NHẪN
NHỤC
1.
ĐỊNH NGHĨA.
Nhẫn
là nhịn, là chịu đựng phần kém, phần thiệt thòi về mình.
Trong tiếng Việt, chữ nhịn có cùng nghĩa với chữ nhẫn
của Trung Quốc. Có thể coi chữ nhẫn mà chúng ta dùng hôm
nay có nguồn gốc từ tiếng Hán và đã được Việt hóa.
Nhục là hèn kém, đáng xấu hổ. Như vậy, nhẫn nhục là
chịu đựng sự hèn kém, nhục nhã, đáng xấu hổ.
Trong
trường hợp nào chúng ta phải chịu đựng và sự chịu đựng
ấy được coi là nhẫn nhục?
Chúng
ta thường nhẫn nhục trong trường hợp bị xúc phạm bởi
người bằng mình hoặc dưới mình.
Ví
dụ, chúng ta cảm thấy bị xúc phạm khi một người nhỏ
hơn mình lại hỗn láo với mình. Nhưng khi bị xúc phạm, chúng
ta vẫn bình thản chịu đựng, không có sự phản ứng gì
trước sự xúc phạm ấy. Như thế là chúng ta đã nhẫn nhục.
Hoặc một người “bằng vai phải lứa” với chúng ta lại
nặêng lời hoặc tỏ ra lấn át chúng ta, nhưng lúc ấy chúng
ta không phản ứng, phải chịu đựng phần thiệt thòi về
mình, đó cũng là sự nhẫn nhục.
Trường
hợp thứ hai, chúng ta là người nhỏ, bị người lớn chèn
ép, tước đoạt hết quyền lợi, phải gánh chịu những vất
vả, cực nhọc cho người khác. Sự chịu đựng đó được
gọi là nhẫn nhục.
Ngoài
ra, chúng ta còn phải chịu đựng, nhẫn nhục khi rơi vào những
hoàn cảnh khốn khó. Chẳng hạn, gặp lúc thiếu thốn, đói
khổ, chúng ta không bi quan, không ngã gục, phải chịu đựng
để vượt qua. Sức chịu đựng ấy cũng được coi là nhẫn
nhục.
Ở
đây, chúng ta cần phân biệt nhẫn nhục với những trạng
thái tâm lý khác. Nếu bị người khác xúc phạm, chúng ta
không giữ được bình tĩnh thì sẽ rơi vào tâm sân (nóng
nảy). Nhẫn nhục không phải là phản nghĩa của nóng nảy.
Nóng nảy là mất bình tĩnh, là đưa ra những phản ứng mạnh.
Trong khi đó, nhẫn nhục là chịu đựng sự xúc phạm mà không
phản ứng. Người vượt lên tâm sân sẽ giữ được trầm
tĩnh, không phản ứng. Nhưng thái độ trầm tĩnh ấy chưa
hẳn là nhẫn nhục. Vì ẩn sau vẻ ngoài trầm tĩnh ấy thường
có nhiều tâm trạng khác nhau.
Trước
hết là sự thâm hiểm. Chúng ta biết rằng, người có lòng
dạ thâm hiểm luôn tỏ ra bình tĩnh, không phản ứng trước
sự xúc phạm của người khác. Nhưng họ nuôi trong lòng sự
oán hận, nuôi ước muốn trả thù. Đây là trường hợp rất
nguy hiểm.
Có
trường hợp bị hiếp đáp, bị xúc phạm nhưng người ta
không phản ứng. Mặc dù bên ngoài họ có vẻ như trầm tĩnh,
nhưng thực chất bên trong họ mang tâm trạng sợ hãi. Đó
không phải là nhẫn nhục mà là nhu nhược.
Như
vậy, nhẫn nhục khác với những tâm lý ấy. Nhẫn nhục là
chịu đựng mọi việc với tâm tha thứ, không nhu nhược cũng
không nuôi sự giận ghét trong lòng. Vì vậy, khi gặp trường
hợp bên ngoài trầm tĩnh chúng ta phải xét nội tâm bên trong
để đánh giá. Cần phân biệt rõ đâu là nhẫn nhục, đâu
là thâm hiểm, đâu là nhu nhược, yếu đuối.
Người
tu hành phải biết nhẫn nhục, chịu đựng. Trong đại chúng
đôi khi cũng xảy ra những va chạm nhỏ, mỗi người phải
nhẫn nhục, không nuôi hờn giận trong lòng. Trong cuộc sống
cũng vậy, không phải lúc nào bước ra làm Phật sự, chúng
ta cũng gặp thuận lợi. Nhiều khi chúng ta phải đối mặt
với những nghịch cảnh éo le. Có người do bất đồng quan
điểm, tìm mọi cách công kích, chỉ trích, ngăn cản việc
làm của mình. Thậm chí, có lúc chúng ta bị vu khống, bị
người ta đặt điều nói xấu…Nhưng dù bị oan, lúc đó
chúng ta cũng phải chịu đựng. Làm được điều này không
phải dễ.
Như
vậy, nếu không trang bị cho mình một sức nhẫn nhục cao,
chúng ta sẽ không vượt lên được những khó khăn và sẽ
chuốc lấy thất bại. Ngay từ bây giờ, mỗi người chúng
ta phải tu tập, rèn luyện sức chịu đựng để đối phó
với những khó khăn, những nghịch cảnh trong cuộc sống.
Ngày
trước, người đi tu phải chịu đựng rất nhiều khó khăn,
thiếu thốn. Họ thiếu lương thực, quần áo, thiếu những
nhu yếu phẩm hằng ngày. Không xin được gạo, quý Thầy phải
ăn rau rừng, phải tự cuốc đất trồng khoai lang chế biến
để dành dùng trong những lúc đói. Chưa hết, họ còn bị
cái rét giày vò, đêm không ngủ được. Khi ngồi thiền phải
lấy y sa di quấn quanh chịu đựng. Đó là chịu đựng vì
hoàn cảnh khốn khó.
Sau
này, đời sống của những người tu hành đỡ khó khăn hơn
vì xã hội ngày càng tiến bộ. Tuy nhiên, khó khăn mà chúng
ta có thể gặp phải là sự chống đối hoặc những
ác cảm của người khác. Chúng ta phải chuẩn bị một tâm
tư để đón nhận. Trước hết, bây giờ chúng ta phải tập
chịu đựng những bất như ý trong đời sống tu hành của
mình. Khi bị một huynh đệ nào nói nặng lời hay hiếp đáp,
chúng ta phải biết cảm ơn họ vì chính họ đã tạo những
điều kiện tốt nhất để chúng ta tập hạnh nhẫn nhục
Chúng
ta phải thấy rằng, những đau khổ, khó khăn trong cuộc sống
thật vô cùng quý giá. Nếu sống một cuộc đời yên ả,
dễ chịu, chúng ta sẽ mất hết ý chí, nghị lực, sẽ không
có cơ hội rèn luyện sức chịu đựng. Bởi vậy, nhẫn nhục
là một hạnh rất quan trọng để làm tăng đạo lực của
người tu hành. Đó là lý do vì sao trong cuộc đời tu hành
của Đức Phật luôn có ông Đề Bà Đạt Đa đi theo quấy
phá. Đức Phật bị quấy phá từ bao nhiêu kiếp. Cho đến
khi thành Phật, Ngài cũng không thoát khỏi sự quấy phá ấy.
Sở dĩ như vậy vì trong mọi công phu tu tập, để có được
Đạo lực, Đạo hạnh, nhẫn nhục và tinh tấn đóng một
vai trò rất quan trọng. Để có hạnh nhẫn nhục, chúng ta
rất cần nghịch cảnh để rèn luyện. Nhắc đến điều này,
chúng ta nhớ lại câu thơ của một nhà sư:
Không
đau khổ lấy chi làm chất liệu
Không
buồn thương sao biết chuyện con người
Quả
thật, không đau khổ chúng ta sẽ không có điều kiện rèn
luyện bản thân mình. Liên hệ đến đời sống của những
người lính trong quân ngũ, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn giá trị
của những gian khổ, khó khăn. Nếu không chịu đựng những
tháng ngày huấn luyện nhọc nhằn, dầm mưa dãi nắng; nếu
không chịu những hình phạt nặng nề, làm sao họ có thể
đương đầu với hy sinh gian khổ, quyết sống mái với kẻ
thù?
Người
ta kể rằng, những trường võ bị, đào tạo sĩ quan trên
thế giới cũng như ở Việt Nam có kỷ luật rất nghiêm khắc.
Trong thời gian huấn luyện, học viên phải trải qua một tuần
lễ gọi là tuần huấn nhục. Khi bước vào tuần huấn nhục,
gia đình, người thân không dám đến thăm, vì khi đó
học viên bị đày đọa đủ điều mà không được từ nan
bất cứ điều gì, kể cả những điều nhục nhã nhất. Họ
rèn luyện cho con người sức chịu đựng, sức nhẫn nhục
đến như vậy.
