KHÁI
NIỆM
1.ĐỊNH
NGHĨA:
Đạo
Đức là gì ?
-
Đạo đức là những khuynh hướng tốt trong tâm ta, mà những
khuynh hướng đó tạo nên những lời nói và hành vi bên ngoài
khiến cho mọi người chung quanh ta được chuyển hóa, an vui,
lợi ích.
Như
vậy, Đạo đức là cái tốt ở bên trong nhưng được đánh
giá bằng biểu hiện ở bên ngoài. Chúng ta khẳng định lại
là Đạo đức không phải là hành vi hay lời nói bên ngoài.
Đạo đức chỉ chi phối hành vi và lời nói bên ngoài. Đạo
đức là gốc của những hành vi lời nói tốt đẹp bên ngoài.
Một
nội tâm tràn đầy Đạo đức thì luôn luôn bị thúc đẩy
phải đối xử tử tế với mọi người, phải đem an vui lợi
ích cho mọi người. Nếu chúng ta không thấy mình xấu, nhưng
không hề bị thúc đẩy phải cư xử tốt với mọi người
thì hãy biết rằng mình chưa có Đạo đức sâu sắc.
Khuynh
hướng vị tha được xem là Đạo đức vì khuynh hướng đó
luôn khiến chúng ta quan tâm đến những người khác, thậm
chí còn hơn lo cho bản thân mình. Vì lúc nào cũng hay quan tâm
đến người nên chúng ta nhanh chóng phát hiện ra nỗi khổ,
niềm đau, sự khó nhọc, cơn bệnh hoạn của người để
tìm cách giúp đỡ. Có khi chúng ta chỉ giúp một lời nói,
một ly nước, một viên thuốc, hoặc có khi cả một số tiền
lớn… để giúp người qua lúc khó khăn.
Tâm
khiêm hạ được xem là Đạo đức vì tâm lý đó luôn thúc
đẩy ta phải tôn trọng mọi người. Sống trên đời ai cũng
cần được tôn trọng, cần được xem là có giá trị, vì
thế khi ta biết tôn trọng chân thành người khác cũng là
đem an vui đến cho người. Nhưng muốn tôn trọng người thì
ta đừng thấy mình hơn người, nghĩa là ta phải thấy được
mình nhỏ bé kém cỏi.
Khuynh
hướng kín đáo cũng được xem là Đạo đức vì khuynh hướng
này khiến ta không khoe khoang để đi đến tự cao vô ích.
Khi ta kín đáo không bày tỏ tài năng, tài sản, thành công,
công đức của mình cũng là nhường cho người khác có thêm
giá trị vì không bị cạnh tranh bởi sự nỗi bật của mình.
Chúng
ta sẽ đi sâu vào phân tích từng tâm lý đạo đức ở những
bài sau.
2.
Sự thúc đẩy vì tình trạng Phật Pháp hiện tại
a. Khoa học kỹ thuật hiện đại.
Thế
giới hiện nay đã thay đổi rất nhiều so với những thế
kỷ trước, nhất là so với thời đại của Phật, bởi bự
tiến bộ của Khoa học Kỹ thuật.
Khoa
học kỹ thuật đã làm biến đổi những tiện nghi trong cuộc
sống và do đó làm thay đổi cả lối sống của con người.
Ví dụ như ngày xưa muốn nói chuyện với nhau, người ta phải
đi qua một quảng đường dài để gặp mặt. Vì mặt đối
mặt nên phát sinh văn hóa lễ nghi giao tiếp. Ngày nay người
ta chỉ cần nhấc phone lên là nói chuyện được, rất dễ
dàng, và lễ nghi giao tiếp bị xem thường dần.
Rồi
những dụng cụ máy móc kỳ diệu ra đời như xe hơi, tivi,
computer, máy may, máy dệt, máy in… làm cho đời sống của
con người được cải thiện tốt đẹp rất nhiều. Hàng hóa
tinh xảo hơn càng lúc càng xuất hiện làm thu hút sự tiêu
thụ mua sắm của con người. Người ta cứ phải thay đổi
xe, đổi máy để có được máy mới với tính năng cao hơn,
mạnh hơn, đẹp hơn… Thậm chí vải vóc quần áo cũng phong
phú đa dạng dồi dào đến nỗi ai cũng sắm sửa dư thừa.
Sự
thành tựu của Khoa học kỹ thuật quá thuyết phục đối
với thế giới nên nhiều người phát sinh tâm lý thực dụng,
coi trọng vật chất, của cải, kỹ thuật khoa học vật lý
hơn là những giá trị tâm linh Đạo đức của thánh hiền
từ ngàn xưa. Họ cho rằng tâm linh đạo đức là cái gì huyền
hoặc mơ hồ không thực tế, không làm cho con người an sung
mặc sướng như Khoa học Kỹ thuật đã làm được. Vì thế
họ xa rời dần những giá trị tinh thần để thiên về vật
chất. Cũng vì thế, thế giới đang bị mất quân bình giữa
đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa khuynh
hướng hưởng thụ và khuynh hướng đạo đức.
Khi
giá trị đạo đức tinh thần kém đi tức là con người đang
đi dần vào tội lỗi và đau khổ mà không biết. Đó là lý
do tại sao tuổi trẻ bây giờ dễ nỗi loạn, kiêu ngạo và
bướng bỉnh vì họ tiếp xúc rất sớm với Kỹ thuật hơn
thế hệ cha ông của họ. Ngày xưa cha ông của họ còn thời
gian để tiếp cận với truyền thống coi trọng đạo đức
tinh thần. Bây giờ mọi cái đang thay đổi theo chiều hướng
xấu hơn về đạo đức.
Người
xuất gia may mắn được sống trong môi trường coi trọng giá
trị đạo đức tinh thần rất cao, khác hẳn với môi trường
của tuổi trẻ bên ngoài rất là phức tạp. Mỗi ngày báo
chí đều đăng tải những tin tức về tội phạm ma túy, cướp
giựt, cờ bạc… mà những tên tuổi hình ảnh đều còn rất
trẻ, thậm chí rất nhiều trẻ vị thành niên.
Hãy
nhìn sự cuồng nhiệt quá đáng như điên dại khi người ta
theo dõi bóng đá để hiểu sự mất thăng bằng trong tâm hồn
con người ngày nay như thế nào.
Chính
vì tình trạng mất quân bình giữa đời sống tinh thần đạo
đức và vật chất hưởng thụ mà người đệ tử Phật phải
ý thức nhiều hơn về lý tưởng tu dưỡng Đạo đức để
xây dựng lại một thế giới tràn đầy tình thương yêu và
Đạo đức.
Con
người sống trên đời cần rất nhiều thứ như tiền bạc,
tình yêu, địa vị, gia đình, con cái, tiện nghi, vân vân…
Nhưng trong tất cả những cái đó, con người rất cần Đạo
đức làm nền tảng, làm cốt lõi, làm linh hồn. Thiếu Đạo
đức, con người sẽ làm đổ vỡ tất cả. Ví dụ một người
kỹ sư thiếu đạo đức sẽ tạo nên một công trình kém
chất lượng; một luật sư kém đạo đức sẽ lách qua kẻ
hở pháp luật để bênh vực kẻ có tội; một bác sĩ kém
đạo đức sẽ kéo dài bệnh để ăn tiền; một viên chức
kém đạo đức sẽ lợi dụng chức quyền để làm khổ dân…
Vì vậy, trong bất cứ lãnh vực nào, nghề nghiệp nào, con
người vẫn luôn luôn cần đạo đức để làm đúng với
trách nhiệm của mình. Người đệ tử Phật hoàn toàn có
ưu thế để đóng góp vấn đề Đạo đức cho xã hội vì
Đạo đức là một thuộc tính nỗi bật của Phật Giáo. Người
đệ tử Phật, nhất là người xuất gia, phải hết lòng tu
dưỡng để đóng góp và đóng góp rất nhiều cho xã hội
về nhu cầu Đạo đức vốn đang thiếu trầm trọng này.
