ĐỐ
KỴ
1.
ĐỊNH NGHĨA.
Đố
kỵ ( trong đạo Phật gọi là tật đố )là thù ghét những
ai hơn mình, những ai được nhiều quyền lợi hơn mình. Ở
đây chúng ta không gọi là tật đố vì nghe có vẻ xa lạ
với những người bên ngoài, dùng chữ đố kỵ phổ thông
hơn, dễ hiểu hơn.
Tâm
đố kỵ rất nguy hiểm cho cuộc đời tu hành của chúng ta.
Người nào không thoát được tâm này thì ba đường ác sẽ
mở ra, không biết ngày nào sẽ kéo mình đi xuống. Vì tâm
đố kỵ nguy hiểm như vậy nên người tu không được coi
thường.
Dấu
hiệu dễ thấy nhất của tâm đố kỵ là thái độ khó chịu
khi thấy người khác hơn mình. Ví dụ, trong lớp học, thấy
có người huynh đệ học giỏi hơn mình, được nhiều điểm
tốt hơn mình, chúng ta cảm thấy khó chịu. Khi sự khó chịu
làm chúng ta bực bội, cảm thấy ghét người kia thì đó chính
là đố kỵ. Tất nhiên, khi lòng có sự bực bội nghĩa là
trong tâm đã tiềm tàng sự đố kỵ.
Thường
khi đang còn là học Tăng, mọi việc đã có quý Thầy lớn
lo, quyền lợi cũng giống nhau nên chúng ta không bận tâm việc
gì cả, cũng không có gì phải hơn thua, ganh ghét. Nếu có
hơn thua nhau cũng chỉ là hơn thua ở điểm số. Nhưng khi ra
ngoài làm việc, bắt đầu có chút quyền lợi, chúng ta không
tránh khỏi sự hơn thua, đụng chạm quyền lợi với người
này người khác. Nếu không biết tu, lúc đó tâm đố kỵ
sẽ xuất hiện và chúng ta sẽ thấy thù ghét người hơn mình.
Đây là một tâm vô cùng bất thiện, thậm chí có thể gọi
là ác tâm. Người có tâm đố kỵ không thể nói đến chuyện
giải thoát, giác ngộ, chỉ chờ ngày đọa địa ngục mà
thôi. Tâm đố kỵ rất nguy hiểm và hậu quả của nó cũng
thật khủng khiếp.
Vì
vậy, bây giờ tuy chưa gánh vác việc gì lớn lao nhưng chúng
ta phải chuẩn bị điều này. Sau này, khi đã tu hành tốt,
bắt đầu có những trách nhiệm, có uy tín, có ảnh hưởng
với mọi người, chúng ta phải cẩn thận. Nếu không diệt
trừ được tâm đố kỵ, khi đụng chạm với người khác
chúng ta để tâm đố kỵ khởi lên sẽ vô cùng nguy hiểm.
Theo
định nghĩa thì đố kỵ là thù ghét những ai hơn mình. Vậy
những cái hơn đó là gì?
Cái
hơn thứ nhất là về tài năng. Tài năng là điều làm cho
người ta hay ganh tỵ với nhau. Vì tài năng thường đem lại
danh dự, đem lại thành công cho con người. Và tất nhiên,
thành công đó cũng đem lại lợi ích về vật chất. Vì vậy,
nếu ai đó hơn mình về tài năng, tự nhiên chúng ta cảm thấy
người đó có danh tiếng hơn mình, uy tín cũng hơn mình, sự
thành công cũng vượt hơn, có ảnh hưởng lớn hơn và sẽ
thu hoạch được vật chất nhiều hơn. Trong khi đó, tâm lý
sâu thẳm của con người là chỉ muốn hơn chứ không bao giờ
muốn thua kém người khác cho nên nảy sinh tâm đố kỵ.
Ví
dụ, trong lớp chúng ta đang học sẽ có người học kém, có
người học giỏi. Đây là giai đoạn chúng ta hay có sự đố
kỵ về tài năng, về sức học. Nếu thấy người nào học
giỏi hơn, được tin tưởng, được khen ngợi nhiều hơn mà
trong lòng mình cảm thấy có sự bực bội khó chịu, chúng
ta biết rằng mình đã có tâm đố kỵ, phải nhanh chóng diệt
trừ. Nếu cảm giác này chưa xuất hiện nhiều, chúng ta cũng
cần phải đề phòng, tránh để tâm đố kỵ xuất hiện sau
này gây nên những hậu quả nguy hiểm.
Sự
đố kỵ thường xảy ra với những đối tượng cùng trang
lứa. Khi đang còn là học Tăng, chúng ta không đố kỵ với
quý Thầy lớn vì họ là những người đi trươc, có giỏi
hơn cũng là điều đương nhiên. Lúc này, chúng ta chỉ ganh
tỵ với những huynh đệ đồng học nhưng hơn mình. Khi lớn
lên, được giữ chức vụ gì đó, chúng ta bắt đầu ganh
với lớp người ngang với mình. Với lớp đàn em, chúng ta
không còn để ý ganh tỵ trừ những người học sau, tu sau
mà tỏ ra giỏi hơn, tỏ ra qua mặt mình.
Trong
môi trường tu hành, vấn đề này còn nhẹ nhàng nhưng ở
ngoài đời, người ta sống chết, tranh giành hơn thua với
nhau từng ly, từng tí và tạo thành những nghiệp khủng khiếp.
Tuy nhiên, dù không khốc liệt như ngoài đời, nhưng tâm đố
kỵ tồn tại trong môi trường tu hành sẽ làm cho Phật pháp
ngày càng suy yếu vì không có sự đoàn kết tạo nên sức
mạnh. Trong một đất nước cũng vậy, nếu con người có
tâm hẹp hòi, hay đố kỵ lẫn nhau thì đất nước sẽ suy
yếu, không tập hợp được sức mạnh.
Nhìn
vào lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, chúng
ta sẽ thấy rõ điều này. Những năm tháng đất nước bị
ngoại xâm, toàn dân có chung một kẻ thù nên cùng chung lưng
đấu cật, góp sức người sức của đấu tranh chống kẻ
thù, giành lại giang sơn xã tắc. Nhưng khi đã đuổi được
kẻ thù ra khỏi bờ cõi, con người bắt đầu quay lại tranh
giành quyền lực, ganh tỵ, chống đối lẫn nhau. Đó là tâm
đố kỵ. Chính tâm đố kỵ này đã làm cho con người không
tập hợp được sức mạnh để xây dựng đất nước ngày
càng phát triển, ngược lại còn làm cho đất nước thêm
suy yếu.
Nói
ra điều này càng thêm buồn lòng nhưng đây là một sự thật.
Người Việt Nam chúng ta còn bị tâm đố kỵ rất nặng nề.
Hễ thấy ai giỏi hơn là cảm thấy khó chịu, đố kỵ, ganh
ghét và tìm cách chỉ trích, chống đối, mưu hại lẫn nhau,
triệt hạ lẫn nhau. Cứ như vậy, bản thân người hay đố
kỵ đã không làm gì được nhưng người có tài cũng không
phát huy được năng lực của mình. Đất nước, vì thế cũng
không phát triển được.
Trong
khi đó, cũng là con người như chúng ta nhưng châu Âu lại
có sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật rất cao, xây dựng
được những công trình vĩ đại. Sở dĩ như vậy vì tư tưởng
của họ rất thoáng. Một phát minh khoa học có thể là kết
quả lao động miệt mài, tận tụy của nhiều nhà khoa học.
Hoặc có thể đó là sự kế tục công trình của người đi
sau đối với người đi trước. Điểm hạn chế của chúng
ta là không phát huy được sức mạnh trí tuệ của nhiều
nguời. Khi gian khổ có thể chung tay góp sức, đồng tâm hiệp
lực nhưng khi yên bình, sung sướng lại đấu đá, giành giật
với nhau.
