CHỈ
TRÍCH VÀ CHỈ LỖI
1.
PHÂN BIỆT
Lầm
lỗi là một vấn đề lớn của con người. Trong chúng ta không
ai dám nhận từ nhỏ đến lớn mình không hề lầm lỗi. Như
vậy, một sự thật mà chúng ta phải thấy, phải đối diện
là chúng ta luôn sống trong những lầm lỗi, lầm lỗi
của người khác và của chính mình.
Về
lỗi lầm của chính mình, mỗi người đang từng bước tu
sửa. Còn đối với lỗi của người khác, chúng ta phải có
thái độ như thế nào ?
Người
tu hành chúng ta thường sống có lý tưởng, có mục tiêu cao
đẹp. Nếu không, ai dám từ bỏ gia đình để vào chùa sống
kiếp tu hành. Chúng ta tin rằng, không ai vì sự khó khăn, thất
bại hay thất tình, thất nghiệp, thất vọng… mà phải đi
tu như một số tiểu thuyết đã nói . Chúng ta hiểu Đạo,
mến Đạo, có nhân duyên nên mới vào chùa tu hành. Bởi vậy,
mỗi người ít nhiều đều có mơ ước, mơ ước một ngày
nào đó, chúng ta vượt khỏi thân phận phàm phu để
bước vào dòng của những vị Thánh.
Nhưng
cũng phải hiểu rằng, từ vị trí hiện tại đến vị trí
Thánh Hiền, chúng ta phải vượt qua không biết bao nhiêu lầm
lỗi từ bản thân mình. Vì Thánh không có gì khác hơn là
cực kỳ ít lầm lỗi. Không phải kiếp này, còn nhiều kiếp
khác nữa, chúng ta phải sửa hết những sai lầm của mình.
Cho đến một ngày nào đó, lỗi lầm còn rất ít, chúng ta
đã vào được dòng của những vị Thánh. Tất nhiên, đến
vị trí của Đức Phật thì sai lầm hoàn toàn không tồn tại
nữa.
Như
vậy, phải thừa nhận một điều là trên bước đường
tu hành, chúng ta vẫn còn phạm lỗi lầm và người chung chúng
ta vẫn còn phạm lỗi lầm, nhưng điều quan trọng là chúng
ta biết sửa chữa và vượt qua. Nếu những lỗi lầm
được khắc phục sớm thì Phật pháp nhanh chóng hưng thịnh
trở lại. Nếu chúng ta cũng như huynh đệ chúng ta không khắc
phục được lỗi lầm, hay lỗi lầm được khắc phục với
tốc độ quá chậm thì cũng có nghĩa là Phật pháp đang suy
tàn. Như vậy, lầm lỗi của mình và của người đều ảnh
hưởng đến Phật pháp, đó không phải là vấn đề
đơn giản.
Thêm
một điều nữa, nếu tinh tấn tu hành, tinh tế kiểm soát
tâm mình, sửa lỗi mình được nhiều, thì chúng ta rất nhạy,
rất sắc trong vấn đề nhìn thấy lỗi người khác.(Dĩ nhiên
là thấy lỗi người khác nhiều hơn thấy lỗi mình. Vì sống
mà tự thấy được lỗi của mình nhiều là điều rất khó,
thấy lỗi người khác thì dễ hơn). Đến khi siêng năng kiểm
soát tâm mình, đối với lỗi người khác, chỉ cần nhúc
nhích một chút là bị ta thấy ngay, và biết ngay người đó
thuộc loại người nào. Và lúc đó, chúng ta phải có thái
độ đối với lỗi của họ. Có những lỗi ban đầu không
có gì nghiêm trọng, nhưng nếu để nó phát triển lâu dài
thì sẽ trở thành nghiêm trọng. Cho nên, chúng ta không được
để lỗi của mình và lỗi của huynh đệ tiếp tục tồn
tại, phải giúp cho huynh đệ vượt qua. ( Ở đây chúng ta
đang nói về lỗi của người khác, không nói lỗi của mình).
Chẳng
hạn, có người nào đó vừa cúng dường đồ tứ sự. Đồ
đạc để trong liêu của Tỳ Kheo. Một huynh đệ vào nhận
đồ, được cái tốt và reo lên: “Hay quá, mình
được đồ tốt”. Lúc đó, nếu nhìn thấy, chúng ta phải
nhắc nhẹ nhàng: “Mình được một cái tốt nghĩa là
huynh đệ khác không được cái tốt, còn mình nhận một cái
xấu nghĩa là một huynh đệ nào đó sẽ không bị cái xấu.”
Như
vậy, căn cứ trên Giới luật, chọn cái tốt cho mình trong
số đồ lặt vặt của tứ sự cúng dường, người ấy không
có gì phạm, không có gì để trách, nhưng trên Đạo đức,
nó là một cái khuyết lỡ. Tuy người ấy không lấy cắp
của ai, không phạm sai lầm gì nghiêm trọng, nhưng đó cũng
là dấu hiệu của lòng tham, của sự ích kỉ. Những người
như vậy, sau này trong gian khổ của đời sống, sẽ không
biết hy sinh, không biết nhường điều kiện thuận lợi cho
huynh đệ. Và như vậy, người này cũng không có cơ hội để
tạo những công đức lớn, bởi vì chỉ biết nghĩ đến bản
thân mình. Người không có công đức lớn, dĩ nhiên, Đạo
tâm, Đạo đức chẳng tiến bộ được nhiều. Chỉ một việc
đơn giản như thế nhưng chúng ta thấy ngay là nguy hiểm rất
lớn. Nếu chúng ta nhắc nhở đúng lúc, người đó sẽ tỉnh
ngộ ngay. Còn trường hợp tham lam, lấy của người khác làm
của mình, đó là lỗi cực nặng. Cho nên, người tu phải
cẩn thận về lòng tham của mình, phải sống thanh bai, không
bao giờ được tham của người khác.
Có
những lỗi rất nhỏ, chúng ta thấy mà không ngăn chặn thì
người mắc lỗi sẽ trở nên hư hỏng.
Ví
dụ: Chùa có qui định là ai muốn ra khỏi khuôn viên chùa
phải xin phép. Một hôm, có người vì việc gấp phải chạy
ra khỏi chùa, nhưng Thầy trụ trì, Giáo thọ lại đi vắng
nên người ấy không xin phép kịp. Đúng ra, lúc khác phải
thưa lại với Thầy trụ trì, nhưng thấy không ai biết nên
người ấy im luôn.
Sự
việc đúng ra cũng không có gì nghiêm trọng. Bởi vì họ đi
ra ngoài cũng vì việc chính đáng, không phải vì mục đích
xấu xa. Nhưng nếu biết chuyện mà chúng ta vẫn im lặng,
sau này người đó sẽ có thói quen qua mặt người lớn.
Từ chỗ qua mặt người lớn, họ coi thường kỷ cương của
chùa. Mà kỷ cương của chùa đã bị phá vỡ thì khi làm trụ
trì một ngôi chùa nào đó, họ sẽ không tuân thủ theo đường
lối chung của Giáo hội. Một khi đã quen dẫm đạp đường
lối của Giáo hội thì giới của Đạo họ cũng chẳng thiết
tha gìn giữ nữa. Cho nên, chúng ta thấy rằng, hễ một lần
vi phạm thanh quy lặt vặt mà không ai sửa, lỗi lầm sẽ được
nuôi dưỡng lớn lên và trở thành nghiêm trọng.
Điều
này gợi chúng ta liên tưởng đến câu chuyện xảy ra tại
một phiên tòa mà người đời thường nhắc đến như
một bài học kinh nghiệm cho các bậc cha mẹ trong việc giáo
dục con cái. Chuyện kể rằng, trước khi xử tội tử hình
một bị cáo, quan tòa hỏi anh ta:
-
Nguyện vọng cuối cùng của anh là gì ?
