HẠNH
CHÂN THẬT
1.
ĐỊNH NGHĨA:
Chân
thật là không nói dối. Trước khi hiểu vì sao phải chân
thật, chúng ta nên tìm hiểu qua việc nói dối.
Nói
dối vốn là vấn đề liên quan đến giới. Khi thọ năm giới
Cư sĩ, chúng ta được căn dặn không được nói dối. Sau
đó, khi thọ Sa di mười giới, chúng ta cũng đuợc răn dạy
không được nói dối. Đến lúc thọ Tỳ kheo, giới nói dối
được chia làm hai: giới trọng và giới khinh.
Giới
trọng là giới nói dối xưng mình đã đắc đạo trong khi
sự thật mình chưa đắc đạo. Mặc dù người nói dối biết
rất rõ điều đó nhưng họ vẫn cố ý. Đó là giới cực
trọng và người phạm giới ấy sẽ mang tội cực ác, khi
chết sẽ đoạ ác đạo. Đó còn gọi là giới Ba La Di.
Giới
khinh là giới nói dối ở mức độ nhẹ hơn, tội không nặng
lắm. Nhưng xét về Đạo đức, tâm thích nói dối là tâm
bất thiện làm chúng ta khó tu, tâm không thể vào định được.
Bởi vậy, nếu xét trên Giới luật, giới khinh được tính
theo tội phước và là một sự ngăn cấm, nhưng về Đạo
đức, đó cũng là một sự thương tổn nghiêm trọng.
Trong
bốn giới trọng của Tỳ Kheo, các giới tuy nặng nhưng không
bằng giới nói dối xưng mình đắc đạo. Vì khi chưa đắc
đạo, kiến giải của chúng ta còn nông cạn, hiểu biết chân
lý còn kém. Nếu có người vì tin tưởng sự tuyên bố của
chúng ta để theo học hỏi, nhưng chắc chắn sẽ có nhiều
đạo lý lý vi diệu mà chúng ta không hiểu, hoặc hiểu sai,
hoặc hiểu không hết. Thế rồi chúng ta giải thích sai, hướng
dẫn sai, đưa người đi vào nguy hiểm. Hậu quả thật là
khôn lường.
Đó
là chưa kể đến những người vì tham vọng khát khao danh
lợi phù ảo, muốn được mọi người tôn kính. Người đó
biết rõ mình không đắc đạo, nhưng vẫn nói dối, vẫn xưng
mình đắc đạo. Không thể chấp nhận người đi tìm vinh
quang bản thân bằng cácho1. Mặt khác, khi nói dối, họ đã
gieo rắc những tà kiến sai lầm cho người khác khi giải thích
bừa bãi nhiều vấn đề đạo lý. Những người có tham vọng
như vậy thường không xứng đáng là người tu theo đạo Phật
vì người theo đạo Phật bao giờ cũng hướng đến sự
giải thoát, từ bỏ tất cả những ham muốn riêng, ngay đến
bản ngã của mình.
Có
lẽ chúng ta còn nhớ câu chuyện Ông già Chồn với ngài Bá
Trượng. Chuyện kể rằng, có một ông già hay vào nghe ngài
Bá Trượng giảng pháp ở pháp đường. Một lần, sau khi nghe
giảng xong, ông già vẫn không chịu đi. Ngài Bá Trượng nghĩ
đây là một người không bình thường, bèn hỏi: “Ông là
ai”’? Ông già trả lời: “Bạch Hoà thượng, con không
phải là người . Con là con chồn ở sau núi. Năm trăm đời
trước, đời Đức Phật Ca Diếp, con là một vị tăng tu hành.
Một hôm, có người hỏi con: “Người đã đắc đạo có
còn bị luật Nhân Quả chi phối hay không?”. Con trả lời:
“Không”. Thế là từ đó con bị đoạ làm thân chồn năm
trăm kiếp mà không biết mình phạm lỗi gì. Nay con mong Hoà
thượng cho con một lời giải thích để con hiểu ra sự thật
mà thoát được thân chồn này. Ngài Bá Trượng nói:“Ông
hỏi lại ta”. Ông già trịnh trọng hỏi: “Bạch Hoà thượng,
người đắc đạo có còn bị luật Nhân Quả chi phối không?”.
Ngài Bá Trượng trả lời: “ Người đắc đạo không còn
hiểu sai về luật Nhân Quả nữa (nghĩa là hiểu rất
sâu sắc vềa3)”. Nghe vậy, ông già đại ngộ ngay. Ông nói
với ngài Bá Trượng: “ Vậy là con thoát được thân chồn,
xin Hoà Thượng lấy nghi thức dành cho Tăng mà tống táng cho
con”. Nói xong, ông gìa biến mất.
Trưa
hôm đó, ngài Bá Trượng họp chúng lại để thông báo chuẩn
bị làm lễ tang cho một vị Tăng. Mọi người rất ngạc nhiên
vì trong chùa không có ai vừa qua đời cả. Ngài bảo mọi
người đi theo mình. Vòng ra sau núi, đến một cái hang, họ
thấy một con chồn đang phơi xác, bèn mang về thiêu và tống
táng đàng hoàng như một vị Tăng.
Chúng
ta thấy, trong trường hợp này, ông già Chồn không phải là
người nói dối, xưng mình đắc đạo. Chỉ vì hiểu
sai, trả lời thiếu cân nhắc mà ông bị rơi vào tà kiến
nặng và bị đọa làm thân chồn. Như vậy, nếu không phải
là người đắc đạo mà tự xem mình đã đắc đạo, giải
thích giáo lý sai lệch, chắc chắn chúng ta sẽ đọa ác đạo
nặng hơn. Người tu hành nếu để điều ấy xảy ra thật
quá đau lòng.
Ngày
xưa, sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn khỏang mấy trăm năm,
có một vị Tỳ kheo tên là Mahadeva (Đại thiên) chỉ mới
tu được một thời gian đã tuyên bố với mọi người rằng
ông đã chứng A La Hán. Nghe vậy, nhiều người cũng tin. Nhưng
những người gần gũi với ông nhận thấy ông còn nhiều
sơ hở trong cuộc sống. Có người hỏi: “ Thưa thầy,
tại sao bậc A La Hán còn có những sơ hở như vậy ?”( có
5 điều, ở đây không tiện trình bày ). Ông trả lời: “Đúng,
A La Hán vẫn còn năm điều sơ hở như vậy”. Thế là từ
đó, theo cách trả lời của ông ta, trong giới tu sĩ xuất
hiện một lối hiểu mới: A La Hán còn có những điều hạn
chế, những sơ hở trong cuộc sống. Cũng vì thế mà phát
sinh lý luận Đại thừa. Lý luận này coi thường quả vị
A La Hán, ca ngợi Bồ Tát đạo, tu để thành Phật. Về sau,
quan điểm đó xuất hiện trong các kinh. Gần đây, khi học
giáo lý của đạo Phật, chúng ta thấy có việc chia ra các
Thừa. Trong đó, Thanh Văn thừa- A La Hán không được tôn trọng.
Thời Đức Phật, A La Hán lại được tôn vinh ngang hàng với
Phật. Như vậy, có những trường hợp do hiểu nông cạn,
giải thích không đúng, một số người đã gây nên sự chia
rẽ, hiểu sai về đạo Phật.
Thời
gian gần đây, trong một số luận bản, chúng ta gặp nhiều
giáo lý không được chuẩn nhưng lại được ngợi ca như
là giáo lý cao siêu của đạo Phật. Thậm chí, có người
hạ thấp giá trị chứng ngộ của Phật xuống mức ngang bằng
một triết gia. Họ cho rằng, Đức Phật ngồi dưới cội
Bồ Đề chứng đạo chỉ là ngồi suy nghĩ. Hiểu về Đức
Phật như vậy quả thật rất hời hợt. Cách hiểu này khiến
cho nhiều người khi nghiên cứu về đạo Phật cũng nghĩ là
đạo Phật nông cạn. Đó là những tà kiến thật tai hại.
Hiểu sai như vậy, nếu không có những phước đức khác kiềm
chế, chính bản thân họ phải chịu quả báo rất nặng
và còn góp phần làm cho đạo Phật chóng suy tàn.
Trên
thế giới, trường hợp nói dối xưng mình đắc đạo không
chỉ có một hay hai mà tồn tại rất nhiều. Trường hợp
giáo chủ Sokohara bên Nhật lập ra đạo Om là một ví dụ.