Điều
này cũng đã đi vào trong Phật pháp. Thực tế cho thấy, tình
trạng ganh ghét, đố kỵ giữa người này với người khác,
nhóm này với nhóm khác, chùa này với chùa khác đã làm cho
Phật pháp chia rẽ, không tập hợp được sức mạnh. Ví dụ,
một người đang là giảng sư giỏi, có nhiều uy tín bỗng
phát hiện ra ở chùa kia cũng có một giảng sư từ đâu về,
cũng nổi danh, được nhiều người mến mộ, ngợi ca. Cho
rằng vị giảng sư kia đang giành ảnh hưởng, uy tín, quyền
lợi với mình, người này cảm thấy khó chịu, đâm
ra thù ghét và tìm cách chỉ trích, công kích.
Chính
sự thù ghét, chỉ trích công kích đó đã gây nên sự nghi
kỵ, chia rẽ trong Phật pháp và làm cho Phật pháp ngày càng
suy yếu. Thật đáng tiếc ! Vì nếu không vì lòng đố kỵ,
chống đối lẫn nhau làm giảm hiệu quả làm việc của mỗi
người, những người tài giỏi ấy biết hợp lại với nhau
sẽ làm được biết bao nhiêu điều lớn lao cho Phật pháp.
Có
những vấn đề mà mười người không thông minh bàn mãi,
bàn mãi cũng không giải quyết được. Nhưng những người
thông minh thật sự, khi hợp lại, bàn với nhau thì sẽ phát
hiện ra được nhiều điều rất độc đáo mà một mình họ
không nghĩ ra. Có những trường hợp chỉ cần một người
giỏi thôi cũng giải quyết được tất cả, những người
khác cứ thế làm theo. Trong khi đó, nhiều người họp bàn
với nhau lại không đem lại hiệu quả vì không biết tôn
trọng ý kiến của nhau.
Nếu
người tu chúng ta biết quý nhau, tôn trọng nhau, hợp lại
thì sẽ xây dựng được nhiều điều tốt đẹp cho Phật
pháp và có lợi cho chúng sinh. Ngược lại, nếu có tài mà
cứ ganh tỵ với nhau vì cá nhân mình, không những chúng ta
làm cho tài năng của mình và người bị giảm bớt mà còn
gây thiệt thòi cho Phật pháp, cho chúng sinh. Như vậy, chẳng
những không ai được phước lại còn mang nặng nghiệp.
Tóm
lại, tài năng là giá trị trên cao của một con người nên
là khởi điểm dễ khiến người ta giành giật, ganh tỵ với
nhau.
Một
yếu tố nữa khiến người ta có thể ganh tỵ với nhau là
tiền bạc. Nhắc đến tiền bạc, sự giàu có, chúng ta không
thể không nghĩ đến “Công tử Bạc Liêu”. Đây là nhân
vật có thật nhưng xung quanh sự thật về cuộc đời Trần
Trinh Huy (Công tử Bạc Liêu), người ta đã dựng nên không
biết bao nhiêu giai thoại. Trong những câu chuyện về Công
tử Bạc Liêu có chuyện ganh nhau về tiền bạc và muốn chứng
tỏ mình giàu giữa Công tử Bạc Liêu (Hắc Công Tử) và Phước
Georges (Bạch Công Tử)- đệ nhất phong lưu ở Mỹ Tho. Trong
Công tử Bạc Liêu- Sự thật và giai thoại, Phan Trung Nghĩa
kể: “Một bận, gánh hát cải lương Phước Chương của
Bạch Công tử về Sóc Trăng hát, Bạch Công tử liền mời
Hắc Công tử lên xem. Vãn hát, Bạch Công tử tổ chức ăn
nhậu với Hắc Công tử… Đang nhậu, Một người nào đó
đánh rơi một vật dưới gầm bàn rồi cúi xuống mò tìm
trong bóng tối. Thấy vậy, Bạch Công tử liền móc tờ giấy
con công (năm đồng) đốt làm đuốc soi cho tìm vật đánh
rớt. Với ý chơi khăm và cũng để “giật le” trước hai
người đẹp, Hắc Công tử liền bật hộp quẹt đốt tờ
giấy bộ lư (100 đồng) cũng để làm đuốc (thuở ấy ai
có tờ giấy bạc bộ lư là đã bị “lính kín” theo dõi”.
Chuyện đã lan truyền thành giai thoại “Công tử Bạc Liêu
đốt tiền”. Tiền bạc có thể làm cho người ta ganh nhau
đến mức ngông cuồng như vậy.
Trong
cuộc sống của người thế gian, chúng ta cũng gặp rất nhiều
trường hợp ganh ghét, đố kỵ với nhau về tiền bạc. Chẳng
hạn, lâu nay mình sống trong ngôi nhà hai tầng sang trọng,
bề thế không nhà nào sánh được. Bỗng nhiên, một hôm bên
cạnh mọc lên ngôi nhà ba tầng sừng sững. Từ đó, đi ra
đi vào chúng ta cảm thấy khó chịu vì nhà mình thấp hơn.
Tất nhiên, việc người ta xây ngôi nhà ba tầng lầu như vậy
chẳng ảnh hưởng gì đến mình, chẳng làm mình thiệt thòi
điều gì. Nhưng cảm giác khó chịu xuất hiện là do bản
thân mình cảm thấy bị mất thể diện. Đó là tâm hơn thua
của con người.
Người
tu chúng ta cũng vậy. Có người trong tâm chưa diệt sạch đố
kỵ nên đôi lúc cũng có sự khó chịu trước thành công của
người khác. Có khi đó là sự thi đua, hơn thua về thể diện,
lúc nào cũng muốn mình nổi bật hơn người khác. Trong bài
Khiêm hạ, khi nói về vấn đề danh dự, chúng ta đã khẳng
định người tu chân chính không đặt vấn đề danh dự, không
đặt vấn đề thể diện. Nhưng nếu không tu tỉnh, chúng
ta vẫn xem điều đó là quan trọng nên cảm thấy phải có
sự hơn thua. Chính điều đó làm chúng ta phiền não và tạo
nghiệp.
Điều
thứ ba để con người ganh tỵ với nhau nữa là địa vị.
Ở ngoài đời, vấn đề này có thể làm cho con người giành
giật lẫn nhau bất kể sống chết. Vì địa vị, chức vụ,
người ta có thể giết hại lẫn nhau. Trong lịch sử thế
giới, chúng ta từng nghe kể về những vụ ám sát Tổng thống.
Có những vụ xuất phát từ động cơ chính trị nhưng cũng
có những vụ do tranh giành địa vị, quyền lợi. Nhiều lãnh
tụ vì đụng chạm quyền lợi vẫn có thể bị người dưới
mưu sát. Đây là điều rất nguy hiểm.
Sự
ganh ghét, đố kỵ về địa vị dễ khiến con người nảy
sinh những suy nghĩ, những hành động bất thiện. Phim ảnh,
sách vở đã nói nhiều đến vấn đề này. Chẳng hạn, trong
một phim, một vị Tổng thống luôn bị người ta âm mưu lật
đổ, đã nói nửa đùa nửa thật trong một cuộc họp với
các cố vấn cao cấp: “Cái chết của Tổng thống làm cho
Phó Tổng thống quan tâm”. Vì Hiến pháp của Mỹ quy định:
Tổng thống chết, Phó Tổng thống sẽ lên thay. Câu nói đùa
của Tổng thống cũng ám chỉ vị Phó Tổng thống nào cũng
mong cho Tổng thống chết bất đắc kỳ tử để mình được
lên thay.