Môi
trường tu hành cũng vậy. Nếu đào tạo không nghiêm khắc,
không có phương pháp, Tăng Ni khi ra trường sẽ không có tài
năng, Đạo đức lẫn bản lĩnh. Nếu không có bản lĩnh,
chúng ta sẽ sợ hãi, khiếp nhược, rút lui khi lâm vào cảnh
khổ. Như vậy, sẽ không ai dám dấn thân vào vùng sâu, vùng
xa để làm việc đạo, giáo hóa chúng sinh.
Hiểu
được điều này, chúng ta sẽ không tỏ ra khó chịu hay giận
hờn mỗi khi bị huynh đệ xúc phạm. Nếu có bị người lớn
chèn ép, chúng ta cũng vui mừng, coi như đó là những điều
kiện thử thách lòng nhẫn nhục của mình. Có không ít trường
hợp phiền não, đầy nước mắt nhưng chúng ta hãy xem đó
là cơ hội để tu hành. Hãy tâm niệm rằng, chịu đựng như
vậy, khi ra ngoài làm Phật sự, việc khó khăn nào chúng ta
cũng vượt qua được. Chỉ cần nhớ một điều, chịu đựng
nhưng không phải sợ hãi, cũng không phải giận hờn nuôi
dưỡng thù oán bên trong, mà là tâm tha thứ, tâm buông xả,
không phiền não. Đó chính là tâm nhẫn nhục của đạo Phật.
2.
NHẪN NHỤC LÀ THÀNH TỰU CỦA ĐẠO LỰC.
Người
tu hành thường có đức nhẫn nhục. Chúng ta phân biệt hai
loại nhẫn nhục: Nhẫn nhục bằng sức mạnh của Thiền định,
bằng kết quả của Thiền định và nhẫn nhục bằng tư duy
chân chính.
a.
Về sức mạnh của Thiền định:
Chúng
ta từng nghe câu chuyện về ngài Bạch Ẩn. Ông là tấm gương
tiêu biểu về hạnh nhẫn nhục. Ngài Bạch Aån thuộc dòng
Lâm tế, ở nước Nhật. Ngài khán công án. Một hôm, không
hiểu vì lý do gì, ngài bị Thầy đánh một cái rơi từ
trên thềm xuống. Vì chùa ở trên dốc núi nên Ngài bị rơi
xuống rất sâu và bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, Ngài đã ngộ
Đạo. Ngài đến trình Thầy và được Thầy chấp nhận. Sau
đó, Ngài về làng quê chăn bò thuê. Việc làm này không rõ
nhằm mục đích gì, có thể là Ngài muốn rèn luyện hay hàm
dưỡng điều gì đó. Khi sống ở làng, Ngài cũng ăn chay,
tụng kinh lễ Phật, tỏ ra hiền lành nên mọi người gọi
là ông sư, và ai cũng thương quý Ngài.
Ngài
cất chòi ở và chăn bò thuê được một thời gian thì trong
làng xảy ra chuyện. Một cô gái chưa chồng bỗng dưng bụng
ngày một to. Khi cha mẹ tra hỏi, lúc đầu cô chối quanh co,
sau đó cảm thấy không ổn nên cô đã đổ tội cho ông sư.
Có lẽ cô cho rằng như vậy là đỡ rắc rối nhất. Cha mẹ
cô nghe vậy, đến mắng chửi Ngài thậm tệ. Ngài chỉ hỏi
:“Vậy à” rồi im lặng. Từ đó, người làng coi Ngài
không ra gì nữa. Giá trị quan trọng nhất của một người
tu là phạm hạnh trong sạch. Ngài phạm tội nặng như vậy,
còn gì giá trị nữa. Khi đứa bé được sinh ra, người
ta mang đến giao cho Ngài nuôi. Ngài nhận em bé nhưng không
biết nuôi như thế nào. Hằng ngày, Ngài phải ẵm em bé đi
xin sữa hàng xóm. Thời gian trôi qua chừng vài năm, cô gái
cảm thấy ray rứt bèn thú thật, bố đứa bé không phải
là vị sư tội nghiệp kia mà là anh chàng bán cá ngoài chợ.
Biết sự thật, cha mẹ cô gái đến xin lỗi Ngài. Lúc này,
Ngài cũng chỉ nói: “Vậy à”, rồi trả đứa bé lại cho
mẹ nó, coi như không có chuyện gì xảy ra.
Đó
là một tấm gương nhẫn nhục tuyệt vời. Ngài đã chịu
đựng sự vu khống, sự nhục nhã, mất thể diện, mất danh
dự một cách bình an, không hề oán ghét giận hờn. Quả là
một sự nhẫn nhục rất tiêu biểu, rất đúng nghĩa.
Trong
bài Khiêm hạ, chúng ta đã bàn về vấn đề danh dự của
người tu hành. Người tu không coi trọng danh dự, vì
còn đặt vấn đề danh dự nghĩa là vẫn còn chấp ngã. Nhưng
không phải vì thế mà chúng ta sống bừa bãi, phóng túng.
Dù không coi trọng danh dự nhưng chúng ta vẫn sống rất đàng
hoàng, nghiêm túc. Sống như vậy là chúng ta muốn giữ tín
tâm cho mọi người đối với Phật pháp. Nhìn gương tu hành
đứng đắn, nghiêm túc của chúng ta, người đời sẽ tin
con đường Phật pháp là chân chính. Mặt khác, lối sống
nghiêm túc, có Đạo đức sẽ sớm đưa chúng ta đến sự
giải thoát, giác ngộ. Chúng ta đừng nghĩ rằng, sống đàng
hoàng, đứng đắn để được người đời ca ngợi, tôn trọng.
Hiểu như vậy, chúng ta sẽ tránh được sự nhầm lẫn, một
lúc nào đó xem danh dự, thể diện là quan trọng.
Trở
lại trường hợp Ngài Bạch Aån, chúng ta thấy Ngài tu rất
đúng, không coi trọng danh dự, thể diện nên đã nhẫn nhục
một cách phi thường. Trong khi đó, Ngài vẫn sống rất đàng
hoàng, nghiêm túc. Đó là thái độ rất đúng của người
tu theo đạo Phật. Bởi vậy, trong cuộc sống, có lúc bị
người ta chỉ trích, nói xấu, chúng ta cũng không phản ứng,
không trả đũa, không cải chính, không biện minh, lòng không
hề oán hận, tiếp tục sống cuộc đời rất đàng hoàng,
Đạo đức tốt đẹp. Người sống như vậy người biết
nhẫn nhục cao độ.
b.
Nhìn bên ngoài, nhẫn nhục có vẻ nhu nhược nhưng bên trong
là sức mạnh của nội tâm.
Người
có tâm hồn yếu đuối, hay xao động không thể gọi là người
nhẫn nhục. Nhẫn nhục là có một sức mạnh, giữ tâm mình
không bị xao động, lung lay, không bị hoang mang. Nghĩa là đứng
trước lời nói xấu của người khác, chúng ta vẫn không
hoang mang, lo lắng cho danh dự bị tổn thương và tìm cách
cải chính. Khi bị người ta xúc phạm chửi mắng, chúng ta
vẫn không dao động, không giận hờn, không buồn bã. Giữ
được tâm vững vàng như vậy, phải có một sức mạnh nội
tâm rất lớn.
Những
người tâm còn ích kỷ không bao giờ nhẫn nhục được vì
ích kỷ sẽ đưa đến chấp ngã nặng. Hễ chấp ngã nặng,
khi bị xúc phạm, bị xâm phạm chúng ta sẽ rất khó chịu,
không chịu đựng được sự xúc phạm.
Tâm
tự ái cũng làm cho chúng ta không nhẫn nhục được. Vì tự
ái là coi trọng thể diện. Người tu theo đạo Phật phải
vô ngã mới nhẫn nhục được.
Tâm
còn xao động cũng không thể nhẫn nhục được. Vì dễ xao
động, khi người ta xúc phạm, chúng ta sẽ mất bình tĩnh
và không còn nhẫn nhục. Muốn trị xao động, muốn nhẫn
nhục được, chúng ta phải tu Thiền định.
Người
hay giận hờn, thù hận cũng không chịu được xúc phạm nên
không thể nhẫn nhục được.
Tóm
lại, tâm còn ích kỷ, tự ái, xao động hay thù hận đều
không thể chịu được sự xúc phạm của người khác nên
không thể nhẫn nhục.
c.
Nhẫn nhục khác với nhu nhược, yếu đuối, vô tàm quý.
Khi
lầm lỗi, người ta góp ý nhưng chúng ta vẫn trơ ra, không
biết hối hận, không biết lỗi, vẫn tiếp tục làm. Đó
không phải là nhẫn nhục mà gọi là trơ lì. Trong đạo Phật,
chúng ta gọi là vô tàm vô quý, không biết hổ thẹn.