Ông tự xưng là người chứng ngộ trong đạo Phật, dựïng
lên một đạo lai giữa Thiền tông của đạo Phật
với một thần đạo nào đó. Vậy mà vẫn có sức
cuốn hút được rất nhiều tín đồ, kể cả những trí thức.
Nhiều Tiến sĩ, Bác sĩ, Kỹ sư…. đã theo đạo ấy. Sự
thật, ông ta không phải là người tu hành chân chính. Tham
vọng của ông là muốn chiếm quyền lực ở nước Nhật.
Bởi vậy, ông ta đã tích luỹ vũ khí hoá học, sinh học,
tích luỹ những hơi độc.... Khi bị phát hiện, ông ta đã
rải hơi độc trong đường xe điện ngầm làm chết và bị
thương rất nhiều người. Chúng ta đừng nghĩ những
người học cao, hiểu rộng sẽ có trí tuệ phân biệt
được đúng sai. Không hẳn là như vậy.
Qua
trường hợp đó, chúng ta có thể rút ra một điều. Một
khi con người cảm thấy thiếu những giá trị tinh thần, họ
sẽ khát khao điều đó vô cùng. Bởi vậy, khi có đối tượng
nào đáp ứng được nhu cầu của họ về mặt tinh thầnï,
về tâm linh, người ta sẽ không ngần ngại mà đi theo. Xã
hội Nhật văn minh, giàu có, vật chất thừa thải nhưng đạo
Phật tại đó không đủ uy đức chỗ nương tựa cho quần
chúng. Vì thế, khi ông ta lập ra một đạo mới nói về tâm
linh, người dân dễ dàng bị thu hút. Họ không ngờ đó
là tà đạo.
Ơû
phương Tây cũng vậy, không ít người đã nói dối xưng mình
là sứ giả, là con của Đức Chúa Trời vàø lập ra những
giáo phái mới. Họ cũng làm nhiều chuyện sai trái trong giáo
phái của mình. Họ đâu phải là một vị Thánh thật sự.
Chúa Jêsus là người có bản lĩnh rất tuyệt vời nên Ngài
tuyên bố xác quyết mình là con của Đức Chúa Trời. Nhiều
người không có bản lĩnh cũng xưng như vậy. Do đó, họ làm
những chuyện sai trái trong giáo phái của mình. Khi bị
cảnh sát phát hiện, bao vây thì trong nhà thờ, họ giết tất
cả các tín đồ, rồi tự tử. Thật đau lòng khi trong thực
tế đã xảy ra những chuyện như vậy.
Có
những giáo phái rất kì lạ như Cổng Thiên đường ở Texas.
Họ dựa vào kiến thức khoa học về người ngoài hành tinh,
rủ nhau mặc quần áo đàng hoàng rồi cùng tự tử để linh
hồn được theo đĩa bay hay sao chổi nào đó về hành tinh
khác sống một cuộc đời bình an hơn. Đó là những tư tưởng
rất kì quái, thiếu cơ sở nhưng vẫn có rất nhiều người,
kể cả những người có trình độ tin theo. Như vậy, chúng
ta nghiệm ra một điều rằng, học vấn ngoài đời không đủ
sức giúp con người thoát khỏi tà kiến.Vì vậy, mặc dù
rất cần kiến thức, vẫn phải học không ngừng, học cả
tiếng Anh, tiếng Hoa cho thật giỏi, phải hiểu biết một
số kiến thức về khoa học.v.v… nhưng chúng ta đừng bao
giờ nghĩ những kiến thức ấy là chỗ dựa để mình sống
và tu hành. Chính Đạo đức, Thiền định, Nhân quả… mới
là những yếu tố giúp chúng ta đứng vững trong chánh kiến.
Những
người phạm vào giới đại vọng ngữ đó, tội rất nặng.Vì
họ đã lợi dụng, đã hưởng thụ sự tôn kính của người
khác trong khi mình hoàn toàn không xứng đáng. Do đó, theo luật
Nhân Quả, sau này họ sẽ ở vào những vị trí rất hèn hạ,
ở dưới đáy địa ngục, ngạ quỷ hay súc sanh.
Giới
khinh là giới nói dối nhẹ nhàng, bình thường hơn. Nhưng
đó cũng là một biểu hiện của tâm bất thiện. Chúng ta
biết rằng, muốn nhiếp tâm vào trong định, con người cần
có nhiều yếu tố. Nó đòi hỏi phước quá khứ và cả
một Đạo đức rất sâu dày. Những tâm từ bi, tâm khiêm
hạ phải được huân tập thật vững chắc, pháp môn tu phải
thật đúng, thật căn bản.
Tuy
nhiên, ngoài những yếu tố đó, chúng ta phải chú ý đến
một yếu tố quan trọng nữa là tâm chân thật. Người chân
thật là người dám nhìn thẳng sự thật. Họ khách quan đi
tìm sự thật nên dám nhìn nhận lỗi lầm của mình. Từ đó,
họ nhìn thẳng vào tâm mình để phê phán đúng hay sai, động
hay tĩnh một cách khách quan.
Người
sống không chân thật thường có biểu hiện bênh vực mình
khi có lỗi. Chẳng hạn, khi nấu cơm, một người do sơ ý
hoặc không có kinh nghiệm đã để cơm vừa sống, vừa cháy
khét. Người đó đã biệân minh cho mình bằng cách đổ lỗi
cho khách quan: nào do nước, do gạo, do củi…. Những người
ấy thường không dám nhìn nhận sự thật mà luôn bào chữa
cho những sai lầm của mình.
Có
những trường hợp, trong tâm người ta đang bênh vực chính
mình, không nhìn nhận lỗi nhưng không biểu hiện ra bên ngoài.
Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những người hay
cãi khi giận dữ. Nếu là người chân thật, họ sẽ
nhận ra mình đang bị sân và tìm cách vượt qua. Người không
chân thật sẽ không bao giờ nhận ra điều đó mà luôn đổ
lỗi cho người khác (cho rằng vì người ta ngang bướng, người
ta xúc phạm nên mình nổi giận…). Người luôn biện minh
cho mình là người không chân thật. Người như vậy không
thể tu lâu dài được.
Do
dám nhìn sự thật, dám nhận lỗi của mình, người chân thật
dần dần kiểm soát được tâm mình, tăng trưởng được
đạo đức. Tâm chân thật và tâm thiện thường đi đôi với
nhau. Người làm việc thiện không có điều gì phải che giấu
hay dối trá. Họ làm gì việc gì cũng kiểm soát, cân nhắc
phải trái, đúng sai.
Người
chân thật thường làm việc đúng, việc thiện. Khi có lỗi,
người ta biết lỗi của mình và nếu được ai chỉ lỗi,
họ thành thật nhận ngay. Người không nói dối cũng không
bao giờ muốn làm điều ác. Cho nên, nói tâm chân thật và
tâm thiện đi đôi với nhau là vậy.
Người
nói dối là người không nói đúng sự thật. Nếu người
nói thật, việc xảy ra như thế nào, họ trình bày như
thế ấy và luôn cảm thấy tâm thanh thản, thì ngược lại,
người nói dối phải tác ý, phải khởi tâm, dựng chuyện
cho hợp lý và cố ghi nhớ để lần khác không nói sai đi.
Chính vì vậy, tâm của họ rất mệt mỏi. Đó cũng là lý
do khiến tâm không vào định được. Tâm vào định là tâm
không khởi vọng tưởng. Trong khi đó, người nói dối luôn
phải đặt điều, phải khởi ý, tưởng tượng nên vọng
tưởng sẽ khởi mãi. Như vậy, con đường tu của người
ấy không bền.
Tổng
thống Mỹ Abraham Lincoln, người đã đấu tranh xoá bỏ được
chế độ nô lệ ở Mỹ từng nói một câu rất chí lí : Ta
có thể lừa dối một người trong một lúc nào đó, ta có
thể lừa dối mọi người trong một lúc nào đó, nhưng ta
không thể lừa dối mọi người mãi mãi. Sở dĩ ông nói như
vậy vì ông quan niệm rằng: Chân lý có sức mạnh, sự
thật có sức mạnh, cuối cùng rồi nó cũng phơi bày.