Anh
ta trả lời:
-
Tôi muốn được ôm mẹ tôi một lần cuối .
Mong
ước thật chính đáng nên người ta vội mời bà mẹ đến.
Tưởng người con sẽ ôm hôn mẹ thắm thiết, không ngờ anh
ta đánh mẹ một cái rất mạnh làm bà mẹ muốn ngất xỉu.
Anh ta ràn rụa nước mắt và nói:“Tại người đàn bà này
nên tôi mới bị chết một cách nhục nhã”. Sau đó, anh ta
đau đớn kể lại rằng, hồi còn nhỏ, lần đầu tiên khi
qua nhà hàng xóm ăn cắp được một cái hộp quẹt về,
anh được mẹ khen:“ Thằng này khôn”. Cứ thế, lớn lên
anh ta trở thành một tên cướp của, giết người.
Trong
giai đoạn tu học, có những lỗi nhỏ tưởng không có gì
quan trọng nhưng nó là sự đổ vỡ lớn lao về sau. Nguy hiểm
như vậy nên khi thấy huynh đệ phạm lỗi, chúng ta phải hiểu
điều đó không đơn giản và tìm cách nhắc nhở để họ
sưả chữa.
Chẳng
hạn, từ một chuyện rất nhỏ, chuyện một người không
tùy thuận huynh đệ, chỉ thích làm theo ý mình, chúng ta hình
dung điều gì sẽ xảy ra sau này ? Người không tùy thuận
huynh đệ là người bướng bỉnh, cũng có nghĩa là chấp ngã
nặng, chấp ý kiến mình rất nặng, không tùy thuận được
với người khác. Nếu chấp ngã nặng, không sống bằng
tâm của huynh đệ, ngã chấp sẽ tăng trưởng và làm
cho Đạo tâm mình bị thoái lui đi. Chỉ không tùy thuận một
chút thôi, nhưng chúng ta phải hiểu là người này rất khó
tu, vì người tu theo đạo Phật là đi dần đến vô ngã. Vô
ngã luôn khiến ta có khả năng tùy thuận với mọi người
rất lớn, không giữ ý kiến của mình, luôn sống bằng
tâm của huynh đệ.
Hoặc
chuyện khác, chuyện không vâng lời Thầy Tổ:
Thầy
đi vắng, dặn ở nhà dọn dẹp cốc phòng, chúng ta ham chơi,
không làm. Thầy về, hỏi: “Tại sao con không làm?”
-“
Dạ con quên, con bận công chuyện nên con quên”
Đúng
là quên thật chứ không phải chúng ta cố ý không vâng lời
Thầy. Chuyện đó xét lại cũng nhỏ, nhưng thực ra không nhỏ.
Vì khi Thầy dặn điều gì, chúng ta không chú tâm để đón
nhận lời của Thầy tức là tâm không vâng lời Thầy. Nếu
khi Thầy dặn dò, chúng ta chăm chú lắng nghe, chắc chắn sẽ
không quên. Từ chỗ hời hợt, không chú ý thành ra chúng ta
không vâng lời Thầy. Những người không tùy thuận với Huynh
đệ, không vâng lời Thầy thừơng chấp ngã rất nặng, rất
khó tiến Đạo. Bây giờ thì nhẹ, nhưng tương lai người
này có thể phá Đạo. Chấp ngã nặng, sống không tùy thuận
thì ích kỷ sẽ tăng trưởng, và còn nhiều chuyện trầm
trọng hơn nữa.
Ở
đây, khi thấy Huynh đệ phạm lỗi, chúng ta sẽ xuất hiện
một trong ba tình huống, ba thái độ như sau :
a.Thứ
nhất: Chỉ trích.
Chỉ
trích tức là công kích gay gắt, rêu rao lỗi của người đó
ra cho mọi người biết. Trường hợp này xuất hiện khi chấp
ngã nặng, từ bi ít. Tại sao khi từ bi ít, chấp ngã nặng,
chúng ta sẽ có hành vi chỉ trích người khác khi người đó
có lỗi ? Đơn giản là vì ta luôn luôn muốn hơn người khác.
Đó là tâm lý bí mật. Thay vì muốn làm cái gì hơn người
khác, ta chờ người khác có lỗi để ta hơn. Người
ta phạm lỗi gì mà ta không phạm, tức là ta hơn người. Muốn
chứng tỏ cho mọi người biết ta hơn người khác thì ta phải
chỉ trích. Tâm lý đó rất bí mật. Đó là lý do tại sao
người ta thường hay nói xấu nhau. Khi biết người có lỗi,
ta đem lỗi đó nói cho người khác nghe là chúng ta đã
bị tâm lý bí mật đó chi phối. Cái tâm luôn cho rằng, hễ
người khác dở tức mình giỏi, là tâm hơn thua, tâm kiêu
mạn, tâm này rất ghê gớm.
b.
Thứ hai: Chỉ lỗi.
Khi
thấy người khác có lỗi mà ta lại là người chấp ngã nhẹ,
từ bi nhiều, chúng ta sẽ cảm thấy xót xa. Vì chúng ta biết
rằng, hễ Huynh đệ mình có lỗi thì sau này người ấy sẽ
chịu quả báo. Nhìn trên luật Nhân Quả, người có tâm đạo
do chấp ngã nhẹ, từ bi lớn, người đó hiểu nhân quả rất
sâu. Từ chỗ xót xa, hai tâm niệm sẽ phát sinh. Một là ta
không muốn cho ai biết vì sợ Huynh đệ mình bị tổn thương
danh dự. Hai là ta tìm cách khuyên can, giãi bày để Huynh đệ
mình đừng phạm lỗi nữa.
c.
Thứ ba: Bỏ mặc.
Đó
là ba thái độ chúng ta thường gặp khi đứng trước lỗi
lầm của người khác. Những thái độ đó tùy thuộc vào
tâm từ bi và mức độ chấp ngã của mỗi người.
Trong
ba trường hợp, chúng ta tuyệt đối tránh việc chỉ
trích, và cũng tránh luôn sự bỏ mặc, chỉ giúp cho nhau
vượt qua lỗi lầm trong tình thương yêu.
2.
NHÂN QUẢ
Không
ít người hỏi chúng ta “Tu để làm gì ?”. Nhiều người
đã nói lên mục đích, thường là nói lên mục đích, là
để cho mình trở nên tốt đẹp, giác ngộ, giải thoát…
Thực
ra, tất cả các mục đích đó đều bị vị kỷ tiềm tàng
chi phối. Và chính sự vị kỷ đó sẽ sinh ra nhiều chuyện
rắc rối. Vì sao, vì muốn mình tốt vẫn còn là ích kỷ.
Càng đi sâu vào đạo Phật, chúng ta càng phát hiện ra những
điều tinh tế mà mỗi người cần phải tỉnh táo để
nhìn thấy. Khi chúng ta đi tu, ai cũng mong cho mình trở nên
tốt. Nói như vậy, không ai dám nói lý luận của mình là
sai. Vậy mà vẫn còn ích kỷ tiềm tàng chi phối.
Đến
với Phật, chúng ta đều có một nhân duyên, một khởi điểm
gì đó. Hãy đọc lại mấy câu thơ trong cuốn Luận về Nhân
Quả:
…
Có bao giờ em ước mơ vơ vẩn
Về
quê hương ngập ánh sáng tình thương
Cõi
nhân gian đã hiện bóng Thiên Đường
Vì
thiện pháp giăng đầy trên mọi lối
Đời
nhân thế sẽ không còn u tối
Nếu
đường đi Luật Nhân Quả nghiệp duyên
Được
tuyên dương thắp sáng khắp mọi miền
Trong
em bé cụ già trong tất cả.
