KHIÊM
HẠ
Trên
con đường tu tập Phật Pháp, để đạt thành vô lượng công
hạnh, vô lượng công đức, chúng ta phải huân tập 3 tâm
hạnh căn bản quan trọng nhất. Từ 3 tâm hạnh này, vô số
pháp lành khác mới có thể xuất hiện tiếp theo được. 3
tâm hạnh đó là:
-
Thứ nhất là lòng tôn kính Phật
-
Thứ hai là lòng từ bi
-
Thứ ba là tâm khiêm hạ.
Ba
tâm hạnh này giống như 3 chân kiềng của một cái vạc, cái
đỉnh mà trên đó ta sẽ có thể đặt tiếp theo vô số những
báu vật khác của tiến trình tu tập.
Vô
số công hạnh khác như Nhẫn nhục, Vi tha, Trầm tĩnh, Bình
đẳng, Hoan hỷ vân vân… đều chỉ có thể thành tựu tốt
đẹp trên nền tảng của 3 tâm hạnh đó mà thôi.
1.
NGÃ MẠN LÀ BỆNH LỚN CỦA LOÀI NGƯỜI
Nếu
chúng ta kiên nhẫn tu hành, sẽ càng lúc thu thập được nhiều
công đức lành, tích lũy được nhiều thắng phước, rồi
dần dần đạt được nhiều thành công. Đó là điều chắc
chắn. Nghĩa là ngay từ ban đầu, chúng ta đã đi đúng hướng,
đã ít phạm sai lầm nên mới có kết quả tốt đẹp về
sau.
Nhưng
điều trớ trêu là từ những cái rất đúng rất đẹp đó,
một sai lầm xuất hiện. Đó là tâm kiêu mạn.
Tâm
kiêu mạn là một loại tình cảm thích thú, khoái trá, hả
hê, sung sướng khi thấy mình hơn người khác.
Chuyện
hơn thua nhau là chuyện bình thường ở trên đời. Có khi ta
hơn người, có khi người hơn ta. Khi ta hơn, ta vẫn biết là
ta hơn; khi người hơn, người vẫn biết là người hơn. Đó
là chuyện bình thường không có gì là sai trái. Điều nguy
hiểm chính là tình cảm khoái trá đi kèm theo đó. Sự
khoái trá đó gây cho người ta cảm giác hạnh phúc.
Nhiều
người còn bị ảo tưởng là mình vượt hơn người khác
trong khi thật sự thì thua kém rất nhiều. Nhưng khi tự cho
mình hơn người, một sự khoái chí, sung sướng cũng có mặt.
Mỗi
khi hưởng thụ niềm vui sướng hạnh phúc, chúng ta luôn luôn
bị hao tổn bớt phước mà mình đã gây tạo trong quá khứ,
đó là quy luật tất nhiên của Nhân quả. Nhưng có những
niềm vui không làm hao tổn phước bao nhiêu, ví dụ như cảm
giác hạnh phúc khi làm được việc từ thiện. Hoặc thậm
chí có loại niềm vui còn làm tăng thêm công đức, ví dụ
như ta vui mừng khi thấy người khác thành công hạnh phúc,
theo đúng Hỷ tâm trong Tứ vô lượng tâm.
Còn
lại, hầu hết sự thụ hưởng niềm vui đều làm tiêu hao
bớt phước trong quá khứ. Tuy nhiên, có một khoái cảm, mà
khi hưởng thụ nó, làm chúng ta thiệt hại không lường được,
đó là sự sung sướng khi cho rằng mình vượt hơn người
khác. Khoái cảm đó, ý nghĩ đó gọi là tâm kiêu mạn.
Ví
dụ như trong học tập, đôi khi chúng ta vượt trội hơn các
bạn cùng lớp; trong kinh doanh, đôi khi chúng ta thành công hơn
đồng nghiệp; trong nghệ thuật, đôi khi chúng ta được ái
mộ hơn nghệ sĩ khác; trong diễn giảng, đôi khi chúng ta thu
hút hơn các đồng đạo khác vân vân… Đó đều là những
chuyện bình thường trên thế gian này, vì cuộc đời vốn
đầy những cái chênh lệch hơn kém như thế. Nhưng đến khi
nào chúng ta xuất hiện một tình cảm của sự khoái trá thích
thú vì được hơn người khác, đó là lúc tai họa bắt đầu.
Tâm kiêu mạn đó trước hết sẽ phá vỡ những đức tính
tốt đẹp có sẵn trong lònh mình. Ví dụ trước đây ta là
người trầm tĩnh, nhưng sau một thời gian kiêu mạn, sự trầm
tĩnh đó sẽ biến mất, thay vào đó là sự hấp tấp, vụt
chạc, dễ nỗi nóng. Ví dụ trước đây ta là người hiền
lành, nhưng sau một thời gian kiêu mạn, ta sẽ trở thành người
ác độc. Ví dụ như trước đây ta sống đời thanh bai trong
sạch, nhưng sau một thời gian kiêu mạn, ta sẽ trở thành
người ô nhiễm, vân vân…
Sau
khi những đức tính tốt đẹp trong tâm biến mất, điều
chắc chắn là chúng ta sẽ bắt đầu làm nhiều điều bậy
bạ sai lầm để tổm phước trầm trọng. Ví dụ chúng sẽ
bắt đầu có thái độ hống hách khinh dễ người khác, hoặc
nộ nạt mắng chưởi, hoặc mưu mô thủ đoạn, hoặc sa đọa
đồi trụy…
Tiếp
theo việc hết phước là tài năng biến mất dần dần. Theo
luật Nhân quả, phước đức sinh ra tài năng. Phước hết,
tài năng sẽ mất theo. Một bài báo đăng trên Giác Ngộ với
tựa đề Sống thiền kể về một ni sư được
ngộ đạo trong một tu viện ở Đại hàn. Sau khi ngộ đạo,
ni sư liền bỏ dở trách nhiệm trông coi nấu bếp để ra
đi dù đã được sự khuyến khích của các vị tôn túc là
nên tiếp tục công quả cho hết thời hạn ấn định. Một
vị Bồtát cũng hiện ra trong giấc mơ cảnh báo rằng nếu
ni sư không công quả cho trọn vẹn công đức thì sau này không
thể thuyết pháp được. Nhưng ni sư đã bỏ qua tất cả lời
khuyên đó để ra đi. Và như dự đoán, ni sư đã không thể
thuyết pháp trong suốt cuộc đời mình dù rất có uy tín về
đạo hạnh.
Chuyện
khác Có một thầy tỳ kheo trẻ học kém so với đại chúng.
Vì biết mình học dở nên thầy rất siêng năng công quả.
Những việc khó khăn nặng nhọc trong chùa đều được thầy
xông pha gánh vác như đắp đường, bơm nước, kể cả may
quần áo cho huynh đệ. Sau này thầy có dự một khóa học
diễn giảng rồi về trụ trì một ngôi chùa ở miền Tây,
và bắt đầu đi thuyết giảng đây đó, rất được cảm
tình của Phật tử. Nhiều huynh đệ ngạc nhiên vì kết quả
bất ngờ này; trước đó ai cũng nghĩ thầy không thể nào
ngồi trên bục giảng.
Những
câu chuyện như thế chứng tỏ một quy luật của Nhân quả,
phước đã tạo ra tài. Chúng ta cứ siêng năng làm các việc
công đức rồi các công hạnh khác sẽ mở ra từ từ.
Ngược
lại, khi kiêu mạn xuất hiện thì những đức tính tốt khác
bị đánh vỡ; khi những đức tính tốt bị đánh vỡ thì
những nghiệp bất thiện sẽ được gây tạo; khi những nghiệp
bất thiện được gây tạo thì phước hết; khi phước hết
thì tài năng cũng biến mất theo. Đó là tiến trình tất nhiên
của tâm kiêu mạn.
Thế
là từ những thành công tốt đẹp, từ những khả năng đáng
quý, từ những ưu điểm nỗi bật, chúng ta sẽ khởi lên
tâm kiêu mạn. Và rồi tâm kiêu mạn đó sẽ đưa chúng ta
trở lại tầm thường như buổi đầu chưa có gì cả. Ngay
khi thành công, mầm mống của thất bại đã có mặt; ngay
khi tài giỏi, mầm mống của kém dở đã khởi động; ngay
khi được ưu điểm, mầm mống của khuyết điểm cũng sinh
ra. Đó là nghịch lý đau đớn, khiến chúng sinh khó lòng bứt
phá để vượt lên thành một vị thánh siêu thoát. Tất cả
chỉ bởi vì tâm kiêu mạn.
Hiểu
được điều này, chúng ta phải tu tập, phải chuẩn bị trước
tâm khiêm hạ rất kỹ lưỡng để đón chờ những thành công
đến với cuộc đời mình. Vì do phước đời trước, biết
đâu chúng ta cũng sẽ có những thành công đáng kể nào đó
trong đời. Bây giờ thì chưa có gì, nhưng ai biết được
ngày mai điều diệu kỳ nào sẽ tới. Nhưng nếu chúng ta không
đủ lòng khiêm hạ thì những thành công tương lai sẽ là
con đường dẫn đến địa ngục !
