CUỘC
SỐNG VỊ THA
1.
KHÁI NIỆM:
Vị
tha là vì người khác.(Tha là tha nhân, là người khác ).
Cuộc
sống vị tha là một cuộc sống mà chúng ta sống để làm
lợi ích cho người khác, không còn sống cho mình nữa. Đây
là một cuộc sống tốt đẹp mà xưa nay tất cả các bậc
Thánh đều mơ ước và phấn đấu để đạt được.
Mỗi
tôn giáo đều có những tiêu chuẩn nhất định để đánh
giá tín đồ của tôn giáo mình. Đạo Thiên Chúa thường làm
lễ phong Thánh cho những tín đồ, những tu sĩ có công hạnh
đặc biệt theo tiêu chuẩn của họ. Đạo Phật cũng có cách
đánh giá những vị tu hành để tôn lên bậc Thánh. Đó là
những người chứng ngộ tâm linh, có đời sống đạo hạnh,
hay nhờ tu thiền, niệm Phật, họ có được những điều
vi diệu trong cuộc sống, có những thần thông, phép lạ, có
trí tuệ… làm lợi ích cho mọi người.
Theo
tiêu chuẩn của tôn giáo mình, mỗi tôn giáo có rất nhiều
vị được xem là những bậc Thánh. Đạo Phật có vô số
Thiền sư, những bậc Alahán, những vị Thánh chứng quả,
những vị Tổ, những vị Đại Sư… Có những vị không nổi
tiếng lắm, nhưng khi tịch, thiêu ra có Xá lợi, cũng được
xem như ï đã chứng Thánh. Ở các tôn giáo khác, tùy theo lòng
mộ đạo, công trạng đối với đạo mà một người cũng
được xem là Thánh.
Trên
thế giới, những nhà khoa học, những nhà xã hội học với
tâm tình của những người không tôn giáo, có cách đánh giá
một bậc Thánh ở những góc độ khác. Vì vậy, những người
được phong Thánh theo tiêu chuẩn xã hội thì không nhiều.
Chúng ta thấy, thế giới có những Danh nhân, có những Vĩ
nhân và chỉ có một vài vị Thánh nhân. Đến nay, những vị
Thánh nổi tiếng được cả thế giới công nhận là Thánh
Gandhi. Đây là trường hợp rất hiếm hoi. Đức Phật cũng
được thế giới coi là một vị Thánh. Chúa Jésu cũng được
thế giới xem là vị Thánh. Hoặc Khổng Tử, nhà triết học
nổi tiếng cũng được xem như là một vị Thánh. Nghĩa là
số người được coi như một vị Thánh rất ít ỏi.
Chúng
ta học bài Cuộc sống vị tha là để tìm ra một mẫu số
chung về tư cách hay tiêu chuẩn của một vị Thánh trong đạo
Phật cũng như trong tâm tình của con người trên thế giới
Cuộc
sống vị tha là tiêu chuẩn chung khi đánh giá một vị Thánh,
được đạo Phật ca ngợi mà thế giới cũng ngợi ca. Không
cần biết người đó theo tôn giáo gì, không cần biết người
đó giữ chức vụ gì, chỉ cần thấy họ sống rất từ ái,
rất vị tha so với tất cả mọi người, có năng lực lớn
để làm được nhiều việc cho cuộc đời, có sức ảnh hưởng
rất lớn đến con người và luôn luôn vì con người, vì nhân
loại… người ta đã ca ngợi họ là một bậc Thánh.
Dựa
vào trình độ tâm linh của đạo Phật, một vị Thiền Sư
có thể có sở đắc tâm linh, một đời đi thuyết pháp trong
đạo Phật, trong lãnh vực tôn giáo cũng có khi chúng ta gọi
là Thánh nhưng thế giới không công nhận. Trong đạo Phật,
có vô vàn các Thiền sư, người chứng Đạo. Có thể chúng
ta ca ngợi, coi đó là những vị Thánh, nhưng người ngoài
đạo Phật chỉ thấy đó là những tu sĩ bình thường. Tiêu
chuẩn đánh giá con người khác nhau như vậy.
Gạt
ra ngoài vấn đề tiêu chuẩn đánh giá con người, chúng ta
thấy cuộc sống vị tha là một cuộc sống đẹp. Người
thực hiện được cuộc sống này, có thể thuyết phục được
không chỉ đối với người trong tôn giáo mà còn với cả
người ngoài tôn giáo. Có thể đời này chúng ta thực hiện
cuộc sống vị tha ít, nhưng trên căn bản mỗi người phải
sống vị tha. Biết đâu ở những đời sau, chúng ta có năng
lực lớn hơn, có cuộc sống vị tha ảnh hưởng nhiều hơn,
làm lợi ích lớn lao hơn cho nhân loại.
Vậy,
tại sao cuộc sống vị tha là một cuộc sống đẹp mà ai
cũng ca ngợi? Bởi vì từ lâu, do bản năng chấp ngã mãnh
liệt, chúng ta bị khuynh hướng vị kỷ tồn tại chi phối
mọi ý nghĩ, lời nói, việc làm. Từ đó, trong cuộc sống,
chúng ta chỉ biết sống cho mình, làm bất cứ điều gì cũng
vì lợi ích của mình trước. Khi còn bé, chúng ta tranh giành
miếng ăn, miếng uống, tình thương đối với anh em. Lớn
lên, có thể dùng mọi thủ đoạn để tranh giành tiền tài,
quyền lực cho mình. Thế giới này đầy ắp khổ đau là vì
cuộc sống vị kỷ. Trong Tứ Diệu Đế, khổ được coi là
một thực tế, một thực tại của cuộc sống mà nguyên nhân
của khổ là do lòng ích kỷ. Cho nên, cuộc sống vị tha là
một cuộc sống giúp người ta thoát được đau khổ. Chưa
cần tu tập những pháp cao siêu, chỉ cần sống một cuộc
sống vị tha, chúng ta đã đem lại cho tâm mình sự an lạc.
Trong
cuộc sống này, chúng ta không thiếu những điều phiền muộn,
những ray rứt khổ đau, những ưu tư trăn trở. Khi ấy, tìm
đến một vị Thầy, chúng ta sẽ được Thầy dạy một
cách quán để đối trị đau khổ.
Ví
dụ: Khi có chuyện buồn trong gia đình, chúng ta tìm đến một
vị Thầy để tìm sự thanh thản. Thầy sẽ dạy ta hãy quán
thế gian này là vô thường, thân này là bất tịnh, rồi cũng
chôn sâu trong ba tấc đất… Quán như vậy, chúng ta sẽ bớt
đi những khổ đau, phiền muộn. Khi than phiền về bệnh tật,
Thầy sẽ dạy ta quán thân này là vô thường, hư ảo, ngày
nào đó thân rồi cũng mất, chẳng có gì phải phiền muộn,
âu lo. Khi tâm sự, trong cuộc sống hay bị người ta ganh tỵ,
tranh giành quyền lợi, chúng ta sẽ được quán là hãy xem
cuộc đời này như một giấc mộng, phù du, hư ảo…Và khi
thực hành, nhờ quán các pháp đều là hư ảo, chúng ta cũng
có được đôi chút yên tâm, có được phần nào thanh thản.
Nhưng sự thật, những phép quán đối trị phiền não ấy
chỉ trị trên ngọn mà không trị được gốc, chẳng khác
nào người bệnh uống thuốc tây, hết bệnh này sẽ sinh ra
bệnh khác.