Vì vậy, cái hay nhất của con người là sống trên đời biết
làm việc lớn thì đừng làm điều gian dối. Một vị Tổng
thống mà hiểu được như vậy và lấy đó làm kim chỉ nam
cho mọi hành động của mình là điều rất quí. Con người
ấy sẽ sống rất chân thật, làm chính trị mà không bao giờ
sử dụng thủ đoạn.
Trong
tiểu sử của Washington, vị Tổng thống Mỹ đầu tiên, có
ghi một câu khiến nhiều người rất ngạc nhiên:“Ông suốt
đời không hề nói dối”. Đối với chúng ta, những người
tu hành hiểu đạo, việc không nói dối hay ít nói dối cũng
là điều dễ hiểu. Nhưng là Tổng thống, lại là Tổng thống
nổi tiếng của một cường quốc, luôn phải đối phó với
những tình huống éo le trên chính trường phức tạp mà không
hề nói dối là điều rất đáng ngạc nhiên và cảm phục.
Những người ấy phải đạt đạo đức sâu dày đến mức
nào mới có thể sống được như thế.
Chúng
ta thấy rằng, những bậc vĩ nhân thường sống rất chất
chân thật. Càng có vị trí cao trong xã hội, người ta càng
ý thức trong việc giữ chữ tín. Tại sao như vậy? Vì
họ hiểu rằng, sự thật có sức mạnh rất lạ kỳ. Dù bị
che đậy, cuối cùng sự thật cũng vẫn là sự thật. Nếu
vì một chút lợi danh nào đó mà nói dối, khi bị người
đời phanh phui ra ánh sáng, uy tín của họ sẽ không còn nữa.
Vì vậy, tốt nhất là nên sống đời chân thật.
Vậy,
người ta thường nói dối vì mục đích gì ?
Phần
lớn, người ta nói dối vì hai mục đích: vì lợi ích của
mình và vu khống để hại người.
Nói
dối để làm lợi cho mình thường có nhiều tình huống. Chẳng
hạn, nói dối để che đậy tội lỗi của mình (vì không
muốn người khác xem thường, hoặc để mình không bị trừng
phạt), nói dối để lừa gạt nhau, lấy tiền bạc, của cải,
hoặc học trò nói dối thầy cô rằng ba mẹ mình bị ốm
để được nghỉ học …
Với
những người tu hành, nói dối thường nhằm mục đích rất
đơn giản: che đậy lỗi lầm của mình. Còn với người đời,
sự nói dối phức tạp hơn, nguy hiểm hơn. Người ta nói dối
chủ yếu vì lợi cho mình. Có trường hợp vì ghét ai đó,
họ nói xấu để người khác cùng ghét. Ông bà ta thường
nói: Khi thương, thương hết cả nhà. Khi ghét lại mượn người
ta ghét giùm là như vậy. Đây cũng là một loại nói dối
để hại người khác. Có trường hợp nói dối còn nặng
hơn nhiều. Đó là nói dối để vu khống hại người khiến
cho người khác bị bắt, bị tù đày hoặc bị trả giá bằng
cả mạng sống v.v… Như vậy, người nói dối là người
có tâm rất ác độc.
Câu
chuyện về một Sư cô quản chúng cũng đáng để chúng ta
suy nghĩ. Trong chúng có ba mươi hai người. Một hôm, có một
Phật tử đến xin cúng dường và hỏi cô trong chúng có bao
nhiêu người để cúng cho đủ. Sư cô trả lời: “Ba mươi
lăm người”. Khi người Phật tử về rồi, trong chúng có
người hỏi: “Cô ơi ! Chúng mình có ba mươi hai người sao
cô nói đến ba mươi lăm?”. Sư cô giải thích:“Phương tiện
mà, nói hơn ba phần, nếu có ai đến, mình sẽ cho lại họ”.
Thực
ra, Sư cô chẳng tham gì cho mình, chỉ là lo xa mà thôi. Nhưng
nói dối như vậy cũng làm tổn phước, không giữ được
đạo đức. Nếu có khách Tăng đến, chúng ta chấp nhận san
sẻ bớt phần trong chúng cho họ, không cần phải làm như
thế. Từ đó, mỗi lần Sư cô lên tòa giảng, chúng cứ nghi
ngờ không biết cô nói đúng hay không. Chỉ một lần nói
dối thôi, Sư cô đã làm mất niềm tin trong chúng. Vì vậy,
tốt nhất là chúng ta nên sống một đời chân thật thênh
thang.
Cũng
có khi chúng ta nói dối để đem lại lợi ích cho người khác,
nhưng trường hợp này rất hiếm. Ví dụ, có một người
muốn xin vào học cơ bản Phật học. Vì thông cảm cho hoàn
cảnh của họï, vì nhiệt tình, chúng a2thưa với các Thầy
trong Ban giám hiệu. Khi quý Thầy hỏi, chúng ta nói toàn những
điều tốt về họ: nào là học giỏi, có chí, hòan cảnh
khó khăn vv…Trong khi đó, sự thật mình chẳng biết rõ sức
học của người ấy như thế nào. Như vậy, chúng ta đã nói
dối nhưng với mục đích giúp đỡ người khác. Đó là trường
hợp nói dối làm lợi cho người.
Sau
này, khi dạy dỗ đệ tử hay Phật tử, chúng ta nên nhớ một
nguyên tắc: Đừng vì lợi ích của bản thân mà nói dối
người khác. Chúng ta chấp nhận sự thiệt thòi, nghiêm
túc giữ gìn uy tín, giữ đúng hạnh chân thật của người
tu để cho Đạo được bền vững. Nếu sống quanh co, luồn
lách, hay nói dối thì chúng ta sẽ làm mất niềm tin nơi người
khác. Người xưa có câu: Nhất sự bất tín, vạn sự bất
tin. Một khi đã mất uy tín thì ngàn việc sau dù nói đúng,
người ta cũng không tin mình nữa.
2.
PHÂN LỌAI :
Khi
có người hỏi Phật : Bạch Thế Tôn, có phải là chúng ta
luôn luôn phải nói đúng sự thật hay không? Đức Phật
trả lời Không. Tại sao như vậy? Đức Phật phân ra
bốn loại nói dối và nói thật.
-Một
là nói thật đem lại thiện pháp cho người nghe.
-Hai
là nói thật đem lại bất thiện pháp cho người nghe.
-Ba
là nói dối đem lại thiện pháp cho người nghe.
-Bốn
là nói dối đem lại bất thiện pháp cho người nghe.
Xét
từng trường hợp, chúng ta sẽ thấy mình nên nói thật và
nói dối trong trường hợp nào.
Trường
hợp thứ nhất: Nói thật đem lại thiện pháp cho người
nghe.
Ví
dụ, Chúng ta nói với mọi người rằng, trong cuộc sống có
luật Nhân Quả. Đó là luật rất công bình, chi phối tất
cả mọi suy nghĩ và hành động của ta. Người gieo Nhân nào
sẽ được Quả đó. Ai bố thí sẽ được giàu sang, ai khiêm
hạ sẽ được địa vị. Ai sống một đời vị tha, giàu
đức hy sinh thì sẽ được đắc đạo. Hoặc chúng ta nói
với mọi người cuộc đời này là vô thường, là biến dịch,
mỗi người nên sống thênh thang như lục bình trôi, đừng
bám víu hay chạy theo danh lợi tầm thường. Nói những điều
đó là chúng ta đã nói sự thật, làm cho người nghe được
lợi ích, hấp thu được một đạo lý ở đời. Đó là sự
nói thật mà đem lại thiện pháp.
Một
ví dụ khác, Khi biết một vị Thầy, một Sư cô nào đó tu
hành rất chân chính, sở đắc tâm linh, có giới hạnh nghiêm
túc, chúng ta liền kể cho người khác nghe. Nếu cư sĩ được
nghe những điều tốt đẹp về các vị ấy, họ sẽ tăng
thêm tín tâm đối với Đạo. Đó là ta đã nói thật đem
lại thiện pháp cho người nghe.
Trường
hợp thứ hai: Nói thật đem lại bất thiện pháp cho người
nghe. Ví du, Có hai người vốn không thích nhau. Người này
nói xấu người kia, đôi khi nói rất nặng lời. Chúng ta nghe
được, thật thà kể lại cho người kia nghe, không thêm bớt
một lời. Người ấy giận quá, tìm gặp người kia. Hai bên
nổi “xung thiên” khiến mọi người hoảng sợ. Như vậy,
vô tình lời nói thật của chúng ta làm tăng sự chia
rẽ, rạn nứt trong quan hệ giữa hai người. Điều đó cũng
đồng nghĩa với việc làm tăng sự chia rẽ, gây căm hận
giữa con người với nhau trong cuộc đời. Đó là trường
hợp chúng ta nói thật đem lại bất thiện pháp cho người
nghe.
