Đạo
Phật là tinh thần của trí tuệ cho nên khi học Phật ta phải
dùng tâm. Đầu tiên là phải phát khởi tâm. Tâm
là chủ yếu vì tất cả các pháp đều do tâm tạo.
Làm
thế nào để thanh tịnh tâm?
Khi
tâm đã ô nhiễm thì chúng ta dù có học Kinh nhiều đi nữa
cũng chẳng thể rửa sạch tâm ô nhiễm vì chất liệu của
tâm chưa được thanh tẩy sạch sẽ.
Làm
thế nào để ta dụng công tu mà được kết quả lớn?
Phật
nói: “Các điều ác chớ làm, các điều thiện chớ
bỏ.”
Câu
“Tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo” có nghĩa là tự
làm cho tâm thanh tịnh. Đây là quá trình tu tập của
mỗi người chúng ta.
Khi
Phật niêm hoa thị chúng thì chỉ có ngài Ca Diếp hội được
ý Phật. Đó là tâm truyền tâm như trong câu:
“Bất
lập văn tự,
giáo
ngoại biệt truyền,
trực
chỉ chân tâm,
kiến
tánh thành Phật”
Mục
đích của Phật ra đời là để khai thị chúng sanh ngộ nhập
Phật tri kiến có nghĩa là thấy tri kiến Phật của chính
họ. Chúng ta nghĩ rằng cái thành Phật đó quá xa vời
nhưng nếu như vậy thì ta tu để thành cái gì đây?
BÁT
NHÃ TÂM KINH
Trọng
tâm của Kinh này là gì mà gọi là Tâm Kinh?
Bát
Nhã là căn bản của Bắc Tạng trích từ Kinh Kim Cang Bát Nhã.
Ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật là làm thế nào để an trụ tâm
và làm thế nào để hàng phục tâm. Phật trả lời:
“Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm.” “Ưng vô sở trụ”
là trụ chỗ không chấp mà sanh tâm độ sanh. Lục Tổ
Huệ Năng và một số Tổ Việt Nam cũng đã giác ngộ ở câu
đó. Khi không chấp trụ, vướng mắc mà làm tất cả
thiện thì lúc đó ta đi vào con đường Bồ Tát đạo.
Bát
Nhã là trí tuệ.
Tất
cả Kinh điển Phật giáo đếu xây dựng trên tinh thần của
trí tuệ nếu không thì Kinh không có nghĩa lý gì cả.
Khi ta tu hành mà thiếu trí tuệ hoặc xử dụng sai đi thì
những phương pháp tu đều vô giá trị. Phật là người
giác ngộ mà giác ngộ phải có trí tuệ để phá vô minh,
chấm dứt các khổ đau. Cho nên đạo Phật là con đường
của trí tuệ đi đến mục đích giác ngộ để giải thoát.
Hầu
như ai cũng thuộc bài Bát Nhã Tâm Kinh nhưng lý thì không mấy
ai hiểu và sống với Kinh này.
Đoạn
đầu của Kinh: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã…”
nói đến ngài Quán Thế Âm hoặc Thiên Thủ Thiên Nhãn đều
đại diện cho tinh thần từ bi, trí tuệ. Hình ảnh của
Thiên Thủ Thiên Nhãn là có con mắt nằm giữa lòng bàn tay
thì bàn tay thể hiện cho hành vi cứu khổ chúng sanh bằng
trí tuệ (con mắt là thể hiện cho trí tuệ). Cho nên
hành vi được kiểm soát bằng trí tuệ. Ngài không chỉ
đọc Bát Nhã mà Ngài hành Bát Nhã.
Kế
tiếp là “…chiếu kiến ngũ uẩn giai không…”. Chiếu
kiến là soi xét rõ ràng các năm uẩn là hợp thể của tứ
đại nên không thật. Toàn thân chúng ta đều là hợp
thể, sự sống còn là do duyên tác hợp mà thành và khi duyên
hết thì cuộc sống cũng chấm dứt.
