HIỂU
VÀ TÔN KÍNH PHẬT
1.
Tôn kính Phật là công hạnh căn bản.
Hiểu
và Tôn kính Phật là đạo đức căn bản của mọi đạo đức
khác. Tuy nhiên hầu như chúng ta bỏ quên, xem thường, và không
thấy hết tầm quan trọng của tâm hạnh vô cùng đặc biệt
này. Mỗi ngày chúng ta vẫn lễ Phật, không ít thì nhiều,
nhưng sẽ lễ với tâm hời hợt dần theo ngày tháng. Vì vậy
chúng ta không đạt được những công đức vi diệu từ việc
lễ lạy đó.
Tôn
kính Phật là công đức căn bản sinh ra mọi công đức khác,
là tâm hạnh căn bản sinh ra mọi tâm hạnh khác. Là đệ tử
Phật, nhất là người xuất gia, chúng ta cũng mong ước dựng
lập nơi mình vô lượng tâm hạnh tốt đẹp để chính cuộc
đời mình được an lạc và đủ tư cách để làm lợi ích
cho chúng sanh. Nhưng vô lượng tâm hạnh đó không thể thành
tựu nếu thiếu tâm hạnh ban đầu là tôn kính Phật.
Ví
dụ chúng ta muốn tâm mình tràn đầy lòng Từ bi thương yêu
tất cả chúng sinh vì chúng ta biết lòng thương yêu chúng
sinh là một lý tưởng đẹp, đẹp như một ánh trăng rằm
mà tất cả thánh nhân đều ngợi ca, tất cả thế gian đều
nương tựa. Chúng ta suốt đời hướng tới, phấn đấu những
mong đạt được lý tưởng Từ bi đó. Nhưng hầu như ai cũng
nhận ra rằng dù đã cố gằng nhiều mà tâm Từ bi chúng ta
vẫn phát triển rất ít. Chấp ngã từ ngàn đời luôn cản
trở không cho ta thương yêu mọi người một cách dễ dàng.
Chúng ta không đủ tâm thương yêu huynh đệ chung quanh mình,
vẫn còn những phiền não giận hờn trách móc chê bai lẫn
nhau mãi.
Thế chúng ta đã thiếu sức mạnh gì khiến mình không phát
triển được lòng Từ bi như thế?
Chúng
ta đã thiếu công hạnh Tôn kính Phật !
Hoặc
ví dụ như hạnh nhẫn nhục cũng là một tâm lý đạo đức
quan trọng của người tu hành. Đó là tâm bình thản bất
động đối với những nghịch cảnh, sự xúc phạm, sự trái
ý. Nhiều khi chúng ta đã buồn bực, giận hờn, đau khổ vì
mọi điều trong cuộc sống để rồi phải bày tỏ thái độ
gay gắt, cáu kỉnh, hậm hực, nóng nảy… khiến cho người
ngoài nhìn vào đánh giá là thiếu đạo lực. Nhất là người
xuất gia thì sự bình thản trước nghịch cảnh còn quan trọng
hơn rất nhiều. Nhưng chúng ta đã thiếu sức mạnh tinh thần
nào đó khiến chúng ta yếu đuối không còn vững vàng.
Chúng
ta đã thiếu công hạnh Tôn kính Phật !
Người
xưa có nói ”Kính thầy mới được làm thầy”, thì ở đây
cũng vậy, chúng ta có tôn kính Phật thì chúng ta mới dần
dần đạt được những đức tính của Phật nơi tâm của
mình. Chúng ta có tôn kính một bậc Thánh nào đó thì chúng
ta mới thành tựu một phần các tính chất của bậc Thánh
đó. Dĩ nhiên chúng ta chỉ thành tựu một phần thôi vì không
thể nào bì được với công đức tu hành từ nhiều kiếp
của vị đó.
Có
một câu chuyện đẹp về ý nghĩa này. Đôi vợ chồng nghèo
gặp một vị Alahán có dung mạo rất đẹp. Họ phát tâm cúng
dường vị Alahán một sấp vải để thay thế tấm y rách
rưới tả tơi của ngài sau nhiều ngày tháng ẩn cư trong thâm
sơn cùng cốc. Vị Alahán bước vào bụi rậm để khoác lên
tấm y mới và bước ra với dáng vẻ đường bệ bội phần.
Người vợ buột miệng nói :
-
Xin cho chúng con được dự vào quả vị như Ngài đã chứng
!
Vị
Alahán mỉm cười hứa khả và khẽ chào quay đi. Ngài biết
mình đã chứng Alahán nhưng đôi vợ chồng kia không biết.
Dù thế nào thì lời nguyện đó cũng sẽ thành tựu trong đời
vị lai.
Không
ngờ khi ngài mỉm cười thì dung mạo càng đẹp hơn nữa.
Khi ngài đi rồi thì người vợ khen mãi:
-
Trời ơi, ngài đẹp như một tài tử !
Người
chồng gật đầu đồng ý.
Nhiều
kiếp trôi qua đến khi Phật Thích Ca xuất hiện thì đôi vợ
chồng kia cũng tái sinh sau đókhông lâu. Người vợ sinh trong
gia đình gánh hát nên làm nử tài tử đi hát từ vùng này
sang vùng khác. Người chồng mê cô đào hát nên trốn nhà
đi theo. Họ có với nhau một mụn con. Người chồng thường
bị nói xa nói gần là vô tích sự vì thật sự anh không biết
biểu diễn như vợ. Tự ái, anh học trình diễn và cũng trở
thành tài tử.
Một
lần đang biểu diễn đu quay trên cây sào cao 20 thước, anh
chợt nhìn thấy đức Phật từ xa đi đến với oai nghi trầm
hùng rực rỡ nên anh giữ bất động để ngắm Ngài. Phật
cũng thấy nhân duyên của anh đã chín muồi, nên hướng về
anh đọc một bài kệ với nội dung xem cuộc đời cũng là
một trò xiếc mà người trí phải biết thoát ra. Anh chứng
đạo ngay đó và bay xuống đảnh lễ Ngài.
Người
chồng xuất gia, và người vợ cũng xuất gia theo rồi cũng
chứng đạo luôn, đúng như lời nguyện kiếp xưa mà họ đã
mong muốn. Dĩ nhiên ta cũng biết là họ cũng phải đã từng
có nhiều kiếp tu hành thật sự chứ không phải chỉ do nhân
duyên cúng dường sấp vải.
Câu
chuyện trên cho chúng ta một minh họa sinh động về sự thành
tựu những tính chất giống như vị thánh mà mình đã tôn
kính.
Và
vượt hơn tất cã những vị thánh khác, đức Phật là vị
thánh tuyệt đối của toàn vũ trụ với vô số những đức
tính cao cả tuyệt vời. Chúng ta đặt lên Ngài lòng Tôn kính
là chúng ta đã gieo vào tâm mình hạt giống của những thánh
tính tuyệt đối. Ngày nào đó chúng ta cũng sẽ thành tựu
dần dần những tính chất cao đẹp của Phật.
Nhân
cách được nâng cao
Kết
quả ban đầu dễ nhìn thấy từ hạnh Tôn kính Phật là nhân
cách chúng ta từ từ được nâng cao lên. Nếu ngày xưa chúng
ta thô tháo, vụt chạc, vội vàng, nhìn vấn đề không sâu
sắc… thì sau một thời gian lễ kính Phật, ta sẽ thấy mình
điềm đạm chững chạc lại, trông có vẻ khả kính hơn.
Tư
cách oai nghi đó không phải do gắng gượng làm bộ ra vẻ
mà được, mà thật sự do nhân quả tạo thành một cách tự
nhiên. Người không có công đức, dù có làm bộ ra vẻ đàng
hoàng đoan trang một thời gian rồi cũng bộc lộ bản chất
kém cỏi.
Người
có tư cách thật sự, dù ở trước đám đông hay ở trong
phòng vắng cũng không khởi ra một cử chỉ sai lầm làm mất
oai nghi. Lúc nào người này cũng giữ oai nghi đàng hoàng đẹp
đẽ cho dù không ai nhìn thấy, chính tâm họ tự biết kiểm
soát lấy từng động tác của mình một cách nhẹ nhàng kỹ
lưỡng.
Do
công đức lễ kính Phật mà trong sâu thẳm, tâm ta có sức
mạnh và có trí tuệ biểu lộ ra thành nhân cách khiến mọi
người nể trọng. Cũng chính trí tuệ này giúp ta phát hiện
ra lỗi lầm tiềm tàng của mình. Thật vậy, người nào lễ
Phật một thời gian đều bắt đầu thấy ra được lỗi lầm
mà trước đây tự mình không nhìn thấy. Có khi người khác
chỉ cho mà mình cũng không công nhận. Bây giờ nhờ công đức
lễ Phật mà tự mình hiểu rằng đó là lỗi. Khi đã biết
lỗi rồi thì lỗi đó đang hết dần.
Ví
dụ trước đây chúng ta sống ích kỷ chỉ lo cho mình, bây
giờ chân thành lễ Phật một thời gian, chợt chúng ta thấy
ra từng cử chỉ nhỏ, từng ý nghĩ nhỏ nào có mang theo tâm
ích kỷ. Vì vậy chúng ta tự biết phải thay đổi chứ không
thể để như vậy mãi.
Ý
chí vi diệu xuất hiện
Kế
đến một loại ý chí vi diệu xuất hiện giúp chúng ta vượt
qua nghịch cảnh, vượt qua cám dỗ.
Chúng
ta đã phân biệt hai loại ý chí, một loại khởi lên từ
bản ngã, và một loại khởi lên từ ý chí. Ý chí khởi lên
từ bản ngã là do gắng gượng mà có, ráng sức mà có. Loại
này càng khởi lên chừng nào thì càng làm tăng trưởng ngã
chấp kiêu mạn chừng nấy.
Còn
loại Ý chí khởi lên từ công đức thì vừa mãnh liệt vừa
nhẹ nhàng, nhưng rất hiệu quả.
Ví
dụ như có người nói điều gì làm chúng ta buồn. Chúng ta
thấy người biết tu mà buồn thì không hay nên muốn bỏ.
