SỐNG
ĐƠN GIẢN
1.
ĐỊNH NGHĨA.
Sống
đơn giản là không sử dụng quá nhu cầu cho bổn phận của
mình.
Người
tu theo đạo Phật là đi tìm con đường giải thoát. Bởi vậy,
đời sống đơn giản là một Hạnh đẹp, một Hạnh cao cả
mà ai cũng tôn trọng. Đức Phật của chúng ta cũng như những
vị Thánh Tăng đều là những người có cuộc sống vô cùng
đơn giản.
Như
vậy, theo định nghĩa, chúng ta cần tránh được sự cực
đoan. Đó không phải là sự ép xác mà sống đơn giản đúng
với bổn phận của mình. Trong cuộc sống, có những cái cần
cho việc tu hành, chúng ta vẫn phải sử dụng. Chỉ lưu ý
một điều, chúng ta không vượt khỏi nhu cầu đó để trở
thành dư thừa, biến thành một đời sống xa hoa, sang trọng.
Đây là chỗ rất khéo mà người tu chúng ta phải cẩn thận.
Nói sống đơn giản không phải là ăn ít, mặc ít mà phải
chọn mức sống sao cho vừa đủ, sao cho phù hợp với cuộc
sống của mình. Trong cuộc sống, chúng ta vẫn cảm nhận rằng
người sống đơn giản, ít có nhu cầu, ít ham muốn là người
có cái gì đó tự tại hơn, thanh thản hơn những người sử
dụng quá nhiều thứ, sống có quá nhiều nhu cầu,.
Để
thực hiện một đời sống đơn giản, trước hết, chúng
ta phải xác định mình sống để làm gì và có nhu cầu gì
trong việc tu hành.
Với
chúng ta, sống là để tu. Tu là sửa, là tu dưỡng. Trước
hết, chúng ta phải sửa nội tâm mình. Làm sao từ chỗ còn
nhiều ý nghĩ bất thiện, chúng ta trở thành một con người
thánh thiện, từ chỗ hẹp hòi ích kỷ, chúng ta trở nên vị
tha hơn. Tu là tu dưỡng nội tâm. Vậy, chúng ta cần sử dụng
những gì cho việc tu hành nội tâm của mình? Đã là tu trong
tâm, chúng ta không đòi hỏi gì nhiều ở bên ngoài. Chỉ cần
cơm vừa đủ ăn để sống, quần áo vừa đủ để mặc,
chỗ ở cũng vừa đủ, không cần rộng rãi sang trọng.
Khoảng
sau Đức Phật vài thế kỷ, một vị triết gia tên là Điôzen
xuất hiện. Ông sống gần Hy Lạp, ở vùng Trung Đông. Đời
sống của ông vô cùng đơn giản, giáo lý của ông thể hiện
ở cuộc sống tự tại, giải thoát. Có thể xem ông là một
vị Bồ Tát nào đó của đạo Phật đầu thai qua, vì ông
có cuộc sống rất giống với đạo Phật. Thời đó, đời
sống vật chất của con người còn rất đơn giản, chưa có
những tiện nghi trong sinh hoạt. Ông chỉ có một mảnh áo
che thân và một cái bát để uống nước. Một lần, trên
đường đi, ông nhìn thấy người ta cúi xuống múc nước
bằng hai tay để uống. Ông cảm thấy cái bát mình đang dùng
là thừa nên quăng đi. Nghĩa là ông hạn chế nhu cầu về
vật dụng đến mức tối đa. Mọi người rất nể phục ông
bởi đời sống tự tại, đơn giản như vậy. Khi khuyên một
vài lời về đạo lý, ông vẫn làm cho người ta được hạnh
phúc, được an lạc, được lợi ích. Do đó, tiếng đồn
lan ra khắp nơi.
Lúc
bấy giờ, Alexandre Đại đế đem quân chinh phục khắp nơi.
Ông chiếm hết vùng Trung Đông, qua Ấn Độ. Khi đánh chiếm
vùng Trung Đông, xứ của Điôzen, ông nghe đồn có một triết
gia nổi tiếng, bèn tìm đến. Ở đây, nhiệt độ dao động
rất mạnh, có mùa trời nóng như thiêu như đốt, có mùa lại
lạnh thấu xương. Lúc này, vùng Trung Đông rất lạnh. Ông
kiếm một thùng gỗ, ban đêm chui vào đó đóng cửa lại,
nằm ngủ, ban ngày ra ngoài sưởi nắng. Đây là phương pháp
tốt nhất để giải cái lạnh thấm vào cơ thể mà thiên
nhiên ban tặng cho con người.
Khi
ông đang ngồi phơi nắng, vua Alexandre cùng đoàn tùy tùng cưỡi
ngựa đi tới. Từ xa, trông thấy một ông lão ngồi ung dung,
tự tại, râu tóc dài xõa xuống, trên người có một tấm
áo quấn quanh, đẹp rực rỡ dưới ánh mặt trời, ông bèn
xuống ngựa, chầm chậm đi tới. Đằng sau ông, đoàn tùy
tùng cũng làm như vậy. Đến nơi, nhà vua hỏi:
-Ngài
có phải là Điôzen?”
-Phải,
Ngài cần gì?- Ông từ tốn đáp.
Hai
bên chỉ trao đổi vài câu ngắn ngủi, nhưng phong thái ung
dung tự tại, bình thản của Điôzen khiến vua Alêchxăng cảm
phục. Vì ông là một Đại đế, bách chiến bách thắng, nghe
danh ông, ai cũng sợ hãi, chỉ có ông già lọm khọm, râu ria
lồm xồøm này liếc nhìn ông với ánh mắt bình thản. Ông
cảm phục vô cùng. Sau vài câu ngắn ngủi, ông hỏi:
-Thưa
Ngài, Ngài có cần gì không?
Hỏi
như vậy vì nhà vua nghĩ rằng, mình là một ông vua bách chiến,
bách thắng, uy danh khắp thiên hạ, dưới tay có không biết
bao nhiêu là tài sản. Nếu ông Điôzen cần gì, Ngài sẽ
tặng ngay.
Nghe
hỏi như vậy, vị triết gia trả lời :
-Có,
cần Ngài xích qua một chút, đừng che ánh mặt trời mà tôi
đang sưởi, tôi rất cám ơn.
Thì
ra, nhà vua và đoàn tùy tùng đến từ hướng đông, đứng
một loạt che hết ánh nắng buổi sáng của ngài Điôzen. Nghe
vậy, vua quay sang nói với đoàn tùy tùng: “Nếu ta không là
Alexandre Đại đế, ta sẽ là Điôzen”.
Theo
quan niệm bây giờ, triết gia là người hay lý luận, hay triết
lý. Nhưng ngày xưa, khái niệm triết gia chỉ dành cho những
người có đời sống tâm linh rất cao, như một chân sư bên
Ấn Độ. Ông Điôzen là người như thế, là một triết gia,
có đời sống đơn giản, ai ai cũng kính phục. Nhà vua đã
nhìn thấy được đời sống vô cùng đơn giản, thanh thoát
ung dung tự tại, toát ra một cái gì vô cùng cao cả của vị
triết gia. Ông cũng ước ao, thèm khát cuộc sống ấy. Nhưng
vì đã trót làm một ông vua, ở một ngôi vị quá vĩ đại,
ông không nỡ từ bỏ địa vị vua chúa của mình. Nếu không
có địa vị này, ông sẽ đi tìm một đời sống hết sức
tự tại, hết sức giải thoát như vị triết gia kia. Rõ ràng,
không phải chúng ta bênh vực, đề cao triết lý của đạo
Phật mình, vì đó là câu chuyện ngoài đạo Phật.