( Chơn Quang)
Khi
hiểu luật Nhân Quả, chúng ta luôn luôn ước mơ mọi người
đều được biết về Nhân Quả. Như vậy, cả thế gian này
tự nhiên sẽ tràn ngập Đạo đức. Chúng ta ước mơ rằng,
trong nhà trường, những em bé đều được học luật Nhân
Quả. Nhưng điều đó chỉ có thể thực hiện được trên
một đất nước mà Phật Giáo là Quốc Giáo. Nếu được
như vậy, Đạo đức sẽ tăng lên rất mạnh.
Nói chung, chúng ta sống đều có ước mơ. Chúng ta mong cho
tất cả mọi người đều thương yêu nhau, đều nhìn nhau
bằng ánh mắt trìu mến, tay nắm tay chung một nụ cười,
một niềm vui; thế gian này đầy chim ca hoa nở, đầy ánh
nắng hồng, đầy hương hoa ngào ngạt như một cõi Thiên Đường
và tất cả mọi người đều có đạo đức, mà nhất là
biết thương yêu nhau. Có thể đôi tay chúng ta bé nhỏ, việc
làm chúng ta ít ỏi, khả năng của chúng ta không nhiều,
nhưng ước mơ của chúng ta không được quyền nhỏ bé. Người
tu phải sống như vậy, phải có ước mơ và ước mơ không
được quyền bé nhỏ. Chúng ta phải ước mơ, phải hướng
đến một lý tưởng tuyệt đối hoàn hảo dù mình không làm
được như vậy.
Chúng
ta mong cả thế gian này biết thương yêu nhau, mong cho Phật
pháp giăng phủ khắp cả mọi nẻo đường. Nghĩa là, từ
những làng quê xa xôi, trên những đồi núi cao, đến những
chốn phồn hoa đô hội, ai cũng dựa vào tinh thần Nhân Quả,
Từ Bi, Bác Ái của đạo Phật để đối xử với nhau. Nghĩa
là chúng ta, ai cũng là một sứ giả đem tình thương yêu,
đem đạo đức, đem hòa bình đến cho con người, cho nhân
loại.
Mơ
ước như vậy, nhưng chúng ta sẽ làm được điều gì ? Trước
hết, bây giờ mỗi người chúng ta phải gạn lọc tâm mình,
phải luôn giúp đỡ Huynh đệ trong chùa. Sau này lớn lên,
chúng ta có thể vân du thuyết pháp, mở những pháp hội lớn
lao đông đảo. Mơ ước thường lớn lao như vậy, nhưng chúng
ta chỉ sẽ làm được rất nhỏ; nếu mơ ước nhỏ thì việc
làm của chúng ta còn ít ỏi hơn nữa. Vì vậy, chúng ta phải
biết ước mơ, phải biết khát khao sự hoàn hảo, sự tuyệt
đối, để rồi dù cho không làm được như mơ ước, chúng
ta cũng đã đóng góp được một số điều tốt đẹp cho
nhân loại.
Nhưng
muốn cho mọi điều tốt đẹp, trước hết, chính người
tu chúng ta phải tự hoàn thiện bản thân mình .
Mọi
người đều không thể phủ nhận là không phải hễ là người
xuất gia thì đã hết lỗi lầm. Tăng Ni dù hết sức cố gắng
vẫn còn sơ xuất. Đôi khi sự sơ xuất đó lan rộng thì Phật
Pháp suy đồi. Nếu sự sơ xuất về Đạo đức của Tăng
Ni chỉ trong phạm vi hẹp thì Phật Pháp còn được gọi là
thịnh đạt. Chúng ta muốn Phật Pháp hưng thịnh thì phải
giúp nhau tránh những sơ xuất về Đạo đức để niềm tin
của mọi người được vững chắc.
Như
vậy, trước lầm lỗi của mình và của người, chúng ta đều
phải có trách nhiệm. Mỗi người phải tự sửa lỗi của
mình, đồng thời phải giúp nhau sửa lỗi, không được bỏ
mặc khi nhìn thấy lỗi của người khác.
Bây
giơ,ø chúng ta nói đến Nhân Quả, hậu quả của từng việc
làm.
a.
Hậu quả của việc chỉ trích:
Chỉ
trích nghĩa là đem lỗi của người khác nói rộng rãi cho
nhiều người biết, với một cái tâm có thể nói là ác độc.
Vì khi nói lỗi của người khác ra ngoài, mình sẽ làm mất
danh dự của họ, còn làm cho người ngoài thoái tâm. Điều
này rất nguy hiểm. Những Phật tử hiểu đạo sâu, họ không
hoàn toàn lệ thuộc vào chúng ta mà dựa vào giáo pháp để
tu tập. Còn những Phật tử không thuần thành, không nghiên
cứu nhiều, họ phải dựa vào chúng ta. Họ nghĩ rằng, chúng
ta hằng ngày ăn chay, niệm Phật, học hỏi, chắc chắn phải
hiểu sâu sắc và thực hành được giáo lý của Phật. Nếu
thấy Tăng Ni tu tốt, có Đạo đức, họ sẽ tin rằng đạo
Phật là một tôn giáo tốt, tiến bộ. Ngược lại, nếu thấy
tư cách Đạo đức của Tăng Ni kém, họ sẽ nghĩ
không tốt về Đạo Phật. Điều đó cũng dễ hiểu thôi.
Vì hằng ngày chúng ta sống với thế giới thanh tịnh của
Phật, ăn chay, tụng kinh … mà tư cách Đạo đức vẫn bị
sa sút, làm sao họ có thể tin được đạo Phật là tốt
đẹp.
Trong
khi đó, Đạo Phật rất cao đẹp, rất hoàn hảo. Nếu không
thực hiện được đạo lý cao cả của Phật, chúng ta sẽ
làm ảnh hưởng xấu đến đạo Phật của mình. Không phải
người ngoài mà tất cả mọi người chúng ta đều có một
điểm chung là dễ dàng được xúc động, được sách tấn,
được khuyến khích bởi những tấm gương tốt. Có thể nghe
giảng pháp ngày này qua ngày khác, chúng ta cũng không
từ bỏ được cái tham, sân, ích kỷ ngự trị trong lòng mình.
Nhưng nếu gặp một người ï tu thiền, đắc đạo, đời
sống giới hạnh nghiêm túc, đạo đức cao vời, tự nhiên
chúng ta bị một sự thúc đẩy trong tâm là phải học hỏi,
phải tu sửa để được như họ.
Đó
là một sự sách tấn rất hay. Bởi vậy, nếu đem chuyện
xấu của chúng ta ra nói cho Phật tử nghe thì họ sẽ bỏ
đạo. Họ sẽ từ chối và không cần phải tiến tu nữa.
Còn nếu gặp Phật tử, chúng ta kể chuyện tốt của nhau
thì sẽ giúp họ tinh tấn tu hành.
Chẳng
hạn, có Phật tử hỏi một Thầy: “Trong chùa này có ai giỏi
nữa hay không ?” Người đó suy nghĩ một lát thấy không
có ai giỏi hết, nên im lặng, không trả lời. Sau này nghĩ
lại, người ấy vô cùng hối hận. Bởi người ấy thấy
các Huynh đệ của mình giỏi hơn mình rất nhiều. Có những
điều Huynh đệ làm được mà mình lại không làm được.
Sở dĩ lúc đó người này không thấy ai giỏi hết vì bị
kiêu mạn che tâm. Khi nào khiêm hạ, chúng ta mới thấy được
ưu điểm của người khác.
Chúng
ta tránh chỉ trích vì sự chỉ trích luôn luôn xuất phát từ
tâm bất thiện; vì nói xấu người khác, làm tổn thương
danh dự của người khác, quả báo sẽ khá nặng. Rồi sau
này, chúng ta cũng sẽ phạm đúng những lỗi lầm đó hoặc
sẽ không làm được nhiều việc tốt cho Phật sự, , không
có uy tín để giáo hóa rộng rãi.