Nhưng nếu chúng ta chỉ đơn thuần ráng mà thôi sẽ thấy
mệt mõi mà nỗi buồn vẫn cứ đeo đẳng hoài. Còn nếu chúng
ta có công đức thì ngay khi muốn hết buồn, quyết định
dừng lại nỗi buồn, thì tự nhiên bên trong có một sức
mạnh gì đó, rất lạ, tiêu diệt nỗi buồn liền.
Ý
chí là con dao hai lưỡi là vậy, sẽ làm tăng bản ngã nếu
thiếu công đức.
Rồi
trong suốt cuộc đời tu hành chúng ta sẽ gặp không biết
bao nhiêu là nghịch cảnh cay đắng. Nếu không có ý chí, chúng
ta sẽ chán nản bỏ cuộc giữa đường. Nếu có ý chí, chúng
ta sẽ chịu đựng để tiến bước. Rồi chúng ta cũng sẽ
đối diện với biết bao nhiêu cám dỗ mời gọi. Nếu không
có ý chí, chúng ta cũng sẽ dừng lại để hưởng thụ. Ý
chí cần thiết như thế, nhưng phải là loại ý chí đến
từ công đức thì mới không bị hậu quả phụ tai hại là
làm phát triển bản ngã.
Vì
vậy, chúng ta phải khôn ngoan biết lễ kính Phật để tạo
cho mình một nền tảng công đức vững chắc nhằm giúp cho
đời tu của mình an ổn hơn.
Quy
y Phật
Bước
đầu đến với đạo Phật ai cũng làm lễ Quy y Tam Bảo, căn
bản là quy y Phật. Quy y Phật nghĩa là nguyện trọn đời
tôn thờ Phật, trọn đời xin làm con của Phật, trọn đời
đem thân tâm này dâng lên cúng dường Phật, trọn đời sống
trong Giáo pháp của Phật. Ý nghĩa quy y rất lớn mà đa phần
chúng ta không hiểu hết và đôi khi xem thường, hoặc hiểu
khác nghĩa đi.
Trước
hết ta phải xác định rằng Phật là Đấng Chánh Giác với
sự giác ngộ tối thượng, mà đại biểu cụ thể nhất chính
là đức Phật Thích Ca có thật trong trong lịch sử. Chúng
ta là những chúng sinh si mê trầm luân, nay có duyên lành gặp
được Phật Pháp nên nguyện đem trọn cuộc đời đi theo
Phật. Đó là ý nghĩa chuẩn mực rất cơ bản, rất bình thường,
và rất chính xác.
Nếu
chúng ta hiểu theo cách thức dịch từng chữ là Quy là trở
về, Y là nương tựa, thì sẽ thấy rất hời hợt nhẹ nhàng.
Đó là lý do tại sao nhiều Phật tử dễ dàng bỏ đạo khi
gặp duyên hôn nhân, khi đi ra nước khác sinh sống.
Ngày
xưa một người tại gia gặp Phật quỳ xuống phát nguyện
: Con xin suốt đời Quy y Thế Tôn, Quy Y Pháp, Quy y Chư Tăng.
Họ
nói với tất cả quyết tâm và sự chân thành vì lúc đó
trước mặt họ là đức Phật cao siêu vĩ đại.
Bây
giờ quý thầy cô làm lễ Quy y cho Phật tử có khi không gieo
được vào lòng Phật tử niềm xúc động sâu xa ở cái buổi
ban đầu vào đạo. Người Phật tử không được may mắn
như các cư sĩ thời đức Phật là có được cảm xúc mãnh
liệt với Đạo. Sau này có một số Phật tử ít gắn bó
với chùa, lập gia đình với người đạo Kitô hay đạo Hồi
liền bỏ đạo để làm lễ cưới theo họ. Các đạo kia bắt
buộc nghiêm khắc tín đồ phải làm lễ cưới tại giáo đường
của họ, cũng có nghĩa là buộc người phối ngẫu phải theo
đạo. Đây là một cách dùng phương tiện hôn nhân để đưa
người vào đạo rất hiệu quả. Và nguồn cung cấp thêm tín
đồ cho các tôn giáo bạn chính là đạo Phật của chúng ta
vì chúng ta đã không giúp cho người Phật tử có lòng kính
tin Phật tuyệt đối.
Bây
giờ là lúc phải điều chỉnh lại, phải giúp cho Phật tử
hiểu ý nghĩa thiêng liêng của việc Quy y Phật là trọn đời
thiết tha sống theo giáo pháp của Phật mà không gì có thể
lung lay được.
Chúng
ta hãy cảnh giác về ý nghĩa quy y Phật là quy y tự tánh vì
không đúng với ý nghĩa căn bản chuẩn mực vốn cần thiết
cho đời sống tâm linh tu hành. Nếu nói quy y Phật là quy y
tự tánh thì có ai đã thấy được tự tánh của mình ra sao
để mà quy y đâu.
Hỏi
Phật ở đâu, ta bèn chỉ vào trong tâm mình. Hỏi tâm ở đâu,
ta đành chỉ trên đầu hoặc trong tim, hoặc dưới bụng. Nhưng
cái gì đang ẩn chứa trong tâm ta?
Trong
tâm ta luôn luôn đang tồn tại một bản ngã cực kỳ nguy
hiểm. Bản ngã đó bí mật chi phối toàn bộ ý nghĩ hành
vi của ta, thường khiến tâm ta khởi lên vô số phiền não,
tham lam, sân hận… Chúng ta chưa bao giờ chứng được vô
ngã, chỉ tưởng tượng có một cái tự tánh cao siêu nào
đó ở trong tâm để tôn thờ, vô tình đã tôn thờ lầm bản
ngã. Ngay cả một số vị đã đắc định, thấy tâm rỗng
rang sáng tỏ cũng chưa phải là đã thoát hẳn ngã chấp. Chỉ
những ai thành tựu được tam minh lục thông như Phật mới
được xem là chấm dứt chấp ngã. Còn hiện tại dù ta có
được một số kết quả trong nội tâm thiền định gì đi
nữa vẫn chưa hết được chấp ngã. Vì vậy, chúng ta phải
khôn ngoan cảnh giác về nội tâm đang còn chứa đựng bản
ngã này hơn là tôn thờ cái tâm được chút ít an ổn đó.
Kẻo không, tâm kiêu mạn sẽ tăng trưởng nhanh chóng làm tan
vỡ đạo đức của mình.
Có
câu chuyện vị khách tăng từ phương xa đến viếng chùa quê,
cùng với vị tăng ở bổn tự đàm đạo vui vẻ. Khách nói
qua lãnh vực tự tánh. Chủ thắc mắc hỏi:
-
Thầy nói tự tánh nơi chính mình, vậy thầy đi từ trên đó
về đây thì tự tánh có đi theo chăng? Rồi thầy giã từ
ở đây để về nơi đó trở lại thì tự tánh có theo thầy
về không?
Khách
im lặng không đáp. Chủ hỏi tiếp:
-
Nếu tự tánh đó theo thầy đi tới đi lui như vậy thì không
phải là bất động. Còn nếu tự tánh là bất động thì
không theo thầy đi tới đi lui như thế; và nếu không theo
thầy đi tới đi lui thì tự tánh đó không phải ở nơi thầy,
mà là ở chỗ khác.
Chúng
ta sẽ thấy rằng cái đi tới đi lui theo mình có lẽ là bản
ngã thì đúng hơn. Còn thể tánh tuyệt đối thì phủ trùm
không gian và thời gian, vượt qua ý niệm về không gian và
thời gian.
Nếu
chúng ta chấp nhận ý nghĩa quy y tự tánh thì rất dễ rơi
vào tình trạng tôn thờ bản ngã và làm cho tâm kiêu mạn
xuất hiện. Mà tâm kiêu mạn là tai họa của người tu.
Ví
dụ như một người mới vào chùa xuất gia, ngoài sư phụ
mà người này phải kính thờ nhu thuận còn có nhiều sư huynh
đã tu trước mình. Vì vậy người này phải vâng lời cả
chùa, phải vui vẻ nghe lời rầy la dạy bảo của cả chùa.
Đây là thời gian đẹp nhất của cuộc đời đi tu vì nhờ
nhu thuận vâng lời hết mọi người nên bản ngã được diệt
trừ dần dần. Thời gian này càng kéo dài nhiều năm thì phước
người này càng lớn. Điều “bất hạnh” xuất hiện khi
sư phụ nhận thêm đệ tử mới, nghĩa là người này bắt
đầu lên chức sư huynh, bắt đầu có sư đệ để dạy bảo
sai khiến. Khi có người nghe lời sai bảo của mình thì bản
ngã của người này đang thức dậy, phước sẽ giảm dần
dần. Nếu càng có nhiều sư đệ thì bản ngã càng nhanh chóng
phát triển hơn.
Chúng
ta thấy nhiều khi mình chưa biết vô ngã là gì, chỉ có hạnh
nhu thuận vâng lời mà bản ngã đã giảm rất nhiều,
công đức đã được dựng lập rất nhiều. Công đức trong
thời gian ban đầu đó có khi đủ giúp ta đi qua cả một đời
tu hành yên ổn. Còn khi bắt đầu có sư đệ, hoặc khi có
đệ tử thì người này phải giữ tâm vô ngã bằng những
phép tu chuyên sâu hơn. Nếu không thì địa vị lớn chỉ là
môi trường thuận lợi cho bản ngã lớn mạnh hơn mà thôi.
Khi
quy y Phật, chúng ta thật sự tôn kính Phật; đó là một đối
tượng bên ngoài, một vị thánh siêu tuyệt không có một
sơ hở nhỏ trong nhân cách. Chúng ta may mắn hơn các tín đồ
của tôn giáo khác khi vị giáo chủ của chúng ta có một thánh
tính tuyệt đối như thế. Và thật là bất hạnh nếu bây
giờ chúng ta bỗng nhiên quay lại tôn thờ quy y bản ngã của
mình, gọi đó là tự tánh, rồi xem thường mọi người, xem
thường cả Phật và Bồ tát. Cứ cho rằng bất cứ cái gì
ở bên ngoài mình đều là vô nghĩa, mà Phật Bồ tát cũng
là ở ngoài, nên chúng ta hờ hững với chư Thánh. Phước
chúng ta sẽ sụp đỗ không lâu!