Câu
chuyện giữa một triết gia và một vị vua cho chúng ta thấy
rằng, người sống được một đời sống đơn giản là người
rất cao cả. Nghĩa là người đó vượt trội hơn những người
thường, những người thích sống sung sướng. Sở dĩ chúng
ta thích sung sướng, bởi trong thẳm sâu tâm hồn mình có một
bản năng hưởng thụ, khát khao hạnh phúc. Đây cũng là điều
hợp với lẽ tự nhiên và được luật pháp công nhận, bảo
vệ. Trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, Hồ Chủ Tịch
cũng đã trích dẫn lời trong Tuyên ngôn độc lập của nước
Mĩ :“ Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng.
Tạo hoá đã cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm
được. Trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự
do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Mưu
cầu hạnh phúc là quyền tự do của con người, được tạo
hóa ban cho và được luật pháp công nhận. Bởi vậy, trong
thâm sâu con người ai cũng muốn sung sướng, muốn ăn ngon,
mặc đẹp, ở nhà cao cửa rộng, muốn có quyền hành, muốn
được mọi người khen ngợi…. Đó là điều bình thường,
thậm chí đã trở thành tầm thường. Người nào vượt qua
được cái bản năng hưởng thụ, không muốn sung sướng,
không cần hạnh phúc cho chính mình, người đó đã vượt
khỏi cái tầm thường để trở nên cao cả. Đó là người
thắng được bản năng hưởng thụ tồn tại trong mỗi con
người. Những người như vậy, được người đời tôn sùng
là những bậc Thánh nhân, những triết gia cao siêu.
Chúng
ta sống là để tu. Nếu tu nội tâm, chúng ta không cần nhiều
nhu cầu, chỉ sống rất đơn giản. Tuy nhiên, ngoài tu tâm,
chúng ta còn làm nhiều việc khác để tu. Chẳng hạn, tụng
kinh cũng là một hình thức tu. Khi tụng kinh, chúng ta thường
tụng ở chánh điện, trước bàn thờ Phật. Như vậy, chúng
ta bắt đầu nảy sinh những nhu cầu: Cần có tượng Phật,
có bàn thờ Phật, cần phải cất cho bàn thờ trang nghiêm….
Khi có bàn thờ Phật, chúng ta thấy rằng không thể để tượng
Phật ngoài trời nên phải cất nhà để che tượng Phật,
rồi xây chùa có chánh điện. Nếu tụng kinh ban đêm, chúng
ta cần có ánh sáng, cần có bóng đèn. Vào mùa nắng nóng,
chúng ta lại cần thêm quạt. Dần dần, thấy chánh điện
không làm nền đàng hoàng, chúng ta cũng không yên tâm nên
phải cố gắng lát bằng gạch bông vv…. Cứ thế, cũng cho
việc tu nhưng dần dần mọi cái trở nên rắc rối.
Câu
chuyện về một đạo sĩ tu hành ở Ấn Độ làm nhiều người
phải suy nghĩ. Ông tu rất tốt, đời sống cũng rất đơn
giản. Ông sống trong một hang động, không làm gì chỉ lo
tu và đi khất thực. Từ cái hang, nơi ông ở, vào làng cũng
khá xa. Mỗi lần khi đi khất thực, ông thường xin nhiều
để dành trong một cái bao nấu ăn dần dần. Khoảng một
tuần, mười ngày, ông trở xuống làng xin. Cuộc sống như
vậy thật đơn giản. Nhưng rắc rối đã xảy ra bắt đầu
từ mấy con chuột. Vì có thức ăn để dành nên lũ chuột
kéo đến quấy phá. Vị Đạo sĩ cảm thấy phiền toái, ông
cần một con mèo. Bởi vậy, khi vào làng khất thực, ông xin
thêm con mèo về nuôi. Thức ăn chay vốn đơn giản, con mèo
không chịu ăn. Vì là mèo con, ông nghĩ cần nhất là cho uống
sữa. Sống xa làng bản, lấy đâu ra sữa cho mèo, ông thấy
cần phải nuôi thêm một con bò. Khi có thêm bò, ông phải
bớt thời gian tu để chăn bò và vắt sữa cho mèo, để mèo
giữ thức ăn cho ông.
Thời
gian trôi qua, bao nhiêu chuyện rắc rối xảy ra. Đến lúc bò
bệnh, chửa đẻ…, ông phải chăm sóc, phải dắt đi ăn.
Lúc này, ông không có thời gian nấu cơm. Một Phật tử có
lòng cảm mộ xin đến ở công quả, nấu cơm cho Thầy. Đó
cũng là nhu cầu chính đáng nên ông đồng ý. Nhưng vấn đề
là cô Phật tử ở đâu, vì chỉ có một cái hang nhỏ. Thế
là, ông ta phải cất một căn nhà cho đàng hoàng. Dần dần,
ông có thêm vài chú tiểu lo lắng việc trong, việc ngoài.
Như vậy, bắt đầu từ mấy con chuột mà sinh ra lắm chuyện
phức tạp, rắc rối.
Câu
chuyện có thể là không có thật. Nhưng kể như vậy là người
ta muốn nói rằng, cũng là cho việc tu nhưng chúng ta sẽ cần
điều này, điều nọ. Từ nhu cầu này, chúng ta sẽ kéo theo
những nhu cầu khác. Vì vậy, trong quá trình tu hành, chúng
ta phải cẩn thận, đừng vì những nhu cầu phục vụ cho việc
tu mà chúng ta phải mất thì giờ, phải làm cho tâm khuấy
động. Nói như vậy để chúng ta lưu ý. Khi phát sinh những
nhu cầu, chúng ta phải cẩn thận, xem có thật sự cần hay
không. Có những lúc chúng ta phải chịu đựng, kiềm chế
những nhu cầu để giữ được cuộc sống đơn giản. Trong
cuộc sống tu hành, nhiều khi cũng có những thiếu thốn, khó
khăn nhưng khi giải quyết được khó khăn lại phát sinh bao
nhiêu phiền toái khác. Nếu chịu đựng một chút rồi tất
cả cũng sẽ qua, chúng ta sẽ giữ được đời sống đơn
giản để tu hành. Hơn nữa, chúng ta sống đơn giản là để
tiết kiệm phước. Dĩ nhiên, trong kiếp trước chúng ta cũng
đã từng làm phước nên bây giờ mỗi người đều có phước
để tích luỹ. Chúng ta phải tiết kiệm phước để sau này
làm được nhiều việc lớn lao, có lợi cho Đạo.
Từ
định nghĩa về sống đơn giản, chúng ta cần xem xét hai điều:
Một là nhu cầu, hai là bổn phận của mình. Chúng ta phải
biết mình đang cần những gì, xem những cái đó có quá nhu
cầu, quá bổn phận của mình hay không. Nếu vừa đủ hoặc
thiếu thốn một chút, chúng ta còn được gọi là sống đơn
giản. Nếu vượt khỏi nhu cầu đó, chúng ta trở thành người
có một đời sống phức tạp. Đây là điều chúng ta phải
cẩn thận.
Một
tu sĩ trong giai đoạn ẩn tu thường không có nhiều nhu cầu.
Nhưng bước sang việc học, nhất là học trong giai đoạn hiện
nay, sẽ cần rất nhiều thứ : sách vở, bút viết, bàn ghế,
đèn đuốc, cơm ăn, áo mặc …. Những nhu cầu ấy được
quý Thầy trong Ban giám hiệu lo toan chu tất nên cũng rất đơn
giản. Nhưng khi ra làm việc, mọi cái còn phức tạp hơn nhiều.