Ví
dụ, khi bị phát hiện, một người có tật ăn cắp vặt vẫn
im lặng, tỏ ra bình tĩnh, không hổ thẹn, coi như không có
gì xảy ra. Sự im lặng đó không phải là nhẫn nhục mà trơ
lì .
Trong
bài Hạnh chân thật, chúng ta đã nhắc đến ba hạng người.
Hạng đầu tiên là vô tàm, hạng thứ hai là hối và thứ
ba là bất hối.
Người
vô tàm là người khi mắc phải lỗi lầm, được người khác
chỉ lỗi vẫn không mắc cỡ, không hổ thẹn. Theo ngôn ngữ
của người đời, đó là người “mặt dày”. Những người
này thường không biết thiện ác tội lỗi, Nhân Quả, là
người rất đáng sợ.
Hạng
người thứ hai là người biết được Nhân Quả tội phước.
Khi đã làm điều gì lầm lỗi, được người khác chỉ lỗi
cho, họ thường hối hận. Đây là người biết tu, là người
rất tốt.
Hạng
người thứ ba là người khi lầm lỗi, biết mình có lỗi
nhưng lòng không hề hối hận, không hề ray rứt. Không hối
hận nhưng quyết tâm không bao giờ phạm lỗi nữa. Đây là
hạng người chứng được Sơ thiền. Người chứng Sơ thiền
sẽ đạt được bất hối. Quyết tâm không phạm lỗi của
họ rất mạnh.
Đối
với chúng ta, biết lỗi và biết hối hận cũng là một công
phu tu hành nghiêm túc. Đạt được điều đó là chúng
ta đã trở thành người tốt.
Trong
cuộc sống, chúng ta gặp những trường hợp tương tự như
nhẫn nhục nhưng thực chất đó là người không có lòng tự
trọng, vì cầu danh lợi nên chịu hèn kém, nịnh bợ luồn
cúi. Đó là hạng người vô liêm sỉ, không có tiết tháo.
Trường hợp này thường xảy ra ngoài đời, trong Đạo ít
khi gặp phải. Chẳng hạn, có người thấy người khác giàu
sang, bèn lân la kết thân. Khi người giàu tỏ ra khinh thường,
sai làm hết việc này sang việc khác, thậm chí chửi mắng,
họ cũng cười trừ coi như chẳng có gì quan trọng. Như vậy,
không thể gọi là nhẫn nhục . Đó là cầu cạnh, luồn cúi,
nịnh bợ. Nhẫn nhục của đạo Phật là không có sự
cầu cạnh, không mong muốn điều gì cho mình.
Những
người chịu đựng nhục nhã, hạ thấp phẩm giá để
mong được ích lợi cho mình mà dân gian gọi là “ chịu đấm
ăn xôi”, là người không có liêm sỉ, là kẻ tiểu nhân
với tư cách tầm thường, hèn hạ. Biểu hiện bên ngoài của
hạng người này rất giống nhẫn nhục nhưng hoàn toàn không
phải. Chúng ta cần chú ý phân biệt cho đúng. Bởi vậy, khi
tiếp xúc với những người giàu có, quyền thế, chúng ta
phải kiểm soát tâm mình. Nếu bị người ta đối xử không
đàng hoàng mà mình vẫn nhịn, phải xét lại tâm mình xem
việc mình nhịn là nhẫn nhục hay nịnh bợ, muốn cầu cạnh
điều gì.
Người
đời có những kẻ tiểu nhân, sẵn sàng bán rẻ danh dự,
phẩm giá để cầu danh lợi. Người tu theo đạo Phật luôn
tỏ ra quân tử, có thái độ bất cần, thấy lợi không ham,
thấy danh không màng. Chúng ta chỉ cần sự tinh tấn, cần
có Đạo đức cao dày, cần có phước và trí tuệ để giáo
hoá chúng sinh.
Người
khiếp nhược, sợ hãi không biết làm gì khi bị chèn ép là
người nhu nhược. Vì khi bị chèn ép, trong lòng họ cũng giận
hờn, cũng uất ức nhưng không dám phản ứng vì người ta
có thế lực hơn mình. Ví dụ, một tù nhân bị cai ngục đánh
đập, hành hạ nhưng anh ta vẫn chịu đựng. Trường hợp
này gọi là nhu nhược. Tuy có sự chịu đựng, nhưng là chịu
đựng vì không có khả năng phản ứng, không có khả năng
trả đũa nên không phải là nhẫn nhục theo đúng nghĩa của
đạo Phật.
Có
trường hợp, người ta không phản ứng lại việc người
khác chèn ép hay xúc phạm mình không phải vì yếu thế mà
không muốn sự việc trở nên phức tạp, để lại hậu quả
xấu. Như thế gọi là người biết nhẫn nhục. Câu chuyện
về hai đứa bé với một cái bóp nhặt được trên đường
là một ví dụ.
Một
thằng bé trông cũng to con đang đi trên đường, chợt thấy
cái bóp của ai đó đánh rơi. Nó vừa nhặt lên xem thì một
đứa bé khác, nhỏ hơn nó, ở đâu chạy tới đòi chia đôi
số tiền có trong bóp. Nó không chịu vì muốn trả lại
cho người bị mất. Đang dùng dằng, bỗng nó nhìn thấy một
người đàn ông loay hoay tìm kiếm một vật gì. Hỏi ra, biết
cái bóp nhặt được là của ông ta, nó vui vẻ trả lại.
Người đàn ông mừng quá, mở ra xem. Tất cả tiền bạc,
giấy tờ trong bóp vẫn còn nguyên. Ông bèn lấy ra năm chục
ngàn để “hậu tạ” nó. Thằng bé dứt khoát không lấy.
Nó giải thích ngắn gọn : Nếu con muốn thì đã lấy hết
rồi, con không trả lại chú đâu. Nghe vậy, ông ta cảm ơn
nó rối rít rồi đi. Người đàn ông vừa đi khỏi, thằng
bé nhỏ hơn nói :
-
Mày đưa tao hai lăm ngàn.
-
Tiền gì ?
-
Vì tao với mày cùng nhặt được, ông ta cho năm chục thì
phải chia đôi, mày hai lăm tao hai lăm.
-
Lúc nãy mày không thấy tao trả lại hết cho ông ta rồi à?
-
Tao không cần biết, ông ta cho năm chục tức mày hai lăm tao
hai lăm, còn trả là việc riêng của mày, tao không biết.
Hai
đứa cứ cãi qua cãi lại như vậy một lúc. Thằng nhỏ đòi
đánh thằng lớn vì không đưa tiền cho nó. Thằng lớn bỗng
đâm đầu chạy. Người ta hỏi nó: “Chẳng lẽ con không
đánh lại nó hay sao mà bỏ chạy ?”. Nó trả lời: “Đâu
có, nếu con đánh lại là nó chết, con phải chạy để
đừng đánh nó”.
Đó
chính là sự nhẫn nhục đúng nghĩa. So sánh với trường hợp
thứ nhất, chúng ta thấy có sự khác biệt. Sở dĩ người
tù bị cai ngục đánh mà phải cắn răng chịu đựng vì anh
ta biết rằng mình không làm gì được người ta, quyền hành
nằm trong tay họ. Trường hợp này, đứa bé lớn thừa khả
năng đánh lại nhưng nó không đánh.
Như
vậy, người có khả năng mà vẫn chịu đựng, không phản
ứng, không trả đũa là người có sức nhẫn nhục rất cao.
Trong cuộc sống, ta gặp không ít trường hợp chịu đựng
bởi không dám hoặc không đủ sức phản ứng, nhưng trong
lòng vẫn nuôi ấm ức, chờ cơ hội phục thù: “ rồi sẽ
biết tay ta”. Đó không còn là nhẫn nhục nữa.
Chúng
ta cần phân tích tâm để thấy sự khác nhau giữa hai trường
hợp này. Tất nhiên, đây là điều không đơn giản. Vì cái
khó là ở việc phân tích hai cái tâm. Một bên vì yếu
thế nên phải nhịn nhưng trong tâm luôn luôn muốn trả đũa.
Tâm muốn trả đũa khi bị người khác xúc phạm là tâm rất
mạnh. Một bên thừa khả năng, dư thế lực mà vẫn nhịn,
không trả đũa do tâm vui làm mất đi ước muốn trả đũa.
Đa số chúng ta đều bị tâm trả đũa thôi thúc. Hễ bị
xúc phạm, chúng ta muốn phản ứng lại ngay. Bởi vậy, tâm
không trả đũa là tâm rất quý. Gốc nhẫn nhục là ở nơi
tâm ấy.
Người
tu hành phải tu làm sao trong thâm sâu của tâm không còn ý
muốn trả đũa nữa ngay cả trong trường hợp dư thế lực.
Như thế, chúng ta đã thành tựu được nhẫn nhục, không
phiền não, không giận hờn, không phản ứng …, dù mình dư
điều kiện để làm điều đó. Những người thoát được
tâm muốn trả đũa rất đáng được ngợi ca, trân trọng.