Nếu
làm cho người này người kia mất hết uy tín, mất hết danh
dự thì chúng ta sẽ không có phước, không làm được những
việc lớn lao cho Phật pháp. Vì người làm được những việc
lớn trong Phật pháp phải là người có nhiều phước. Trong
đó, cái phước lớn nhất là có uy tín, có danh dự. Bởi
vậy, làm tổn hại danh tiếng của người khác, chúng ta sẽ
không tạo được danh tiếng cho mình. Mặt khác, chúng ta thường
hay bệnh hoạn, bị những tai nạn ngăn trở, không thành công
trong cuộc đời. Quả báo của việc chỉ trích, nói xấu tưởng
đơn giản nhưng thực ra rất nặng nề.
b.
Hậu quả của việc bỏ mặc:
Khi
nhìn thấy người khác lầm lỗi, chúng ta im lặng bỏ qua là
không đúng. Nhiều nơi bị ảnh hưởng truyền thống trong
kinh Pháp Bảo Đàn: “Đừng nhìn lỗi người, vì khi thấy
lỗi người thì lỗi mình đã đến chân” nên chủ trương
không nhìn lỗi ai hết. Vì vậy, lầm lỗi của mọi người
ngày càng phát triển.
Tình
trạng Đạo đức Tăng Ni hiện nay đôi khi bị phe bình là
suy đồi cũng xuất phát từ quan điểm:“Không ai nói lỗi
của ai hết, không ai giúp ai vượt qua lỗi lầm hết”. Mấy
ngàn năm qua, điều này đã tồn tại và khiến Phật pháp
suy tàn trầm trọng. Bởi vậy, chúng ta không được tiếp
tục giữ thái độ thụ động nữa, mà phải tích cực sửa
lỗi cho nhau.
Khi
thấy người khác có lỗi, chúng ta bỏ mặc thì sẽ bị những
quả báo như sau. Quả báo dễ thấy nhất là sau này, nếu
phạm lỗi, chúng ta sẽ không được ai góp ý, khuyên ngăn.
Thấy người khác có lỗi mà coi như không thấy, kiếp sau
chúng ta sẽ không được nhìn thấy gì nữa. Hoặc nghe người
khác có lỗi mà coi như không nghe, kiếp sau chúng ta sẽ không
được nghe gì nữa. Hoặc thấy Huynh đệ có lỗi, mình
là người có duyên, có thể khuyên họ mà mình không
nói, thì kiếp sau mình sẽ không nói được gì được hết
. Nhân Quả như thế là điều có thật, không phải chuyện
đùa. Đó là lý do tại sao có những người rất hiền lành
nhưng bị mù, câm, điếc.
Có
một Hòa Thượng tu rất tốt, ông tu đắc được thần thông,
nhưng bị mù. Nhân quả được tìm thấy là đời trước ông
hoàn toàn thụ động. Bản thân ông tu rất tốt, nhưng
ai có lỗi, ông cũng bỏ mặc, không nhìn tới, cho nên
kiếp này ông bị mù.
c.
Chúng ta phải chân thành góp ý để huynh đệ tránh được
lỗi lầm. Đó cũng là công đức lớn cho Phật pháp.
3.
ĐỐI VỚI PHẬT PHÁP:
Lý
tưởng của Phật pháp là làm cho chúng sinh đều được giác
ngộ, Đạo đức hoàn hảo. Như vậy, bỏ mặc người khác
trong lầm lỗi sẽ dẫn đến nhiều hậu quả và hậu quả
lớn nhất là:“ Góp phần làm cho Phật pháp nhanh chóng suy
tàn”. Đây là một trọng tội. Chỉ trích đã là sai, bỏ
mặc lại càng sai. Chúng ta không được quyền thụ động,
bởi thụ động trước lỗi lầm của người khác là mang
tội nặng với Phật pháp. Sai lầm này đã tồn tại
quá lâu trong Phật pháp, làm cho Phật pháp suy tàn.
Trên
thực tế, người tu còn rất nhiều lỗi lầm. Việc cần thiết
khẩn trương hiện nay là làm sao giảm được tình trạng phạm
lỗi của người tu. Chúng ta không được tiếp tục mắc phải
sai lầm ấy mà phải tích cực trong việc sửa lỗi cho người
khác và cho chính mình. Tất nhiên, sửa lỗi cho người khác
không phải là việc đơn giản. Khi sửa lỗi, chúng ta phải
để ý tránh hai điều: không làm mất danh dự của người
phạm lỗi và không được để người ngoài thoái tâm, nghĩa
là không để người khác mất tín tâm, mất niềm tin vào
Phật Pháp.
Một
điều cũng cần lưu ý là muốn chỉ lỗi cho người khác,
chúng ta phải xét lại tâm mình có một yếu tố quan trọng
chưa. Đó là tình thương yêu!
Khi
nào thấy đủ tình thương yêu Huynh đệ thì chúng ta hãy góp
ý, bởi chưa đủ tình thương yêu thì việc góp ý sẽ không
đem lại hiệu quả. Tâm lý chung của con người chúng ta là
chỉ cảm động, chỉ nghe lời khuyên của những người thực
sự thương mình. Do đó, trong cuộc sống, muốn có công đức
để sửa lỗi cho huynh đệ, trước hết chúng ta phải tu tập
tâm từ ! Nếu có tâm tư,ø thương yêu tất cả mọi người
thì sau này mình có thể sửa lỗi được cho nhiều người
mà không bị trở ngại. Sửa lỗi cho người khác là một
công đức rất lớn. Có thể công đức của việc bố thí
Pháp không lớn bằng công đức sửa lỗi cho người khác.
Bởi vậy, từ nay chúng ta phải có tâm nguyện cố gắng sửa
lỗi cho mọi người. Đây cũng là công đức lành cho cuộc
đời tu tập của chúng ta.
Khi
có tâm từ, chúng ta cũng tự tin hơn khi sửa lỗi cho
Huynh đệ. Trong đời sống, ta đã thương yêu, đã đối xử
tốt với họ, đến khi cần phải góp ý sửa lỗi, huynh đệ
ta sẽ hiểu rằng ta muốn giúp họ tốt hơn chứ không có
ý chê bai trách móc. Họ cũng hiểu rằng, không phải
ta chỉ tốt với riêng họ mà còn sống tốt với tất cả
mọi người. Do đó, họ sẽ dễ chấp nhận lời nói của
ta hơn.
Nhưng
để đạt được đức độ đủ để góp ý mà huynh đệ
lắng nghe thì ta cũng phải tốn nhiều mồ hôi cho biết bao
nhiêu việc làm nhường nhịn hy sinh tận tụy trong cả một
thời gian dài.
Tất
nhiên, phát tâm sửa lỗi Huynh đệ, chúng ta không nên coi cái
ngã của mình là lớn, không nên nói năng tùy tiện, mà phải
thận trọng, tế nhị. Chúng ta nên gặp riêng để góp ý trong
sự thương yêu, khiêm tốn và khéo léo. Khéo léo làø phải
theo nguyên tắc mà trong Đắc Nhân Tâm, ông Dale Carnegie đã
khuyên :“Muốn nói lỗi của ai thì hãy tìm ra vài ưu điểm
để khen ngợi trước.”
4.
KHÔNG ĐƯỢC THỤ ĐỘNG.
Nếu
việc chỉ trích lỗi lầm của người đem lại quả báo xấu
thì việc im lặng trước lỗi lầm của họ cũng sẽ dẫn
đến điều tồi tệ cho ta. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên
mà Khổng Tử đã nói: “Vi nhân nan” (làm người
rất khó).