Trong
cuộc sống cũng vậy. Khi đang giữ chức phó gì đó,
người ta hay cầu mong người trưởng gặp bất trắc để
mình được thăng tiến. Vì vậy, nhiều khi thấy người trưởng
gặp nanï, họ không nói ra nhưng trong bụng mừng thầm. Hoặc
có khi ngấm ngầm cầu cho người ta tiêu tan mất, đừng tồn
tại nữa. Tuy không khởi thành hành động, cũng không thành
lời nói, chỉ ngấm ngầm ở trong tâm, nhưng đó là tâm ác
độc. Tất cả những điều đó đều xuất phát từ tâm đố
kỵ, hơn thua, tranh giành quyền lợi với nhau. Những người
có tâm như vậy không thể tu được, không thể giải thoát,
giác ngộ được.
Có
người kể rằng, khi còn đi học, vì là người học giỏi,
thường giúp đỡ bạn bè nên họ bị người khác (lúc bấy
giờ là lớp trưởng) ganh ghét và tìm cách hãm hại. Người
ta vu khống đủ điều khiến người này cũng bị khốn đốn
một thời gian. Nhưng về sau, gần hai mươi năm trôi qua, khi
người này đã đi tu, tình cờ đọc báo và biết rằng người
bạn cùng lớp năm xưa nay là công an đã bị bắt, bị kết
án mười sáu năm tù vì vi phạm pháp luật nặng nề. Ngày
xưa, anh ta lúc nào cũng mưu hại để người khác phải vào
tù. Bây giờ bản thân anh ta phạm tội nặng phải chịu cảnh
tù tội. Phải chăng, lòng đố kỵ đã hại con người nặng
nề như vậy ?
Người
tu chúng ta không đến nổi có những ác tâm như vậy, nhưng
nếu không khéo tu, vẫn có sự ganh tỵ hơn thua với nhau về
vị trí, về chức vụ và cũng tìm cách triệt hạ nhau một
cách ngấm ngầm, thấp kém, không xứng đáng là người xuất
gia. Đây là trường hợp rất đáng sợ nên chúng ta phải
cẩn thận .
Ví
dụ, trong chúng, mình là người tu trước, tuổi hạ cao nhưng
không được giao chức trưởng chúng. Điều đó làm chúng
ta cảm thấy bực bội. Sự bực bội đó chính là đố kỵ
- điều làm cho chúng ta gây nghiệp. Trong phạm vi này, những
biểu hiện của sự đố kỵ xuất hiện chưa nhiều. Nhưng
về sau, khi bước ra làm việc, bắt đầu giữ chức vụ gì
đó trong chùa, trong Giáo hội… thì việc so sánh hơn thua giữa
chức này, chức kia sẽ làm cho chúng ta cảm thấy khó chịu
nhiều hơn và tâm đố kỵ dễ khởi phát hơn.
Trong
Phật pháp, có khi chúng ta cũng gặp nhiều sự đố kỵ, xỉa
xói của người đời khi chúng ta đem khả năng mình đóng
góp nhiệt tình vào việc chung. Nếu không vững tâm, có khi
ta sẽ dao động, sợ hãi và lui bước. Vì tránh né sự đố
kỵ của người mà ta đành phải hủy bỏ công đức, cũng
là một sự thất bại. Chúng ta nên quan niệm rằng nếu đóng
góp được, chúng ta cũng nên nhiệt tình đóng góp, miễn đừng
tự cao, đừng vì danh lợi. Vì người tu vẫn còn sự đố
kỵ nên chúng ta cẩn thận, đề phòng, đừng gây sự khó
chịu cho người chung quanh khi ta đóng góp được nhiều cho
cộng đồng. Còn riêng trong tâm, lúc nào chúng ta cũng mong
có được nhiều người hơn mình, không bao giờ muốn tranh
giành bất cứ điều gì với ai để tránh đi ý niệm đố
kỵ.
Nếu
ai cũng biết đem khả năng của mình ra đóng góp thì cộng
đồng này, xã hội này hay Phật pháp sẽ tốt đẹp biết
chừng nào. Nhưng chính vì còn tồn tại những điều đố
kỵ nên nhiều người không dám bộc lộ khả năng của mình.
Đó cũng là điều bất lợi, điều thiệt thòi cho tất
cả mọi người, cho Phật pháp. Sống trong môi trường có
quá nhiều đố kỵ, hơn thua, chỉ có những người can đảm
mới không sợ sự ganh ghét, đố kỵ, mạnh dạn đem khả
năng của mình ra cống hiến cho xã hội, cho Phật pháp. Có
lẽ trong hai cách sống- im lặng, không làm gì để tránh sự
đố kỵ và can đảm chấp nhận đố kỵ - chúng ta nên chọn
cách sống thứ hai. Vì nếu cứ cảm thấy khó chịu khi đụng
chạm với người xấu, nếu cứ sợ bị ganh ghét đố kỵ
mà chúng ta bỏ cuộc thì xã hội này sẽ rơi vào tay những
người xấu, rất nguy hiểm. Những người quân tử, những
người tốt thường mắc phải bệnh này. Vì vậy, sống trong
môi trường hơn thua, đố kỵ, ganh tỵ đủ điều, chúng ta
cố gắng trụ lại, cố gắng chịu đựng để có thể đóng
góp được nhiều điều tốt cho đất nước.
Một
nguyên nhân nữa cũng khiến cho người ta đố kỵ là danh tiếng.
Chúng ta vẫn biết danh tiếng là cái rất hão huyền nhưng
người ta vẫn cứ tranh giành, hơn thua, đố kỵ với nhau.
Ngài Động Sơn trước khi tịch có nói một câu: “Ta
có tiếng tăm ở đời, danh tiếng ở đời, ai vì ta mà dẹp
được”. Nghe vậy, một vị Tăng bước ra đảnh lễ và nói:
“ Hòa thượng cho con xin”. Lúc ấy, ngài Động Sơn mới
trả lời rằng: “ Tiếng tăm của ta đã hết”.
Thực
ra, Ngài muốn thử xem các đệ tử của mình ngộ đạo đến
mức nào. Người đã ngộ đạo sẽ biết tiếng tăm là chuyện
hão huyền, không có thật, không phải là cái gì cụ thể.
Bởi vậy, khi đứng ra nói: “ Hòa thượng cho con xin” nghĩa
là vị Tăng kia đã hiểu được điều này. Làm sao Hòa thượng
có thể đưa cho đệ tử mình cái danh tiếng vốn hão huyền
đó được ? Trả lời: “Tiếng tăm ta đã hết” là Hòa
thượng muốn khen vị Tăng đã hiểu đúng ý nghĩa của danh
tiếng. Người xưa quả rất thâm thuý. Chỉ một câu nói ngắn
gọn nhưng đã thể hiện được trí tuệ cao siêu của một
bậc giác ngộ.
Danh
tiếng là hão huyền, không có thật tại sao con người cứ
phải tranh giành nhau? Sở dĩ người ta chấp ghê gớm và giành
giật với nhau về danh tiếng vì họ chưa đủ trí tuệ để
thấy được nó là hão huyền. Chúng ta phải tu hành làm sao
để thấy được tiếng tăm là hão huyền như vị Tăng kia.
Sự
giành giật danh tiếng cũng tuỳ theo cấp độ. Ví dụ, chúng
ta có tâm rất tốt, phát nguyện đi về một vùng xa xôi nào
đó để giáo hóa. Sau một thời gian dài giảng giải, giáo
hóa, chúng ta được nhiều người hâm mộ, quý mến, phát
tâm tu theo Phật pháp. Thời gian cứ thế trôi qua. Bỗng một
hôm, chúng ta nhận ra số người nghe mình giảng Pháp giảm
xuống. Hỏi ra mới biết có một thầy khác từ đâu mới
đến cũng giảng pháp rất hay, nhiều người thích và đến
đó nghe giảng. Nghe như vậy, chúng ta cảm thấy khó chịu
trong lòng vì sự xuất hiện của người này vừa có sự hơn
thua danh tiếng, vừa đụng chạm đến quyền lợi của mình.
