BÌNH
ĐẲNG
1.
ĐỊNH NGHĨA:
a.
Bình đẳng khác với san bằng quyền lợi.
San
bằng quyền lợi là buộc mọi người chỉ nhận được một
số quyền lợi giống nhau, dù họ có phước khác nhau, dù
họ bỏ ra công sức khác nhau, dù họ đem lại hiệu quả khác
nhau.
Chữ
Lục hòa trong cách sống của chư Tăng nhiều khi cũng được
hiểu là san bằng quyền lợi như vậy, mọi người đều có
quyền lợi như nhau, không ai nhiều quyền lợi hơn ai. Trong
cộng đồng người tu, điều này có thể chấp nhận được
vì người tu không đòi hỏi quyền lợi dù công sức bỏ ra
rất nhiều. Nhưng sẽ là rất khó nếu điều này được áp
dụng trên toàn xã hội.
Hầu
hết ai cũng có vị kỷ tiềm ẩn, ai cũng muốn được công
bằng. Người làm nhiều phải được hưởng nhiều. Công bằng
cũng là tính chất của luật Nhân Quả. Nghĩa là người nào
có phước nhiều, họ phải được hưởng sung sướng nhiều
hơn.
Trong
xã hội, người nào đóng góp công sức nhiều, người đó
phải được hưởng quyền lợi nhiều hơn. Đó là tính công
bằng của xã hội. Cho nên, xã hội không thể buộc mọi người
phải hưởng quyền lợi giống nhau, trong khi khả năng của
họ khác nhau. Người thông minh hơn, tài năng hơn, làm việc
hiệu quả hơn, không thể hưởng mức lương như người không
có tài năng, không có trí tuệ. Nếu buộc mọi người hưởng
quyền lợi giống nhau dù họ đem lại hiệu quả khác nhau
sẽ phá vỡ sự phấn đấu cá nhân, vì thực tế là ai cũng
còn tâm lý vị kỷ, và đòi hỏi sự công bằng.
Do
đó, san bằng quyền lợi, buộc mọi người hưởng quyền
lợi giống nhau là một điều không thể thực hiện được.
Đó là việc làm phá vỡ luật công bằng và làm nhiều người
nảy sinh tâm lý chán nản.
Chỉ
trong môi trường của người tu theo đạo Phật, điều này
mới có thể thực hiện được ở một chừng mực nào đó.
Trong đạo Phật, trong một đại chúng, có người làm được
nhiều việc, có người làm được ít việc. Nhưng người
làm được nhiều việc thường không chấp, họ buông xả
được tính vị kỷ của mình, chấp nhận đời sống
san bằng quyền lợi. Tất nhiên, việc san bằng quyền
lợi, chỉ áp dụng được trong chùa một phần thôi, có khi
không được hoàn toàn. Đó là khi trong chúng có những người
phước bổng vượt lên. Họ là người tu tập được nhiều,
đóng góp được nhiều cho đại chúng. Dù không mong nhiều
quyền lợi, vẫn muốn chia đều quyền lợi nhưng phước đến
không kéo lại được nữa. Họ bắt đầu được nhiều Phật
tử mến mộ. Do phước tự nhiên, trí tuệ họ được mở
mang, họ có thể thuyết pháp, giảng kinh, làm được nhiều
việc nổi bật hơn. Thế là, những vị Trụ trì, những Thầy
bậc trên ưu ái, dành cho họ những đặc quyền đặc lợi.
Dù không muốn nhưng họ cũng bắt đầu được hưởng. Rồi
chúng khác cũng không lấy làm khó chịu vì phước của họ
xứng đáng được hưởng như thế.
Như
vậy, buộc mọi người phải sống bằng nhau trong quyền lợi
là điều rất khó thực hiện. Trên tâm nguyện, người tu
theo đạo Phật có học pháp Lục hòa nên dễ dàng chấp
nhận hưởng quyền lợi bằng Huynh đệ cho dù họ đóng góp
nhiều hơn. Nhưng có những trường hợp, chùa cũng không làm
được điều đó vì phước của mỗi người có sự sai biệt.
Ngoài
xã hội, điều này tuyệt nhiên không thể thực hiện được.
Những người có tài năng, có trí tuệ phải được hưởng
quyền lợi nhiều hơn. Như vậy, bình đẳng không phải là
san bằng quyền lợi.
b.
Bình đẳng là thái độ Đạo đức trong giao tiếp với mọi
người.
Nếu
san bằng quyền lợi là cơ chế của tổ chức, ở trong chùa
hay ngoài thế gian, thì bình đẳng là thái độ của Đạo
đức khi đối xử với mọi người.
Hai
khái niệm này hoàn toàn khác nhau.
Trong
đối xử, bình đẳng ngược với sự thiên vị. Người xuất
gia, đối với Phật tử phải có sự bình đẳng. Phật tử
đến chùa, có người nghèo, người giàu. Trước hai hạng
người như vậy, nếu giữ được sự bình đẳng, chúng ta
sẽ không có sự phân biệt đối xử với họ. Như vậy, chúng
ta là người có Đạo đức bình đẳng. Nhưng giữ được
thái độ này là điều hoàn toàn không đơn giản, không phải
ai cũng có thể làm được.
Người
ngoài thế gian cũng như người trong Đạo thường có
nhiều lý do để đối xử thiên vị.
Thứ
nhất, chúng ta thường đối xử thiên vị người có duyên
với mình từ những kiếp trước,( duyên ở đây có nghĩa
là duyên lành).Trong những kiếp trước, có thể họ đã ưu
ái, đã giúp đỡ mình. Kiếp này gặp lại, dù không cố ý
nhưng tự nhiên chúng ta vẫn thiên vị họ, vẫn đối xử
tốt với họ hơn những người khác.
Chẳng
hạn, do duyên kiếp trước chi phối nên có người đến xin
xuất gia, Thầy trụ trì nhận ngay, có người lại bị từ
chối. Trong đối xử, nếu không có sự bình đẳng cũng do
duyên đời xưa. Mặc dù trong lòng không có sự phân biệt,
không thương ai nhiều hay ghét ai nhiều hơn, nhưng duyên đời
xưa chi phối rất mạnh nên chúng ta có sự thiên vị,
không bình đẳng trong đối xử. Chỉ vì đây là điều thuộc
về Nhân quả nên chúng ta rất khó vượt qua.
Ngay
cả trong gia đình, cha mẹ đối với con cái cũng không đồng
đều, vẫn có sự thiên vị . Thực ra, con nào cũng do mình
sinh ra nên không có lý do gì để cha mẹ ghét bỏ, đối xử
phân biệt. Nhưng do duyên chi phối nên nhiều khi cha mẹ lại
thương những đứa con quậy phá tày trời mà những đứa
ngoan hiền lại không để ý đến. Có những tình cảm kì
lạ như thế.
Những
sự thiên vị đó, chúng ta chỉ có thể giải thích được
bằng nguyên nhân thuộc về duyên đời trước mà thôi.
Thứ
hai, chúng ta thường đối xử thiên vị với những người
có nhiều ưu điểm. Điều này cũng đã được nhắc đến
trong bài Tâm từ. Người có ưu điểm là người có nhan sắc,
có vẻ đẹp nổi trội hoặc sang trọng hơn so với người
khác. Mặc dù người ta không có duyên với mình lắm, nhưng
vì những điểm nổi trội đó mà chúng ta hay để ý đến
họ, thiên vị họ. Sự thiên vị nhiều khi cũng ẩn chứa
một sự cầu cạnh, mong rằng người ta sẽ đoái hoài tới
mình, giúp đỡ mình. Dù khác nhau về mức độ nhưng nó vẫn
là biểu hiện của sự vị kỷ.