Vì
vậy chúng ta không nên bẻ ý nghĩa Quy y Phật trở thành quy
y tự tánh. Hơn nữa, một đệ tử Phật mà không hiểu Phật,
không tôn kính Phật thì rất đáng bị nghi ngờ về đạo
đức. Dù người này có trình bày đạo lý cao siêu như thế
nào, nhưng nếu họ thiếu lòng tôn kính Phật thì chúng ta
khoan cho đó là người tốt. Phải có lòng tôn kính Phật làm
nền tảng trước khi chúng ta xây dựng tiếp những công hạnh
khác trong Phật Pháp.
Tôn
kính Phật nhiều chừng nào, đạo quả cao chừng nấy
Chúng
ta hãy xem hình ảnh một chiếc máy bay để gợi ý cho sự
tu tiến đạo quả. Đầu tiên chiếc máy bay chạy chậm, rồi
nhanh dần, nhanh dần, cho đến khi nó tăng tốc thật nhanh đủ
để cất lên cao khỏi mặt đất.
Khi
nó đã bay lên cao rồi thì đáp xuống không phải dễ; cũng
phải hạ thật khéo xuống đường băng với tốc độ thật
lớn, rồi giảm dần, giảm dần cho đến khi ngừng hẳn.
Một
chiếc xe lửa cũng vậy, khi đã chạy nhanh rồi mà muốn dừng
lại cũng không dễ, phải giảm vận tốc cả mấy trăm mét
mới dừng hẳn được.
Chúng
ta cũng vậy, chúng ta tôn kính Phật, sống một đời vị tha
thương yêu muôn loài, khiêm hạ kín đáo. Đó là chiếc máy
bay đang chạy lấy đà. Rồi những tâm lý đạo đức đó
lớn dần, lớn dần cho đến khi đủ mạnh để cất cánh
lên cao thì gọi là chúng ta chứng được đạo quả Tuđàhoàn,
gọi là vào dòng thánh –nhập lưu. Người chứng đạo quả
Tuđàhoàn được Phật ấn chứng là vĩnh viễn không còn đọa
vào 3 ác đạo của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Sở dĩ
như vậy vì cái đà đã đủ mạnh để người này không còn
bị rơi trở lại trong sai lầm tội lỗi. Cửa 3 ác đạo đã
vĩnh viễn đóng lại với vị này. Rồi đến một kiếp nào
đó chưa định chắc, người đó sẽ phải chứng được đạo
quả Niết bàn. Có thuyết cho rằng vị Tuđàhoàn sẽ tái sinh
bảy lần rồi mới chứng Niết bàn; nhưng thật ra không chắc
như thế.
Tương
tự với những chúng sinh sống với tâm ác độc, ích kỷ,
không tôn trọng thần thánh. Họ cũng đang tạo thành một
cái đà đi về đọa xứ. Khi đời sống bất thiện như thế
đủ mạnh thì họ sẽ đọa vào ác đạo không có ngày trở
lên. Trước hết họ sẽ xuống địa ngục. Thoát kiếp địa
ngục, họ sẽ làm quỷ đói; thoát kiếp quỷ đói, họ sẽ
làm súc sinh. Nhưng vì trước đây họ có nhiều ác tâm nên
họ sẽ làm một loài ác thú ăn thịt sống. Rồi do giết
hại các cầm thú khác để ăn thịt nên họ không còn có
cơ hội để tái sinh làm một loài khá hơn, chỉ đọa dần
thành sâu bọ nhỏ nhoi. Khi đã làm sâu bọ rồi thì cái chuyện
trở lại làm người là dường như không thể xảy ra nữa.
Rất là đáng thương!
Chúng
ta phải tích lũy lòng tôn kính Phật đủ để cất cánh lên
bầu trời công đức bao la thì mới không sợ lui sụt. Máy
bay mà chưa cất cánh thì có thể dừng lại dễ dàng, lòng
tôn kính Phật mà chưa vượt bực thì đạo tâm có thể thoái
chuyển cũng dễ dàng như vậy. Khi nào chúng ta chứng được
quả vị Tuđàhoàn mới có thể tạm yên tâm là đối với
Phật pháp không còn quay bước.
Nếu
lòng tôn kính Phật của chúng ta đạt đến tuyệt đối thì
chúng ta chắc chắn đã có cái nhân của quả vị Alahán. Nhưng
như thế nào là lòng tôn kính Phật đạt đến tuyệt đối?
Đây
là chỗ không dùng ngôn ngữ để diễn tả được, chỉ tâm
ta tự biết mà thôi.
Nếu
ai mỗi ngày quỳ xuống trước Phật với trọn lòng thiết
tha tôn kính đến tuyệt đối, cảm thấy thân tâm này, mạng
sống này đều dâng lên Phật, từng ý nghĩ đều theo Phật,
thì người này về sau sẽ chứng thành đạo quả vô lượng
vô biên.
Mỗi
người đều có từng lễ Phật nhưng thật ra tâm kính Phật
không giống nhau, phần đông theo nghi thức chung bên ngoài chứ
trong tâm rất hời hợt. Nếu lễ Phật hời hợt quá thì khó
có phước tu tiến lâu dài về sau.
Muốn
kính Phật phải hiểu Phật
Muốn
tôn kính phật, chúng ta phải hiểu Phật, phải hiểu Phật
rất là sâu sắc. Chúng ta không thể trọn lòng kính Phật
nếu chưa hiểu Phật. Muốn hiểu Phật thì chúng ta phải:
-
Biết khá rõ về cuộc đời siêu việt phi thường của Phật
-
Biết nhiều về những lời dạy thiêng liêng cao quý của Phật
-
Biết nhiều chi tiết về cuộc đời giáo hóa kỳ vĩ của
Phật
-
Tinh tấn tu chứng để cảm nhận giá trị mầu nhiệm của
Phật Pháp.
Trước
hết là phải biết nhiều về cuộc đời của Phật với những
công hạnh cao cả, với những chi tiết nho nhỏ nhưng cảm
động lạ thường. Hầu hết chúng ta có đọc qua một số
sách viết về sử Phật, nhưng nếu không có trí tuệ chúng
ta sẽ không có cảm xúc nhều mà chỉ đọc như đọc truyện
tiểu thuyết. Có khi là do người viết không diễn tả được
hết những điều hay trong cuộc đời Phật, nhưng cũng có
khi là do người đọc không nhận ra những điều hay trong đó.
Nếu có trí tuệ chúng ta sẽ nhận ra sự vĩ đại của Phật
từ những đoạn diễn tả đơn giản.
Ví
dụ trong kinh Đại giáo giới Lahầula, Một lần Phật cùng
với Lahầula đi khất thực buổi sáng. Đó là một hình ảnh
đẹp của 2 cha con vương tử trở thành 2 thầy trò cùng nhau
đặt những bước chân vân du trên các nẻo đường nhân thế
để giáo hóa. Phật thấy cơ duyên đã đến. Đang đi nửa
chừng, chợt Phật dừng chân, rồi quay lại nhìn Lahầula với
cái nhìn của con voi chúa. Phật thuyết pháp cho Lahầula nghe
về ý nghĩa vô thường và vô ngã.
Chỉ
có đoạn ngắn nói về cái nhìn của con voi chúa có thể làm
chúng ta xúc động. Câu nói tuy ngắn nhưng hàm chứa trong đó
cả một nội tâm an định vững vàng và mênh mông của Phật,
vì chỉ có một nội tâm như thế mới hiện ra ánh mắt như
thế. Chúng ta thấy rằng Phật có oai nghi đẹp đẽ, trầm
hùng trong từng cử chỉ nhỏ nhất như ánh mắt chẳng hạn.
Nơi đức Phật, từng cái nhấc tay cất chân đều tràn đầy
uy lực, trầm tĩnh, đẹp đẽ thu hút chinh phục mọi người.
Chỉ cần nhìn đức Phật ngồi yên, chúng sinh cũng bị thuyết
phục lạ lùng vì thần uy vô hình từ kim thân Phật tỏa mạnh
ra chung quanh.
Mỗi
cử động của Phật như gói trọn trong đó vô lượng giải
thoát, vô lượng bình an, vô lượng trí tuệ. Đó là ba ngàn
oai nghi tám muôn tế hạnh của Phật và chư Đại Bồtát.
Một vị Phật như thế thì lâu lâu trên Trái đất mới xuất
hiện một lần, rất là hiếm hoi. Còn các vị Thánh bình thường,
Alahán, thiền sư thì thỉnh thoảng chúng ta vẫn thấy có xuất
hiện.
Năm
12 tuổi, lúc còn là thái tử, Phật đã theo vua cha Sudodana
ra đồng làm lễ Hạ điền vào đầu mùa trồng lúa. Trong
lúc mọi người đang vui chơi, Thái tử lặng lẽ đến gốc
cây ngồi thiền. Ngài nhanh chóng nhập vào Sơ thiền và ngồi
quên thời gian. Đến khi vua cha sực nhớ cho người đi tìm
thì thấy Thái tử vẫn ngồi trong bóng cây. Nhìn tàng cây,
vua cha lấy làm lạ vì thấy những cành lá của cây như đang
cố kéo nhau về mặt trời để tiếp tục che mát cho Thái
tử.
Chúng
ta hiểu rằng muốn nhập được Sơ thiền thì trước đó
phải thuần thục Chánh niệm tỉnh giác, có nghĩa là tâm không
bao giờ xao lãng trong pháp môn tu hành. Muốn thành tựu chánh
niệm tỉnh giác thì trước đó tâm phải thuần thiện. Muốn
tâm thuần thiện thì chúng ta phải bỏ ra năm mười năm thanh
lọc nội tâm mình trong từng ý nghĩ nho nhỏ không cho một
tư tưởng sai lầm nào tồn tại. Nhưng muốn từ bỏ những
ý nghĩ sai lầm bất thiện thì trước hết chúng ta phải can
đảm tự đánh giá chính mình, tự biết đó là những ý nghĩ
sai lầm. Hầu hết con người vẫn luôn cho ý nghĩ mình là
đúng; ít ai tự cho rằng mình đã suy nghĩ sai; và đó cũng
là lý do ít ai là người tu hành chân chính. Người tu hành
chân chính phải là người nhận ra được ý nghĩ sai lầm
của mình để tự trừ diệt, vì ý nghĩ trong tâm mình có
ai thấy để nhắc nhở giùm đâu.