Nếu có tiếng tăm, người đó sẽ được san sẻ quyền lợi,
sự cúng dường mà bấy lâu nay thuộc về độc quyền của
ta ở khu vực đó.
Như
vậy, mặc dù tu rất tốt nhưng chúng ta vẫn không kiểm soát
được tâm mình, không diệt trừ được đố kỵ. Khi có người
xuất hiện gần như giành quyền lợi với mình, tâm đố kỵ
của chúng ta đã khởi lên ngay. Phải chăng, việc giảng pháp
hay, làm lợi ích chúng sinh thực chất chỉ che đậy những
tham vọng tiềm tàng của riêng mình, không thực lòng vì Phật
pháp, vì chúng sinh ? Vì nếu thật lòng thương yêu chúng sinh,
khi nghe có thêm người giảng hay, chúng ta phải vui mừng. Ở
đây, chúng ta lại sợ mất uy tín, mất ảnh hưởng, mất
quyền lợi của mình. Đây chính là tâm đố kỵ. Chúng ta
phải cẩn thận điều này. Nếu thấy chúng sinh được lợi
ích, chúng ta phải vui mừng dù họ được hóa độ bởi bất
cứ ai.
Hiểu
được điều này, ngay từ bây giờ chúng ta phải đề phòng
tâm đố kỵ. Mỗi đêm, chúng ta phải phát nguyện độ cho
tất cả chúng sinh. Mỗi khi ăn cơm, chúng ta cũng: “nguyện
đoạn nhất thiết ác, nguyện tu nhất thiết thiện, nguyện
độ nhất thiết chúng sinh”. Nhưng chúng ta phải cẩn thận
khi nguyện độ cho chúng sinh được giác ngộ giải thoát.
Vì có khi việc nguyện đó chỉ vì quyền lợi, vì danh tiếng
của mình chứ không phải vì chúng sinh. Nghĩa là chúng ta muốn
chỉ một mình độ chúng sinh chứ không muốn có ai cùng làm
việc đó.
Như
vậy, tùy mức độ những người bằng mình hay hơn mình mà
tâm đố kỵ xuất hiện để chúng ta cố gắng vươn tới,
giành tới. Ở mức độ thấp (khi còn là Tăng Ni sinh), nếu
có tâm đố kỵ hơn thua cũng chỉ ganh tỵ hơn thua với nhau
trong vấn đề học hành. Khi lớn lên ra làm việc, tùy theo
mức độ, phạm vi làm việc mà người ta ganh tỵ nhau. Ví
dụ, nếu nổi tiếng ở mức độ làm việc trong tỉnh, chúng
ta không ganh tỵ với những người nổi tiếng ngoài tỉnh,
nổi tiếng cả trong nước, mà chỉ ganh với người trong tỉnh.
Khi tiếng tăm đã lớn đến tầm quốc gia, đất nước thì
chúng ta bắt đầu ganh tỵ với những người nổi tiếng ở
mức độ cả nước, còn người trong tỉnh chúng ta không còn
quan tâm, ganh tỵ nữa. Đến khi nổi tiếng khắp thế giới,
chúng ta lại không ganh tỵ với người trong nước mà ganh
tỵ với những người nổi tiếng cả thế giới như mình….
Bạn
lữ cũng là yếu tố làm cho con người đố kỵ với nhau.
Khi thấy người khác có nhiều bạn trong khi mình chẳng có
ai quan tâm, thăm hỏi, chúng ta ngấm ngầm bực bội. Đó cũng
là đố kỵ.
Ở
đây chúng ta phải hiểu rằng, người được nhiều người
mến đều có nguyên nhân. Đó là cái phước, cái duyên với
chúng sinh. Có thể đời trước họ có duyên với nhiều người
nên bây giờ người ta cứ tìm đến. Còn chúng ta, có thể
kiếp trước thích ẩn tu nên bây giờ ít ai biết đến. Nếu
không biết nguyên nhân, chúng ta sẽ sinh lòng đố kỵ. Khi
có ai hỏi đến họ, chúng ta sẽ tỏ thái độ bực bội hoặc
nhiều khi nói xấu, chỉ trích. Đây là điều rất nguy hiểm.
Một
yếu tố nữa cũng khiến người ta ganh tỵ với nhau là nhan
sắc. Điều này ít xảy ra ở người nam nhưng lại phổ biến
ở người nữ. Chẳng hạn, một cô gái mỗi ngày soi gương
nhận thấy mình đẹp nhất nhì thiên hạ nhưng ra đường
chỉ toàn nghe người ta khen người khác đẹp, cô ta cảm thấy
trong lòng bực bội. Ngược lại, nếu được ai khen đẹp,
cô sẽ cảm thấy vui sướng vô cùng.
Vậy,
nguyên nhân làm cho tâm đố kỵ xuất hiện là gì?
Nguyên
nhân là do ngã chấp. Tất cả mọi phiền não, lầm lỗi của
con người đều xuất phát từ chấp ngã ban đầu.
Tuy
nhiên, chấp ngã chỉ là nguyên nhân chung. Thật sự, ngoài
chấp ngã còn có nhiều nguyên nhân khác. Chấp ngã phát sinh
ra nhiều bệnh, trong đó có bệnh tự tôn. Đây là bệnh rất
kỳ quái. Nó không phải là kiêu mạn. Kiêu mạn là dựa vào
một ưu điểm của mình để thấy mình hơn người và có
cảm giác thích thú bởi việc hơn thua đó. Còn tự tôn là
tự cho mình hơn mọi người mặc dù chính mình không có điểm
gì đặc biệt. Chúng ta thường bắt gặp trường hợp này
nơi những người không có tài năng, danh vọng, tiền bạc
nhưng luôn thích làm ra vẻ quan trọng, lúc nào cũng thấy mình
hơn người khác.
Vì
không muốn thua ai, nhưng không có cách nào để hơn người
nên người này hay xuất hiện tâm lý thù ghét những ai hơn
mình. Sở dĩ như vậy vì họ sợ bị thua thiệt, mất quyền
lợi, mất ảnh hưởng. Đây cũng là vị kỷ.
Như
vậy, chấp ngã đưa đến tự tôn (không muốn thua người
khác)và vị kỷ (muốn có quyền lợi hơn người khác). Tự
tôn cộng với vị kỷ sẽ đưa đến đố kỵ (thù ghét
những người hơn mình).
Cũng
có trường hợp kiêu mạn dẫn đến đố kỵ. Vì kiêu mạn,
chúng ta nghĩ rằng mình hơn tất cả mọi người nhưng
khi có người giỏi hơn xuất hiện, chúng ta sinh lòng đố
kỵ, thù ghét họ. Hiểu được điều này, chúng ta cố gắng
sống một đời vị tha, thương yêu tất cả mọi người,
không tự tôn, không kiêu mạn, lúc nào cũng thấy mình thấp
bé để tâm đố kỵ không xuất hiện.
2.
ĐỐ KỴ KHIẾN NGƯỜI TA GÂY NHÂN XẤU NẶNG NỀ.
Việc
đầu tiên mà người có tâm đố kỵ hay làm là thích chỉ
trích để hạ uy tín của người giỏi, người làm được
việc.
Ví
dụ, nghe người ta khen thầy nào đó giảng hay, được nhiều
Phật tử mến mộ, chúng ta liền chỉ trích, nói xấu. Có
thể người ta chưa tin ngay điều mình nói nhưng niềm tin,
lòng kính trọng đối với vị thầy kia phần nào sẽ bị
giảm sút. Khi đến nghe Pháp, họ không còn nghe trọn lòng
nữa. Như vậy, sự chỉ trích để triệt hạ uy tín lẫn nhau
sẽ làm thóai tâm nhiều người khác. Đó là điều rất tai
hại.