Và
cái thứ hai xã hội cần nữa là sư bình an nội tâm. Hiện
nay con người ta sống rất là căng thẳng vì phải đấu tranh
với sinh kế rất mệt mỏi. Ngay cả các trò giải trí cũng
làm người ta căng thẳng nữa. Người nào lo sinh kế tìm miếng
ăn miếng mặc đã khổ rồi; những người chơi game điện
tử cũng căng thẳng không kém vì các trò bắn giết ì xèo
trong đó; những vũ trường thuốc lắc gào thét nhảy múa
điên dại, những trận bóng đá reo hò inh ỏi thâu đêm…
đều là biểu hiện của một thế giới bất an căng thẳng.
Nếu xuất hiện thêm vài màn khủng bố nổ bom, vài cuộc
tấn công giết chóc thì sự căng thẳng còn ghê gớm không
biết đến dường nào.
Chính
vì con người sống rất căng thẳng nên sự bình an nội tâm
là một nhu cầu rất lớn bên cạnh nhu cầu về Đạo đức.
Ai
cũng biết người tu theo Đạo Phật là tìm đến mục tiêu
giác ngộ giải thoát, nhưng đó là mục tiêu của cá nhân
mình, của riêng nội bộ đạo Phật. Ai là Phật tử thuần
thành thì rất quý trọng tu sĩ vì nghĩ rằng những vị tu
sĩ đang tinh tấn đi trên con đường giải thoát và có thể
hướng dẩn họ cùng đi. Nhưng những người không theo
đạo Phật thì không quan tâm đến lý tưởng giải thoát đó.
Cộng đồng xã hội trước hết chỉ quan tâm xem đạo Phật
thật sự đã đóng góp gì cho con người, cho thế giới.
Đạo
Phật thật sự có thể đóng góp rất nhiều về hai lãnh vực
mà thế giới đang rất cần, đó là Đạo đức và sự Bình
an của nội tâm.
b.
Tình trạng đạo đức của Tăng Ni
Rất
nhiều người không có tín ngưỡng đôi khi đã đặt câu hỏi
liệu những tu sĩ Phật giáo có thể đem lại lợi ích gì
cho xã hội, hay chỉ là những kẻ ăn bám. Chúng ta không trách
những nỗi hoài nghi trong lòng họ, vì thật sự họ cũng đã
chứng kiến một vài trường hợp đáng ngờ nào đó.
Họ
đã đặt vấn đề rằng tín đồ đem đến cúng chùa toàn
là tiền thiệt gạo thiệt, nhưng chỉ nhận lại từ các tu
sĩ những lời cầu nguyện mơ hồ, những lời hứa hẹn hão
huyền cho sau khi chết. Họ cần thấy đạo Phật có một đóng
góp rõ ràng cụ thể hơn cho cuộc đời.
Chúng
ta hứa, lại hứa nữa, với cuộc đời rằng chúng ta những
đệ tử Phật sẽ thật sự đóng góp một cách thiết thực
cho cuộc đời bằng việc giáo hóa Đạo đức và sự Bình
an nội tâm. Đó là cách để đạo Phật khẳng định vị
trí của mình trong xã hội. Đó là cách để mọi người thấy
rằng cái lợi ích mà đạo Phật đem đến cho cuộc đời
tuy vô hình, nhưng giá trị thật là lớn lao.
Chúng
ta định hướng lại con đường mà chúng ta đang đi là, đối
với những người trong đạo Phật thì lý tưởng cuối cùng
vẫn là giải thoát giác ngộ; đối với cộng đồng xã hội
thì lý tưởng của chúng ta là đóng góp Đạo đức và sự
bình an nội tâm.
Nhưng
nếu người đệ tử Phật muốn đủ khả năng để đem đến
cho mọi người Đạo đức và sự Bình an nội tâm thì chúng
ta phải tu và học rất nhiều. Chúng ta phải học kỹ lưỡng
lời Phật dạy, học thêm một số luận bản của chư Tổ
về sau; rồi chúng ta phải cần cù chịu khó thực hành để
chuyển hóa tâm hồn mình trở thành thanh cao thánh thiện.
Mỗi một ý nghĩ khởi lên phải được so sánh đối chiếu
với giáo lý là có phù hợp hay không.
Ví
dụ Phật dạy mình độ lượng bao dung. Nếu mình chợt thấy
tâm mình có niệm ghét bỏ, chê bai, khinh khi ai đó thì phải
biết mình đã sai. Phải lập tức sửa liền, phải sám hối
và nghĩ về người đó với niệm thương yêu quý mến liền.
Ví
dụ Phật dạy mình không tham lam đắùm nhiễm; nếu chợt
thấy trong tâm mình đang thèm muốn vật chất thế gian thì
phải lập tức bỏ liền, phải sám hối và tự dặn lòng
đừng tham như vậy nữa.
Ví
dụ Tăng Ni sinh học ở Phật học viện phương pháp Quán từ
bi, thì ngay ngày hôm đó, tối hôm đó phải áp dụng rải
tâm từ thương yêu tất cả chúng sinh liền, không phải chỉ
học qua suông rồi bỏ. Chúng ta phải học để tu, còn việc
cấp bằng là hệ quả tự nhiên phải đến chứ không phải
là mục tiêu chính.
Việc
tu sửa âm thầm mà vất vả đó chỉ có chính mình và Phật
biết, ngoài ra không ai biết để khen ngợi hay khuyến khích.
Chính vì vậy mà chỉ những ai có thiện căn sâu dày, tự
giác rất cao mới có thể tự kiểm soát mình hằng ngày hằng
giờ như thế.
Sau
một thời gian dài suy yếu trong thời Pháp thuộc, các vị
tôn túc có tâm huyết đã mạnh dạn kêu gọi chấn hưng Phật
giáo vào khoảng đầu thế kỷ 20. Các hòa thượng đã gấp
rút mở các trường, các lớp dạy giáo lý kinh điển để
nhanh chóng có người nối tiếp ra làm việc. Vì nhu cầu cấp
bách nên không có thời gian cho các hòa thượng truyền đạt
các yếu chỉ tu hành. Thế là từ đó đến nay trở thành
như là truyền thống, các trường Phật học thiếu hẳn phương
diện tu tập rèn luyện. Tăng Ni sinh chỉ chuyên tâm nghiên
cứu giáo điển cổ văn. Nếu muốn có thêm đạo hạnh, Tăng
Ni đành phải đi tìm tu nơi khác; hoặc không tìm được môi
trường tu hành thì đành làm người tu sĩ chỉ có học mà
không có tu. Rất là đau lòng !
