TÂM
TỪ
1.
Định nghĩa
Tâm
từ, hay thường được gọi chung là từ bi, là tình thương
không điều kiện, không đòi hỏi phải được đáp trả trở
lại.
Thật
sự thì chữ bi có nghĩa là thương xót khi thấy chúng sinh
đau khổ. Chỉ khi nào có thương yêu ai, ta mới thấy xót xa
khi người đó đau khổ. Bi là dấu hiệu chứng minh có sự
hiện hữu của từ nên chúng ta hay ghép chung thành từ bi.
Nhưng nếu cẩn thận thì ta chỉ dùng chữ từ cho đúng bài
bản chữ nghĩa.
Vì
tâm từ là tình thương không điều kiện nên cũng không hạn
cuộc nơi một số ít người mà luông có khuynh hướng trải
rộng vô tận. Để hiểu rõ hơn về tâm từ, ta nên so sánh
với tâm luyến ái của thế gian.
Tâm
luyến ái cũng là tình thương yêu của chúng sinh này với
chúng sinh kia, nhưng bắt buộc phải có một trong những điều
kiện sau đây:
Thứ
nhất, do duyên nghiệp ân nghĩa đời trước tạo thành. Chúng
ta thương người nào vì trong kiếp trước ta có nợ có duyên
với người đó. Ví dụ như giữa cha mẹ và con cái với nhau
cũng là duyên nợ qua lại mới tạo thành. Trong đó, cha mẹ
mắc nợ người con nào nhiều sẽ cảm thấy thương yêu người
con đó hơn. Trong số những bạn bè huynh đệ mà ta gặp gỡ
trong cuộc đời cũng vậy, không phải ai ta cũng có thiện
cảm đều như nhau mà là người thì ta thương nhiều, người
thì ta thương ít. Đó là vì duyên giữa mọi người với chúng
ta không đồng.
Ân
nghĩa đời trước sẽ tạo thành tình thương yêu đời này
rất rõ rệt. Ví dụ như ta chịu ơn ai nhiều từ kiếp trước
vì người đó đã ưu ái ta, giúp đỡ ta nhiều. Đời này
gặp lại, tự nhiên ta thấy thương mến người đó một cách
không giải thích được và cứ muốn giúp đỡ ân cần. Người
kia thì thấy bình thản vì họ thi ân chứ không chịu ơn.
Chúng ta chịu ơn thì cứ bị một tình cảm thúc đẩy trong
tâm để phải muốn làm cho người đó vui. Cho nên ta thấy
rằng tình cảm thế gian chỉ là hư ảo, chỉ là trung gian
làm chất xúc tác để chúng sinh trả nợ lẫn nhau chứ không
có thật. Tình thương yêu thế gian rất mong manh, nợ trả
hết rồi thì thương yêu cũng hết. Khi thương nhau, ta cứ
tưởng tình thương đó sẽ bền vững lâu dài, nhưng rồi
“ thế rồi cuộc đời là, những cuộc tình chia xa, đi lạc
vào những phía không đường về…”
Tình
thương yêu nam nữ là đại biểu mãnh liệt nhất cho loại
tình thương thế gian này. Tình yêu nam nữ là mãnh liệt nhất
nên cũng ích kỷ nhất. Trước hết khi yêu, ai cũng nghĩ rằng
tình yêu đem lại cho ta hạnh phúc vì cảm xúc của tình yêu
rất cháy bỏng. Xưa nay không biết bao nhiêu thơ, văn, nhạc,
tranh, tượng ca ngợi tình yêu. Tình yêu nam nữ và sáng tác
nghệ thuật gần như bất khả phân ly vì những cảm xúc tình
yêu giúp nghệ sĩ cảm hứng để sáng tác. Nhưng đến khi
tình yêu tan vỡ thì người ta mới biết đó là đau khổ nhất.
Vì sao, bởi vì bản chất của tình yêu là ích kỷ nhất nên
nó cũng gây ra đau khổ nhất.
Triết
gia Schopenhauer nói: “Chỉ có những triết gia mới có thể
sống hạnh phúc trong hôn nhân, nhưng tiếc rằng một triết
gia thật sự thì không chịu lấy vợ.”
Cuộc
sống gia đình rất phức tạp, vợ chồng đòi hỏi sự săn
sóc ân cần từng li từng tí. Yêu cầu của tình yêu rất
cao nên hầu hết không ai đáp ứng được đầy đủ. Chỉ
có những người rất thông minh và rất đạo đức mới đáp
ứng nỗi. Người vừa thông minh vừa đạo đức đó, Schopenhauer
gọi là triết gia.
Người
ta gặp nhau rồi có tình cảm với nhau, rồi thích nhau gì đó
chứ không thật là có tình yêu. Tình yêu thật sự rất mạnh
và đòi hỏi sự ứng xử khéo léo để được bền vững
lâu dài, để kềm chế sự ích kỷ của mình lại. Sự ích
kỷ trong tình yêu rất dữ dội mà bộc lộ rõ nhất là sự
ghen tuông. Khi ghen tuông, người ta có thể đánh, giết, tạt
acid… đủ màn ác độc. Vì ích kỷ nên người ta cũng đòi
hỏi lẫn nhau, trói buộc lẫn nhau, ghen tuông với nhau, hành
hạ lẫn nhau.
Để
sống êm ấm hạnh phúc trong gia đình phải là những triết
gia thông minh và đạo đức. Nhưng như Schopenhauer nói, triết
gia thì không chịu lấy vợ. Đa phần người ta sống không
hạnh phúc trong hôn nhân. Trong một cuộc thăm dò ý kiến,
nhiều cụ già đã lắc đầu ngao ngán về cuộc sống hôn
nhân đã qua của mình. Tình yêu quả thật là một cái gì
hư ảo mong manh!.
Giai
đoạn đầu ở tuổi còn xuân , do bản năng của tuổi trẻ
nên người ta bồng bột hăm hở và tưởng rằng tình yêu
là hạnh phúc nên tìm đến với nhau với hy vọng rằng
cuộc đời còn lại ở bên nhau sẽ tràn đầy hạnh phúc.
Nhưng khi đến với nhau được rồi thì những chuổi ngày
còn lại từ từ chỉ là hành hạ, là nỗi khổ,
giận hờn, bất mãn cho nhau .
Người
có phước xuất gia là người thoát được cảnh ngục tù
trá hình của hạnh phúc hôn nhân. Tình yêu và hạnh phúc hôn
nhân làm tăng dần sự ích kỷ trong lòng con người. Vì ích
kỷ, người ta lại làm khổ nhau. Do đó, muốn cho hôn nhân
bớt đi phiền toái rắc rối, người ta nên bớt đi sự ích
kỷ đòi hỏi lẫn nhau mà nên cùng có chung một mục đích
cao cả nào đó để hướng về. Ví dụ như nếu hai vợ chồng
cùng có chung lòng mến mộ Phật Pháp thì tự nhiên sẽ thấy
đầm ấm nhẹ nhàng hơn. Nhiều cặp vợ chồng đã tìm lại
được sự hàn gắn khi cả hai cùng tìm đến với Phật Pháp.
Hạnh
phúc chỉ đến từ lòng vị tha chứ không đến từ sự ích
kỷ. Khi đến với Phật Pháp, hai người cùng tu tập tâm vị
tha và tự nhiên mọi chuyện tốt đẹp dần.
Tình
thương yêu là hệ quả của ân nghĩa đời trước. Tình yêu
nam nữ là biểu hiện rõ nét nhất cho điều này.
Khi
gặp gỡ thương mến người nào, chỉ bởi vì chúng ta có
duyên nợ đời trước. Đến khi trả xong nợ cũ, tình yêu
cũng biến mất mà không ai biết tại sao.
Ngay
như các tu sĩ cũng vậy, được các tín đồ ưu ái quý mến,
cũng đừng nghĩ rằng bởi vì mình có ưu điểm nào đó như
giảng hay, đạo cao đức trọng, hay ngoại hình khả kính.
Tất cả cũng vì có duyên nợ ân nghĩa kiếp trước với nhau.
Nếu ân nghĩa sâu dày thì gắn bó với nhau bền chặt; nếu
ân nghĩa ít thì sẽ vì một lý do lãng nhách nào đó để
xa nhau.
Hiểu
được điều này, chúng ta bình thản trước thương ghét của
cuộc đời, vì nó không thật, chỉ là duyên nợ đời trước.
Điều mà ta phải bận tâm chính là kết duyên lành với mọi
người để cùng tiến tu.
Thứ
hai, chúng ta thương vì huyết thống, như cha mẹ, anh chị em…
Nói là huyết thống, thật ra cũng là duyên của những đời
xưa bây giờ mới thành gia đình ruột thịt. Tình gia đình
được kết thành do những tháng ngày chung sống đỡ đần
lo lắng tương trợ nhau mà thành. Nếu sống chung trong một
gia đình mà không lo lắng cho nhau thì tình nghĩa cũng không
có.
Thứ
ba, chúng ta thương vì người kia đem đến cho ta cảm giác
hạnh phúc.
Một
lần trong lúc vui đùa, vua Pasenadi hỏi hoàng hậu Malika:
-
Ái khanh thương ai nhất?
-
Dĩ nhiên thần thiếp thương hoàng thượng nhất trên đời.