Chẳng
hạn, khi đối diện với cuộc sống, chúng ta cảm thấy có
nhiều điều không như ý, nhiều việc không thành công, nhiều
những ganh tỵ oán hờn làm mình mệt mỏi. Nếu ngồi quán
thế giới này như một giấc mơ, vô thường không đáng để
cho mình đắm luyến, chúng ta thấy lòng cũng bớt đi sầu
não. Nhưng thực chất lại xuất hiện một bệnh khác. Đó
là tâm trạng thờ ơ lãnh đạm với cuộc đời, dần dần
giết chết tâm từ bi của mình. Đây lại là một hệ quả
phụ rất nguy hiểm.
Bởi
vậy, khi học Bát Nhã, chúng ta phải cẩn thận. Pháp Bát Nhã
được ca ngợi là cao tột. Trong lục độ, Bát Nhãù nằm
ở giai đoạn cuối cùng. Khi học Kinh Pháp Hoa, chúng ta thấy
quan niệm cho rằng Kinh Pháp Hoa thù thắng hơn tất cả các
pháp khác, trừ Bát Nhã Ba La Mật. Nghĩa là ai cũng ca ngợi
pháp môn Bát Nhã, pháp môn mà theo đó người tu thấy cuộc
đời này là hư ảo, là rỗng không. Tuy nhiên, không phải
pháp môn Bát Nhã là tuyệt đối ưu điểm. Nó làm cho chúng
ta có vẻ tự tại với cuộc sống này khi nhìn tất cả
là hư ảo, nhưng nó vẫn còn phản ứng phụ, phát sinh một
bệnh phụ là làm cho chúng ta mất tâm từ bi, thờ ơ lãnh
đạm với cuộc sống này.
Người
hiểu Bát Nhã sâu, tâm có thể vào định được. Nếu thường
xuyên quán thân này là giả, tâm này là giả, cảnh vật chung
quanh đều là giả, chúng ta cũng có thể vào định được.
Nhưng đó là cái quán cạn của Bát Nhã. Nếu quán sâu hơn
nữa, pháp môn Bát Nhã còn nhiều điều vi diệu hơn. Chúng
ta có thể đạt được lý thậm thâm Bát Nhã, lý Bát Nhã
rất sâu. Người hiểu lý Bát Nhã cực kỳ sâu tự nhiên tâm
sẽ vào định, có thể viết thành sáu trăm quyển Bát Nhã
khác nhờ những kiến giải vi diệu như vậy.
Bộ
Kinh Bát Nhã để lại trong kinh tạng hiện nay là sáu trăm
quyển. Một vài vị Hòa Thượng đã dịch ra tiếng Việt Nam
nhưng vì văn còn xưa quá nên không được nhiều người hưởng
ứng. Bát Nhã có đến sáu trăm quyển, nghĩa là không có Kinh
bộ nào dài bằng bộ Kinh Bát Nhã. Người ta nói hoài không
hết ý, nói hoài không chán. Chỉ một chữ “không” thôi
nhưng nói đi, nói laị, mở rồi đóng cũng không hết ý. Nếu
một người ngộ được lý Bát Nhã, có thể tiếp tục viết
sáu trăm quyển khác, và tâm tự nhiên vào định. Lý Bát Nhã
vi diệu như vậy.
Không
một pháp môn nào có đầy đủ tất cả những ưu điểm,
sẽ có mặt hay và cũng có những điểm chưa hay. Pháp môn
Bát Nhã cũng vậy. Dù được thuyết pháp sáu trăm quyển,
ai cũng ca ngợi là cao tột, nhưng Bát Nhã vẫn có những khuyết
điểm. Điều quan trọng là chúng ta hiểu và vận dụng như
thế nào cho đúng.
Nếu
nói quán tất cả là hư ảo, nghĩa là chúng ta chỉ trị bệnh
ở ngọn thì thế nào là trị bệnh tận gốc ? Chúng ta cần
hiểu một điều, nguyên nhân của mọi đau khổ đều do vị
kỷ. Đây là một nguyên lý, một chân lý mà Phật đã nói.
Nếu cảm thấy có phiền muộn trong cuộc sống, chúng ta đừng
chữa trên ngọn, hãy chữa ngay tại gốc của nó. Đó là chữa
tâm vị kỷ của mình. Tất nhiên, chữa từ gốc là điều
không đơn giản.
Nếu
để xoa dịu nỗi buồn, chúng ta có thể quán cuộc đời là
vô thường. Nhưng để thật sự nhổ được cái gốc đau
khổ, chỉ có một cách là trị dứt tâm vị kỷ của mình.
Để làm được điều này, chúng ta phải có công phu rèn luyện
một thời gian dài. Trong thời gian đó, chúng ta sẽ có một
cuộc sống vị tha để trị được tâm vị kỷ của mình.
Lúc ấy, đau khổ sẽ thật sự vắng bóng.
Cho
dù cuộc đời mình đầy bất hạnh, là một người tật nguyền,
một người bệnh hoạn hay là một người nghèo khổ,
ít học…, nhưng nếu sống một đời thật sự vị tha, không
vị kỷ thì những mặc cảm, những nỗi buồn ấy sẽ tan
biến trong tâm hồn chúng ta. Vì đời sống vị tha sẽ đối
trị, sẽ diệt được vị kỷ. Đó là chân lý mà từ ngày
xưa, Phật đã nêu ra trong Tứ Diệu Đế. Bởi vậy, cuộc
sống vị tha là cuộc sống cực kỳ đẹp, luôn đem lại lợi
ích cho những người xung quanh vì lúc nào chúng ta cũng sống
vì họ.
Ở
phạm vi nhỏ, xung quanh được hiểu là trong một ngôi chùa,
trong lớp học, trong một gia đình, láng giềng, dòng họ,
… Ở phạm vi rộng, đó là cả một cộng đồng xã hội,
một thế giới. Tùy năng lực mà tâm vị tha, đời sống vị
tha của mình ảnh hưởng đến mức độ nào. Như vậy, khi
đã có một đời sống vị tha, trước hết những người
chung quanh mình đựơc lợi ích, và chính bản thân mình cũng
xoá sạch mọi đau khổ.
Vì
khuynh hướng vị kỷ chi phối quá mạnh nên chúng ta luôn tìm
sự thỏa mãn cho mình những ước vọng từ thấp đến
cao. Thấp nhất là ăn được ngon, mặc được đẹp, ở được
sang. Cao hơn nữa là thỏa mãn những giá trị tinh thần: được
mọi người nể trọng, cung phụng. Cao hơn nữa là được
danh tiếng, được quyền uy… Những người trong Đạo thì
cầu mong được đắc đạo. Nghĩa là lúc nào cũng muốn “thêm”
và “được”: được thành Phật, được đắc đạo, được
chứng ngộ, được giác ngộ v…v...
Đó
là do trong tận thâm tâm chúng ta vẫn còn tham vi tế. Chúng
ta luôn muốn đem lại cho mình lợi ích chứ không muốn mất
đi. Nếu nói tu là mất đi, là bỏ đi bớt, thậm chí đánh
mất luôn chính mình, chúng ta cảm thấy kinh sợ, vì nó chạm
đến lòng tham của mình mạnh quá. Học về pháp Ba La Mật,
chúng ta sẽ thấy có hai trường hợp. Có người cho rằng,
tu để được đắc đạo, được giác ngộ, được thành
Phật.v.v… và đó cũng là lý tưởng của người tu hành.