Những
triều đại vua chúa nối tiếp trong lịch sử cũng không ngoài
quy luật nghiệt ngã này. Thông thường các vị vua đầu tiên
là những người đi lên từ gian khó, biết sống khiêm tốn
vì xuất thân từ quá khứ tầm thường của mình. Chính lối
sống khiêm cung giữ mình nghiêm cẩn đó làm cho công đức
còn thành tựu. Nhưng đến những đời con cháu về sau vừa
mở mắt chào đời là đã được quỳ lạy, hầu hạ và lớn
lên trong sự tôn xưng của mọi người. Do sống trong môi trường
“độc hại” của sự cung kính đó từ bé nên các công
chúa hoàng tử dường như khó biết được cảm giác tầm
thường kém cỏi là gì, lúc nào cũng tự cho mình là người
trên kẻ trước. Họ bị buộc phải kiêu mạn. Vì kiêu mạn
nên những đức tính tốt đẹp của cha ông ban đầu không
còn tồn tại nữa. Triều đại đi dần đến chỗ suy tàn
vì những đời vua sau quá tệ hại.
Ví
dụ như vua Lý Thái Tổ khai sinh triều đại nhà Lý là người
văn võ song toàn, tài đức kiêm tu. Vua thông thạo binh thư
đồ trận, võ học, toán số, tướng số, y lý, văn chương.
Vua có thể phi thân qua mái nhà bình thường. Sư Vạn Hạnh
là một kỳ nhân phi thường, đã dạy cho vua đầy đủ những
khả năng của một lãnh tụ xuất chúng. Vì thế vua mới được
trọng dụng vào kinh đô chỉ huy toàn bộ quân giám vệ canh
giữ kinh thành trước khi được triều thần đưa lên ngôi.
Tài đức của vua đã làm tất cả triều đình thán phục,
nên khi vua Lê Ngọa Triều mất, triều thần buộc phải nghĩ
tới con người uy đức đường bệ, tài năng xuất chúng,
đạo đức cao cả này.
Muốn
hiểu được những nhân vật phi thường trong lịch sử, các
nhà sử học phải cực kỳ thông minh, hoặc phải có nhiều
khả năng gần giống như vậy. Tiếc thay, các nhà sử học
khi tái hiện hình ảnh của các vĩ nhân thường không hiểu
đầy đủ như thế, chỉ bởi vì họ không hề biết các môn
học mà người xưa đã am tường giỏi giắn, họ chỉ sở
trường về văn chương viết lách mà thôi.
Những
đời vua kế theo cũng còn giữ được cái đức của Lý Thái
Tổ trong tài năng và tu tập Phật Pháp nên được toàn dân
tin yêu. Đến đời Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông do hết phước
nên bị Trần Thủ Độ cướp ngôi. Nhưng một số vương tử
chạy thoát qua Cao ly cũng gây nên những công nghiệp hiển
hách, đã từng giúp Cao ly đánh bại quân Mông cổ. Lúc đó
người Việt chúng ta đã thắng quân Mông cổ tại 2 nơi, một
tại quê hương mình, một tại Cao ly; có người còn làm đến
tể tướng Cao ly.
Triều
đại nhà Trần cũng vậy, những vị vua đầu tiên cực kỳ
giỏi và mộ Phật Pháp không kém các vua nhà Lý. Vua Lý Thái
Tông quả thật là một thiền sư cư sĩ, đã để lại những
tác phẩm thiền học, Phật học giá trị. Vua Thánh Tông, Nhân
Tông sống như thánh. Riêng vua Nhân Tông đã xuất gia để
trở thành sơ tổ của thiền phái Trúc lâm Yên tử. Nhưng
những đời vua sau thì kém dần, cuối cùng bị Hồ Quý Ly
cướp ngôi, như cách Thủ Độ đã đối xử với nhà Lý.
Riêng
triều đại nhà Trần đã xuất hiện một Trần Quốc Tuấn
vô cùng kiệt hiệt. Ông đã lãnh đạo quân đội một cách
xuất sắc để đánh bại quân đội Mông cổ 3 lần, giữ
gìn vẹn toàn bờ cõi. Cũng như các hoàng thân khác của nhà
Trần, Quốc Tuấn cũng tinh thông võ nghệ, binh thư, đồ trận,
và cũng hâm mộ Phật Pháp. Các vương tử nhà Trần và nhà
Lý đều giống nhau ở chỗ rất sở trường về “nội lực”,
một công phu đặc biệt của võ học nhằm tạo nên sức mạnh
lạ thường, rất giống với Thiền và Yoga. Chính công phu
Nội lực này đã tạo thành tinh thần bất khuất của tướng
sĩ bấy giờ, bên cạnh phong cách hiền lành của đạo Phật.
Lớn tuổi, việc nước đã yên, Ông bèn đi chuyên sâu về
Thiền định.
Đạo
Phật cũng không ra ngoài quy luật đó. Vào những giai đoạn
Phật Pháp hưng thịnh, từ vua tới quan đều mộ đạo và
tôn trọng Tăng Ni. Các chùa thường xuyên được lễ bái cúng
dường. Tu sĩ là lớp người được nhiều ưu đãi. Sống
trong một không khí mà đi tới đâu cũng được mọi người
cung kính, lễ bái, tôn sùng thì chỉ có thánh mới giữ được
tâm bất động, còn lại đa phần đều phải thích thú tự
hào, và đi dần đến kiêu mạn. Nhưng dù sao nếu từ lúc
bắt đầu vào chùa mà người tu được rèn luyện kỹ càng
về tâm khiêm hạ thì cũng không đến nỗi bị sự cung kính
của mọi người làm cho kiêu mạn quá đáng. Nhưng tiếc rằng
một thời gian dài, các chùa không biết chuẩn bị cho người
mới tu tâm khiêm hạ, nên trong hoàn cảnh thuận tiện được
nhiều ưu đãi, người tu bị tâm kiêu mạn đánh gục.
Các
vị chân sư đầu tiên thường là người có đạo hạnh cao
cả, mở mang Phật Pháp khiến cho từ quan tới dân đều ngưỡng
mộ kính trọng. Những tu sĩ về sau không có gì đặc sắc
nhiều nhưng vẫn được hưởng lây sự ưu đãi đó, nên dễ
dàng sinh tâm tự tôn kiêu mạn.
Khi
đã kiêu mạn rồi thì, như đã biết, các đức tính của
người tu đó mất dần, các nghiệp bất thiện được gây
tạo dần, và Phật Pháp cũng vì thế mà tuột dốc theo. Lúc
đó ta sẽ thấy các tu sĩ thường là người tham lam, ích kỷ,
giành giật, nói xấu lẫn nhau, vu khống qua lại, tính toán
hơn thua, phạm hạnh khuyết lở…. Những năng lục tâm linh
của người tu cạn kiệt dần. Mọi người nhìn vào càng lúc
càng cười chê, gièm pha, hủy báng chung cả Phật Pháp. Đó
là giai đoạn Phật Pháp thật sự đi vào giai đoạn suy vong
nguy hiểm.
Lúc
đó có thể có một vị Bồtát nào đó ở trên cõi trời
thấy như vậy, động tâm phát nguyện sinh xuống cõi người
để chấn hưng lại, và Phật Pháp sẽ được tạm thời hưng
thịnh lần nữa. Chúng ta may mắn là còn có những vị Bồtát
luôn theo dõi tình trạng Phật Pháp để ra tay cứu giúp.
Tình
trạng Phật Pháp hiện nay chưa hẳn là suy, cũng chưa hẳn
là hưng. Chưa suy vì ta còn thấy nhiều người theo Phật, còn
thấy chùa chiền tiếp tục phát triển, giáo pháp còn được
tuyên giảng đây đó. Nhưng cũng chưa hưng vì tu sĩ vẫn chưa
chiếm được niềm tin yêu mạnh mẽ của quần chúng, vẫn
còn chia rẽ nói xấu lẫn nhau.
Đạo
Phật ngày nay chưa được diễm phúc như ngày xưa là được
vua chúa tôn thờ, quan lại ngưỡng mộ. Các tu sĩ có người
tốt và cũng có người xấu, mà lẽ ra tỉ lệ người chân
tu phải chiếm đại đa số mới đúng. Đây đúng là tình
trạng lửng lửng lơ lơ.
Trách
nhiệm của Tăng Ni Phật tử hiện nay là phải làm sao cho Phật
Pháp hưng thịnh trở lại rõ rệt, phải chấm dứt tình trạng
lửng lơ nửa vời này. Trách nhiện này rất khó khăn nặng
nề, nhưng còn có thể làm được chứ chưa phải là lúc Phật
Pháp suy đồi hẳn. Khi Phật Pháp đã suy đồi thì chỉ có
Bồtát mới xuất hiện vực dậy nỗi, chứ chúng ta không
đủ sức.
Nhưng
muốn phát huy Phật Pháp, chúng ta phải bắt đầu từ nơi
chính mình trước, chứ không phải bắt đầu xây chùa trước.
Chúng ta không nên sốt ruột đi vận động nơi này nơi kia
vội mà nên âm thầm tu dưỡng đạo đức nơi chính mình trước.
Nhiều ngày tháng tu dưỡng Đạo đức và Tâm linh sẽ khiến
ta có năng lực kỳ lạ để thuyết phục mọi người tu hành
chân chính trở lại. Khi đó mỗi lời ta nói ra nặng như núi,
mạnh như bão tố, cuốn hút như xoáy nước sâu khiến nhiều
người phải thức tỉnh.
Càng
lúc càng có nhiều người thức tỉnh tu hành chân chính thì
đạo Phật bắt đầu hưng thịnh dần dần trở lại. Đó
là con đường đúng đắn nhất.