Nếu
không có được sự hướng dẫn tu hành cặn kẽ, Tăng Ni dễ
bị thiếu đạo lực, không chống đỡ nỗi sự cám dỗ bên
ngoài, đôi khi cư xử như người phàm phu tầm thường, rồi
chuốc lấy sự phê phán của tín đồ cư sĩ. Vì vậy, chúng
ta mong mõi từ đây, các trường Phật học phải có chương
trình hướng dẫn thực hành tu tập kỹ lưỡng. Tăng Ni phải
được thực hành Thiền định, phải được rèn luyện oai
nghi Đạo đức từng chút. Thời gian dành cho chương trình
tu tập đó phải bằng hoặc nhiều hơn thời gian học. Chữ
tu sĩ đã nhắc nhỡ việc tu rất là quan trọng.
Chia
rẽ vì tín đồ
Khuynh
hướng sống hưởng thụ vật chất của xã hội cũng xâm
nhập dần vào đời sống người xuất gia.
Thứ
nhất đó là lý do khách quan. Khi vật chất và phương tiện
của xã hội dồi dào thì luôn luôn thẩm thấu từ bên ngoài
vào trong chùa. Muốn hay không gì chùa cũng phải có những
phương tiện máy móc mới cho sinh hoạt.
Thứ
hai là lý do chủ quan. Đôi khi tu sĩ không kềm được sự
ham thích đối với những vật dụng sang trọng mới lạ tinh
xảo.
Chùa
thì hầu hết sống nhờ vào tín đồ Phật tử. Càng có nhiều
tín đồ thì nguồn lợi kinh tế của chùa càng sung túc, chùa
càng dễ đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao hơn.
Nhưng
lẽ ra thay vì tu sĩ phải có bổn phận giáo hóa thêm nhiều
tín đồ mới theo chí nguyện độ sinh của đạo Phật, các
chùa lại có thể bị tâm lý tìm thêm tín đồ cho sự sung
túc của chùa mà thôi. Tín đồ mới đó nếu là người chưa
biết đạo trở thành biết đạo thì rất hay, còn nếu đó
là tín đồ có sẵn của chùa khác rồi được thuyết phục
trở thành của chùa mình thì mầm chia rẽ giữa các chùa đã
xuất hiện.
Nhiều cư sĩ đến chùa bị ngạc nhiên vì nghe thầy này nói
xấu thầy kia một cách tự nhiên lão luyện. Họ mất niềm
tin với vị thầy bị nói xấu đã đành, họ cũng cũng cảm
thấy ngờ ngợ về ông thầy có cái miệng nói xấu nhuần
nhuyễn quá. Rốt cuộc lại cư sĩ càng lúc càng mất niềm
tin với quý thầy. Tất cả chỉ vì tâm lý bí mật bên trong
là muốn cho tín đồ đừng tới chùa kia mà chỉ đến chùa
mình thôi. Đó là một tệ trạng trong Phật giáo.
Một cái tệ khác là nhiều khi cư sĩ đến chùa nhìn thấy
các tu sĩ đối xử với nhau thiếu hòa ái tôn trọng. Họ
lúc nào cũng kính trọng quý thầy , và nghĩ rằng quý thầy
phải kính trọng thương yêu nhau nhiều lắm. Nhưng có khi họ
nghe quý thầy xưng hô với nhau bừa bãi, đối xử với
nhau hời hợt. Họ rất ngạc nhiên.
Có
lần chúng tôi gặp một người Hà Lan đã từng tu thiền ăn
chay hơn hai mươi năm. Anh cũng tập luyện Thái cực quyền
theo khuynh hướng của các nhà sư Trung Hoa là việc tu dưỡng
nội tâm phải được hỗ trợ bằng việc rèn luyện cơ thể.
Trong khi nói chuyện về Thiền định Đạo đức và luật Nhân
quả, anh bất chợt nhắc đến một đạo sư nào đó ở Ấn
độ rất là nổi tiếng. Vì nổi tiếng nên ông rất giàu
có. Anh đến viếng thăm ông và nhân tiện hỏi ông tại sao
không chia sẻ cho những người nghèo ở chung quanh. Chúng ta
nên nhớ là Ấn độ còn rất nhiều người nghèo.
Đạo
sư trả lời rằng những người nghèo là do nghiệp của họ,
không nên can thiệp vào làm trái đi luật Nhân quả. Câu trả
lời đó làm anh mất đi sự quan tâm quý trọng luật Nhân
quả.
Thật
ra luật Nhân quả không phải là cái cớ để chúng ta quay
lưng với người nghèo. Mà trái lại còn khuyến khích chúng
ta quan tâm giúp đỡ mọi người nhiều hơn nữa. Nếu không
quan tâm giúp đỡ mọi người, sau này chúng ta rơi vào nghèo
khó sẽ không ai đoái hoài tới chúng ta, và còn nhiều nhân
quả khác nữa. Chúng ta sẽ khảo sát ở dịp khác.
Nói
như vậy để nhắc nhau rằng người tu không nên tích lũy
tài sản nếu mình có phước sung mãn, mà nên biết bố thí
san sẻ. Đó cũng là công hạnh đạo đức căn bản.
d.Nhu
cầu giáo hóa đang rất lớn.
Hiện nay nhu cầu Phật tử cần được giáo hóa rất là lớn,
vì 2 thành phần. Một là đối với cả một thế giới chưa
biết về đạo Phật ; hai là đối với những vùng đất,
những quốc gia đã từng là xứ sở của đạo Phật nhưng
hiện nay đang có dấu hiệu Phật pháp suy thoái.
Để
có bản lĩnh vững vàng trong việc tiếp cận và giáo hóa quần
chúng Phật tử, người xuất gia phải tu dưỡng rất nhiều.
Trong nguyên lý thẩm thấu lẫn nhau, tác động lẫn nhau, ảnh
hưởng lẫn nhau, khi tu sĩ gần gũi giáo hóa cư sĩ về đạo
lý, tự nhiên cũng dễ bị ảnh hưởng trở lại đời sống
thế tục của họ. Nếu đạo lực không vững vàng, người
tu sĩ sẽ đem vào tâm hồn mình rất nhiều chuyện phiền toáicủa
thế gian. Do đó, hơn bao giờ hết, tu sĩ Phật giáo phải có
một bước chuyển lớn trong việc thực hành tu tập từ căn
bản Đạo đức, tiến dần lên những công phu thiền định
cao hơn.
Một sự thật mà chúng ta phải nhìn nhận là cách làm việc,
cách tu của người xuất gia trong đạo Phật là chưa đủ,
có vẻ còn thụ động. Chúng ta hãy nhìn khắp những vùng
đất, những quốc gia đã từng một thời là quê hương của
Phật giáo, nhưng khi Hồi giáo đặt chân đến là Phật giáo
từ từ biến mất. Ấn độ là đại diện cho sự tình này.
Đúng là Hồi giáo đã dùng đến bạo lực để chém giết
tu sĩ, đập phá chùa chiền, nhưng rõ ràng cũng tại mình thiếu
một cái gì đó nên mới cam chịu cho Hồi giáo lấn át quá
đáng như vậy. Một việt Nam có Trần
Thủ
Độ quyết đoán, Trần Quốc Tuấn trí dũng, có vô số nhân
tài với nền tảng võ học hùng mạnh… đã khuyến khích
các vua Trần vốn hiền lành trong Thiền học phải quyết chí
chống lại sự xâm lăng dữ dội của quân Mông cổ. Và đã
chiến thắng oai hùng. Việt nam đã làm được, nhưng nhiều
nơi không làm được và Phật giáo phải chấp nhận lui bước.