Hậu
quả của tâm đố kỵ rất nặng nề nhưng nhân quả rõ nhất
là chúng ta sẽ mất tâm đạo. Có người kiếp trước từng
tu rất tốt nhưng bây giờ mất hết đạo tâm, không tu hành
được nữa, sống không nhà, không cửa, không vợ con, lang
thang hết nơi này đến nơi khác… Đó là nhân quả của việc
nói xấu người khác, nói xấu những vị Tôn túc, làm cho
Phật tử thoái tâm.
Vì
lời chê bai, chỉ trích làm người ta chia rẽ, làm Phật tử
thóai tâm, góp phần làm cho Phật pháp suy tàn nên chúng ta
không nên nói xấu chỉ trích, ngược lại cần phải khen nhiều
hơn. Ví dụ, khi Phật tử đến thăm chùa, chúng ta nên khen
các thầy trong chúng. Nếu họ có hỏi về thầy nào, chúng
ta cũng tìm những hạnh tốt để khen. Tất nhiên, sống trên
đời không ai tránh được khuyết điểm, nhưng chúng ta tránh
nói khuyết điểm, chỉ nói ra những ưu điểm nhằm giúp Phật
tử tăng thêm tín tâm với đạo. Vì trong chùa có nhiều người
tốt, người ta sẽ tin Phật pháp là tốt đẹp. Hơn nữa,
những lời khen ấy cũng tạo thành phước rất lớn cho chúng
ta.
Những
người làm giảng sư rất dễ có phước vì khi giảng, thế
nào họ cũng ca ngợi Đức Phật, ca ngợi các vị Thánh Tăng.
Một lời họ nói ra không phải chỉ một hai người nghe mà
rất nhiều người nghe. Do đó, phước họ có được là vĩnh
viễn, đời đời. Lời khen rất dễ có phước. Nhưng nếu
người giảng sư đứng trên bục giảng cứ công kích người
này, nói xấu nguời kia thì sẽ bị tổn phước, không còn
giảng được nữa, không còn tiếng tăm uy tín nữa. Những
người viết sách cũng vậy. Viết sách ca ngợi Phật, ca ngợi
chư Tăng, họ sẽ được đời đời hưởng phước. Nói chung,
phước khen ngợi Đức Phật có thể kiếp sau mới được
hưởng nhưng nghiệp chê người này, chỉ trích người kia
chúng ta sẽ bị đọa ngay trong hiện tại.
Việc
hay chỉ trích, công kích, chê bai không những làm cho chúng
ta tổn phước, làm thoái tâm những người khác mà tai hại
hơn nữa còn khiến Phật pháp (điều tốt) không phát triển
được. Phật pháp phát triển được hay không là do sự phát
tâm của từng người, từng ngôi chùa, từng đạo tràng. Nếu
mỗi người thoái tâm một chút, nếu mỗi người cứ đố
kỵ, chỉ trích để triệt hạ uy tín lẫn nhau, chúng ta sẽ
không phát huy được sức mạnh và làm cho Phật pháp suy tàn.
Cộng
với tâm ác độc, người đố kỵ có thể mưu hại người
khác một cách hèn hạ. Ngoài đời, ác tâm của con người
thật kinh khủng. Vì tranh hơn thua với nhau, họ sẵn sàng dùng
bất cứ thủ đoạn gì để giết hại nhau. Người tu có thể
còn tâm đố kỵ nhưng ác độc không nhiều vì biết tin Nhân
Quả. Ngay đến việc giết một con vật nhỏ chúng ta còn không
dám, làm sao có thể dám hại con người. Nhờ biết tin và
sợ Nhân Quả, quả báo nên lâu ngày, tâm ác của chúng ta
cũng giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên, nếu không biết tu, không
kiểm soát tâm mình, không có lý tưởng giải thoát thật sự
thì khi có nhiều quyền lợi quá, người tu chúng ta vẫn tranh
giành với nhau, vẫn có thể hại nhau đến mất hết uy tín,
đến tiêu tan cả sự nghiệp.
Chẳng
hạn, ở một vùng nọ có một Thầy chánh đại diện vì muốn
vị trí mình vững vàng không ai giành được nên khi thầy
nào có năng lực muốn xin về đó ông ta đều tìm cách triệt
hạ ngay từ đầu. Đó chính là đố kỵ, sợ đụng chạm
quyền lợi, cũng là một mưu hại, tuy chưa nặng lắm. Nếu
ác tâm mạnh hơn nữa, họ có thể vu khống người ta vi phạm
chính trị để mọi người nghi ngờ đuổi đi nơi khác hoặc
để công an bắt giam.
Chúng
ta còn nhớ câu chuyện Lục Tổ Huệ Năng được trao y bát.
Ngài được Tổ Hoàng Nhẫn trao cho y bát nhưng phải truyền
trao một cách lén lút vào lúc nửa đêm. Rồi sau đó Tổ phải
đưa Ngài ra sông để trốn đi luôn. Tại sao như vậy? Vì
Tổ Hoàng Nhẫn không tin vào tâm của chúng mình. Họ vẫn
còn đố kỵ nhiều quá. Nói ra điều này chúng ta cũng cảm
thấy đau lòng vì không hiểu vì sao thời đó gần Tổ mà
con người vẫn còn tâm đố kỵ nặng nề như vậy. Có thể
nhiều khi họ rất hiểu Thiền lý nhưng những quan điểm về
Đạo đức vẫn chưa vững nên vẫn còn đố kỵ khi thấy
người ta hơn mình.
Phân
tích tâm đố kỵ của những người trong chúng đối với
Lục Tổ Huệ Năng, chúng ta thấy có nhiều lý do. Tổ Huệ
Năng là một cư sĩ mới đến chùa được sáu tháng, mới
hơn hai mươi tuổi trong khi những người khác đã xuất gia
ít ra cũng trên hai, ba chục năm, hạ lạp y áo đàng hoàng.
Vậy mà Tổ Huệ Năng được trao y bát, tương lai sẽ được
giữ địa vị Tổ- một địa vị quá lớn lao, bao nhiêu người
từng ao ước. Điều này đã làm cho họ không thể chịu đựng
nổi. Lòng đố kỵ cộng thêm sự tự ái đã làm cho sức
mạnh tăng lên dữ dội nên họ đã đuổi theo giành lại y
bát. Thái độ của họ rất hùng hổ, sẵn sàng đánh giết
để đoạt y bát trở lại. Đó cũng là tâm ác.
Trong
khi đó, ngài Thần Tú vẫn rất nhẹ nhàng. Ngài là người
có Đạo đức. Sau khi trình bài kệ không được Ngũ Tổ chấp
nhận, Ngài cũng bình an ở lại giữ núi. Khi Ngũ Tổ tịch,
Ngài vẫn tiếp tục tu hành, dạy chúng bình thường và sau
này cũng rất nổi tiếng. Sự đạt ngộ của Ngài có thể
không bằng ngài Huệ Năng nhưng Ngài có công phu tu hành chân
chính, có Đạo đức rất vững. Ngài cũng có sở đắc tâm
linh, cũng nhập định rất tốt. Khi còn ở trong chúng,
ai cũng nể phục tài đức của Ngài. Họ tin chắc rằng, ngoài
Ngài ra không ai xứng đáng được nhận y bát. Quả thật,
Ngài cũng xứng đáng với sự tin yêu đó. Nhưng ngài Huệ
Năng lại quá đặc biệt, quá siêu việt nên đã lãnh mất
y bát khiến những người chúng dưới không chịu nổi. Còn
ngài Thần Tú vẫn bình thản, coi như không có chuyện gì xảy
ra vì Ngài tin vào sự chọn lựa của Thầy mình.