Có người lại hiểu rằng, tu là để mất, mất hết, mất
luôn cả chính mình. Trường hợp thứ nhất là người có
căn cơ thấp. Trường hợp thứ hai là người có căn cơ cao.
Họ có chánh kiến, lòng tham mỏng nhạt, lòng vị kỷ ít và
có trí tuệ từ kiếp nào nên khi nghe tu không cần phải thêm
mà được bớt đi, họ cảm thấy thích thú.
Như
vậy, những cái tham và sự ích kỷ vẫn tiếp tục tồn tại
chi phối chúng ta, làm cho chúng ta tiếp tục đau khổ. Ngoài
đời, chúng ta đau khổ vì những tham vọng của thế gian,
như được tiền bạc, giàu sang, danh vọng, tình cảm. Khi vào
Đạo, chúng ta sẽ đau khổ vì những mục tiêu của Đạo:
muốn có bằng cấp cao, muốn trở thành Thượng Tọa, Ni Sư,
muốn có chùa to, có nhiều đệ tử…Những mục tiêu ấy
sẽ làm mình đau khổ. Ngay cả những mục tiêu thuộc về
tâm linh, mong mình được đắc Đạo, được giác ngộ, nếu
không cẩn thận cũng sẽ làm mình đau khổ. Nói không cẩn
thận vì nếu hiểu hai từ giác ngộ, đắc đạo là không
thật, chúng ta sẽ không đau khổ. Nếu hiểu đó là thật
thì sẽ đau khổ vì nó.
Trong
thực tế có những trường hợp như vậy. Trong sử có câu
chuyện về sáu vị Tổ ở Trung Hoa. Nơi pháp hội của Ngũ
Tổ Hoằng Nhẫn có thượng tọa Thần Tú là bậc lãnh đạo
đại chúng và ai cũng mong rằng Ngài được Ngũ Tổ truyền
Y bát. Y bát biểu tượng cho tâm linh, chỉ có người
đã đắc đạo, đã giác ngộ mới xứng đáng được truyền
y bát. Khi nghe tin Ngài Huệ Năng đã lãnh được Y bát đó,
trong Tăng chúng xảy ra một cuộc chống đối dữ dội. Như
vậy, chúng ta thấy gọi là giác ngộ hay đắc đạo, cuối
cùng cũng chỉ là một tham vọng trá hình, và làm cho người
ta tiếp tục đau khổ.
Thế
giới này đầy ắp những đau khổ là do người ta chỉ biết
sống cho mình, hướng về mình. Bởi vậy, vị tha là một
cuộc sống cao cả, đẹp đẽ mà xưa nay tất cả các bậc
Thánh đều ca ngợi, đều tán thán. Tâm vị tha đi ngược
lại bản năng chấp ngã, ngược lại khuynh hướng vị kỷ,
và làm cho cuộc đời này vơi đi đau khổ. Cuộc sống vị
tha có thể chữa được nhiều bệnh tâm lý, nhiều phiền
não của chúng ta, và làm cho cuộc sống này hạnh phúc
hơn. Trong cuộc sống, có người mang những mặc cảm buồn
bã, nếu biết làm nhiều việc từ thiện, vị tha họ sẽ
vượt qua được những đau khổ. Còn những pháp Quán đối
trị phiền não chỉ là tạm thời.
2.
NGƯỜI XUẤT GIA PHẢI THỰC HIỆN BẰNG ĐƯỢC CUỘC SỐNG
VỊ THA.
Người
xuất gia không thể sống vị kỷ. Hiện nay, tình trạng đạo
đức của Tăng Ni bị suy thoái cũng do lối sống vị kỷ chi
phối. Khi khoác áo tu hành, bước vào Đạo, chúng ta mang hy
vọng đi tìm một đời sống giải thoát. Nếu vẫn sống vị
kỷ, chúng ta không xứng đáng sống đời tu hành. Người xuất
gia phải sống đời sống vị tha. Lý tưởng giải thoát và
cuộc sống vị tha là một vì chung một tính cách vô ngã.
Giải thoát là vượt khỏi ngã chấp, đời sống vị tha cũng
vượt khỏi ngã chấp. Nếu thiết tha đi tìm đời sống giải
thoát, chúng ta phải thực hiện bằng được đời sống vị
tha. Dù chưa tu tập được nhiều nhưng từng giờ, từng phút
trong cuộc sống này, chúng ta đều sống cho huynh đệ, sống
cho mọi người. Sống như vậy là chúng ta đang đi dần trên
con đường giải thoát, ngã chấp của chúng ta cũng đang bị
đánh phá dữ dội.
Muốn
được giải thoát phải vượt qua chấp ngã. Có nhiều con
đường để chúng ta vượt qua chấp ngã. Con đường cuối
cùng là đi bằng định và tuệ. Nhưng trước khi đi bằng
con đường ấy, chúng ta phải có đời sống hết sức vị
tha. Nghĩa là luôn luôn sống vì người khác, không còn sống
cho riêng mình. Đời sống vị tha cũng chính là kết tinh
của một đời sống Đạo đức. Chúng ta đã học rất nhiều
về Đạo đức. Dù học bình đẳng, chân thật, học cách
góp ý chỉ lỗi, hay học khiêm hạ…và sau này có thể học
thêm nhiều nữa, chúng ta cũng nhằm mục đích thành tựu được
một điều duy nhất, cuộc sống vị tha.
Đó
là một cuộc sống đẹp nhất của con người, cũng là lý
tưởng mà người xuất gia phải theo đuổi. Chúng ta phải
sống vì mọi người, từ việc rất nhỏ nhặt cho đến những
việc rất lớn lao. Dù đang theo đuổi một công trình lớn
lao: đem Phật pháp đến cho con người, hoặc cất nhà dưỡng
lão, cất trại mồ côi…nhưng chúng ta vẫn nhớ không được
bỏ qua những việc rất lặt vặt trong đời sống khi việc
đó có lợi cho người xung quanh.
Tận
sâu trong tâm hồn mình, chúng ta ghi nhớ điều ấy. Nghĩa là
không sợ gian khó cực khổ, không tiếc công, tiếc sức, không
cần biết cuộc sống mình an vui hay đau khổ, chỉ cần cho
người khác mà thôi. Chúng ta chấm dứt tất cả mục tiêu
trong cuộc sống của để từ đây chỉ còn một mục tiêu
duy nhất là làm lợi, đem lại an vui cho người khác. Người
như vậy sẽ không bao giờ còn đau khổ nữa dù sự vất vả
tất bật có thể tăng lên bội phần.
Nếu
cho rằng, tu là để đạt sự tự tại, an vui, giải thoát
là chúng ta đã bị lừa mị bởi những ngôn từ hoa mĩ ấy.
Vì như vậy là chúng ta đang đi tìm cái gì đó cho riêng mình.
Người chỉ biết tu để sống một đời an vui tự tại là
người đi ngược với đạo Phật. Có những người suốt
cuộc đời không hề đi tìm điều gì cho mình, chỉ vất vả
lo cho người khác, nhưng chính họ mới thực sự là người
đang an vui .