Trong
cuộc sống, chúng ta phải cố gắng góp ý để huynh đệ mình
sửa lỗi. Nhưng trường hợp không có duyên, chúng ta phải
thưa lại với người lớn, với những người có trách nhiệm
để huynh đệ được nhắc nhở, được sửa chữa kịp thời.
Việc chúng ta im lặng, không nói gì trước lỗi của
người khác là một sai lầm.
Tuy
nhiên, trong thực tế, có người thưa lỗi huynh đệ lên Thầy,
lại bị huynh đệ giận. Những lúc như vây, chúng ta đừng
ngại. Khi người ta giận, mình vẫn tiếp tục thưa lỗi họ
đến khi nào người đó hết giận thì thôi. Đừng bao
giờ bộc lộ sự hèn nhát, khiếp nhược của mình, vì như
vậy, việc sửa lỗi sẽ không có hiệu quả. Chúng ta không
nói lỗi ra bên ngoài mà chỉ nói với Thầy thì chấp
nhận sự giận hờn của huynh đệ, rồi sẽ có lúc họ hiểu
được việc làm của ta. Điều quan trọng là trong cuộc sống,
chúng ta phải đối xử tốt với họ, phải thương yêu, không
hề có ác ý. Nếu có ác ý chúng ta sẽ không cảm hóa được
họ.
Có
trường hợp, một người góp ý huynh đệï mình không được,
vội thưa với thầy. Thầy Bổn sư cũng không sao góp ý để
người đó sửa lỗi được. Người này cứ ray rứt mãi,
không biết làm cách nào… Đối với những người như vậy,
chúng ta chỉ còn cách cầu nguyện cho họ, nhờ Phật lực
gia hộ, chuyển tâm người ta trong vô hình. Điều này cũng
khó thành công, có thể đến năm, mười năm sau, người đó
mới có thể chuyển được. Thà như vậy còn hơn là chúng
ta bỏ mặc họ trong tội lỗi.
Người
Trụ trì, Giáo thọ, hay Tri sự … , phải có trách nhiệm đối
với các đệ tử của mình, phải siêng năng theo dõi tâm hạnh
của Đại chúng, không được hời hợt bỏ qua. Vì như vậy,
chúng ta sẽ mắc tội với Phật pháp. Điều chúng ta cần
lưu ý là phải nhìn tới tâm của đệ tử. Cũng phạm một
lỗi đó, nhưng chúng ta phải nhìn đến tận tâm của họ,
xem đó là tâm gì, không được khiển trách trên hành
vi.
Ví
dụ, khi có người lên sám hối :“Thưa Thầy! Con làm vỡ
cái ly”, ta phải hỏi lý do: “Tại sao con làm vỡ?”.
Nếu
người ấy trả lời: “Da,ï cái ly ai để trên bàn, sát mí
bàn. Con có công việc vội nên khi ngang qua, tay
đánh vào làm cái ly rơi xuống”. Lúc ấy, ta sẽ hỏi :“Ai
để cái ly như vậy?”. Khi tìm ra, ta khiển trách người để
cái ly, chứù không khiển trách người làm vỡ cái ly nữa.
Vì chính người đó để cái ly hờ hững, vô ý nên người
khác mới làm đánh rơi ly trong khi vội vã. Xét cho cùng, người
để ly mang tội, chứ người đánh vỡ ly không mang tội. Bởi
vậy, xét lỗi người khác không phải là chuyện đơn giản.
Trong
việc sửa lỗi đệ tử, nếu chỉ xét theo hành vi bên ngoài,
chúng ta sẽ trách oan và khiến họ không phục. Chúng ta phải
trách lỗi từ trong tâm của họ mới hy vọng sửa được
họ. Và khi sửa được lỗi cho đệ tử, chúng ta sẽ có phước
lớn. Dạy đệ tử sửa được lỗi từ trong tâm là làm cho
họ tốt từ trong tâm, không phải tốt ở hành vi bên ngoài.
Những
người đó, sau này sẽ là rường cột của Phật pháp, làm
được nhiều điều tốt cho Phật pháp. Nếu có được hai
mươi đệ tử, họ đều là những người tốt thì chúng ta
như được lên thiên đường. Còn nếu dạy hai mươi
đệ tử đều trở thành những người hư hỏng, thô
lỗ, chúng ta sẽ xuống địa ngục trước họ.
Bởi
vậy, người xưa nói rằng: “Giáo bất nghiêm Sư chi quá”.
Dạy mà không nghiêm là lỗi của người Thầy. Và lỗi nào
cũng có quả báo của nó. Cho nên phải hết sức cẩn thận,
xem việc dạy dỗ Đạo đức cho đệ tử là trách nhiệm lớn,
là lý tưởng cao cả của người làm Thầy.
Có
trường hợp, trụ trì chùa Ni là một Sư Bà rất đặc biệt,
trí tuệ, giới hạnh đều giỏi, nhưng khi nhận xét về những
đệ tử của Sư Bà, hầu hết mọi người đều tỏ ra không
hài lòng và không tin tưởng. Nguyên nhân do đâu ? Nếu có
dịp trò chuyện với những người trong chùa, chúng ta sẽ
hiểu ra mọi lẽ. Trong lần tranh luận với một vị khách,
một Sư cô trong chùa bất đồng ý kiến đã cãi gay gắt.
Trong khi đó, vị khách Tăng kia rất ôn tồn nói: “Khi trình
bày đạo lý, không nên chủ quan cho mình luôn luôn đúng. Mình
phải khiêm nhường, để đề phòng mình có một chút sai và
người ta có thể góp ý với mình được”. Nghe khách nói
như vậy, Sư cô đồng ý, nhưng cũng tìm cách khác để cãi,
không chịu nhịn. Người kia lại nói :“Sư cô bàn cãi đạo
lý trong tâm trạng hơn thua rồi. Chúng ta bàn luận đạo lý,
mục đích là làm cho chân lý được bộc lộ. Có thể mình
đúng, có thể người khác đúng, có thể mỗi người đều
có cái sai, nhưng quan trọng là cuối cùng chúng ta tìm ra được
điểm chung nhất, hợp lý nhất, có lợi cho mình và cho người
khác, chứ không phải bàn đạo lý để mình giành phần hơn.
Một đằng là làm cho chân lý được bày tỏ. Một đằng
để mình thắng trên lý luận với người kia. Hai mục đích
đó khác nhau. Sư cô đã bị tâm hơn thua chi phối rồi”.
Lúc
ấy, tự nhiên Cô tỉnh ngộ, đứng lên chắp tay cám ơn người
kia và nói rất thành thật: “Từ bao lâu nay không có ai góp
ý cho tôi điều này”.
Qua
chuyện của Sư cô ấy, chúng ta sẽ tìm đuợc nguyên nhân.
Sư Bà là người giữ giới hạnh rất tốt, có trí tuệ, có
năng lực, nhưng chỉ sửa lỗi củachúng đệ tử trên hành
vi, chỉ căn cứ trên giới luật, giới điều, căn cứ trên
hai mươi bốn thiên oai nghi, không được làm điều này, không
được nói điều kia. Cho nên, chúng đệ tử không sâu sắc
trong việc sửa lỗi ở nội tâm, không nhìn thấy được lỗi
từ trong nội tâm sâu kín. Nguyên nhân đổ vỡ của chùa là
vậy. Sư Bà tuy giỏi, nhưng không chú ý đến Tâm lý Đạo
đức của đệ tử. Đây là điều rất tinh tế, và đây cũng
là lần đầu tiên môn Tâm lý Đạo đức được giảng dạy
cho các tu sĩ.