Thiên
vị không phải là Đạo đức, và đó là điều mà tất
cả chúng ta, người xuất gia hay cư sĩ, cũng đều dễ phạm
phải. Nếu tu tập không vững chắc, đạo lực không
mạnh, chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng đối xử thiên
vị.
Hiện
nay, tình trạng người xuất gia đối xử phân biệt với cư
sĩ đến chùa, phân biệt giữa người giàu và người
nghèo là một trình trạng rất phổ biến và bị than phiền
khắp nơi. Nếu quý Phật tử nào chưa rơi vào trường hợp
ấy là người có phước, đã gặp được những vị tu hành
chân chính. Không ít người tỏ ra rất bất mãn khi thấy có
nơi, các Thầy chỉ ân cần, vồn vã với những Phật tử
giàu có và tỏ ra lơ là với những người nghèo khổ.
Để
lý giải điều này với Phật tử, chúng ta chỉ có thể nói
rằng vì đời trước những người ấy đã tạo phước, biết
quan tâm đến người khác. Phước sẽ hiện ra trên gương
mặt rạng rỡ, ánh mắt khả ái, tiền bạc nhiều, tướng
người sang trọng….nên họ có một lực thu hút sự chú ý
của người khác, đi đâu cũng được người ta trân trọng.
Khi đến chùa, họ cũng thu hút sự chú ý của người xuất
gia. Người nghèo thường là người ít phước, họ không được
sự chú ý của người khác. Đó là luật công bằng, công
bằng đến nghiệt ngã mà chúng ta phải chấp nhận.
Nhưng
về phía người xuất gia, nếu biết tu tâm, biết giữ tâm
mình thanh tịnh, đứng trước mọi người, mọi cảnh, tâm
vẫn không chạy theo. Họ luôn luôn kiểm soát tâm mình. Đứng
trước hai đối tượng ấy, có thể phước của người giàu
thu hút tâm họ, nhưng vì sức định trong lòng họ vững
chắc nên tâm họ không bị hút về đó. Họ vẫn ở lại
với tâm mình. Bởi vậy, dù người kia có giàu sang, gương
mặt rạng rỡ, nhưng họ vẫn ở lại với tâm, không bị
chi phối.
Dù
là niệm Phật hay tu Thiền, người biết tu tập thường không
bị chi phối bởi ngoại cảnh. Có khi đang niệm Phật, tuy
nói chuyện với người khác nhưng họ vẫn ở lại với câu
niệm Phật trong tâm mình, tâm không hướng ra ngoại cảnh.
Người tu Thiền lúc nào cũng kiểm soát tâm mình, xem tâm tịnh
hay động. Mặc dù nói chuyện với người khác hoặc làm việc
gì đó nhưng lúc nào họ cũng ở lại với tâm, kiểm soát
tâmï. Sức định càng sâu, họ càng ít bị ngoại cảnh chi
phối.
Đây
là vấn đề tế nhị của tâm và cũng là vấn đề khó hiểu.
Người không tu tập vững chắc, thừơng bị ngoại cảnh lôi
cuốn tâm ra bên ngoài. Còn người có công phu tu tập vững
chắc, họ sẽ ở lại với tâm của mình. Vì vậy, giữa hai
người giàu và nghèo, không ai có thể cuốn hút họ được.
Điều này biểu hiện ra ở cách ứng xử bên ngoài. Đó
là lòng từ bi, lòng bình đẳng.
Người
giữ được tâm mình trong định là người có trí tuệ. Vì
là người có trí tuệ nên họ thường chú ý đến người
nghèo khổ nhiều hơn. Sở dĩ như vậy là do họ biết người
nghèo khổ dễ bị mặc cảm, mặc cảm về thân phận nghèo
hèn của mình. Khi đến chùa, những người ấy thường không
dám gặp thầy Trụ trì. Họ loanh quanh làm lụng việc gì đó
hoặc khi nghe Thầy nói chuyện, họ cũng chọn một chỗ ngồi
kín đáo, không dám lộ mặt ra.
Nếu
có công phu tu hành vững chắc, tâm ổn định, người xuất
gia sẽ nhận ra được thái độ mặc cảm, buồn tủi của
người nghèo, nhất là người tật nguyền, để tỏ lòng thương
và quan tâm đến họ nhiều hơn. Chính tình yêu thương và
sự quan tâm đúng mực của chúng ta sẽ giúp họ vơi đi những
mặc cảm vốn tồn tại cố hữu trong lòng họ. Đó là Đạo
đức bình đẳng. Thực ra, trong trường hợp này, đối với
những người có trí tuệ, sự bình đẳng lại mang một ý
nghĩa khác, linh hoạt hơn. Bình đẳng nhưng lại thiên vị
đối với người nghèo. Những người giàu có thường sinh
tâm kiêu ngạo về sự giàu sang của mình. Nếu được ân
cần vồn vã, họ càng dễ kiêu ngạo hơn. Với những người
như vậy, chúng ta không thiên vị cũng không sao, vì chùa
này không quan tâm sẽ có chùa khác quan tâm.
Có
những Phật tử cậy chỗ giàu sang, khi cúng dường công quả
thường yêu cầu chùa phải làm theo ý mình. Gặp những trường
hợp ấy, chúng ta phải dứt khoát, không bao giờ nghe theo.
Chúng ta không đồng ý là để diệt cái ngã của họ, diệt
tâm kiêu mạn về sự giàu có của họ. Tất nhiên, sự lạnh
lùng nghiêm khắc của chúng ta có khi không đem lại hiệu quả
vì người ấy có thể đến chùa khác và sẽ được ân cần
đón tiếp. Hoặc kết quả có thể xảy ra ngược lại, người
ấy không bao giờ đến chùa nữa. Nhưng chúng ta vẫn phải
kiên quyết để cho họ một bài học. Có thể họ được
đón tiếp ân cần ở chùa khác, nhưng dù sao họ cũng hiểu
rằng, có ít nhất một nơi không có chỗ cho tâm kiêu mạn
của họ ngự trị.
Những
người nghèo thường lui tới chùa là những người mến chùa,
cần tình yêu thương. Nếu chúng ta không tiếp, họ sẽ cảm
thấy lạc lõng, mặc cảm cho thân phận mình. Vì vậy, chúng
ta phải thương yêu những người nghèo khổ, bù đắp cho họ
những thiếu thốn trong đời sống tinh thần. Đối với những
người tật nguyền, chúng ta càng phải quan tâm hơn nữa để
xoá dần trong họ những nỗi mặc cảm, giúp họ tự tin hoà
nhập với cuộc đời.
Nếu
là người quản chúng, chúng ta phải tạo cơ hội đồng đều
cho chúng tu học và công quả, không phân biệt dòng dõi, tài
năng. Như vậy là chúng ta đã giữ được Đạo đức bình
đẳng.
Người
tu hành thường có ba việc: tu, học và làm việc.
Tu
bao gồm nhiều việc ngồi Thiền, lễ Phật, tụng Kinh. Học
có thể hiểu một cách rộng rãi: học trên lớp, tự học
ở nhà, học với Thầy….Người quản chúng phải đào tạo
điều kiện cho chúng thực hiện hai điều này. Phải tạo
điều kiện cho họ nhưng không được thiên vị. Người có
điều kiện học, chúng ta phải giúp cho họ được học,
giúp cho họ có thì giờ để tu. Đối với người xuất gia,
tu là việc quan trọng nhất. Vì vậy, lười biếng, không tu
tập là điều không thể chấp nhận được. Người tu hành
có thể học ít, nhưng tu là phải luôn luôn tinh tấn, không
tinh tấn tu hành thì không xứng đáng làm một người xuất
gia.