Trước
kia, người tu thường đi bộ, dần dần dùng đến xe đạp,
xe gắn máy. Vì khi chùa có nhiều đệ tử, công việc sẽ
nhiều hơn, chúng ta không thể đi bộ hoặc đi xe đạp mãi.
Khi đi giảng pháp nơi này, nơi kia, chúng ta không đủ sức
khoẻ để ngồi xe gắn máy, nhất là khi phải đi hàng trăm
cây số. Vì vậy, nhu cầu đi xe hơi xuất hiện. Cứ thế,
hàng loạt những nhu cầu trong cuộc sống theo thời gian mà
tăng lên. Xét cho cùng, đó cũng là những nhu cầu chính đáng
hỗ trợ cho chúng ta trong công việc. Nhưng sự phức tạp cũng
theo đó mà tăng lên. Đây là chỗ khó xử đối với người
tu hành. Một mặt, chúng ta muốn giữ đời sống đơn giản
đạm bạc, nhưng mặt khác, cuộc sống với những nhu cầu
phức tạp vẫn lôi kéo chúng ta.
Đơn
giản nhất là chuyện ăn mặc. Ngày trước, người đi tu không
có nhiều quần áo như bây giờ. Chỉ cần một vài bộ quần
áo cũ thay qua, thay lại cũng xong. Nhưng cuộc sống ngày càng
khá hơn, vải vóc cũng rẻ, nhiều chùa lại có đệ tử biết
may vá nên vấn đề ăn mặc có vẻ thoải mái hơn. Có Thầy
còn cẩn thận may những bộ quần áo màu vàng để khi có
khách đến chùa tiếp cho đàng hoàng, lịch sự. Những lúc
khác có thể mặc quần áo màu lam hay màu đà cho bình dị,
gần gũi với thiên nhiên.
Có
khi do phước kéo đến, chúng ta được nhiều người biếu
tặng, cúng dường. Những lúc ấy nếu không cẩn thận, chúng
ta sẽ thành người tích luỹ tài sản. Một điều khó xử
là trong luật của Tỳ kheo, người thí chủ cho vật gì chúng
ta phải làm đúng ý họ. Nếu đem cho người khác ngay dù người
ta không biết, chúng ta vẫn mang tội. Nhưng nếu giữ lại
tất cả, chúng ta làm sao sử dụng hết. Bởi vậy, chúng ta
nên tìm lúc thích hợp mang cho lại người khác, người thiếu
thốn hơn. Thực ra, chính những lúc không có gì hết hoặc
hơi thiếu thốn một chút, chúng ta dễ sống hơn. Khi phước
đến, có thêm nhiều tài sản, vật dụng, chúng ta sẽ cảm
thấy ray rứt, khó xử giữa đời sống đơn giản và những
gì do phước đem lại.
Ngay
cả nhà cửa để ở cũng vậy, chúng ta rất muốn đơn giản.
Cửa có thể không sơn, để màu gỗ nguyên thuỷ, mộc mạc
. Nhưng không sơn, lâu ngày sẽ hư hỏng. Giường ngủ, chúng
ta cũng có thể không sơn, không đánh vẹc ni cho đơn giản,
nhưng như vậy có cái gì đó giả dối. Vì chúng ta thừa biết,
có thêm lớp sơn, gỗ sẽ bền hơn. Biết mà vẫn để như
vậy cố làm ra vẻ sống đơn giản, chúng ta có cảm giác
mình đang sống một cách giả dối. Rồi nơi ở cũng vậy,
chúng ta có thể lợp cốc bằng tranh, làm bằng cây rừng cho
đơn giản, mát mẻ. Nhưng tính ra lợp tranh, lợp lá lại phức
tạp hơn nhiều lần lợp bằng tôn. Vì lợp tôn bền hơn,
tranh lá mỗi năm lại phải thay, rất tốn công, tốn của.
Bởi vậy, nhiều khi chúng ta muốn giữ cái vẻ đơn giản
nhưng như thể đó là sự giả dối. Đây cũng là điều khó
xử của người tu chúng ta.
Nhìn
ra ngoài đời chúng ta thấy, một nguyên thủ quốc gia buộc
phải cần rất nhiều vật dụng và nhân lực hỗ trợ. Vì
mỗi hành động trong cuộc sống, mỗi quyết định của họ
đều có liên quan đến vận mệnh của cả quốc gia, dân tộc.
Tất cả những gì tốt nhất, những phương tiện kỹ thuật
hiện đại, tối tân nhất đều ưu tiên cho những người
ấy. Xe của các vị phải là loại xe chống đạn, xe bọc
thép. Máy bay phải là loại chuyên cơ, đặc biệt, đảm bảo
an toàn tối đa. Chưa kể đến đội ngũ những người bảo
vệ bên cạnh họ, có khi lên đến hàng ngàn người…. Mặc
dù nhu cầu quá lớn, phương tiện phục vụ ưu tiên đến
mức tối đa nhưng đó là những nhu cầu cần thiết để các
vị sống và làm việc. Không ai phê bình hay trách cứ họ.
Nhưng trong đời sống cá nhân, nếu không cẩn thận, vẫn
có thể bị người đời phê phán.
Chúng
ta tự hào vì có Bác Hồ. Cuộc đời Bác là một tấm gương
sáng về lối sống giản dị mặc dù Người là một lãnh
tụ vĩ đại. Ở đây, không bàn về chính trị, chỉ nhìn
vào đời sống chúng ta đủ thấy con người ấy vĩ đại
đến mức nào. Có thể lúc bấy giờ đất nước chúng ta
còn nghèo, không đầy đủ tiện nghi nên Người sống đơn
giản. Nhưng đó chỉ là một lý do rất nhỏ. Điều quan trọng
là sống giản dị đã trở thành một nguyên tắc, một lẽ
sống ăn sâu vào máu thịt của Người. Bác ăn uống đạm
bạc, đi dép cao su, mặc áo bà ba, ở nhà sàn, sống chan hoà
giữa thiên nhiên hoa lá. Hình ảnh vị lãnh tụ “áo nâu túi
vải” ấy đã đi vào văn học như một mẫu mực về Đạo
đức, về lối sống giản dị. Nhà thơ Tố Hữu từng ca ngợi:
Giường
mây, chiếu cói, đơn chăn gối
Tủ
nhỏ vừa treo mấy áo sờn….
…Còn
đôi dép cũ mòn quai gót
Bác
vẫn đi về giữa thế gian
Nhiều
lãnh tụ từ các quốc gia khác đến thăm Bác, ai cũng ngạc
nhiên và cảm phục khi nhìn thấy con người nổi tiếng thế
giới, quyết định biết bao nhiêu vận mệnh, lại sống vô
cùng đơn giản như vậy. So với Bác, họ nhận thấy mình
sống xa hoa sang trọng hơn nhiều. Vì vậy, trong một lần bình
chọn mười lãnh tụ sống liêm khiết nhất thế giới, Bác
Hồ của chúng ta được các quốc gia xếp đầu bảng. Con
người ấy có đời sống tinh thần rất thanh cao. Mỗi đêm,
Người vẫn ngồi thiền. Ông Võ Nguyên Giáp cho rằng Bác Hồ
là một Thiền sư, có trực giác rất mạnh. Người ta kể
rằng, khi Bác qua đời, trong đơn của Bác chỉ tìm thấy xâu
chuỗi và cuốn kinh Lăng già Tâm ấn bằng chữ Nho.