Những
người nhập thất phải cẩn thận. Vì khi chưa phải là một
người đạt được cuộc sống vị tha, đang bị vị kỷ chi
phối, tâm từ bi chưa thật sự rộng mở mà bước vào thất
tinh tấn tu hành, đối diện với mình, họ dễ bị vị kỷ,
chấp ngã chi phối. Mỗi ngày, chấp ngã cứ lớn dần lên,
công đức bị hao tổn mà họ không hay biết. Chỉ có những
người công đức quá khứ rất lớn, tâm vị tha rộng mở,
đời sống hết sức từ ái, khi vào thất mới thật sự yên
tâm. Họ sẽ không phát triển bản ngã hay vị kỷ.
Tục
ngữ có câu: “Kính thầy mới được làm thầy”. Muốn có
cuộc sống vị tha, chúng ta phải tìm đọc những tấm gương
đời sống vị tha của các bậc Thánh trong đạo Phật và
trên thế giới để phát khởi lòng ngưỡng mộ, làm Nhân
ban đầu cho mình. Nếu chưa bao giờ biết ngưỡng mộ ai về
đời sống vị tha, chúng ta sẽ không tìm được đời sống
vị tha cho mình. Vì đây là Nhân Quả. Hãy nhớ rằng, kính
ai điều gì, chúng ta sẽ thành tựu được điều đó.
Trước
hết, chúng ta phải biết ngưỡng mộ Đức Phật. Từ vô lượng
kiếp, Ngài đã sống cuộc sống vị tha. Đến bây giờ, tâm
Phật vẫn bao phủ và gia hộ cho tất cả những ai có tâm
thành. Trong kiếp cuối cùng, Ngài đi tu cũng là thực hiện
lý tưởng vì chúng sanh. Cha Ngài là vua Tịnh Phạn đã sợ
Ngài sẽ từ bỏ cung điện đi tu nên đã cho Ngài đầy đủ
các cuộc vui. Nhưng những cuộc vui xao động của thế
gian cuối cùng cũng trở nên nhàm chán. Đức Phật cũng không
còn vui khi Ngài hiểu được cuộc sống bên ngoài vô
cùng phức tạp và đầy đau khổ. Chúng ta thường nghe kể
lại điều này ở câu chuyện ngụ ngôn Đức Phật đi qua
bốn cửa thành nhìn thấy sinh, lão, bệnh, tử và trong lòng
cảm thấy bất an. Do có phước, Ngài được sống trong Hoàng
cung đầy đủ tiện nghi, được mọi người chìu chuộng.
Khi bước ra ngoài, Ngài mới thấu hiểu nỗi vất vả, khổ
nhọc của người dân. Ngài luôn băn khoăn, phải làm điều
gì cho con người đừng đau khổ nữa?
Chính
động cơ vị tha đã thúc đẩy Ngài rời bỏ Hoàng cung làm
người xuất gia. Không phải bây giờ mà trong vô lượng kiếp
trước, tất cả cuộc sống của Ngài cũng chỉ vì chúng sinh.
Nếu có Đạo nhãn, chúng ta sẽ nhìn thấy được những kiếp
xưa của Đức Phật và lòng ngưỡng mộ của chúng ta sẽ
không còn biên giới. Ngài có thể bỏ thân mạng mình cho người
khác một cách dễ dàng, có thể hy sinh cả một đời để
vì mọi người mà không bao giờ tiếc nuối. Công hạnh tích
lũy lòng thương yêu con người với đời sống vị tha của
Ngài là vô lượng, vô biên. Đức Phật quả là một tấm
gương lớn về đời sống vị tha mà chúng ta phải chiêm nghiệm,
phải suy ngẫm, phải tán thán, phải ngưỡng mộ.
Ngay
cả các vị Alahán nhiều khi bị hiểu lầm là trầm không
trệ tịch, là thụ động sống cho mình cũng là những người
có cuộc sống vị tha. Chúng ta thấy ngài Xá Lợi Phất, Mục
Kiền Liên sống rất cực khổ, rất vất vả cũng vì lo cho
chúng Tăng, cũng vì bảo vệ Tăng đoàn. Ngài chứng Alahán
nhưng không hề tiêu cực hay thụ động.
Một
lần, Đức Phật gặp ba tôn giả Alahán sống trong khu rừng,
sống rất lặng lẽ, Ngài đã khen ba tôn giả sống chỉ vì
an lạc, hạnh phúc của Chư Thiên và loài người. Trong khi
đời sống các vị rất lặng lẽ, ban ngày đi khất thực,
đêm về tọa Thiền bất động, rồi cuối cùng cũng sẽ nhập
Niết Bàn. Sống tĩnh lặng như vậy nhưng Đức Phật vẫn
khen là sống vì lòng thương yêu đối với chúng sanh. Đây
cũng là điều vi diệu mà chúng ta không thể hiểu được.
Có lẽ do tâm từ của một vị Alahán lan tỏa rộng lớn nên
ngay cả khi Ngài không làm gì nhưng trong thế giới vô hình,
biết bao nhiêu chúng sinh vẫn được lợi ích.
Ngài
Anan có một cuộc sống vị tha thật là tuyệt vời. Ngài theo
hầu Phật một cách nghiêm túc, tôn kính và chu đáo. Chính
được Ngài Anan lo toan chu đáo nên Phật không bận tâm nhiều,
được tiện nghi trong đời sống để đi thuyết pháp. Như
vậy, qua việc hầu Phật, Ngài Anan đã làm lợi ích thật
nhiều cho chúng sinh. Khi tiếp xúc với người khác, từng lời
nói của Ngài đều đem lại lợi ích cho họ. Lúc chưa chứng
Alahán, Ngài đã thuyết pháp làm cho người khác chứng được
Alahán. Công đức của Ngài thật lớn lao. Ngài từng xin đức
Phật cho người nữ được xuất gia. Đây cũng là một công
đức lớn đối với chúng sinh. Vì theo quan niệm của người
Á Đông, người nữ nặng nghiệp hơn người nam. Vậy, phải
tạo cơ hội cho họ tu hành để hết nghiệp. Nếu không, họ
sẽ không có cơ hội để tăng trưởng được phước duyên.
Sau
khi Phật tịch, Ngài Anan đã chứng Alahán và được vào hang
Tất Bát La để trùng tuyên lại Kinh điển. Sau này, ngài Hư
Vân một lần nhập định lên cõi trời Đẩu Suất đã trông
thấy ngài A Nan đang theo hầu Bồ Tát Di Lặc, ủng hộ cho
Bồ Tát Di Lặc làm việc Phật pháp. Như vậy, Ngài đâu phải
bỏ đi, vẫn làm vì lợi ích của chúng sinh.
Gần
đây, có hai vợ chồng một gia đình Phật tử đến chùa quy
y. Sau đó, người mẹ theo đạo Thiên Chúa sống ở Mỹ cũng
về xin quy y. Hỏi nguyên nhân vì sao người đó nói rằng,
cha anh ta chết từ năm sáu mươi tám, không hiểu sao hiện
về nói bên tai đứa cháu gái tất cả mọi điều. Ông nói
chuyện thế gian, chuyện âm phủ, rất rành mạch. Từ đó,
bà mẹ chứng kiến và có niềm tin với đạo Phật nên xin
quy y . Họ nhờ Thầy Trụ trì làm lễ cầu siêu, lễ quy y
cho những người trong gia đình. Người ta kể lại rằng, sau
khi làm lễ cầu siêu, người ấy lại trở về, cũng nói bên
tai đứa cháu gái lời cám ơn đối với người đã làm lễ
trang trọng cho mình. Ông ta còn nói những hương linh chung quanh
cũng rất vui mừng, họ cũng đến chúc mừng ông. Từ bây
giờ, họ không bao giờ về nhà nữa mà sẽ theo Thầy, nghe
giảng đạo để mong khởi được tâm thương yêu tất cả
chúng sinh. Chúng ta không có Đạo nhãn để nhìn thấy điều
ấy và cũng không biết thực hư ra sao chỉ biết rằng, có
người tin và theo Phật để làm lợi ích cho người khác là
điều rất quý.