Vấn
đề ở đây là không thiên vị. Người Trụ trì, Giáo thọ,
Tri sự hay quản chúng phải tạo điều kiện đồng đều
cho họ học hành, tu tập.ï Có khi có duyên với người này
nhiều, với người kia ít, nhưng chúng ta phải quan tâm đến
tất cả mọi người, quan tâm đến từng người, từng căn
cơ một. Nếu để cho người nào đó lôi cuốn bởi cái phước
của họ, chú ý nâng đỡ họ thì chúng ta là người không
có đạo lực. Trong từng lúc, từng nơi, chúng ta phải cẩn
thận, đừng để thiên vị bởi phước của người khác.
Vì thiên vị với người có phước sẽ làm cho chúng ta mất
đi Đạo đức bình đẳng.
Nếu
là người có trách nhiệm, chúng ta nên chú ý nhiều đến
những người trí tuệï kém cỏi, căn cơ còn kém, tánh tình
chưa được đàng hoàng. Vì dù sao họ cũng đã có chí nguyện
xuất gia. Những người có phước, tự mình có thể đi được,
có thể đứng vững trên đôi chân của mình được. Người
không có phước, chúng ta phải kèm cặp, quan tâm nhắc nhở
nhiều hơn. Đó chính là Đạo đức của người quản chúng.
Việc
công quả với người tu hành cũng rất quan trọng. Vì thế,
chúng ta phải lưu ý tạo điều kiện cho họ công quả. Nếu
không công quả, người xuất gia không thể nào tiến Đạo.
Người
Trụ trì thường mắc phải sai lầm ở chỗ hay phạt những
người có tánh xấu, thường phạm lỗi bằng cách bắt họ
làm những việc nặng nhọc. Đó là điều nguy hiểm cho đại
chúng về sau. Vì sai họ làm như vậy, chúng ta cứ tưởng
là phạt họ nhưng thực chất là tạo điều kiện cho họ
công quả. Sau này họ sẽ có phước, sẽ là người lãnh đạo
trong chùa. Một khi người có tánh tình xấu làm lãnh đạo
trong chùa, điều gì sẽ xảy ra? Chắc chắn chùa không còn
là nơi tu hành nghiêm túc nữa. Những người tu tốt sẽ không
chịu đựng được, cuối cùng sẽ bỏ đi .
Sẽ
có người thắc mắc tại sao người không tốt lại được
làm lãnh đạo? Đây cũng là điều hợp lý, hợp lý theo luật
Nhân Quả. Vì trước kia, họ bị người lớn ghét, bắt công
quả nhiều, bây giờ họ được hưởng phước, được làm
người lãnh đạo.
Bởi
vậy, theo luật Nhân Quả, chúng ta cần lưu ý: những người
có Đạo đức, muốn đào tạo để thành người lãnh đạo
tốt sau này, chúng ta phải bắt công quả nhiều hơn. Người
lãnh đạo chúng có Đạo đức sẽ rất tốt cho chùa. Những
chùa có người lãnh đạo như vậy sẽ là nơi tu học nghiêm
túc, là nơi Phật tử có thể chọn làm chỗ nương tựa vững
chắc cho mình. Những chùa tốt sẽ góp phần làm cho Phật
pháp ngày càng hưng thịnh.
Về
căn bản, chúng ta tạo cơ hội cho đại chúng công quả đồng
đều, để họ có phước, tu hành được tinh tấn. Nhưng chỉ
công quả trong chùa chưa đủ, người xuất gia phải biết
làm công quả ở ngoài chùa. Vì nếu công quả giới hạn trong
phạm vi chùa, mỗi người lo làm việc tốt cho nhau thì người
tu chỉ tiến được Đạo đức chứ không tiến được phước.
Người Trụ trì phải tạo điều kiện cho chúng công quả
ngoài chùa, thường xuyên làm việc từ thiện để tạo phước
về sau.
Có
những ngôi chùa làm được những việc rất đáng tán thán,
ngợi ca. Có một ngôi chùa, khi cần thiết, có đến 42 người
trong chúng hiến máu. Phải thấy rằng, không có phước gì
lớn bằng phước hiến máu cứu người. Người ta có thể
cho tiền bạc, nhưng hiến máu không phải ai cũng làm được.
Người ta gọi đó là bố thí nội tài.
Chúng
ta cần lưu ý, không thiên vị, nhưng cũng không san bằng quyền
lợi. Vì như đã nói ở trên, san bằng quyền lợi là phá
vỡ Nhân Quả. Trong chúng, khi đối xử với mọi người,
chúng ta phải luôn luôn tạo cơ hội đồng đều cho họ. Tuy
nhiên, làm được hay không còn tùy thuộc vào họ. Có người
, đến giờ tu, rất tinh tấn nhiếp tâm. Có người vẫn ngồi
đó nhưng tâm không ở với họ mà đi lang thang. Có người
lễ Phật với lòng tôn kính thiết tha. Nhưng cũng có người
lễ Phật một cách hời hợt. Như vậy, Nhân Quả lúc này
là tự họ gieo chứ không phải chúng ta nữa. Trách nhiệm
của chúng ta là tạo điều kiện đồng đều cho tất cả
mọi người. Còn dụng tâm, nỗ lực đến đâu là tuỳ họ.
Càng về sau, phước của mỗi người sẽ tách ra dần dần.
Người tốt sẽ đi theo con đường tốt. Người chưa tốt
tự nhiên sẽ dừng lại, sẽ bị rơi lại đằng sau. Đó là
lẽ đương nhiên, chúng ta không thể cưỡng lại được, mặc
dù lòng mình vẫn bình đẳng thương yêu. Đừng bao giờ nghĩ
rằng, bình đẳng là điều gì cũng phải bằng nhau. Nghĩa
là, mọi người chưa đạt được điều này thì người khác
cũng không thể đạt được điều kia. Hiểu như vậy là sai
lầm, là kìm hãm sự phát triển, sự tu hành tinh tấn của
mỗi cá nhân.
Chẳng
hạn, khi có người tu tốt, trí tuệ mở ra, được nhiều
Phật tử quý mếnï, duyên giáo hóa của họ cũng đã đến,
chúng ta không nên cản lại. Chúng ta đừng vì lý do bao nhiêu
người khác chưa ra giáo hóa, giảng dạy mà ngăn cản việc
giảng pháp của họ. Làm như vậy là chúng ta bắt đầu rơi
vào bệnh san bằng quyền lợi. Khi phước của họ đã khác,
duyên của họ đã đến, chúng ta phải tùy duyên mà tạo điều
kiện cho họ phát huy khả năng, làm những việc Phật sự
lớn hơn. Đó không phải là sự thiên vị . Đó là một hành
xử đúng với luật Nhân Quả.
Trong
đối xử, chúng ta cần phải giữ sự trung đạo. Nghĩa là
lòng chúng ta vẫn thương yêu đồng đều, không thiên vị,
vẫn muốn cho mọi người đều tốt. Nhưng khi ứng xử hành
động, chúng ta phải tùy duyên, tùy phước, tùy nhân quả
của mỗi người, không nên áp đặt và không san bằng quyền
lợi. Hay nói cách khác, giữa bình đẳng và san bằng quyền
lợi có sự khác nhau, chúng ta phải phân biệt cho rõ để
áp dụng cho đúng, tránh phạm phải những sai lầm. Đây là
điều khó mà những bậc Trụ trì cần lưu ý. Nếu không cẩn
thận, không giữ được tâm, chúng ta sẽ thiên vị trong đối
xử.