Một
người vốn là sĩ quan cao cấp ở miền Bắc từng kể rằng,
từ nhỏ ông ta không hiểu gì về chùa chiền, nhưng lúc
rảnh rỗi ông thường vào chùa chơi. Lớn lên, ông ta trở
thành phi công lái máy bay chiến đấu, rồi trở thành cán
bộ cao cấp, chỉ huy quân sự, chỉ huy tình báo, nhưng rất
mộ Đạo. Khi vào Nam, ông đi thăm các chùa và tỏ ra rất
thích không khí tu hành ở miền Nam. Nhưng ông thừa nhận,
nhiều vị tu hành trong này vẫn không bằng đời sống của
Bác Hồ. Về giáo lý, có thể quý Thầy rất cao siêu nhưng
về đời sống, các vị ấy không bằng Bác Hồ, không bằng
ở đời sống rất giản dị của Bác. Người đời nể phục
Bác cũng như Ngài Alexandre nể phục nhà hiền triết vậy.
Vì Bác là người lãnh đạo tối cao của một nước, có quyền
hưởng thụ mọi thứ theo bổn phận của mình nhưng lại
khước từ. Đó là người thắng được bản năng hưởng
thụ vốn tiềm ẩn trong mỗi con người.
Trong
Đạo của chúng ta, Đức Phật là tấm gương tiêu biểu nhất
về đời sống đơn giản. Trong thời đại đó, người ta
quan niệm, sống khổ hạnh là một hạnh tu cao quý. Người
ta cho rằng, người chiết phục được đời sống của cơ
thể này thì tâm linh của họ sẽ bừng sáng, sẽ giác ngộ.
Còn người cung phụng cho thể xác này thì tâm linh sẽ mờ
tối. Đức Phật cũng tin như vậy nên đã thực hành khổ
hạnh một cách rất khốc liệt. Ngài ép xác, ăn uống rất
ít, nhịn thở để mong khi thể xác này kiệt quệ thì tâm
linh Ngài bừng sáng. Nhưng qua sáu năm ép xác đến cùng cực,
thấy mình sắp rơi vào hôn mê, tinh thần mờ tối, Ngài mới
hiểu là mình đã sai và những người có quan niệm như vậy
là sai. Rõ ràng, họ nói mà không thực hành, nói mà chưa có
kinh nghiệm. Đức Phật hiểu ra rằng, thân xác kiệt quệ
thì tâm linh cũng suy yếu. Ngài đã từ bỏ con đường khổ
hạnh, và chọn con đường khác để đi đến giác ngộ, đi
đến giải thoát. Đó là con đường Thiền định. Vậy, trước
khi chứng Đạo, Ngài có một đời sống cực kỳ khổ hạnh,
sống ép xác. Sau khi chứng đạo, Ngài không có nhu cầu
gì nữa và sống rất đơn giản. Dĩ nhiên, chúng ta không thể
sống được như Đức Phật. Nhưng người tu phải lấy đời
sống của Đức Phật làm thước đo cho mình. Nghĩa là chúng
ta xem mình cách Phật xa như thế nào để tự điều chỉnh,
đừng đi quá xa.
Sau
Đức Phật là Ngài Ma Ha Ca Diếp. Vị này phát nguyện sống
đơn giản còn khủng khiếp hơn. Với Ngài, áo chỉ cần may
bằng loại phấn tảo, là loại giẻ rách hoặc vải để lịm
người chết người ta vứt đi. Thời đó, ở Ấn Độ kỹ
thuật dệt chưa phát triển nên đa số nông dân, dân thường
và những ẩn sĩ tu hành đều mặc vải được nhuộm từ
vỏ cây. Hầu hết vải đều có màu đà hoặc nâu nâu, đỏ
đỏ. Những người giàu có hơn lấy bông dệt ra vải có màu
trắng và để nguyên màu trắng đó may quần áo mặc nên gọi
là bạch y cư sĩ . Chúng ta đừng nghĩ lúc ấy Đức Phật
mặc áo màu vàng. Ngài cũng mặc vải màu đà như những người
khác. Kỹ thuật may của người Ấn Độ lúc bấy giờ cũng
thua người Trung Hoa. Họ không biết may thành từng ống để
xỏ tay chân vào mà dùng tấm vải lớn quấn vòng quanh người,
qua ngực vòng lên vai rồi kẹp vào nách. Mặc như vậy nên
người ta đi dứng rất khó khăn.
Một
điều chúng ta cần lưu ý, trong cuộc sống tu hành, nếu tu
chân chính, dần dần chúng ta sẽ có phước. Khi phước tăng
lên, những vật dụng hằng ngày tự nhiên sẽ đến với mình.
Đây là chỗ thử thách Đạo lực của chúng ta. Người có
Đạo lực là người thắng được bản năng hưởng thụ,
biết khước từ, giữ cho mình đời sống đơn giản. Người
có Đạo lực yếu, sẽ không thắng được bản năng hưởng
thụ, phước đến bao nhiêu, hưởng thụ bấy nhiêu.
2.
TU SĨ PHẢI SO SÁNH NHU CẦU CỦA MÌNH VỚI HOÀN CẢNH XÃ
HỘI
Trong
đời sống, một tu sĩ muốn sắm sửa vật gì phải so với
hoàn cảnh xã hội và với nhu cầu của mình. Nghĩa là phải
xem mình cần gì và hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ như thế
nào. Đây là điều rất quan trọng.
Ví
dụ: Chúng ta phát tâm về vùng sâu, vùng sa, vùng hẻo lánh
để đem Phật pháp đến cho người dân ở đó. Khi cất chùa,
cất chánh điện, chúng ta nên xem cất như thế nào cho phù
hợp với hoàn cảnh xã hội chung quanh. Lúc đó, được những
Phật tử khá giả giúp đỡ, có thể chúng ta sẽ cất được
một ngôi chùa bề thế, khang trang, nhưng nhìn xung quanh, thấy
toàn nhà lá, nên chúng ta cũng làm một ngôi chùa đơn giản
như họ, chỉ lợp tranh, lợp lá. Như vậy, chúng ta dễ hoà
đồng với họ hơn. Đừng quá xa cách để khi buớc vào chùa,
người ta có cảm giác đó không phải là thế giới của họ.
Nếu đó là nơi chưa biết Phật pháp nhưng cuộc sống khá
giả hơn, phố phường dông đúc, nhà cao cửa rộng, chúng
ta có thể xây một ngôi chùa bề thế cũng không sao. Nói như
vậy để thấy rằng, nhu cầu của mình, sự sắm sửa của
mình phải phù hợp với hoàn cảnh xã hội chung quanh.
Về
điểm này, ông Voltaire, người Pháp, đã từng phê bình những
tu sĩ Thiên Chúa giáo (thực ra không chỉ riêng Thiên Chúa giáo,
trong đạo Phật chúng ta cũng có vài trường hợp). Ông nói:
“ Vì tôn giáo mà cung điện đã được dựng lên cho giáo
sĩ”. Ông không nói là nhà thờ mà gọi nơi thờ tự đó
là cung điện. Chúng ta thường thấy, nhà thờ bên đạo Thiên
Chúa rất lớn, rất cao, khuôn viên rộng mênh mông. Những
giáo sĩ đạo Thiên Chúa sống trong những nhà thờ lớn như
vậy nên ông cho rằng nhờ có danh nghĩa tôn giáo Thiên Chúa
giáo mà những tu sĩ đựơc ở trong cung điện, sa hoa hơn,
sang trọng hơn, sung sướng hơn những người thường. Trong
khi đó, đúng ra người tu hành phải sống bằng hoặc khổ
hơn những người thường. Đây là chỗ mà chúng ta cần lưu
ý.