Thời
Pháp thuộc có câu chuyện mà người ta thường kể cho nhau
nghe để cười vui về sự ngây ngô, thật thà của con người.
Nhưng thực ra, đó là bài học mà mọi người phải lưu ý
trong việc ứng xử. Thời đó, thực dân Pháp khủng bố, lùng
bắt những người theo kháng chiến rất dã man. Có người
chạy vào trong nhà một người Thượng, vội vã nói : “Cho
tôi trốn vào cái lu. Nếu bọn chúng tới khám xét, anh đừng
có nói”. Lát sau, lính Pháp kéo đến hỏi: “Có đứa nào
chạy vô đây trốn không?”. Người kia thật thà: “Không
đâu! Nó trốn trong cái lu mà dặn tôi không nói ”. Lính Pháp
giở nắp lu , lôi người kia ra bắn. Đó cũng là nói thật
nhưng đem lại bất thiện pháp, đem lại tổn hại cho người.
Trường
hợp thứ ba:Nói dối đem lại thiện pháp cho người nghe.
Ví
dụ, Trong một buổi trưa, mọi người đang chỉ tịnh nằm
ngủ, có một người Huynh đệ định trốn ra ngoài. Thấy
vậy, chúng ta liền nói: Sư phụ đang ở ngoài đó, coi chừng
bị Sư phụ phạt. Người kia sợ quá đành nằm xuống
ngủ tiếp. Thực ra , chúng ta đã nói dối để người Huynh
đệ của mình đừng phạm thanh quy. Lời nói dối đó
đem lại thiện pháp nhưng không bền. Vì trước sau Huynh ấy
cũng biết sự thật và đâm ra ấm ức. Lần sau, nếu có dọa
nữa, người ta cũng không sợ hoặc có khi nói thật họ cũng
không tin.
Còn
nhiều
trường hợp nữa cũng khiến mình nói dối. Chẳng hạn, khi
có người hỏi: Đạo Phật làm cho người ta đắc đạo, có
thần thông, trí tuệ. Vậy đã có ai đắc đạo chưa?. Vì
muốn người ta tin Đạo, theo Đạo, chúng ta không tiếc
lời khi nói về đạo Phật, toàn những lời ngợi ca. Nghe
chúng ta nói về đạo Phật hay quá, người kia liền quy y làm
Phật tử. Sau đó, thấy những lời nói của chúng ta không
hoàn toàn đúng sự thật, vẫn còn những người theo đạo
Phật mà tham sân ganh tị, họ bất mãn và bỏ đạo. Cho nên,
nói dối đem lại thiện pháp thường không bền, chỉ mang
tính nhất thời mà thôi.
Trong
đạo Phật, những trường hợp như vậy tồn tại rất nhiều.
Thời xưa, có vị phát hiện ra vài ý hay trong giáo lý, muốn
phổ biến nhưng sợ không ai tin, bèn soạn thành những kinh
nói là Phật thuyết. Khi viết, họ cũng bắt đầu: Như
thị ngã văn nhất thời Phật tại Xá Vệ thành…. Đọc những
kinh ấy, người ta cứ tưởng là Phật thuyết nên rất tin
và chấp nhận giáo lý của họ. Xét về giáo lý, những lời
kinh ấy cũng hay, cũng có lợi cho người tu hành. Nhưng xét
về Đạo đức, nó hoàn toàn không có tính chân thật vì
không phải do Phật thuyết mà do người sau tạo ra. Trong đạo
Phật, kinh điển không phải do Phật thuyết có rất nhiều.
Ơû đây, chúng ta không tiện nói rõ bài kinh nào, nhưng trong
quá trình học, mỗi người phải nhận ra điều đó.
Vừa
qua, ở Mỹ có diễn ra một Hội nghị. Trong đó, có nhiều
học giả nghiên cứu về Phật giáo nổi tiếng trên thế giới
tham dự. Họ thảo luận về vấn đề cần xác định bài
kinh nào là do Phật thuyết, bài kinh nào không phải Phật thuyết.
Lần ấy, có cả Đức Đạt Lai Lạt Ma tham dự. Họ dựa vào
tư tưởng và ngôn ngữ để chứng minh rất chặt chẽ và
có sức thuyết phục rằng các bài kinh này xuất hiện sau
thời Đức Phật. Chẳng hạn, họ chọn trong bài kinh những
từ ngữ mà thời Đức Phật chưa có để chứng minh rằng,
bài kinh đó xuất hiện sau Phật thuyết rất xa.
Ví
dụ, từ xã hội chủ nghĩa xuất hiện vào khỏang thế kỷ
XIX- XX, từ thời Lênin. Nếu cuốn sách nào được khẳng định
là ra đời từ thế kỷ thứ XIII mà trong đó có sử dụng
từ ấy, chúng ta biết ngay là không đúng sự thật. Chắc
chắn nó phải được viết sau thế kỷ thứ XX, không thể
xuất hiện trước đó.
Hoặc
một cụm từ khác, cụm từ bảo vệ môi trường sinh thái
. Cụm từ này phải xuất hiện từ cuối thế kỷ XX.
Nếu bây giờ, cuốn sách nào bàn về vấn đề môi trường
sinh thái mà người ta cho là được viết từ thế kỷ thứ
V thì chúng ta biết là không có thật. Chắc chắn cuốn sách
được ra đời từ thế kỷ XX trở về sau. Tương tự như
vậy, có một số bài kinh ý cũng rất hay, nhưng các nhà nghiên
cứu lại nhận ra một số từ vào thời Đức Phật chưa có.
Từ đó, họ kết luận trong đạo Phật, có nhiều bài kinh
do người đời sau viết. Những người ấy chứng minh vấn
đề rất chặt chẽ, không ai có thể phủ nhận được. Cuối
buổi Hội nghị, ngài Đạt Lai Lạt Ma đã phát biểu: Công
trình nghiên cứu của quý vị rất tốt, rất hợp lý nhưng
tôi vẫn tin những bài kinh đó đều là Phật thuyết. Ông
ta chỉ nói như vậy, chỉ nói bằng niềm tin chứ không bằng
lý trí và lý luận. Ông chỉ tin thôi, không chứng minh gì
cả. Do đó, bây giờ ai muốn tin cứ tin, ai muốn tìm sự thật
cứ đi tìm sự thật.
Nếu
chịu khó nghiên cứu, học hỏi, dần dần chúng ta sẽ hiểu
điều đó. Sự thật là có những bài kinh không do Phật thuyết
nhưng từ lâu chúng ta vẫn nghĩ là Phật thuyết nên mãi tôn
thờ. Tác giả những bài kinh ấy thường đề cao kinh của
mình, cho là vua trong các loại kinh. Đức Phật không bao giờ
nói như vậy. Ngài chỉ nói đạo lý và tất cả được ghi
chép lại, không hề ngợi ca kinh sách của mình.
Trường
hợp thứ tư: Nói dối đem lại bất thiện pháp.
Chính
vì nói dối, chúng ta đã gây nên hậu quả: chia rẽ mọi người
, làm cho họ căm ghét nhau. Chuyện không có, chúng ta lại nói
có, làm cho tất cả rối tung lên, hoặc đặt điều vu khống
để hại người khác. Đó là điều không tốt.
Như
vậy, trong bốn cách đó, người tu hành nên dùng cách thứ
nhất (nói thật đem lại thiện pháp). Ngoài ra có những
sự thật không nên nói. Chúng ta chỉ nói những sự thật
mà mình biết chắc là có lợi cho người. Những sự thật
gây hoang mang, chia rẽ hoặc làm người ta thối tâm, chúng
ta không nên nói.
Hai
trường hợp cuối, người tu hành không nên dùng. Dù nói dối
đem lại thiện pháp cho người, chúng ta cũng không nên. Đóù
không phải cách đem lại lợi ích lâu dài cho người khác.
Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ mất uy tín vì những lời
nói dối đầy thiện chí ấy.
3.
YÊU CẦU ĐỐI VỚI NGƯỜI XUẤT GIA:
Người
xuất gia nên tránh nói dối trong mọi tình huống. Vì những
lẽ sau:
a.