Nếu
một lúc nào đó, chúng ta rơi vào cực đoan, không thấy được
Nhân Quả nên san bằng quyền lợi, trong khi phước của mỗi
người bắt đầu có sự sai biệt là chúng ta đã cưỡng lại
Nhân Quả. Như vậy, chúng ta đã phạm sai lầm. Đây là chỗ
người tu phải cẩn thận. Bởi vậy, nói đến Đạo đức
bình đẳng là nói đến việc phán xét bên ngoài nhiều hơn,
mặc dù có sự kiểm soát tâm mình.
2.BÌNH
ĐẲNG BIỂU LỘ ĐẠO LỰC.
Người
có phước luôn luôn tạo sự thu đối với mọi người. Ngược
lại, người có tội, người nghèo khổ thường tạo ra sự
thờ ơ ghẻ lạnh. Nếu tu tâm từ bi ít, không thương người
nghèo khổ, chúng ta sẽ bị phước của người giàu sang thu
hút, trở nên thiên vị. Lúc ấy, chúng ta sẽ thành một người
cục bộ, thiên vị cá nhân. Như vậy, làm sao chúng ta xứng
đáng là tàng cây che mát cho mọi người?
Bởi
vậy, đối với chúng ta, tu tập tâm từ bi là yêu cầu căn
bản, là điều kiện tiên quyết để hiểu sâu sắc những
vấn đề về Đạo đức và áp dụng có hiệu quả những
vấn đề ấy trong cuộc sống. Tâm từ bi không chỉ tu ngày
một, ngày hai mà phải tu tập cả một đời. Mỗi ngày, khi
lễ Phật, khi ngồi Thiền, chúng ta phải quán từ bi, thương
yêu mọi người. Chừng nào khi tiếp xúc, những người nghèo
làm cho chúng ta thương yêu nhiều hơn là lúc ấy chúng ta đã
đi đúng con đường của kẻ tu hành. Trong đối xử, chắc
chắn chúng ta sẽ biểu lộ được Đạo đức bình đẳng.
Người
có đạo lực là người không bị sự sai biệt của ngoại
cảnh chi phối, không bị kẻ có phước kéo tâm mình chạy
về phía họ. Bởi vậy, trong giao tiếp, chúng ta cần giữ
được tâm từ bi đồng đều với mọi người dù đó là
người phước nhiều hay kẻ phước ít. Tăng Ni hiện đang
bị phê phán rất nhiều về thái độ vồn vã với người
giàu và thờ ơ với người nghèo.
Chúng
ta nên nhớ rằng, đối với những người giàu sang, chúng
ta có đối xử ân cần hay không, điều ấy không quan trọng.
Đi đâu họ cũng được đối xử ân cần. Họ đến chùa
nào cũng được như vậy và đến với bạn bè, họ cũng được
điều đó. Có những người giàu rất thán phục khi thấy
chúng ta đối xử tốt với người nghèo. Còn ân cần vồn
vã với họ, có khi chúng ta lại bị coi thường. Có một số
Phật tử giàu sang tỏ ra khinh thường khi thấy người
tu chúng ta đến thăm. Họ nghĩ rằng, chúng ta đến cầu sự
cúng dường của họ. Bên ngoài nhiều khi không biểu hiện,
nhưng trong tâm họ đã xuất hiện tâm lý coi thường. Người
tu chúng ta phải cẩn thận, dè dặt khi tiếp xúc với những
người giàu có. Tất nhiên, chúng ta không “vơ đũa cả nắm”,
nhưng phải thừa nhận rằng, người giàu thường kiêu ngạo
và dễ nghĩ xấu cho người tu. Bởi vậy, chúng ta cần phải
giữ thái độ bình thản khi giao tiếp với họ. Tuyệt đối
không được đối xử lạnh nhạt, thờ ơ với người nghèo
mà ân cần vồn vã với người giàu. Phải cho họ thấy được
sự khác biệt giữa chúng ta với người đời.
Để
thực hiện được điều đó, người tu phải có một bản
lĩnh, bản lĩnh vượt lên trên cái thường tình, có thể
thờ ơ bất cần với người giàu, nhưng lại ưu ái với người
nghèo
Nói
như vậy, không phải ai đến chùa chúng ta cũng xem xét vấn
đề giàu nghèo. Sở dĩ chúng ta thương người nghèo, vì họ
dễ bị mặc cảm, dễ tủi thân. Còn cái chúng ta quan tâm,
chú ý thật sự đối với những Phật tử khi đến chùa là
cái tâm. Tâm ở đây nghĩa là tâm Đạo, là mức độ hiểu
Đạo, mức độ ham thích tu tập của họ. Vì vậy, xét về
mặt này, chúng ta không nên phân biệt giàu nghèo. Có trường
hợp đến với chùa là những người giàu sang nhưng có
tâm Đạo. Chúng ta nên quý trọng họ. Một khi hiểu Đạo,
những người ấy sẽ không nghĩ xấu, nghĩ lệch lạc khi được
chúng ta đối xử tốt.
Tóm
lại, trong cách cư xử, nếu là người “sáng mắt”(hiểu
theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng), chúng ta sẽ nhận ra ở
người giàu tâm Đạo của họ đến mức nào và sẽ có thái
độ thích hợp. Nếu là người kiêu ngạo, chúng ta giữ thái
độ thờ ơ, lạnh lùng để cho họ một bài học Đạo đức
trong cách sống. Nếu là người có tâm Đạo, chúng ta phải
đối xử tối với họ như bao người khác.
3.
ÁP DỤNG ĐẠO ĐỨC BÌNH ĐẲNG TRONG ỨNG XỬ.
a.
Với Phật tử:
Chúng
ta cố gắng đối xử từ ái với người nghèo khổ vì họ
rất dễ mặc cảm. Người giàu có trong cuộc sống vốn dễ
được ưu ái, và vì thế cũng dễ sinh tâm kiêu mạn. Chúng
ta dành cho họ sự hờ hững cũng rất cần thiết để chữa
căn bệnh kiêu mạn ấy. Đối với người có tâm, chúng ta
luôn luôn đối xử tốt.
b.
Với Huynh đệ:
Chúng
ta đừng kết thân riêng với một vài người tạo thành mầm
mống chia rẽ cho Tăng đoàn về sau. Vì khi kết thân với một
vài người, có thể người cùng ở chung liêu, người có duyên
với mình, chúng ta sẽ hay lui tới, gắn bó với người đó
mà không quan tâm đến những người xung quanh. Lâu ngày, điều
đó sẽ trở thành mầm mống của sự chia rẽ.
Bởi
vậy, chúng ta phải cẩn thận. Dù là người có duyên với
mình hay là người có nhiều ưu điểm, chúng ta cũng cố gắng
giữ thái độ bình thường như với người khác. Chúng ta
có thể gần gũi với những người ấy để học hỏi, nhưng
đừng vì vậy mà kết thân riêng. Chính sự kết thân riêng
sẽ tạo nên sự ích kỷ, dẫn đến ganh tỵ.
c.