Từ
câu chuyện của gia đình người Phật tử trên, chúng ta thấy
rằng, các thầy Trụ trì cũng chỉ là người bình thường,
nhưng do thành tâm nên nghi lễ cầu siêu đã được linh nghiệm.
Vì vậy, chuyện Phật khen ba vị tôn giả Alahán cũng là điều
dễ hiểu. Cái tâm từ của một vị chứng ngộ sẽ lan tỏa
đem lại lợi ích vô cùng cho chúng sinh, nhất là thế giới
vô hình. Thế giới vô hình cảm nhận tâm đó mạnh hơn
chúng ta rất nhiều. Có khi sống gần một vị Thánh chúng
ta không biết rõ, nhưng những người chung quanh trong thế giới
vô hình lại cảm nhận được điều đó rất mạnh. Nhờ
vậy, họ được lợi ích rất nhiều. Ta phải hiểu rằng
có khi bên ngoài lặng lẽ, ít làm việc, nhưng kỳ thực
các vị Alahán có một cuộc sống rất vị tha.
Gần
đây, người ta thường ngợi ca Mẹ Theresa, một nữ tu sĩ
Công giáo. Cả một đời, Mẹ sống cho người nghèo, cho người
bệnh và tấm gương của bà lan tỏa, ảnh hưởng đến mọi
người. Rất nhiều người đã đi tu theo bà,và cũng một đời
xả thân để xoa dịu nỗi đau khổ cho cuộc đời. Đó là
một tấm gương rất đẹp, rất đáng trân trọng. Khi học
theo bà sống đời vị tha, nhiều người cũng chấm dứt được
đau khổ. Vì vậy, những nữ tu sĩ theo Mẹ Theresa chắc chắn
cũng là những con người rất hạnh phúc, rất an vui. Vì họ
không lo gì cho mình, chỉ lo cho người bệnh, người nghèo.
Khi bà chết, cả thế giới đều xưng tụng, ngợi ca, có những
quốc gia còn để cờ tang.
Tuy
nhiên, chúng ta đã biết, cái gốc của đau khổ là do ích
kỷ, do kém Đạo đức. Muốn nhổ được gốc đau khổ cho
cuộc đời, phải làm sao cho người ta có Đạo đức. Bởi
vậy, theo quan điểm của đạo Phật, việc bà làm tuy rất
đẹp nhưng chưa thực sự “bứng” được cái gốc đau khổ.
Vì bà không đặt nặng vấn đề Đạo đức. Trong đạo Phật
chúng ta có Hòa Thượng Hư Vân suốt đời vì Phật pháp, không
ở chùa đã hoàn thành, không sở hữu tài sản. Ngài Hư Vân
là một tấm gương vị tha vĩ đại. Đời sống của Ngài
vô cùng đơn giản. Với những manh áo tầm thường, vài con
dao cạo tóc…, Ngài đã đi hết nơi này đến nơi khác làm
việc Phật pháp, giáo hóa chúng sinh. Khi thấy dân chúng
khổ, Ngài tìm cách ra tay giúp đỡ. Khi thấy hai bên đánh
nhau, Ngài khuyên người ta dừng lại binh đao. Những nơi Tổ
Đình hoang phế, Ngài tìm cách phục hồi, trùng tu, xây dựng
lại Tăng chúng, giữ lại kỷ cương, giữ lại giới luật
mà giáo hoá.. .Ngài chẳng bao giờ đến chùa to mà ở. Khi
giáo hóa, ngài cũng không phân biệt pháp môn. Gặp người
niệm Phật, Ngài dạy niệm Phật. Gặp người thoại
đầu, Ngài dạy thoại đầu. Cả một đời, Ngài cứ sống
như thế. Và Ngài thọ đến hơn một trăm hai mươi tuổi mới
viên tịch.
Khi
Trung Hoa lục địa được Đảng cộng sản Trung Quốc giải
phóng, Ngài đang ở Hương Cảng (Hồng Kông). Lúc bấy giờ
ai cũng lo sợ cho Ngài vì nghĩ rằng người cộng sản Trung
Hoa không tin tôn giáo, họ sẽ chống báng và làm khó dễ Ngài.
Mọi người khuyên Ngài nên ở lại Hương Cảng. Nhưng Ngài
không chịu vì lúc đó ở lục địa chỉ có Ngài là bậc
tôn túc. Nếu Ngài không về, Tăng Ni không có chỗ dựa và
sẽ tan tác. Mặc dù biết sẽ gặp rất nhiều khó khăn nhưng
Ngài vẫn từ giã Hương Cảng, trở về Trung Hoa lục địa.
Quả thật, trong thời gian đầu, vì chưa hiểu, chưa thông
cảm, chính quyền đã làm khổ Ngài vô cùng. Họ cho lính đến
xét chùa, bắt giam các Thầy, đánh đập rất tàn nhẫn đến
nỗi có vài người không chịu được đã chết. Họ cũng
giam và đánh đập Ngài, đánh đến gần chết. Hết đánh
bằng cây gỗ, họ đập bằng cây sắt. Đánh Ngài từ trên
giường rơi xuống đất vẫn chưa thỏa mãn, năm bảy tên
lính mang giày đinh giẫm lên người Ngài. Mình mẩy Ngài bê
bết máu, trông rất thê thảm. Vậy mà Ngài vẫn thản nhiên,
lòng không chút sợ hãi hay oán hờn. Sau khi Ngài lành bệnh,
chính quyền ở Bắc Kinh mới hiểu và mời Ngài thành lập
Giáo hội Phật giáo. Tuy không giữ chức vụ gì quan trọng
nhưng Ngài đứng đó làm chỗ dựa tinh thần cho Tăng Ni. Nhờ
vậy, người ta vững tâm tu hành, giữ được giềng mối của
Đạo. Ngài có thần thông, biết trước được những thảm
nạn khi về Trung Hoa lục địa, nhưng vẫn không sợ. Ngài
chấp nhận để giữ được chỗ dựa tinh thần cho Tăng Ni,
từ đó tạo điều kiện phát triển Phật pháp. Tấm gương
vị tha của Ngài Hư Vân thật quá vĩ đại. Là người xuất
gia, chúng ta phải phấn đấu để đạt được đời
sống vị tha tuyệt vời như vậy.
Để
đạt được cuộc sống vị tha, mỗi khi làm việc gì chúng
ta hãy đặt lại câu hỏi. Xuất gia để làm gì? ? Lễ Phật
để làm gì? Ăn cơm, uống nước, nghỉ ngơi để làm
gì? Đi học để làm gì? Nhìn thấy huynh đệ tự hỏi mình
phải làm gì? vv…
Hỏi
như vậy và tự trả lời, chúng ta sẽ kiểm soát được mình.