Nhẫn
nhục là phẩm chất của người biết tự trọng, biết giữ
phẩm giá, không sợ hãi, nhưng giữ lòng bình thản tha thứ.
Chỉ những người tu tập hạnh Vô Ngã khiêm hạ, tự xem mình
là cỏ rácï mới nhẫn nhục được. Chúng ta biết rằng,
bao nhiêu công hạnh Đạo đức đều tập trung ở ba tâm hạnh
ban đầu là Tôn kính Phật, Từ bi và Khiêm hạ. Từ ba tâm
này, vô số tâm hạnh khác được mở ra.
Nhẫn
nhục có liên quan đến tâm khiêm hạ. Người thấy mình như
cỏ rác, cát bụi sẽ dễ nhẫn nhục hơn. Bởi vậy, mỗi
đêm khi ngồi thiền, chúng ta đều quán mình là cát bụi,
là cỏ rác. Khi bị người khác chửi mắng, xúc phạm, chúng
ta sẽ bình thản, không thấy gì đáng giận nữa. Thậm chí,
khi có người mắng mình là chó, mình vẫn không giận. Có
khi còn trả lời nhẹ như không khiến người ta phải bất
ngờ: “ Bạn nói không đúng sự thật, nếu là chó vẫn còn
lớn lắm, thực ra tôi là cát bụi, cỏ rác”…
Người
ta kể rằng, vua Phillippe xứ Macédoine, cha của Alexandre Đại
đế (người từng đem quân đi đánh từ Hi Lạp
qua Ấn Độ, chiếm cả một vùng đế quốc rất rộng lớn
qua Trung Đông, Ai Cập đến Ấn Độ) là người rất tinh tế.
Ông cho rằng, bệnh chung của tất cả các ông vua trên thế
giới này là kiêu ngạo. Bởi vậy, ông dặn người hầu đứng
ở đầu giường, mỗi buổi sáng, khi ông vừa thức dậy,
câu phải nói với ông đầu tiên là: Philip, ngươi phải nhớ
rằng ngươi chỉ là một con người tầm thường mà thôi.
Làm như vậy là ông muốn nhắc nhở mình suốt cuộc đời
ông không được kiêu ngạo. Vì kiêu ngạo thường đem lại
thất bại cho con người. Vì thế, trong cuộc đời làm vua,
ông trị dân rất thành công. Con trai ông là Alêchxăng Đại
đế, từng chinh phục khắp nơi cũng là người đa mưu, túc
trí.
Thời
đó, vua Philip muốn cất quân sang đánh chiếm một nước lân
cận. Thấy nguy cơ vua Philip sẽ xâm lược đất nước mình,
trong khi dân chúng lo vui chơi không phòng bị, nhà hùng biện
Demothène đã đứng lên hô hào, kêu gọi dân chúng đoàn
kết, rèn luyện đểø chống lại kẻ thù. Ông mắc tật nói
ngọng nên hằng ngày, ông ra bờ biển để viên sỏi lên lưỡi
gào thi với sóng biển để luyện giọng. Cứ như thế, sau
này ông đã trở thành một nhà hùng biện nổi tiếng thời
cổ. Ông đứng giữa đô thị khuyên dân chúng phải biết
tai họa mà vua Philip sắp giáng xuống đất nước mình. Thám
tử của vua Philip ghi lại tất cả những lời Demothène nói
trước dân chúng và mang về trình cho vua Philip xem. Đó là
những lời công kích gay gắt vua Philip. Đọc xong, nhà vua không
giận lại khen Demothène nói hay: “ Trẫm mà trực tiếp nghe
những lời này chắc trẫm cũng chống lại chính mình”. Tuy
vậy, vua Philip vẫn cất quân sang đánh và thắng lợi vẻ
vang. Ông chiến thắng bởi ông là một ông vua, vừa là một
nhà minh triết. Cái sáng suốt của ông không chỉ thể hiện
ở sự khôn ngoan, ở chiến thuật bên ngoài mà còn thể hiện
ở sự kiểm soát trong tâm của mình. Người ta khâm phục
vua Philip là như vậy.
Giỏi
việc bên ngoài mà vẫn kiểm soát được tâm bên trong, đó
là điều rất hay mà người tu theo đạo Phật cần để ý.
Khi trở nên giỏi giang, gánh vác được mọi việc, chúng ta
phải thường xuyên kiểm soát tâm mình, nhất là tâm kiêu
mạn. Như vậy, tâm khiêm hạ là nền tảng để chúng ta tu
tập được những tâm này.
d.
Có trường hợp nhẫn nhục vì từ bi.
Chúng
ta từng nghe câu chuyện vị vua tiền thân của Phật, bỏ ngai
vua để dân chúng thoát khỏi cảnh chiến tranh. Ông nhường
nước của ông cho vua nước địch. Đức Phật vô lượng
kiếp từng làm vua do Ngài có phước lớn. Ngài làm vua cai
trị thiên hạ với tất cả lòng thương yêu. Lúc bấy giờ,
dân số vẫn còn ít nên vua thường trực tiếp đến thăm
từng người dân. Ai có chuyện gì, Ngài đều chăm sóc chu
đáo. Do ngân quỹ quốc gia thường dành cứu trợ dân nên
nhà vua không trang bị cho việc võ bị quân sự. Lực lượng,
quân sự của Ngài rất yếu. Nước láng giềng biết điều
đó nên cất quân sang đánh chiếm. Khi thám tử ở biên giới
chạy về cấp báo, vua ngồi suy nghĩ rất lâu. Ngài thấy rằng,
nếu chống lại chắc chắn chín mươi phần trăm thất bại
thuộc về nước mình. Như vậy, sự hy sinh xương máu của
dân chúng là quá lớn. Hơn nữa, vị vua kia cũng là người
biết cai trị dân. Nghĩ vậy, Ngài đã hạ lệnh cho quân sĩ
không cầm vũ khí. Các quan tướng, lính tráng mở cửa
thành đứng hai bên chờ quân nước kia tiến tới. Xong đâu
đấy, Ngài nhảy lên lưng ngựa chạy trốn.
Khi
dẫn quân ầm ầm kéo đến, ông vua nước kia vô cùng ngạc
nhiên khi thấy dân chúng yên lặng, binh sĩ không ai chiến đấu.
Ông tiến vào thành, quan lại cũng đứng yên như đang đón
tiếp. Ngai vàng trống rỗng, hỏi ra mới biết ông vua kia đã
chạy mất rồi. Ông ngửa mặt lên trời cười và nói rằng
: “Thằng kia nghe tiếng đã sợ chạy mất rồi, nhưng biết
đâu nó lại kết tập lực lượng, quay lại đánh mình”.
Ông ra lệnh truy nã và hứa sẽ trọng thưởng cho ai bắt được
vị vua này.
Sau
khi rời thành, Ngài đi lang thang trong rừng, đào củ, ăn lá
cây sống cho qua ngày. Quần áo Ngài cũng đã rách rưới trông
thật thảm hại. Một hôm, trên đường rừng, Ngài gặp một
người Bà la môn. Người ấy hỏi thăm Ngài có biết đường
về kinh thành xứ đó hay không. Ngài hỏi : “Để làm gì
? ”. Ông ta trả lời : “ Dạ, tôi nghe đồn ông vua
trị vì xứ ấy là người rất tốt, thường giúp đỡ mọi
người. Tôi ở xa đến, hoàn cảnh của tôi vô cùng bi đát.
Bây giờ, năm sáu bà vợ và mấy chục đứa con tôi đều
rơi vào hoàn cảnh như vậy. Nếu không được giúp đỡ, chắc
gia đình tôi phải chấp nhận một kết cục bi thảm là chết
đói. Nghe tiếng ông vua ấy tốt, tôi quyết tìm đến để
được giúp đỡ”. Nghe vậy, Ngài thốt lên: “ Trời
ơi, ông vua đó chính là ta đây”. Người Bà la môn ôm nhà
vua vừa khóc vừa nói: “ Trời ơi! Tôi đi tìm Ngài để Ngài
giúp đỡ tôi, không ngờ Ngài thân tàn ma dại như vậy biết
làm sao được”. Suy nghĩ một lúc, Ngài nói: “ Thôi được,
ta còn cách giúp ngươi. Ngươi trói ta lại, đem nộp cũng được
một món tiền kha khá”. Người đàn ông hoảng hốt: “Trời
ơi, làm sao con làm được điều đó”.“Ngươi cứ làm theo
lời ta đi. Ta chỉ có một thân, một mình không sao, năm sáu
bà vợ với mấy chục đứa con ngươi mới quan trọng”. Nghe
Ngài phân tích, người đàn ông xiêu lòng, lấy dây thừng
trói vua dẫn về. Ông vua đang ngự trị ngai vàng lúc bấy
giờ mừng quá, vì nghĩ sẽ trừ được hậu hoạ. Sau khi ban
thưởng rất trọng hậu cho người Bà la môn, ông hỏi : “
Ngươi làm thế nào bắt được hắn? ”. Người Bà la
môn kể lại đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong, nhà vua rất
xúc động. Ngài không ngờ trên đời này còn có người tốt
đến thế, luôn sẵn sàng hi sinh vì người khác, không nghĩ
đến bản thân mình. Ông cảm thấy bao nhiêu năm chinh chiến,
tranh giành, chiếm đoạt, mình không cao cả bằng con người
ấy, con người lúc nào cũng chỉ biết hy sinh, nhường nhịn.