Người
nào đã từng vất vả đấu tranh với lầm lỗi của mình,
thanh lọc nội tâm mình, biết tôn trọng mọi người, giữ
gìn tâm khiêm hạ, tự xem mình như cát bụi cỏ rác,
trải lòng thương yêu muôn loài, âm thầm thiền định nhiếp
tâm… sẽ tạo thành một cái gọi là đạo lực. Từ đạo
lực này, những người nghe ta nói đều bị lay động dữ
dội, không thể ngồi yên nữa, và phải bước tới. Thiếu
đạo lực, người nghe sẽ nhàm chán dần, vì mơ hồ biết
rằng người nói chỉ lập lại suông cái gì đã học chứ
không thực hành trước.
Người
có kinh nghiệm thực hành sẽ hiểu biết đường đi nước
bước cặn kẽ hơn, và đương nhiên sẽ trình bày vấn đề
kỹ lưỡng chi tiết hơn, do đó người nghe dễ hiểu hơn.
Người không thực hành nói quanh co một hồi không dính dáng
vào thực tế để có thể giúp người nghe biết cách thực
hành theo.
Ví
dụ khi ta nói về lòng Từ bi, nếu đã có thực hành trước,
tự nhiên người nghe cảm nghe một sức mạnh thương yêu truyền
sang và buộc họ phải thương yêu tiếp tục truyền sang người
khác nữa. Nếu người nói không thực hành, người nghe không
thấy cảm động và không cần phải thương yêu ai nữa.
Ngay
cả người tu sĩ cũng vậy, nếu nghe giảng từ những tâm
hồn rỗng thì cũng không muốn thực hành. Vì vậy, muốn cho
Phật Pháp hưng thịnh, mỗi người chúng ta phải tu hành siêng
năng kỹ lưỡng hơn rất nhiều. Mà việc tu hành phải bắt
đầu bằng cách xét lỗi của mình trước. Trong các lỗi về
Đạo đức, kiêu mạn là cánh cửa đầu tiên mở đường
vào cõi quỷ.
Những
yếu tố khiến ta kiêu mạn
Một,
hơn người khác về tài năng. Đây là nguyên nhân chính đưa
đến kiêu mạn rõ rệt nhất. Thông thường thì người có
tài vượt hơn người khác dễ được kính trọng nhất, vì
vậy người ta hay tranh hơn nhau về tài năng để chiếm được
sự ngưỡng mộ thán phục của mọi người. Người có tài
rồi thì bị sự khoái trá của cảm giác hơn người chiếm
lấy tâm hồn. Đó chính là kiêu mạn vì tài năng.
Ví
dụ cùng là ca sĩ, người này dễ bị cảm giác là mình ca
hay nhất; trong họa sĩ cũng bị cảm giác tranh mình đẹp nhất.
Ngay cả giảng sư Phật học cũng vẫn có ý nghĩ là mình giảng
hay nhất.
Vì
vậy người có tài phải biết diệt trừ kiêu mạn, biết
tôn trọng mọi người, lúc nào cũng mong sao cho mọi người
giỏi hơn mình.
Hai,
hơn người về địa vị, hoặc bằng cấp. Người có chức
quyền lớn hơn thì đương nhiên phải được nhiều người
vâng lời hơn, kính trọng hơn. Chính vì thường xuyên được
nhiều người kính trọng vâng lời nên kẻ có địa vị lớn
dễ bị kiêu mạn vì chức vụ của mình. Ví dụ một người
là chủ tịch sẽ bị ý niệm chủ tịch đeo đẳng tâm hồn
mình mỗi khi tiếp xúc với người, không quên được. Đúng
ra chỉ nên nhớ tới trách nhiệm chủ tịch mà mình phải
gánh vác hơn là nhớ đến địa vị chủ tịch đó. Có nhiều
người lãnh đạo quốc gia mà thái độ rất khiêm hạ chỉ
bởi vì họ biết quên địa vị khi tiếp xúc với mọi
người.
Ba,
hơn người về tuổi tác. Hầu hết mọi người đều bị
kiêu mạn về tuổi tác, trừ những người chết non. Theo tập
quán Á đông, người nhỏ tuổi phải biết kính trọng người
lớn tuổi. Đây là nét văn hóa đẹp của Á đông. Riêng Việt
Nam, để bày tỏ lòng kính trọng, chúng ta còn có rất nhiều
đại từ để phân biệt người trên người dưới rõ ràng.
Và
như thế, khi còn nhỏ, số người lớn tuổi như ông bà cô
chú bác anh chị để chúng ta kính trọng đầy khắp chung quanh.
Do đó, vô tình chúng ta thành tựu tâm khiêm hạ, mà khi có
tâm khiêm hạ, chúng ta sẽ thành tựu nhiều công đức lành
về sau. Đến khi lớn dần lên, người lớn để ta kính trọng
chết dần, người nhỏ hơn như con cháu em út phải kính trọng
ta sinh ra nhiều thêm. Ta bước dần vào một môi trường được
kính trọng, ngược hẳn với lúc nhỏ. Đây chính là lúc nguy
hiểm vì khi “bị” kính trọng nhiều như thế, chúng ta sẽ
rơi vào cảm giác khoái chí của kiêu mạn lúc nào không hay.
Ta bị đẩy vào kiêu mạn mà mình không hề muốn. Và như
đã nói, kiêu mạn làm hư hỏng tâm hồn nhanh chóng.
Ngạn
ngữ Việt Nam có câu: Già sinh tật, đất sinh cỏ, là do ông
bà ta đúc kết từ kinh nghiệm cuộc sống thực tế. Ông bà
ta thấy sao ai lớn tuổi rồi tự nhiên khó tính cáu gắt,
hờn giận, bèn gọi là già sinh tật, mà không hiểu tại sao,
bèn cho rằng chuyện già sinh tật cũng tự nhiên như đất
sinh cỏ vậy thôi. Thật ra sinh tật là dấu hiệu tâm hồn
bị hỏng, bởi kiêu mạn. Khi chưa bị kiêu mạn bởi tuổi
tác, chúng ta dễ là người độ lượng, tha thứ, từ tốn
dễ thương. Khi có kiêu mạn vì tuổi tác rồi, những đức
tính dễ thương hồi trẻ mất dần, chúng ta bắt đầu xuất
hiện thái độ hay cự nự, nằm bỏ cơm không ăn, trách móc
hờn dỗi đủ chuyện làm con cháu khổ sở.
Để
tránh bệnh sinh tật lúc già đó, chúng ta phải chuẩn bị
tu tập tâm khiêm hạ ngay từ bây giờ, nếu không về già
làm khổ con khổ cháu.
Ngay
cả người tu sĩ cũng vậy, tuổi đạo càng lớn càng dễ
bị kiêu mạn vì hạ lạp. Lễ nghi cung kính trong đạo Phật
còn kỹ lưỡng hơn ngoài đời rất nhiều nên người mới
tu buộc phải có thái độ rất mực tôn trọng người tu lâu.
Và quy luật tâm lý khắc nghiệt đó cũng không buông tha ai
cả. Người tu lâu cũng sẽ bị kiêu mạn, thậm chí còn nặng
hơn người đời, vì tuổi tác trong đạo, nếu người này
không tu tập sâu sắc tâm khiêm hạ.
Thật
ra phải tu chứng đến Alahán mới bứng hết gốc rễ của
kiêu mạn, theo như Phật nói. Tu đến quả vị Anahàm thứ
ba mà mạn trong 5 hạ phần kiết sử cũng còn. Phải chứng
hẳn Alahán mới hết hẳn cái kiết sử mạn đó. Do đó bây
giờ tuy chưa chứng Alahán, nghĩa là chưa hoàn toàn hết kiêu
mạn, nhưng chúng ta khéo tu tập tâm Khiêm hạ cũng có thể
kềm giữ tâm ý mình để không tạo nghiệp khoe khoang hay khinh
thường người khác.
Bốn,
khi được người tôn trọng vâng lời. Có nhiều nguyên nhân
để được người khác tôn trọng vâng lời, nhưng một khi
đã được tôn trọng vâng lời rồi thì tâm kiêu mạn rất
dễ xuất hiện.
Tâm
lý con người ai cũng muốn được tôn trọng, được vâng
lời. Ta chỉ thích đến nơi đâu mà ta được tôn trọng,
và sẽ tránh xa nơi mình bị coi thường. Ai cũng vậy, cũng
cần được yêu thương và tôn trọng. Biết như thế, ta phải
tu dưỡng đạo đức sao cho có thể yêu thương và tôn trọng
mọi người tràn đầy. Chúng ta tu tập Từ bi để yêu thương,
chúng ta tu tập Khiêm hạ để tôn trọng. Có thể chúng ta
không có tiền bạc vật chất để biếu tặng mọi người,
đôi khi chúng ta cũng chưa đủ Phật Pháp để san sẻ với
người, nhưng chúng ta có thể có rất nhiều tình Thương yêu
và sự Tôn trọng để dâng tặng cho cuộc đời, cho con người.
Lòng thương yêu và sự tôn trọng đó cũng khiến cho nhau được
an vui ấm áp.
Khi
người Phật tử đến chùa đâu có được tiếp xúc trực
tiếp với đức Phật. Họ chỉ nương tựa vào Tăng Ni để
tìm đạo lý, tìm chỗ dựa tinh thần. Nhưng để làm chỗ
dựa tinh thần cho Phật tử, Tăng Ni phải có lòng thương yêu
rất lớn. Người ta chỉ nương tựa vào nơi nào có bóng dáng
của Thương yêu mà thôi. Vì vậy người xuất gia không được
giữ lâu lòng hận thù, ganh ghét, ích kỷ. Phải nhanh chóng
phá vở sớm ngày nào hay ngày ấy.
