trẻ thấm
nhuần Đạo đức từ bé. Nếu từ nhỏ được dạy Nhân Quả
nghiệp báo, những đứa trẻ ấy lớn lên sẽ là người tốt,
biết cân nhắc thiện ác, tội phước. Vì sở dĩ người ta
sống tội lỗi là vì họ không tin Nhân Quả, tội phước.
Thực
ra, hiện nay rất nhiều người, trong đó có những cán bộ,
công an tin là có Nhân Quả. Nhiều giáo viên theo đạo Phật
cũng tin Nhân Quả là có thật. Nhưng chưa ai dám chính thức,
công khai nói mạnh điều ấy trong nhà trường vì sợ vi phạm.
Chúng ta thấy Nhân Quả là điều có thật, là sự công bằng
của cuộc đời. Điều quan trọng là làm sao đưa được môn
học này vào trong nhà trường, dạy cho học sinh từ lớp 1
đến lớp 12. Được như vậy, xã hội sẽ thay đổi, sẽ
có rất nhiều người tốt xuất hiện trong cuộc đời này.
Đây là ước mơ của tất cả chúng ta. Hy vọng rằng, mơ
ước này sớm trở thành hiện thực.
Hiện
nay, tình trạng Đạo đức của Tăng Ni có dấu hiệu xuống
cấp. Bởi vậy, dạy môn Tâm lý Đạo đức là để phục
hồi lại Đạo đức cho Tăng Ni. Mong rằng, sau khi ra trường,
nhiều người sẽ tiếp tục dạy Tâm lý Đạo đức cho thế
hệ Tăng Ni khác để cây Đạo đức mãi mãi nở hoa trong đạo
Phật và trong lòng người.
5. ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA ĐỜI SỐNG VỊ THA CỦA NGƯỜI HƯỚNG
VỀ GIẢI THOÁT VỚI NHỮNG NHÀ TỪ THIỆN LỚN CỦA CÁC TÔN
GIÁO.
Giữa đời sống vị tha của người hướng về Giải thoát
trong đạo Phật với những nhà từ thiện lớn thuộc các
tôn giáo khác đều có điểm giống nhau là có lòng tốt, lòng
thương người ( hy vọng là như vậy). Nhưng giữa hai đối
tượng ấy cũng có những điểm khác. Trước hết, đạo Phật
hướng về mục tiêu Vô Ngã tuyệt đối, còn những nhà từ
thiện khác không có mục tiêu đó.
Thứ hai, khác nhau ở quan điểm, cách nhìn về thế giới (thế
giới quan). Đạo Phật thấy thế giới này là tạm bợ. Trong
khi đó, những nhà từ thiện kia lại thấy thế giới này
là thật. Vì thấy là thật nên họ xây dựng thế giới này
cho tốt đẹp. Chúng ta, tuy thấy thế giới này là giả, là
tạm bợ nhưng vẫn thương yêu con người, vẫn xây dựng thế
giới này tốt đẹp.
Một
sự khác nhau nữa là khác ở sự thực hành Thiền Định.
Chúng ta thực hành Thiền Định, kiểm soát những tâm niệm
bí mật để thoát khỏi mọi ham muốn về danh tiếng, mọi
ước mơ về quả báo.
6. LÀM GÌ ĐỂ GIẢI THOÁT VÀ GIẢI THOÁT ĐỂ LÀM GÌ?
Đây
là câu hỏi cuối cùng chúng ta phải đặt ra khi nói về vấn
đề Giải thoát. Chúng ta sống vị tha để được Giải thoát
và Giải thoát cũng để sống vị tha. Nhưng nếu chỉ hướng
về Giải thoát cho riêng mình, đó là sự vị kỷ. Nếu thiếu
Đạo đức thì sự tu hành của chúng ta chỉ là công phu của
ngoại đạo. Bởi vậy, chúng ta phải nhớ rằng, Đạo đức
là vấn đề rất quan trọng.
Và điều quan trọng cuối cùng chúng ta phải luôn tâm niệm
là cả cuộc đời mình, dù Giải thoát hay chưa Giải thoát,
đều phải làm lợi ích cho chúng sinh.