Hành
vi bên ngoài chỉ là hình thức mà thôi. Có người chỉ làm
một điều tốt để gọi là không vi phạm, nhưng kỳ thực
bên trong đầy xấu xa, tội lỗi. Có người nhìn hành vi bên
ngoài dường như đang sai, nhưng bên trong lại là tâm tốt.
Tâm lý Đạo đức là vấn đề rất phức tạpï, có thể
học đến suốt đời chúng ta cũng không hiểu hết mọi vấn
đề thuộc lĩnh vực này. Bởi vậy, cả một đời tu hành,
cả một đời làm việc, chúng ta phải cố gắng học hỏi
và nghiên cứu để bổ sung, hoàn chỉnh Tâm lý Đạo đức
của mình. Trong việc dạy đệ tử và tu hành nội tâm, chúng
ta phải để ý từng chút, từng chút, để ý trong tâm
sâu thẳm. Vì đạo Phật là đạo của tâm, và chúng ta dạy
đệ tử phải nhìn đến tận tâm, đừng bao giờ chỉ nhìn
ở hành vi bên ngoài. Đó là trí tuệ, là bản lĩnh của người
tu. Có những việc, nhìn bên ngoài có lỗi, nhưng thực ra bên
trong không có lỗi. Nếu chúng ta cứ nhìn bên ngoài để khiển
trách, tự nhiên người ta sẽ không phục vì họ biết chúng
ta trách sai, biết chúng ta đánh giá sự việc một cách hời
hợt.
Nếu
là Sư huynh có trách nhiệm trong chùa, khi sư đệ có lỗi,
chúng ta cũng phải rầy la. Đây là chỗ hết sức cẩn thận.
Nếu ngang hàng với nhau, khi góp ý với nhau đã cần có
tình thương yêu thì khi làm Sư huynh, muốn trách mắng
sư đệ, chúng ta cũng phải có tình thương yêu. Không có tình
thương yêu thì sư đệ không phục, không nghe lời mình. Đó
là lý do tại sao bài Tâm lý Đạo đức đầu tiên chúng
ta học là bài Tâm từ. Tâm từ bi là tâm căn bản. Không
tu được tâm từ bi thì vô lượng, vô số công hạnh sau này
chúng ta không làm được. Ngay đến việc chỉ lỗi chúng
ta cũng không thực hiện được.
Khi
chỉ lỗi người khác, chúng ta cần lưu ý một điều là phải
kín đáo, không được bực dọc chỉ trích, rao lỗi của người
ra ngoài. Đó cũng là nguyên tắc. Vì người xuất gia hay người
cư sĩ chỉ quyết tâm tu hành, chỉ được thúc đẩy, khuyến
khích khi thấy những tấm gương tốt. Khi nghe nhiều chuyện
xấu của người xuất gia, cư sĩ sẽ thoái tâm. Nhất là trong
hoàn cảnh khó khăn, người ta rất cần sự động viên, sự
khuyến khích của người khác. Chúng ta nên đem lại cho họ
niềm tin yêu vào cuộc sống, con người. Một khi tin rằng
trên đời này vẫn còn nhiều người tốt, vẫn có những
tấm gương Đạo đức cao cả, họ sẽ vượt qua được những
kho ùkhăn trở ngại trứớc mắt.
Câu
chuyện về một nữ Phật tử bị tàn phế sau một tai
nạn xe lửa khiến nhiều ngươiø xúc động. Cô là người
hiểu biết nhưng rủi ro bị xe lửa cán đứt hai chân. Một
lần, khi qua đường rầy, tự nhiên cô bị vấp té, không
đứng dậy được, không nhúc nhích được trong khi xe lửa
đang lao tới. Xe lửa đã cán qua người cô khiến cô mất
đôi chân, phải đi bằng đôi chân giả. Cô vô cùng đau khổ,
vì cánh cửa bước vào tương lai của đời cô đang mở ra
phơi phới, bỗng dưng đóng sầm lại khi thân hình bị tàn
phế. Nhưng điều kì diệu là người con gái đó không ngã
gục trước bất hạnh của cuộc đời mình. Sau khi nghe băng,
đọc sách, hiểu ra được nhiều điều, cô bắt đầu làm
việc từ thiện. Cô đến thăm một trường mù và thấy
rằng những người này còn bất hạnh hơn mình. Người mù
thường chỉ tiếp xúc với thế giới bên ngoài qua việc đọc
sách bằng chữ nổi. Nhưng sách chữ nổi khó in nên rất hiếm.
Không tiếp xúc được với thế giới bên ngoài, tâm tư họ
bị trầm uất, mặc cảm, nhiều người bị điên, người
mù rất dễ bị điên. Cô hiểu điều đó và đã đọc chuyện
vào băng Cassette mang đến cho họ. Nhờ đó, những người
mù cảm thầy đỡ buồn hơn, đỡ cô đơn hơn. Khi đem lại
được niềm vui cho người khác, nỗi buồn trong cô cũng
đột nhiên tan biến. Cô quên rằng mình là một người
tật nguyền và sống rất vui vẻ, hồn nhiên. Câu chuyện về
cuộc đời một cô gái vượt lên số phận, tự hoá giải
nỗi buồn của mình bằng cách đem niềm vui đến cho những
người bất hạnh đã được báo chí ca ngợi khiến nhiều
người cảm phục. Khi đọc báo, nhiều sinh viên đã viết
thư bày tỏ lòng cảm phục với cô và cũng muốn làm
việc từ thiện như vậy.
Người
ta cũng chỉ xúc động, muốn làm việc thiện khi thấy những
tấm gương tốt. Bởi vậy, trong cuộc sống, mỗi người nên
đi tìm những tấm gương tốt xung quanh mình để kể lại
cho người khác nghe. Cảø bản thân chúng ta cũng phải hoàn
thiện tu hành, để lại tấm gương tốt cho đời.
Câu
chuyện về một cô giáo đạt danh hiệu giáo viên “Dạy giỏi
nhất nước Mỹ” cũng đáng được xem là tấm gương sáng
về lòng tận tụy, về sức chịu đựng và vượt lên khó
khăn trong cuộc sống mà mỗi chúng ta phải noi theo. Cô giáo
ấy là người Việt Nam nhưng đang định cư tại Mỹ. Cô vốn
theo đạo Thiên Chúa nhưng chồng cô là người theo đạo Phật.
Chính vì tu đúng theo lý tưởng của đạo Phật nên người
chồng đã thuyết phục được cô sang với Đạo Phật.
Quáù
trình dạy học của cô rất vất vả. Nhưng nhờ tận
tụy và giàu tình yêu thương nên cô đã cảm hóa được học
sinh. Danh tiếng “dạy giỏi” của cô mỗi lúc được vang
xa. Không những dạy cho học sinh, cô còn dạy cho đồng nghiệp
của mình. Những thầy cô giáo không có kinh nghiệm đã tìm
đến cô để học hỏi.
Lúc
bấy
giờ, tại một bang ở Mỹ có một ngôi trường rất
lớn, có khoảng một trăm ngàn học sinh. Trong đó, có một
số học sinh bị gạt ra khỏi lề vì thuộc đối tượng phá
phách hư hỏng. Những học sinh ấy thường có nguồn gốc
từ Việt Nam, Lào, Phi Châu, Nam Mỹ... Phần lớn, chúng không
rành tiếng Anh lại không chịu học nên hư hỏng. Nhà
trường cho chúng học trong những chiếc thùng xe. Còn
những tòa nhà lớn dành cho những học sinh ngoan. Vì những
học sinh ấy quá hư hỏng nên không giáo viên nào dạy
được. Trường phải thuê giáo viên dạy theo giờ, dạy
được giờ nào nhận thù lao giờ đó. Có người dạy giờ
đầu rồi không dám dạy giờ sau nữa. Ông Hiệu trưởng nghe
tiếng cô và đích thân đến mời. Hai vợ chồng đắn đo
suy nghĩ, cuối cùng người chồng khuyến khích cô nhận
lời. Khi tới trường, cô đã thấy hai xe cảnh sát đậu ở
đấy. Cảnh sát phải có mặt thường xuyên bởi bọn
học sinh này đi học mang theo cả súng, cả dao. Khi vào trường,
cô thấy chỗ này đứng một cặp, chỗ khác đứng một
cặp, chúng ôm hôn nhau rất tự nhiên. Bước vào lớp, cô
còn chứng kiến nhiều cảnh tượng ghê gớm hơn nữa. Chúng
nó thường đánh nhau, đâm chém lẫn nhau. Thỉnh thoảng, cảnh
sát phải chạy vào can thiệp. Đó là chưa kể cảnh con gái
ngồi học trong lớp vạch ngực ra, gác chân lên bàn. Không
khí lớp học thật đáng sợ.