Ấn độ thời vua A dục hầu hết đã theo đạo Phật, bây
giờ chỉ còn khoảng 3 phần trăm. Nói 3 phần trăm là nhờ
công lao của một số Phật tử lỗi lạc như Ambedkar… vận
động phục hưng đạo Phật gần đây. Trước đó ít người
Ấn biết gì về đạo Phật.
Trong thời cận đại, Indonesia từng là một vương quốc Phật
giáo. Khi các nhà khảo cổ vô tình đi vào rừng sâu đã phát
hiện một cái tháp của đạo Phật lớn nhất thế giới,
tên là Bondogour (?)… Vì vậy chúng ta biết rằng đạo Phật
đã một thời cực thịnh tại đó. Nhưng bây giờ thì toàn
bộ người Indonesia đều là Hồi giáo.
Có
một thời gian Malaysia cũng rất thịnh về đạo Phật, nhưng
từ khi có Hồi giáo thì Phật giáo yếu dần. Bây giờ thì
chính phủ Malaysia mặc nhiên xem Malaysia là quốc gia Hồi giáo.
Nói chung là Hồi giáo đến đâu thì Phật giáo biến mất
tới đó.
Nhật
bản cũng vậy, cũng từng có đạo Phật là quốc giáo. Những
tác phẩm về Thiền của Nhật nỗi tiếng cả thế giới.
Vậy mà ngày nay đạo Phật tại Nhật cũng rất yếu. Những
ngôi chùa cực kỳ hùng vĩ chỉ là nơi tham quan, hầu như không
có thuyết pháp. Thanh niên Nhật ngày nay ít ai biết gì về
đạo Phật. Họ đang bắt chướt lối sống hưởng thụ thực
dụng của Tây phương, tuy rằng sự giáo dục nhân cách đạo
đức trong nhà trường của Nhật tốt hơn Tây phương. Thế
rồi người dân Nhật đi tìm sự bù đắp cho đời sống tâm
linh của họ bằng cách gia nhập vào những giáo phái nguy hiểm.
Như vừa rồi chúng ta nghe báo chí đăng tải về giáo phái
Aum Shirikyu, một giáo phái vay mượn uy tín và giáo lý đạo
Phật, rồi đi vào hoạt động khủng bố thả hơi độc trong
đường ngầm giết hại nhiều người.
Chính vì tu sĩ đạo Phật không làm gì cả nên các giáo phái
tà ác khác mới có cơ hội nổi lên. Chúng ta phải nhận lỗi
về mình trước đã.
Hàn quốc cũng vậy, cũng giống như Nhật bản, đang đua đòi
lối sống hưởng thụ thực dụng của Tây phương và ít quan
tâm đến đạo Phật. Bắc Hàn thì hầu như không còn Phật
giáo do chính sách khống chế tối đa của chính quyền.
Vừa
rồi tại hội nghị Phật giáo ở Tokyo, 1997, các vị lãnh
đạo Phật giáo khắp nơi đều lên tiếng báo động về sự
suy yếu của Phật giáo trên thế giới. Vì vậy, chúng ta phải
hiểu rằng chính những người đệ tử Phật, cả tại gia
lẫn xuất gia, đã thiếu sót, đã thụ động, không năng nỗ,
không cương quyết… nên Phật giáo mới có tình cảnh này.
Chúng ta hay bị lừng khừng giữa hai thái độ:
Một
là cũng muốn làm lợi ích gì đó cho chúng sinh; hai là muốn
tu giải thoát nhanh chóng.
Đối với việc muốn làm lợi ích cho chúng sinh thì chúng
ta không có đường lối phương hướng rõ ràng; chúng ta không
có sự hợp tác rộng rãi trên toàn thế giới. Mỗi ngày chúng
ta quả thật có phát nguyện độ chúng sinh, và chỉ đứng
lại ngang đó. Ít ai suy nghĩ thêm là phải làm gì thiết thực
hiệu quả cho lời nguyện hằng ngày đó.
Đối với khuynh hướng muốn tiến tu giải thoát thì được
xem là một hình ảnh đẹp trong đạo Phật. Nhiều vị đi
vào hang sâu núi thẳm, hoặc đóng cửa cốc không tiếp xúc
với ai, để chuyên tâm tu tập. Nhưng hãy coi chừng ! Thật
ra chỉ những ai tâm đã hoàn toàn vị tha mới xứng đáng
nhập thất chuyên tu. Nếu tâm chưa hoàn toàn vị tha, chưa
được rèn luyện sự hy sinh phụng sự thì việc nhập thất
không tiếp duyên lại chính là cơ hội cho tâm ích kỷ phát
triển dữ dội hơn lúc trước. Đây quả là một nghịch lý
kỳ lạ, nhưng có thật.
Càng ở một mình trong thất vắng, càng tinh tấn niệm Phật
hoặc tọa thiền, thì tâm ích kỷ càng được củng cố. Đó
là lý do tại sao chúng ta gặp nhiều người sau khi nhập thất
thì có vẻ kiêu mạn và nóng nảy hơn. Nếu chưa có tâm vị
tha cao độ thì chúng ta càng tinh tấn càng xa rời sự giải
thoát, vì lúc đó chúng ta chỉ lo cho chính mình. Đây là một
nghịch lý rất khó vượt qua.
Đạo Phật của thế kỷ 21 này phải là một đạo Phật của
những người rất thiết tha với lý tưởng giải thoát, đồng
thời cũng hết lòng với sự nghiệp độ sinh. Người đệ
tử Phật phải trọn lòng thương yêu mọi người, từ những
huynh đệ chung quanh mình cho tới tất cả mọi người trên
Trái đất, nhất là những người chưa biết Phật Pháp. Chỉ
những người có tấm lòng như vậy mới xứng đáng vào trong
thất vắng.
Nhu
cầu làm việc sắp tới rất là lớn, đòi hỏi đệ tử Phật
phải tích cực hơn rất nhiều, cũng như phải có đạo lực
vững vàng hơn rất nhiều để đem được Phật pháp đến
cho người nhưng không bị người đem ô nhiễm thế gian vào
trở lại.
Một biểu hiện thụ động của người đệ tử Phật từ
trước tới giờ là cư sĩ không lo Phật hóa gia đình.
Rất
nhiều gia đình đạo Phật có cha mẹ theo đạo nhưng con không
theo, anh chị theo đạo nhưng em không theo, vợ theo đạo nhưng
chồng không theo… Chúng ta biết đạo Phật rồi mặc kệ
người chung quanh, ai biết hay chưa biết cũng được. Cha mẹ
tới chùa học đạo, bỏ mặc con cái học ở nhà trường
hay ở bạn bè tốt xấu gì đó không cần.
Cái
lỗi người cư sĩ không biết lo Phật hóa gia đình là rõ
ràng là lỗi của người tu sĩ. Chính vì tu sĩ không nghĩ đến
điều đó, không nhắc Phật tử điều đó, không hướng dẫn
cách thức làm điều đó, nên đạo Phật thiếu hẳn công
đức Phật hóa gia đình. Bây giờ chính là lúc phải sửa
chữa thiếu sót đó.
Cha
mẹ phải được nhắc rằng mỗi sáng phải bắt buộc con
trẻ lên lạy Phật, đọc bài nguyện cầu buổi sáng dành
cho trẻ, để huân tập cho trẻ thiện pháp từ thuở ấu thơ.