Vua
đang vui thích thì hoàng hậu lại nói tiếp:
-Nhưng
nếu hoàng thượng cho phép nói thật mà đừng giận thì thần
thiếp xin nói lại cho đúng hơn.
- Cứ
nói thật.
- Thật
ra thần thiếp thương thần thiếp nhất.
- Sao
kỳ vậy, mình mà thương mình?
- Đó
là sự thật, trên cuộc đời này, người ta chỉ thương chính
mình. Nếu có thương ai cũng chỉ vì người đó mang lại hạnh
phúc cho mình. Cũng vậy, vì hoàng thượng đem cho thiếp vinh
quang, giàu sang, hạnh phúc nên thiếp mới yêu hoàng thượng.
Chứ nếu hoàng thượng là kẻ ăn mày thì thần thiếp đâu
có thương.
Vua
nghe cũng có lý nhưng thấy phủ phàng kỳ cục quá nên đến
đức Phật hỏi lại. Phật đã xác nhận lời của hoàng hậu
Malika là chính xác, thực ra, con người chỉ thương chính mình.
Trên
cuộc đời này, không có tình thương yêu chân thật, người
ta chỉ thương ai vì người đó đem lại hạnh phúc cho mình.Ví
dụ mình thương một huynh đệ nào đó vì cảm thấy người
đó có thể tốt được với mình. Sau này mình thương một
người Phật tử nào đó vì thấy rằng người Phật tử đó
ủng hộ mìn. Bản chất của tình thương chỉ là như vậy.
Rồi vợ chồng cũng vậy, khi nào người chồng cảm thấy
người vợ đem lại nguồn hạnh phúc cho mình là tốt. Đến
lúc nào thấy vợ mình già xấu thì người chồng sẽ bắt
đầu lạc lòng ,đi tìm những cô gái khác. Tình thương yêu
thế gian là vậy , không thiêng liêng, cho nên chúng ta đừng
bao giờ hy vọng một cái gì trong tình cảm thế gian.
Người
đệ tử Phật suốt đời đi tìm lòng từ bi là chính vì đi
tìm một tình thương vượt lên trên cái thường tình của
cuộc đời. Tình thương đó không ích kỷ, thiêng liêng hơn,
cao cả hơn.
Thứ
tư, chúng ta thương ai vì người đó có ưu điểm đặc
biệt nỗi bật giữa nhiều người. Chúng ta muốn chiếm hữu
để có được cảm giác mình cũng đặc biệt theo. Đây là
quy luật tâm lý bình thường. Ví dụ như những cô gái đăng
quang hoa hậu liền trở thành đối tượng theo đuổi của
nhiều người đàn ông. Rồi những ngôi sao ca nhạc, ngôi sao
sân khấu điện ảnh cũng là mục tiêu cho biết bao người
nhắm đến. Có lần một ca sĩ nhạc rock ở Nhật chết, lập
tức có 3 cô gái tự tử chết theo. Khi nghe tin diễn viên Thành
Long lấy vợ, một cô gái cũng tự tử liền.
Sự
hâm mộ cuồng nhiệt đến gần như điên loạn của quần
chúng đối với các ngôi sao cũng là một thứ bệnh hoạn
của tâm lý. Tâm lý đó cũng phiền toái ích kỷ và đầy
xao động. Hiện nay trên thế giới chưa quan tâm chữa trị
bệnh hoạn này, mà ngược lại, nhiều hình thức quảng cáo
còn thúc đẩy sự cuồng nhiệt đó cao hơn. Những đoạn phim
chiếu rừng khán giả đang quơ tay nhảy nhót kích động theo
bài hát của một ca sĩ. Nhiều trẻ em xem đó là điều hay
nên nối nhau bắt chướt. Thế giới như là đang rối tung
lên.
Chúng
ta biết rằng tâm từ ngược với tâm luyến ái nên không
bị duyên nghiệp thúc đẩy, không được tâm ích kỷ tạo
nên, không được sự ham muốn phát sinh. Chính vì không có
gì thúc đẩy tạo thành nên Tâm Từ rất khó xuất hiện.
Tâm luyến ái tràn ngập trên cõi đời này vì có được nhiều
điều kiện hỗ trợ. Còn Tâm Từ rất cô đơn, không có gì
trợ giúp cả.
Chỉ
những người cực kỳ đạo đức, cực kỳ trí tuệ, cực
kỳ khát khao chân lý mới đi tìm loại tình thương không điều
kiện như thế. Ngay cả nhiều người là đệ tử Phật mà
còn thờ ơ với việc huân tu lòng từ, huống hồ những người
chưa bao giờ nghe đến tứ vô lượng tâm !
Tình
thương bao la rộng lớn là giá trị căn bản của các tôn
giáo. Tôn giáo nào không nói đến tình thương rộng lớn thì
không phải là tôn giáo chân chính. Nhưng mỗi tôn giáo vẫn
có đôi chút khác nhau khi nói về loại tình thương này. Hồi
giáo kêu gọi thương yêu giữa những người đồng đạo với
nhau, và cho phép giết người ngoài đạo. Kitô giáo theo lời
Jésus thương cả kẻ thù của mình. Khổng tử cũng đề cao
lòng Nhân. Chỉ đức Phật mới nói về một lòng Từ
Bi thương yêu tất cả chúng sinh, đến tận cỏ cây chim thú.
Tình
thương rộng lớn mà đạo Phật nhắm đến gần như tuyệt
đối. Đức Phật đã đạt được tình thương như thế. Còn
những ai tu theo Phật cũng sẽ phải đi theo hướng đó, về
một tình thương phủ trùm tuyệt đối đến tất cả muôn
loài, kể cả cỏ cây.
Nói
theo logic, tình luyến ái thuộc về tâm ích kỷ; lòng từ bi
thuộc về tâm vị tha. Ích kỷ thuộc về chấp ngã; vị tha
thuộc về vô ngã.
Chấp
ngã sinh ra ích kỷ và luyến ái; vô ngã sinh ra vị tha và từ
bi.
Vì
có chấp ngã nên ta có ích kỷ. Nếu tu tập vô ngã ta sẽ
được từ bi. Càng tu tập từ bi thì chúng ta càng gần với
vô ngã; càng tu tập vô ngã, chúng ta càng thành tựu từ bi.
Vì vậy một vị Alahán đã chứng đạt vô ngã hoàn toàn cũng
là thành tựu tâm từ bi vô hạn.
Đó
là một logic hết sức chặt chẽ và không thể đảo ngược.
Ai hiểu rằng một vị Alahán chưa có lòng từ, người đó
là tà kiến, và có thể đọa địa ngục.
Có
một thời gian khi giáo lý Bắc tông phát triển mạnh ở miền
Bắc Ấn độ, nhiều người đã nghĩ rằng Alahán chưa có
lòng đại bi như Bồtát. Quan điểm đó nên được điều
chỉnh lại cho đúng với lời Phật dạy, và đúng với logic
học hiện đại.
Từ
bi và vô ngã là một, cái này hỗ trợ cái kia, cái này là
bóng phản chiếu của cái kia. Nếu ta tu tập vô ngã mà chưa
thấy lòng từ bi xuất hiện tức là chưa được vô ngã. Nếu
ta tu từ bi mà chưa nhẹ ngã chấp tức là từ bi chưa có mặt.
Chúng
ta tu tập từ bi tức là cũng đi trên con đường đến vô
ngã, giống như thiền định. Vì vậy người tu tập thiền
định mà không tu kèm theo từ bi thì không có kết quả lớn
trong thiền định được. Tâm từ bi trợ giúp cho thiền tiến
nhanh hơn. Phật dạy rằng ai đi tận cùng con đường của
từ bi cũng thành tựu giải thoát (Kinh TỪ, Tăng Chi).
Ngược
lại, chánh định cũng khơi mở lòng từ bi. Chúng ta nhấn
mạnh chữ chánh định, vì nếu tuy có sức định mà không
chánh, lòng từ bi cũng không mở ra. Khi tâm ta vào được một
chút định thì lòng từ bi cũng mở ra thêm một chút. Ví dụ
bình thường chúng ta nhìn mọi người chung quanh một cách
hờ hững. Nhưng lúc nào đó mà tâm ta lắng yên rỗng rang,
tự nhiên ta nhìn mọi người với tâm thương yêu nhẹ
nhàng lập tức. Khi tâm yên lắng, tự nhiên tâm đó lan ra,
bao phủ rộng rãi đến mọi người mọi vật chung quanh, đến
cả cỏ cây sông núi. Tình thương cũng theo đó trùm lấy muôn
loài.
Đó
là lý do tại sao một vị Thánh yêu cả cỏ cây một cách
tự nhiên là vậy. Chúng ta chưa bằng các vị thánh, nhưng
nếu tâm có chút thiền định cũng khiến tình thương bắt
đầu có mặt.
Có
người nói: “một thiền sư luôn luôn là một nghệ sĩ, nhưng
một nghệ sĩ thì không phải là thiền sư”.
Sở
dĩ một thiền sư luôn là một nghệ sĩ vì vị đó có tình
thương rộng lớn, cảm được đến cả đất trời cây cỏ,
có thể biến thành cảm hứng sáng tác ra những bài thơ tuyệt
đẹp. Các ngài cũng có một đời sống phóng khoáng nhẹ nhàng
rất hay. Còn nghệ sĩ có nhiều tình cảm lãng mạn lai láng,
rất khác với tình thương rộng lớn của thiền sư. Lối
sống của nghệ sĩ cũng phóng túng chứ không phải phóng khoáng.