Ngoài
ra, chúng ta còn phải có lòng tôn trọng Phật tử nữa. Trên
nguyên tắc, người cư sĩ phải tôn kính người xuất gia,
thậm chí ở Việt Nam người Phật tử còn phải xưng con với
Tăng Ni bất kể tuổi tác. Nhưng đạo đức Khiêm hạ cũng
buộc người xuất gia cũng phải biết tôn trọng người Phật
tử trở lại. Chúng ta không được nghĩ rằng bổn phận người
cư sĩ chúng ta, còn chúng ta thì không bị bắt buộc như thế.
Thật ra cả hai đều phải tôn trọng lẫn nhau, chỉ khác là
cách thức tôn trọng mỗi bên mỗi khác. Cư sĩ tôn trọng
Tăng Ni theo đúng bổn phận người em, người học trò. Tăng
Ni tôn trọng Phật tử theo đúng bổn phận của người đệ
tử Phật với nhau, của con người và con người với nhau;
và còn phải yêu thương người Phật tử như người đi trước
với người đi sau nữa. Hãy nhớ rằng hễ là con người,
ai cũng cần được, và đáng được thương yêu tôn trọng.
Chúng ta không được quên điều này.
Chúng
ta không nên đòi hỏi sự tôn trọng cho chính mình, vì đó
là tham vọng và kiêu mạn, nhưng chúng ta lại có bổn phận
tôn trọng người. Đây là nguyên tắc của Đạo đức.
Chúng
ta càng phải khéo léo quý hóa những Phật tử nghèo, bệnh
hoạn, tật nguyền vì họ rất dễ tủi thân. Người tu phải
đủ đạo lực để nhìn thấy họ đang ngồi lặng lẽ ở
một góc nào đó trong sân chùa. Tại sao phải gọi là đủ
đạo lực mới nhìn thấy? Bởi vì trước mắt chúng ta đang
bị che bởi những người giàu có sang trọng hơn. Nếu không
có lòng thương yêu chúng sinh, chúng ta sẽ không thấy được
những người nghèo đang có mặt ở chùa.
Tâm
kiêu mạn còn sinh ra một khát vọng ghê gớm hơn, chính là
tham vọng quyền lực. Đây cũng là một bản năng rất sâu
kín của con người, rất nguy hiểm. Sở dĩ người ta muốn
có quyền lực bởi vì quyền lực cho người ta được quyền
quyết định số phận của người khác, được người khác
phải vâng phục, sợ hãi, cung kính.
Để
tranh giành quyền lực, con người đã tưới máu khắp cả
hành tinh này. Ở mức độ tranh giành quyền lực nhỏ, người
ta chỉ công kích nói xấu nhau chút đỉnh. Nhưng ở mức độ
tranh giành quyền lực lớn như cỡ quốc gia, sự tình không
hề đơn giản, người ta sẵn sàng giết nhau không thương
tiếc.
Nếu
thích người khác phải nghe lời mình, chúng ta cũng đang ngấm
ngầm có tham vọng quyền lực rồi đấy. Người tu đúng thích
nghe lời người khác để diệt bản ngã, nhất là được
vâng lời những kẻ trí tuệ đạo hạnh thanh cao. Người không
biết tu thì thích được người khác vâng lời mình. Đó là
dấu hiệu của kiêu mạn, tham vọng, ngã chấp, và dĩ nhiên
là tội lỗi.
Kiêu
mạn tàn phá công đức, nhân cách
Ở
mức độ thấp, kiêu mạn phá dần những đức tính tốt của
mình, làm cho mình trở nên xấu đi. Ngay cái ý niệm tự cho
mình hơn người khác cũng là xấu rồi.
Còn
ở mức độ lớn, kiêu mạn lộ ra bên ngoài khiến ta làm
nhiều chuyện ác độc, có thể đọa địa ngục về sau.
Kiêu
mạn luôn dẫn đến ô nhiễm, đó là nguyên lý tuyệt đối
đúng ! Ô nhiễm được biểu hiện ra 5 điều sau đây:
Nóng
nảy – Tham ái – Tham dục – tham vật chất – Chuộng hình
thức
Thứ
nhất là nóng nảy. Khi có ngã mạn, chúng ta thường nỗi nóng
dễ dàng khi có chuyện trái ý nghịch lòng.
Không
phải người tu lúc nào cũng xuề xòa buông xuôi thụ động,
mà đôi khi phải có thái độ rõ rệt trước việc làm sai
trái của người khác. Nhưng khi la rầy, người nỗi nóng và
người không nỗi nóng khác nhau rất xa. Người trầm tĩnh
có thể nghiêm mặt để buộc kẻ có lỗi phải biết sợ,
nhưng trong lòng không bị “bốc hỏa”. Còn người nổi nóng
thì tâm bị “vỡ”, có cảm giác bốc hỏa thật sự trong
lòng. Thái độ người này sẽ có vẻ dữ, hung hăng, đôi
khi lóc chóc, có thể làm người ta sợ nhưng không phục lắm.
Tâm
khiêm
hạ làm chúng ta bình tĩnh, và có uy, có thể im lặng nhìn
mà vẫn làm kẻ có lỗi phải sợ. Tâm kiêu mạn làm chúng
ta nổi nóng, kém uy đức, khiến người khác không phục lắm.
Thứ
hai là tham ái. Thứ ba là tham dục. Tham ái và 2 tham dục khác
nhau một chút.
Tham
ái là tình cảm thương yêu giữa nam và nử. Tham dục là sự
ham thích về nhục dục. Thông thường thì tham ái đưa đến
tham dục, ví như nam nử yêu nhau rồi tiến đến hôn nhân.
Nhưng cũng có khi không cần tình cảm vẫn có tham dục, ví
như những trường hợp mua bán dâm mà báo chí vẫn đăng tải.
Khi
kiêu mạn tràn đầy thì tham dục và tham ái sẽ từ từ hiện
diện, dù trước đó chúng ta giữ được trong sạch. Có những
người tu luyện theo một tông phái đặc biệt có thể phát
triển loại thần thông chữa bệnh, tiên tri, thay đổi hoàn
cảnh. Nhưng vì không khéo giữ tâm khiêm hạ nên người này
dần dần bị kiêu mạn chi phối. Và theo quy luật khắc nghiệt
của tâm lý, kiêu mạn xuất hiện thì tham ái và tham dục
sẽ nối theo.
Thứ
tư là tham vật chất. Trước kia chưa kiêu mạn, chúng ta có
thể sống thanh bai giản dị, không cần vật chất nhiều,
dễ dàng bố thí, sống bình an trong hiện tại, không bận
tâm tới thiếu đủ của ngày mai, không thích tích lũy. Nhưng
nếu có kiêu mạn hiện diện trong tâm, mọi cái sẽ từ từ
thay đổi. Chúng ta sẽ cảm thấy tiền bạc là quan trọng,
thích giàu có, tích lũy, tham lam. Đó chính là dấu hiệu của
ô nhiễm.
Thứ
năm là chuộng hình thức. Khi còn khiêm hạ, chúng ta chỉ chú
trọng nhiều vào nội dung thực chất, vào tâm hồn trí tuệ.
Hình thức dĩ nhiên cũng cần phải có nhưng không được quan
tâm nhiều. Ví dụ đối với ngôi chùa, ta sẽ quan tâm nhiều
về việc tu học của đại chúng hơn là tô điểm cảnh quan;
ví dụ đối với việc làm từ thiện, ta sẽ quan tâm đến
người cần giúp hơn là phô bày.
Khi
nào chúng ta còn giữ được tâm khiêm hạ thì 5 cái ô nhiễm
này tạm thời tránh xa mình một chút. Một chút thôi chứ
không phải mất luôn. Rồi đến khi nào tâm ta xuất hiện
kiêu mạn thì 5 cái ô nhiễm này ập tới liền. Vì vậy người
tu phải khéo léo giữ gìn tâm khiêm hạ suốt đời để đừng
bị ô nhiễm xâm chiếm. Chúng ta phải cảnh giác thường xuyên
đối với tâm kiêu mạn, phải làm sao nhanh chóng nhận ra ý
niệm kiêu mạn ngay khi nó vừa mới manh mún. Cái khả năng
nhanh chóng nhận ra ý niệm kiêu mạn ngay khi nó vừa mới manh
mún chính là trí tuệ. Trí tuệ trong đạo Phật chính là khả
năng kiểm soát tâm niệm sai lầm của mình; còn những hiểu
biết kiến thức chỉ là nền tảng ban đầu mà thôi.
Như
chúng ta đã nói, đỉnh cao trí tuệ trong đạo Phật chính
là vô ngã. Chúng ta phải luôn luôn nhắm đến cái đỉnh này
để giữ lộ trình tu tập của mình không bị sai lệch. Có
khi chúng ta rẽ phải một chút, có khi chúng ta rẽ trái một
chút, nhưng lúc nào chúng ta cũng nhắm đến cái đỉnh Vô
ngã đó, và sẽ không sợ lạc đường.
Tuy
nhiên vô ngã không đơn giản chút nào. Có người tu tập thiền
định đắc được sơ thiền, thấy tâm mình rỗng rang như
là không còn gì trong đó nữa, thấy tâm mình như hố thẳm
không đáy, có cảm giác như mình buông tay không còn nắm giữ
điều gì, nên nghĩ mình đã chứng vô ngã. Thật sự lúc đó
bản ngã vẫn còn rất lớn. Rồi đến như nhị thiền tắt
sạch vọng niệm, tâm như trời đất bao la khiến hành giả
không còn nghi ngờ rằng mình đã chứng rất cao. Đâu ngờ
rằng bản ngã vẫn mỉm cười ngạo nghễ.