Thế tại sao phải bắt buộc?
Bởi
vì con trẻ còn nhỏ nên không biết điều gì đúng điều
gì sai, điều gì nên làm điều gì không nên làm. Ngay cả
việc đến trường học văn hóa cũng vậy, nếu cha mẹ không
bắt buộc thì chẳng có trẻ em nào chịu đi học đâu. Vậy
việc học Đạo đức và Phật pháp cũng quan trọng không kém
cho cuộc đời, nhân cách và tâm hồn trẻ, tại sao chúng ta
không bắt buộc?
Đã
đến lúc, bên cạnh yếu tố tự giác, đạo Phật phải thêm
yếu tố cưỡng bách sự tu học đối với một số trường
hợp.
Muốn
cho đạo Phật mạnh, chúng ta phải biết phát huy ưu thế tự
giác có sẵn trong đạo Phật đã đành, còn phải khai thác
tiếp yếu tố cưỡng bách nữa. Nhưng muốn làm được điều
đó thì Tăng Ni phải mạnh mẽ năng nỗ cương quyết hơn rất
nhiều. Chính sự mạnh mẽ của Tăng Ni truyền sang cho Phật
tử và người Phật tử sẽ đủ sức mạnh để Phật hóa
gia đình. Tăng Ni mà thờ ơ thì chắc chắn Phật tử cũng
sẽ xao nhãng trách nhiệm. Một đạo Phật yếu đuối, lỗi
do Tăng Ni trước hết. Vì vậy Tăng Ni hôm nay phải tích cực,
vừa khẳng định lý tưởng giải thoát, vừa sáng ngời lý
tưởng độ sinh.
Chúng ta hãy nhìn sang các tôn giáo bạn, trẻ vừa sinh ra là
đã được nhà thờ cầm về rửa tội để làm tín đồ dù
đứa bé chẳng biết ất giáp gì. Lớn lên lập gia đình phải
vào nhà thờ làm lễ, nghĩa là bảo đảm người phối ngẫu
cũng phải theo đạo. Nếu lấy người ngoài đem về càng có
công với Chúa. Rất nhiều gia đình đạo Phật lơ đãng cho
con cái theo Kitô giáo qua con đường hôn nhân như thế mà không
hiểu mình đã lọt vào đúng chiến lược của tôn giáo bạn.
Thấy con cái thương nhau quá rồi cũng xuôi theo mà không hề
có một điều kiện công bằng hơn cho truyền thống đạo
giáo của gia đình. Đó cũng là một sự thiếu cảnh giác,
thụ động, và đôi khi nhu nhược trong đạo Phật.
Cũng
chính sự nhu nhược đó mà khi Hồi giáo đặt chân tới đâu
thì Phật giáo bồng bế nhau di tản tới đó. Bây giờ phải
thay đổi lại tất cả. Quý thầy cô phải làm lễ cầu
phúc cho con của Phật tử khi mới sinh; phải làm lễ khai tâm
khi con trẻ đến tuổi đi học; phải làm lễ quy y khi trẻ
đã biết nhận thức; làm lễ cưới khi chúng lập gia
đình; và làm lễ tang, lễ cầu siêu khi người đó qua đời.
Nói chung chùa phải “quản lý” Phật tử và gia đình từ
khi mới sinh cho tới khi mất đi. Quý thầy cô phải cực hơn,
phải vất vả hơn như thế. Người Phật tử phải gắn bó
cả đời mình với chùa như thế.
Và chính vì Tăng Ni phải có trách nhiệm nhiều hơn đối với
Phật tử nên phải gần gũi hơn, và, cũng rất dễ bị thế
tục hóa hơn. Để làm được việc mà không bị thế tục
hóa như vậy, buộc Tăng Ni phải tu dưỡng rất nhiều.
e.
Bốn lý do lớn của việc tu dưỡng đạo đức.
Thứ nhất, vì thế giới hôm nay đang mất quân bình giữa
đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa hưởng
thụ và đạo đức, nên trách nhiệm của người đệ tử
Phật là phải tu dưỡng đạo đức sâu dày để làm quân
bình lại mọi điều cho thời đại.
Thứ hai, là tạo lại niềm tin cho Phật tử. Tăng Ni là chỗ
dựa của Phật tử. Nhưng Phật tử dựa vào Tăng Ni cái gì
nếu không phải là Đạo đức? Không biết Tăng Ni có đắc
đạo hay chưa, nhưng yêu cầu trước hết là Tăng Ni phải
có Đạo đức cái đã. Dù chưa đắc đạo cao siêu, nhưng
nếu Tăng Ni có đạo đức thì cũng giúp cho Phật tử yên
tâm nương tựa. Một vài Tăng Ni xem đạo đức là không quan
trọng bằng những công phu tu tập tâm linh cao siêu khác, nên
không chịu tu dưỡng đạo đức sâu dày, cuối cùng làm Phật
tử hụt hẫng.
Tội
nghiệp cho Phật tử nếu lỡ chứng kiến cảnh người xuất
gia lục đục với nhau. Tu sĩ không thể che dấu khuyết điểm
của mình mãi vì tiếp xúc lâu ngày rồi người ta cũng phát
hiện. Chỉ còn cách là bản thân mình ráng tu dưỡng đạo
đức chân thật.
Thứ ba, là tạo lại nội lực giữ gìn tâm hồn mình không
bị nhiễm ô khi gần gũi giáo hóa Phật tử. Ơû đây
ngoài đạo đức sâu dày, Tăng Ni còn phải có kinh nghiệm
Thiền quán. Nhất là trong thời gian tới Tăng Ni phải làm
việc rất nhiều.
Thứ tư, là tạo lại nền tảng tu hành cho chính mình. Đạo
đức là nền tảng quan trọng cho quá trình tu hành, cho cả
giới định tuệ. Và Đạo đức cũng là biểu hiện đẹp
về sau khi chúng ta đã tu hành viên mãn.
3.
So sánh với Giới luật
a. ở mức độ cạn.
Ơû
mức độ cạn thì Đạo đức cao hơn Giới luật. Vì sao?
Bởi
vì Đạo đức là cái tốt ở trong tâm, trong khi Giới luật
chỉ là sự ngăn cấm bên ngoài. Giới luật ngăn cấm những
sai lầm ở hành vi và lời nói, như cấm giết hại, cấm trọm
cắp, cấm nói dối vân vân… còn Đạo đức giữ gìn tâm
ta thoát khỏi sự độc ác, sự tham lam, sự gian trá…
Có
những trường hợp hành vi bên ngoài là phạm giới nhưng nội
tâm bên trong là có đạo đức. Một người sư đệ đã lấy
đôi dép đẹp của người sư huynh, mà không hỏi xin phép,
để đem cho một người nghèo, vì biết rằng người sư huynh
của mình tâm rất tốt. Hành vi lấy không hỏi xin là
vi phạm giới luật, nhưng động cơ là giúp người nghèo,
và cũng biết chắc sư huynh mình sẽ hoan hỷ, nên được xem
là phù hợp với đạo đức.
Một câu chuyện nổi tiếng trong Góp nhặt cát đá ,” có
hai sư huynh sư đệ cùng đi trên một con đường sình lầy.