Chúng
ta phải so sánh sinh hoạt thời Phật và thời bây giờ về
nhiều mặt để biết mình có những nhu cầu gì.
Về
việc học: Ngày nay đi học, chúng ta cần những gì? Ngoài
sách vở, bút viết, bàn ghế, chúng ta còn cần phương tiện
đi lại. Ở thành phố, mỗi người phải có một chiếc xe
để đi học. Lúc đầu là xe đạp, nhưng đường xa, lại
thêm nóng nực và bụi băm, đi xe đạp lâu ngày cũng mất
sức, nên ai cũng cố gắng sắm một chiếc xe gắn máy. Cách
đây khoảng năm sáu chục năm trước, người tu thường đi
bộ trông rất hay, ai đi xe đạp đã thấy lạ, vì làm mất
đi vẻ oai nghi. Sau này, theo nhu cầu, người tu bắt đầu đi
xe Honda, nhìn không còn vẻ nghiêm trang như trước. Nhưng cuộc
sống đã đổi thay đến chóng mặt, chúng ta cũng phải thích
nghi dần dần với nhịp sống ấy. Cứ thế, rồi mọi cái
cũng trở nên quen thuộc, bình thường. Bây giờ, nhiều Thầy
đi giảng xa phải dùng đến xe hơi, chúng ta cũng không có
gì phải ngạc nhiên…
Xã
hội ngày càng văn minh, con người càng đánh mất dần nếp
sống mộc mạc của mình. Chúng ta cũng bị nhu cầu lôi cuốn,
dần dần mất đi đời sống đơn giản, bắt đầu một cuộc
sống sang trọng hơn.
Về
việc tu : Thời chúng ta và thời Đức Phật có gì khác nhau
? Nói về vấn đề tu Thiền, chúng ta thấy thời mình và thời
Đức Phật có nhiều điểm khác nhau. Ngày xưa, các vị ngồi
Thiền không có bồ đoàn, chỉ cần tọa cụ, là miếng vải
để trải cho đỡ dơ. Các vị thường ngồi trên bệ đá
hay dưới đất trắng nên phải trải toạ cụ. Bây giờ, chúng
ta chế ra bồ đoàn để ngồi cho êm. Thực ra, theo kỹ thuật
tọa Thiền, chúng ta không nên dùng bồ đoàn. Ngày nay, chúng
ta chỉ cần dùng toạ cụ khi ngồi Thiền như các bậc tiền
bối. Ngoài ra, khi ngồi Thiền, chúng ta còn cần thêm mùng
để tránh bị muỗi đốt, cần quạt máy vì thời tiết quá
nóng. Thậm chí, có người ngồi Thiền trong phòng máy lạnh.
Ở phương Tây, nhà nào cũng có máy sưởi và máy lạnh, máy
điều hoà nhiệt độ, người tu trong chùa cũng phải có đầy
đủ như người thế gian. Đó cũng là điều bình thường.
Về
việc thuyết giảng, truyền bá:
Chúng
ta cần những kỹ thuật phương tiện: xe cộ để đi lại
cho nhanh chóng, đúng giờ; máy móc, âm thanh ánh sáng, băng
giảng, kinh sách…Để việc truyền bá giáo pháp được rộng
rãi, thuận lợi, chúng ta cần ưu tiên tối đa, có thể sử
dụng tất cả những gì tốt nhất. Vì đó là việc làm đem
lại lợi ích cho chúng sinh.
Về
việc ăn uống:
Thời
Đức Phật , người tu đi khất thực, ai cho gì ăn nấy.
Có người không biết, cho thịt cá, các Ngài cũng phải từ
bi mà ăn hết. Sau này, Phật tử hiểu Đạo hơn nên nhiều
người lên chùa cúng dường, quý Thầy dần dần chuyển sang
ăn chay. Bên Bắc Tông Đại Thừa, người tu vẫn ăn chay. Đó
là điều hợp với giáo lý từ bi của Đức Phật. Chỉ tiếc
một điều, các Sư Nguyên thủy không ăn chay. Các Ngài cho
rằng, thời Đức Phật cho gì ăn nấy nên người nào ăn chay,
người đó không phải theo đạo Phật. Các sư thà chết,
cương quyết bảo vệ ăn mặn cho bằng được. Thực ra, quan
niệm như vậy là không nên. Vì khi đi xin, ai cho món gì, người
tu ăn món nấy, không hề đòi hỏi là đúng. Nhưng đến lúc
Phật tử mang lại chùa cúng, trong tâm họ đã có chủ ý rồi,
chúng ta không nên ăn mặn. Nếu có người không biết cúng
thức ăn mặn, chúng ta phải khuyên họ nên cúng chay. Chính
vì quan niệm về ăn uống như vậy mà giữa Nguyên thuỷ và
Bắc Tông nảy sinh những mâu thuẫn.
Chúng
ta thấy rằng, với người tu hành, ăn chay vẫn hay hơn. Nhưng
ăn chay phải hợp lý về dinh dưỡng. Nghĩa là bữa ăn phải
có đủ bốn nhóm dinh dưỡng: thứ nhất là tinh bột (glucô),
thứ hai là chất đạm ( prôtit-có nhiều trong đậu nành),
thứ ba là chất béo (lipit - có trong dầu, sữa, tuyệt đối
không dùng mỡ), thứ tư là chất xơ (rau quả). Dùng đậu
nành lâu ngày có thể làm cho chúng ta ngán nên chất đạm
sẽ không cung cấp đủ cho cơ thể, chúng ta có thể uống
thêm viên đạm hoặc truyền dung dịch đạm. Điều đó cũng
hợp lý.
Ngoài
bốn chất căn bản ấy, cơ thể còn cần những chất vi lượng
như vitamin, chất khoáng. Vì vậy, chúng ta ăn uống phải hợp
lý, không được ép xác, khổ hạnh. Ép xác là một sai lầm,
có thể dẫn tới tình trạng suy nhược cơ thể. Từ chỗ
suy nhược cơ thể, chúng ta sẽ bị suy nhược thần kinh, suy
nhược tâm thần. Nguy hiểm hơn là chúng ta không còn sáng
suốt nữa, sau đó có thể bị rối loạn tư cách và trở
nên điên loạn. Bởi vậy, chúng ta phải ăn uống cho hợp
lý, không nên để cơ thể suy nhược, thần kinh suy yếu dẫn
đến những hậu quả nghiêm trọng về sức khoẻ. Trong bài
tham dục, chúng ta sẽ nói kỹ hơn về vấn đề ăn uống.
Về
mặc: Thời xưa, trong xã hội Ấn Độ, người ta thường quấn
y vòng qua người. Xét cho cùng, đó chỉ là y phục ở Ấn
Độ thời cổ, không phải là biểu tượng thiêng liêng của
Đức Phật như nhiều người vẫn nghĩ. Tùy theo phong tục,
tập quán, hoàn cảnh xã hội mà chúng ta ăn mặc cho hợp lý,
không nhất thiết phải cố chấp giống thời Đức Phật.