Cô
đề nghị với ông Hiệu trưởng:“ Cho tôi một lớp học
chính thức nơi tòa nhà, chứ không được học nơi thùng xe”.
Ông
Hiệu trưởng nói:“Bà yêu cầu điều gì chúng tôi làm điều
đó”.
Lớp
học lâu ngày không dọn dẹp nên rất bẩn, cô phải tự quét
dọn, lau chùi. Thấy cô làm, bọn chúng hỏi :“ Cô làm để
làm gì” ? Cô trả lời: “ Lớp học cũng giống như cái
nhà của mình, mình phải chăm sóc cho nó”. Cô chỉ nói như
vậy, nhưng bọn chúng thấy có lý nên mỗi đứa phụ một
tay, lớp học trở nên sạch, đẹp, mát mẻ. Trong quá trình
dạy, cô thương yêu và tôn trọng học sinh nên đã cảm
hóa được chúng. Và bọn trẻ bắt đầu học.
Vài
hôm sau, một đứa học sinh người Mỹ vào lớp học.
Việc làm đầu tiên của nó là gác chân lên bàn nằm ngủ.
Ba ngày liên tiếp như thế không thấy ai nói gì, đến ngày
thứ tư, nó không ngủ nữa và bắt đầu quậy. Nó la hét
um sùm để người ta chú ý.
Cô
hỏi nó: “Em từ đâu tới ?”
Nó
trả lời : “ Trong tù mới ra”.
Cô
hỏi : “Em đi tù vì tội gì ?”
- Ăn
cướp có súng- Nó lạnh lùng trảlời.
Mình
mẩy nó được xăm từ đầu tới chân. Vậy mà cô thuyết
phục được. Nó bắt đầu chịu học và trở thành người
giữ trật tự trong lớp. Đang học, ai nói chuyện, nó quay
qua chỉ mặt: “im lặng”.
Cô
rất kiên trì dạy dỗ, học trò giỏi lên trông thấy.
Khi phát hiện em nào tiến bộ, cô chuyển qua lớp khác
ngay, không giữ lại lớp mình nữa. Những học sinh được
chuyển qua lớp khác đều trở thành học sinh giỏi. Rồi cũng
có nhiều em đậu vào những trường Đại học nổi tiếng.
Tên tuổi của cô được nhiều người biết đến. Năm đó,
nước Mỹ chọn được 300 giáo viên giỏi trong toàn Liên
bang, sau đó chọn lại còn 60 người. Họ quay cách giảng
dạy của từng giáo viên, chọn đi chọn lại còn được 36
người và mời 36 người đó gặp mặt tại thủ đô Washington.
Trước khi gặp mặt, họ gởi cho mỗi người một cuốn băng
vidéo để biết được 35 người kia. Theo qui định, trong hội
nghị, mỗi người chỉ có ba phút để nói về đường lối
giảng dạy, giáo dục của mình.
Lúc
đầu, cô nói bằng tiếng Việt Nam:“ Kính chào quý vị, tôi
rất hân hạnh được gặp quý vị ở đây”. Mọi người
không hiểu gì cả.
Sau
đó, cô nói bằng tiếng Mỹ: “ Quý vị có hiểu tôi nói
gì không?”
Mọi
người lắc đầu cười.
“Bây
giờ tôi nói chậm lại quý vị có hiểu không ?”
Mọi
người cũng lắc đầu cười.
Cô
nói rằng: “Nhiệm vụ của tôi là như vậy. Nhiệm vụ của
tôi là giúp những em học sinh không nắm được ngôn ngữ
của Mỹ, trở nên mặc cảm và bị ruồng bỏ khỏi xã
hội Mỹ được hội nhập vào xã hội Mỹ, trở thành học
sinh giỏi và trở thành công dân lợi ích cho nước Mỹ”.
Cả
hội trường vỗ tay vang dội và nói rằng: “ Những điều
cô nói ngắn ngủi đã làm cho cô đứng ra khỏi chúng tôi”.
Trong tiếng Anh chữ outstanding dịch là xuất chúng, nghĩa là
đứng ra ngoài. Và cô được 35 người còn lại nhất trí
bầu chọn là “ Giáo viên giỏi nhất”. Chính Tổng Thống
Mỹ đã trao cho cô phần thưởng cao quí đó. Đây là một
niềm vinh dự lớn đối với một giáo viên như cô.
Để
có được một câu chuyện cho chúng ta kể trong năm phút, người
ta phải cố gắng từng giờ, từng phút, từ năm này qua năm
khác, thậm chí phải phấn đấu cả cuộc đời mình. Bởi
vậy, chúng ta nên biết ơn những người đã làm nên những
“Huyền thoại” cho cuộc đời vì họ phải chịu đựng
khó khăn, phải nỗ lực biết bao nhiêu mới làm được điều
đó.
Câu
chuyện của ngài Hư Vân đi triền sơn ở núi Ngũ Đài cũng
vậy. Cứ ba bước Ngài lạy một lạy, đi suốt mấy năm trời
mới tới được núi. Khi nghe câu chuyện của một vị Thiền
sư, đi ba bước lạy một lạy, lạy Bồ Tát Văn Thù, người
có trí tuệ sẽ luôn băn khoăn: Tại sao cũng là một con người
mà họ có tâm dõng mãnh đến như vậy, có tâm thiết tha tôn
kính Phật đến độ như vậy? Tại sao ta cũng là con người
mà không thể hiểu được, không thể làm được điều gì
tốt đẹp ? Có băn khoăn, tự chất vấn mình như vậy, chúng
ta mới có ý thức vươn lên, phấn đấu để đạt được
những điều tốt đẹp.
Khi
nghe những câu chuyện tốt, chúng ta được khuyến khích, được
sách tấn. Trí tuệ sâu chừng nào, chúng ta sẽ nhận
được bài học Đạo đức sâu chừng ấy. Nếu nghe kể những
chuyện tốt, mà vẫn hời hợt, chúng ta sẽ không được lợi
ích bao nhiêu và cũng không bao giờ tiến bộ.
Không
nói lỗi của huynh đệ mình, nhưng chúng ta phải khéo léo
nói chuyện tốt của huynh đệ ra ngoài, phải nêu thành tấm
gương cho mọi người cùng noi theo. Đối với lỗi lầm của
người thân, của huynh đệ, ông bà ta thường dạy :“đóng
cửa dạy nhau”. Nhưng muốn làm công đức chỉ lỗi người
khác, chính mình phải tu sửa rất nhiều. Khi xét được lỗi
mình một cách sâu sắc, chúng ta sẽ thấy được lỗi người
khác sâu sắc hơn. Chỉ khác một điều là thay vì chỉ trích
gay gắt, chúng ta nói bằng lòng thương yêu. Và khi sâu sắc
chỉ lỗi người khác, phước của chúng ta sẽ rất lớn.
Vì ta đã làm cho Phật pháp được hưng thịnh trở lại.