Những sắc thái đó tuy na ná gần nhau nhưng khác nhau. Người
nghệ sĩ đi theo hướng cảm tính nên đến gần ích kỷ dần
dần. Chỉ khi nào họ đi theo Phật Pháp để thanh lọc những
cảm tính xao động và phóng túng thì đời họ mới bớt khổ.
Tôn
giáo nào cũng đề cao tình thương rộng lớn, như chỉ trong
đạo Phật mới có con đường đi rất rõ, là quán từ bi,
kết hợp với thiền định phá trừ ngã chấp, rồi từ bi
xuất hiện. Đức Phật và các vị Alahán chứng được vô
ngã tuyệt đối rồi thì lòng từ bi phủ trùm cả vũ trụ.
Lòng
từ bi của Phật luôn luôn phủ trùm chúng ta trong từng giây
từng phút. Chúng ta không cảm nhận được vì cánh cửa lòng
mình đóng kín quá. Chúng ta đóng cửa lòng bởi vô số ích
kỷ, chấp trước, xao động, và ghê gớm nhất chính là chấp
ngã nên không biết được mình luôn luôn sống trong tình thương
của Phật. Chúng ta hãy nghe bài tụng quán tưởng khi tụng
kinh theo nghi thức Bắc tông của Việt Nam và Trung Hoa:
Năng lễ, sở lễ tánh không tịch
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì…
Năng
lễ là người quỳ lạy, tức là đệ tử Phật chúng ta; sở
lễ là người được lạy, tức là Phật. Cả hai đều cùng
một bản chất huyễn hóa hư vô. Tuy là hư vô nhưng không
phải là hoàn toàn không có gì, mà tất cả vẫn vận hành
theo luật Nghiệp báo công bằng. Phật đã chứng đạt được
vô ngã tịch lặng. Nếu chúng ta cũng thâm nhập nghĩa lý vô
ngã đó, tự nhiên sự cảm ứng kỳ diệu sẽ hiện bày, chúng
ta sẽ cảm nhận được tình thương của Phật đang trùm phủ
ôm ấp chúng ta cũng như mọi chúng sinh khác. Ngược lại,
nếu chấp ngã, ích kỷ, xao động, tự đứng riêng một góc
trời, tự khép cửa tâm hồn lại, chúng ta sẽ không cảm
nhận được tình thương của Phật cho chúng ta.
Ví
như chúng ta ngồi nhìn nhau, nếu mỗi người bận tâm chạy
theo cái xao động của mình, chấp giữ bản ngã của mình,
chúng ta sẽ không có được niềm thông cảm quý mến nhau,
sẽ cảm nghe ngăn cách xa lạ với nhau. Ngược lại nếu mỗi
người lắng tâm yên tĩnh, buông bỏ bớt ngã chấp của mình,
tự nhiên sẽ nghe gần gũi thông cảm quý mến nhau hơn.
Đức
Phật chứng đạt vô ngã hoàn toàn nên lòng từ bi của Ngài
phủ trùm đến tất cả chúng sinh. Nhưng về phần chúng ta,
nếu chúng ta chấp ngã, không thấy cái ta này là hư ảo, đóng
cửa lòng của mình lại, chúng ta sẽ không thấy được tình
thương yêu của Phật hiện diện nơi mình từng giờ từng
phút.
Trong cuốn Tự truyện Hư Vân niên phổ, ngài Hư Vân có thuật
một lần bị bệnh, ngài thấy mình lên cõi trời Đẩu suất
nghe Phật Di Lặc thuyết pháp. Trong hội chúng cực kỳ đông
đảo đó, Ngài gặp lại nhiều vị cao tăng lúc trước, kể
cả thầy của ngài là hòa thượng Kính Dung. Nói chung là những
vị tu hành chân chính khi mất đều lên cõi trời Đẩu suất.
Hòa
thượng Kính Dung chỉ Ngài ngồi vào một cái tòa còn trống,
bên cạnh tôn giả Anan. Điều lạ là ngài Anan từ thời đức
Phật bây giờ vẫn còn theo phò Phật Di Lặc trên cung trời
Đẩu suất.
Chợt
Phật Di Lặc dừng giảng chỉ ngài Hư Vân bảo: “Con còn
nghiệp, phải quay về.”
Ngài
Hư Vân thưa: “Con nghiệp nặng nên không muốn về nữa. Con
muốn ở đây học pháp.”
Phật
Di Lặc nói: “Không, con phải về vì còn nhiều việc phải
làm.” Rồi Phật Di Lặc giải thích thêm cho Ngài hiểu.
Câu
chuyện trên làm chúng ta cảm động về lòng thương yêu của
chư Phật Bồtát đối với chúng sinh. Cách nói chuyện của
Phật Di Lặc biểu lộ một lòng từ bi nhưng cũng rất nghiêm
khắc, và không bỏ sót chúng sinh nào.
Chúng
ta là đệ tử Phật cũng phải học theo tâm từ bi của Phật,
dù chưa thể thành tựu hoàn toàn. Mỗi ngày ta phải tu tập
sao cho lòng thương yêu chúng sinh càng lúc càng lan rộng; mỗi
ngày ta phải tu sao cho tình thương riêng tư giảm bớt dần
dần. Trong cuộc sống đúng là chúng ta có duyên với mọi
người khác nhau khiến cho ta thường hay thương người này
nhiều hơn người kia. Bây giờ tu tập từ bi, chúng ta cố
gắng đừng để thiên vị quá đáng. Trường hợp người
xuất gia ở trong đại chúng cộng đồng càng phải cẩn thận
không nên kết thân riêng với vài ba người, phải trải lòng
chan hòa chung đến với tất cả huynh đệ. Cưỡng lại duyên
xưa để tránh kết thân riêng là cả một sự kềm chế lớn
để cho lòng từ bi có cơ hội phát triển.
Nhà
thơ Goethe có câu nói nỗi tiếng: ”Đứng trước một bộ
óc vĩ đại, tôi cúi đầu; nhưng đứng trước một trái tim
vĩ đại, tôi quỳ xuống.”
Goethe
đã đại diện cho cả nhân loại để bày tỏ một nguyên
lý, là đối với tài năng lớn, người ta sẽ rất nể phục;
nhưng người ta chỉ thật sự tôn kính, ngưỡng mộ, thương
quý đối với người có tấm lòng thương yêu rộng lớn.
Thái độ quỳ xuống nói lên mức độ bị khuất phục vạn
lần so với cúi đầu. Thật vậy, đứng trước người mà
ta biết rõ là khoan dung độ lượng, ta cảm thấy có thể
đem cả cuộc đời mình để nương tựa, bước theo, dâng
hiến.
Người
đệ tử Phật, nhất là người xuất gia, càng phải tu làm
sao để trở thành suối nguồn yêu thương cho mọi người
chung quanh, trở thành cây cao bóng cả cho chúng sinh nương tựa.
Người thế gian mệt mõi vì đủ thứ phiền toái khổ đau,
nên muốn tìm chỗ dựa tinh thần cho khuây khỏa. Bổn phận
của người đệ tử Phật là làm vơi đi nỗi khổ của cuộc
đời này bằng tình thương yêu bao la như lời Phật dạy.
Đến với người có tấm lòng nhân ái, ai cũng cảm thấy
tươi mát dễ chịu.
Điều
chúng ta cần phải chuẩn bị tinh thần trước là việc tu
tập tâm từ bi sẽ rất vất vả chứ không phải nhàn rỗi
dễ chịu. Ví dụ một điều rất nhỏ là phải chịu khó
nghe chúng sinh kể lể nổi niềm riêng tư đau khổ để họ
được nhẹ lòng và muốn xin một lời khuyên từ người khách
quan bên ngoài. Nhiều khi những chuyện rất chán như chuyện
tình cảm thương ghét giữa người này người kia, chuyện
người này nói xấu, người kia phân trần. Hơn nữa là họ
biết chúng ta có lòng từ ái độ lượng. Trong những trường
hợp như vậy, chúng ta phải quên bản thân mình để có sự
đồng cảm với họ; rồi chúng ta dùng đạo lý để đánh
giá vấn đề, và tìm ra một cách giải quyết tốt đẹp
giùm họ. Chúng ta phải dựa trên luật Nhân quả và những
Tâm lý Đạo đức để khuyên bảo họ hành xử đúng hơn
và mọi chuyện sẽ ổn thỏa.
Chưa
cần phải là một giảng sư thao thao bất tuyệt trên pháp
tòa, chỉ cần sao cho bất cứ ai trên đời gặp chúng ta đều
tìm thấy được sự an ổn, đó cũng là công đức tu hành
của một người đệ tử Phật rồi. Muốn như vậy, tất
cả đệ tử Phật chúng ta phải có lý tưởng vì Phật Pháp,
vì chúng sinh, chứ không thể tu hành hời hợt được. Chúng
ta phải phát triển lòng từ bi thật vững chắc, mà Phật
nói trong kinh Tăng Chi là phải làm cho lòng Từ trở thành căn
cứ địa của tâm hồn.