Sau
khi thanh lọc nội tâm đến mức thuần thiện rồi chúng ta
mới chuyển sang giai đoạn kiểm soát tâm động hay tĩnh. Đó
là bước sang giai đoạn tu tập chánh niệm tỉnh giác. Tu tập
chánh nhiệm đến mức độ không bao giờ bị xao lãng nữa
thì mới có thể chứng được Sơ thiền. Chúng ta hiểu rằng
Sơ thiền không dễ thành tựu. Nhiều người vào tu, đã vội
vã muốn nhiếp tâm mà không đi qua giai đoạn thanh lọc nội
tâm thuần thiện, cũng đã được một ít yên tĩnh. Nhưng
không bao lâu tâm sẽ dấy động trở lại vì cái yên tĩnh
đó không có căn bản của nội tâm thuần thiện.
Thế
mà khi còn bé Phật đã thành tựu sơ thiền dễ dàng, cho thấy
công đức Phật từ quá khứ rất lớn.
Chúng
ta cũng cần hiểu thêm rằng chứng được Sơ thiền tức là
không cần dụng công nữa, tâm tự động giữ lấy chính nó
trong yên tĩnh. Một đứa bé 12 tuổi mà vào được Sơ thiền
không cần dụng công nữa thì thật là vĩ đại.
Ngay
như việc Thái tử mạnh mẽ từ giã cung vàng điện ngọc
vợ đẹp con ngoan để xuất gia tìm đạo là điều không dễ
làm. Hãy tưởng tượng chúng ta trong hoàn cảnh tương tự
sẽ thấy rằng chúng ta không đủ can đảm để dứt bỏ như
thế. Những gì đem cho chúng ta lạc thú đều khiến chúng
ta chấp thủ giữ gìn. Một câu khen ngợi cũng làm chúng ta
cả đời không buông nỗi huống hồ là tài sản quyền uy.
Đơn
giản như nếu chúng ta có mười lạng vàng, chúng ta không
đủ gan dạ bỏ ra 3 lạng để làm việc thiện; nếu có cũng
chỉ lấy ra chừng vài trăm ngàn, chứ không dám rộng rãi
bố thí.
Địa
vị quyền lực là nỗi ám ảnh khát khao của vô số người
trên trần gian này. Họ đã cực khổ biết bao nhiêu để giành
lấy chức tước, đôi khi phải dùng đến những thủ đoạn
đê hèn để chiếm lấy. Còn Phật đã từ bỏ một cách nhẹ
nhàng dứt khoát. Cái thái độ từ bỏ nhẹ nhàng dứt khoát
đó là cả một sức mạnh phi thường của lòng khát khao chân
lý. Chỉ có lý tưởng phi thường mới khiến ta xem nhẹ những
giá trị trần gian khác.
Đặt
trường hợp chúng ta làm một chủ tịch phường là mình đã
bỏ không nỗi, phải nơm nớp giữ gìn vì sợ người khác
đoạt lấy.
Rồi
trong cuộc đời, nhất là đối với người tại gia, tình
yêu là cái gì rất lớn lao quan trọng. Ai được một người
vợ đẹp cũng yêu quý giữ gìn như giữ vàng ngọc. Nhất
là khi đó là một người yêu đẹp người đẹp nết, giỏi
giắn, dịu dàng, đảm đang, nhân hậu, chung thủy, đoan chính…
thì không ai đành lòng bỏ đi tu cả. Công nương Yashodara là
người phụ nữ như thế, vậy mà Phật cũng quay lưng ra đi
để tìm một chân lý cao cả cho nhân loại.
Rồi
những tháng ngày lang thang từ khu rừng này qua thung lũng kia
để tìm thầy học đạo, đến khi thực hành khổ hạnh khốc
liệt mà trên thế gian này chưa ai làm nỗi. Dĩ nhiên chúng
ta cũng phải lưu ý đến yếu tố nội lực phi thường của
Phật do luyện tập khí công (yoga) khi còn ở trong hoàng cung
đã trợ giúp rất nhiều cho Phật trong giai đoạn tu hành cực
khổ.
Rồi
từ trí tuệ vô biên vô lượng, Phật nói lên những bài Pháp
vô giá, giống như vô số ngọc ngà để lại cho nền văn
hóa của nhân loại. Bây giờ chúng ta có tài giỏi gì cũng
chỉ là lập lại, mở rộng thêm, giải thích rõ hơn… chứ
không đủ sức mở ra cả một hệ thống lý thuyết tu tập
vĩ đại như thế. Càng về sau thì các nhà trí thức trên
thế giới càng ca ngợi đạo Phật là hay nhất so với các
tôn giáo khác. Nhiều tôn giáo bị lạc hậu khi khoa học tiến
bộ; nhưng đạo Phật thì ngược lại, càng sáng tỏ khi khoa
học tiến bộ. Người ta càng khâm phục đức Phật khi thấy
rằng hơn 2000 năm trước mà có một người trên hành tinh
này đã nói được những điều chuẩn xác cao siêu như thế.
Rồi
như giáo lý Tứ vô lượng tâm, là lòng từ bi thương yêu
tất cả chúng sinh không còn giới hạn, chỉ được nói lên
bởi Phật mà thôi. Không một giáo chủ nào khắp cả Đông
Tây kim cổ đã nói lên được lòng thương yêu tuyệt đối
như thế. Từ xưa đến giờ cũng có nhiều vị Thánh của
các tôn giáo kêu gọi con người tu tập đạo đức nhân ái,
nhưng đều có giới hạn nào đó. Jesus của Kitô dạy yêu
cả kẻ thù; Khổng Tử khuyến khích lòng nhân từ –trong
phạm vi con người. Mahomet giới hạn tình thương trong phạm
vi tín đồ Hồi giáo – được quyền giết người ngoại
giáo(!)
Chỉ
có đức Phật mới dạy về một lòng từ bi không còn giới
hạn, phủ trùm muôn loài vạn vật, phủ trùm cả vũ trụ
mênh mông, lan cả vào thế giới siêu hình mà mắt người
không trông thấy được.
Trong
một tiền thân Phật làm vua nỗi tiếng nhân từ thương dân.
Vì thương dân quá nên ngài bị nhược điểm là không dành
nhiều khả năng cho việc xây dựng quân đội quốc phòng lớn
mạnh. Do thám của nước láng giềng báo về cho vua của
họ điều đó. Ông vua láng giềng chợt khởi tâm tham, bèn
khởi binh qua để đánh chiếm. Bồ tát (tiền thân Phật) suy
nghĩ rằng vị vua láng giềng cũng rất giỏi trị dân, cũng
thương dân và biết làm cho dân tình ổn định sung sướng.Đất
nước của ông ta hình luật rõ ràng. Ông ta có cai trị dân
mình thì dân cũng sướng chứ chẳng hại gì. Còn bây giờ
mà đánh nhau thì máu sông xương núi khổ sở cho biết bao
gia đình.
Nghĩ
vậy Bồtát ra lệnh binh sĩ không được chống đỡ, phần
Ngài trốn đi mất. Vị vua kia vào tận hoàng cung mà không
gặp bất cứ sự phản kháng nào, sau đó sát nhập hai quốc
gia thành một và cai trị ổn thỏa. Ông ta chỉ sợ Bồtát
dấy binh chống lại nên ra lệnh truy nã ngài.
Bồtát
trốn trong rừng núi đến nỗi quần áo rách tả tơi. Một
lần nơi bìa rừng ngài gặp một người Bàlamôn hỏi
đường về kinh đô tìm vị vua cũ là ngài để cầu xin giúp
đỡ cho hoàn cảnh khổ sở cùng cực của ông.
Đến
khi biết người trước mặt ông chính là vị vua nỗi tiếng
nhân từ thì ông khóc vì tuyệt vọng. Bồtát suy nghĩ một
lát rồi bảo ông ta nên bắt ngài đem nộp sẽ được trọng
thưởng. Vì Ngài thuyết phục quá nên cuối cùng Bàlamôn đồng
ý trói Ngài đem nộp. Vị vua mới mừng rỡ ban thưởng cho
Bàlamôn xong hỏi vì lý do nào bắt được Ngài. Người Bàlamôn
kể lại câu chuyện. Vị vua mới sững sờ kinh ngạc. Thật
ra ông ta cũng là người tốt, chỉ vì còn tham thôi. Đến
khi biết được lòng tốt phi thường của Bồtát, ông bị
cảm hóa mạnh mẽ. Ông bèn kết tình anh em với Bồtát, trả
lại quốc gia và sống hòa bình với nhau.
Trong
nhiều kiếp Phật luôn luôn sống hoàn toàn vị tha như thế.
Bây
giờ chúng ta thử tu tập lòng từ bi rồi sẽ thấy khó khăn
như thế nào. Có khi chúng ta tu qua vài tháng rồi mà vẫn chưa
thật sự thương yêu được những huynh đệ chung quanh mình.
Đôi khi huynh đệ bị bệnh ốm mà ta vẫn thờ ơ quên lãng.
Với người nào có duyên ở kiếp trước thì chúng ta dễ
khởi lòng thương mến; còn ai không có duyên thì ta rất khó
thương, chứ đừng nói đến thương yêu tất cả chúng sinh.
Thật là huyền hoặc. Sau này tu tiến hơn một chút, có lòng
từ bi hơn một chút, ta nhìn lại những năm tháng hời hợt
trước đó và sẽ thấy hối hận vì mình đã không đủ lòng
thương yêu với những người gần gũi với mình, mà thời
gian thì đã qua đi, không còn cơ hội để sống chung với
nhau để có thể chuộc lại nữa. Như vậy rồi chúng ta mới
cúi đầu kính phục Phật đã thương yêu chúng sinh một cách
tràn đầy, dễ dàng và bao la như vậy.
Phật
đã dạy nhiều về lòng Từ bi như thế và nhiều vị Thánh
đệ tử đã được an lành từ tâm hồn thương yêu như thế.
Chúng ta hôm nay cũng sẽ nguyện lòng tu tập theo lòng Từ bi
Phật dạy.
Chúng
ta cần phải hiểu về ý nghĩa Thành đạo của Phật để
thấy sự vĩ đại như thế nào. Nào giớ chúng ta chỉ hiểu
trên ngôn từ rằng Phật đắc đạo, Phật giác ngộ, Phật
giải thoát, Phật có thần thông… nhưng cũng chỉ là nghe
trên ngôn từ chứ chưa cảm nhận sâu xa những ý nghĩa đó.