Truyện
Thái Dương Sơn Bình Thị Giả quật mồ ngài Minh An- thầy
mình - trong Thiền Lâm Bảo huấn cũng cho chúng ta bài học
về lòng đố kỵ. Lúc bấy giờ, ngài Minh An thuộc về tông
Tào Động. Ngài là một Thiền Sư nổi tiếng đến mức ngài
Phần Dương Thiện Chiêu - thuộc tông Lâm Tế - phải cho những
đệ tử của mình qua đó tham học. Chúng ta biết rằng, tông
Lâm Tế rất nổi tiếng và ít nể phục ai. Vậy mà thời
đó ngài Phần Dương là người nối tông Lâm Tế chính tông
lại cho đệ tử mình sang học với thầy Minh An. Điều này
chứng tỏ ngài Minh An rất giỏi đồng thời cũng cho chúng
ta thấy Đạo đức của cổ nhân. Những bậc đạo sư đúng
nghĩa là như vậy. Họ không có sự riêng tư. Đọc chuyện
này, chúng ta nể phục ngài Minh An bao nhiêu càng kính trọng
ngài Phần Dương Thiện Chiêu bấy nhiêu.
Khi
sang học, hai đệ tử của tông Lâm Tế được ngài Minh An
khen ngợi. Ngài còn nói hai người đó sẽ nối Pháp của Ngài
làm cho tông Tào Động được hưng thịnh. Nhưng hai vị từ
chối vì cho rằng ngài Bình Thị Giả mới thực sự là người
tài giỏi. Hai vị đã ngộ đạo mà khen như vậy chứng tỏ
ngài Bình Thị Giả cũng đã ngộ đạo. Vì trong Thiền tông,
người đã ngộ đạo chỉ cần dùng trực giác để nhìn hoặc
nghe người khác nói một vài câu sẽ biết ngay người đó
đã ngộ hay chưa. Nhưng ngài Minh An lại không công nhận ngài
Bình Thị Giả ngộ đạo. Ngài nói: “Vì trong đây không tốt,
sau này sẽ chết ở đây”. “Ở đây” là trong bàn tay của
mình, người Trung Hoa còn gọi là hổ khẩu tức miệng cọp.
Nghĩa là Ngài muốn nói ngài Bình Thị Giả tâm không tốt
nên sau này sẽ chết ở miệng cọp.
Chuyện
cứ thế trôi qua. Trước khi chết, ngài Minh An nói với mọi
người: “Khi ta chết cho đến mười năm, không có chuyện
gì. Nhưng sau mười năm sẽ có Thái Dương Sơn đánh ta.”
Nói xong, Ngài ngồi tịch một cách tự tại vì Ngài đã đắc
đạo cao siêu. Sau đó, thân Ngài được đem vào nhập tháp
trong tư thế ngồi như thế. Ngài Bình Thị Giả tiếp nối
trụ trì, gọi là Thái Dương Sơn Bình Thị Giả. Nhưng không
hiểu vì sao càng ngày ông càng đố kỵ với cái tháp của
thầy mình. Hình như ông cảm thấy cái tháp có vẻ uy nghi,
đẹp đẽ sừng sững đứng trấn ở vị trí đó khiến ông
không phát được. Thời gian cứ thế trôi qua, lòng đố kỵ
với thầy mình của ngài Thái Dương Sơn càng ngày càng lớn.
Cho đến mười năm sau, cảm thấy lòng đố kỵ đã đủ,
ông nói: “Cái tháp Tiên sư để đây với ta có chướng ngại,
thôi quật cái tháp đi, lấy xác thiêu và đem cốt vào thờ”.
Chúng không chịu nhưng ông vẫn ra lệnh quật tháp. Điều
ngạc nhiên là dù chết đã mười năm nhưng cơ thể ngài Minh
An vẫn còn tươi tắn, hồng hào, râu tóc vẫn ra dài. Đây
là điều rất độc đáo. Những vị khác tịch mười năm
có thể nhục thân không hoại nhưng sẽ bị khô đi. Thân thể
Ngài Minh An vẫn tươi như còn sống nên chất củi đốt cũng
không thể cháy được. Thần lực Ngài Minh An để lại thật
khủng khiếp! Thấy như vậy, Thái Dương Sơn bèn lấy búa
rìu dùng chẻ củi chém xả vào đầu, vào thân ngài Minh An
cho đến khi tan nát. Sau đó, ông tưới dầu vào và đốt cho
thân thể tiêu tan.
Hành
động cầm búa rìu chém vào nhục thân thầy mình mười năm
không hoại ấy đã khiến cho mọi người không ai chịu đựng
nổi. Quá đau lòng, những người còn lại trong chúng đã chạy
lên báo với quan huyện. Rất may, vị quan này vốn kính thờ
ngài Minh An. Nghe tin, ông rất giận dữ sai quân lính đến
lột y và đuổi Thái Dương Sơn ra khỏi chùa, không cho làm
người tu nữa. Quả báo đã đến ngay tức khắc như vậy
và ông ta đã hết phước làm Tăng. Sau đó, Bình Thị Giả
đổi tên là Hoàng Tú Tài và đi nơi khác sống. Nhưng đi đến
đâu, ông cũng không được trọng dụng. Một hôm, đi đến
ngã ba đường, ông bị cọp vồ chết đúng như lời ngài
Minh An đã nói trước kia.
Lòng
đố kỵ cộng với ác tâm khiến người ta có thể làm nhiều
chuyện động trời như vậy.
Ở
mức độ nhẹ hơn, người có tâm đố kỵ thường quấy phá
lặt vặt nhằm hạ uy tín của người khác. Ví dụ, cùng học
với nhau, nhưng thấy người kia làm bài được nhiều điểm
hơn, người có tâm đố kỵ sẽ tìm cách lấy bớt một vài
trang trong bài làm của họ xé bỏ đi. Người kia không hay
biết, vẫn mang bài đến nộp nên không được điểm cao.
Hoặc thấy một huynh đệ được thầy trụ trì quí mến,
vì đố kỵ, họ cảm thấy bực bội. Đến phiên người ấy
nấu bếp, họ phá bằng cách lấy muối bỏ thêm vào nồi
canh vv….
Trong
Góp nhặt cát đá có câu chuyện về người mù và Thiền Sư
Bankei. Thiền Sư Bankei dạy đạo ở một ngôi chùa.
Trước cổng chùa có một người mù. Tuy không nhìn thấy nét
mặt của người khác nhưng người mù có cái tai rất nhạy
và chỉ cần nghe tiếng nói, ông có thể đánh giá được
tâm trạng người khác, biết họ thật tình hay không. Ông
từng nói: “Khi nghe một người khen sự thành công của người
khác, tôi cũng nghe được cái bí mật trong lòng họ, đó là
một sự ganh tỵ. Khi nghe một người chia buồn với nỗi đau
khổ của người khác, tôi vẫn nghe được trong tâm họ cái
bí mật của một sự vui mừng hả hê.” Ông nói: “Chỉ
có Thiền Sư Bankei khi khen ai một điều gì, hay chúc mừng
ai một điều gì, tôi nghe trọn lòng chân thành, sự vui mừng
của Ngài. Khi nghe Ngài tỏ sự buồn bã đối với nỗi buồn
của ai, tôi nghe trọn vẹn cái nỗi buồn như thế”.
Vì
tu thiền kiểm soát được tâm vững chắc, kỹ lưỡng nên
Thiền Sư Bankei có lòng thương người rất chân thành, không
đố kỵ. Câu chuyện nhằm khen ngợi đức tính ấy của ông.