Nếu
tâm từ không được thiết lập, củng cố, phát triển, tâm
luyến ái sẽ có cơ hội nẩy nở để thế chỗ, và thế
là chúng ta sẽ trở lại cách sống tầm thường như cũ nghĩa
là cũng thương ghét rộn ràng, hơn thua phải quấy, bên nặng
bên nhẹ… Cuộc đời chúng ta không có gì sáng sủa mà những
người chung quanh ta cũng mệt mõi rã rời. Dĩ nhiên là chúng
ta đã không chứng tỏ được sự tuyệt vời của Phật Pháp
cho mọi người thấy, cũng có nghĩa là chúng ta làm mất niềm
tin nơi họ.
Dù
chưa chứng Thánh, chỉ cần chúng ta có lòng từ bi thôi cũng
đủ để sống một đời đầy lợi ích cho mọi người, và
bản thân ta cũng bớt nhiều phiền toái vì thương ghét rộn
ràng của thế gian, hay chính những nhược điểm của mình.
Vì sao, bởi vì muốn khắc phục khuyết điểm, ngoài sự hiểu
biết, chúng ta cũng cần phải có phước. Thiếu phước, chúng
ta thường vấp ngã trở lại những thói hư tật xấu như
xưa. Ơû đây lòng từ bi sẽ cho chúng ta cái phước đó để
chúng ta vượt qua những lầm lỗi của mình.
Ví
dụ như một người xuất gia, kiếp này xuất gia chứ đâu
phải tất cả những kiếp trước đều xuất gia. Do đó chắc
chắn rằng trong nhiều kiếp người này cũng đã từng sống
đời sống gia đình có vợ chồng con cái. Biết đâu kiếp
này đang tu gặp lại vợ chồng kiếp xưa. Lúc đó khó ai tránh
khỏi những cảm xúc thương mến không giải thích được.
Nếu không tu tập từ tâm, chúng ta sẽ bị luyến ái cũ khuấy
phá mạnh mẽ. Nếu thường xuyên rãi lòng thương yêu chúng
sinh, tự nhiên cảm xúc cũ sẽ dễ dàng vượt qua hơn. Đó
là nhân quả rất chính xác.
Phước
đến với chúng ta bởi công hạnh lễ kính Phật và từ tâm.
Phước này giúp chúng ta hóa giải nghiệp duyên xưa để cùng
giúp nhau tu hành, và không bị luyến ái cũ lập lại. Phước
đó cũng giúp ta nhiếp tâm trong thiền được dễ dàng hơn
vì tâm ích kỷ bị tâm từ bi hóa giải, mà ích kỷ bớt nghĩa
là phiền não bớt, an vui thêm.
Vì
lý tưởng Phật pháp ,vì chúng sinh ,vì đạo đức cao đẹp
của Phật pháp, chúng ta không cho phép mình sống đời
ích kỷ giải đãi, mà phải hết sức tu hành, nhất lòng thương
yêu chúng sinh vạn loài.
2.Tu
tập từ tâm
a. Khi lễ Phật
Tâm
từ bi rất khó phát khởi tự nhiên vì không có điều gì
thúc đẩy. Chỉ những người có trí tuệ mới chịu cực
khổ dựng lập tâm từ bi trong lòng mình vì biết rằng phải
có tâm từ bi để ta thoát khỏi sự tầm thường của kiếp
người, và để ta đủ sức mạnh sống đời vị tha.
Đối
với những người xuất gia thì việc tu tập từ bi còn bức
thiết hơn nữa vì có công phu thực hành, chúng ta mới có
sức mạnh thuyết phục mọi người cùng tu tập từ tâm. Hơn
nữa, nhờ có thực hành nên chúng ta hiểu kỹ mọi ngõ ngách
để có thể hướng dẫn cặn kẽ lại người sau. Nếu chúng
ta chỉ nghe sao rồi nói lại như vậy, người nghe cũng chỉ
nghe phơn phớt, và không quyết tâm thực hành theo.
Trước
hết chúng ta phải chân thành quỳ trước Phật, lễ Phật,
tha thiết cầu Phật gia hộ cho mình phát khởi được lòng
thương yêu vô hạn đến tất cả chúng sinh. Sau đó, chúng
ta tiếp tục quỳ đó mà quán tưởng trải lòng thương yêu
khắp muôn loài. Ban đầu là cầu Phật, kế đó là tự mình
làm lấy.
Tại
sao việc tu hành âm thầm trong tâm cũng phải cần sự gia hộ
của Phật? Tại sao chúng ta vẫn nghe đạo Phật chủ trương
tự mình thắp đuốc lên mà đi, hãy thắp lên với Chánh pháp,
tự mình là chỗ nương tựa cho chính mình, đừng nương tựa
với một ai cả…?
Có
2 cực đoan mà người tu hành nên tránh:
Cực
đoan thứ nhất là chấp ngã, là xem mình có thật, nên chủ
trương cái gì cũng phải do mình, tự mình, bởi mình, không
cần ai hết. Nếu nhờ vả ai thì giống như mình bị giảm
giá trị. Đây vừa là chấp ngã, vừa là tự kiêu.
Cực
đoan thứ hai là nhu nhược, là ỷ lại vào thần thánh, không
chịu nhận trách nhiệm về mình. Người này trở thành nô
lệ của thần linh nào đó và chỉ cầu xin sự hỗ trợ. Đây
vừa là yếu đuối, vừa là lười biếng. Các tôn giáo thần
quyền hầu hết bị điều này.
Để
tránh 2 cực đoan đó, chúng ta có Trung đạo như sau:
Thứ
nhất, hiểu rằng cái ta này không thật nên sự gia hộ giúp
đỡ của chư Phật khiến ta nhanh chóng thành tựu Tâm từ
là ưu thế cần khai thác. Ta không giống kẻ tự ái sợ mất
giá trị khi phải nhờ vả; ở đây ta nhờ vả Phật để
thành tựu lòng Từ bi mới là giá trị cao quý thật sự.
Thứ
hai, chúng ta hiểu rằng nếu không có nỗ lực bản thân thì
không có điều gì thành tựu, nghĩa là mỗi người cũng phải
chịu trách nhiệm về việc làm của mình; do đó chúng ta phải
cố gắng quán tưởng trải lòng thương yêu đến tất cả
chúng sinh.
Trung
đạo có cả hai tính chất, vừa khiêm tốn nhờ sự giúp đỡ
của Phật, vừa tinh cần nỗ lực bản thân.
Sự
cầu nguyện ở đây không bị xem là mê tín vì chúng ta cầu
gia hộ để gieo nhân chứ không phải cầu hưởng quả. Cái
khác nhau giữa mê tín và chánh tín trong sự cầu nguyện là
như vậy. Người mê tín cầu nguyện để được giàu sang
thành đạt ngay mà không màng tới việc làm phước. Người
chánh tín cầu nguyện để có cơ hội làm nhiều phước lành
trước đã rồi sự giàu sang sẽ tự tìm đến.
Trong
việc cầu Phật để gieo nhân lành thì nhân lành đầu tiên
quan trọng nhất chính là tâm từ bi.
Chúng
ta cũng nhắc lại, ý chí có 2 loại, một loại phát sinh từ
công đức, và loại thứ hai phát sinh từ bản ngã. Ý chí
đến từ công đức thì nhẹ nhàng và không làm phát sinh kiêu
mạn; ý chí đến từ nỗ lực bản thân thì nhanh chóng tạo
thành kiêu mạn.
Tâm
từ bi cũng vậy, có 2 loại, đến từ công đức, và đến
từ nỗ lực bản thân đơn thuần.
Ví
dụ một người không tin thần thánh trời Phật gì cả, nhưng
có suy nghĩ tốt rằng sống trên đời phải biết thương người,
và người này hằng ngày tự nhũ riết rằng phải thương
người, phải thương người… Dần dần họ cũng bắt đầu
xuất hiện từ bi bác ái trong tâm. Tuy nhiên, một hệ quả
phụ nguy hiểm cũng xảy ra đồng thời, đó là tâm kiêu mạn.
Thật vậy, khi nghĩ rằng thương người, ta đã tự cho mình
cao hơn người một bậc! Vừa thương người, vừa nghĩ mình
hơn người, thật là oái oăm!
Còn
nếu ở đây, ta lấy công đức lễ Phật để làm nhân lành
giúp phát khởi Từ tâm, hệ quả phụ nguy hiểm kia sẽ không
xuất hiện kèm theo, tuy thương người mà vẫn tôn trọng con
người, vẫn không thấy mình hơn người.
b.
Lúc tọa thiền
Tu
tập thiền định là chánh đạo thứ 8 trong Bát chánh đạo,
nhưng Bát chánh đạo phải được tu tập đồng thời. Nhờ
có thiền định giúp nội tâm yên tĩnh, chúng ta sẽ thông
suốt đạo lý. Thiếu thiền định, chúng ta sẽ thiếu gần
hết mọi công đức trong Phật Pháp vì tất cả giáo lý đạo
Phật đều liên quan đến thiền định.
Chúng
ta tu tập Từ bi trong thiền định như sau:
Trước
hết, chúng ta bắt chân kiết già ngồi đúng tư thế, chắp
tay niệm Phật 3 lần; nguyện lòng tôn kính Phật vô biên.
Kế
đó, nguyện lòng thương yêu tất cả chúng sinh một cách tổng
quát.