Nhà vua thức tỉnh, Ngài xin lỗi và cởi trói cho vị vua nhân
đức kia. Sau khi trả lại ngôi vua, hai bên kết nghĩa bang giao.
Như
vậy, hành động của Ngài là biểu hiện của Đức nhẫn
nhục cao cả. Sự nhẫn nhục ấy xuất phát từ tâm từ bi
chứ không vì lợi ích cá nhân.
Từ
chuyện vị vua rời bỏ ngai vàng (tiền thân của Đức Phật)
ấy, chúng ta liên hệ đến trường hợp vua Trần Thái Tông
ở Việt Nam. Khi ông mới lên ngôi, Mông Cổ kéo quân sang xâm
lược nuớc ta. Lịch sử còn ghi lại, vó ngựa Mông Cổ đi
đến đâu, cỏ cây không mọc được đến đó. Quân Mông
Cổ rất hùng mạnh. Chúng đem quân xâm chiếm khắp nơi, từ
châu Á đến châu Âu. Bởi vậy, khi nghe tin Mông Cổ sắp đem
quân sang đánh nước ta, vua Trần Thái Tông rất lo sợ. Ngài
nghĩ rằng, nếu đương đầu với chúng, chắc chắn sẽ tắm
máu không biết bao nhiêu sinh linh vô tội. Ngài bàn với Thái
sư Trần Thủ Độ nên đầu hàng cho muôn dân thoát khỏi cảnh
núi xương sông máu. Ông Trần Thủ Độ trả lời một cách
cương quyết : “ Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu
thần đi đã”. Lúc đó, ông Trần Thủ Độ cương quyết
chiến đấu vì ông có niềm tin là mình sẽ chiến thắng.
Dù có quyết đoán và đôi khi thủ đoạn, nhưng quyết tâm
của ông đã giúp chúng ta chiến thắng quân Mông Cổ, mở
ra một trang sử oai hùng trong lịch sử chống ngoại xâm của
dân tộc. Cho đến bây giờ, thế giới vẫn chưa hết băn
khoăn, không hiểu vì sao một đất nước nhỏ bé như Việt
Nam lại chiến thắng được quân Mông Cổ. Người ta đặt
vấn đề nghiên cứu lại những bài học chiến thắng
quân Mông Cổ của Việt Nam.
Chúng
ta đã ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông. Hai lần sau là
công của vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Có nhiều
nguyên nhân đem lại những chiến thắng vẻ vang ấy. Trong
đó có một nguyên nhân vô cùng quan trọng là cuộc kháng chiến
được dẫn dắt bởi những vị minh quân, có đạo đức cao
dày. Trong “ Bạch Đằng giang phú”, ông Trương Hán Siêu
đã ngợi ca:
Anh minh hai vị Thánh quân
Sông
đây rửa sạch mấy lần giáp binh
Giặc tan muôn thuở thanh bình
Bởi
đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.
Trương
Hán Siêu là một mưu thần của Hưng Đạo Vương, cùng
với Vương vạch ra những quyết sách đánh giặc, nhưng lại
cũng là người thầm lặng ít bộc lộ.
Một
điều chúng ta phải ghi nhận là các bậc vua quan đời Trần:
Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Thủ
Độ, Trần Hưng Đạo…đều ngưỡng mộ đạo Phật. Họ
đều là những Thiền sư, có đạo đức. Trần Hưng Đạo
là người có sở đắc tâm linh rất sâu. Ông có đạo đức,
có tu tập, và có công lớn với đất nước. Vì thế, người
đời tôn thờ ông như một vị Thánh (Đức Thánh Trần).
Như
vậy, việc Trần Thủ Độ cũng như các đời vua Trần sau
này quyết tâm chiến đấu chống Mông Cổ mà không nhẫn nhục
là đúng hay sai ? Phải chăng, hành động chống lại ngoại
xâm một cách ngoan cường như vậy là không đúng với hạnh
nhẫn nhục của đạo Phật ?
Ở
đây, chúng ta cần lưu ý một điều, ở vào hoàn cảnh của
các vị ấy thì không thể nghĩ đến cá nhân nữa mà phải
đặt vấn đề đại thể, vấn đề của quốc gia, dân tộc.
Cho nên, vị vua (trong câu chuyện tiền thân Đức Phật)
nhịn nhục là vì dân. Các vua Trần quyết đánh cũng vì dân
chứ không phải vì sự nghiệp của riêng mình.
Vẫn
biết rằng, nhẫn nhục là Đạo ïđức cao quý mà mỗi chúng
ta phải tu tập, rèn luyện nhưng không phải trong bất kỳ
tình huống nào chúng ta cũng nhẫn nhục. Chúng ta cần lưu
ý đến quyền lợi của nhiều người mà có thái độ ứng
xử phù hợp. Với bản thân mình, một khi đã tu hạnh vô
ngã, khiêm hạ thì chúng ta sẽ nhẫn nhục được. Nhưng khi
biết thái độ, quyết định của mình có liên quan đến quyền
lợi của mọi người, chúng ta phải cân nhắc. Trong đánh
giá người khác cũng vậy, chúng ta phải xem thái độ ứng
xử của họ liên quan đến lợi ích cá nhân hay quyền lợi
của nhiều người, không được đánh giá một cách phiến
diện, một chiều.
3.
NHẪN NHỤC LÀ BIẾT TRẢ CHO HẾT NGHIỆP.
Trong
vô lượng kiếp luân hồi, chúng ta đã tạo rất nhiều nghiệp.
Có thể trong vô lượng kiếp trước, chúng ta đã gây ra không
biết bao nhiêu điều không tốt, làm khổ không biết bao nhiêu
người. Vì vậy, chúng ta hãy nghĩ rằng, mình có mặt trên
cuộc đời này là để trả cho hết những nghiệp đó. Nếu
gặp khó khăn, trắc trở trong cuộc sống, chúng ta cũng phải
nhẫn nhục, chịu đựng để trả những nghiệp mà mình đã
gây ra trong quá khứ. Đó là sự công bình. Chúng ta chỉ mong
như vậy thôi, mong nhẫn nhục tu hành để thành Con người
đúng nghĩa, đừng nghĩ đến điều gì xa xôi, tu để
thành Thánh, hay thành Bồ Tát. Có những nghiệp chúng ta đã
tạo nên trong quá khứ, kiếp này hiện ra cho chúng ta trả.
Nhưng cũng có những nghiệp không hiện ra kiếp này, mà hẹn
đến mấy kiếp sau. Đừng nghĩ hễ kiếp này gieo điều gì,
chúng ta trả liền ngay điều đó. Có những nghiệp hẹn
đến năm mười kiếp sau, có khi một trăm kiếp sau, chúng
ta mới gặp nhân duyên để trả.
Chúng
ta còn nhớ chuyện ngài Triệu Thố Viên án- Ngộ Đạt Quốc
sư trong Thuỷ Sám. Mười đời trước khi làm Ngộ Đạt Quốc
sư, Ngài đã từng làm Viên án. Vì tâu oan, Ngài đã giết
chết một người. Oan hồn theo đuổi mãi đến mười kiếp
mới báo thù được, bằng cách nhập vào thân Ngài làm thành
mụt ghẻ mặt người khiến Ngài đau đớn vô cùng.
Như
vậy, không phải mỗi nghiệp đều được trả liền. Không
ai trong chúng ta lại không từng gây nghiệp. Có nhiều nghiệp,
chúng ta đã tạo nên trong vô lượng kiếp quá khứ nên bây
giờ phải có sức mạnh chịu đựng, trả cho hết những nghiệp
ấy. Biết vậy, khi bị xúc phạm đến bản thân, chúng ta
phải chịu đựng, không phản ứng, không oán thù để tránh
tạo thêm tạo thêm nghiệp mới, tạo thêm oan trái mới cho
đời sau.