Có lẽ hai vị quần áo cũng lam lũ nên để như vậy mà lội
sình luôn. Đến một đoạn, chợt hai vị thấy một cô gái
mặc kimono có vẻ quý tộc đứng loay hoay bên đường không
dám băng qua vì sợ lấm y phục. Lúc đó trên đường cũng
không có ai khác có thể giúp cô gái. Người sư đệ bước
lại bảo:
-
Này cô bé, để ta giúp cho.
Rồi
ông bế cao cô gái lên, đưa qua bên kia lề đường, đặt
xuống, sau đó tiếp tục đi với sư huynh mình. Thế là người
sư huynh làm mặt ngầu, lầm lì không thèm nói chuyện nữa.
Sư đệ có hỏi gì cũng không thèm đáp. Đến một khá lâu
cũng gần về đến chùa, sư huynh mới trách:
-
Chúng ta là tu sĩ không được phép đụng chạm đến phụ
nữ, tại sao sư đệ làm như thế?
-
Ha ha, em đã bỏ cô ta lại đó rồi, sư huynh còn mang tới
đây sao !”
Nghe câu chuyện trên ta thấy người sư đệ đã khá tự tại,
dù chạm người nữ mà tâm không dính. Xét về giới luật
thì đã phạm, nhưng xét về Đạo đức thì không sao vì đó
là việc làm vị tha giúp người với tâm vô nhiễm. Chúng
ta vẫn khâm phục người sư đệ mỗi khi nghe kể câu chuyện
trên. (Tuy nhiên dù có khâm phục, tu sĩ cũng không nên bắt
chướt đi ngoài đường kiếm phụ nữ để bồng qua đường.)
b.Ơû mức độ sâu thì
Ở
mức độ sâu thì Giới luật cao hơn Đạo đức. Vì sao?
Bởi
vì trong Giới luật có một giới quan trọng là giới dâm.
Hay còn gọi là ái dục, nói theo ngôn ngữ của Đạo đức.
Aùi dục là bản năng tự nhiên của con người, mà hễ cái
gì là bản năng thì rất mạnh. Giữ giới dâm tức là chống
lại bản năng của mình. Aùi dục là lòng thương yêu có khuynh
hướng tính giao với người khác phái- bây giờ phải thay
đổi định nghĩa để mở rộng qua các trường hợp luyến
ái cùng giới tính.
Aùi
dục là bản năng tự nhiên, cho nên hết thế hệ này đến
thế khác con người cứ phải lấy vợ lấy chồng sinh con
đẻ cái. Cha mẹ thấy con mình lớn rồi mà không có bồ là
bắt đầu lo, sợ con mình ế.
Ngay
cả đức Phật của chúng ta cũng phải thị hiện có gia đình
rồi mới đi tu. Nhờ vậy mà người sau bớt mặc cảm về
ái dục để có thể tiến tu giải thoát. Chúng ta cũng thấy
có rất nhiều người cư sĩ tại gia sống đời sống vợ
chồng bình thường, nhưng rất hiền lành đạo đức. Họ
không làm điều gì trái với đạo lý, chỉ là có yêu thương
vợ chồng con cái. Đó là trường hợp có đạo đức nhưng
không vượt qua được ái dục.
Vì
vậy chúng ta nói, đối với vấn đề ái dục thì Giới luật
cao hơn Đạo đức, vì thắng được bản năng ái dục là
một khả năng lớn, rất khó làm.
Trường
hợp một tu sĩ không phạm giới, cũng đừng nghĩ là mình
đã thắng được bản năng ái dục. Đó chỉ là vì mình còn
phước làm Tăng, được giữ trong hoàn cảnh tốt. Chứ nếu
lúc nào đó rớt vào môi trường dễ dãi, ta sẽ thấy được
sự yếu đuối của mình. Lúc đó mà vững lòng thì mới gọi
là vượt qua được lần một. Lần một thôi chứ chưa bảo
đảm lần hai lần ba…
Vậy chúng ta sẽ giữ giới aí dục bằng cái gì?
Dĩ
nhiên là bằng ý chí . Chúng ta dùng ý chí để giữ tâm mình
không ham thích, không đắm nhiễm, không vướng bận. Nhưng
để có một ý chí sắt đá như thế thì lại đòi hỏi chúng
ta phải có công đức rất lớn. Ý chí phát sinh từ công đức
thì rất bền, có vẻ nhẹ nhàng, và không làm tăng trưởng
kiêu mạn. Còn ai không biết chỉ ráng cố sức khởi ý chí
cho mạnh thì kiêu mạn nóng nảy sẽ phát sinh. Rất nguy hiểm
vì ý chí là con dao hai lưỡi. Ý chí và bản ngã là anh em
sinh đôi, cái này khởi thì cái kia cũng khởi theo.
Ơû
giai đoạn cao hơn thì tu sĩ dùng sức thiền định để giữ
tâm trong sạch. Tuy nhiên kết quả thiền định cũng bắt nguồn
từ công đức sâu xa khác. Nhiều người cho rằng cứ giữ
gìn Chánh niệm thanh tịnh thì tâm tự tại vô nhiễm, tự
nhiên không bị nhiễm ô ái dục. Họ nói đúng, nhưng không
chắc ăn. Vì khi dùng Chánh niệm để giữ tâm vô nhiễm,
ta không tốn sức nhiều, giống như không cần đến ý chí
vậy. Lâu ngày Ý chí bị cùn lụt mà không hay biết. Đến
khi gặp thử thách nặng thì không có Ý chí để dùng nữa,
rất là nguy hiểm. Vì vậy cứ phải dùng đến quyết tâm
giữ giới, dùng đến Ý chí giữ giới, mà Ý chí đó lại
do công đức tạo thành, nên sẽ rất nhẹ nhàng thanh thản.
Công
đức rất là quan trọng mà người tu phải biết gây tạo
suốt đời. Nhờ có công đức nên khi chúng ta tinh tấn trông
bên ngoài thấy vẫn nhẹ nhàng như mây như gió, dù bên trong
rất quyết liệt mạnh mẽ. Ai không có đủ công đức
mà ráng sức sẽ bị nặng nề bực bội, người ngoài sẽ
thấy khó chịu khi đến gần. Chúng ta sẽ nói thêm ở những
bài sau.
Trước giờ chúng ta nghe nói ba môn vô lậu học là giới định
tuệ. Chúng ta có cảm giác rằng giới ở giai đoạn thấp.
Nhưng thật ra giới đã ở giai đoạn khá cao.
Muốn
giữ Giới phải có Ý chí; muốn có Ý chí phải có công đức;
muốn có công đức phải có Đạo đức.
Có
Đạo đức ta mới ham thích làm những điều công đức; có
Công đức ta mới phát khởi được Ý chí một cách tự nhiên;
có Ý chí rồi ta mới giữ được Giới. Vì vậy Giới luật
vẫn ở một giai đoạn cao trong tiến trình tu tập.
4.
Đạo đức và sự liên hệ với Thiền định
a.
Đức Phật là biểu tượng rực rỡ của Thiền định.
Đức
Phật đã đắc đạo bằng con đường Thiền định. Sau khi
đắc đạo, Phật cũng tọa thiền đều đặn suốt đời.
Điều quan trọng là Phật dạy tất cả đệ tử cũng tinh
tấn thiền định. Bây giờ chúng ta cũng thờ Phật trong tư
thế kiết già thiền định.