Với chúng do mình kiểm soát:
Trong
chúng, rất nhiều người sống với nhau, chắc chắn sẽ có
người tốt với chúng ta, có duyên với chúng ta, nhưng chúng
ta vẫn cố gắng giữ lòng mình, để đối xử một cách bình
đẳng, không phân biệt. Đây là điều rất khó, không phải
ai cũng dễ dàng thực hiện được. Nếu không cố gắng, chúng
ta sẽ mất Đạo lực, sẽ quen thiên vị , đối xử không
bình đẳng với mọi người. Dần dần, khi đi làm việc Đạo,
chúng ta sẽ bị thái độ thiên vị đó chi phối và trở nên
cục bộ địa phương.
Nếu
là Trụ trì, Tri sự, chúng ta hãy cho mọi người cơ hội đồng
đều trong việc tu học, đừng bao giờ ưu tiên người này,
chèn ép người khác. Nếu có vài người ngang bướng với
mình, chúng ta không nên ác cảm mà hãy thương yêu để hoá
độ họ.
d.
Người cư sĩ cũng phải đối xử bình đẳng với nhau.
Trong
xã hội, có nhiều tầng lớp người, bên cạnh những người
giàu có còn không ít những người nghèo khổ, những
kẻ bất hạnh. Người cư sĩ nên đối xử bình đẳng với
nhau. Những người nghèo, mình nên quan tâm, thương yêu giúp
đỡ nhiều hơn. Với những người biết Đạo, dù ít hay nhiều,
mình cũng nên quý mến. Nếu là người biết Đạo nhiều,
hãy coi đó là những người thiện tri thức của mình, cùng
đi với nhau để học hỏi. Những người chưa biết Đạo
nhiều, hãy quan tâm giúp đỡ để họ hiểu thêm về Đạo.
Ví
dụ, nghe ở đâu có Thầy giảng hay, mình nên rủ mọi người
cùng đi. Hoặc có cuốn băng nào hay, phải chuyền cho
nhau nghe, cuốn sách nào hay, phải khuyên nhau đọc…Người
hiểu Đạo phải tạo điều kiện cho những người khác đến
với Đạo. Những Phật tử nếu có tu tập từ bi sẽ làm
được điều đó.
Đối
với Tăng Ni, người cư sĩ nên tôn kính nhưng cũng phải bình
đẳng, nghĩa là không nên thiên vị Thầy này hay Cô khác.
Mặc dù có những vị đáng cho mình học, có những vị còn
phải tu tập nhiều nhưng cư sĩ đều phải tôn kính, đều
phải học hỏi. Những Phật tử khi Quy y cũng cần lưu ý một
điều này, Quy y Tăng có nghĩa là Quy y mười phương Tăng.
Vì vậy, không phải chúng ta chỉ biết một mình
Thầy Bổn Sư, mà đi bất cứ nơi nào, nếu gặp những vị
Tăng Ni tu hành chân chính, chúng ta đều phải kính trọng.
Có
một thời gian, Phật tử có quan niệm là, đối với Tăng
Ni, dù lầm lỗi thế nào họ cũng một mực kính trọng. Quan
niệm này cũng có nhiều cái hay, thể hiện sự bao dung, độ
lượng của Phật tử đối với người tu hành. Nhưng vô tình,
quan niệm ấy đã góp phần nuôi dưỡng những phần tử xấu
trong Phật pháp, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đạo, làm
cho Phật pháp nhanh chóng suy tàn. Phật tử cần phải khắt
khe hơn nữa, phải đặt lòng tôn kính cúng dường của mình
đúng chỗ, đúng đối tượng. Có như vậy, chúng ta mới gạn
lọc dần những đối tượng kém phẩm chất, lợi dụng Phật
pháp để thoả mãn nhu cầu của mình.
Xây
dựng lại Phật pháp, không chỉ là trách nhiệm, là sự cố
gắng tu hành của Tăng Ni, mà trong đó còn có trách nhiệm
của Phật tử. Nếu Phật tử đồng lòng khắt khe trong việc
đánh giá người tu hành, chắc chắn sẽ không còn người
xuất gia tùy tiện, bừa bãi. Như vậy, trong quá trình làm
cho Phật pháp hưng thịnh trở lại, có sự đóng góp không
nhỏ của quý Phật tử.
Đức
Phật luôn luôn biểu lộ thái độ hiền lành, đúng mực trong
cư xử. Có chuyện kể rằng, vào thời Đức Phật, một lần
một số chư Tăng cãi cọ với nhau. Các vị này chắc tu hành
cũng chưa cao, không như những vị A La Hán. Khi có điều bất
hòa, họ gây gổ với nhau và chia thành hai phe. Thấy vậy,
Đức Phật khuyên với giọng rất từ tốn:
-Này
các Tỳ Kheo, các ông đừng cãi cọ với nhau nữa, đừng tranh
cãi nữa, đừng bất hòa nữa.
Phật
nói rất từ tốn nhưng các vị đang trong cơn hăng say, trong
cơn hơn thua hiếu thắng nên không nhịn được và trả lời:
-Thế
Tôn cứ nghỉ ngơi cho khỏe, việc này tụi con phải nói
cho ra lẽ.
Đức
Phật nói:
-Thôi
đủ rồi, các ông đừng có tranh cãi nữa, đừng có
bất hòa nữa.
Các
ông ấy lại nói :
-Bạch
Thế Tôn ! Hãy lui về yên nghỉ cho có sức khỏe, Ngài hãy
để các con làm cho ra lẽ.
Đức
Phật khuyên ba lần mà các vị ấy vẫn không nghe, vẫn cứ
cãi nhau. Đức Phật cảm thấy những người ấy bướng quá,
Ngài không nói nữa mà dùng biện pháp khác. Ngài không ở
lại chùa nữa mà ra đi. Khi Ngài đi rồi, Phật tử làm ầm
lên. Họ kéo đến trách chư Tăng và tuyên bố từ nay sẽ
không cúng dường nữa.
-Quý
Thầy cần thì hãy đi nơi khác khất thực, không được ở
làng mạc, thị trấn của chúng tôi nữa. Chúng tôi sẽ
dứt lòng, không ai cúng dường cho quý Thầy nữa, nếu
các Thầy còn tranh cãi để Đức Thế Tôn phải rời chỗ
này ra đi.
Lúc
đó, Đức Phật đi đến khu rừng Sừng Bò, nơi có ba vị
Tôn giả A La Hán đang sống. Đó là ngài A-nu-rud-dha, Nan-di-ya
và Kim-bi-la. Ba Ngài sống với nhau rất hòa hợp. Đức
Phật đến thăm ba vị và nói chuyện với họ rất lâu. Sau
này, chúng ta đã dựa vào cuộc trò chuyện ấy soạn thành
một bài kinh. Đó là kinh Sống hòa hợp.
Trước
sự đấu tranh dữ dội của các Phật tử, trước áp
áp lực kinh tế và áp lực của các tín đồ, các Thầy không
dám tranh cãi nữa. Lúc đó, Đức Phật trở về chùa tiếp
tục dạy dỗ các chư Tăng.
Như
vậy, thái độ của cư sĩ đối với Tăng Ni cũng rất quan
trọng.
Quý
Phật tử phải giữ thái độ bình đẳng, không nên thiên
vị hay cục bộ địa phương. Phật tử đừng có quan niệm,
mình là người địa phương nào thì tìm chùa của địa phương
đó để ủng hộ. Làm như vậy là quý Phật tử đã thiên
vị trong đối xử. Còn một điều nữa cũng xin lưu ý các
Phật tử. Đó là việc nhiều Phật tử không đánh giá quý
Thầy, quý Cô trên đức hạnh, mà đánh giá trên cơ sở những
cảm nhận bên ngoài hời hợt, cảm tính của mình. Chẳng
hạn, Phật tử thường tỏ ra ngưỡng mộ những vị Thầy
có giọng tụng kinh hay, có gương mặt hảo tướng, hoặc những
Thầy có Phật tử đông, có uy thế… Đó là sự đánh giá
không chính xác. Những Phật tử có sự đánh giá chân chính
là những người biết nhìn vào đạo hạnh, vào tâm của người
Thầy. Nếu chú ý về đạo hạnh, chúng ta sẽ chọn được
người xứng đáng để đặt lòng tôn kính của mình, để
thừa sự học hỏi. Đó là sự gạn lọc khách quan cũng là
Đạo đức bình đẳng của người tu sĩ.