Có
câu chuyện tiền thân của Phật lúc còn là Đạo sĩ tu trong
rừng. Thời đó có một ông vua tên là Ca Lợi. Một hôm, ông
cùng các cung nữ vào rừng dạo chơi. Khi mọi người tản
ra dạo chơi, ngắm cảnh, các cung nữ đến bệ đá thấy một
Đạo nhân đang ngồi bất động, gương mặt an tĩnh, hiền
lành. Các cô liền đặt cây trái lên cúng dường, đảnh lễ
và hỏi pháp. Vị Đạo sĩ thuyết pháp cho các cô nghe. Lần
lượt, các cung nữ khác đến rất đông, ngồi quanh vị
Đạo sĩ để nghe thuyết pháp. Lúc đó, nhà vua đang dạo chơi
bỗng nhận ra xung quanh mình không còn một ai. Ông đi tìm và
bắt gặp hình ảnh một Đạo sĩ ngồi giữa đang say sưa nói,
chung quanh là các cung nữ yêu quý của mình chăm chú lắng
nghe. Lòng tự ái trỗi dậy (cũng là nghiệp xưa nay đã đến
lúc đòi), ông hỏi Đạo sĩ một cách xấc xược : “ Ông
ở đây làm gì ?”. Đạo sĩ trả lời: “Thưa Đại vương,
tôi ở đây tu hạnh nhẫn nhục” . “Được”, vua vừa nói
vừa rút gươm ra chặt đứt cánh tay phải của ngài Đạo
sĩ. Cánh tay rơi xuống, máu tuôn xối xả. Vua hỏi: “ Sao,
nhẫn được không?”. Đạo sĩ trả lời: “Thưa Đại vương,
tôi nhẫn được”. Ông vua vung gươm lần nữa, cánh tay trái
rơi xuống. Ông lại hỏi: “Sao, nhẫn được không?”.
“Thưa Đại vương, tôi nhẫn được”. Nhà vua lại vung gươm
lên chém và hỏi: “Sao nhẫn được không?”. “Dạ được”.
Vua lại vung gươm lần nữa và hỏi “Nhẫn được không?”.
Đạo sĩ vẫn bình thản: “Dạ nhẫn được”. Lúc này, hình
như nghiệp quá khứ đòi xong rồi, nhà vua bỗng thấy hối
hận. Ngài buông gươm quỳ xuống trước mặt Đạo sĩ xin
sám hối.
Máu
ra nhiều quá không cứu được, vị Tiên nhân đã chết.
Trước khi nhắm mắt, Ngài nói: “Tôi nhẫn nhục được,
tôi không oán thù Đại vương, tôi vẫn thương yêu Đại vương
như mọi người, và tôi nguyện sau này khi thành Phật, người
đầu tiên tôi độ sẽ là Đại vương.”
Quả
thật, sau này thành Phật, Ngài đã độ cho vị vua ấy. Kiều
Trần Như, người đệ tử đắc A La Hán đầu tiên chính là
ông vua đã chém Ngài khi xưa. Ngài đã giữ lời hứa, không
oán thù vì Ngài hiểu đó là nghiệp quá khứ mà mình phải
trả.
Các
vị Bồtát nhẫn nhục vì hơn ai hết, các Ngài nhớ đích
xác mình đã làm gì, chuyện đã xảy ra ở đâu, bây giờ
là lúc phải trở lại trả nghiệp…Vì vậy, các Ngài không
bao giờ giận, cũng không động tâm, không phiền não. Chúng
ta cũng vậy, đã gây ra nhiều nghiệp từ quá khứ, bây giờ
gặp lại những oan trái, phải biết kiên nhẫn chịu đựng.
Đó là thái độ đúng nhất của người đệ tử Phật.
Ví
dụ, khi gặp một người nào đó, dù chúng ta không làm điều
gì sai trái nhưng tự nhiên họ ghét mình cay đắng, chúng ta
cảm thấy rất khổ tâm. Nhưng đến lúc nào đó, trong một
giấc mơ bất chợt chúng ta thấy được trong tiền kiếp đã
có oan trái với họ. Có thể mình với họ đã từng gặp
nhau trong chiến trận, Khi đó, mình là người chiến thắng,
hả hê vui sướng, còn họ thất bại ôm buồn giận cho đến
kiếp này. Bởi vậy, khi gặp lại, họ thù ghét và tìm cách
hại mình đủ điều. Vì giấc mơ đã hiện ra cho biết điều
đó nên bây giờ chúng ta hiểu và không còn buồn giận nữa.
Đây là trường hợp nhẫn nhục do nhớ đích xác được
nghiệp quá khứ mình đã gây ra.
Thời
Đức Phật, tại làng nọ có một gia đình sinh được một
cô con gái rất xinh đẹp. Người cha biết coi tướng số.
Nhìn con gái quý tướng đầy đặn, ông nói rằng, con gái
ông phải làm đến ngôi Hoàng hậu, nghĩa là danh vọng tột
đỉnh. Bởi vậy, ông phải kén một chàng rể đàng hoàng,
danh giá. Đang trong giai đoạn kén rể, một hôm trên đường
đi, cô gái gặp Đức Phật đang đi khất thực. Nhìn Ngài,
cô ngạc nhiên quá đỗi vì không ngờ trên đời này lại
có một người đẹp trai, hảo tướng đến như vậy. Cô vội
vàng chạy về nói với cha: “Thưa cha, con đã gặp người
xứng đáng”. “Người đó như thế nào?”. “Con người
vô cùng tốt, vô cùng đẹp, tướng vô cùng quý, chỉ có điều
là đang đi tu” Ông nói: “Để cha xem sao”. Nói rồi, ông
đi vào rừng hướng về nơi Đức Phật đang đi. Đức Phật
biết được tâm ông ta nên dùng thần thông in lại dấu chân
Ngài lên mặt đất ( bình thường Ngài đi rất nhẹ).
Bàn
chân Đức Phật có một cái xoáy ở giữa, như là bánh xe
pháp. Khi vào rừng, nhìn thấy dấu chân, ông già nói: “Không
xong rồi” và quay về. Ông nói với vợ: “Không được rồi
bà ơi, người này là vị Thánh, bàn chân rất đầy lại có
xoáy ở giữa”. Bà vợ thương con gái quá nên thuyết phục
chồng : “Thôi kệ, Thánh thì Thánh, tu thì tu, cũng có thể
làm vua được. Con mình đã thích rồi, đừng để nó buồn”.
Hai vợ chồng cùng với con gái dắt nhau vào rừng gặp Ngài.
Lúc ấy, Đức Phật đang bình lặng ngồi Thiền. Ông già đứng
chào và nói: “ Thưa ông, tôi là người giàu có ở làng này,
tôi có một đứa con gái duy nhất, sắc đẹp của nó cũng
không thua kém ai. Đã đến lúc cần phải chọn cho nó một
nơi xứng đáng để gởi tấm thân. Nó có quý tướng đặc
biệt. Thấy Ngài cũng rất quý, tôi muốn chọn Ngài làm
con rể. Mặc dù Ngài đang tu hành, nhưng nếu Ngài đồng ý
về làm rể của tôi thì Ngài sẽ được tất cả”. Ông
huyên thuyên, hứa hẹn rất nhiều. Đức Phật trả lời: “
Từ rất lâu, Như Lai đã vứt bỏ tất cả mọi tham muốn
tầm thường ở thế gian này. Ái dục chỉ làm cho người
ta đau khổ. Còn tấm thân gọi là đẹp, mỹ miều có nghĩa
lý gì đâu. Đó chẳng qua là cái túi da mỹ miều chứa đựng
bên trong những điều hôi thối. Một ngày kia, thân sẽ già
nua, tàn tạ héo úa, da sẽ nhăn nheo, tóc bạc, mắt tí hí,
lưng còng…Nếu nhìn kỹ bản chất, sẽ không có gì là đẹp,
đừng chấp vào sắc đẹp. Như Lai từ lâu đã vượt qua những
ham muốn tầm thường như vậy”.
Biết
không thuyết phục được, hai vợ chồng tiu nghỉu ra về.
Cô gái nghe vậy, không hiểu rõ đó là đạo lý, cứ tưởng
rằng người kia chê mình xấu, chửi mình bên ngoài đẹp đẽ
mỹ miều nhưng bên trong hôi thối. Cô đâm ra giận và
nuôi lòng oán hận. Quả thật, ông già coi tướng đúng. Sau
này vua Udena (tức vua U Điền) rước bà về làm Hoàng hậu.
Nhưng trong lòng bà vẫn nuôi mối căm thù đó.
Một lần, nghe tin Đức Phật tới xứ mình, bà ra lệnh toàn
dân đứng hai bên đường để chửi Ngài. Lúc đó, đường
sá rất hẹp. Người đứng hai bên chỉ tay vào gần chạm
mặt Ngài. Cứ thế, họ xếp hàng hai bên chửi mắng Ngài
thậm tệ. Ai chửi hay đều được Hoàng hậu trọng thưởng.
Ngài A Nan đi với Ngài không chịu nổi cảnh người ta xúc
phạm Đức Phật bèn thưa:
- Bạch
Thế Tôn, dân xứ này không ưa mình, thôi chúng ta đi nơi khác.
- Đi
đâu, nếu nơi đó người ta chửi nữa thì sao?
- Dạ,
mình đi chỗ khác nữa.
- Nếu
đi nữa cũng gặp người ta chửi thì sao?
- Dạ,
mình lại đi nữa.