Nói
đến đạo Phật, tất cả thế giới đều hiểu ngay là nói
đến Thiền định. Những Phật tử Tây phương nghiên cứu
về đạo Phật thường quan tâm đến mức độ nhập thiền
của Tăng Ni, chứ ít hỏi han về giáo lý vì họ đã có cả
thư viện đồ sộ kinh sách đạo Phật muốn tìm hiểu lúc
nào cũng được.
Thiền
định là nói chung cho tất cả các phương pháp tu tập nhiếp
tâm thanh tịnh. Từ sự thanh tịnh này, hành giả nhắm đến
mục tiêu vô ngã, giác ngộ, giải thoát. Hai điều kiện để
một pháp môn được xem là Thiền định trong đạo Phật là:
-nhiếp tâm thanh tịnh
-mục tiêu vô ngã, giác ngộ, giải thoát.
Vì
thế những pháp môn như niệm Phật, trì chú, quán hơi thở,
quán bát nhã… đều có sự chú ý nhiếp tâm thanh tịnh. Đó
là thỏa mãn yêu cầu thứ nhất. Nếu hành giả lại tiếp
tục xác định lập trường hướng về mục tiêu vô ngã,
giác ngộ, giải thoát nữa thì có thể xem pháp môn đó cũng
là Thiền định cả, không cần phân biệt.
Người
đệ tử Phật, nhất là người xuất gia, phải tinh tấn tọa
thiền tập định. Mỗi ngày chúng ta phải có vài lần ngồi
kiết già nhiếp tâm. Hai ba mươi năm sau nhìn lại đời tu
mình thấy có giá trị vì đó là cả một quãng thời gian
mình vất vả chiến đấu với vọng tưởng phiền não thật
sự chứ không phải tu nhàn nhã qua ngày. Mỗi khi ta bắt chân
lên tọa cụ ngồi nhiếp tâm, đó là giây phút ta làm người
đệ tử Phật thật sự có giá trị. Không biết chúng ta có
nhiếp tâm thành công chưa, nhưng sự chiến đấu âm thần
vất vả với chính mình là một công lao đáng khen ngợi.
Có câu chuyện “ có lần Phật đi gặp một tỳ kheo rất
tinh tấn tu hành. Vị tỳ kheo đảnh lễ và hỏi Phật:
-
Bạch Thế tôn, con tu như vậy chừng nào đắc đạo?
-
Ba kiếp sau ông sẽ đắc đạo. Phật đáp.
Nghe
vậy vị tỳ kheo khóc rống lên tủi thân tại sao tinh tần
như vậy mà tới 3 kiếp nữa mới đắc đạo. Đi thêm nữa
gặp một tỳ kheo khác hỏi Phật chừng nào đắc đạo. Phật
chỉ cây me bên đường bảo:
-
Ông có thấy cây me đó không?
-
Bạch Thế tôn, con có thấy.
-
Ông có thấy lá me đó không?
-
Trải qua số kiếp bằng lá me đó ông mới đắc đạo.
Nghe
vậy vị tỳ kheo đó vui mừng hớn hở đảnh lễ tạ ơn Phật.
Ngay đó chư thiên rải hoa cúng dường vị đó liền.”
Vị
này được chư Thiên rải hoa cúng dường vì đã vượt qua
ý niệm thời gian. Chỉ cần biết rằng mình sẽ đắc đạo
nghĩa là trong hiện tại mình đã tu đúng đường. Vị này
chỉ sợ mình sai chứ không sợ cực khổ lâu dài. Tâm niệm
đó quả thật đáng cho chúng ta đảnh lễ cung kính.
b.
thiền định và đạo đức hỗ tương
Đạo
đức là cái tốt trong tâm để tạo thành vô số hành vi lời
nói bên ngoài khiến mọi người chung quanh ta được an vui
ích lợi và chuyển hóa.
Khi
người chung quanh được lợi ích nghĩa là ta được phước.
Phước có được khi ta đem lại lợi ích cho tha nhân, đó
là định nghĩa căn bản. Nếu ta rất tốt, nhưng chưa làm
gì có lợi cho ai thì vẫn chưa có phước. Nguyên tắc là như
vậy.
Có
phước chưa hẳn là có đức; có đức chưa hẳn là có phước.
Ví dụ có một quan chức địa phương muốn xây một cái cầu
cho dân, chỉ vì ông muốn lấy thành tích với cấp trên chứ
hoàn toàn chẳng thương dân thương gió gì cả. Vì chỉ nhắm
đến lợi ích cá nhân nên ông không được gọi là có đức.
Nhưng việc làm của ông rõ ràng làm lợi cho dân, nên chắc
chắn ông sẽ có phước.
Ngược
lại, có những người hiền lành nhưng thụ động, chẳng
làm gì giúp ai, nên tuy có đức nhưng chẳng có phước.
Hoặc
như có những Phật tử đi chùa, cúng ít bông trái, bỏ vào
thùng phước sương ít tiền, rồi quỳ xuống thì thầm cầu
đủ thứ chuyện cho gia đình mình được giàu có, con cái
thi đậu dù làm biếng học bài, mặt mình đẹp nhất
xóm vân vân… Lời cầu nguyện đó không có yếu tố đạo
đức. Đó là lý do tại sao ta thấy nhiều người đi chùa
lâu mà không có đạo đức bởi vì những lời cầu nguyện
như thế chỉ làm tăng thêm ích kỷ mà thôi. Khi tâm ích kỷ
tăng thì người này tự nhiên cũng nóng nảy hơn, tham lam hơn,
dễ gây gỗ hơn. Và làm những người khác nghi ngờ chuyện
đi chùa là tốt.
Vì
vậy sau này người Phật tử đến chùa nên được hướng
dẫn lại cách cầu nguyện sao cho tăng trưởng được đạo
đức, tâm vị tha….
Nhờ
có đạo đức nên ta có phước; nhờ có phước nên ta nhiếp
tâm trong thiền định dễ dàng. Phước được tạo ra từ
Đạo đức thì gọi là công đức- vừa có công lao, vừa có
đạo đức. Tại sao Phước hỗ trợ cho Thiền định? Ai tu
Thiền đều lo sợ về trạng thái thất niệm, mất chánh niệm,
bị vọng tưởng dẫn đi từ vấn đề này sang vấn đề khác.
Khi thì tâm có vẻ sáng tỏ biết được vọng tưởng rõ ràng,
không bị vọng tưởng gạt; khi thì tâm mờ mịt bị vọng
tưởng che mất. Vì đâu mà tâm được sáng tỏ, cũng như
vì đâu mà tâm bị che mờ? Chính do nghiệp đã âm thầm chi
phối. Nếu hành giả có phước sung mãn, tự nhiên tâm thường
xuyên dễ tỉnh giác; nếu hành giả ít phước, tự nhiên tâm
hay bị quên và chạy theo vọng tưởng.
Đạo
đức cũng trực tiếp ảnh hưởng đến sức tỉnh giác, chưa
cần qua trung gian của phước. Nếu tâm rất tốt, tự nhiên
tâm cũng yên tĩnh, vì Đạo đức luôn thuộc về “phe” tĩnh
lặng. Nếu tâm có nhiều ý niệm bất thiện, tự nhiên tâm
cũng xao động, vì bất thiện thuộc về “phe” xao động.
Dựa
vào tiêu chuẩn này, ta cũng có thể đánh giá người nào đó
có vẻ nhiệt tình tử tế, nhưng nếu lăng xăng quá, coi chừng
người này chưa thật tốt, vì lăng xăng thuộc về phe bất
thiện.