Vì không hiểu nhiều về tâm chứng của Phật nên lòng tôn
kính Phật của ta cũng hời hợt ít oi. Dĩ nhiên chưa đắc
đạo như Phật thì không ai có thể hiểu được Phật, nhưng
chúng ta cũng có thể nhờ thiện căn và trí tuệ để cảm
nhận được sự vĩ đại của tâm chứng đó.
Thật
ra trước khi Thành đạo Phật cũng đã có sức định rất
sâu. Ngài nhanh chóng chứng được vô sở hữu xứ định với
vị thầy đầu tiên là Aølàra Kàlàma; rồi chứng phi tưởng
phi phi tưởng xứ định với vị thầy thứ hai là Uddaka Ramaputta.
Hai vị thầy đó đều khâm phục Phật và đều ngõ ý mời
Ngài cùng nhận trách nhiệm lãnh đạo đồ chúng với họ.
Nhưng với trí tuệ của một vị Phật sắp thành, Ngài đã
mơ hồ nhận ra rằng còn một cái gì đó chưa thỏa đáng,
chưa rốt ráo nơi sở chứng này.
Phật
đã hỏi hai vị đạo sư đó về vấn đề Bản ngã. Nơi mức
định đó Bản ngã còn hay hết? Nếu Bản ngã đã hết thì
ai biết được rằng mình đang nhập định? Nếu còn Bản
ngã thì chưa phải thật sự giải thoát.
Hai
vị đạo sư bấy giờ đều không thể trả lời vấn nạn
sâu sắc này, và đành nhìn Gotama chào ra đi.
Sau
này Thành đạo, Phật đã giải quyết vấn đề này thấu
đáo, và mục tiêu Vô ngã trở thành điểm son chói lọi trong
giáo lý đạo Phật. Sau này chúng ta sẽ có duyên đào sâu
về giáo lý vô ngã kỳ diệu đó.
Phật
tìm về một khu rừng gần thị trấn Uruvela để thực hành
khổ hạnh trong cô độc. Những gì được Phật về sau kể
lại thật là kinh khủng đối với chúng ta. Ngài đã ăn rất
ít, mỗi ngày vài hạt đậu, vài hạt mè. Ngài đã thử nhịn
thở. Những cảm giác đau đớn hành hạ Ngài cực kỳ khốc
liệt. Một tiềm lực bí mật nào đó, có lẽ vừa do phước
quá khứ, vừa do nội lực tập luyện khí công, đã duy trì
mạng sống của Ngài. Nhiều người bày tỏ nghi ngờ tại
sao Phật có thể chịu đựng sự suy dinh dưỡng cùng cực
suốt nhiều năm như vậy mà không chết. Trên đời vẫn có
nhiều chuyện lạ lùng phi thường mà ta không thể giải thích
hết được, trong đó, chuyện Phật không chết cũng là một
huyền thoại có thật như thế. Hiện nay cũng có nhiều người
có khả năng đặc biệt mà ta vẫn nghe báo chí đăng tải.
Cuối
cùng Phật cũng phải từ bỏ khổ hạnh vì thấy rõ là vô
ích.
Sở
dĩ Phật phải đi qua khổ hạnh cùng cực để rồi từ bỏ,
thứ nhất là câu trả lời hùng hồn cho khuynh hướng đương
thời cứ xem khổ hạnh là cao quý hơn các công hạnh khác;
thứ hai là tránh cho đệ tử Phật về sau bị áp lực phải
sống cực khổ quá đáng không cần thiết.
Phật
quay lại tìm sự giác ngộ bằng thiền định. Ngài dùng thực
phẩm trở lại để có sức khỏe rồi dồn nỗ lực vào thiền
định. Chúng ta không xứng đáng để bàn về công phu thiền
định của Phật vì chúng ta làm sao chứng đạt điều gì
để hiểu được tâm chứng của Phật! Ơû đây chúng ta nếu
vì tôn vinh Phật mà diễn tả các từng bậc thiền định
cũng chỉ là dựa vào kinh điển và luận giải của các vị
Thánh nhân ngày xưa.
Phật
trải cỏ lót chỗ ngồi dưới gốc cây mà ngày nay ta gọi
là cây Bồđề. Ngài ngồi theo thế kiết già hoa sen, và bắt
đầu nhập lại các mức thiền trước kia Ngài đã chứng.
Trước hết là sơ thiền.
Sơ
thiền là mức thiền chứng được đầu tiên. Nơi mức thiền
này, tâm tự động giữ lấy chính nó trong định. Miễn là
hành giả đừng tác ý xuất định thì tâm cứ tự động
sáng tỏ, thanh tịnh, rỗng rang. Những ý niệm tế về đạo
lý vẫn còn xuất hiện, nhưng sẽ tự động bị sức tỉnh
giác của tâm trừ diệt. Hành giả không cần phải làm gì
cả. Cứ duy trì lâu dài Sơ thiền cộng với những công đức
khác trong đời sống, hành giả sẽ nhập Nhị thiền.
Nhị
thiền tắt hẳn vọng tưởng, tâm tự tại phủ trùm trời
đất, có một số thần thông vừa phải, kiến giải lanh lợi,
đôi khi cho mình đã chứng được chân ngã theo quan niệm của
Yoga Ấn giáo.
Tam
thiền là cả một thế giới khác hẳn. Người chứng Tam thiền
thành tựu thần thông quảng đại, thấy cả thế giới làm
bằng chất liệu của tâm chứ không còn là vật chất như
trước nữa. Sắt đá gỗ đất cũng đều làm bằng tâm như
những ý nghĩ. Ý nghĩ và vạn vật đều là tâm như nhau. Vì
vậy người chứng tam thiền có thể điều khiển vật chất
bằng ý nghĩ, có thể đi xuyên qua tường vách như không khí.
Còn chúng ta có bắt chướt xem bức tường này là tâm thì
chỉ u đầu sứt trán chứ không thể đi xuyên qua được.
Tứ
thiền là tận cùng của tâm thức. Nơi tứ thiền này, Phật
đã khởi tác ý nhớ lại vô lượng kiếp quá khứ của mình,
thành tựu túc mạng minh. Ngài cũng tác ý quan sát sự lưu
chuyển của chúng sinh qua các nẻo luân hồi theo nghiệp duyên
thiện ác, thành tựu thiên nhãn minh. Ngài đã bứng nhỗ tận
cùng gốc vô minh, ngã chấp sâu thẳm nhất để thành tựu
lậu tận minh. Ngài trở thành một Đấng Giác Ngộ của thế
giới sau nhiều thời đại không có một đức Phật nào đã
xuất hiện.
Nơi
cảnh giới chứng ngộ niết bàn tuyệt đối này, không gian
vô biên dường như chỉ là một điểm, nhưng ở đâu vẫn
là ở đấy không lẫn lộn với nhau. Ví dụ Trái đất và
sao Hỏa cách nhau 60 ngày bay; nhưng với cái nhìn của Phật
thì hai chỗ đó chỉ là một, nhưng vẫn không lẫn lộn với
nhau.
Thới
gian vô tận cũng như chỉ là một điểm nơi Niết bàn này,
dù vẫn không lẫn lộn với nhau. Ví dụ thời điểm cách
đây 5 ngàn năm văn minh Ai cập với bây giờ cũng như
là đồng thời, dù vẫn không lẫn lộn với nhau.
Thiền
sư Mật Ấn nói một thiền ngữ rất thú vị về ý niệm
này rằng: ”Ai cũng biết một giọt nước gieo vào hồ to,
mấy ai biết cả đại dương gieo vào giọt nước.”
Chúng
ta gượng gạo trình bày một phần nào để cảm nhận được
tâm chứng vĩ đại của Phật, để thấy cái nhỏ bé tầm
thường của mình. Nếu Phật là một đại dương, mình chưa
là một giọt nước; nếu Phật là ngọn cao sơn, mình chưa
là hạt bụi nhỏ. Vì vậy lòng tôn kính Phật bao nhiêu cũng
không đủ.
Có
một chú cư sĩ là giáo viên cấp 3 phổ thông trung học, mùa
hè rảnh rỗi đến ngôi chùa quê vắng vẻ để công quả
tu hành. Sau này gặp một tu sĩ khác, chú than rằng vị thầy
trụ trì tại ngôi chùa quê đó không tinh tấn tu hành bằng
chú vì từ khi có chú, thầy đó thường xuyên để chú công
phu bái sám một mình. Người tu sĩ kia bênh vực chống chế
rằng tại vì quý thầy tu từ nhỏ tụng kinh lạy Phật nhiều
quá rồi nên bây giờ nghỉ ngơi chút đỉnh có sao đâu.
Thật
ra đó chính là nhược điểm của người xuất gia, vì không
đủ lòng tôn kính Phật nên tự cho rằng lễ Phật bấy nhiêu
năm là đủ rồi. Dù cho chúng ta có lễ Phật muôn ngàn kiếp
cũng không tôn vinh hết được thánh tính vĩ đại của Phật.
Chính vì không hiểu được thánh tính cao siêu vĩ đại của
Phật mà ta đã không phát tâm thiết tha lễ bái Phật thật
nhiều. Nếu không lễ bái cung kính Phật thường xuyên tha
thiết, phước tu hành của chúng ta sẽ cạn dần. Người xuất
gia mà hết phước thì sẽ bị hoàn tục. Còn giữ được
màu áo tu, còn được người quý trọng vì còn phước; nếu
hết phước thì mọi chuyện đó chấm dứt.
Điều
gì làm cho chúng ta hết phước?
Lúc
mới vào chùa công quả tu hành, chúng ta tích lũy phước bằng
cách tôn trọng sư trưởng, nhu thuận huynh đệ, siêng năng
công quả, tinh cần lễ bái. Nhờ nhiều công hạnh đó mà
chúng ta tăng trưởng được phước duyên tu hành, giới lạp
bước lên. Nhưng ngày nào đó mà những công hạnh đó yếu
dần, nghĩa là không còn sư trưởng cho ta tôn kính, không còn
sư huynh cho ta nhu thuận, không siêng làm các việc công đức
Phật sự, thờ ơ với việc lễ bái kính Phật, thêm vào đó
là hưởng thụ sung sướng, thích được cung kính, kiêu căng
tự đại vân vân… thì phước xưa đang từ từ cạn dần.