Chúng
ta phải hiểu rằng vô ngã tức là trở thành toàn thể vũ
trụ.Ý nghĩa này rất lớn. Vì vậy đừng bao giờ xem thường
sự tồn tại nguy hiểm của bản ngã, cũng như đừng bao giờ
xem thường giá trị siêu việt của vô ngã.
Thật
ra chúng ta vẫn nghe giảng dạy về ý nghĩa vô ngã và đôi
khi ngồi thiền có quán vô ngã một chút bằng cách quán thân
này hư ảo không phải là ta, những tư tưởng tiếp nối thay
đổi này là hư ảo không phải là ta. Chúng ta hy vọng quán
vô ngã như vậy sẽ đi đúng đường về vô ngã. Nhưng thật
ra tu vô ngã như vậy là thiếu căn bản. Vì sao? Vì chưa khéo
léo đi xuyên qua việc tu tập tâm khiêm hạ.
Quán
vô ngã như trên cũng tốt, cũng làm thân tâm nhẹ nhàng, vẫn
nhiếp tâm được. Nhưng điều rất lạ là kiêu mạn vẫn
tiềm tàng tồn tại. Đây quả là điều rất lạ. Chính vì
vậy mà chúng ta nói, nếu không tu tập khiêm hạ thì quán
vô ngã như trên vẫn chưa kỹ.
Kiêu
mạn chỉ là một ý niệm không có thực thể, nhưng chi phối
được tâm hồn nhân cách của con người. Đó chỉ là một
ý niệm tự cho mình hơn người. Khi quán thân tâm này không
thật, chúng ta không đánh thẳng vào ý niệm tự cho mình hơn
người đó. Vì vậy tuy thấy tâm hồn có nhẹ nhàng hơn, nhưng
chúng ta vẫn chưa gỡ ra được ý niệm tự kiêu.
Do
đó, chúng ta phải khôn ngoan đi qua con đường tu tập khiêm
hạ để diệt trừ ý niệm kiêu mạn thầm kín đó trước
khi đi sâu vào quán vô ngã. Tu tập khiêm hạ để thấy mình
tầm thường nhỏ bé như cát bụi cỏ rác, chưa phải là đỉnh
cao trí tuệ, nhưng vô cùng cần thiết.
2.
TU TẬP KHIÊM HẠ
a.
Cầu Phật gia hộ
Trước
khi tu tập tâm khiêm hạ, chúng ta phải biết lễ Phật cầu
gia hộ, vì tất cả công đức lành đều từ công đức tôn
kính Phật mà thành tựu. Tôn kính Phật là công đức căn
bản của mọi công đức khác.
Có
2 cực đoan cần phải tránh, đó là,
một,
chủ trương mọi điều phải tự mình tạo ra, không nhờ cậy
đến ai bên ngoài, kể cả Phật. Người chủ trương như vậy
cực kỳ kiêu mạn nhất là mỗi khi có chút thành công gì
đó. Và người như vậy cũng không thành công lâu dài, thất
bại sẽ đến sớm.
hai,
là cái gì cũng cầu xin và chờ đợi thần thánh giúp đỡ,
không chịu cố gắng làm việc hay tạo phước bởi nỗ lực
của chính mình. Người như vậy có vẻ khiêm hạ, nhưng thật
ra là nhu nhược, yếu đuối và ích kỷ. Dĩ nhiên nếu không
có tạo phước thì cũng chẳng có thành công nào đến với
mình.
Còn
trung đạo là vừa biết nỗ lực tự thân, vừa biết cầu
Phật gia hộ. Sở dĩ chúng ta phải nỗ lực tự thân vì chúng
ta biết có luật Nhân quả, có gieo mới có gặt. Nếu chúng
ta không cố gắng hành động thì chẳng có chuyện gì xảy
ra cả.
Còn
sở dĩ chúng ta phải biết cầu Phật gia hộ vì cái ta không
thật có, cho nên lòng Từ bi và uy lực của Phật vẫn đến
được với tâm hồn mình. Nếu cái ta có thật thì không ai
cảm ứng với ai được vì mỗi người là một khối đá
cứng chắc.
Chúng
ta sẽ quỳ dưới Phật đài, chân thành phát nguyện: xin mười
phương Phật gia hộ cho con lúc nào cũng thấy mình tầm thường
nhỏ bé, chỉ như là cát bụi cỏ rác mà thôi, xin cho con biết
tôn trọng mọi người, dù là người nghèo khổ hèn kém.
Nhờ
lời khấn nguyện đó, mỗi khi ý niệm kiêu mạn nỗi lên,
tự nhiên Phật sẽ gia hộ ta phát hiện ra ý niệm đó nhanh
chóng, không để ta rơi vào lầm lỗi.
b. Khi tọa thiền
Khi
bước vào tọa thiền, ta bắt đầu công phu bằng cách khởi
tâm tôn kính Phật, quán từ bi, và tác ý khiêm hạ. Khi tác
ý khiêm hạ, ta phải tự xem mình như cát bụi, như cỏ rác.
Một cô Phật tử đã từng bị bệnh tâm thần lên viếng
chùa. Thầy trụ trì nhận thấy nguyên nhân bệnh của cô là
do kiêu mạn, nên khuyên cô hãy tác ý xem mình như cát bụi
cỏ rác để đối trị tâm bệnh như thế. Vài hôm sau khi
được hỏi lại, cô nói không thể xem mình như cát bụi cỏ
rác được vì nghĩ mình là con người đàng hoàng. Thầy trụ
trì nói cô bị bản ngã cứng quá nên không thể xem mình như
cát bụi cỏ rác được, chứ còn rất nhiều người đều
làm được như thế. Cô có vẻ nhận ra. Sau này cô ráng thực
hành theo, tự nhiên bệnh tâm thần bớt dần, đến độ có
thể đi làm việc được.
Chúng
ta cũng vậy, khi ngồi thiền phải biết xem mình như cát bụi
cỏ rác, và nhớ nghĩ đến công đức của Phật bao la vời
vợi không thể đo lường được. Ngày hôm nay chúng ta có
làm được chút xíu công đức gì đó như tụng kinh, bố thí,
cúng dường, thuyết pháp, cất chùa… so với Phật thì chỉ
như hạt cát. Công đức Phật như biển cả mênh mông mà chúng
ta chỉ là giọt nước; công đức Phật như ngọn cao sơn mà
chúng ta chỉ như hạt bụi.
Khi
đức Phật xuất hiện ở kiếp cuối cùng thì thế giới chưa
có phương tiện kỹ thuật như bây giờ, con người chưa thể
giao lưu rộng rãi với nhau qua các vùng đất rộng lớn, nên
Phật cũng chỉ giáo hóa tới lui vùng Nepal, Đông Bắc Ấn
độ. Số người được Phật hóa độ không thể gọi là
quá nhiều. Nhưng chúng ta phải hiểu rằng trước đó và sau
đó là khác. Từ vô lượng kiếp trước, Phật đã gieo duyên
giáo hóa chúng sinh vô biên vô lượng với vô số hóa thân.
Vì
thế, trong kinh điển Đại thừa, Bồtát Phổ Hiền nói rằng:
Ta dùng đạo nhãn xem khắp tam thiên đại thiên thế giới,
không thấy có chỗ nào mà Phật không từng bỏ thân mạng
vì chúng sinh. Nghĩa là sự hy sinh của Phật đối với chúng
sinh là không bờ bến. Phải có công hạnh vị tha gần như
tuyệt đối như vậy một người mới có thể chứng thành
Phật quả. Và chỉ có Bồtát mới hiểu được điều đó
vì các ngài cũng đang thực hành công hạnh Bồtát nên mới
hiểu Phật được như vậy.
Vô
số chúng sinh nhờ ơn Phật giáo hóa vẫn an trú cõi trời.
Khi Phật chứng đạo, số chư thiên tử đến học đạo với
Phật cũng rất đông.
Và
sau khi Phật diệt độ, ảnh hưởng của Phật để lại cho
nhân loại là vô giá. Ngày nay khi trình độ nhận thức con
người tăng cao, những nhà trí thức trên thế giới đều
phải công nhận rằng đạo Phật là cao quý nhất trong tất
cả tôn giáo của nhân loại.
Chúng
ta với tâm trí cạn cợt của phàm phu nên không thể hiểu
Phật như các vị Bồtát. Chính vì hiểu Phật nên Bồtát
Phổ Hiền đã giới thiệu 10 hạnh cao quý của chư vị Bồtát,
trong đó, công hạnh ban đầu là nhất giả lễ kính chư Phật.
Ngày nay chúng ta có tu theo bất cứ công hạnh nào cũng phải
lấy hạnh tôn kính Phật làm căn bản. Nếu một pháp môn
nào, một tông sư nào giới thiệu các phương pháp tu khác
nhau, nếu thiếu giới thiệu về hạnh tôn kính Phật thì con
đường đó vẫn thiếu căn bản. Ví dụ lục độ gồm Bố
thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ,
vẫn thiếu Lễ kính Phật. Hoặc chủ trương cho tâm mình là
Phật rồi không thiết tha lễ kính Phật, vẫn là mất căn
bản.