Ngược
lại, Thiền định cũng hỗ trợ cho Đạo đức. Tâm yên
tĩnh cũng giúp ta dễ thấy được sai lầm của mình. Giống
như trong một lớp học, ai cũng ngồi, tự nhiên có người
đứng lên, người đó dễ bị nhìn thấy trước hết. Giống
như trong một nội tâm yên tĩnh, tự nhiên có niệm bất thiện
khởi lên, niệm đó dễ dàng bị trí tuệ nhìn thấy liền.
Ví dụ khi nhìn thấy chiếc xe của ai đời mới đẹp quá,
ta chợt động tâm muốn có một chiếc giống như thế. Nhưng
vì tâm ta yên tĩnh quen rồi nên ta lập tức phát hiện ra đó
là niệm tham. Biết là tham nên thôi, không “muốn” nữa,
bỏ.
Khi
sức định sâu, những khuynh hướng bất thiện rất sâu tiếp
tục bị trí tuệ phát hiện và hóa giải hết. Giá trị của
Thiền chính là trừ diệt được những khuynh hướng bất
thiện tiềm tàng trong nội tâm sâu kín để lập thành một
nhân cách đạo đức siêu tuyệt. Thật là vô ích nếu một
người tuyên bố đắc thiền định mà đạo đức không hề
được cải thiện. Đạo đức phải là biểu hiện của Thiền
định. Đạo đức và Thiền giống nhau ở điểm cả hai đều
nhìn vào nội tâm, quan sát nội tâm.
Khác
nhau giữa Đạo đức và Thiền chính là,
Đạo đức nhìn vào nội tâm để đánh giá đúng hay sai, thiện
hay ác.
Thiền nhìn vào nội tâm để đánh giá tĩnh hay động, an hay
loạn.
Để
tự mình đánh giá lỗi lầm của mình thật là điều không
dễ chút nào. Phải là người rất chân thành, can đảm, trí
tuệ mới tự cho mình có lỗi. Hầu hết con người đều âm
thần bênh vực cho mình. Ít ai dám nhận lỗi về mình. Nhưng
người thật sự có lý tưởng tu hành phải tự mình phê phán
mình trước chứ đừng đợi ai phê phán mình. Người ngoài
phê phán mình là muộn rồi. Chính mình phải phê phán mình
trước.
Chúng
ta phải nghiêm khắc tìm lỗi của mình suốt hai ba mươi năm
như vậy thì mới tạm bớt có lỗi, có thể tạm làm thầy
dạy cho người khác được rồi, có thể răn dạy người
khác được rồi. Còn nếu chưa thấy lỗi của mình, cứ hay
trách móc người khác, tội sẽ càng lúc càng nặng. Ai thấy
lỗi mình thường xuyên sẽ được thánh thần yêu mến. Ai
thấy lỗi người thường xuyên sẽ được ma quỷ yêu mến.
Đến khi tâm thuần thiện rồi, tự nhiên chúng ta sẽ chuyển
qua dụng công của Thiền lúc nào không hay. Lúc đó chúng ta
chỉ còn quan sát để ý xem tâm đang động hay tịnh. Và thế
là vọng tưởng sẽ tắt dần để vào định.
“Một cư sĩ hỏi:
-Tại
sao con tu hoài mà tâm không thanh tịnh?
Tăng
đáp:
-Anh
hãy thanh lọc tư tưởng cho đến khi thuần thiện thì cái
định đã ở gần một bên.”
Con
đường này tuy nghe đơn giản nhưng rất căn bản vững chắc.
Cây
đạo Phật
Sự
tu hành trong Đạo Phật giống như một cái cây, có rễ cái,
rễ bàng, thân gốc to, nhiều cành nhánh, vô số lá, hoa, và
cuối cùng là quả.
Rễ
cái tượng trưng cho tâm hạnh căn bản nhất đó là lòng tôn
kính Phật. Hệ quả của lòng tôn kính Phật là làm phát sinh
lý tưởng tu hành giải thoát mạnh mẽ trong tâm chúng ta. Càng
tôn kính Phật chừng nào thì lý tưởng tu hành càng mạnh
chừng nấy.
Những
rễ bàng tượng trưng cho những tâm hạnh đạo đức.
Đây chính là nội dung môn học này. Chúng ta sẽ lần lượt
triển khai sau.
Thân
cây tượng trưng cho phước mình tích lũy được nhờ
công quả làm lợi ích cho mọi người. Thân càng to tức là
cây càng khỏe. Phước càng nhiều thì cuộc đời tu hành càng
vững vàng.
Nhiều
cành nhánh tượng trưng cho nhiều pháp môn tu hành. Đạo Phật
có nhiều pháp môn tu hành. Chúng ta leo nhánh nào cũng nằm
trong cây đạo Phật. Chỉ sợ mình leo lộn qua nhánh của cây
khác thành ra tu theo ngoại đạo. Tịnh độ, Thiền, Mật, Giáo
quán Thiên thai, Hoa nghiêm, Pháp hoa, Lăng nghiêm vân vân gì
cũng là đạo Phật, miễn là ta có lòng tôn kính Phật, có
tâm hạnh đạo đức, có phước.
Vô
số lá tượng trưng cho vô số oai nghi tế hạnh toát ra bên
ngoài biến thành phong cách của người tu theo đạo Phật.
Dù mọc từ bất cứ cành nào, lá vẫn giống hệt nhau. Dù
tu theo bất cứ pháp môn nào, phong cách oai nghi vẫn luôn luôn
giống nhau. Người tu đúng đạo Phật đều có phong cách giống
nhau như điềm đạm, từ tốn, hiền lành, vui vẻ, chân thành,
giản dị… Nếu phong cách không giống nhau thì coi chừng chúng
ta tu sai đường lối của Phật dạy.
Hoa
tượng trưng cho định lực thành tựu được. Cuối cùng thì
người đệ tử Phật phải có khả năng nhiếp tâm vào định,
vì đó là đường đi chủ yếu của đạo Phật. Định được
tâm là kết quả của nhiều công hạnh trước đó, của nhiều
ngày tháng vất vả tọa thiền dụng công. Nhưng phải đi tới
chỗ này. Không thể khác hơn được.
Quả
tượng trưng cho trí tuệ chứng được. Trí tuệ này không
phải là những hiểu biết suy luận sáng tạo bình thường
của con người. Đó là khả năng cảm ứng phủ trùm siêu
phàm của Thánh. Trí tuệ này bảo vệ vị thánh vĩnh viễn
thoát khỏi sai lầm ô nhiễm, và là khả năng thấu suốt mọi
điều trong pháp giới.
Qua
hình tượng cây đạo Phật vừa rồi, chúng ta thấy vấn đề
chia rẽ pháp môn trong đạo Phật chỉ là sự hiểu lầm, làm
phân hóa Phật giáo. Cành nhánh thì có thể riêng, nhưng gốc
chung, rễ chung, thân chung, lá giống, hoa giống, quả giống.
Pháp môn có thể riêng, nhưng lý tưởng chung, Đạo đức chung,
phước chung, phong cách giống, định giống, tuệ giống. Như
vậy vẫn là đạo Phật với nhau như anh em một nhà.
Chỉ
sợ khi nhìn lại, chúng ta sai khác nhau về lý tưởng, về
phong cách, thì coi chừng mình không phải chung một đạo Phật.