Ngày
nào đó mà phước làm tăng đã hết thì chúng ta bị hoàn
tục. Trước khi hoàn tục người này bỗng nhiên cảm thấy
không còn ưa thích đời sống xuất gia, ý nghĩ rời bỏ đời
sống xuất gia khởi lên trước.
Giống
như Chư Thiên ở cõi trời khi sắp bị hết phước cõi trời
để sinh xuống cõi người cũng có những dấu hiệu hiện
ra như vòng hoa trang sức bị héo, hương thơm nơi người hết,
hào quang nơi thân mất, thân cảm nghe bệnh, đặc biệt là
cảm thấy chán thiên giới, muốn đi về một nơi khác. Chính
ý nghĩ chán thiên giới thúc đẩy vị đó mất thọ mạng
cõi trời và sinh về cõi người.
Người
xuất gia cũng vậy, khi phước làm Tăng sắp hết, sắp sửa
hoàn tục, tự nhiên trong lòng cảm thấy chán làm người xuất
gia. Trước kia khi phước còn thì thấy màu áo này thiêng liêng,
dù chết cũng bảo vệ màu áo này tới cùng, dù chết cũng
sẽ mang màu áo này mà chết. Đến khi phước làm Tăng hết
thì lại nghĩ khác, cho rằng người đã thông hiểu đạo lý
thì đâu chấp gì màu áo, để tóc hay cạo trọc cũng vậy
thôi, ăn mặn ăn chay cũng vậy thôi. Thế là trở thành cư
sĩ hồi nào không hay.
Người
như thế dù trong tâm cứ cho rằng mình tự tại theo Chân tâm
Phật tánh vốn không hình không tướng, không tới không lui,
nhưng trên hình thức thì người này đã hết phước làm Tăng.
Bây giờ người này có bướng bỉnh cãi rằng phước tội
cũng là không thì lập tức mắc thêm một lỗi nặng nữa
là bài bác Nhân quả! Tội bài bác Nhân quả thì dễ đọa
làm súc sinh.
Vì
vậy chúng ta hãy siêng năng lễ kính Phật, chúng ta hãy hiểu
rằng tâm Phật luôn luôn phủ trùm che chở chúng ta trong từng
giây từng phút. Mỗi ngày chúng ta lễ Mười Phương Phật,
nhưng đừng nghĩ là Phật ở rất xa trong mười phương cõi
nước nào đó. Ngay khi ta hướng tâm tôn kính Phật thì lập
tức sự cảm ứng đã xuất hiện tận trong sâu thẳm của
tâm hồn ta, trong từng hơi thở của ta. Ngay khi chúng ta thành
tâm cầu nguyện thì luôn luôn được Phật gia hộ. Dĩ nhiên
sự gia hộ của Phật cũng tương thích với Nghiệp duyên của
chúng ta. Nếu chúng ta cầu được quả báo tiền bạc thì
khó vì còn phải lệ thuộc Nhân quả của mình, nhưng nếu
cầu Phật gia hộ để dựng lập đạo đức, để có cơ hội
giúp người, làm việc từ thiện thì rất dễ đạt được.
Ví
dụ như chúng ta cảm thấy tâm mình thiếu từ bi; hãy lễ
Phật và cầu sự gia hộ thi 2tự nhiên tâm từ bi dễ xuất
hiện hơn. Hoặc khi ta chí thành làm một Phật sự lợi ích
cho mọi người nhưng gặp trở ngại; hãy lễ Phật cầu nguyện
và ta sẽ thấy sự gia hộcủa Phật giúp mình vượt qua khó
khăn.
Chúng
ta hãy thấy một cách xác quyết rằng cuộc đời của mình,
thân tâm của mình xin cúng dường Phật, là thuộc về Phật.
Hãy thấy rằng từng bước đi, từng ý nghĩ, từng lời nói
này là của Phật, từ nay không có gì là của mình hết. Nếu
ai đạt được điều này thì duyên phước đối với Phật
Pháp là bất thoái chuyển.
Đa
số chúng ta vẫn còn hời hợt, ít có cảm nhận được Phật
luôn hiện diện bên cạnh mình trong từng phút giây ccủa cuộc
sống. Sự nỗ lực của bản thân là điều lành để gây
nhân, nhưng chấp vào bản thân hoàn toàn cũng là kiêu mạn.
Phải biết rằng sự cảm ứng của Phật luôn phủ trùm cho
chúng ta.
3.
Thực hành lễ kính Phật
a.
Lễ Phật
Nội
dung nào rồi cũng phải biểu hiện ra hình thức; tấm lòng
nào rồi cũng phải biểu lộ ra hành động. Cũng vậy, lòng
tôn kính Phật phãi được bày tỏ bằng công hạnh lễ kính
mỗi ngày. Hạnh lễ kính Phật phải được duy trì suốt đời
suốt kiếp, và sẽ tạo thành công đức cho chúng ta hết kiếp
này sang kiếp khác.
Mỗi
ngày chúng ta nên có thời lễ Phật cá nhân. Vì sao? Bởi vì,
khi lễ Phật chung với đại chúng ta dễ bị phân tâm do phải
để ý hòa theo mọi người trong lời tụng và cử động nên
không dồn hết tâm thành. Còn khi lễ Phật một mình, không
bận tâm vì nghi thức, chúng ta dễ dàng dồn hết tâm thành
để tôn kính Phật vô lượng vô biên. Cũng có thể nhiều
người cùng lạy chung trong chánh điện rộng, nhưng mạnh ai
nấy lạy, không bận tâm hòa theo nhau, để dành trọn tâm
thành. Còn khi vào khóa tụng niệm chung thì vẫn theo chúng
để lễ tụng như thường.
Ngay
cả cư sĩ cũng phải có thời lễ Phật mỗi ngày để tăng
trưởng phước duyên. Cư sĩ cũng phải siêng năng lễ Phật
chứ không được coi thường. Nhà cư sĩ cũng phải thiết
trí bàn Phật nơi mà mình có thể lễ lạy được; chứ đừng
để bàn thờ ở trên cửa buồng đi ra vào phía dưới. Góc
thờ Phật phải tương đối tách rời với sinh hoạt hoặc
tiếp khách để việc thờ cúng được trang nghiêm và việc
lễ bái được thanh tịnh. Không nên chỉ thắp nhang rồi gõ
chuông vài tiếng là coi như xong bổn phận.
Chẳng
những người cư sĩ biết tu mà còn phải cưỡng bách con mình
cùng tu theo để gieo duyên với Phật Pháp cho nó. Tại sao chúng
ta phải bắt buộc con cái mình tu theo? Vì con trẻ không hề
tự biết điều gì đúng điều gì sai. Ngay cả như việc học
văn hóa khi đến tuổi đi học cũng vậy, nếu để cho con
trẻ tự giác thì chắc chắn chẳng đứa trẻ nào chịu đến
trường. Cha mẹ cũng phải dỗ ngọt, răn đe, cưỡng bách
rồi mới đưa trẻ đến trường được.
Phật
Pháp cũng vậy, nếu không bắt buộc thì con trẻ cũng chẳng
biết đạo đức nhân quả là gì. Và đó sẽ là cái tội
của cha mẹ đã không hết trách nhiệm đối với con cái.
Sau này lớn lên chúng hư hỏng thì cha mẹ cũng phải chịu
tội một phần. Do đó một gia đình đạo Phật gương mẫu
phải có nề nếp chặt chẽ chứ không để lõng lẻo
được .
Khi
lễ Phật với lời tán thán công hạnh nào, chúng ta dần dần
sẽ thành tựu công hạnh đó.
Núi có thể lung lay
Nhưng Người là bất động
Tâm bình an của Người
Còn hơn cả hư không
Rất nhỏ nhiệm sâu mầu
Đến tận cùng tuyệt đối
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)
Cứ
chí thành lễ bái như vậy tự nhiên một thời gian sau tâm
chúng ta trở nên bất động vững vàng trước ngoại cảnh.
Ca ngợi Phật điều gì, ta sẽ thành tựu điều đó nơi chính
mình. Nhiều gia đình cư sĩ cùng nhau lễ lạy như vậy rồi
cũng thấy có nhiều điều tốt đẹp xảy đến cho họ. Đó
là những kết quả phụ ngoài mục tiêu chính là thành tựu
đức hạnh.
Có
những đứa trẻ vốn là học sinh kém, nhưng sau một thời
gian chuyên cần lạy Phật như thế bỗng trở nên học sinh
khá hơn, làm toán làm văn dễ dàng hơn khiến cho cha mẹ rất
vui mừng. Chúng cũng bớt nghịch ngợm quậy phá làm cho cha
mẹ vui mừng hơn mong đợi. Chư Phật quả thật rất nhiệm
mầu, rất từ bi. Chỉ vì chúng ta không đủ lòng tôn kính,
không làm tròn bổn phận nên không nhận được những điều
tốt đẹp. Nếu chúng ta siêng năng lạy Phật thì điều tốt
lành chắc chắn sẽ đến với chúng ta.
Khi
lạy Phật chúng ta nên phát những lời nguyện kèm theo chứ
đừng lạy suông. Ví dụ, nếu thấy mình kém tinh tấn, hay
vin vào cớ này cớ kia để bỏ một thời ngồi thiền, chúng
ta nên lạy Phật phát nguyện cầu tinh tấn: Xin cho con được
dũng mãnh tinh tấn, dù gặp khó khăn trở ngại cũng không
bao giờ thối tâm, dù trong hoàn cảnh nào con vẫn siêng năng
tu tập để thành tựu được đạo quả. Rồi một thời gian
sau tự nhiên ta tinh tấn rõ rệt không ngờ. Chúng ta phát nguyện
chừng 3 năm như vậy thì lời nguyện đó đã trở thành xương
thành tủy, thành chủng tử cho nhiều kiếp về sau. Sau đó
ta không phát lời nguyện đó nữa để phát qua lời nguyện
khác, nhưng lời nguyện tinh tấn vẫn tồn tại mãi không hết.
Trừ
một trường hợp xảy ra làm chúng ta mất thiện nhân tinh
tấn là sau này chúng ta có chê bai ai không tinh tấn, chê với
lòng khinh ghét thiếu từ bi thì cái nhân tinh tấn của ta mới
từ từ mất dần. Chê ai cái gì, chúng ta sẽ giống như thế.