Chân thật là biểu hiện của Đạo đức:
Người
có Đạo đức mà nói dối sẽ làm mất niềm tin đối với
Phật tử. Đôi khi, có những lời nói dối vì những chuyện
vặt vãnh, chúng ta cứ nghĩ là vô hại nên không băn khoăn
gì nhưng thực ra, hậu quả lại rất nặng nề.
Ví
dụ, Khi có việc cần, chúng ta phải xin phép ra khỏi chùa.
Vừa đến cổng, có người gặp và hỏi ta đi đâu. Vì không
muốn lôi thôi, mất thời gian trong khi đang vội nên ta
trả lời qua loa cho xong chuyện :“À, Thầy sai tôi đi mua thuốc
một chút”. Chắc chắn nghe nói Thầy sai đi, không ai dám
thắc mắc điều gì nữa. Sự thật, lúc đó chúng ta ra ngoài
vì việc riêng. Rõ ràng, sự nói dối ấy rất nhỏ nhặt và
vô hại. Nhưng cứ nói dối như thế, lâu ngày sẽ thành một
tật xấu rất khó sửa, khiến chúng ta không còn uy đức nữa.
Chúng
ta biết rằng, uy đức của người tu được tạo nên bởi
lời nói. Nếu sống một đời chân thật, không biết nói
lời dối trá, chúng ta sẽ có uy đức rất lớn. Khi đó, mỗi
lời chúng ta nói ra đều là những câu thần chú. Mỗi lời
chúc của chúng ta đều đem lại cho người khác những điều
tốt đẹp. Sở dĩ những người tụng thần chú thường rất
linh nghiệm là do họ chú tâm, biết mượn uy lực của Phật.
Đây là điều rất lạ, càng nghiệm ra chúng ta càng thấy
đúng. Khi học về Thiền, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn sự
lợi, hại của câu chú. Câu chú có thần lực của nó. Người
tu hành có đạo đức, sống chân thật thì lời nói cũng sẽ
có uy lực như thế.
Có
một chuyện xảy ra tại một Tiểu bang ở nước Mỹ, cho đến
bây giờ người ta vẫn chưa giải thích được nguyên nhân.
Tại một phiên toà, khi sắp xử một vụ trọng án thì trời
bất chợt đổ mưa. Mưa tầm tã, mưa dữ dội khiến phiên
tòa không sao tiến hành được, đành phải hõan lại để
xử vào ngày hôm sau. Không ngờ hôm sau trời lại mưa tiếp,
mưa quá lớn. Trong khi chờ đợi, Chánh án phiên tòa, là một
người da đen, viết lên tờ giấy một câu nửa đùa nửa
thật :“ Trời không được mưa nữa” ký tên vào đó, rồi
vứt sang một bên. Trời bỗng dưng ngừng mưa. Thế là, vụ
án xử xong. Mọi việc tưởng sẽ chìm vào quên lãng.
Nhưng
có một điều lạ là sau đó trời ngừng mưa trong một thời
gian dài. Hạn hán xảy ra khắp nơi. Cho đến một hôm,
nhân viên thư ký sực nhớ lại chuyện xảy ra ở phiên
tòa lần trước, người ấy bỗng nghi ngại điều gì bèn
thưa với ngài Chánh án: “Thưa Ngài, Ngài vui lòng ký lại
lệnh khác”. Ông Chánh án nhìn tờ giấy chợt nhớ ra điều
gì liền viết : “Thôi ! Trời mưa trở lại !” và ký tên.
Sau đó, quả thật trời đã mưa trở lại.
Đây
là một chuyện lạ. Báo chí đã từng đưa tin, nhưng không
sao giải thích được. Có vẻ như đây là sự trùng hợp ngẫu
nhiên. Nhưng sự việc diễn ra nhanh quá, linh nghiệm quá nên
không ai dám kết luận điều gì. Thực ra, cũng có thể người
ấy có uy lực động đến trời đất. Có được uy lực ấy
là do họ có đức lớn, sống chân thật, phán đoán mọi chuyện
chính xác. Như vậy, chúng ta có thể hiểu là trong thời gian
làm việc, vị Chánh án kia rất công minh, không bao giờ kết
tội oan cho người khác. Do đó, uy đức của ông ngày càng
được nâng cao. Đến một lúc nào đó, tiếng nói của ông
có thể làm động cả đất trời.
Chúng
ta phải sống một cuộc đời thánh thiện, quang minh chính
đại để không phải che giấu điều gì. Đến lúc đó, lời
nói của chúng ta sẽ có uy lực, sẽ được linh nghiệm. Quan
trọng hơn nữa là chúng ta đem lại được thiện pháp cho
người khác. Đó là điều hạnh phúc nhất và cũng là Đạo
đức nhất . Bởi vậy, tâm thiện và tâm chân thật luôn
đi đôi với nhau.
Nhiều
khi chúng ta chấp nhận thiệt thòi một chút về mình
để đượïc nói thật, được sống thật. Đây là chỗ thử
thách rất lớn đối với chúng ta. Nếu mỗi một lần phải
chịu thiệt thòi vì nói thật mà chúng ta vẫn không ngại
thì sau này, đức của chúng ta sẽ rất lớn . Đức càng lớn,
chúng càng dễ dàng cảm hóa được người khác.
b.
Khi giảng kinh, thuyết pháp, chỉ nên dẫn những câu chuyện
có thật để bài bài pháp có giá trị lâu dài.
Chúng
ta đừng bao giờ kể những câu chuyện không có thật, chuyện
bịa. Có nhiều câu chuyện cổ của Phật giáo rất khó sử
dụng vì tính chân thật không cao. Chúng ta đừng quá nhiệt
tình khi kể những câu chuyện ấy để chứng minh rằng đạo
lý của mình là đúng. Bởi vì, dẫn những chuyện không có
thật, chúng ta sẽ không đem lại giá trị lâu dài cho
bài pháp. Nếu kể chuyện từ thời Đức Phật để minh họa
cho bài giảng, chúng ta phải cân nhắc kĩ càng, phải đánh
giá mức độ chân thực của nó.
Đọc
Kinh Bách dụ, chúng ta sẽ gặp rất nhiều chuyện bịa, tòan
chuyện tưởng tượng. Trong kinh có câu chuyện hai đệ tử
xoa bóp chân cho Thầy. Chuyện kể rằng, trong khi xoa bóp,
vì lý do nào đó, hai người gây nhau. Một người lấy cây
đập vào cái chân của Thầy mình mà người kia đang xoa bóp.
Người kia tức quá cũng trả thù bằng cách lấy cây nện
vào chân mà người này đang xoa bóp. Cứ thế, ông
Thầy bị nện qua nện lại đến gần chết.
Thực
ra, câu chuyện cũng có ý nghĩa riêng của nó. Qua việc làm
của hai đệ tử, người ta muốn nói rằng: Trong đạo Phật,
nếu cứ chia ra nhiều tông, nhiều phái công kích lẫn nhau,
cuối cùng chính đạo Phật sẽ bị tổn thương nặng nề.
Đạo lý rất hay nhưng chuyện kể lại hoàn toàn không có
thật. Kinh Bách dụ là như vậy. Cho nên, những câu chuyện
trong ấy chúng ta có thể kể để nghe cho vui, không nên kể
như một dẫn chứng chứng minh cho đạo lý của mình.
Hiện
nay, những câu chuyện “cổ tích” như vậy còn lưu truyền
rất nhiều. Nếu cứ dựa vào đó để chứng minh cho đạo
lý của mình thì đạo lý ấy sẽ không vững chắc. Đây là
điều chúng ta cần lưu ý. Xã hội ngày càng văn minh,
con người càng có nhu cầu xét lại, kiểm nghiệm lại mọi
điều. Họ chỉ muốn nghe và tin những
điều đã được thể nghiệm.
Vì
vậy, nếu nói về luật Nhân Quả, gieo Nhân nào gặt Quả
đó mà chúng ta chỉ dẫn chứng minh họa bằng những câu chuyện
cổ tích, có Bụt , Tiên hiện ra giúp đỡ người nghèo khổ,
tốt bụng, trừng phạt những kẻ ác độc thì chắc chắn
chỉ thuyết phục được trẻ con mà thôi.