Quán
Tự Tại Bồ Tát dùng trí tuệ này để thường quán chiếu
năm uẩn là không. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều
là những chấp của ta làm cho chính ta chịu khổ đau.
Cho nên nếu không dùng trí tuệ Bát Nhã quán chiếu năm uẩn
là không thì luôn sẽ bị khổ đau trong vô lượng kiếp.
Chiếu
kiến là nhìn thấy bằng trí tuệ để soi xét năm uẩn chứ
không phải dùng con mắt để phân biệt thế này thế kia vì
con mắt nhìn thấy mọi thứ thì có chứ không phải không.
Trong khi trí tuệ có thể thấy cái không của năm uẩn.
Ta nên hiểu rằng duyên hợp và tan chỉ là tạm bợ.
Khi ta sống tỉnh thức thì đó là thiền, có nghĩa là luôn
tỉnh giác và do cái tỉnh đó mà ta có cái tuệ.
Kinh
Kim Cang: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”
(nghĩa:
Những gì có tướng đều không thật).
hoặc
“Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ
âm thanh cầu ngã
Thị
nhân hành tà đạo
Bất
năng kiến Như Lai”
Nghĩa:
“Nếu dùng sắc thấy ta
Dùng
âm thanh cầu ta
Là
người hành tà đạo
Chẳng
thể thấy Như Lai”
Khi
sống trong tỉnh giác ta không vướng mắc bất cứ cái gì.
Nếu vướng mắc thì ta sẽ không thể hiểu được thế nào
là hành thâm Bát Nhã hoặc thế nào là chiếu kiến năm uẩn
là không.
Tiếp
theo là “…độ nhất thiết khổ ách” có nghĩa là vượt
qua tất cả các khổ ách.
“Sắc
bất dị không, không bất dị sắc, …”
Đoạn
này nói lên tất cả đều không và ngay cả đến cái “vô
minh tận” cũng không. Tất cả những hình thức ta đang
tu học đến một lúc nào đó cũng phải bỏ. Phật nói:
“Thượng pháp ưng xả hà huống phi pháp” (nghĩa là pháp
còn phải bỏ nói gì đến cái không pháp).
Tại
sao mình phải tu? Là vì mình có sai nên mới có sửa.
Khi thấy rõ tất cả là không thì những phương tiện ta đang
dùng trong việc tu hành sẽ không tồn tại nữa. Khi đạt
giải thoát rồi thì ta xả những sở tri kiến đó nếu không
nó chỉ làm chướng ngại và khổ đau cho ta thôi. Sự
tu tập của ta cốt là chỉ làm cho ta trở lại bản thể tốt
đẹp, toàn thiện của ta.
Trọng
tâm của đạo Phật là tuệ, là tâm cho nên không chú trọng
nghi thức hoặc hình thức bên ngoài. Những hình thức
bên ngoài là chỉ để đạt tự ngã mà thôi. Người
tu Phật là tìm lại bản lai diện mục của mình chứ không
hề dụng tướng như là thời gian đi chùa lâu, ăn chay trường,
v..v…Nhưng không phải là người tu không làm những điều
này, họ làm tất cả mà không vướng mắc.
Lục
Tổ Huệ Năng quở ngài Pháp Đạt khi thi lễ mà đầu không
sát đất. Đó là vì còn cái tự ngã do ngài Pháp Đạt
tụng Kinh Pháp Hoa nhiều. Lục Tổ nói rằng ngài Pháp
Đạt bị Kinh chuyển chứ không chuyển được Kinh. Đây
nói lên những hình thức ta làm là để diệt ngã chứ không
để khoe khoang hay tăng ngã mạn. Tu là sửa mình thành
ra không cần người khác biết.
“Viễn
ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn…” nói lên
cái vô sở chứng, vô sở đắc do đó không có chỗ bám víu.
“Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế,
bồ đề tát bà ha” đại để là vượt qua bờ bên kia mà
không quay lưng lại, không bám vào cái bè mà ta đã xử dụng.
Chủ
lực của bài Kinh là Tâm Kinh, là thực hành của QUÁN CHIẾU
Luôn
luôn sống với chánh niệm là tỉnh giác. Chạy theo trần,
theo khách mà bỏ chủ thì mất chánh niệm. Nếu chúng
ta biết ta là chủ thì ngồi trong nhà đóng hết cửa lại
không cho khách trần lai vãng thì tâm không loạn và hoàn toàn
sáng thì đó là huệ.
Nội
dung quan trọng là phải tu, phải có quán chiếu (luôn thấy
và sống bằng tuệ) do đó mà “viễn ly điên đảo, mộng
tưởng” không còn sợ hãi nữa. Chúng ta còn sợ hãi,
còn thói quen và sở chấp là vì chúng ta còn thủ ngã; còn
sở đắc thì chúng ta luôn đau khổ.
Khi
ta quán chiếu tất cả đều không, ta có thể “độ nhất
thiết khổ ách”. Cho dù năm uẩn, năm căn, 6 trần, 18
giới, 12 nhân duyên, tứ diệu đế, v..v…, tất cả đều
phải xả. Không những ta chỉ đọc Bát Nhã thôi mà ta
còn phải hiểu Bát Nhã và sống với Bát Nhã.
Một
hôm đức Phật ngồi một mình nhìn ra bờ sông và có một
vị tiên đến hỏi “Ngài làm gì ngồi coi buồn, coi cô đơn
vậy?” Phật trả lời “Như Lai không có buồn, không
cô đơn.” Vị tiên hỏi “Vậy là ngài hoan hỷ?”
Phật trả lời “Như Lai không hoan hỷ, không sầu muộn.
Hoan hỷ chỉ có đến với người sầu muộn, sầu muộn chỉ
có đến với người hoan hỷ. Cho nên Như Lai được bình
an.” Câu chuyện này cho thấy rằng cái gì còn cầu mong
vì ta còn thiếu thốn, còn ước mơ, còn chờ đợi thì ta
còn khổ đau. Vì vậy, ta nên chấp nhận hạnh phúc lẫn
khổ đau. Chỉ có người nào hiểu và sống với tuệ
quán thì người đó mới làm thầy hướng dẫn chúng sanh bởi
vì người đó tự hưởng được hạnh phúc do sự tu tập
chứ không phải do chúng sanh làm cho người đó hạnh phúc.
Phật vì đạt trí tuệ để giải thoát vô minh phiền não
thì mới gọi là bậc đại giác. Cả cuộc sống của
Phật đều luôn ở trong chánh định vì ngài liễu tri các
pháp và với cái trí tuệ đó đức Phật kiểm soát toàn bộ
thân và tâm. Khi điều phục được tâm thì thân này
sẽ phải đi theo với tâm đó.
Người
tu học phải HÀNH THÂM sâu thì mới thanh tẩy được tâm và
lúc đó mới tỉnh giác.
Phải
thường quán chiếu bằng tuệ tri, sống trong tỉnh giác thì
mới có thể giải thoát.
Phó
thác tất cả cho các pháp có nghĩa là đủ duyên thì thành
và hết duyên thì tan rã do đó không lấy gì làm phiền não,
khổ đau. Cho nên tất cả khổ đau là do chính mình đưa
đến cho mình chứ không ai đưa đến cho mình cả.