Cái
tâm của con người là như vậy. Thấy người nào thua mình
thì vui mừng, thấy ai hơn mình dù mở miệng khen nhưng trong
lòng vẫn có sự bực bội. Hoặc thấy người hơn mình bị
nạn, tâm vui mừng một cách lộ liễu hoặc thầm kín.
Ví
dụ, người nữ hay hơn thua nhau về sắc đẹp. Thấy người
kia được nhiều người khen đẹp, người này cũng khen nhưng
trong lòng ấm ức, bực bội. Đó là khen không thật tình vì
lòng không thật vui khi thấy người ta đẹp hơn mình. Hoặc
nghe tin người có tài năng, có danh tiếng hơn mình bị tai
nạn, chúng ta không dám bộc lộ niềm vui một cách lộ liễu
nên miệng vẫn xuýt xoa: “Tội nghiệp” nhưng trong lòng lại
vui mừng quá đỗi vì từ nay ông ta không đi giảng được
nữa, không hơn mình được nữa. Đó là tâm bí mật của
con người.
Từ
trong thâm sâu, chúng ta phải cố gắng kiểm soát tâm để
khi thấy sự thành công của người khác, chúng ta xem như đó
là thành công của chính mình; trước niềm vui của người
khác, chúng ta cũng vui như chính niềm vui của mình. Vì vậy,
trong bài Khấn nguyện chúng ta vẫn tụng hằng ngày có đoạn:
Xin
cho con sung sướng
Khi
thấy người thành công
Hoặc
gây tạo phước lành
Như
chính con làm được
Chúng
ta tụng như vậy là để diệt lòng đố kỵ, khởi được
tâm tùy hỷ trước sự thành công của người khác.
Tâm
đố kỵ có quả báo rất kinh khủng. Có lẽ chúng ta còn nhớ
câu chuyện về Tôn giả Losaka Tissa bị quả báo đói kém.
Vào thời Đức Phật Ca Diếp, Ngài là một trụ trì ở một
tinh xá đầu làng. Ngài cũng hiền lành, cả làng chỉ có mình
Ngài ở ngôi chùa đó. Một hôm, một vị trưởng lão Alahán
đi đến làng và gặp vị địa chủ. Người địa chủ này
sau khi nói chuyện, thấy vị Tôn giả này quá trí tuệ bèn
thỉnh thọ cơm rồi nói:
-
Thưa Tôn giả, đầu làng này có một ngôi tinh xá, xin Tôn
giả hãy đến đó nghỉ ngơi, chiều con sẽ đến thăm Tôn
giả.
Vị
Tôn giả Alahán đến tinh xá gặp vị trụ trì. Sau khi chào
nhau, vị trụ trì hỏi:
- Ngài
đã dùng cơm ở đâu chưa?.
Hòa
Thượng trả lời:
- Thưa
Ngài, tôi có dùng cơm ở nhà vị trưởng làng.
Chiều
hôm đó, người địa chủ mang cơm, thức ăn, sữa và một
số vật phẩm đến cúng dường hai vị và đảnh lễ xin nghe
Pháp của Tôn giả Alahán. Vị trụ trì thấy vậy rất khó
chịu.
Sau
khi đảnh lễ và nghe pháp xong, người địa chủ đảnh lễ
thỉnh luôn hai vị:
- Con
xin thỉnh hai vị trưa mai đến nhà con thọ thực.
Cả
đêm đó, vị trụ trì không ngủ được vì bỗng dưng từ
đâu có người đến giành bớt Phật tử của mình. Sáng hôm
sau, ông dậy rất sớm để đến nhà người địa chủ nhưng
không gọi vị Tôn giả Alahán kia đi cùng. Thực ra, ông có
gõ cửa hai tiếng rất nhẹ, gõ nhưng cố ý không cho người
kia nghe.
Khi
đến nơi, người địa chủ hỏi:
- Vị
Tôn giả hôm qua đâu?.
Vị
trụ trì trả lời:
- Hôm
qua ông ăn cái gì đó chắc còn đầy bụng, tôi có gọi mà
ông không dậy.
Câu
nói tuy nhẹ nhưng là một lời chỉ trích, nói xấu làm cho
người nghe có cảm giác vị Tôn giả kia ăn no, ngủ quên không
chịu tu hành. Ăn xong, vị địa chủ lấy riêng một bát thức
ăn và nói:
- Con
mong thỉnh Ngài, Ngài đem về cho vị kia giùm con.
Đi
giữa đường, gặp đám than hồng người ta đang đốt, ông
đổ tất cả bát cơm vào đó. Lúc bấy giờ, ở tinh xá, vị
Tôn giả Alahán đã biết tất cả mọi chuyện. Thấy ông này
quá đố kỵ, ông đắp y, mang bát bay lên hư không qua vùng
khác ở và không về đó nữa.
Về
đến nơi không thấy vị kia, vị trụ trì giật mình nghĩ:
“Hay là vị này đã chứng đạo biết được tâm ta đố
kỵ nên bỏ đi không ở lại. Ôi, ta vì ngu si đã làm một
chuyện lầm lỗi”. Sau đó, ông buồn rầu, hối hận rồi
chết.
Khi
chết, ông xuống địa ngục mấy ngàn năm, bị thiêu đốt
ở đó. Hết nghiệp địa ngục, ông lên làm quỷ đói, trong
năm trăm năm không hề được ăn một miếng gì trừ cái bào
thai chết của người ta trục ra một hai lần. Sau khi mãn năm
trăm năm ngạ quỷ, ông bị đọa làm chó năm trăm đời. Trong
thời gian làm chó, không bao giờ ông được người ta cho ăn
uống đàng hoàng, chỉ được ăn khi người ta nhậu say nôn
ói ra ngoài. Con chó ấy gầy ốm rồi chết. Sau đó, được
trở lên làm người. Nhưng nơi ông được sinh ra, cả
làng luôn mang tai hoạ. Ông bị người ta đuổi ra khỏi làng,
sống lang thang vất vưởng. Sau này, ông gặp Đức Phật (lúc
đó Ngài còn là Bồ Tát). Ngài giáo hóa theo Phật để củng
cố lại nhân duyên với Phật pháp.
Trong
kiếp cuối cùng thời Đức Phật sinh ra đời, ông cũng được
sinh ra tại một làng đánh cá. Vào ngày ông ra đời, không
ai đánh được một con cá nhỏ nào, hồ nước dự trữ cho
làng cũng bị cạn, một số nhà trong làng bỗng nhiên bốc
lửa cháy, rồi tự nhiên vua ra lệnh bắt cả dân làng….Những
chuyện xui cứ tới dồn dập. Thế là người ta nghĩ trong
làng đã xuất hiện một người nào đó xúi quẩy, phải tìm
cách loại ra. Lúc đầu, họ chia làng thành hai phần độc
lập, không giao thiệp với nhau nữa. Phân nửa làng không có
ông thì làm ăn phát đạt trở lại, còn nửa làng kia vẫn
tiếp tục bị xui xẻo. Thế là, phân nửa làng đó lại được
chia làm đôi. Cứ thế, cuối cùng chỉ còn lại gia đình ông.
Họ đuổi gia đình đó ra khỏi làng và làng lại làm ăn trở
lại bình thường. Khi bị đuổi, người chồng đuổi luôn
người vợ ra khỏi nhà. Vì núm ruột mình đứt ruột đẻ
ra, người vợ không nỡ dứt bỏ nên cố gắng làm lụng nuôi
ông trong đói khổ. Khi ông lẫm chẫm cầm bình bát đi xa được,
bà sai con đi xin ăn và ở nhà bà trốn đi. Thế là từ ngày
đó, ông bắt đầu cuộc đời đói khổ, tự lập thân sống
như con quỷ ăn bùn. Nhiều khi chỉ xin được mấy hạt cơm
người ta làm rơi ở sàn nước để ăn cho đỡ đói. Đến
khi gặp ngài Xá Lợi Phất, bằng đạo nhãn, ngài Xá Lợi
Phất thấy rằng người này có duyên với Phật pháp, có thể
tu được dù nghiệp rất khắc nghiệt. Ngài hỏi:
-
Cha mẹ con ở đâu ?