Chúng ta có thể mặc sao cho dễ phân biệt giữa người tu
và người đời. Kiểu áo vạt nẻ của Phật giáo Việt Nam
chúng ta rất hay, vừa giống áo bà ba, vừa đắp thêm miếng
vải bên phải trông khác đi. Hoặc người Việt Nam hay mặc
áo dài, chúng ta cũng có áo tràng tương tự như vậy, trông
cũng hay hay. Hiện nay, theo qui định của chù,a Sa Di đi đường
thường mặc áo kiểu Nhật, kiểu Tàu trông có vẻ rườm
rà. Nói chung, chúng ta phải ăn mặc tươm tất, không lôi thôi,
luộm thuộm. Vì cách ăn mặc cũng thể hiện lối sống văn
hoá, thể hiện tư cách của con người. Người tu chúng ta
có thể nghèo, có thể sống đơn giản nhưng không được
phép bê bối, không được phép xấu. Dù mặc áo vá đi ra
đường, miếng vá cũng phải ngay ngắn, phải đẹp, phải
có sự thẩm mĩ. Vì mặc xấu, lôi thôi thể hiện giá trị
tinh thần kém.
Ngày
nay, kỹ thuật vải vóc, may mặc tiến bộ hơn trước nhiều.
Chúng ta nên mặc những loại vải tương đối tốt, có độ
bền cao nhưng đừng chọn những loại vải quá đắt tiền,
quá sang trọng. Theo tiêu chuẩn chung, mỗi Thầy được ba bộ
quần áo ( Tam y nhất bát) nhưng trong hoàn cảnh xã hội bây
giờ không nhất thiết phải như vậy. Các Thầy có thể mặc
nhiều hơn, ít nhất phải có năm bộ quần áo. Vì đề phòng
mưa gió, hơn nữa vải vóc bây giờ quá nhiều, giá cả cũng
phải chăng, không cần thiết phải tiết kiệm đến mức thiếu
thốn nữa. Thời bây giờ, người bình thường có đến hai
ba chục bộ đồ cũng là chuyện thường tình. Bởi vậy, tùy
hoàn cảnh xã hội mà chúng ta điều chỉnh nhu cầu của mình
cho hợp lý.
Về
chỗ ở: Ngày xưa, Đức Phật ở dưới gốc cây trong rừng,
cũng có khi ở tinh xá, chòi tranh, trong hang núi hay bờ suối.
Bây giờ, do xã hội tiến bộ, hơn nữa cơ thể con người
không đủ sức chịu đựng nên chúng ta phải ở trong nhà
đàng hoàng, tươm tất. Tuy nhiên, chúng ta cố gắng không trang
bị quá tiện nghi, cái gì không quá cần thiết, chúng ta đừng
mang vào nhà để trông có vẻ sang trọng. Không ít người
trong chúng ta bày biện trong phòng mình những món hàng sang
trọng, đắt tiền.. Khi có phước, người ta cho mình nhiều
thứ nhưng chúng ta phải cân nhắc, cái nào quá cần cho cuộc
sống tu tập, chúng ta sẽ dùng. Nếu những món đồ ấy làm
cho căn phòng của chúng ta trở nên sang trọng quá, chúng ta
nên thôi, đừng mang vào nhà. Đây chính là chỗ thử thách
Đạo lực của người tu, chúng ta phải cẩn thận. Chỗ ở
đối với chúng ta chỉ cần tốt bền, rẻ, đẹp và
tiện lợi.
3.
CHÙA TO HAY CHÙA NHỎ.
Chùa
là sở hữu quan trọng, cũng là tài sản quan trọng của người
tu. Vậy, chúng ta nên cất chùa to hay nhỏ, đẹp hay không đẹp
? Thực ra, những ngôi chùa to đẹp thường tiêu biểu cho văn
hoá Phật giáo. Ngày xưa, chúng ta có những ngôi chùa rất
to, rất đẹp do vua chúa xây dựng. Bây giờ, chúng ta phải
biết ơn những ngôi chùa đó vì chính những ngôi chùa to đẹp
ấy đã góp phần tạo nên văn hoá vĩnh cửu cho đạo Phật.
Nhìn vào ngôi chùa, chúng ta biết vào thời đại đó,
người ta mộ đạo Phật đến mức nào. Có mộ Đạo, người
dân mới chung công, góp sức xây cất một ngôi chùa to lớn.
Nói chung, Đạo Phật rất cần có một số ngôi chùa to như
vậy.
Nếu
cất chùa để tu, chúng ta không cần nhiều đến hình thức,
chỉ cất chùa đơn giản, có thể rộng để nhiều người
đến tu. Nếu Phật tử đến tu đông quá, chúng ta có thể
cất rất rộng, nhưng không cần phải sang trọng. Theo triết
lý âm dương, cái chìm sâu khuất kín là âm, cái bộc lộ
ra bên ngoài là dương. Nhìn vào một ngôi chùa, chúng ta cũng
sẽ thấy hai mặt âm dương đó. Âm là nội dung, dương là
hình thức. Nội dung của một ngôi chùa chính là sức tu hành
của đại chúng trong chùa đó. Sức tu hành ấy khuất kín,
chìm sâu không phải nhìn vào là thấy ngay được. Cái chúng
ta có thể nhìn thấy là vẻ đẹp về kiến trúc, về đường
nét, màu sắc của ngôi chùa. Trong Dịch lý có công thức thể
hiện sự khôn ngoan của người xưa là: “năm âm một
dương”. Nghĩa là, nếu nội dung bên trong( cái âm) có tới
năm, chúng ta chỉ bộc lộ ra bên ngoài một mà thôi Như
vậy, sẽ rất bền. Như vậy, khi xây dựng chùa, chúng ta cần
cân đối hình thức và nội dung theo tỉ lệ 1/5. Nghĩa là
sức tu tập năm phần, xây dựng một phần. Trong thực tế,
có không ít chùa rất to, rất đẹp- đẹp vô cùng nhưng sức
tu của đại chúng lại không cân xứng với chùa. Những chùa
như vậy sẽ không tồn tại bền vững vì âm- dương không
cân đối, hài hòa.
Đây
là điểm mà chúng ta cần lưu ý. Nếu muốn cất chùa đẹp
phải xem sức tu của đại chúng trong chùa mình có gấp năm
lần cái đẹp đó hay không. Nếu chỉ chú trọng hình thức,
cất ngôi chùa rất đẹp nhưng đại chúng tu không tốt thì
chùa sẽ rất hoang tàn. Ngày nào đó, chùa không còn người
chân tu ở thì người ngoài sẽ làm những điều bậy bạ.
Nhiều chùa ở Trung Hoa đã xảy ra tình trạng đó. Có những
ngôi chùa cổ rất to, rất đẹp sau này khi Ngài Hư Vân đến
chỉ còn là nơi người ta nuôi heo, nuôi bò. Ngài phải chấn
chỉnh, tu sửa lại tất cả.
Tóm
lại, có ba điều chúng ta cần để ý: Nơi thờ Phật cần
trang nghiêm. Nơi ở của chúng cần tiện nghi. Nơi ở của
trụ trì cần đơn giản. Đó là cái đạo cho đại chúng.
Nghĩa là người lớn bao giờ cũng phải lo cho người nhỏ
trước. Người trụ trì phải nghĩ cho đại chúng trước.
Có như vậy, sau này đại chúng mới hiểu rằng, Thầy mình
luôn hy sinh cho đệ tử. Tấm gương ấy sẽ được soi sáng
và lưu truyền mãi mãi cho Phật pháp.
4.
TRƯỜNG HỢP CÓ PHƯỚC.
Trường
hợp chúng ta có phứơc, vật dụng sẽ tự đến một cách
sung mãn, dù mình không mong muốn. Lúc ấy, chúng ta phải bố
thí san sẻ cho người khác. Đó là xét trên tư cách cá nhân.