Cũng làm những công việc như mọi người nhưng chúng ta đừng
nghĩ làm cho mình mà phải nghĩ là làm lợi ích nhiều cho chúng
sinh sau này. Chúng ta ăn cơm, uống nước cũng nghĩ rằng để
có sức mà lo làm Phật sự. Khi mệt nằm nghỉ, chúng ta dừng
nghĩ để cho mình khoẻ mà sức khoẻ này là để cúng dường
Tam Bảo, để lợi ích nhiều cho cuộc đời này. Những lý
tưởng cao siêu có thể chúng ta chưa làm được, nhưng trong
ý nghĩ của mình, chúng ta luôn luôn nghĩ những điều rất
thánh thiện, rất vị tha.
Khi
nhìn thấy chúng sinh, nghĩ đến thế giới, chúng ta tự hỏi
mình phải làm gì ? Chẳng hạn, thấy đạo Phật đang suy thoái,
chúng ta phải băn khoăn. Phải nhận ra rằng, chính lối sống
của Tăng Ni làm cho đạo Phật yếu đuối. Tăng Ni phải chủ
động, phải có sức mạnh để chống đỡ khi có khó khăn
trở ngại. Sở dĩ trong thực tế, Hồi Giáo đi đến đâu,
đạo Phật suy yếu đến đó là do sức sống của đạo Phật
yếu. Nguyên nhân chính là do từng người chúng ta không có
tâm vị tha mạnh mẽ. Chúng ta còn sống cho mình nhiều quá.
Chẳng hạn, ở Inđônêxia, cộng đồng người Hoa theo đạo
Phật khá đông. Nhờ có họ mà đạo Phật hiện diện tại
nước này. Vậy mà, ngày nay nhóm Hồi Giáo khủng bố và đuổi
hết người Hoa ra khỏi Inđônêxia. Trong tương lai, Inđônêxia
sẽ không còn Phật giáo. Trước tình trạng đó, chúng ta sẽ
làm gì ? Phải thường xuyên đặt những câu hỏi như thế.
Hoặc
nhìn thế giới cứ xung đột, xâu xé lẫn nhau, luôn đem lại
sự bất an, chúng ta làm được điều gì ? Nếu không
bao giờ ray rứt về những điều đó, chúng ta là người sống
vị kỷ. Người có cuộc sống vị tha không bao giờ bình yên,
thanh thản được. Họ luôn cảm thấy ưu tư và thấy mình
phải có bổn phận, có trách nhiệm đối với cuộc đời
này. Đó mới đúng là người Phật tử chân chính.
Chúng
ta hãy thành thật tự trách mình mỗi khi thấy tâm mình xuất
hiện những tư tưởng ích kỷ. Việc xây dựng tâm hồn vị
tha, đời sống vị tha là việc rất khó khăn, phải trải
qua một thời gian dài. Vì vậy, chúng ta phải cố gắng tu
tập từng ngày.
Chẳng
hạn, đối với người tu, ích kỷ thường biểu hiện ở
sự ham muốn mình có được nhiều tiền, có chùa to, có danh
tiếng…Hoặc khi nhìn thấy những người xung quanh rơi vào
hoàn cảnh khó khăn mà chúng ta làm lơ, tự nhiên tâm vị kỷ
sẽ lớn lên. Khi có chuyện không hay xảy ra, chúng ta lại
đổ lỗi cho người khác, đó cũng là biểu hiện của một
đời sống vị kỷ. Hãy cứ nhận lỗi về mình, chúng ta sẽ
có một đời sống vị tha.
3.
CẨN THẬN GIỮA LÝ TƯỞNG VÀ THAM VỌNG.
Về
lý tưởng và tham vọng, chúng ta đã được học ở những
bài trước. Ở đây, chúng ta chỉ tìm hiểu mối quan hệ giữa
lý tưởng và tham vọng với cuộc sống vị tha.
Chúng
ta nên nhớ rằng, làm phước chưa hẳn là vị tha. Vì đằng
sau việc làm phước ấy có thể còn tâm niệm cầu phước.
Mà cầu phước là thái độ hoàn toàn vị kỷ. Đôi khi, nhìn
bề ngoài, việc làm phước có vẻ như vị tha, nhưng
thật sự vị kỷ đang lớn dần lên trong tâm chúng ta. Có
nhiều người rất năng đi chùa lạy Phật, nhưng chỉ để
cầu cho mình bao nhiêu điều tốt đẹp. Vì vậy, càng đi chùa
nhiều càng tăng trưởng vị kỷ.
Chúng
ta cần phân biệt giữa lý tưởng và tham vọng. Người có
lý tưởng và tham vọng đều có chung một điểm là họ đều
có hoài bão lớn, mục tiêu lớn, dự định lớn. Đó có thể
là dự định sẽ cất một ngôi chùa rất lớn, xây một trường
Đại học Phật giáo bề thế nhất Đông Nam Á, hoặc đó
là ước mơ mở được một trại mồ côi để tập trung được
vài trăm ngàn trẻ mồ côi về nuôi dưỡng vv…. Nhưng trong
những hoài bão, những dự định lớn lao đó, đâu là lý
tưởng, đâu là tham vọng? Chúng ta phải hiểu rằng,
nếu thật sự vì Phật pháp, vì chúng sinh, người có những
mơ ước , hoãi bão như vậy là người sống có lý tưởng.
Nhưng nếu làm để cầu mong một điều gì đó cho mình, danh
tiếng, lợi lộc chẳng hạn, thì đó là tham vọng. Nói cách
khác, cả hai có những điểm rất giống nhau nhưng hễ vì
mình là tham vọng, vì người là lý tưởng. Bởi
vậy, khi có những mơ ước, những dự định lớn, chúng ta
phải cẩn thận xét kĩ tâm mình, xem đó là vì mình
hay vì chúng sanh, vì Phật pháp.
4.
QUAN ĐIỂM ĐỐI VỚI HẠNH PHÚC.
Chúng
ta sống là để đi tìm hạnh phúc. Vì sống mà không có hy
vọng, không có hạnh phúc là một cuộc sống vô nghĩa. Nhưng
hạnh phúc vốn rất mong manh và không dễ dàng tìm được.
Chúng ta phải luôn luôn hy vọng rằng, mình sẽ tìm thấy hạnh
phúc trên cuộc đời này. Hy vọng như vậy để chúng ta cố
gắng sống, cố gắng vượt qua những khó khăn gian khổ, vượt
qua những thử thách nghiệt ngã của cuộc đời. Chừng nào
con người không còn hy vọng, chừng đó họ sẽ bị cuộc
đời làm cho ngã gục.
Khi
còn nhỏ sống trong vòng tay cha mẹ, chúng ta hy vọng lớn lên
sẽ thành đạt, có cuộc sống giàu sang, danh vọng….Càng
lớn lên, con người càng hy vọng điều đó. Hôm nay còn khó
khăn, người ta hy vọng vài năm nữa rồi cuộc sống sẽ khá
hơn, sung sướng hơn. Đến khi gần đất xa trời, không còn
hy vọng được nữa, họ lại hy vọng vào kiếp sau. Vì niềm
hy vọng về cuộc sống hạnh phúc phía trước mà chúng ta
vượt qua tất cả. Nghĩa là chúng ta sống để đi tìm hạnh
phúc. Đó là mục đích, là khát vọng lớn lao, mãnh liệt
của con người. Ngay cả những người bất hạnh, sống lang
thang lê lết bên lề đường xin ăn, họ vẫn yêu vô cùng
sự sống và hy vọng vào ngày mai tươi sáng vẫn không lụi
tắt trong lòng họ. Nếu đã hoàn toàn tuyệt vọng, họ sẽ
không kéo dài cuộc sống của mình trong khổ đau như vậy.