Vì
những chuyện rút ra rừ đạo Phật không nhiều, lại có những
chuyện không thật nên trong cuộc sống, chúng ta phải tích
lũy những câu chuyện có thật về đạo lý ở đời để
làm tư liệu cho những bài giảng pháp. Chẳng hạn, chuyện
về một Sư cô được hưởng chính sách ưu đãi rất tuyệt
vời khi sang Mỹ là câu chuyện đáng kể cho mọi người nghe
khi giảng pháp. Khi còn ở Việt Nam, cô thường đi làm thuốc
chữa bệnh cho người nghèo và xem đó là niềm vui trong cuộc
đời dù phải chịu nhiều vất vả. Khi sang Mỹ,
tự nhiên cô được xếp vào danh sách những người được
hưởng chính sách ưu đãi, được chăm sóc y tế không phải
đóng lệ phí. Trong khi đó, những người khác, thậm chí những
người tàn tật, muốn được như vậy phải chạy lo
thủ tục rất khó khăn. Kể chuyện của Sư cô, chúng ta nhằm
mục đích chứng minh cho cái Quả mà cô có được do quá trình
làm phước khi còn ở Việt Nam. Những câu chuyện như thế
có sức thuyết phục người nghe hơn. Sống trong thời đại
văn minh, có trình độ hiểu biết cao, người ta không thích
nghe những câu chuyện tưởng tựơng.
Tuy
nhiên, cũng có nhiều giai thoại về các bậc Thánh nghe có
vẻ thần bí nhưng lại rất thật. Chúng ta cần phải
kể để xác chứng giá trị tâm linh của đạo Phật.
Ví
dụ, Chuyện Ngài Đặng Ẩn phóng bay lên hư không. Ngài vốn
là người tu thiền đắc đạo, có thần thông. Một hôm, Ngài
cùng các đệ tử đi qua một cánh đồng. Gặp cảnh binh lính
đang đánh nhau dữ dội, Ngài nói : “ Ta phải cứu cái nạn
nầy”. Nói rồi, Ngài bay lên hư không, cầm gậy chỉ xuống.
Binh lính hai bên thấy vậy sợ quá, lui quân không đánh nhau
nữa.
Câu
chuyện có vẻ hoang đường nhưng lại có thật. Nhiều học
giả có thể không tin vào những chuyện như vậy. Nhưng là
người trong đạo Phật, chúng ta biết giá trị tâm linh sâu
sắc và cao siêu của đạo Phật nên rất tin. Những câu chuyện
đó giúp chúng ta xác chứng lại một điều: Ngoài những đạo
đức trong đời sống, đạo Phật còn có những giá trị tâm
linh rất cao, nhất là khi người tu hành đạt đến một
mức độ nào đó. Đây là những câu chuyện có thật, chúng
ta phải sử dụng và phổ biến rộng rãi, càng nhiều càng
tốt.
Vào
khoảng thập niên 80 của thế kỷ XX, khi hệ thống Xã hội
chủ nghĩa chưa tan rã, ở Liên Xô, người ta bắt đầu nghiên
cứu về sự thần thông, về các ngoại cảm, về năng lực
tâm linh trong đạo Phật. Họ sang Việt Nam để thu thập những
tài liệu có liên quan đến những người có năng lực thần
thông đang được lưu trữ trong đạo Phật hoặc trong dân
gian. Nhưng rất tiếc, Việt Nam chúng ta không tích góp những
tài liệu đó nên không cung cấp được gì. Người ta nghiên
cứu rất kỹ vấn đề này. Họ tin và khai thác tất cả những
tư liệu, những lời đồn đại về phép thần thông của
Phật giáo Việt Nam để nghiên cứu.
Trong
khi đó, nhiều học giả của nước ta không tin là có những
phép lạ, những chuyện thần thông ấy. Chẳng hạn, đọc
những cuốn sách viết về đạo Phật của tác giả Nguyễn
Hiến Lê, chúng ta sẽ rất buồn lòng mặc dù ông là một
nhà nghiên cứu có tên tuổi. Hay trừơng hợp vợ chồng ông
Will Durant, người Anh chẳng hạn. Họ từng cho ra đời những
cuốn sách nghiên cứu về lịch sử trên thế giới nhưng chỉ
với tư cách là một học giả, không thừa nhận một sự
thật là có những năng lực tâm linh hiện hữu. Bởi vậy,
những vấn đề sâu sắc về tâm linh không được những người
ấy đề cập. Nếu có, cũng chỉ là những nhận xét hời
hợt, nông cạn không thể hiện được chân lý. Vì đó không
phải là sự thật, vẫn còn là sự che đậy sự thật.
Nói
những điều này, chúng ta không thể không liên hệ đến cái
gọi là thế giới vô hình, thế giới của ma quỷ, của các
vong linh vẫn đang hiện hữu mà mắt thường không nhìn thấy
được. Có nhiều người chủ trương không nói đến thế
giới vô hình vì cho rằng điều này trái với khoa học. Như
vậy, những người ấy đã tỏ ra khiếp sợ khoa học. Trong
khi đó, khoa học chưa phải đã tiến đến mức cuối
cùng, còn nhiều điều khoa học chưa biết, chưa giải thích
được. Bổn phận của chúng ta là phải bảo vệ sự thật,
nói đúng sự thật. Sự tồn tại của thế giới vô hình,
của những vong linh ma quỷ xung quanh ta là điều có thật.
Nói như vậy, không phải là mê tín dị đoan mà là chúng ta
nói sự thật. Một khi đã nói sự thật, chúng ta không có
điều gì phải sợ hãi cả.
Trong
cuộc sống, có những huyền thoại vô lý nhưng cũng có những
huyền thoại là có thật. Điều quan trọng là chúng ta phải
phân biệt được đâu là thật và đâu là không thật.
c.Nhân
gỉa dối không thể đưa đến Qủa chân lý.
Chúng
ta tu hành là đi tìm chân lý, đi tìm sự thật, tìm lẽ phải,
nhưng nếu tâm bị khuynh hướng gian dối che phủ thì chúng
ta sẽ không có Trí tuệ để nhìn thấy lẽ phải.
Ví
dụ, khi nghe kể một câu chuyện, chúng ta không nhận định
được đâu là đúng, đâu là sai. Hoặc khi trong chúng có chuyện
bất hòa, tranh cãi với nhau, đúng ra chúng ta phải phân định
ai đúng ai sai để giảng hòa nhưng chúng ta lại không nhận
ra. Sở dĩ như vậy là do trước kia chúng ta hay nói dối
nên bị quả báo, bây giờ không hiểu được sự thật. Đó
là Nhân Quả.
Sâu
xa hơn, người hay nói dối sẽ không có phước giác ngộ
chân lý.
Ví
dụ: Phật nói vô ngã, cái ta là không có thật. Nghe điều
này, nếu sống chân thật, chúng ta sẽ hiểu rằng Phật nói
đúng. Tuy lúc đầu, chúng ta có cảm giác là mình có một
cái ta khác với mọi người, nhưng đó chỉ là ảo giác.
Khi tu đến một mức độ nào đó, ảo giác sẽ tan biến,
sự thật là chúng ta đã chứng được vô ngã. Sở dĩ tin
lời Phật dạy là do chúng ta biết sống một đời chân thật,
biết tạo nên cái phước để hiểu được chân lý, hiểu
được đạo lý cao siêu. Nhưng nếu là người sống không
chân thật, luôn giả dối, khi nghe Phật nói như vậy, họ
không thể nào hiểu được. Họ không có phước để cảm
nhận được điều đó.
Tương
tự như vậy, người có phước do sống đời chân thật nên
hiểu rằng, cuộc đời này là vô thường hư ảo, chẳng có
gì tồn tại mãi. Hiểu như vậy, bản thân họ sẽ không tham
đắm và không mong cầu điều gì. Còn người giả dối không
thấy được sự thật là do họ không có phước. Như vậy,
hiểu được đạo lý là điều hoàn toàn không đơn giản.
Có
trường hợp, người tu hành phát được trực giác, biết
được những chuyện kì lạ cũng do hạnh chân thật đem lại.
Trước họ, nếu trong tâm có điều gì khuất lấp, gian dối
chúng ta sẽ không che giấu được. Vì một khi họ đã gieo
Nhân chân thật, không sự thật nào có thể qua mắt họ được.