5.
PHẢI TINH TẾ XÉT TÂM MÌNH
a.
Hiện nay, tình trạng đạo đức của Tăng Ni khắp nơi đang
được các bậc tôn túc quan tâm lo lắng. Mỗi người chúng
ta phải làm một chiến sĩ, một sứ giả phụ giúp cho các
vị tôn túc trong việc làm cho Tăng Ni bớt lỗi lầm. Chúng
ta phải có tâm nguyện đó, phải có lý tưởng đó. Nhưng
phải luôn luôn thấy lỗi của mình trước, phải thấy lỗi
của mình một cách tinh tế từ khi mới manh nha. Đó là trí
tuệ trong việc tu hành.
Ví
dụ khi nghe một huynh đệ nặng lời với mình, chúng ta có
thể rơi vào những trạng thái tâm lý khác nhau. Trước hết,
chúng ta có thể nổi sân, giận và cự nự lại ngay. Đó là
cái sân thô, người ngoài nhìn vào sẽ thấy ngay.
Trường
hợp thứ hai, chúng ta giận nhưng im lặng, quay lưng đi để
không bộc lộ thái độ ra bên ngoài. Đó là cách cư xử của
người biết tu. Tuy nhiên, dù sao chúng ta cũng có tâm lý tức
giận mặc dù đã kiềm chế. Chúng ta vẫn thấy cái giận
của mình rất nặng, nghĩa là chúng ta đã thấy lỗi
của mình, nhưng hơi chậm.
Trường
hợp thứ ba, khi bị công kích, chúng ta thoáng giận. Cái giận
chỉ thoáng qua nhẹ nhàng trong một sát na, nhưng chúng
ta vẫn phải thấy được nó, vẫn biết đó là lỗi. Người
tu thấy đến như vậy mới là người biết tu.
Trong
cuộc sống tu hành, có những lỗi thoáng qua rất nhanh. Nếu
vẫn kiểm soát được, chúng ta là người tu tốt. Khi
đã đạt được điều này, chúng ta sẽ rất sâu sắc khi
chỉ lỗi cho người khác.
b.
Tinh tế xét tâm mình sẽ đưa đến kinh nghiệm dễ nhìn thấy
lỗi người. Nhưng chúng ta phải cẩn thận đối với
tâm muốn chỉ trích do ngã chấp thúc đẩy. Khi có kinh nghiệm
tu hành, gặp người khác có lỗi, chúng ta sẽ không sửa lỗi
hời hợt bên ngoài mà sẽ chỉ đúng cái gốc nơi tâm của
họ. Thấy được cái gốc, người ta dễ vượt qua khỏi lỗi
lầm, và chúng ta rất có phước. Bởi vậy, chúng ta phải
cố gắng tu để giúp người khác vượt qua lỗi lầm bằng
chính tâm thương yêu của mình chứ không vì ngã chấp.
6.
HÌNH THỨC THỈNH NGUYỆN, PHÁT LỒ, SÁM HỐI RẤT CẦN THIẾT.
Trong
chùa nên có hình thức phát lồ, sám hối. Mỗi nửa tháng
hoặc một tháng, từng người ra trước chúng nói lên lỗi
lầm của mình để quý Thầy lớn phân tích nguyên nhân và
đưa ra những lời khuyên, giúp người có lỗi vượt qua lỗi
lầm. Mỗi người chỉ nên tự nói lỗi của mình, đừng
góp ý người khác. Vì góp ý công khai như vậy sẽ rất
nguy hiểm. Người ta sẽ tự ái và bản thân người góp ý
cũng bị tổn phước.
Ví
dụ thấy huynh đệ có lỗi, muốn cho người đó đến kỳ
ra sám hối trước đại chúng, chúng ta chỉ nên gợi ý trước
buổi phát lồ để họ tự nói ra, không nên nói trong buổi
phát lồ. Các Thầy lớn sẽ bình tĩnh nghe người kia phát
lồ lỗi lầm của mình và sẽø phân tích. Người kia sẽ
vượt qua được bằng tâm từ ái thương yêu.
Phát lồ có công đức rất lớn. Khi có lỗi, chúng ta nói
cho mọi người biết, lỗi sẽ tự nhiên biến mất. Nếu
chân thành xin lỗi và cố gắng vượt qua, mọi người sẽ
thương mến ta hơn. Nếu giấu lỗi, chẳng những lỗi của
ta vẫn tồn tại, mà còn làm cho người khác ghét mình hơn.
Có ba điều để vượt qua lỗi lầm. Đó là phát lồ, lễ
Phật và tích cực công quả tạo phước. Khi mắc phải
lỗi lầm, tổn hại cho đại chúng, tổn hại cho Phật pháp,
chúng ta phải làm những việc công quả để bù lại
lỗi lầm của mình, dứt khoát không được bỏ qua.
Trong
Góp nhặt cát đá có một câu chuyện rất hay, rất cảm động.
Đó là câu chuyện Con đường hầm.
Một
kiếm sĩ vì muốn đoạt vợ của người khác nên đã
giết người chồng. Ông ta dắt người vợ đi nơi khác. Sau
đó, thấy người đàn bà này không tốt nên ông đã bỏ bà
ta. Ông hối hận và tìm cách chuộc lại lỗi lầm của mình.
Lúc bấy giờ, thấy người từ hai tỉnh muốn qua
lại phải vượt qua một ngọn núi, đường đèo nguy
hiểm, chỉ cần sẩy chân là không cứu được, ông phát tâm
đục đường xuyên núi. Cứ ban ngày đi xin ăn, ban đêm
ông đục núi, ròng rã không biết bao nhiêu năm. Cho đến một
hôm, người con trai của ông quan bị ông ta giết trước kia
tìm đến, rút kiếm ra thách đấu để trả thù. Anh ta nói:
“Ta không giết người sau lưng, hãy rút kiếm ra đấu với
ta”.
Ông
này nói rằng:“ Ta sẽ dâng mạng sống cho anh, nhưng hãy cho
ta đục xong con đường hầm này”. Người thanh niên nghĩ
đi, nghĩ lại thấy hợp lý nên đồng ý. Thời gian chờ đợi
kéo dài. Chờ hoài cũng nản nên anh ta phụ ông đục đường
hầm cho nhanh. Hai người đục ròng rã bao nhiêu năm, cuối
cùng con đường hầm cũng được thông suốt, người dân qua
lại dễ dàng. Lúc đó, ông già ngồi xuống và nói: “
Đầu của ta đây, anh hãy cắt đi !”. Người thanh niên quỳ
xuống, ôm ông già như ôm người Thầy của mình và nức
nở: “Thầy ! Làm sao con cắt đầu Thầy được”.
Người
thanh niên trong thời gian đục đường hầm với ông già đã
cảm phục tư cách của ông, một người vừa làm được việc
phước để xóa tan lỗi lầm cũ, vừa có tư cách đạo đức.
Anh ta nhận ra đây mới thật sự là người Thầy của mình.
Từ vị trí là một kẻ thù, người đàn ông ấy đã biến
thành một vị Thầy đáng kính bởi ông đã làm được
công đức quá lớn lao….
Như
vậy, người Trụ trì phải giúp đại chúng thực hiện tốt
3 điều: Phát lồ, lễ Phật và công quả tạo phước trong
suốt quãng đời tu hành để giúp họ vượït qua những
lỗi lầm.
7.
NHỮNG ĐỐI TƯỢNG CẤM KỴ( Không nên chỉ trích)
Chúng
ta không nên chỉ trích những bậc Tôn túc có uy tín, những
người đang nổi lên trong Đạo tuy họ còn trẻ. Đối với
những vị Thánh của tôn giáo bạn, được tín đồ tôn thờ,
chúng ta cũng không nên chỉ trích.