Là
đệ tử Phật, chúng ta phải có một quan điểm rõ ràng về
hạnh phúc. Chúng ta thừa nhận sống để đi tìm hạnh
phúc. Nhưng với người tu hành, hạnh phúc là gì? Chúng ta
sẽ đi tìm hạnh phúc cho chính mình, hay sẽ dành cuộc đời
này đi tìm hạnh phúc cho người khác? Đặt lại câu hỏi
đó một lần nữa, chúng ta suy nghĩ cho thấu đáo để sống
một cuộc đời đúng nghĩa.
Rõ
ràng, người đệ tử Phật phải sống cuộc sống vị tha,
sống là để đi tìm hạnh phúc cho người khác chứ không
phải cho bản thân mình. Có thể trước đây, cuộc sống của
chúng ta còn nhiều đau khổ, còn những nỗi bất an và chúng
ta cũng đã từng hy vọng một ngày nào đó, mình được sống
một cuộc đời hạnh phúc. Nhưng bây giờ, chúng ta không còn
hy vọng điều đó nữa. Với người tu hành chúng ta, hạnh
phúc lớn nhất là đem lại được hạnh phúc cho người khác.
Như
vậy, điều quan trọng là để đem lại hạnh phúc cho người
khác, chúng ta phải làm gì ? Trước hết, chúng ta phải hiểu
điều này, hạnh phúc là do tâm vị tha chứ không phải do
phước. Nói như vậy có vẻ hơi mâu thuẫn, nhưng nghĩ một
cách sâu sắc, điều đó hoàn toàn đúng. Chẳng hạn, có những
người trước kia hay bố thí, làm phước nên họ được nhiều
phước và đời này họ có được cuộc sống giàu sang. Nhưng
giàu sang không hẳn là hạnh phúc. Chúng ta đã đọc được
điều này rất nhiều trong những cuốn sách viết về Nhân
Quả. Có tiền nhiều và có hạnh phúc là hai khái niệm hoàn
toàn khác nhau. Nhiều người sống trên đống vàng nhưng vô
cùng đau khổ. Họ chỉ hơn những người nghèo là có cuộc
sống vật chất thoải mái, còn hạnh phúc vẫn thuộc về
lĩnh vực của tâm.
Một
người nghèo về vật chất nhưng sống một đời vị tha vẫn
an vui, hạnh phúc, và họ cũng tạo được phước cho đời
sau. Như vậy, người có phước do tâm vị tha, đời này sẽ
an vui. Còn người có phước do tâm cầu phước ở đời trước,
đời này có thể giàu sang nhưng lại sống bất an. Vì tâm
cầu phước là tâm vị kỷ. Chúng ta cần phân biệt được
điều đó. Hạnh phúc thật sự vẫn là do tâm vị tha đem
lại. Có thể chúng ta chưa làm được điều gì lớn lao, chỉ
cần sống vị tha thôi, chúng ta đã thấy mình rất hạnh phúc
vì đi đúng nguyên lý Tứ Diệu Đế của Phật.
Vì
vậy, chúng ta đừng mất thì giờ tự ám thị mình là người
hạnh phúc, luôn mang vẻ mặt an lạc, thoả mãn. Vì hạnh phúc
không phải do ám thị mà có, hạnh phúc là do đời sống
vị tha đem lại. Nhiều khi chúng ta được dạy, là đệ tử
Phật, phải tự tại an vui, đi đứng đoan trang, lúc nào cũng
nở nụ cười trên môi, gương mặt phải thanh thản…Thực
ra, đó là lối sống ích kỷ, chỉ nghĩ về mình. Chúng ta
đừng bận tâm về điều đó, đừng tự ám thị mình là
người hạnh phúc. Hãy bận tâm đăm chiêu đi tìm hạnh phúc
cho phúc cho mọi người. Có thể lúc nào chúng ta cũng tất
bật, vội vã nhưng vì tâm mãi lo cho người khác nên không
bao giờ đau khổ đến được với tâm mình. Hai chữ tự tại
có vẻ thanh thoát, nhưng nếu chỉ đi tìm cái đó cho mình,
chúng ta vẫn bị vị kỷ chi phối. Mà vị kỷ có mặt thì
sẽ kéo theo những đau khổ, bất an.
Với
cuộc sống vị tha, hạnh phúc dần dần tràn ngập mà chúng
ta không ngờ được. Suốt cuộc đời lo cho người khác, đến
một lúc nào đó tự nhiên chúng ta thấy cuộc đời mình tràn
ngập niềm vui. Nhưng đừng bao giờ dừng lại đó để hưởng
thụ, hãy tiếp tục bận tâm lo cho mọi người. Nếu tự mãn
với hạnh phúc mà mình đang có nghĩa là chúng ta bắt đầu
lui bước. Nếu chỉ biết hưởng thụ hạnh phúc, niềm vui
dù niềm vui đó do đời sống vị tha lúc trước tạo nên,
là chúng ta bắt đầu rơi trở lại lối sống vị kỷ. Như
vậy, chúng ta sẽ không đi tới được đời sống vị tha
vô lượng, vô biên. Đây là điểm rất khó, rất tinh tế
trong tâm mà chúng ta phải tỉnh táo để thoát ra. Sở dĩ một
vị Phật thành được Phật quả là do các công hạnh của
Ngài vô hạn, vô biên. Ngài làm phước mãi, sống vị tha mãi,
không bao giờ dừng lại để hưởng niềm vui .
Người
tu theo hạnh Bồ Tát Ba La Mật vô lượng vô biên không
bao giờ biết dừng lại để hưởng thụ. Chúng ta cũng vậy,
nếu sống đời sống vị tha thì tâm mình tự nhiên xuất
hiện niềm vui nhưng đừng bao giờ dừng lại để hưởng
niềm vui trong tâm đó, hãy cứ tiếp tục bận tâm để lo
cho người khác.
5.
TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐỆ TỬ PHẬT KHI THẤY THẾ GIỚI
NÀY CHƯA BIẾT ĐƯỢC CHÁNH PHÁP.
Trên
thế giới này, người biết Đạo không nhiều. Bên cạnh đó,
còn không ít người rơi vào tà kiến. Họ chưa tin vào Nhân
quả, chưa tin luân hồi, cũng không tin rằng có Niết Bàn tuyệt
đối, là nơi giải thoát thật sự. Rất nhiều người trên
thế giới chưa biết được điều đó. Bởi vậy, người
đệ tử Phật không bao giờ được nghỉ ngơi khi thấy thế
gian này chưa hiểu được Chánh pháp. Đây cũng là lời nguyện
khi quy y. Một ngày nào đó, quỳ trước tượng Phật, nhận
mình là đệ tử Phật, xin nương tựa Phật, tôn thờ Phật,
chúng ta phải phát nguyện là sẽ đem Phật pháp đến với
mọi người, từ gia đình đến xã hội.
Khi
quý Phật tử quy y, ngoài việc thọ trì Tam quy, Ngũ giới,
cần phải thọ thêm Thất nguyện (Bảy điều nguyện). Bảy
điều nguyện này có thể chúng ta đã được nghe, nhưng phải
được xác quyết lại trong buổi lễ quy y. Bảy điều nguyện
đó được sắp xếp từ thấp đến cao :
Thứ
nhất: Phật tử tập ăn chay dần dần, từ ít ngày lên nhiều
ngày.