Rồi
chúng ta trải lòng thương đến những người gần gũi chung
quanh mình, như cha mẹ, anh chị em, huynh đệ, láng giềng, bạn
bè, đồng nghiệp… Người xuất gia thì thương huynh đệ
đồng liêu, đồng đạo. Khi quán tưởng như thế ta mới giật
mình vỡ lẽ rằng nào giờ mình chưa hề thương yêu
ai chung quanh. Tuy sống chung mái chùa mà mọi người chưa hề
thương yêu chăm sóc đỡ đần cho nhau, vẫn ngăn cách xa lạ
thờ ơ với nhau. Chúng ta đã bỏ gia đình nhỏ bé để về
đây làm thành một gia đình lớn lao hơn, cao quý hơn, nhưng
cuối cùng thì tình thương không hiện hữu. Bây giờ
bù lại, chúng ta phải thương yêu huynh đệ thật nhiều.
Rồi
trải lòng thương yêu những người chung quanh vẫn chạm mặt
mà ta không quan tâm thương mến, đơi khi lạnh nhạt thờ ơ,
bây giờ phải biết thương thật sự; nhất là hàng xóm. Phải
làm sao sau này, những người láng giềng nhận xét rằng người
tu theo đạo Phật càng lúc càng hòa ái dễ thương, vì họ
cảm nhận được tấm lòng của chúng ta đố với họ.
Tiếp
theo, chúng ta nghĩ đến những người mưu hại, nói xấu, xúc
phạm mình và tác ý thương yêu họ.
Sống
trên đời, không ai tránh khỏi bị chỉ trích, nói xấu, xúc
phạm, hãm hại… Giới tu sĩ thường hại nhau bằng lời nói
công kích qua lại; người thế gian có thể hại nhau đến
thân tàn ma dại, cùng đường tuyệt lộ, tù tội chết chóc…
Khi bị như vậy, thói thường người ta sẽ mang tâm oán hờn
thù hận. Nhưng vì chúng ta là đệ tử Phật, chúng ta phải
buông xả sự thù giận đó, và hơn thế nữa, phải trải
lòng thương yêu kẻ đã hại chúng ta. Nói thì dễ, nhưng khi
thực hành sẽ rất khó khăn.
Có
một người đã từng bị mưu hại cho tù tội do bị ganh tị
trong học tập, nhưng may mắn không bị. Người này không để
tâm giận hờn và bỏ qua cho vào quên lãng. Đến khi tu tập
Từ tâm, nhớ lại kẻ đã hại mình, liền tác ý thương yêu,
nhưng không thể nào thương yêu được. Lúc đó, người này
mới biết rằng tưởng đã quên nhưng cái giận vẫn còn chìm
sâu trong lòng chưa hết. Phải quyết tâm tác ý thương kẻ
đó suốt mấy ngày, người này mới vượt qua được cái
giận tiềm ẩn.
Vượt
qua sự thù hận để thương yêu được kẻ đã hại mình
là một công đức lớn vì chúng ta tránh được ý niệm trả
thù trong tương lai. Còn một người nào đó để mình phải
ghét thì mình chưa phải là một đệ tử ngoan của Phật.
Vì vậy chúng ta phải thương yêu cho được kẻ đã ganh ghét
mưu hại công kích mình.
Kế
đến, chúng ta nghĩ đến vô số vong linh trong cõi giới siêu
hình để tác ý thương yêu họ. Đây là một tồn tại mà
thế giới phải công nhận.
Trước
hết các nhà khoa học tin rằng còn nhiều hành tinh khác có
sự sống trong vũ trụ này. Các phương tiện quan sát hiện
nay chưa đủ để tìm thấy một cách rõ ràng một hành tinh
có sự sống, nhất là sự sống thông minh nào khác trong vũ
trụ. Đôi lúc họ đã bi quan cho rằng Trái đất là sự sống
cô độc của Vũ trụ. Nhưng rồi những tính toán và tiến
bộ kỹ thuật cho phép họ hy vọng vẫn còn nhiều hành tinh
khác có sự sống, kể cả sự sống thông minh.
Trong
cuốn “Mối tình bất diệt của vua Seti” kể lại câu chuyện
của một ông vua Ai cập dan díu với một nữ tu sĩ. Để bảo
vệ cho vua, khi bị các trưởng lão tra vấn, người nữ tu
này đã tự tử. Sau này nhà vua biết chuyện nên vô cùng cảm
thương. Đến khi chết, linh hồn ông mải miết đi tìm người
con gái đó. Ông lang thang đi từ cõi này sang cõi khác suốt
gần ba ngàn năm như vậy. Cô bị các vị thần bắt giam trong
một nơi bí mật khiến ông không thể nào tìm ra. Về sau,
các vị thần cảm động trước tấm lòng của vua Seti nên
đã cho cô gái đầu thai trở lại vào nước Anh. Lúc đó,
vua Seti mới tìm thấy và tiếp xúc với cô dần dần. Ông
có kể với cô rằng ông đã bay qua nhiều hành tinh khác; có
những hành tinh chỉ có cây xanh mà không có động vật, không
có người có thú nào hết. Một lần ông đến một hành tinh
đã từng có sự sống văn minh, thấy nhà cửa, xe cộ, những
loại xe không có bánh cũng không có cánh –nghĩa là giống
như dĩa bay UFO. Nhưng tất cả đều chết khô sạch sẽ vì
không còn một chút không khí nào cả. Xác người vẫn còn
nằm yên tại chỗ trên xe, trên đường, trong nhà… khô héo.
Ông cho rằng một vị thần nào đó đã lấy hết không khí
để tiêu diệt sự sống nơi đó vì một lỗi lầm nghiêm
trọng nào đó của loài người tại đấy.
Từ
câu chuyện trên ta thấy Vũ trụ này đa dạng vô cùng, và
thế giới này phức tạp vô cùng.
Thế
giới vô hình cũng rất là phức tạp. Có những chúng sinh
sau khi chết sinh lên cõi trời vì lúc sống đã làm nhiều
việc thiện và biết tu dưỡng tâm hồn thánh thiện.
Có
những chúng sinh tội phước lẫn lộn, chưa đủ để lên
cõi trời, nhưng cũng không đọa vào ác đạo, cũng chưa đủ
duyên đầu thai, sẽ có một đời sống khá giống người
ở trần thế này. Đôi khi họ vào chùa tu và được nhiều
tiến bộ về tâm hạnh, đến khi đầu thai trở lại sẽ là
người có nhiều thiện duyên. Thời gian họ tồn tại ở cõi
âm như thế có khi kéo dài cả trăm năm.
Có
những chúng sinh tội nặng thì hình tướng biến đổi trở
nên xấu xí ghê rợn, đọa vào địa ngục hoặc làm thân
quỷ đói. Thường thì đến tuổi già gần chết, nếu gương
mặt ai trở nên đẹp đẽ phúc hậu là có dấu hiệu sau khi
chết về cõi lành, nếu gương mặt ai trở nên xấu xí hung
dữ là có dấu hiệu sai khi chết về cõi đọa.
Ma
có nhiều loại. Có loại vong yếu ớt, không có tác động
gì tới người sống được. Họ sống chung lẫn với mình
mà mình không hay biết, nhưng họ thấy biết được mình.
Họ cô đơn buồn bã, thiếu thốn, đói khổ vì quá thiếu
phước. Có khi họ cũng biết đến chùa nghe thuyết pháp để
tu hành từ từ.
Loại
thứ hai có tâm lực mạnh hơn một chút, có thể tác động
vào tư tưởng người sống, xúi mình làm chuyện này chuyện
kia. Có khi trong gia đình cãi cọ nhau um sùm mà thật ra không
phải tại người sống, mà tại ma xúi. Có khi chúng ta đi
ngang qua một cửa hàng tự nhiên muốn vào mua hàng, chỉ bởi
vì cô hồn nào đó xúi để giúp cho người chủ buôn bán
đắt khách. Người chủ này biết thường xuyên cúng thí thực
cho vong ăn đều đặn.
Rồi
có loại ma tâm lực mạnh hơn co thể tác động vào vật chất
như làm cho cái ly trên bàn rớt xuống đất vỡ toang; hoặc
không có gió mà làm cho cánh cửa đóng rầm rầm; hoặc ban
đêm ở trong nhà bếp dỡ nồi khua chén rổn rảng.
Rồi
có loại ma có thể hiện hình cho mình thấy luôn.
Có
nhiều loại chúng sinh trong cõi giới vô hình như thế mà ta
phải quán từ bi thương yêu họ không bỏ sót. Nếu chúng
ta chỉ rải tình thương cho thế giới cõi người thì tâm
từ bi của mình chưa bung vỡ vô hạn, vẫn còn lấn cấn khập
khiểng. Nếu chúng ta thương yêu cả cõi âm, tự nhiên ta sẽ
nghe tâm mình rộng rãi, an lạc, thoải mái, tràn đầy.
Thỉnh
thoảng có người thấy ma hiện ra, hoặc nghe tiếng ma nói
gì gần đâu đấy, hoặc bị rờ tay đụng chân. Cảm giác
của mọi người hầu hết là run sợ vì không biết gì về
đối phương cả. Chính vì bị cảm giác sợ này mà mọi người
dùng từ ma nhát. Vì nghĩ rằng ma nhát nên xem ma là kẻ xấu,
kẻ thù và tìm cách chống trả, ếm trấn, tiêu diệt. Thật
ra ít có trường hợp người âm cố ý hù dọa ai. Họ chỉ
muốn tiếp xúc xin ăn và kết bạn. Nhưng vì họ có hình dạng
ghê rợn do tội lỗi đời trước nên không thể có sự tiếp
xúc bình thường. Chúng ta hãy nghĩ như thế này, nếu chúng
ta thương yêu được người tật nguyền xấu xí ăn xin trên
đường phố thì cũng nên độ lượng thương yêu người cõi
âm như thế. Nhất là bây giờ chúng ta tu tập Từ tâm vô
lượng thì càng không được quyền có giới hạn trong
tình thương của chúng ta.