Khi
ngồi thiền, chúng ta vì hiểu được công đức vô lượng
của Phật nên biết mình chỉ là cát bụi cỏ rác. Nếu không
hiểu như vậy, chúng ta cứ tưởng mình giỏi lắm, cao lắm,
quan trọng lắm, hơn người nhiều lắm… thật là đáng thương.
Đôi khi trong đời, chúng ta cũng làm được một số điều
hay nào đó, nhưng hãy tỉnh táo nhớ rằng những điều đó
chưa đáng là gì so với chư Thánh. Phải hiểu như vậy, ta
mới chân thành xem mình chỉ là cát bụi cỏ rác. Nếu không,
dù có khởi nghĩ mình là cát bụi cũng không thành tâm, cũng
rất gượng gạo.
Càng
có trí tuệ hiểu được Phật thêm chút nào, tự nhiên tâm
ta thêm khiêm hạ chừng nấy, đó là lý do tại sao người
có trí thường là người khiêm hạ; ngược lại, người kém
trí dễ là người kiêu mạn. Khi đủ tâm khiêm hạ, chúng
ta chỉ xin được làm hạt bụi nơi bước chân Phật dẵm
qua mà thôi.
c. Khi có dịp đạt được những kiến thức đặc biệt
Đôi
khi chúng ta may mắn được truyền thụ một số kiến thức
đặc biệt nào đó, hoặc do tự mình tìm ra những kiến thức
đó, phải nhanh chóng tỉnh táo thấy rằng những hiểu biết
đó so với chư Thánh chẳng đáng là gì cả, vẫn còn cạn
cợt, và chưa phải tuệ giác của sự chứng ngộ.
Ví
dụ như khi ta học về Tứ Niệm xứ để quán sát thấy Thân
là bất tịnh, Thọ là khổ, Tâm là vô thường, Pháp là vô
ngã. Chúng ta thực hành và thấy được an lạc. Hoặc theo
lý Không của Bát Nhã kinh để quán sát tất cả là không,
và cũng cảm thấy tâm có an lạc. Nhưng chúng ta phải hiểu
điều này nữa, tất cả điều đó đều là học hỏi của
Phật, lập đi lập lại trong tâm mình để bớt vọng tưởng
phiền não, chứ chưa hề là sự chứng ngộ sâu xa vi diệu
nào cả. Dù có được một ít an lạc vẫn là còn rất cạn
so với chư Thánh.
Chúng
ta nhớ câu chuyện về Bố đại hòa thượng là một ông già
vui tính, mập mạp, lúc nào cũng vác theo một túi vải bự
trên vai. Ngài thường hay chơi đùa với trẻ, và nhiều lúc
cũng bày tỏ thần thông siêu phàm. Không ai biết được ngài
là ai, đến từ đâu, mặc dù cũng thán phục ngài về nhân
cách và trí tuệ. Mãi đến khi mất, ngài ngồi kiết già thị
tịch sau khi để lại bài kệ:
DI lặc chân Di lặc
Hóa thân thiên bách ức
Thời thời thị thời nhân
Thời nhân thường bất thức.
Nghĩa là:
Di lặc thật sự là Di lặc
Đã hóa thân vô số khắp nơi
Lúc nào cũng dạy dỗ mọi người
Nhưng người đời thường không biết.
Chúng
ta hãy nghĩ một người có thể hóa thân ra vô lượng, hoặc
hiện thành hình hài cụ thể, hoặc chỉ là tâm linh, để
đến với vô số chúng sinh trong các nẻo luân hồi, thật
không thể dùng lời để diễn tả sự vĩ đại như thế.
Tâm chứng như thế so với chúng ta hiện nay thì đúng là đại
dương so với giọt nước. Chúng ta chỉ ngồi thiền được
vài giờ, hiểu một số kinh điển, thương được một ít
chúng sinh, đôi khi thuyết được ít bài pháp thì đừng vội
thấy mình là to tát. So với Phật, chúng ta chỉ là cát bụi,
đó là cách nói chính xác, không hề cường điệu chút nào.
Ví
dụ ở trường Phật học, chúng ta học được bộ kinh Kim
Cang, kinh Pháp Hoa, thậm chí bộ kinh lớn Hoa Nghiêm thì cũng
chưa là gì ghê gớm cả. Đừng để những sở học đó làm
xuất hiện tự hào kiêu mạn trong lòng mình.
d.
Khi giỏi hơn người chung quanh
Có
trường hợp do phước quá khứ, cộng với nỗ lực của hiện
tại, chúng ta được thành tích giỏi hơn nhưng người chung
quanh. Ví dụ như chúng ta được xếp hạng cao trong lớp, hoặc
được Phật tử quý mến cúng dường nhiều hơn, hoặc được
bằng cấp tốt hơn huynh đệ… Những trường hợp như vậy,
chúng ta phải khéo tác ý để ngăn chận tâm kiêu mạn xuất
hiện. Tác ý như sau.
Thứ
nhất, phải nghĩ rằng mình giỏi, còn có nhiều người giỏi
hơn, mà giỏi cực kỳ chứ không phải giỏi sơ sơ.
Thứ
hai, so với chư Thánh thì ta chỉ là hạt bụi.
Thứ
ba, nếu vì một chút giỏi này mà kiêu mạn thì sẽ mất tất
cả, sẽ đọa xuống trở lại sự tầm thường.
Thứ
tư, mong cho những huynh đệ chung quanh đó sẽ giỏi hơn mình.
Chúng
ta đừng tác ý thấy mình dở hơn huynh đệ trong khi thật
sự thì mình giỏi hơn, vì đạo Phật là đạo của sự chân
thật. Tuy nhiên trong cái giỏi hơn đó, chúng ta khéo léo tác
ý những điều hợp lý như trên để ngăn chận tâm kiêu mạn
của mình.
e. Khi thấy người dở kém
Có
trường hợp ta gặp phải người dở kém quá đáng. Người
kém một chút, vụng một chút thì cũng không làm ta bận tâm
gì. Nhưng một người quá sức tệ thì dễ làm ta khinh thường.
Dĩ nhiên là khinh người thì quả báo xấu sẽ đến.
Vì
vậy khi gặp phải người quá tệ, chúng ta phải biết khởi
tâm Từ bi thương xót và cầu mong cho họ vượt qua tình trạng
tệ hại đó. Nếu được thì ta sẽ giúp đỡ cho họ vượt
qua, chứ tuyệt đối đừng coi thường. Chính tâm Từ bi sẽ
ngăn chận tâm khinh người xuất hiện. Ví dụ như ta gặp
những người quá thiếu phước, không nhà cửa, sống lây
lất bên vỉa hè. Rồi có khi ta phát hiện ra nhân cách của
họ cũng rất tệ. Hai điều đó hợp lại khiến ta dễ khinh
thường họ lắm. Nhưng vì ta là đệ tử Phật, ta phải nhanh
chóng khởi Từ bi thương xót họ, mong cho họ biết đạo lý,
làm được những việc lành chút chút để rồi từ từ vượt
qua cảnh khổ. Chúng ta cũng ủng hộ chương trình ổn định
cư trú cho người không nhà của Nhà nước.
Tuyệt
đối ta không được ỷ mình là người có phước mà
khinh thường kẻ cơ nhỡ.
3.
DẤU HIỆU TÂM KHIÊM HẠ XUẤT HIỆN
a.
Lễ độ
Lễ
độ là dấu hiệu của khiêm hạ. Khi có hạnh Khiêm hạ, tự
nhiên ta luôn bày tỏ thái độ tôn trọng người khác qua lời
nói và cử chỉ. Sự bày tỏ như thế được gọi là lễ
độ, hay lễ phép.
Cũng
có trường hợp người bên trong kiêu căng, nhưng vẫn tỏ
ra lễ phép vì quen cư xử theo tập tục, văn hóa của xã hội.
Nhưng sự lễ phép đó vẫn có vẻ gượng gạo, không chân
thành.
Thái
độ lễ phép được biểu hiện qua lối nói nhẹ nhàng, ân
cần, kính cẩn, có nhiều tiếng dạ thưa đi kèm, tiếng xưng
hô đại từ thích hợp… Ngoài cách nói tôn trọng, lễ phép
cũng bao gồm cách lắng nghe với vẻ chăm chú quý hóa những
lời nói của người. Biết nghe cũng là biết tôn trọng.
Rồi
nhiều cử chỉ được dùng để bày tỏ sự tôn trọng người
như cúi chào, đưa và nhận bằng 2 tay, khẽ cúi đầu khi buộc
phải đi qua trước mặt người khác, vị trí đứng ngồi
nằm hợp lý trong hoàn cảnh đó, tư thế đi đứng ngồi nằm
đàng hoàng…
Ngay
cả huynh đệ ở chung một chùa lâu ngày cũng không được
xem thường, vẫn phải cư xử lễ phép với nhau. Những người
có trí tuệ, dù thân tình vẫn không cư xư suồng sả. Chính
vì luôn luôn cư xử lễ độ với nhau mà tình nghĩa càng lúc
càng bền càng đẹp. Làm sao cho người cư sĩ đến chùa lúc
nào cũng trông thấy quý thầy cô cư xử nhã nhặn lễ độ
với nhau, như khách quý.
Đừng
nghĩ mình là tu sĩ thì được quyền xem thường Phật tử.
Chúng ta phải tập giữ gìn sự khiêm cung để luôn tôn trọng
mọi người, dù Tăng hay Tục. Tiếng dạ thưa phải nằm nơi
miệng thường xuyên. Lịch sự Tây phương ngày nay thì hay
sử dụng từ cám ơn, xin lỗi. Chúng ta cần học tập những
điều tốt như thế.