Thứ
hai: Phật tử phát nguyện học hỏi giáo pháp không biết mệt
mỏi. Có thể học hỏi trực tiếp từ những vị Thầy, Cô
tu hành chân chính, hoặc học từ băng hay, sách hay, không bao
giờ biết mệt mỏi.
Thứ
ba: Phật tử phải phát nguyện lễ Phật, tọa Thiền, vì đó
là sự thực hiện tu hành tâm linh.
Thứ
tư: Phật tử phải phát nguyện suốt đời siêng năng làm
việc từ thiện.
Thứ
năm: Phật tử phát nguyện phải Phật hóa gia đình, làm cho
tất cả những người thân trong gia đình, họ hàng mình đều
biết Phật pháp, nhất là đối với trẻ em.
Thứ
sáu: Phật tử phát nguyện sẽ đem Chánh pháp đến với những
người chưa biết, để cho họ tìm được an vui trong cuộc
sống này.
Thứ
bảy: Phật tử phát nguyện phải kiên cường giữ Đạo trong
bất kỳ hoàn cảnh khó khăn gian khổ nào.
Đây
là bảy lời nguyện khi quy y chúng ta phải thọ trì. Không
chỉ là những lời nguyện mà chúng ta phải thực hiện cho
bằng được. Người Phật tử ngày đầu tiên đến làm đệ
tử Phật nhận được bảy điều nguyện này, sẽ là những
người rất năng nổ, tích cực, chân chính. Và nếu tất cả
Phật tử đều được như vậy, chúng ta sẽ thấy Phật giáo
có nhiều đổi thay, đạo Phật sẽ tích cực hơn, năng động
hơn, làm lợi ích cho thế giới nhiều hơn.
Có
người cho rằng, người có lòng từ sẽ bận tâm về sự
thiếu thốn của những người chung quanh. Như thế, trong lúc
ngồi Thiền, sự bận tâm cứ quanh quẩn trong tâm trí, làm
sao vào định được. Thực ra, khi ngồi Thiền, chúng ta phải
lo nhiếp tâm. Lúc đó, nếu còn bận tâm làm sao có kinh nghiệm
Thiền định để dạy cho người khác. Trong đời sống, chúng
ta bận tâm rất nhiều chuyện, nhưng khi ngồi Thiền chúng
ta chỉ nghĩ đến việc thực hành cho có kinh nghiệm dạy lại
cho người khác. Nghĩ về người khác, đó cũng là từ bi,
và cái này phải chi phối chúng ta mạnh hơn nên chúng ta sẽ
không còn bận tâm đến những chuyện lặt vặt nữa.
Thiền
tức là không suy nghĩ. Trong đời sống, chúng ta còn phải
lo bao nhiêu việc. Đó cũng là điều khiến chúng ta động
tâm. Nếu động tâm vị kỷ, chúng ta sẽ càng lúc càng không
vào định được. Còn nếu động tâm trong đời sống
là động tâm vị tha, khi ngồi Thiền chúng ta sẽ vào định
dễ hơn. Đời sống vị tha sẽ làm cho mình tăng trưởng được
Thiền định.
Nói
đến cuộc sống vị tha, có người băn khoăn làm sao Phật
tử tại gia hiểu rõ, làm phước hữu lậu và phước vô lậu.
Hữu lậu là vẫn còn dấu vết của luân hồi, vô lậu là
đi ra khỏi luân hồi. Ví dụ, khi bố thí cúng dường, khi
làm mọi việc tốt lành cho người mà trong tâm chúng ta còn
mong được hưởng phước, là chúng ta chưa ra khỏi luân hồi,
vẫn còn dấu vết luân hồi trong việc làm phước đó. Còn
nếu luôn làm phước, luôn hy sinh vì cuộc sống của mọi
người, mong cho mọi người được giác ngộ, giải thoát mà
không cầu phước cho mình là chúng ta đã gieo phước vô lậu.
Khi ấy, dấu vết luân hồi không còn vương lại trong việc
làm phước của chúng ta.
Chúng
ta thường thấy bên tượng Đức Phật Thích Ca có hai vị
Phổ Hiền và Văn Thù đứng hai bên, còn tượng Di Đà có
Quan Âm và Thế Chí đứng hai bên. Phổ Hiền tượng trưng
cho Hạnh và Văn Thù tượng trưng cho Trí. Hạnh tức là Đạo
đức và Trí là Trí tuệ. Trí tuệ soi sáng cho Đạo đức
và ngược lại, Đạo đức nâng cao Trí tuệ.
Một
người đi trên đường giác ngộ phải có Trí tuệ và Giới
hạnh. Ngài Văn Thù tượng trưng cho sự soi sáng, còn Ngài
Phổ Hiền tượng trưng cho hành động. Muốn hành động phải
có trí tuệ soi sáng. Có hành động, có kinh nghiệm lại giúp
cho việc soi sáng rõ hơn. Còn Quan Âm tượng trưng cho lòng
Đại Bi, Thế Chí tượng trưng cho Đại Lực, cho sự dõng
mãnh. Nghĩa là, muốn thực hiện được ý nguyện độ sinh,
muốn cứu khổ cho con người, chúng ta phải có sức mạnh.
Nếu không có gan dõng mãnh làm sao chúng ta có thể xông pha
trong luân hồi để cứu độ chúng sanh?
Trong
cuộc sống, có khi chúng ta rất siêng năng, rất muốn giúp
người nhưng vì thể lực yếu đuối, bản tính nhút nhát
nên không thực hiện được. Bởi vậy, muốn làm việc cứu
khổ chúng sanh, chúng ta cần phải mạnh mẽ hơn, bản lĩnh
hơn.
Có
người cho rằng, phải buông tất cả những lo toan để niệm
Phật vì nếu cứ lo cho mọi người, tâm sẽ tán loạn vọng
tưởng, không thanh tịnh được. Chúng ta đừng nghĩ như vậy.
Cứ lo cho người khác, cứ tán loạn vọng tưởng, chúng ta
sẽ nhiếp tâm được vì chúng ta đã sống một cuộc sống
vị tha. Chúng ta phải hiểu rằng, nhiếp tâm được hay không
là do phước. Nếu quan niệm sống buông hết để tu cho thanh
tịnh, không cẩn thận, chúng ta sẽ rơi vào lối sống vị
kỷ, sẽ không nhiếp tâm được.
Đạo
Phật tiến bộ là một đạo Phật rất tinh tấn tu Thiền,
nhưng rất siêng năng đem lại lợi ích cho mọi người . Cả
hai đều rất quan trọng. Là một đệ tử của Phật, chúng
ta phải rất siêng năng tu tập Thiền định và cũng rất siêng
năng làm lợi ích cho chúng sanh. Nếu muốn tu Thiền định
có kết quả, chúng ta phải yên tâm làm phước, yên tâm sống
vì mọi người. Phước là Nhân quả “giấu mặt”, có sự
chi phối rất bí mật đến đời sống của chúng ta. Chính
phước bí mật đó giúp tâm chúng ta vào định. Đây cũng
là một điều bí mật, không giải thích được, nhưng lại
là một nguyên lý rất đúng, tuyệt đối đúng.