4.
PHẢI TUỲ BỆNH CHO THUỐC:
Bình
đẳng có nghĩa là tâm mình không thiên vị, là thương yêu
tất cả mọi người. Nhưng cách chúng ta cư xử
mỗi người sẽ mỗi khác vì tâm tình, trình độ của mỗi
người không giống nhau.
a.
Với người còn tự ái:
Những
người này khi phạm lỗi, chúng ta chưa thể nói thẳng lỗi
của họ. Vì người hay tự ái, khi bị chỉ lỗi sẽ dễ nổi
giận. Chúng ta chỉ khuyên họ lễ Phật và tác ý khiêm hạ.
Một khi đã lễ Phật, đã tác ý khiêm hạ, coi thân mình như
cỏ rác, cát bụi thì họ sẽ không còn tự ái như trước.
Lúc đó, chúng ta có thể nói lỗi của họ một cách thẳng
thắn mà không sợ họ nổi giận. Chẳng những không giận,
họ còn cố gắng tu tập, sửa lỗi.
b.
Với người tự ti mặc cảm:
Người
tự ti mặc cảm là người cho rằng mình kém cỏi. Ơû đây,
chúng ta cần phân biệt hai loại người. Có người cho rằng
mình kém cỏi vì họ có tâm khiêm hạ. Có người cho mình
kém vì họ tự ti, mặc cảm. Người nghĩ rằng mình kém (vì
khiêm hạ) là người có Đạo đức, chắc chắn họ sẽ tiến
bộ. Còn người nghĩ mình kém rồi sinh ra buồn bã, chán nản,
không còn nghị lực phấn đấu nữa thì không phải là người
có Đạo đức . Đó là người đã rơi vào bệnh mặc cảm,
tự ti.
Những
người này thường chưa đủ tự tin. Họ không tin rằng mình
sẽ làm được điều tốt, không tin mình sẽ tiến đạo khi
tu tập. Với họ, chúng ta đừng khuyến khích bằng cách khen
ngợi. Vì nếu khen không đúng, chúng ta sẽ làm họ tăng bản
ngã. Từ bịnh tự ti, họ có thể sinh bịnh tự tôn với lời
khen hão huyền. Với những người này, chúng ta chỉ khuyên
họ tạo phước, vị tha hy sinh. Phước vị tha sẽ đem lại
tự tin. Đây là hệ quả rất kỳ lạ. Nếu không giúp đỡ
người khác, chúng ta sẽ rụt rè, mất tự tin; nếu sống
tốt với mọi người, chúng ta sẽ tự tin hơn.
c.
Với người không có duyên:
Với
người không có duyên, chúng ta đừng cầu cạnh làm mất tư
cách của mình và cũng dễ bị họ khinh thường. Nhất là
đối với những người giàu mà không có duyên với mình,
nếu cứ ân cần, vồn vã, chúng ta sẽ bị họ khinh thường.
Bổn
phận của chúng ta là đối xử tốt với mọi người, đừng
cầu cạnh ai dù đó là người giàu sang hay quyền thế.
Đối với những người như vậy, chúng ta chỉ hóa độ bằng
cách cứ bình thản làm lợi ích cho người khác. Thấy chúng
ta lo lắng cho mọi người, dần dần họ sẽ hiểu.
d.
Với người có duyên, ưu ái mình.
Chúng
ta nên cẩn thận để giữ duyên, nghĩa là đừng nhận của
người ta nhiều quá. Chúng ta không nên ỷ lại vào sự ưu
ái của họ, đến lúc hết duyên, hết nợ lại xa nhau. Nếu
thấy người đó đáng quý, có tư cách, muốn tình cảm được
bền bỉ dài lâu, chúng ta nên đem đạo lý cho họ, và ít
nhận tiền bạc của họ. Có như vậy, duyên mới giữ được
lâu bền.
Có
một Hòa Thượng nổi tiếng, đến ở nhờ nhà của một Phật
tử. Người đó chăm sóc rất chu đáo, còn cất một cái cốc
sau vườn để Hoà thượng tu cho yên tĩnh. Được ba năm, hình
như nợ hết, người Phật tử có điều gì bất mãn về Hòa
Thượng. Hòa Thượng không thể ở được nữa, phải ra đi.
Từ đó hai bên không nhìn nhau nữa. Có thể đó là do mình
đã hưởng hết duyên với người khác nên ê chề cay
đắng như thế.
Như
vậy, trong vô lượng kiếp luân hồi, chúng ta đã gieo duyên
với người khác. Nếu gieo duyên đời trước bền bỉ thì
người ta sẽ gắn bó với mình mãi mãi. Ngược lại, duyên
gieo không nhiều, gặp một thời gian ngắn rồi cũng sẽ ra
đi. Từ đó, chúng ta rút ra bài học: khi đối xử tốt với
con người, lòng tốt của mình cũng phải bền bỉ và vô hạn,
đừng vì một lý do nào mà ngừng lại nửa chừng. Bất đắc
dĩ phải xa nhau vì hòan cảnh thì đành chịu. Còn nếu có
thể gặp được, lúc nào chúng ta cũng phải cố gắng sống
tốt với nhau để giữ duyên bền bỉ trong vô lượng kiếp
luân hồi sắp tới.
e.
Với người có lỗi:
Với
người ít kiêu mạn, tinh thần chưa vững mạnh, nếu họ phạm
lỗi, chúng ta phải chăm sóc, nhắc nhở nhiều hơn. Có như
vậy, họ mới vượt qua lỗi lầm và đi tiếp con đường
tu hành. Nếu chúng ta lạnh lùng, ghét bỏ, hoặc căn cứ theo
luật quá nghiêm khắc, họ sẽ không tiếp tục theo Đạo được
nữa. Lúc đó, Đạo của chúng ta sẽ mất đi một người.
Ví
dụ, trong chúng có người phạm tội ăn cắp. Với người
tu hành, đó là tội rất nặng, không chấp nhận được. Nhưng
chúng ta cũng đừng vội căn cứ theo luật mà đuổi họ ra
khỏi chùa. Lúc ấy, chúng ta phải bình tâm quan sát tâm tính,
quá khứ của họ, nguồn gốc gia đình họ như thế nào, vì
sao họ phạm tội ăn cắp…. Nhiều khi, đối với người
có thể chữa được, chúng ta không chữa để họ tốt hơn,
chúng ta cũng tổn từ bi. Như vậy, Đạo sẽ mất một người,
Phật cũng mất một chúng sinh. Trong khi Phật muốn tất cả
chúng sinh đều được Đạo để tu, chúng ta khắt khe quá
làm chúng sinh xa rời Đạo cũng là điều không đúng.
Trong
cuốn Tình yêu cuộc sống (tiếng Anh là Love of life ), có câu
chuyện về một người bị lạc. Họ lạc vào một vùng ven
bờ biển, không có lương thực nên đói kinh khủng. Cho đến
một ngày, có một chiếc tàu ghé vào bờ. Người trên tàu
tìm thấy anh ta đang nằm lả và mang lên tàu, cứu sống. Khi
tỉnh lại, trong suốt tuần đầu, họ thấy anh ta có miếng
bánh nào đều bỏ vào bọc ni lông, cất giấu dưới giường.