Lớp
trẻ bây giờ kém lễ độ hơn ngày xưa vì không được dạy
dỗ kỹ lưỡng. Nhà trường không dạy kỹ, mà gia đình cũng
không hướng dẫn. Chính vì thiếu lễ độ nên trẻ thiếu
khiêm tốn; chính vì thiếu khiêm tốn nên trẻ dễ hư hỏng.
Khi thấy trẻ hư hỏng nhiều quá thì nhà trường mới lật
đật nhắc lại phương châm tiên học lễ, hậu học văn (trước
phải học đạo đức, sau mới học kiến thức). Dù sao chúng
ta cũng thiệt thòi mấy mươi năm về giáo dục nhân cách cho
trẻ.
Nhật
là nước nỗi tiếng lễ nghĩa với nền văn hóa đẹp đẽ.
Hãy nhìn người Nhật chào nhau một cách chịu cực là cúi
gập người xuống để hiểu họ xem trọng lễ phép dường
nào. Còn quốc gia nào có lối chào hỏi sơ sài cũng chứng
tỏ họ hời hợt về văn hóa. Ước gì Nhật giữ được
văn hóa như thế mãi để làm gương cho thế giới. Tuy nhiên,
hiện nay ảnh hưởng của lối sống Tây phương cũng đang
đánh phá vào văn hóa truyền thống của Nhật khiến lớp
trẻ đang mất dần nét đẹp trong cung cách quốc gia. Việt
Nam cũng phải lấy đó làm bài học cho mình.
b.
Xưng hô cẩn trọng
Việt
nam ta có một ngôn ngữ mà hệ thống xưng hô đại từ rất
phức tạp, bày tỏ rất rõ thái độ, vai vế, thành phần
giữa người nói và người nghe. Vì vậy chúng ta phải cẩn
thận khi sử dụng đại từ xưng hô cho khéo léo để bày
tỏ sự tôn trọng với người.
Chúng
ta nên bỏ chữ thằng, con trước tên gọi. Ví dụ, chỉ nên
gọi là Hùng, Sơn, Thúy chứ không nên gọi là thằng Hùng,
Thằng Sơn, con Thúy…
Khi
nói về người ở ngôi thứ 3 số ít hay nhiều, nên tránh
dùng chữ nó, bọn họ, mấy đứa đó, cái đám đó… Nếu
là người ngang hoặc thấp vai vế hơn mình, nên gọi bằng
tên khi nói về người vắng mặt. Ví dụ nói rằng: Tuấn
đã cho tôi cuốn sách này, và bây giờ tôi xin tặng lại anh.
Anh có gặp Tuấn thì nói tôi gửi lời thăm Tuấn. Tuyệt đối
đừng nói là: Anh có gặp nó thì nói tôi gửi lời thăm nó.
Người
Việt Nam hay có một thói quen xấu là kêu các nghệ sĩ bằng
thằng, con. Ngay cả diễn viên đóng vai Đường Tam Tạng cũng
bị gọi là thằng Đường Tăng. Người lớn kêu nghệ sĩ
một cách khinh miệt nên trẻ con cũng bắt chướt kêu như
vậy. Thật là hỗn láo khi một đứa trẻ kêu thằng con với
các nghệ sĩ đáng tuổi cha mẹ của bé. Đây là một điểm
đen trong văn hóa Việt Nam, làm tổn phước rất nhiều.
Người
tu trong chùa cũng không thoát ra khỏi cái thói quen xấu của
thế gian đó, và cũng gọi nhau với giọng khinh thường như
thế. Có chùa, thầy lớn kêu mấy thầy nhỏ bằng thằng luôn.
Rồi có khi vài thầy kêu quý cô Ni bằng con luôn. Thật là
không thể hiểu nỗi !
Có
trường hợp vài thầy quá thân với nhau nên ở sau lưng đã
gọi nhau bằng thằng. Đây là điều không thể chấp nhận
trong oai nghi tế hạnh của người tu.
Người
Phật tử không bao giờ đồng tình với việc quý thầy xưng
hô thiếu tôn trọng lẫn nhau. Họ không bao giờ muốn nghe
thầy này kêu thầy kia bằng thằng, nó vì đó là tất cả
những người mà họ phải hô thầy, xưng con.
Rồi
tệ hơn nữa, có khi người sư huynh sư tỷ nói chuyện với
sư đệ sư muội mình xưng hô bằng mày tao. Có những vùng
Phật giáo bị ảnh hưởng phong kiến rơi rớt lại nên người
trên có lối xưng hô cực kỳ khinh miệt đối với người
dưới. Nghe lối xưng hô kém tôn trọng nhau như thế thì ta
biết ngay Phật giáo đó không hưng thịnh, nếu có gì thì
cũng chỉ là bề ngoài.
Chúng
ta hãy nghe trong các bản kinh Nikaya, các Tỳ kheo gọi nhau bằng
hiền giả. Thật là nhã nhặn và lịch sự ! Ngay cả ngài
XáLợiPhất là thượng thủ trong chúng mà vẫn gọi các tỳ
kheo khác là hiền giả. Đúng là tư cách của bậc thánh.Dĩ
nhiên bây giờ chúng ta không thể gọi nhau như ngày xưa, nhưng
cũng không được phép gọi nhau một cách hời hợt, suồng
sã, thiếu tôn trọng và kém văn hóa.
Khi
nói chuyện với Phật tử về một thầy hay một cô nào khác,
chúng ta phải thêm chữ thầy hoặc cô vào trước pháp hiệu.
Nghĩa là Phật tử tôn trọng thầy cô kia ra sao, ta cũng phải
tôn trọng y như vậy, dù đôi khi vai vế ta lớn hơn thầy
cô đó. Ví dụ ta sẽ nói với Phật tử là thầy Minh Trí
như thế này, thầy Minh Trí như thế kia; hoặc sư cô Như Tuệ
nói là, sư cô Như Tuệ nói rằng …
c.
Biết lắng nghe ý kiến người khác
Một
dấu hiệu khác của tâm Khiêm hạ là biết lắng nghe ý kiến
của người khác. Ý kiến của người nào chính là đại diện
của người đó. Nếu ta tôn trọng con người, ta phải tôn
trọng ý kiến của họ. Đó là nguyên tắc căn bản. Dĩ nhiên
không phải ý kiến nào cũng đúng, nhưng thái độ biết
lắng nghe đã là biểu lộ sự tôn trọng con người. Khi lắng
nghe, ta sẽ đồng ý với một số điểm này và không đồng
ý với một số điểm khác, nhưng điều quan trọng của Đạo
đức là biết quan tâm đến quan điểm của người khác trước
đã.
Có
một số người bị cái tật là hay bác bỏ ý kiến của người
khác dù nghe chưa hết câu. Đó là dấu hiệu rất rõ của
kiêu mạn. Chúng ta cũng vậy, nếu cứ thích gạt ngang ý kiến
của người khác, phải biết là kiêu mạn đã ngự trị trong
tâm mình rồi.
Thật
ra không phải chúng ta chỉ học lẽ phải, Đạo lý ở trường,
mà phải biết học ngay trong cuộc đời. Trong nhiều người
mà ta tiếp xúc, sẽ có rất nhiều điều đáng cho ta học
hỏi từ nơi họ. Đôi khi ta nhìn thấy việc làm của họ
và tìm thấy một bài học lớn; đôi khi ta nghe một câu nói
của họ và tìm thấy nhiều điều thú vị. Hầu hết ai cũng
có điểm hay ở đâu đó. Nếu khiêm tốn, chúng ta sẽ thu
hoạch nhiều bài học bổ ích từ nhiều người trong cuộc
sống. Còn tâm kiêu mạn sẽ ngăn che khiến ta không thấy được
cái hay của người.
Chính
tâm kiêu mạn đã thúc đẩy chúng ta hay săm soi khuyết điểm
của người và bỏ qua ưu điểm của họ. Vì kiêu mạn, chúng
ta muốn người chung quanh phải dở xấu để chỉ còn ta là
hay giỏi. Thế nên chỉ cần người khác nhúc nhích là ta đã
đoán ra khuyết điểm –đôi khi suy diễn lẹ hơn sự thật,
nghĩa là chỉ cần người đưa tay lên là ta đoán ngay người
này sắp móc túi ! Cái khuynh hướng thích nghĩ xấu người
khác rõ ràng có nguồn gốc từ kiêu mạn.
Còn
khi khiêm hạ, thấy mình tầm thường nhỏ bé, tự nhiên ta
dễ nhìn thấy ưu điểm của người để học hỏi. Đó cũng
là động cơ khiến ta biết lằng nghe ý kiến của người
khác. Rồi những khi tìm thấy những điều hay của người,
lòng chúng ta hoan hỷ tán thán. Và khi biết hoan hỷ trước
ưu điểm của người, Nhân quả sẽ cho chúng ta một quả
báo lành tương tự ở vị lai. Khi cảm phục, hoan hỷ tán
thán điều lành của người, tự nhiên điều lành đó sẽ
dính vào tâm ta, trở thành của ta mà không mất công huân
tập nhiều.
Ví
dụ ta trông thấy người có đức tính trầm tĩnh kỳ lạ
và đem lòng ngưỡng mộ. Sau này tự nhiên ta cũng bắt đầu
có tính cách trầm tĩnh giống giống như vậy.
Hoặc
ta nễ phục người siêng năng công quả lao tác, tự nhiên
sau này ta cũng siêng năng giống như vậy.