Đức
Phật nói:
- “
Không phải, nghiệp xuất hiện chỗ nào sẽ hết ở chỗ đó”.
Nói
rồi, Ngài ôm bình bát đi tiếp. Nơi nào có người đang chờ
Ngài đến để chửi, là Ngài đến nơi đó. Cứ thế, nghe
người ta chửi chỗ này xong, Ngài lại đến chỗ khác tiếp
tục nghe chửi. Ngài A Nan vẫn lẽo đẽo theo sau để được
nghe chửi cùng Ngài.
Ngày
hôm đó, không ai cúng vật gì, hai thầy trò nghe chửi no và
nhịn đói trở về. Hôm sau, vẫn ôm bình bát, Ngài đi vào
làng. Dân chúng cũng đứng xếp hàng chờ chửi. Không một
chút ngần ngại, Ngài đến ngay những chỗ họ đang đứng.
Qua hết con đường này, rồi lại đến con đường kia, người
người đang đứng chờ Ngài để chửi, Ngài vẫn không nói
gì. Thêm một ngày nữa, Ngài nhịn đói để nghe chửi rồi
trở về nhà.
Ngài
A Nan vô cùng đau khổ. Đến ngày thứ tư, dân chúng bắt đầu
không chửi nổi nữa. Thấy Ngài vẫn tiếp tục ôm bình bát
đi một cách thong dong, họ chỉ đứng nhìn với ánh mắt ngạc
nhiên pha lẫn niềm thán phục mặc cho Hoàng hậu ra lệnh tiếp
tục chửi. Ngài cứ lặng lẽ đi. Người ta cứ lặng lẽ
nhìn. Thấy dân chúng không chửi nữa, Hoàng hậu hạ lệnh
quyết liệt hơn. Cũng chỉ được một vài người chửi một
hai câu rồi dừng lại. Họ không dám chửi nữa vì nhìn thấy
gương mặt của Ngài rạng rỡ, bình an, mà từ bi quá. Dần
dần, Ngài đã hoá độ được dân chúng xứ này.
Sở
dĩ Đức Phật nhẫn nhục phi thường như vậy vì Ngài biết
trong một kiếp xa xưa nào đó, Ngài đã xúc phạm đến danh
dự của người khác. Không chỉ xúc phạm Hoàng hậu, Ngài
còn chạm đến dân xứ đó. Chuyện người ta đến đòi hỏi
cưới xin chỉ là một cái mốc, một cái duyên của hiện
tại để quả báo xuất hiện. Đó không phải là Nhân chánh.
Cái Nhân chánh đã nằm ở nhiều kiếp trước, lúc Ngài
xúc phạm cả một xứ dân.
Chúng
ta không nên nhầm lẫn nhẫn nhục với thái độ ươn hèn,
cầu an, ích kỷ khi nhìn thấy người khác bị ức hiếp,
bị nguy hại.
Chẳng
hạn, trên đường đi gặp tên cướp đang giật dây chuyền
của một cô gái, chúng ta không được nhẫn nhục mà bỏ
qua. Đó là thái độ ươn hèn, cầu an, ích kỷ, chứ không
phải nhẫn nhục. Trong trường hợp này, nếu có học được
món võ nào, chúng ta hãy làm người anh hùng cứu giúp người
ta. Nếu lượng sức mình không làm nổi, chúng ta phải tri
hô, kêu cứu để mọi người giúp đỡ. Hãy nhớ rằng, nhẫn
nhục chỉ vì mình là điều đơn giản, nhưng liên quan đến
người khác chúng ta phải cẩn thận, cần chọn thái độ
ứng xử thích hợp.
Lịch
sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc
ta đã chứng minh điều ấy. Không phải lúc nào cha ông ta
cũng nhịn nhục. Dù rất yêu chuộng hòa bình, nhưng khi cần
thiết, nhân dân ta cũng đứng lên chiến đấu ngoan cường
để bảo vệ nền độc lập, tự do cho dân tộc. Có những
người có thể được chúng ta cảm hóa bởi thái độ
nhẫn nhục. Khi họ nặng lời, xúc phạm, chúng ta vẫn hiền
lành, nhẫn nhục, dần dần họ đổi tâm thương cảm. Nhưng
với không ít người, chúng ta cần có thái độ nghiêm khắc
để dạy cho họ bài học, ngăn không cho họ tiếp tục gây
ra lầm lỗi. Bởi những người ấy thường có bản chất
hung dữ. Thấy chúng ta nhịn nhục, họ tự rút ra một chân
lý, sống ở đời muốn thành công phải hung dữ, phải biết
lấn lướt người khác giành quyền lợi về mình. Chúng ta
từng nghe những kẻ không có lương tri quan niệm: “Phải
biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ” hoặc “Mạnh
được yếu thua”. Với những con người như vậy, đức nhẫn
nhục của chúng ta không thể cảm hoá được, nên phải có
thái độ rõ ràng, dứt khoát kẻo đôi khi sự nhẫn nhục
của mình lại gây nên tai hoạ cho người khác. Đối với
kẻ thù xâm lược, nhẫn nhục càng không đem lại hiệu quả,
chúng ta cần mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn vì bản chất
của bọn xâm lược, dù ở bất kỳ thời đại nào, cũng
đều tàn bạo.
Có
khi rơi vào hoàn cảnh khốn cùng, sức khỏe hao tổn mà vẫn
đủ ý chí chịu đựng, đó là con người dũng, có hùng lực.
Người tu chúng ta cần được như vậy. Dù gặp hoàn cảnh
khó khăn thiếu thốn, khổ sở, bệnh hoạn…tâm chúng ta vẫn
không lay chuyển, không mất ý chí, không từ bỏ lý tưởng.
4.
CÁI NHẪN CỦA NGƯỜI CÓ TU TẬP THIỀN ĐỊNH.
a.
Người đạt được Sơ thiền, khi bị xúc phạm, thường không
động tâm. Người ngoài nhìn vào thấy họ rất trầm tĩnh,
không động tâm và cho là họ rất nhẫn. Nhưng thực chất,
họ không cảm thấy mình nhẫn vì tâm không có bụi phiền
não khởi lên. Họ rất bình thản, bình an. Khi chúng ta nói
họ rất nhẫn nhục dù bị xúc phạm, họ cho rằng không có
gì để nhẫn. Đó là sức mạnh của Thiền định. Người
chứng từ Sơ thiền trở lên bắt đầu có được điều đó.
b.
Tâm nhẹ nhàng nên có thể khởi thành từ bi hoặc khôi hài
để hóa giải thù oán. Thường khi gặp nghịch cảnh, gặp
chuyện trái lòng, chúng ta phải chịu đựng. Nếu sức chịu
đựng chưa mạnh, chúng ta phải dùng hết cả tâm mình để
chịu đựng. Như vậy, chúng ta không còn tâm để làm
được gì nữa.
Ví
dụ, có người nào đó vô cớ chửi mắng mình. Họ rất thô
lỗ, giận dữ, nói những lời xúc phạm. Lúc đó, chúng ta
cũng nhịn, cũng chịu đựng, cúi đầu im lặng, nhưng sự
chịu đựng đó che hết cả tâm. Chỉ chịu đựng thôi cũng
gọi là nhẫn nhục, nhưng như vậy, Đạo lực của chúng ta
chưa nhiều.
Ngược
lại, có trường hợp bị xúc phạm, chúng ta chịu đựng nhưng
tâm còn “dư”, nghĩa là chúng ta không phải dùng nhiều tâm
lực để chịu đựng. Lúc đó, chúng ta có thể nghĩ ra điều
gì vui vẻ, nói một câu khôi hài để hoá giải sự căng
thẳng.
Một
ví dụ đơn giản nhất: Hôm nay đến phiên mình nấu cơm,
không hiểu sao Sư huynh luôn tỏ ra khó chịu, cứ phiền trách
mình ngay trước mặt các cư sĩ. Khi thì Huynh chê cơm sống,
khi cho rằng nấu thức ăn không ngon….Lúc ấy, sức chịu
đựng của mình cũng cao, mình bèn khôi hài một câu:“ Vậy
mà hôm qua có người khen em giống Sư huynh đó”. Nghe vậy,
tất cả mọi người cùng cười. Chính câu nói đùa rất đúng
lúc này đã làm mất đi không khí căng thẳng ban đầu. Trong
hoàn cảnh như vậy, chúng ta vẫn nghĩ được câu khôi hài
là do tâm mình còn “dư”, không phải là sự chịu đựng
quá sức đến nổi che hết cả tâm, khiến chúng ta cúi đầu
chịu đựng, ôm buồn khổ trong lòng.
c.