Thủy thủ thấy lạ báo cho thuyền trưởng biết. Thuyền trưởng
nói, “không phải anh ta là người xấu. Người nào vừa thoát
chết đói cũng đều bị cái đói ám ảnh quá nặng nên mắc
bịnh như vậy, bịnh tích lũy lương thực”.
Có
những người xuất thân từ một gia đình quá nghèo, cha mẹ
ra ngoài đường thấy cái gì cũng nhặt nhạnh mang về. Những
người con sinh từ gia đình đó, cũng bị ảnh hưởng, đôi
khi thành ra ăn cắp lặt vặt. Cho nên, lâu ngày trở thành
cái tập khí, tập khí xuất thân từ gia đình hèn kém đáng
thương. Nếu biết họ vừa ăn cắp món đồ của huynh đệ,
chúng ta phải suy xét để có cách xử sự hợp lý, hợp tình.
Nếu lỗi của họ do tập khí gia đình để lại, chúng ta
nên khuyên bảo, tìm cách dìu họ đứng lên, không được
ruồng bỏ họ. Đó là đạo đức của người tu.
Nhưng
với những người kiêu mạn, khó bảo, đôi khi sự im lặng,
lạnh lùng là cần thiết.
Người
kiêu mạn rất khó được dạy dỗ. Chính Phật cũng thú nhận
rằng rất khó độ cho người kiêu mạn. Trong Kinh Pháp Hoa
diễn tả ý này khi để cho 500 Tỳ kheo bỏ pháp hội ra đi.
Người kiêu mạn phạm lỗi rất khó nói. Nhiều khi, chúng
ta chỉ dùng sự im lặng. Thấy thái độ im lặng của mình,
dần dần họ phải xét lại và bớt đi cái ngã.
Như
vậy, mặc dù lòng rất bình đẳng, không thiên vị, nhưng
chúng ta phải tuỳ bịnh cho thuốc.
5.
THANH QUY CỦA CHÙA PHẢI ĐẶT TRÊN NỀN TẢNG BÌNH ĐẲNG.
Chùa
phải có thanh quy đặt trên nền tảng của sự bình đẳng.
Nếu thanh quy của chùa lỏng lẻo, trong chúng sẽ kết thân
riêng từng nhóm, gây chia rẽ. Hoặc nếu cho tiếp xúc với
Phật tử một cách dễ dãi, tu sĩ sẽ nảy sinh tình cảm thiên
vị, tạo thành những Phật tử riêng. Nguyên nhân chính là
do đường lối, tổ chức của chùa kém. Chúng ta hy vọng lớp
Tăng Ni trẻ sau này có cách thức quản trị chặt chẽ hơn.
Muốn vậy, chúng ta phải nghiên cứu về quản trị hành chánh.
Có thể đến lớp học hoặc mượn sách về đọc để tìm
hiểu xem các công ty xí nghiệp, các cơ quan, các tổ chức
… ở thế gian, họ tổ chức quản trị hành chánh như thế
nào. Từ đó, áp dụng trong đường lối của chùa mình cho
chặt chẽ, nghiêm túc.
6.
VẤN ĐỀ HỢP TÁC VỚI NGƯỜI CÓ DUYÊN VÀ CÓ KHẢ NĂNG.
Trong
cuộc sống, để đạt được hiệu quả công việc, chúng
ta phải gắn bó hợp tác với người có khả năng và có duyên
với mình. Tuy nhiên, đừng để mất sự quan tâm đến người
khác. Vì nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ rơi vào thái độ
thiên vị trong đối xử.
7.
NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC DÀNH ƯU TIÊN.
Theo
Đạo đức bình đẳng, chúng ta chấp nhận cho người có phước
hưởng thành quả nhưng vẫn quan tâm, ưu ái đến những người
chưa đủ khả năng, chưa đủ phước.
8.
VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG NAM NỮ TRONG XÃ HỘI.
Trong
xã hội, tuỳ theo quan niệm của mỗi địa phương, mỗi thời
đại mà giữa người nam và người nữ có sự đối xử
khác nhau. Có nơi người ta rất coi trọng phụ nữ. Ngược
lại, có xã hội, người phụ nữ không được coi trọng dúng
mức.
Ví
dụ: Trong xã hội Âu Mỹ, người nữ bao giờ cũng được
ưu tiên( Lady first ). Người đàn ông được xếp hàng thứ
năm, sau súc vật. Nhưng ở xã hội Hồi Giáo, người
đàn bà chỉ là công cụ cho người đàn ông. Như vậy, trong
đối xử luôn có sự biến thiên, không có sự bình đẳng.
Ở
nước ta, trong xã hội phong kiến, người phụ nữ bị coi
thường, không có vai trò vị trí gì trong xã hội. Họ tồn
tại gần như là cái bóng của người đàn ông. Trong xã hội
hiện nay, vấn đề bình đẳng giữa nam giới và nữ giới
rất được quan tâm. Giữa họ đã có sự bình đẳng. Người
phụ nữ ngày càng giữ những vị trí quan trọng trong xã hội,
chiếm ưu thế so với người nam. Trong xã hội văn minh, hiện
đại, mọi công việc dần dần đều được thay thế bằng
máy móc, người phụ nữ có nhiều cơ hội hơn. Họ vẫn có
thể đảm nhiệm được những việc quan trọng nhưng lại
không phải bỏ ra quá nhiều công sức, không phải lao động
tay chân.
Như
vậy, giữa nam và nữ đã có sự bình đẳng. Tuy nhiên, còn
một vấn đề cần phải quan tâm nữa. Đó là quan niệm về
nghiệp của con người. Từ xưa đến nay, người ta vẫn quan
niệm rằng người nữ nặng nghiệp hơn người nam, bởi
vậy, lúc nào người nữ cũng phải chịu thiệt thòi, thua
sút người nam một chút. Đó là quan niệm không đúng. Quan
niệm này chỉ do các “đấng mày râu” đặt ra để có lợi
cho họ mà thôi.
Theo
quan niệm của Đạo Khổng, người phụ nữ phải chịu rất
nhiều thiệt thòi, đau khổ. Đàn ông có quyền năm thê bảy
thiếp trong khi đó, phụ nữ chỉ chính chuyên một chồng.
Còn nhiều điều bất công khác mà người phụ nữ phải chịu
đựng, nhất là những luật tục cổ hủ.
Tuy
nhiên, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và trong xã
hội có sự biến thiên theo thời gian, tuỳ theo từng xã hội.
Có nơi, người vợ đi lấy chồng và có thể lấy được
nhiều người. Có xứ, người phụ nữ đi làm dâu, làm vợ,
tức là làm dâu làm vợ cho tất cả mấy anh em trong một gia
đình. Mỗi lần đi chợ, người vợ chỉ cần ra lệnh
mua cái gì, còn những người kia răm rắp làm theo.
Có
xã hội, người vợ được quyền làm chủ. Nhưng cũng có
những xã hội người vợ chỉ làm đầy tớ. Khi chồng ăn
cơm, vợ phải đứng hầu. Như vậy, rõ ràng quan niệm
cho rằng người phụ nữ nặng nghiệp là không đúng.
Vì nếu nặng nghiệp, tại sao có xã hội lại tôn trọng,
ưu tiên người phụ nữ nhiều hơn nam giới ?