Thế
thì phát những lời nguyện khác là làm sao?
Đó
là do có tu hành chúng ta mới phát hiện ra những nhược điểm
còn tồn tại nơi chính mình. Nếu không chịu khó tu hành,
chúng ta chẳng thấy mình có lỗi lầm gì cả. Càng tinh tấn
tu hành, chúng ta sẽ càng thấy ra nhiều lỗi mà trước đây
mình không thấy.
Ví
dụ như một hôm chúng ta chợt phát hiện ra mình thiếu lòng
từ bi nên phát nguyện từ bi: con nguyện trải lòng thương
yêu đến tất cả chúng sinh, kể cả kẻ oán thù; xin cho con
thương yêu cả những người tội lỗi, những người xúc
phạm đến con… Cứ cầu nguyện như vậy mãi thì khoảng
3 năm sau chúng ta tự nhiên sẽ trở nên người rất từ ái.
Có những người trước kia ta ghét, bây giờ không ghét nữa;
có những người trước kia ta khinh, bây giờ không khinh nữa.
Bây giờ với lòng từ bi, chúng ta nhìn những người thiếu
phước hay thiếu nhân cách bằng con mắt khác, không khắt
khe hẹp hòi như trước nữa. Chúng ta biết những người đó
cũng đã gây nghiệp không lành nên bây giờ kém giá trị như
thế, dễ bị người khác khinh thường. Nhưng nhờ có lòng
từ bi, chúng ta vẫn thoát khỏi cái nghiệp của họ để vẫn
thương họ.
Một người đàn ông nghèo khổ đến xin cơm ăn lúc quý thầy
đang ăn cơm. Có thầy bực mình vì biết người đàn ông này
kém nhân cách, bê tha rượu chè nên lâm vào hoàn cảnh ngày
nay. Một thầy khác vẫn bảo chú điệu xới cơm cho ông, và
quay lại bảo các thầy khác rằng: “Mình tu ở chùa thì sẽ
có nhiều chúng sinh đến làm phiền mình lắm. Nhưng dù sao
thì cũng phải ráng bình tĩnh mà thương họ.”
Thật
ra người đã thiếu phước thì thế nào cũng có nhược điểm
này nọ. Nếu không có nhược điểm thì đã không thiếu phước.
Nhiều đoàn cứu trợ ủy lạo của các chùa đến tặng quà
cho những đồng bào nghèo, than rằng có những người đã
nhận quà rồi nhưng vẫn tìm cách đi vòng lại để nhận
thêm làm thiếu phần của người khác. Chúng ta phải hiểu
những điều đó để mà đừng bao giờ khởi tâm ghét họ.
Muốn
thương được những người gian người xấu thì tâm từ bi
phải lớn lắm, mà muốn tâm từ bi lớn thì chúng ta phải
lễ kính Phật, ca ngợi lòng từ bi của Phật.
Chúng con sống yên vui
trong từ bi của Người
ngập tràn như không khí
trùm phủ khắp muôn loài
ư1tha
và độ lượng
bao la và gần gũi…
Người cao cả thiêng liêng
Người bao la vời vợi
Mà chúng con nhỏ bé
Tầm thường và tội lỗi
Thật
ra lòng từ bi không phải dễ khởi. Chúng ta phải nương vào
công đức, sự gia hộ và uy lực của Phật mới có thể khởi
lên tâm từ bi lớn. Chúng ta vừa chân thành phát nguyện, vừa
chí thành lễ kính Phật thì tâm từ bi sẽ dần dần xuất
hiện. Một vị Bồtát cũng phải trải qua rất nhiều kiếp
huân tập đại nguyện chứ không phải vài ba mươi năm có
thể thành tựu được.
Trong
suốt đời tu hành, một người phải phát dần dần rất nhiều
lời nguyện. Một số lời nguyện được phát qua vài ba năm,
đến khi thấm sâu rồi tự nhiên những tâm nguyện khác lại
hiện ra để được phát tiếp. Những lời nguyện đó chính
là sự định hướng cho sự tu hành của chúng ta trong vô lượng
kiếp sắp tới.
b.
Khi tọa thiền
Khi
bắt chân lên ngồi Thiền cũng vậy, trước hết chúng ta chắp
tay tác ý tâm nguyện tôn kính Phật vô lượng vô biên. Kế
đến cầu Phật giữ gìn cho mình đi đúng đến mục tiêu
vô ngã.
Chúng
ta nói thêm một chút về mục tiêu vô ngã này. Ai tu thiền
cũng mong nhiếp được tâm vào định. Nhưng tâm có định
rồi, hết vọng tưởng rồi, vô niệm rồi vẫn còn là si
định vì cái định đó không có định hướng. Khi có định,
tâm người này rất rỗng rang sáng tỏ; nhưng vẫn bị gọi
là si định vì thiếu định hướng. Tại sao? Tại vì nếu
không có định hướng rõ rệt về mục tiêu vô ngã, định
lực sẽ tự nhiên làm phát sinh thần thông, kiến giải. Lúc
đó hành giả âm thầm tự cho mình tài giỏi hơn người. Tuy
có định mà tâm kiêu mạn vẫn phát triển, và còn phát triễn
mạnh hơn cả người thường. Rồi chính sự kiêu mạn thái
quá này lại làm phát sinh những quan điểm kỳ cục sai lầm
nối tiếp, khiến hành giả trở thành tà lúc nào không hay.
Nếu
ngày nào đó chúng ta tu thiền và nhiếp được tâm vào an
định rỗng rang sáng tỏ, rồi cứ nắm giữ, an trú trong cái
trạng thái đó mãi thì vẫn bị gọi là si định vì không
biết hướng về mục tiêu vô ngã. Chúng ta phải hiểu rằng
dù một người có chứng được đại định phi phi tưởng
có thần thông đi xuyên qua vách vẫn còn bản ngã. Bản ngã
còn thì một trong hai trường hợp có thể xảy ra, hoặc vị
này tích lũy tiếp công hạnh để chứng tiếp diệt tận định
để
chấm dứt hoàn toàn chấp ngã, hoặc vị này tự mãn kiêu
mạn để lúc nào đó thoái đọa trở lại.
Vì
vậy, để tránh sai lầm đáng tiếc, dù đang an trú trong định,
chúng ta phải biết bản ngã chưa hết, chúng ta vẫn phải
nhắm đến mục tiêu vô ngã. Định với mục tiêu vô ngã,
đó là chánh định. Và chánh định thì chắc chắn sẽ đưa
đến giải thoát.
Chúng
ta cũng phải cẩn thận với quan điểm tự tôn vinh cái tâm
an định, rỗng rang sáng tỏ đó là cao siêu, là đồng với
Phật, là tự tánh vân vân, vì như vậy vô tình tôn vinh luôn
bản ngã nằm ẩn núp trong đó. Và bản ngã sẽ phát triển.
Chúng ta nên nhớ rằng bản ngã ẩn núp rất sâu kín, niệm
tưởng không còn mà bản ngã vẫn còn. Phải hết sức cẩn
thận không được chủ quan.
Khi
ngồi thiền, ta phải xác định mục tiêu vô ngã rõ ràng,
phải cầu Phật gia hộ cho ta đi đúng hướng vô ngã như thế.
c.
Trong mọi công việc
Có
2 cực đoan mà người tu chân chính phải tránh. Một là chỉ
cho tự sức mình là đủ, rồi đi dần đến chủ quan kiêu
mạn; hai là lúc nào cũng cầu xin lệ thuộc vào thần thánh
mà không biết nỗ lực tinh cần, rồi đi dần vào mê tín
bạc nhược.
Trung
đạo đúng nghĩa là vừa nỗ lực bản thân nhưng vẫn khiêm
hạ nương nhờ công đức của Phật. Và trung đạo thì luôn
luôn đem lại kết quả tốt đẹp. Khi nỗ lực làm việc
thiện, chúng ta cũng cần phải biết cầu nguyện sự gia hộ
của Phật, phải nhớ đến tâm từ bi của Phật. Đừng nghĩ
mình làm điều tốt rồi cho mình là tốt và ai cũng phải
lo cho mình. Đó là ý nghĩ kiêu mạn và sai lầm.
Người
ngoại đạo cầu xin Thần Thánh để được hưởng quả, ví
dụ như cầu được giàu sang, đỗ đạt, may mắn. Còn người
đệ tử Phật cầu nguyện Phật gia hộ cho mình gieo nhân,
ví dụ như cầu cho có cơ hội để giúp người, để đắp
đường, để khuyên bảo người khó bảo… Đây là chỗ khác
nhau giữa người tin Thần Thánh mà không tin Nhân quả, với
người tin Phật và tin Nhân quả.
Như
bình thường một vị giảng sư trước khi lên pháp tòa phải
thầm cầu nguyện Phật gia hộ. Nhưng thật ra như vậy cũng
là muộn rồi. Phải cầu nguyện Phật gia hộ ngay khi soạn
bài; như vậy cũng còn muộn, phải cầu nguyện Phật gia hộ
từ khi nhìn thấy Phật Pháp chưa hưng thịnh, lúc mới bắt
đầu biết tu. Chúng ta phải cầu Phật gia hộ cho mình giảng
đúng ý Phật để chúng sinh được lợi ích.
d.
Nguyện giữ gìn và phát triển Phật Pháp
Vì
tôn kính Phật, chúng ta phải phát lời nguyện quan trọng là
bảo tồn và phát triển Phật Pháp. Chúng ta đã nói đến
đạo Phật đang bị yếu thế, hoặc bị lui bước trước
các tôn giáo khác, hoặc bị lu mờ trước sự tiến bộ của
khoa học. Hôm nay chúng ta không để cho tình trạng đó kéo
dài nữa. Chúng ta phải sao để cho đạo Phật được phục
hưng trở lại, mạnh mẽ lại, lan tràn trở lại, phải làm
sao để nhiều người biết được Chánh pháp.
Chúng
ta đã khẳng định đạo Phật là chân lý, là lợi ích vô
lượng cho chúng sinh thì chúng ta không có quyền thụ động
để cho đạo Phật suy yếu, mà ngược lại, chúng ta phải
nỗ lực bằng mọi cách làm cho mọi người biết tới Phật
Pháp, làm cho Phật Pháp đến với mọi người.