Người
hay nói dối còn chịu quả báo nữa là hiểu sai về Nhân Quả
nên hay làm nhầm qua việc bất thiện
Trong
Thiền Lâm bảo huấn, có câu chuyện như sau : Có lần, một
Thiền sư đang ngồi thiền. Trong cơn nhập định, Ngài chợt
thấy một hồn ma đang bị đeo gông hiện ra, mình mẩy bị
lửa đốt, đứng tựa nơi cửa. Ngài hỏi :“Ông là ai, tại
sao lại rơi vào tình cảnh này?”. Hồn ma trả lời: “ Thưa
Thầy, lúc trước tôi là Tri sự của chùa này. Khi người
ta cúng dường tiền bạc cho chúng Tăng, tôi đem tiền đó
cất Tăng đường. Tôi làm sai luật nên đã bị quả báo phải
xuống địa ngục. Bây giờ, xin thầy lấy số tiền bằng
số tiền cất Tăng đường cúng dường lại cho chúng Tăng
để cầu siêu giùm tôi”. Nói xong, hồn ma biến mất. Vị
Thiền sư ấy làm đúng như vậy, lấy tiền quỹ đúng bằng
số tiền xây cất Tăng đường, thiết trai tăng cúng dường
cho người y áo, vật phẩm đủ cả. Ngay đêm đó, Ngài
lại thấy hồn ma hiện ra nhưng với một gương mặt khá đẹp
và nói: “ Nhờ công đức của Ngài, tôi đã được sinh lên
cõi trời, ba đời sau tôi sẽ xuống làm Tăng trở lại”.
Qua
câu chuyện, chúng ta thấy ông Tri sự là người lo cho chúng
chứ không nghĩ gì cho riêng mình. Nhưng tiền người ta cúng
dường cho Tăng mà đem làm Tăng đường là không đúng. Nếu
hiểu sai hoặc hiểu không hết về Nhân Quả, chúng ta sẽ
dễ làm sai, làm nhầm qua việc bất thiện và phải chịu quả
báo như vậy. Cho nên, chúng ta phải lưu ý hiểu Nhân Quả
chính xác để không làm sai, không làm điều bất thiện. Nhiều
khi chúng ta cứ tưởng mình làm điều thiện nhưng thực ra
đã làm điều bất thiện (như trường hợp của ngài
Tri sự kia) cũng chính vì không hiểu đúng luật Nhân Quả.
Người
có tật hay nói dối còn bị quả báo là không nhìn thấy
sự cao cả của các bậc Thánh nên không thể khởi tâm
cung kính. Đó cũng là một thiệt thòi lớn. Muốn chứng Thánh,
chúng ta phải cung kính các bậc Thánh. Đó là Nhân Quả rất
rõ ràng và vững chắc, Nhân Quả không thể phủ nhận được.
Ngày xưa, khi có vị nào đắc đạo, Đức Phật luôn cho họ
biết Nhân Quả, nghĩa là cho biết họ đã từng cung kính,
cúng dường Phật hay một vị A La Hán nào, từ kiếp nào để
bây giờ được đắc đạo.
Tích
luỹ phước cung kính các bậc Thánh là điều rất quan trọng.
Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà chúng ta cho rằng, nền
tảng đầu tiên của mọi tâm hạnh Đạo đức là lòng tôn
kính Phật.
Người
có Nhân giả dối thường không hiểu hết Phật. Cho nên, lòng
tôn kính Phật của họ rất hời hợt. Kết quả là họ không
đủ phước, tư cách của họ sẽ không tăng trưởng.
Nếu tu hành suốt đời họ cũng chỉ là một vị Tăng tầm
thường. Những người có lòng tôn kính Phật thật vô lượng,
vô biên sẽ trở thành một bậc cao Tăng, uy đức ngời
sáng, mọi người đều kính nể.
Nhiều
khi, xung quanh chúng ta có những vị Thánh ẩn thân, sống gỉan
dị. Nếu không biết, sinh tâm coi thường các vị đó thì
chúng ta cũng không được lợi ích. Ngược lại, nếu hiểu
được và kính trọng họ, chúng ta sẽ có phước.
Một
điều nữa cần lưu ý là người giả dối không đánh giá
đúng tình trạng tâm của mình nên không thể làm chủ được
tâm. Và như vậy, họ không thể đạt Thiền định.
Vì
không đánh giá được tâm mình nên người nói dối thường
hay biện minh, bênh vực, che đậy lỗi lầm của mình. Đó
là tự dối mình. Những người tự dối mình sẽ không có
ý thức sửa tâm, không làm chủ được tâm. Một khi
đã không làm chủ được tâm thì không thể đạt được
Thiền định.
Đó
là Nhân Quả của việc nói dối. Khi nói dối, chúng ta sẽ
bị nhiễm vào tâm và chịu rất nhiều thiệt thòi : Không
có trí tuệ để nhìn thấy sự thật, không nhìn thấy được
tâm mình; không có phước để phán đoán hoàn cảnh bên ngoài…
và nhiều khi còn làm những điều bất thiện. Người sống
một đời chân thật, những điều đó không xảy ra.
Có
lẽ chúng ta còn nhớ câu chuyện về vị Tỳ kheo và con ngỗng
nuốt chiếc nhẫn. Câu chuyện là một tấm gương sáng về
Hạnh chân thật. Một lần, vị Tỳ kheo nghiêm trang, đàng
hoàng đi khất thực buổi sáng. Khi đến một gia đình giàu
có, ông được chủ nhà cung kính mang vật thực ra cho
vào trong bát. Trong lúc sớt vào bát, chiếc nhẫn của bà ta
lỏng quá, rơi xuống đất. Thấy vậy, vị Tỳ kheo nghĩ thong
thả sẽ chỉ cho chủ nhà biết . Vì vốn ít nói, lại
giữ oai nghi khi đi khất thực nên ông không nói vội. Không
ngờ, một con ngỗng từ đâu chạy lại, nuốt mất chiếc
nhẫn. Ông không biết làm thế nào. Khi chủ nhà đã quay vào,
ông vẫn còn đứng đó. Chủ nhà rất ngạc nhiên. Lúc này,
bà ta mới phát hiện ra mình mất chiếc nhẫn trên tay. Bà
vội vàng chạy ra và hỏi :“ Thưa thầy, Thầy có thấy chiếc
nhẫn của con không ?”. Vị Tỳ kheo im lặng, không trả lời.
Vì ông sợ nói thật thì con ngỗng sẽ bị giết. Ông lại
là người sống rất chân thật, không nói dối bao giờ.
Ông
đứng đó, không biết giải quyết bằng cách nào. Bà
chủ nhà tiếp tục hỏi: “ Thầy có thấy không, chiếc nhẫn
con mới rơi ở đây thôi, khi con sớt bát cho Thầy”.
Dù bị nghi là lấy chiếc nhẫn, ông cũng im lặng. Bà chủ
nhà giận dữ, túm áo ông nói : “ Ông lấy chứ còn ai vào
đây. Nãy giờ chỉ có thầy với tui thôi”. Bà nặng lời
chưa đủ còn đánh vị Tỳ kheo bầm cả mặt mày. Lúc ấy,
có lẽ nghiệp của ông cũng vừa hết nên con ngỗng tự nhiên
vật vã rồi ngã lăn ra chết. Lúc này, ông mới thều thào
:“ Tôi thấy con ngỗng nó nuốt…”. Bà chủ nhà hỏang hồn
la lên :“ Trời ơi! Sao Thầy không nói cho con nghe”. Ông Thầy
trả lời:“ Nói rồi cô giết con ngỗng thì sao?”
Câu
chuyện kết thúc. Không biết sự thật như thế nào, nhưng
chúng ta tin đó là câu chuyện có thực. Trên đời này, những
người cương quyết không nói dối, thà bị đánh cũng không
nói dối và cũng không nỡ nói thật để hại người, hại
vật như vậy không phải là không có. Đó là hạnh chân thật
của người tu hành. Họ không nói thật vì nói thật sẽ hại
người khác, phạm vào lòng từ bi, nhưng cũng không muốn mất
hạnh chân thật nên im lặng chịu đựng.
Trong
cuộc đời, nhiều khi chúng ta cũng rơi vào những tình huống
như vậy. Có lúc chúng ta bị người khác hiểu lầm, hiểu
sai mà phải chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi để không
phải nói dối điều gì. Có thể lúc ấy, nếu giải bày sự
thật, chúng ta sẽ lấy lại được sự trong sạch, nhưng người
khác sẽ bị tổn hại. Hãy tin rằng, chính sự chịu
đựng, chấp nhận thiệt thòi đó sẽ làm phước đức
của chúng ta tăng trưởng gấp bội lần. Vì Nhân Quả và
phước báo không phải tự nhiên mà có. Con người phải trải
qua những thử thách, gian nan, những cay đắng trong cuộc đời
mới có được.
d.