Chúng
ta không nên quan niệm nam hay nữ nặng nghiệp. Điều đó tùy
thuộc vào mỗi người. Nếu ai quen ngược đãi phụ nữ, coi
phụ nữ là công cụ, kiếp sau sẽ bị đầu thai thành người
nữ trong xã hội Hồi Giáo (xã hội ngược đãi phụ nữ).
9.
VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG TĂNG NI -BÁT KỈNH PHÁP.
Người
ta kể rằng, vào thời Đức Phật, Dì của Đức Phật xin
xuất gia, Ngài không cho. Khi ngài A Nan năn nỉ tha thiết quá,
Phật đồng ý nhưng với điều kiện phải tuân thủ tám điều.
Trong tám điều đó, Phật có yêu cầu: Dù người Ni một trăm
tuổi hạ vẫn phải tôn kính đảnh lễ một Tỳ kheo Tăng
dù chỉ một tuổi hạ.
Vấn
đề ở đây là Phật đã đặt giai cấp của người Ni thấp
hơn hẳn giai cấp của Tăng. Từ đó hình thành quan niệm cho
rằng người nữ nặng nghiệp hơn người nam. Thực ra, nếu
đặt vào bối cảnh lúc bấy giờ chúng ta sẽ hiểu đúng
hơn ý nghĩa lời yêu cầu của Đức Phật . Bối cảnh lúc
đó là người Ni đầu tiên lại là Dì của Phật. Nếu để
một cách bình thường, Tăng Ni bình đẳng thì những Tỳ kheo
khác sẽ rất sợ bà. Họ sợ cũng là điều hợp lý vì bà
là Dì Đức Thế Tôn, người đã từng nâng niu, bú mớm cho
Phật từ khi còn nhỏ. Công của bà rất lớn. Hơn nữa, bà
thuộc dòng dõi Hoàng tộc, lại xuất gia khi đã lớn tuổi.
Những Tỳ kheo Tăng nhỏ tuổi, những người thuộc giai cấp
khác gặp bà, chỉ dám gọi là Lệnh Bà. Như vậy, đối với
những Tỳ kheo Ni khác xuất gia theo bà, các tỳ kheo tăng phải
đối xử như thế nào? Họ cũng phải một mực kính trọng.
Từ đó, sẽ nảy sinh tình trạng các Tỳ kheo Ni coi thường
các Tỳ kheo Tăng, làm mất tôn ti trật tự, không còn
bình đẳng nữa. Như vậy, thực tế lúc đó, nếu Phật để
mọi người bình đẳng thì sẽ sinh ra mất bình đẳng. Nghĩa
là từ chỗ sợ Dì Đức Phật, người Tăng sẽ có truyền
thống cung kính với người Ni.
Phật
sợ tình trạng đó xảy ra nên đã đặt ngược vấn đề,
dù lớn tuổi hạ, Tỳ kheo Ni vẫn phải tôn kính Tỳ kheo Tăng.
Nhờ vậy, sau này, những người Ni xuất gia không dám dựa
thế Kiều Đàm Di Mẫu mà coi thường quý Tăng. Nếu không
triệt cái ngã của họ, chẳng những họ không tu được mà
trong đạo Phật còn xuất hiện truyền thống người Tăng
gặp người Ni phải sợ hãi, cung kính. Dần dần sẽ gây nên
sự bất bình đẳng giữa Tăng và Ni.
Hiện
nay, người Tăng được đứng ở vị trí cao hơn người Ni.
Điều đó cũng có lợi, nhưng đôi khi do cách xưng của
người Việt Nam ( Thầy-Con), chúng ta có cảm giác người Ni
bị hạ thấp quá. Ở nước ngoài, đại từ nhân xưng đơn
giản hơn ( I- You) nên không thấy rõ sự cách biệt đó. Tuy
nhiên, khi xưng hô khiêm tốn và có vẻ hạ mình như vậy,
qúy Cô đã hạ được cái ngã của mình rất nhiều, nên có
Đức. Ngược lại, khi được quý Cô xưng con, cái ngã của
quý Thầy lại tăng lên. Khi đó, quý Thầy bị tổn Đức.
Những
Thầy có Đạo đức, rất sợ điều này. Còn những Thầy
không biết, cho rằng Bát kỉnh pháp là chân lý tuyệt đối,
luôn coi thường quý Cô. Những người đó, kiếp sau sẽ được
làm Ni, để hiểu rằng trong một đất nước mà Bát kỉnh
pháp nặng nề như vậy, làm Ni sẽ được đối xử như thế
nào.
Ngày
xưa, sống trong rừng núi vắng vẻ, người Ni phải ở gần
người Tăng để được Tăng bảo vệ. Thời đó, trộm cướp
hoành hành khắp nơi. Trong luật Tứ Phần, người ta còn ghi
lại chuyện một Tỳ Kheo Ni bị hãm hiếp. Do vậy, để đảm
bảo an toàn cho người Ni, Phật dặn Tỳ Kheo Ni phải an cư
những nơi gần đó có Tỳ Kheo Tăng. Nghĩa là Tăng có trách
nhiệm bảo vệ Ni.
Bây
giờ, vấn đề an ninh được Nhà nước chú trọng tăng cường
nên ít xảy ra những bất ổn đối với người Ni. Hơn nữa,
các Tỳ Kheo Ni sống thành từng cộng đồng, có tổ chức
nên an toàn hơn. Bởi vậy, chúng ta chủ trương cần bình đẳng
hơn trong quan hệ giữa Tăng và Ni. Nhiều khi do giữ Bát kỉnh
pháp, người Ni vẫn xưng con với các Thầy . Điều đó cũng
không có gì sai, nhưng người có Đạo đức bình đẳng
sẽ tỏ ra băn khoăn. Họ sợ không giữ được tâm mình, cái
ngã của mình tăng lên.
Đối
với Phật tử cũng vậy, sự tôn kính nên để trong lòng.
Có thể các Phật tử đến chùa không nhất thiết phải xưng
con với người xuất gia.
Tóm
lại, con người thường có sự sai biệt về phước. Đó là
chênh lệch rất tự nhiên và hợp lý. Trước tình trạng
đó, chúng ta không được san bằng quyền lợi. Tuy nhiên, cũng
không vì những sai biệt về phước mà chúng ta đối xử quá
thiên vị, quá chênh lệch giữa người này với người kia.
Một điều cần lưu ý là Đạo đức của người tu buộc
chúng ta phải quan tâm đến người khác, phải chú ý nhiều
hơn đến thân phận những người thấp kém. Họ là những
người nghèo khó, tật nguyền, những người ít học ,
vv….
Ngoài
việc đối xử bình đẳng, chúng ta phải biết quan tâm đến
người khác. Điều đáng quan tâm ở họ không phải là giàu
sang hay nghèo hèn mà là cái tâm của họ, tâm Đạo của họ.
Dù giàu hay nghèo, nếu có tâm Đạo, họ đều đáng để chúng
ta yêu thương, trân trọng. Và trước sự sai biệt như vậy,
chúng ta cũng phải tùy bệnh cho thuốc. Có trường hợp, chúng
ta đối xử ân cần sẽ đem lại lợi ích cho họ. Có trường
hợp, chúng ta nên hờ hững, lạnh lùng để họ nhận ra và
sống tốt hơn. Phải đặc biệt lưu ý, trong đối xử, chúng
ta đừng bao giờ nghĩ đến lợi ích của mình, đừng cầu
cạnh quyền lợi cho mình. Điều quan trọng là chọn thái độ
cư xử như thế nào để có lợi cho người khác.