Kế
đến chúng ta tác ý thương yêu các loài súc sinh khắp cả
trời đầy cả đất, chim thú trong rừng, cá tôm dưới nước…
Kế
nữa chúng ta tác ý thương yêu chúng sinh dưới địa ngục.
Thông
thường thì ai ác độc sẽ đọa địa ngục; bỏn xẻn sẽ
đọa ngạ quỷ; si mê tà kiến sẽ đoạ súc sinh. Đó là nguyên
tắc căn bản. Nhưng thật ra sự tình phức tạp hơn nhiều.
Vì có người phỉ báng Thần thánh bị đọa súc sinh; có người
phỉ báng thần thánh bị điên loạn; có người phỉ báng
thần thánh lại đọa luôn xuống địa ngục. Tuy nhiên căn
bản là ai ác độc sẽ đọa địa ngục.
Thế
nào là người ác độc?
Người
ác độc là người đủ tàn nhẫn để hoặc là dùng nhục
hình làm người khác đau khổ, hoặc là dùng mưu mô hiểm
độc hại người khác rơi vào đường cùng tuyệt vọng đau
khổ. Nói chung là làm chúng sinh đau khổ với tâm tàn nhẫn.
Đó là người không động lòng xót xa trước nỗi đau của
người khác, có khi còn thích thú khi thấy kẻ khác đau khổ.
Người đó có thể đánh đập, cắt chém, thiêu đốt, giết
hại kẻ khác.
Chúng
ta đánh giá người có thiện tâm hay không bằng cách xem họ
có thái độ trước nỗi đau của kẻ khác như thế nào. Nếu
người này biết xót xa trước nỗi đau của người khác,
tức là người có thiện tâm; nếu người này tỉnh bơ, thậm
chí khoái chí trước nỗi đau của người khác, tức là người
có ác tâm. Có những tay bợm nhậu xúm nhau dùng cây đập
vỡ đầu một con chó mà còn cười hăng hắc, ta biết những
người này có nhân của địa ngục.
Khi
xuống địa ngục, những gì họ đã làm cho chúng sinh
đau đớn, họ sẽ phải đền trả sòng phẳng. Những ngọn
lửa không tắt, những lưỡi dao cắt không dừng sẽ thiêu
đốt đâm chém họ trở lại.
Vậy
thì có cách nào để những chúng sinh đó thoát được nghiệp
địa ngục?
Vì
ác tâm nên họ bị đọa địa ngục, bây giờ chỉ có tâm
Từ bi giúp họ thoát địa ngục.
Có
câu chuyện tiền thân đức Phật làm minh họa cho đạo lý
này, dù rằng chúng ta có thể không tin. Nhưng câu chuyện cũng
rất hay. Một lần trong kiếp rất xưa, Ngài bị đọa địa
ngục. Chúng ta không tin Ngài tạo một tội gì ghê gớm đến
nỗi bị đoạ địa ngục, nhưng chúng ta cứ để ý khía cạnh
đạo lý. Ngài phải chịu nhiều cực hình đau đớn giống
như các tội nhân khác. Khi phát hiện ra chung quanh mình cũng
đang có vô số chúng sinh đang rên la vì bị trừng phạt, Ngài
chợt động tâm thương xót nên phát một lời nguyện rằng
xin được gánh hết sự trừng phạt của mọi người trong
địa ngục này. Ngay khi tâm Ngài dõng mãnh chấp nhận đau
đớn giùm cho tất cả như thế thì địa ngục tan biến lập
tức.
Về
nguyên tắc thì câu chuyện đó đúng với đạo lý, nhưng về
tính chân thật thì khó thuyết phục chúng ta tin rằng Phật
đã từng bị đọa địa ngục như vậy.
Về
nguyên tắc, nếu chúng sinh nào đang bị đọa địa ngục mà
có thể khởi tâm từ bi thì thật sự có thể thoát khỏi
kiếp địa ngục. Vì vậy, nếu có thương xót chúng sinh nơi
địa ngục, chúng ta cũng không thể giúp gì cho họ, chỉ có
cách cầu nguyện cho họ khởi được tâm từ bi đề tự họ
thoát khổ mà thôi.
Xin cho nơi địa ngục
Chúng sinh đang đọa đày
Khởi được tâm từ bi
Để xa lìa cảnh khổ.
Nhưng
thực tế thì rất khó. Hãy tưởng tượng một người đang
bị nhức đầu, nhức răng, đau bụng rên la oằn oại, người
đó dường như quên hết Phật pháp Đạo lý vì tâm bị cơn
đau bức bách rối loạn. Cũng vậy, chúng sinh đang bị
thiêu đốt ở điạ ngục, vốn từ trước không biết điều
thiện gì nhiều, bây giờ lại đang bị dày vò hành hạ, rất
khó khởi được tâm thương yêu người khác. Thường thì
họ phải chịu đày đọa cho đến khi hết tội mới thoát
khổ chứ không dễ bình tỉnh tác ý theo điều lành. Giống
như người điên không thể làm phước để tự cứu lấy
mình, cũng vậy, chúng sinh dưới địa ngục cũng khó thể
khởi tâm lành.
Cuối
cùng, chúng ta rải tâm Từ bi phủ trùm mênh mông khắp trong
pháp giới, và duy trì như vậy lâu lâu một chút.
Khi
quán Từ bi, chúng ta chịu khó đi qua từng giai đoạn một
cách kỹ lưỡng như vậy rồi hãy rải tâm Từ bi phủ trùm,
khiến cho tâm Từ bi sâu sắc lớn lao mạnh mẽ. Nếu không,
tâm Từ bi sẽ hời hợt sơ sài. Mỗi lần tu tập quán tưởng
từ bi như vậy mất chừng 10 phút, nhưng công đức cho nhiều
kiếp sau thật là vô lượng. Nhất là người xuất gia lại
càng phải huân tu Từ tâm nhiều hơn để làm chỗ nương tựa
cho Phật tử, làm những trụ cột vững chắc cho Phật Pháp.
Người
nào tác ý thương yêu chúng sinh, tự nhiên tâm người đó
có hào quang sáng lên mà chư thiên có thể nhìn thấy được.
Chư thiên tử nhìn xuống trần gian chỉ thấy dường như tối
đen bởi hận thù bạo lực. Nhưng trong bóng tối đó, tâm
hồn ai có từ tâm thương yêu sẽ sáng lên rõ rệt khiến
chư thiên chú ý. Nếu ai thường xuyên tu tập từ tâm, hào
quang sẽ hiện dần trên gương mặt mà người thường cũng
cảm nhận được.
c.
Trong cuộc sống
Tu
tập Từ tâm trong cuộc sống là biết khởi tâm thương yêu
khi mắt vừa chạm đến bất cứ người nào trong cuộc sống
này. Ban đầu chúng ta không quen tác ý như thế nên sẽ rất
khó khăn, nhưng tập quen rồi sẽ cảm thấy tâm hồn chuyển
biến rất lạ.
Những
khi bước ra đường trông thấy người này người kia, xa lạ
có, quen biết có, chúng ta cũng tự nhũ rằng “con nguyện
thương yêu những người này”.
Sau
này thuần thục rồi, chúng ta không cần khởi lên câu đó
nữa, mà mắt vừa chạm ai là lòng từ bi gửi đến đó liền.
Tập
như vậy lâu ngày, đôi mắt ta sẽ rất từ ái. Trong tiểu
Kinh Rừng Sừng Bò diễn tả các vị thánh sống hòa hợp với
nhau và luôn nhìn nhau bằng ánh mắt từ ái thiện cảm. Ánh
mắt nhìn nhau thiện cảm vì khi nhìn nhau, chúng ta luôn gửi
theo đó lòng thương quý. Các vị Thánh như vậy, chúng ta cũng
phải như vậy, là luôn gửi tình thương yêu theo ánh mắt
mỗi khi nhìn nhau.
Rồi
khi chúng ta cưỡi xe chạy trên đường phố đông người chen
chúc, xe cộ chạy ngược chạy xuôi, mới chợt hay rằng nào
giờ chúng ta vẫn hờ hững lạnh nhạt khô khan cằn cỗi với
biết bao người trong cuộc sống này. Bây giờ chúng ta phải
chuộc lại bằng cách âm thần lặng lẽ tự nhũ con thương
yêu tất cả mọi người như thế này, con thương yêu tất
cả mọi người như thế này.
Khi
chưa biết tu, có thể chúng ta đã thương lén một hai người
nào đó, bây giờ biết tu, chúng ta lặng lẽ thương lén tất
cả mọi người. Không cần họ biết. Tập được như thế,
ta sẽ thấy đạo lực tăng tiến từng ngày.
Đối
với huynh đệ đồng tu, chúng ta càng phải thương yêu nhiều
hơn nữa. Nếu không thương yêu được huynh đệ chung quanh
mình, thì nói thương yêu chúng sinh chỉ là giả dối. Thương
yêu được huynh đệ là dấu hiệu chân chính của Từ tâm.