-
Thưa, mẹ con vì con mà quá khổ sở nên đã bỏ con.
-
Con có muốn xuất gia không?
-
Lành thay Tôn giả! Nếu có thể cho con được xuất gia!.
Thế
là ngài Xá Lợi Phất đem ông về, cạo tóc cho xuất gia. Mặc
dù đã tu chứng Alahán nhưng suốt một đời, không bao giờ
Ngài được ăn no cho đến ngày chết.
Quả
báo đố kỵ kinh khủng, đáng sợ như vậy. Vì Ngài đã đố
kỵ với vị Alahán nên bị đoạ đày không biết bao nhiêu
kiếp.
Trong
cuộc sống, những người hay đố kỵ phải chịu nhiều quả
báo. Nếu không có tài năng, luôn ganh tỵ với người, đời
sau chúng ta sẽ không có tài năng. Thấy ai thành công, chúng
ta chỉ trích, bực bội thì đời sau, thành công sẽ không
đến, làm gì cũng thất bại. Bởi vậy, những người làm
việc hay thất bại thường do nhiều nguyên nhân nhưng trong
đó có nguyên nhân do đời trước có tâm đố kỵ nặng quá.
Ngoài ra, người có tâm đố kỵ còn chịu một quả báo nữa
là bị thân quyến bỏ rơi. Vì chỉ trích cho người ta bỏ
nhau, ghét nhau thì chúng ta sẽ chịu quả báo sống cô đơn,
bị người thân ghét bỏ. Và quả báo nặng hơn nữa là bị
đọa ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
3.
ĐỀ PHÒNG TÂM ĐỐ KỴ.
Tâm
đố kỵ đem lại quả báo khủng khiếp như vậy nên chúng
ta phải đề phòng, đừng để nó khởi phát. Nhưng đề phòng
tâm đố kỵ bằng cách nào?
Trong
phạm vi gần: Đối với những huynh đệ cùng lớp, cùng trường
và nhất là cùng trình độ với nhau, lúc nào chúng ta cũng
chân thành cầu mong huynh đệ hơn mình. Nếu lỡ học kém,
chúng ta cũng cầu mong cho huynh đệ mãi mãi hơn mình. Như thế,
chúng ta sẽ có phước và dần dần sẽ học giỏi hơn. Nếu
lúc nào cũng muốn hơn người, chúng ta sẽ ngày càng kém sút.
Khi
thấy huynh đệ được nhiều người mến (đắc nhân tâm),
chúng ta đừng phủ nhận mà phải tìm thấy ưu điểm nào
đã khiến họ được như vậy. Có thể họ có phước gì
đó trong quá khứ và ưu điểm gì đó trong hiện tại. Tìm
những ưu điểm của bạn để chúng ta học hỏi, tuyệt đối
không được chê bai, dè bĩu.
Trường
hợp huynh đệ mình có uy tín, được người lớn giao nhiệm
vụ (trông coi hương đăng, tiếp khách, tri sự, quản chúng…
), chúng ta phải tận tình phụ giúp để huynh đệ hoàn thành
tốt nhiệm vụ được giao. Chúng ta đừng vì ganh ghét mà
lén lút phá đám.
Sau
một thời gian tu hành, thấy huynh đệ mình tu tiến, ngồi
thiền được lâu, thuyết giảng hay…, chúng ta phải hoan hỷ
và thật lòng kính trọng. Vì người có trí tuệ, định lực
tăng tiến cũng chính là thầy mình.
Đối
với những huynh đệ kém hơn, chúng ta phải tận tình chỉ
dạy, không giấu giếm để huynh đệ vượt lên. Thâm tâm
chúng ta phải lúc nào cũng mong cho huynh đệ tốt hơn mình.
Nếu thấy huynh đệ nào chữ viết còn xấu, chúng ta chỉ
họ cách rèn từng chữ để dần dần chữ viết được đẹp
hơn. Hoặc thấy huynh đệ viết câu văn chưa chuẩn, chưa suông,
chấm câu còn tùy tiện…, chúng ta phải hướng dẫn họ nắm
lại những qui tắc ngữ pháp cơ bản vv… Nói chung, chúng
ta luôn tận tình chỉ dạy cho huynh đệ mình tiến lên.
Ở
phạm vi xa: (lúc trưởng thành làm việc lớn)
Đây
là lúc tâm đố kỵ dễ có điều kiện khởi phát nhất. Vì
lúc này, mối quan hệ của chúng ta rộng rãi hơn, quyền lợi
cũng nhiều hơn. Bởi vậy, chúng ta càng đề phòng tâm đố
kỵ cẩn thận hơn.
Khi
nghe có giảng sư nào thuyết pháp hay, được nhiều người
hâm mộ, chúng ta phải chân thành tìm thấy ưu điểm của
vị đó để tán thán, học hỏi. Có khi, giữa chúng ta và
người ấy không đồng quan điểm nhưng nếu họ được nhiều
người hâm mộ, khen ngợi, tán thán, chúng ta cũng phải tìm
hiểu nguyên nhân và chân thành học hỏi. Trước những ưu
điểm của người, chúng ta phải đảnh lễ, kính trọng. Có
như vậy, tâm đố kỵ mới bị tiêu trừ và chúng ta mới
có thể tiến bộ.
Đối
với những vị tu có kết quả tâm linh, chúng ta phải chân
thành kính trọng. Vì đó chính là những vị Thánh của cuộc
đời, là chỗ dựa cho chúng sinh. Làm một giảng sư hay không
bằng những người đắc định, ngộ đạo thật sự trong
tâm. Họ mới thật sự là chỗ dựa của chúng sinh. Có thể
người đó nhỏ tuổi hơn chúng ta, tu sau chúng ta nhưng nếu
họ đạt được kết quả tâm linh thì tận trong thâm tâm,
chúng ta phải xem họ là thầy mình và thật lòng kính trọng,
không được khởi tâm đố kỵ. Nếu gửi đến các bậc Thánh
lòng kính trọng, sau này chúng ta cũng sẽ đạt được nhiều
điều tốt lành.
Mặt
khác, chúng ta phải giới thiệu những vị có Tài Đức cho
nhiều người biết để cùng học hỏi. Chẳng hạn, bác Như
Sanh là người Hòa Hảo nhưng sách Bác viết rất hay và sâu
sắc. Khi giảng Pháp, nhờ giới thiệu cuốn sách cho nhiều
người biết, chúng ta đã làm được một điều tốt là tạo
mối quan hệ giữa Hòa Hảo và đạo Phật mặc dù lâu nay,
giữa hai đạo này vốn không có thiện cảm với nhau. Như
vậy, khi chân thành ca ngợi cái hay của người khác, chúng
ta sẽ góp phần làm cho thế giới này đoàn kết hơn.
Đối
với những người có chức vụ cao hơn mình, chúng ta cố gắng
phụ lực để giúp họ làm tròn trách nhiệm. Tận trong thâm
tâm, chúng ta không mong cầu tín đồ, tiền bạc, địa vị,
danh tiếng … vì tất cả chỉ là hư ảo. Vì không mong cầu
nên chúng ta không có cảm giác bị đụng chạm quyền lợi
với ai và không nảy sinh lòng đố kỵ khi thấy người khác
hơn mình.
Nói
tóm lại, tâm đố kỵ rất đáng sợ. Vì vậy, chúng
ta phải thương yêu mọi người chân thành, lúc nào cũng mong
mọi người hơn mình. Đó là những nguyên tắc để diệt
trừ tâm đố kỵ.