Nếu tự nhiên chùa mình được nhiều người cúng dường,
trở nên sung mãn, dư dã, chúng ta phải giúp cho chùa khác,
đại chúng khác. Nhưng lúc này, của cải có được không
phải của cá nhân mình, mà của đại chúng, chúng ta phải
cho họ biết. Vì một khi là của đại chúng, người trụ
trì không được hoàn toàn sử dụng. Nếu sử dụng tùy
tiện, chúng ta sẽ mang tội.
Thậm
chí, có trường hợp Phật tử chỉ cúng cho Thầy trụ trì
thôi, nhưng lúc ấy, người trụ trì phải hiểu rằng có cái
đức của đại chúng trong đó. Cho nên, không được
tùy tiện sử dụng riêng. Nếu muốn cúng dường qua một đại
chúng khác, một chùa khác, chúng ta cũng phải báo cho chúng
biết, phải hỏi ý kiến đại chúng. Chúng hoan hỉ thì chúng
ta san sẻ bớt cho chùa này, chùa kia trên tinh thần “Mười
phương Tăng là một”. Chúng ta phải giữ đời sống của
đại chúng vừa đủ. Nếu dư, chúng ta phải cúng dường cho
Tăng Ni khác. Tích lũy quá nhiều, không những người trụ
trì mang tội mà cả chùa cũng mang tội.
Có
hai mức độ của kém Đạo đức và hai mức độ của Đạo
đức là tham cái mình không có và tham giữ cái mình có. Trường
hợp thứ nhất là khi thấy người khác có vật gì, chúng
ta băn khoăn, suy nghĩ làm sao mình cũng có được. Đó là
cái tham sai, chúng ta nên từ bỏ. Vì phước của mỗi người
vốn khác nhau. Dân gian ta thường nói :“ Trời kêu ai người
nấy dạ” hoặc “ Cờ đến tay ai, người nấy phất”.
Trường hợp thứ hai là khi có trong tay nhiều của cải, chúng
ta tham giữ, không buông xả, không chia bớt cho người khác.
Không tham cái mình không có đã khó, khước từ, buông xả
cái mình có còn khó hơn nhiều. Đây là chỗ khó xử của
con người mà chúng ta phải cố gắng.
5.
NHỮNG SẢN PHẨM MỚI.
Sống
trong thời đại văn minh, tiến bộ, hàng loạt những sản
phẩm mới ra đời, chúng ta phải xem những sản phẩm mới
ấy có cần thiết cho đời sống tu hành của mình hay không.
Đối
với bia và thuốc lá, chúng ta phải tuyệt đối, phải cương
quyết khước từ. Thời Đức Phật chưa có hai sản phẩm
này nên Ngài không chế giới. Nhưng bây giờ, chúng ta phải
tự chế giới. Sở dĩ chúng ta cương quyết khước chúng từ
vì hai lẽ: Thứ nhất, dùng bia và thuốc lá rất lãng phí.
Phật tử cúng dường để cho chúng ta tu học chứ không phải
để làm những điều vô bổ. Nếu đốt thuốc là đốt tiền
của Phật tử, chúng ta sẽ phạm tội rất nặng. Thứ hai,
bia và thuốc lá là những thứ có hại cho sức khoẻ. Không
những chúng chỉ tàn phá sức khoẻ của của chúng ta mà còn
ảnh hưởng đến sức khoẻ của những người xung quanh. Là
người tu, chúng ta phải hiểu đó là cái ác và là sự ngu
si. Cho nên, chúng ta không nên dùng. Hiện nay, trên thế giới,
người ta cũng đang kịch liệt chống hút thuốc lá. Chúng
ta đừng để cư sĩ than phiền về việc người tu ra đường
phì phèo điếu thuốc lá vừa thiếu văn minh, vừa không còn
sự nghiêm túc của một bậc tu hành. Đôi khi bia đuợc cho
là vị thuốc trợ tiêu hóa nếu sử dụng rất ít. Ta hãy
chờ xem.
Đối
với những sản phẩm điện tử như Ti vi, Vidéo, Radio, Cassette:
Chúng ta không hoàn toàn phản đối hay khước từ. Vì chương
trình tivi hiện nay rất phong phú. Bên cạnh ca nhạc, phim ảnh,
bóng đá, tivi còn phát những chương trình về y học, về
sức khỏe, về khoa học …Đó là những vấn đề rất bổ
ích đối với tất cả mọi người. Chúng ta không nên mất
thời gian tu hành vì những điều vô bổ, nhưng những thông
tin bổ ích chúng ta cũng không nên bỏ qua. Nói chung, với tivi,
chúng ta nên sử dụng một cách dè dặt. Radio bây giờ chủ
yếu dùng để nghe tin tức. Với chúng ta, nó không cần lắm.
Cassette rất cần để nghe băng thâu những bài giảng kinh,
những bài hát ngợi ca Đức Phật. Chúng ta không nên dùng
vì những mục đích giải trí tầm thường. Vidéo cũng vậy,
rất cần để chúng ta xem băng hình, băng phim về Đạo, về
những buổi giảng pháp của các bậc chân Sư. Chúng ta không
được xem những phim chưởng, phim tâm lý xã hội đang phát
hành nhan nhản trên thị trường. Thực ra, trong các phim ấy
cũng có nhiều đạo lý, nhiều triết lý thâm thuý. Nhưng để
hiểu được triết lý đó qua phim, chúng ta phải thức đêm,
vừa mất thời gian, vừa hại sức khoẻ. Với người tu hành
như chúng ta, tốt nhất là đi tìm đạo lý trong kinh, trong
những bài giảng, trong đời sống của những người xung quanh
và trong đời sống của chính mình.
Với
tủ lạnh, bếp gas: Để dự trữ thức ăn, trong chùa
cũng cần có tủ lạnh. Còn bếp gas , chúng ta cũng rất cần.
Hiện nay, người ta khuyến khích nên xài bếp gas, nên hạn
chế dùng củi, dùng than. Vì người càng lúc càng đông, nhu
cầu dùng củi ngày càng tăng sẽ dẫn đến nạn phá rừng.
Đó là chưa kể dùng than củi nhiều sẽ làm ô nhiễm môi
trường.
Đối
với xe hơi, xe tải, xe máy xới : Chúng ta cũng cần những
phương tiện ấy. Xe hơi tiện cho việc đi lại, nhất là đi
giảng xa, vừa nhanh chóng, vừa đảm bảo an toàn. Trong công
việc sản xuất, xây dựng, xe máy xới cũng rất cần thiết.
Sử dụng những phương tiện ấy, chúng ta sẽ tiết kiệm
được sức khoẻ và thời gian. Khi không mệt mỏi, có sức
khỏe, chúng ta ngồi thiền sẽ tốt hơn. Nói chung, áp dụng
những phương tiện, áp dụng khoa học vào đời sống cũng
là điều tốt, không có gì chúng ta phải băn khoăn.
Đối
với computer: Máy vi tính rất cần đối với chúng ta. Mỗi
người phải học sử dụng máy vi tính. Đó là phương tiện
hiện đại, hỗ trợ rất tốt cho chúng ta trong học tập và
trong công việc.
Đối
với điện thoại viễn thông: Đây là một phương tiện giao
tiếp hiện đại, cũng cần cho chúng ta. Nhưng sử dụng điện
thoại cũng có những phiền phức riêng. Người tu vốn hạn
chế giao tiếp với bên ngoài. Bên cạnh cửa chùa, điện thoại
cũng là một cửa để chúng ta phải tăng thêm quan hệ, giao
tiếp. Tuy có những tiện lợi nhưng điện thoại thường làm
mất thì giờ của chúng ta. Đôi khi đang ngồi thiền, đang
tụng kinh, điện thoại reo làm chúng ta, mất tập trung, mất
sự thanh tịnh. Nói tóm lại, chúng ta không phản đối việc
dùng điện thoại, cả điện thoại di động. Nhưng vì có
nhiều điểm không hay, chúng ta nên sử dụng hạn chế.