Huynh đệ trong chùa thực chất chỉ là những người dưng
xa lạ không máu mủ ruột rà, chỉ vì duyên xưa, vì cùng chí
hướng tu hành nên gặp nhau chung một thầy. Chính vì quý mến
đạo tâm mà chúng ta yêu thương nhau được, đó là tình thương
cao đẹp.
Trước
đây, chưa thương ai, chúng ta chỉ thấy có nhu cầu của riêng
mình như quần áo, giáy dép, thuốc thang, sách vở… Bây giờ
thương yêu huynh đệ, chúng ta sẽ thấy nhu cầu của huynh
đệ
hiện ra trước mắt mình rõ ràng và sẽ ngạc nhiên tại sao
nào giờ mình không thấy như thế. Chúng ta sẽ thấy huynh
đệ khỏe hay yếu, buồn hay vui, thoải mái hay khó chịu…
và luôn muốn giúp huynh đệ rất nhiều. Dù chúng ta chưa đủ
khả năng để giải quyết hết mọi nhu cầu của huynh đệ,
nhưng cũng cố gắng san sẻ được chừng nào hay chừng ấy.
Đôi
khi tập khí bỏn xẻn cũ khiến chúng ta do dự trong việc san
sẽ những cái mình có cho huynh đệ, nhưng nếu công phu quán
Từ bi có chiều sâu, ta sẽ đủ sức vượt qua tâm bỏn xẻn
để mở đôi bàn tay.
Phải
biết thương yêu tử tế với huynh đệ trước khi chúng ta
bước ra thương yêu hóa độ vô số chúng sinh khác. Nếu chưa
từng biết đối xử tốt với huynh đệ, người này chưa
được quyền nói rằng sẽ thương yêu tất cả chúng sinh.
Chúng ta tâm nguyện thương yêu tất cả chúng sinh, phải biết
bắt đầu thực hành với huynh đệ chung quanh mình. Người
nào có thể sống tốt với huynh đệ, chúng ta tin người đó
có thể sống tốt với chúng sinh về sau.
Rồi
sẽ có lúc chúng ta đối diện với những người mưu hại,
chống đối, chỉ trích mình trong thực tế. Hiện nay quán
Từ bi, chúng ta có khởi tâm thương yêu đến với những người
đã đối xử tệ bạc với mình trong quá khứ, nhưng tương
lai, chúng ta sẽ còn đối diện với tình huống tương tự.
Đó là lúc chúng ta có dịp đánh giá đạo lực của mình.
Chúng ta hãy xem lúc đó mình có thể giữ vững lời nói “con
nguyện thương yêu người này” trong tâm hay không?
Đây
là điều khó thực hành vì lúc đó chúng ta dễ nỗi sân.
Nhưng phải quyết tâm làm cho bằng được, vì chỉ khi nào
chúng ta thật sự thương yêu được người xúc phạm mưu
hại mình, sau này chúng ta mới vững vàng bước ra gánh vác
trách nhiệm với đạo pháp. Trên bước đường làm việc
đạo, biết bao chông gai gian khổ sẽ chờ đón chúng ta. Nếu
không trang bị tâm Từ bi vững chắc, chúng ta sẽ ngã quỵ.
3.DẤU
HIỆU TỪ TÂM HIỆN DIỆN
Có
bốn 4 dấu hiệu để biết Từ tâm đã hiện diện trong tâm
hồn của mình.
a.
Muốn giúp đỡ
Như
đã nói, quy luật tâm lý thông thường là khi thương ai, ta
luôn muốn giúp đỡ người đó. Tình thương đó là ân nghĩa
quá khứ hiện lại.
Bây
giờ với tâm Từ bi thương yêu hết tất cả chúng sinh, đương
nhiên chúng ta cũng bị một tâm lý thôi thúc là làm cái gì
đó cho chúng sinh được an vui hạnh phúc. Tâm Từ bi càng nhiều
thì sự thôi thúc càng lớn. Càng hiểu Đạo, chúng ta càng
hiểu rõ bản chất cuộc đời thật là đau khổ. Chung quanh
ta, mọi người không khổ vì điều này thì cũng khổ vì điều
khác. Không ai thực sự trọn vẹn sung sướng.
Huynh
đệ ta bệnh yếu, đạo tâm còn sơ cơ… vẫn là điều khiến
ta lo lắng. Nhiều ngôi chùa chưa có sức giáo hóa người dân
quanh vùng… vẫn là điều khiến ta lo lắng.
Tất
cả những sự thôi thúc đó đều chứng tỏ tâm từ bi đã
thực sự hiện diện nơi chính mình.
Ngược
lại, nếu chúng ta quan niệm về một đời sống tu hành nhàn
nhã, không bận tâm về nỗi khổ của ai, chỉ muốn chiều
chiều phe phẩy cái quạt bước dạo trên lối cỏ ướt sương,
ngắm trăng lên từ đỉnh đồi lộng gió, hoặc ngồi nhấp
một ngụm trà ngát hương xem hoa quỳnh chầm chậm nở…,
chúng ta đã đi sai lời Phật dạy! Thiếu tâm Từ bi, chúng
ta đang nuôi dưỡng sự ích kỷ trong lòng mình. Mà sự ích
kỷ nào rồi cuối cùng cũng đưa đến đau khổ.
Người
tu đúng sẽ là người rất bận rộn vất vả cực khổ vì
tha nhân, nhưng niềm vui trong tâm thì tràn đầy. Đây là điều
rất lạ. Chúng ta cứ tưởng rằng lo cho người khác sẽ làm
mình cực khổ, nhưng không, ngược lại, chính vì đem niềm
vui đến cho người khác mà tâm ta tự nhiên có niềm vui và
sức mạnh. Niềm vui này không mong cầu mà được.
b.
Xót xa trước nỗi khổ của tha nhân
Dấu
hiệu thứ hai khi có Từ tâm hiện diện là biết xót xa trước
nỗi khổ của tha nhân. Tâm xót xa đó gọi là Bi.
Người
tu đúng là người bất động khi nghịch cảnh đến với mình,
nhưng lại xót xa khi thấy chúng sinh đau khổ. Người tu sai
là thích giữ tâm bất động, kể cả khi đứng trước nỗi
đau của người khác.
Chúng
ta sẽ thắc mắc, chẳng lẽ chư Thánh cũng động tâm xót
xa sao?
Xin
thưa, chư Thánh cũng thương xót chúng sinh đau khổ, và thương
xót rất sâu sắc, chỉ khác với chúng ta là sự thương xót
đó không xao động sôi bỏng như chúng ta, vì các Ngài có
định lực vững vàng.
Chúng
ta thương xót chúng sinh có kèm theo sự ray rứt, xao động,
vì chưa có định, nhưng vẫn là đúng. Chỉ vì sợ xao động
mà chúng ta không thương xót nỗi khổ của chúng sinh tức
là chúng ta đã đi sai đường của Phật Pháp. Nếu chúng ta
không bận lòng vì nổi khổ của tha nhân, tức là chúng ta
đang đi dần vào trạng thái thờ ơ lãnh đạm vô tình. Mọi
người đều như thế thì đạo Phật sẽ trở nên thụ động
và suy yếu dần dần.
Chúng
ta chỉ được quyền bất động với nghịch cảnh của chính
mình, chứ không được thản nhiên trước nỗi đau của người
khác.
Trong
Tứ vô lượng tâm, Phật dạy đệ tử phải có Bi tâm vô
lượng, tức là phải có lòng thương xót không còn giới hạn,
chỉ vì nổi khổ trên đời là vô hạn.
c.
Vui mừng trước hạnh phúc của người
Vui
mừng khi thấy người khác hạnh phúc là Hỷ tâm trong bốn
tâm Từ Bi Hỷ Xả.
Thông
thường thì khi thương yêu ai ta mới vui mừng vì hạnh phúc
của người đó. Đối với người ta không thương, hạnh phúc
của người đó lại làm cho ta bực tức ganh tị. Con mình
thi đậu thì mừng, con hàng xóm thi đậu thì tức. Thói đời
là như vậy.
Nhưng
bây giờ là đệ tử Phật, tình thương chúng ta trải đều
với tất cả mọi người, như vậy bất cứ hạnh phúc của
ai cũng khiến ta vui mừng cả. Rồi khi thấy người làm được
nhiều việc công đức tốt lành, chúng ta cũng phải biết
vui mừng như chính mình làm được. Với Hỷ tâm như thế,
tâm đố kỵ sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. Vì chúng sinh là
vô lượng nên công đức làm được cũng vô cùng, và Hỷ
tâm chúng ta cũng là vô biên vô lượng.
d.
Biết tha thứ
Dấu
hiệu thứ tư của Từ tâm hiện diện là biết tha thứ, tức
là Xả tâm.
Chữ
Xả có nhiều nghĩa tùy theo category, nhóm. Xả có nghĩa là
buông bỏ, không dính mắc vào thế gian; xả cũng có nghĩa
là vượt qua được tâm Tự hào bí mật trong thiền định.
Còn trong Tứ vô lượng tâm, Xả có nghĩa là tha thứ.
Sống
ở trên đời này, nếu chưa thành Phật thì ai cũng còn có
lỗi cả. Mình cũng còn khuyết điểm và người chung quanh
cũng vậy. Điều quan trọng là phải biết tha thứ nhau để
tiếp tục thương yêu nhau.