Tâm
khiêm hạ giống như cái trũng sâu khiến cho bao nhiêu nước
đổ dồn về. Người khiêm hạ sẽ từ từ lấy được vô
số đức tính tốt trong thiên hạ. Lão tử có câu nói nỗi
tiếng: Tại sao biển cả làm vua của trăm sông, bởi vì biển
thấp mà sông cao nên các sông phải chầu về. Cũng vậy, vì
ta thấp xuống nên những ưu điểm của mọi người tìm về
đọng lại. Nếu ta đứng lên cao như ngọn núi đá sừng sững
thì các ưu điểm từ từ chảy đi mất cả. Khi kiêu mạn,
ta sẽ ngày càng cô độc và cằn cỗi như ngọn núi đá khô
khan đó vậy.
Chúng
ta nên lưu ý một điểm khá quan trọng khi đang tu tập tâm
khiên hạ, đó là tránh quan điểm độc tôn về pháp môn.
Thông thường thì khi chúng ta chọn pháp môn nào để tu đều
đã nhận định rằng đó là pháp môn hay nhất, ưu việt nhất.
Và một hệ quả tất yếu phải đến đó là cho rằng mình
hay hơn những người đang tu các pháp môn khác. Không biết
kết quả tu hành về sau thế nào, nhưng ngay hiện tại thì
ta đang rơi vào lỗi kiêu mạn.
Người
tu Tịnh độ tông sẽ nghĩ rằng Tịnh độ tông là hay nhất;
người tu Thiền tông sẽ nghĩ rằng Thiền tông là hay nhất.
Rồi ngay trong Thiền tông cũng chia ra thành nhiều trường phái
khác nhau, và mỗi trường phái đó lại cũng nghĩ rằng mình
hay nhất. Khi cho rằng mình hay nhất thì một hệ quả khác
lại tiếp tục xuất hiện, đó là không tiếc lời chê bai
người khác, trường phái khác, tông phái khác, pháp môn khác.
Sự chê bai qua lại này làm đạo Phật không bao giờ đoàn
kết được.
Quá
trình tâm lý trên là điều rất đương nhiên, nhưng cực kỳ
độc hại ! chúng ta phải hết sức cố gắng thoát ra cái
quy luật tâm lý độc hại đó bằng cách chấm dứt việc
cho rằng có thật một pháp môn hoàn hảo hơn hẳn các pháp
môn khác.
Thật
ra lỗi này không phải bắt đầu do người đệ tử, mà do
chính ông thầy. Chính ông thầy đã gieo vào lòng đệ tử
cái ý nghĩ rằng tu theo pháp môn của thầy là thù thắng hơn
cả, có nghĩa là thầy là hơn cả, và cũng có nghĩa là tương
lai người đệ tử này sẽ hơn cả. Ban đầu đến với Đạo,
người đệ tử chưa bị kiêu mạn xâm chiếm, nhưng lối dạy
độc tôn của ông thầy đã phá hoại tâm hồn nguyên sơ của
đệ tử.
Ngày
nay chúng ta phải tự thoát ra khỏi tư tưởng độc tôn đã
tàn phá tâm hồn chúng ta cũng như đã gây chia rẽ đạo Phật
như thế. Khi chọn một pháp môn để tu, một vị thầy để
theo, chúng ta nên tìm hiểu đường lối đó có giúp chúng
ta khiêm hạ hay không, có từ bi hay không. Nếu đường lối
đó, vị thầy đó dạy chúng ta biết bất động trước nghịch
cảnh, nhưng lại biết bi mẫn trước nỗi khổ của chúng
sinh, vậy là vị thầy đó đúng. Nếu vị thầy đó dè dặt
không dám chê bai ai vì biết rằng pháp môn nào cũng có ưu
có khuyết, pháp môn nào cũng thích hợp với người này và
ít thích hợp với người kia, vậy là vị thầy đó chân chính,
ta có thể đi theo.
Ngược
lại, nếu vị thầy đó cứ hứa hẹn một cách dễ dàng rằng
tu theo sẽ nhanh chóng cao siêu hơn mọi người, ta nên coi chừng.
Nhất là những ông thầy cứ luôn miệng đả kích các đường
lối khác với mình thường dễ là tà sư. Gặp phải những
ông thầy như thế, ta nên xá dài rồi lui.
Nhưng
có điều lạ là ông thầy nào cứ mạnh miệng tự ca ngợi
pháp môn mình hay nhất thì thường nhanh chóng có đông tín
đồ. Hình như con người hơi bị dễ tin. Nhưng về sau, khi
lối dạy đó làm đệ tử kiêu mạn trầm trọng rồi, những
sai lầm hư hỏng sẽ xuất hiện làm cho đạo tràng đó đổ
vỡ.
Ta
cũng thấy gần đây trên thế giới xuất hiện nhiều giáo
phái mới. Ông giáo chủ nào cũng tự cho mình là đại diện
duy nhất của Thượng đế. Các “giáo chủ” cứ tha hồ
nói xạo, thế nào cũng có người tin. Rồi những người tin
theo sẽ giúp quảng cáo thêm cho giáo chủ. Có khi họ cũng
lôi kéo được rất đông tín đồ trước khi sụp đổ.
Thỉnh
thoảng ta cũng nghe trong Phật giáo có những kẻ tự cho mình
bằng Phật, thậm chí hơn Phật, thay thế Phật trong thời
đại mới này. Họ cũng khiến nhiều người nhẹ dạ tin theo
một thời gian, nhưng rồi sự thật sẽ bày tỏ sau đó không
lâu.
Những
vị thầy chân chính thường dè dặt khiêm tốn, ít tự đề
cao mình, cẩn thận không chê bai người, dù có trí tuệ sâu
sắc. Ban đầu vị thầy như thế hiếm được người hiểu
nỗi nên ít ai theo. Nhưng về sau sẽ có nhiều người được
lợi ích vững chắc từ đường lối đó nên sẽ phát triển.
4.
QUẢ BÁO
Khi
có kiêu mạn, con đường phía trước đóng lại dần dần.
Người này sẽ bế tắc, đổ vỡ thất bại. Dù có khi ta
đang có tiến bộ trên đường tu, nhưng nếu kiêu mạn đã
hiện diện thì sự tiến bộ đó không thể đạt đến vô
lượng vô biên được, cứ tiến lên lui xuống mãi. Do đó
ta không thể có ngày chứng đạo hoàn toàn.
Trường
hợp như có người đời này làm quan huyện, tích lũy một
số phước nên đời sau làm quan tỉnh, kiếm thêm một số
phước nên đời sau nữa làm vua. Nhưng do làm vua khởi tâm
kiêu mạn nên đời sau rớt làm dân thường. Khi làm dân thường
lại biết tạo phước nên kiếp sau lại làm quan. Cứ quanh
đi quẩn lại như vậy mãi chứ không thể vượt lên những
cõi cao xa hơn trong vũ trụ.
Còn
các vị Bồtát diệt được tâm kiêu mạn nên công đức tiến
dần đến vô lượng vô biên, có khi làm vua cả cõi trời,
từ từ làm lợi ích cho vô số chúng sinh, làm vị Đại Bồtát,
cuối cùng chứng thành Phật quả viên mãn tuyệt đối.
Trong
việc tu tập cũng vậy, nếu chúng ta có đạt được chút
định lực nào cũng đừng kiêu mạn mà phải biết mình vẫn
còn dở, vẫn còn có thể bị thoái đọa. Lúc nào chúng ta
cũng phải dè dặt cẩn thận, tôn trọng mọi người, kiểm
soát từng ý nghĩ nhỏ để cho sức định chậm chậm tiến
lên từng chút.
Còn
giữ được khiêm hạ ngày nào thì chúng ta còn tăng trưởng
công đức ngày đó, còn làm người tu hành chân chính ngày
đó. Đời sau ta tiếp tục thành tựu đức hạnh, tài năng,
và địa vị. Nếu đánh mất tâm khiêm hạ, những cái tốt
trong tâm ta sẽ mất dần, tan vỡ dần.
Khiêm hạ và từ bi hỗ trợ cho Vô ngã
Mục
tiêu quan trọng trong việc tu tập Phật Pháp là Vô ngã. Có
Vô ngã mới có giải thoát. Thiền định là con đường chính
để đi đến Vô ngã. Nhưng 2 công hạnh Từ bi và Khiêm hạ
lại là sự hỗ trợ rất lớn. Thiếu 2 công hạnh này, chúng
ta dễ lạc lối dù có được thiền định cao siêu.
Hai
công hạnh trên cũng hỗ trợ qua lại cho nhau rầt nhiều, vì
cùng làm cho Ngã chấp mỏng nhạt. Có khiêm hạ, ta dễ thương
yêu con người; có Từ bi, ta cũng dễ tôn trọng con người.
Rồi
trong hành trình tu tập phía trước, đôi khi ta cũng làm nên
được nhiều điều tốt. Nhưng đó chính là những lúc ta
phải nhanh chóng kiểm soát tâm tự hào kiêu mạn của mình,
và phải luôn tự nhắc rằng mình chỉ là cát bụi cỏ rác.
Đó là câu thần chú linh nghiệm để đối trị tâm kiêu mạn
mỗi khi ta muốn tự khen mình, hoặc được ai đó khen ngợi
mình.
Hỏi:
Người ta có thể xem thường ta nếu ta có thái độ khúm núm
khiêm tốn ?
Đáp:
Còn bị người khác xem thường tức là chưa đủ phước,
cứ tiếp tục tôn trọng mọi người. Sau này đủ phước
tự nhiên ta lại được yêu mến và tôn trọng.