Chuộng sự thật là tinh thần của các nhà khoa học.
Các
nhà khoa học vì chuộng sự thật, đi tìm sự thật, đã khám
phá không biết bao nhiêu quy luật của thế giới, của tự
nhiên, của lịch sử xã hội và con người. Họ không chấp
nhận những lời giải thích, những kết luận vô căn cứ
cũng như không bao giờ chấp nhận sự lạc hậu. Nhờ vậy,
ngày nay chúng ta được hưởng những thành tựu khoa học
kỹ thuật của họ, được sống trong một xã hội đầy đủ
tiệân nghi.
Ngày
xưa, ông cha ta giải thích nạn lũ lụt hằng năm bằng câu
chuyện thần thoại rất hấp dẫn: Sơn Tinh, Thủy Tinh. Và
một thời, người ta tin đó là sự thật. Nhưng ngày nay, có
những người không tin, không chấp nhận lối giải thích đó
nên cố công đi tìm sự thật. Nhờ đó, họ đã tìm ra được
nguyên nhân và giải thích một cách rất khoa học.
Trong
lịch sử, họ cũng tìm ra được nhiều sự thật bị che đậy
hay bóp méo. Những nhà khảo cổ, nhà sử học đã tìm được
những sự thật bị che phủ bởi lớp bụi thời
gian trong lịch sử Ai-cập cổ đại mà chúng ta không
thể biết .
Tuy
nhiên, cũng có một số tôn giáo mâu thuẫn với khoa học vì
thiếu tinh thần chuộng sự thật. Họ thích tưởng tượng,
thêu dệt nên những chuyện hoang đường, thần thánh để
giải thích mọi việc một cách hời hợt. Ví dụ, trong kinh
Cựu ước, người ta cho rằng Chúa tạo ra trời đất trong
sáu ngày và nghỉ một ngày. Do đó, ngày nay chúng ta có
một ngày nghỉ trong tuần vào ngày Chủ nhật. Đến bây giờ,
nhân loại mới khám phá ra điều nêu trong kinh là chuyện
không có thật. Người ta biết chắc rằng không có Thượng
đế nào tạo ra trời đất trong sáu ngày cả. Hoặc chuyện
Chúa tạo ra trời đất , tạo ra muôn loài hoàn toàn là chuyện
trẻ con, vậy mà cả một thời gian dài hàng mấy ngàn năm
người ta đã tin điều đó là thật. Làm gì có chuyện Chúa
tạo ra trời đất, muôn vật, tạo ra mặt trời quay quanh trái
đất và thắp những hàng nến đẹp trên bầu trời vào ban
đêm . Sau đó, Chúa lấy đất nặn hình người rồi thổi
hơi vào đó để tạo nên con người làm chủ các loài vật.
Chúa tạo nên ông Adam. Người đàn ông ấy sống cô đơn,
buồn quá đã rút ba xương sườn của mình để tạo nên bà
Eva v..v..
Có
thể coi Chúa Giê su là một vị “Bồ Tát thị hiện”, qua
Do thái để cải cách đạo Do thái từ kinh Cựu ước
sai lầm. Lúc bấy giờ, một số người Thiên Chúa giáo cũng
chống Chúa Giê su nên ông mới bị họ bắt và đóng đinh
trên cây thập giá. Nếu tách riêng những lời dạy của Chúa
Giê su, chúng ta sẽ thấy những lời ấy rất giống đạo
Phật. Nhưng Vatican không hiểu nên nhập chung kinh Cựu ước
đầy những điều vô lý với những lời dạy trong kinh Phúc
âm của chúa Giê su, tạo nên đạo Thiên Chúa như bây giờ.
Kinh Cựu ước có rất nhiều điều vô lý. Bây giờ, giới
trí thức tiến bộ không ít người đã thừa nhận kinh Cựu
ước sai từ trong căn bản.
Đạo
Phật có tính khoa học, thể hiện ở chỗ chuộng sự thật.
Cho nên, không những có nhiều điều phù hợp với khoa
học mà đạo Phật còn gợi ý cho khoa học. Chẳng hạn, đạo
Phật cho rằng, vũ trụ đất trời do nhiều nhân duyên mà
có, do nhiều yếu tố hợp thành, trong đó có nghiệp thiện
ác của chúng sanh tác động vào.
Như
vậy, điều đạo Phật nói không sai với khoa học. Và theo
khoa học, cái gì trên đời này cũng có nguyên nhân, cũng do
nhiều yếu tố hợp thành. Tuy nhiên, có một điều khoa học
chưa thấy được là, trong các nguyên nhân đó, nghiệp chúng
sanh tác động vào rất lớn. Đây là điểm Phật giáo gợi
ý cho khoa học, trong đó có cả vấn đề về Nhân Quả.
Sỡ
dĩ gần đây trên thế giới liên tiếp xảy ra những vụ ném
bom khủng bố của những người Hồi giáo là do theo giáo lý
của họ, giết người không có tội. Họ làm như vậy là
để bênh vực cho Thánh Alah, Thượng đế của họ. Đây là
một giáo lý cực kỳ nguy hiểm. Bởi vậy, chúng ta không thể
vô tư tu hành, phải biết lo lắng về vấn đề này. Trách
nhiệm của chúng ta là phải lưu tâm bảo vệ Phật pháp, không
để cho Hồi giáo xâm chiếm tràn lan, đè bẹp chúng ta bằng
bạo lực, bằng một giáo lý phi chân lý.
Trong
nghề nghiệp, người cư sĩ phải biết tôn trọng sự
thật. Nhất là người làm nghề Luật sư, đừng bao giờ vì
quyền lợi của mình mà bóp méo sự thật, bênh vực thân
chủ một cách quá đáng. Chúng ta phải dạy cư sĩ điều đó.
Một
điều cần lưu ý, đạo Phật chúng ta cũng nên xét lại một
số các tư liệu lịch sử, xuất xứ của một số giáo lý.
Ví
dụ: Sử 33 vị Tổ. Theo các nhà sử học, trước ngài Thần
Hội không có tư liệu nào nói về các vị Tổ, Bạt Tu Mật
Đa- Bát Nhã Đa cũng không có, chỉ từ ngài Thần Hội mới
có tư liệu. Từ đó, họ kết luận sử 33 vị Tổ là do ngài
Thần Hội soạn ra.
Hoặc
việc ngài Trí Khải nói về 5 thời phán giáo chẳng hạn.
Ông cho rằng, 12 năm đầu, Đức Phật giảng A Hàm, 9 năm sau
Phương Đẳng, 21 năm Bát Nhã, 6 năm Pháp Hoa-Niết Bàn. Điều
này, các nhà sử học cũng phủ nhận. Vì họ cho rằng, trong
các kinh A Hàm, có những bài kinh Phật giảng lúc về
già, có những bài Đức Phật giảng lúc gần nhập Niết Bàn.
Như vậy, làm sao khẳng định Phật giảng các A Hàm là trong
khỏang 12 năm đầu. Thực ra, phải hiểu rằng, Đức Phật
giảng A Hàm trong suốt cả cuộc đời mình.
Như
vậy, những điều nghi vấn trong lịch sử Phật giáo, chúng
ta cần phải xét lại. Hoặc những điều người xưa truyền
lại không đúng sự thật, chúng ta phải có trách nhiệm sửa
lại cho đúng, phải mạnh dạn làm điều đó mà không sợ
mình phạm thượng, xúc phạm Tổ sư.
Trong
quá trình đi tìm sự thật, đôi khi các nhà sử học không
cảm nhận được các điều mầu nhiệm nên đã bỏ qua. Bởi
vậy, dù rất chuộng sự thật nhưng chúng ta không nên quá
tin vào các nhà sử học mà phải nghiên cứu, tìm tòi và phải
biết phân biệt đâu là sự thật.
Tóm
lại, nói dối có hậu quả rất nghiêm trọng. Không những
nó ảnh hưởng đến việc tu tập của mình mà còn ảnh hưởng
đến uy tín của Đạo và lợi ích của chúng sanh. Vì thế,
chúng ta phải chuộng sự thật, cố gắng tu tập và truyền
Đạo đến với tất cả mọi người để đạo Phật ngày
càng hưng thịnh hơn trong tương lai.