Nguyên
tắc của tâm lý là khi thương ai, ta dễ tha thứ khi người
đó có lỗi. Có nhiều đứa con ngỗ nghịch bất hiếu, vậy
mà cha mẹ vẫn kiên tâm chịu đựng tha thứ mãi để mong
con có ngày hối hận quay về. Biết tha thứ là đức độ
lớn của những bậc chân sư thánh triết.
Tuy
nhiên , có 2 cực đoan mà người đệ tử Phật nên tránh khi
thấy người khác có lỗi:
-
thứ nhất, thấy người có lỗi, ta liền đem ra công kích,
chê bai, rêu rao, khinh bỉ, với tâm ác độc.
-
Thứ hai, thấy người có lỗi, ta bỏ mặc cho họ tiếp tục
phạm lỗi, xem như không dính dáng gì tới mình cả.
Cả
hai đều là sai lầm, và có tội.
Khi
thấy lỗi của người, nếu ta đem ra chê bai, sau này ta sẽ
mắc đúng lỗi lầm đó. Ngược lại, nếu ta bỏ mặc, sau
này ta cũng mắc đúng lỗi lầm đó. Ngoài ra, ta còn có thể
bị quả báo mù hay điếc vì ta đã làm ngơ giống như không
nghe không thấy trước sai lầm của người khác. Đúng ra,
ta phải có bổn phận tìm cách giúp người sửa chữa để
họ tiến lên, chứ không được bỏ mặc.
Nếu
có duyên, ta có thể góp ý trực tiếp; nếu ít duyên, ta có
thể nhờ người đức độ nói giùm. Phật Pháp mỗi ngày
sẽ được hoàn thiện phát triển nếu chúng ta biết giúp
nhau vượt qua lỗi lầm như thế. Dĩ nhiên là chỉ bởi lòng
thương yêu chúng ta mới được phép nói về lỗi lầm của
huynh đệ. Nếu không có lòng thương yêu, chúng ta không đủ
sức thuyết phục, mà chỉ đem lại giận hờn tự ái nhiều
thêm.
Nhờ
có lòng tha thứ nên ta mới đủ chịu khó khuyên người vượt
qua lầm lỗi.
Vì
chúng sinh vô lượng, lỗi lầm chúng sinh cũng là vô lượng,
nên Xả tâm chúng ta cũng phải vô biên vô lượng như thế.
4.
TÂM TỪ ĐEM LẠI THẮNG PHƯỚC
a. Tám ích lợi theo kinh bộ Tăng Chi
trong
kinh bộ Tăng Chi, Phật nói người tu tập thuần thục Từ
tâm sẽ được 8 lợi ích như sau:
-
Được yên lành trong đời sống, lúc thức. Sở dĩ tâm trí
ta được yên lành trong đời sống vì ta không bận tâm lo
cho mình nữa. Chỉ những người ích kỷ bận tâm lo cho mình
quá đáng thì mới bị dằn vặt bất an.
-
Được yên lành trong giấc ngủ. Trong đời sống ta bình an
thì tự nhiên giấc ngủ cũng yên lành. Tuy nhiên Phật không
nói nguyên nhân tâm lý đơn thuần mà nói về phước. Người
có Từ tâm, tự nhiên được phước rơi vào nội tâm khiến
tâm rất bình an. Ngược lại, nếu ta bị những bệnh lý về
thần kinh não như căng thẳng, mất ngủ, hỗn loạn, ảo giác…
nên hiểu ngay đó là do một lỗi lầm nào đó. Ta nên khởi
tâm Từ bi với chúng sinh sẽ thấy thuyên giảm rõ rệt.
-
Được chư Thiên độ trì. Như đã nói, khi ta tác ý thương
yêu chúng sinh thì hào quang phát ra liền, và chư Thiên nhìn
thấy. Chư Thiên cũng là những người đã từng tu tập Từ
bi nên rất yêu quý người tu tập từ bi như vậy. Chư thiên
sẽ thường xuyên âm thầm gia hộ độ trì cho ta trong cuộc
sống và công việc.
-
Yêu tinh quỷ ma không xâm phạm. Ngoài khả năng cảm hóa, lòng
Từ bi còn có kết quả là tạo thành uy lực. Nhìn thấy một
người có tâm Từ, phi nhân vừa quý mến vừa nể sợ nên
không có ý định xâm phạm. Nhiều người bị các vong linh
quấy phá, đã khéo léo quán Từ bi liền thoát nạn. Quán Từ
bi hiệu quả hơn dùng chú thuật trấn ếm. Chú thuật chỉ
trấn ếm tạm thời, và dễ gây thù oán. Năng lực của Từ
tâm vượt lên cao để cảm hóa các chúng sinh trong cõi vô
hình đó.
-
Độc trùng đao kiếm không xâm phạm. Chúng ta bất ngờ khi
nghe Phật ấn chứng điều này đối với người tu tập Từ
tâm thuần thục. Do nghiệp quá khứ, chúng ta có thể bị những
tai họa phiền toái của cõi giới này là trúng độc, hoặc
bị gươm đâm, súng bắn… Những tai nạn này rất dễ xảy
ra với mọi người. Vậy mà Phật cả quyết ai tu tập Từ
tâm thuần thục sẽ không bị các tai họa đó. Như thế ta
thấy rằng năng lực của Từ tâm rất vĩ đại.
-
Được mọi người chung quanh yêu mến. Điều này dễ hiểu
vì người đầy ắp yêu thương sẽ khiến cho người chung
quanh yêu mến một cách tự nhiên. Những khi có dịp ở chốn
đông người, ta hãy thực tập rải tâm từ với mọi người,
sẽ thấy những kết quả thú vị.
-
Khi chết sinh về cõi trời. Chúng ta hoàn toàn không nghi ngờ
khi cho rằng một người thuần thục Từ tâm sẽ sinh về cõi
trời sau khi chết. Cõi trời là nơi trú ngụ của những chúng
sinh hết sức thánh thiện, trong đó, tâm Từ bi là một thuộc
tính chiếm vị trí hàng đầu.
-
Và cuối cùng là sẽ được Giải thoát. Muốn giải thoát
phải hết hẳn Ngã chấp. Tâm Từ bi chính là sức mạnh quan
trọng khiến ta xa lìa Ngã chấp dần dần. Khi thương yêu chúng
sinh, chúng ta dễ dàng quên mình để sống đời vị tha. Từng
hành động cụ thể giúp đỡ chúng sinh là từng nhát búa
đốn phá Ngã chấp. Nếu chỉ suy nghĩ về việc giúp đỡ
mọi người mà không có hành động cụ thể, Ngã chấp vẫn
không lung lay bao nhiêu. Vì vậy phải thực sự bắt tay làm
nên những điều lợi ích cụ thể cho chúng sinh, đó là con
đường đi đến công đức và giải thoát.
Trong
tâm chúng ta luôn tồn tại một Bản Ngã nguy hiểm. Chính Bản
ngã này đã tạo nên ích kỷ, tham lam, thù hận và trôi lăn
sinh tử. Nhưng cũng chính trong tâm này mới có một con đường
đưa đến Niết bàn giải thoát tuyệt đối. Chúng ta phải
bắt đầu tu tập nơi chính nội tâm này, nhưng chúng ta không
được dừng lại nơi nội tâm này. Tâm là con đường, nhưng
con đường này có giặc, đó là Bản ngã.
Chúng
ta phải đi trên con đường tâm này bằng thiền định, nhưng
dù đạt mức độ định như thế nào, chúng ta cũng không
được dừng lại ở tâm để ca ngợi tâm, tôn vinh tâm, vì
như vậy là chưa thoát được hang ổ của Bản ngã. Khi đạt
được định, tâm sẽ rất vi diệu, sáng tỏ, rỗng rang, thanh
tịnh, dễ làm ta hiểu lầm rằng đó là mục đích cuối cùng
đã đến. Nhưng hoàn toàn không phải vậy. Dù vi diệu đến
như thế nào, Bản ngã vẫn bí mật tồn tại.
Khi
tu với các bậc đạo sư trứ danh đương thời là Alara Kalama,
hoặc Uddukka Ramaputta, Phật đã chứng được những trạng
thái thiền định cực kỳ cao siêu vi diệu. Nhưng Phật đã
nhanh chóng nghi ngờ về sự tồn tại của Bản ngã nên đã
từ giã ra đi. Đến khi nhập định suốt 49 ngày dưới cội
cây Bồđề, Phật mới thật sự thoát ra khỏi tâm thức để
chấm dứt Ngã chấp, và trở thành toàn thể vũ trụ, thành
tựu Chánh đẳng Chánh giác.
Chúng
ta phải lấy tấm gương đó cho cuộc đời tu tập của mình,
nghĩa là mãi mãi cảnh giác với Bản Ngã. Dù chúng ta có thành
tựu đạo đức sâu sắc, dù chúng ta có thành tựu thiền
định cao siêu, hãy tự nhũ rằng vẫn chưa phãi thoát được
Ngã chấp sâu kín. Biết như vậy để chúng ta không chủ quan
tự mãn.
Niết
bàn mà Phật tìm được không phải ỡ trong tâm, mà là bản
thể của toàn vũ trụ. Nhưng muốn tìm được Niết bàn đó,
chúng ta phải đi hết con đường tâm này, bằng thiền định.
Tâm Từ bi sẽ là một trong những phương tiện đưa ta đi
trên con đường tâm này.