Đối
với điện, đèn: Chúng ta cũng rất cần. Đèn cần cho việc
tụng kinh, học bài. Điện nói chung cần trong sinh hoạt hằng
ngày. Chúng ta không thể không sử dụng điện.
Đối
với tô chén, đũa và các vật liệu mới: Chúng ta cũng cần
cho cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên, khi sử dụng, chúng ta
không nên lạm dụng, dùng một cách thừa thải.
6.
KINH TẾ TIÊU THỤ.
Theo
kinh tế học, người ta quan niệm sự tiêu thụ sẽ thúc đẩy
kinh tế phát triển. Điều đó hoàn toàn có cơ sở. Vì khi
sản phẩm sản xuất ra, được người tiêu dùng tiêu thụ
nhiều, cơ sở sản xuất sẽ mở rộng kinh doanh, sẽ thu hút
nhân lực, góp phần làm cho xã hội phát triển. Ví dụ, một
công ty chuyên sản xuất kinh doanh ngành may mặc, sản xuất
ra nhiều loại vải, quần áo được khách hàng ưa chuộng.
Hàng của họ được tiêu thụ nhanh nên công ty phát triển
rất nhanh. Họ mở rộng kinh doanh, thu nhận nhiều công nhân,
tạo ra công ăn việc làm cho người lao động. Kinh tế xã
hội cũng nhờ thế mà phát triển.
Có
một thời gian, nền kinh tế Pháp bị suy thoái. Chính Tổng
thống Pháp đã kêu gọi dân chúng phải tiêu thụ nhiều, mua
sắm nhiều để thúc đẩy kinh tế phát triển. Đó là lý
luận của kinh tế học, và cũng là điều hợp lý. Người
ta có những biện pháp kích cầu như giảm ngày làm, tăng ngày
nghỉ trong tuần để người dân có thời gian mua sắm. Mấy
năm gần đây, nhà nước ta cũng khuyến khích mua sắm bằng
hình thức cho cán bộ, công nhân, viên chức nghỉ ngày thứ
bảy.
Tuy
nhiên, có một điều chúng ta cần lưu ý. Muốn sản xuất
được nhiều, chúng ta phải khai thác tài nguyên thiên rất
nhiều: Khai thác dầu mỏ, kim loại, khai thác rừng…làm sớm
cạn kiệt nguồn tài nguyên, đồng thời gây ô nhiễm môi
trường. Hiện nay, xe hơi, xe máy xuất hiện ngày càng nhiều
cùng với khói từ các nhà máy, xí nghiệp thải ra đã làm
cho môi trường xung quanh chúng ta bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Trong khi đó, nạn phá rừng diễn ra khắp nơi, lá phổi tự
nhiên của con người không còn nữa làm cho môi trường càng
trở nên ô nhiễm. Bởi vậy, quan niệm tiêu thụ mạnh để
tăng trưởng kinh tế cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến
tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên và gây ô nhiễm môi
trường. Trên thế giới, ở một số nước tư bản còn sinh
ra tình trạng khủng hoảng thừa do cung và cầu không hợp
lý.
Đạo
Phật ngày nay cần nhìn lại vấn đề một cách trung dung.
Chúng ta phải chọn cách khác để đi, không thể cho rằng,
tiêu thụ nhiều để kinh tế phát triển mà gây nên những
vấn nạn cho xã hội. Chúng ta phải sống một cuộc sống
đơn giản. Nếu có ai đó cho rằng, sống đơn giản không
kích thích sự phát triển kinh tế, chúng ta cũng có lý để
giải thích cho cặn kẽ. Chúng ta phải vững tin mà đi trên
con đường Đức Phật đã dạy, cố gắng tìm đời sống
đơn giản và hợp lý.
7.
MỘT VÀI TẤM GƯƠNG.
Trong
cuộc sống có không ít những tấm gương về đời sống đơn
giản. Trước hết, chúng ta phải kể đến ông Krishnamurti.
Ông được người đời cho là một bậc Thánh nhân của thời
đại, một bậc Đạo sư của thời đại, là người có được
sức giác ngộ của nội tâm. Xuất thân từ Ấn Độ, ông
đi khắp các nước, cuối cùng định cư ở Mỹ và chết tại
đó. Ông đi giảng nhiều nơi trên thế giới, người ta theo
ông rất đông, nhưng ông có một đời sống vô cùng đơn
giản. Mặc dù sống trong một thế giới rất văn minh, rất
tiện nghi nhưng ông vẫn giữ cho mình một lối sống đơn
giản. Đây là điều rất đáng trân trọng. Sống như vậy,
không có nghĩa là ông hoàn toàn khước từ và đứng ra ngoài
sự tiến bộ của khoa học. Ông vẫn dõi theo sự tiến bộ
của khoa học kỹ thuật, những phát minh của con người. Khi
đi giảng, ông cũng sử dụng những phương tiện kỹ thuật
như micro, âm thanh. Ông ngồi kiết già bất động hai tiếng
đồng hồ để nói, không nhúc nhích, với thái độ rất trầm
tĩnh, an lạc. Người ta rất nể phục ông. Rất tiếc, những
cuốn sách của ông được dịch sang tiếng Việt còn tối
nghĩa quá nên người đọc rất khó hiểu. Chỉ có những người
hiểu đạo Phật, hiểu sâu sắc lý Thiền mới cảm nhận
được đó là một Thiền sư đắc Đạo.
Hoặc
chúng ta từng được nghe chuyện về cuộc đời Thánh Milarepas
của Tây Tạng. Trong thời gian tu hành, có lúc ông không một
mảnh vải che thân. Người em gái phải tìm cho ông miếng vải
che tạm những chỗ cần thiết. Ông sống rất đơn giản.
Mùa đông tuyết lạnh, không cần áo mặc ông vẫn sống được.
Đó là nhờ sức tu. Gần đây nhất là Hòa Thượng Hư Vân,
người tu theo đạo Phật. Ông cũng có một đời sống vô
cùng đơn giản. Chỉ vài manh áo đơn sơ, tài sản chẳng có
gì nhưng Ngài sống thật tuyệt vời, chúng ta không thể hình
dung được. Chúng ta không thể sống được như những con
người phi thường ấy, nhưng có thể xem đó là những tấm
gương để mình cảm phục và kính ngưỡng.
8.
CHỌN MỨC SỐNG HỢP LÝ.
Chúng
ta phải chọn một mức sống hợp lý vì sống dư thừa sẽ
tổn phước, đắm nhiễm và không làm gương cho người sau.
Còn nếu sống quá khổ hạnh, chúng ta sẽ bị hạn chế, khó
làm việc Đạo được. Hai lối sống ấy phải được cân
đối lại, khi quyết định chọn đời sống như thế nào.
Chúng ta nên nhớ rằng, sống dư dả là chúng ta đã rời xa
Đạo đức và Lý tưởng sống đơn giản của Đạo Phật.
Nhưng nếu tự hạn chế, sống quá khổ, không có gì hết,
chúng ta cũng không làm được những việc Đạo cần thiết
phải làm. Bởi vậy, tùy từng trường hợp, tùy theo hoàn
cảnh và theo trí tuệ xét đoán, chúng ta chọn cho mình một
đời sống trung dung hợp lý.