Chính
sự nhu nhược thụ động của quý Thầy Cô lây lan sang các
Phật tử khiến cho Phật tử cũng chỉ biết lo tu hành cho
bản thân mình mà không hề lo giáo hóa cả nhà cùng theo Phật.
Công đức Phật hóa gia đình của cư sĩ rất là yếu. Một
người biết đạo thường không đủ mạnh mẽ khiến mọi
người trong gia đình biết đạo theo. Sự nhu nhược thụ động
đó phải được hiểu là xuất phát từ quý Thầy Cô. Cứ
mỗi người thụ động một chút là đủ để Phật Pháp suy
tàn. Thái độ đó bây giờ không được phép tồn tại nữa.
Trong
thời đại mới này, người tu sĩ phải vừa tinh tấn hành
thiền tu tập cho chính mình, vừa nỗ lực giáo hóa chúng sinh.
Cả hai công hạnh đều phải được thực hiện nhiệt thành
như nhau, không được thiên lệch bên nào, cũng nhưb không
được lười nhác cả hai.
Chúng
ta cũng hay nghe ca ngợi sự thực hành thiền định trong cô
tịch của những ẩn sĩ dấu mình trong rừng sâu núi thẳm
hay khép cửa một mình trong am vắng. Những hình ảnh đó quả
thật đáng kính, vì chỉ có một nội tâm rất bình an mới
chịu đựng được cái cô đơn vây phủ. Nhưng chúng ta hiểu
lầm để cho rằng hễ là tu theo đạo Phật thì phải tránh
mọi người để ở yên một mình.
Thật
ra Phật hay các thiền sư ca ngợi các ẩn sĩ độc cư là để
tôn vinh khả năng thiền định của vị đó đã đạt được
mức độ lắng sâu đủ để thắng được cảm giác cô độc
chứ không phải Phật và các thiền sư chủ trương một đạo
Phật trốn tránh cuộc đời. Chúng ta phải hiểu rằng luật
Nhân quả chi phối mọi điều hết sức công bằng và kỹ
lưỡng. Khi ở một mình, lo cho bản thân mình, không bận tâm
lo cho ai thì đương nhiên chúng ta sẽ không có phước, không
tạo thêm được phước mới, cũng có nghĩa là mất phước
từ từ.
Đó
là lý do tại sao có nhiều vị nhập thất 20 năm ra rồi tâm
hạnh tầm thường hơn hồi mới vào thất, đời sống cũng
khó khăn chật vật hơn, tâm linh cũng chẳng có gì khả quan,
đôi khi còn kém hơn ngày trước. Chỉ vì người như vậy
không có phước tích lũy đời trước nhiều, đời này không
khéo léo tạo thêm phước mà lại trốn trong thất vắng hưởng
thọ sự dâng cúng nuôi nấng của người trong thời gian quá
dài, nên cuối cùng phước cạn!
Tâm
linh có thể tiến được là do sự đóng góp quan trọng của
phước, bên cạnh nhiều yếu tố khác như tinh tấn, phương
pháp vân vân… Hiểu được điều này chúng ta phải vừa
siêng tu vừa lo làm lợi ích chúng sinh. Hai điều đó sẽ hỗ
trợ nhau rất kỳ diệu. Chúng ta cứ tưởng việc gây tạo
công đức khiến chúng ta bận tâm và bất an khó nhiếp tâm.
Không ngờ rằng càng bận tâm làm phước chừng nào thì khi
ngồi thiền tâm lại yên nhiều hơn chừng nấy.
Nếu
chúng ta chỉ lo tu mà không lo giúp người thì không có phước
để tiến xa. Nếu chúng ta chỉ lo giúp người mà không lo
tu thì sẽ không có đạo lực để ứng xử mọi điều, nhất
là khi gặp rắc rối nghịch cảnh. Vì vậy, muốn tu giỏi
thì phải lo giáo hóa chúng sinh; muốn giáo hóa chúng sinh thì
cũng phải lo tu cho giỏi.
Thế
kỷ tới nhân loại cạnh tranh kinh khủng. Mọi giá trị lý
thuyết đều bị đem ra đối chiếu so sánh lẫn nhau để xem
cái nào hợp lý nhất. Vì vậy người đệ tử Phật phải
nỗ lực nhiều hơn bao giờ hết để phát huy Phật Pháp. Chúng
ta phải xét trong 24 giờ của một ngày chúng ta làm và tu như
thế nào, giờ nào tu, giờ nào giúp người; có giờ nào bị
bỏ trống lãng quên hay không. Nếu có giờ bị bỏ trống
là ta có tội với Phật Pháp đó.
Nghiệp
duyên cho chúng ta cuộc đời với những tháng ngày rộng dài
như thế để ta sử dụng thật đúng. Nếu bỏ trống thời
gian, chúng ta cũng sẽ mang tội giống như chúng ta đã phí
phạm đổ bát cơm vào thùng rác, hay phí phạm xé bỏ quần
áo lành lặn cho vui. Phí phạm cơm áo thì sau này chúng ta mắc
quả báo là không có cơm ăn áo mặc; phí phạm thời gian thì
sau này chúng ta mắc quả báo là không có thời gian nữa, nghĩa
là không được quyền sống lâu nữa.
Người
biết quý thời gian thì ngay cả lúc mệt mõi nằm nghỉ cũng
lặng lẽ nhiếp tâm chứ không suy nghĩ vẩn vơ bậy bạ. Còn
khi khỏe khoắn thì ngồi dậy bắt chân ngồi thiền; buông
chân xả thiền ra thì đi làm việc cho đại chúng, thừa sự
Sư trưởng, phpụ giúp huynh đệ. Có những huynh đệ đã được
thầy cho phép đi ra ngoài làm việc sớm thì mình ở chùa cũng
tìm cách hỗ trợ ngấm ngầm để Phật sự của huynh đệ
thuận lợi hơn.
Việc
ăn uống cũng không được coi thường, phải tương đối đủ
chất để có sức khỏe làm việc đạo. Aên uống thiếu thốn
khiến cho thân thể yếu đuối cũng là có lỗi với Phật
Pháp. Chúng ta cần một thân thể khỏe mạnh để tu hành và
lo cho Phật Pháp mai sau.
Mong
sao 20 năm sau, mỗi người chúng ta đều đã góp phần làm
cho Phật Pháp đến với rất nhiều người trên Trái đất
này.
4.
DẤU HIỆU CỦA CÔNG ĐỨC
Sau
một thời gian dài chịu khó lễ kính Phật, chắc chắn
chúng ta sẽ thấy xuất hiện nhiều dấu hiệu tốt lành của
công đức. Tuy nhiên, chúng ta chỉ nên chú ý đến một dấu
hiệu thuộc về đạo đức , đó là trí tuệ thấy được
lỗi của mình.
Tại
sao trí tuệ thấy được lỗi là công đức?
Từ
trước đến giờ chúng ta ít nhận ra lỗi của mình, thường
tự cho mình là đúng, thường tự bênh vực ý nghĩ và việc
làm của mình. Chính vì không thấy được cái sai của mình
nên chúng ta đã gây rất nhiều nghiệp bất thiện mà không
hay biết. Hạnh phúc lớn của người hiểu đạo là thấy
được lỗi của mình để dừng lại. Các vị cổ đức đã
nói, Bồtát sợ nhân, chúng sinh sợ quả. Bồtát có trí tuệ
nên tránh sai lầm ngay từ đầu; còn chúng sinh phải đợi
khi quả báo hiện ra khổ sở mới biết sợ.
Nhờ
công đức lễ Phật nên chúng ta mỗi ngày tránh xa dần lầm
lỗi và nhân cách cao vời lên rõ rệt.
Ví
dụ khi trông thấy một huynh đệ phạm lỗi, nếu như trước
đây thì chúng ta sẽ mắng người đó một trận nên thân;
nhưng bây giờ có trí tuệ, chúng ta nhanh chóng thấy như vậy
là không hay, phải nói một cách khác, cũng nghiêm khắc, nhưng
từ bi, và giữ được phong cách đàng hoàng của mình.
Còn
vô số điều hay khác trong cuộc sống mà khi có công đức
và trí tuệ, chúng ta sẽ thấy được từng chút điều sai
và đúng trong từng đường tơ kẻ tóc. Sự tinh tế đó giúp
chúng ta rất nhiều trong cuộc đời tu hành, và cực kỳ đặc
biệt là sẽ giúp chúng ta trong việc thuyết pháp độ sinh.
Một bài pháp hay là bài pháp tinh tế, kỹ lưỡng, cặn kẽ,
thực tế, dễ áp dụng, mới lạ bất ngờ. Mới lạ không
phải vì chúng ta nêu ra vấn đề mới, mà vì chúng ta phát
hiện ra những điều sâu kín dấu trong những vấn đề rất
cũ.
Chắc
chắn không có ai hoàn toàn đúng khi chưa chứng đạo rốt
ráo. Chỉ có Phật mới thật sự không có một chút sơ hở
nhỏ như Phật đã tuyên bố: Không một chúng sinh nào từ
cõi trời đến súc sinh có thể tìm thấy lỗi của Như Lai.
Còn
những vị Thánh, những thiền sư… đều vẫn còn chưa thông
suốt hết chuyện của Tam giới. Vì vậy, nếu chúng ta tu đã
lâu mà thấy mình hình như không có lỗi lầm gì cả, thì
xin thưa rằng chúng ta đang thiếu công đức trầm trọng.
Nếu
chúng ta siêng năng lạy Phật thì cứ từng ngày trôi qua, chúng
ta lại phát hiện được những lỗi mới của mình. Sáu năm
sau nhìn lại bây giờ chúng ta sẽ ngạc nhiên vì sao bây giờ
mình sai lầm nhiều như vậy. Ngay cả một giảng sư giỏi
cũng sẽ phát hiện ra trước đây mình giảng chưa hay lắm,
nếu giảng sư đó có lạy Phật đều đặn. Và dĩ nhiên khi
biết như vậy thì sẽ giảng hay hơn nữa.
Kết
thúc bài này, chúng ta chắp tay nguyện cầu cho tất cả chúng
sinh đều biết tôn kính Phật chí thành để có công đức
ban đầu cho việc thoát khổ về sau.