Người xuất gia phải có khả năng nhẫn nhục cao độ để
làm gương cho Phật tử. Nếu vào chùa, thấy chúng ta phiền
trách nhau, nói qua nói lại, giận hờn nhau, Phật tử sẽ cho
là chúng ta tu chưa tốt, chùa không thanh tịnh, họ sẽ nản
chí, và dễ thoái tâm. Bởi vậy, nhiều khi nghĩ đến
thể diện của chùa, chúng ta phải nhẫn nhịn. Đó cũng
cũng là công đức lớn. Trong hoàn cảnh khó khăn, Phật tử
thấy chúng ta vẫn bình thản, vẫn chịu đựng được, họ
sẽ tin ở Phật Pháp.
Trước
khi nhẫn nhục được bằng Thiền định, chúng ta nên tập
nhẫn nhục bằng tư duy chân chính.
Ví
dụ, khi bị người ta mắng chửi, chúng ta nhịn vì nghĩ theo
Nhân quả, chắc đây là là chuyện oan gia đời trước, do
mình đã từng xúc phạm đến họ nên bây giờ họ mắng lại.
Đó là tư duy thứ nhất, theo Nhân quả mà nhịn. Tư duy thứ
hai, chúng ta biết ơn người này vì nhờ họ chửi mắng mà
mình tập được sức chịu đựng. Đây là thiện trí thức
nhắc chúng ta nhớ lúc nào mình cũng là cỏ rác, là cát bụi.
Hoặc có khi đó là suy nghĩ, nhờ sự nhẫn nhịn của mình
mà người ta hiểu ra và được cảm hóa. Đây là vì từ bi
mà nhịn. Cao hơn, chúng ta nhịn vì nghĩ đến thể diện của
chùa, của Phật pháp, đến niềm tin của Phật tử. Công đức
của sự nhịn nhục vì mục đích này rất lớn. Như vậy,
trước khi đạt đựơc Thiền định để có được nhẫn
nhục tự nhiên, chúng ta nên nhẫn nhục bằng tư duy.
Cần
phân biệt từng trường hợp để thực hiện nhẫn nhục một
cách đúng nghĩa. Trước sự công kích của ngừơi khác, lúc
nào chúng ta cũng phải bình tĩnh suy xét, xem người ta nói
sai hay đúng. Nếu thấy điều người ta phê bình, công kích
là đúng, chúng ta nên dừng việc đang làm lại, thay đổi
và tìm cách sửa sai. Chúng ta cần tránh cả hai thái độ:
phản ứng, chống lại một cách gay gắt hoặc im lặng, không
để ý đến lời người khác. Biết sai mà vẫn cố gắng
đến cùng sẽ rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí, cuối cùng
chuốc lấy thất bại thảm hại. Trường hợp thấy việc
mình làm hoàn toàn đúng, người ta góp ý, chỉ trích sai, chúng
ta vẫn chịu đựng sự công kích của họ để tiếp tục
công việc đang làm. Như vậy gọi là giữ lập trường kiên
định.
Nói
đến nhẫn nhục, người ta thường nhắc lại câu chuyện
nổi tiếng: “Tây Thi- Nữ hoàng Ngô quốc”. Thời đó, Ngô
Vương Phù Sai đem quân đánh chiếm nước Việt (không phải
Việt Nam bây giờ) và bắt Việt Vương Câu Tiễn về làm nô
lệ. Đó là mối nhục lớn đối với một vị vua. Việt
Vương Câu Tiễn ngày ngày vẫn hầu hạ vua Ngô một cách chu
đáo, tận tuỵ. Thậm chí, một lần Phù Sai bị bệnh rất
nặng, các Thái y hoang mang không biết phải làm thế nào, Câu
Tiễn đã xin được nếm phân Phù Sai để định bệnh. Việc
làm của Câu Tiễn khiến vua Phù Sai và các quan trong triều
vô cùng cảm phục. Ngô Vương Phù Sai tin rằng vua nước Việt
đã hoàn toàn quy phục, không còn ý định trả thù. Sau khi
khỏi bệnh, Phù Sai cho Câu Tiễn trở về nước. Việt Vương
Câu Tiễn hằng năm vẫn dâng cống phẩm đều đặn cho vua
Ngô. Lúc đầu là vàng bạc, châu báu, sau là các loại gỗ
quý để vua Ngô xây Cô Tô đài, cuối cùng là tiến cống
mỹ nhân để vua vui chơi giải trí. Trong số các mỹ nhân
được dâng nạp có nàng Tây Thi sắc đẹp “nghiêng thành,
đổ nước”. Một mặt, vua Câu Tiễn dặn những người đẹp
phải làm cho Ngô Vương Phù Sai mê đắm, suốt ngày vui chơi
trong Cô Tô đài mà quên hết mọi công việc triều chính.
Một mặt, ông củng cố binh lực và rèn luyện ý chí
bằng cách “nằm gai nếm mật”. Khi thời cơ đến, quân
đội của Câu Tiễn kéo sang đánh, Phù Sai không kịp trở
tay. Cả thành Cô Tô chìm trong biển lửa và Phù Sai cũng chết
một cách bi thảm.
Giai
đoạn làm nô lệ cho Phù Sai, Câu Tiễn đã nhẫn nhục chịu
đựng một cách đáng khâm phục. Nhưng đó không phải là
sự chịu đựng nhẫn nhục của đạo Phật. Đó là sự thâm
hiểm, nhẫn nhục nhằm mục đích trả thù.
Hàn
Tín
ngay từ nhỏ đã bộc lộ tài năng thiên bẩm. Ông rất giỏi
về quân sự, nghiên cứu binh thơ đồ trận, gặp ai cũng
bàn bạc. Một lần, ra chợ, ông ta gặp một kẻ du côn. Hắn
đứng dạng chân và yêu cầu ông phải chui qua, nếu không
hắn sẽ giết. Hàn Tín suy nghĩ một lát rồi chui qua. Người
kia cười đắc chí. Hắn cho rằng, như vậy không phải anh
hùng. Nếu thực sự là anh hùng thì thà chết chứ không chịu
nhục. Hắn không biết rằng Hàn Tín là con người nuôi chí
lớn. Con người ấy sẵn sàng nhịn nhục để bảo toàn thân
mình, tránh rắc rối với những việc trước mắt, dấu diếm
khả năng võ nghệ siêu phàm của mình để sau này còn làm
được việc lớn trong thiên hạ. Sau này, được làm tướng,
chẳng những không giận, ông còn thưởng cho người kia. Ông
muốn cho thiên hạ biết mình không phải là kẻ tiểu nhân.
Đây là trường hợp người có chí lớn nên nhịn được
những điều nhỏ nhặt.
Trường
hợp Mạc Đĩnh Chi của nước ta cũng là tấm gương về nhẫn
nhục. Ông sinh ra trong một gia đình rất nghèo, cha chết
sớm, bản thân lại xấu xí. Tuy vậy, ông vẫn cố gắng học
hành và đỗ Trạng nguyên. Khi đi sứ bên Tàu, ông được
vua nước ấy nể phục và phong làm Trạng nguyên. Như vậy,
ông được làm Trạng nguyên cả hai nước . Sự chịu đựng
gian khổ để học thành tài của Mạc Đĩnh Chi tuy còn
vì mục đích cầu sự nghiệp, nhưng tâm ông tốt, không làm
điều gì ác nên vẫn gần với nhẫn nhục của đạo Phật.
Người
tu theo đạo Phật luôn nhẫn nhịn được mọi điều, từ
điều nhỏ đến điều lớn. Chúng ta nhẫn nhục không phải
để cầu mong sự nghiệp, mong danh dự. Vì chúng ta quan niệm
cái ta này không có thật nên nhẫn nhục của đạo Phật vẫn
khác so với nhẫn nhục của người đời. Nhưng nếu nghĩ
sâu hơn, chúng ta có chí lớn là cầu thành Phật thì những
chuyện khác là nhỏ nhặt, cần bỏ qua.
Trong
Thoát vòng tục lụy có câu chuyện về Ngọc Lâm Quốc Sư.
Một lần, bị vu cáo là giết người, bị bắt giam vào ngục
nhưng ông vẫn không biện minh. Đối với người tu hành, bị
vu khống giết người là tội rất nặng. Sau đó, Sư huynh
Ngọc Lam đã minh oan cho ông.
Tại
sao bị hàm oan mà ông không cãi, lại rất bình an? Lý do rất
đơn giản. Với ông, danh dự chỉ là cái hão huyền nên ông
không cần. Người tu hành chúng ta cũng không cần. Điều đem
lại bình an cho chúng ta chính là sự vô tội, sự trong sạch
của mình. Khi thực sự trong sạch, chúng ta sẽ bình an, mọi
chuyện khác chỉ là Nhân quả, Nghiệp duyên. Điều đáng ngại
là lúc trả nghiệp chúng ta lại tạo tội, làm cho tâm bất
an. Nếu lúc trả nghiệp, bị người ta vu khống nhưng thật
sự trong thâm sâu mình không có tội, hoàn toàn trong sạch
thì tâm chúng ta sẽ rất bình an. Như vậy, sống một đời
trong sạch, không tội lỗi là chỗ dựa để người tu chúng
ta được bình an trong cuộc sống này.