Người
sống với đạo Phật là người sống với Bát Nhã. Trí
tuệ này mà tinh tấn trau dồi thì tâm lực rất là mạnh và
có thể giải thoát chính mình ngay trong đời này. Nhưng
thực hành thì rất khó vì cái ô nhiễm quá nhiều mà công
phu tu học thì ít. Dù vậy ta phải cố gắng thực hành
vì trong cuộc sống tạm bợ này mà ta còn bị sợ hãi chi
phối thì khi chết và ta trở thành con số không rồi
thì lúc đó ta là ai? ta làm gì?...hoàn toàn không thể tự
chủ được. Cho nên muốn có một sức mạnh để đưa
ta đi chỗ nào ta muốn thì trong lúc sống ta phải dụng công
tu. Công phu tu tập chỉ có được nếu ta thường dùng
trí tuệ để quán chiếu ngũ uẩn là không và cả thế giới
chỉ là duyên hợp. Công phu tu hành là phải thường hành
trì và thể hiện chiếu sáng bằng tự tánh chứ không phải
bằng nhân ngã. Đó là tại sao mà đạo Phật tôn trọng
tinh thần của trí tuệ, của bình đẳng. Khi Lục Tổ
Huệ Năng đến cầu đạo ở Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn cũng đã
nêu lên tinh thần bình đẳng qua câu: “Người tuy có Bắc
có Nam chứ Phật tánh thì đồng đều như nhau.”
Hai
từ quan trọng để tư duy và thực hành là HÀNH THÂM và QUÁN
CHIẾU. Có nghĩa là đi sâu vào tâm bằng trí tuệ, chiếu
kiến bằng tuệ chứ không dùng cái hiểu biết của thế gian.
Khi ta thấy bằng con mắt trí tuệ thì bất cứ những gì xảy
ra trong đời này mình không còn quá ưu tư, phiền não vì hiễu
rõ thế giới này là vay mượn, là vô thường. Bài Kinh
ta học đây là để hành thâm rồi chiếu kiến để vượt
qua mọi khổ đến bờ bên kia.
QUÁN
CHIẾU vô thường để thấy rằng những thị phi, nhân ngã,
hơn, thua, còn, mất, và tham, sân, si là do chúng ta mê lầm
cứ tưởng cuộc đời là vĩnh cửu. Thấy tất cả các
pháp hữu vi “như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc như
điện” có nghĩa là huyễn hóa giống như bọt bóng, như điện
chớp, như sương mù. Do đó “ưng tác như thị quán”
là quán chiếu mọi sự là như vậy. Đây là tu theo tinh
thần của Kim Cang Bát Nhã.
Tam
giới là vô an giống như nhà đang cháy bởi lửa vô thường
đốt và thay đổi tất cả.
Tổng
thể vũ trụ quan tồn tại là bởi nhân sinh quan. Nhân
sinh quan thay đổi bởi vì xã hội thay đổi và thế giới
thay đổi.
Hành
giả có hai hạng: Phật tử tại gia (những người hộ
trì chánh pháp và phát triển đạo Phật) và Phật tử xuất
gia (những người có đầy đủ duyên lành để rời xa gia
đình vào chùa tu)
Khi
tu học đúng thì không có sự khác biệt giữa hành giả tại
gia và xuất gia trên phương diện chứng ngộ. Đó là
sự bình đẳng trong đạo Phật.
Hành
giả khi sống với trí tuệ thì nhận thức rằng tất cả
các pháp là do duyên hợp mà có, duyên rã thì tan. Khi
thấy duyên sinh đó qua cái chiếu kiến năm uẩn giai không
theo tinh thần Bát Nhã trí thì người đó đạt được cái
cảnh giới vô ngã và được ly tham, ly sân, ly si để đoạn
tất cả khổ đau. Nhận thức này là thấy cái chấp
thủ về sở hữu và ngã sở hữu rồi bị khổ đau vì nó
chứ không phải là phủ nhận cái đời sống hiện tại mà
ta đang có.
Khi
mà ta đạt được Bát Nhã trí thì không còn sợ gì hết nhưng
không phải do không sợ đó mà muốn làm gì thì làm vì khi
làm sai thì vẫn phải chịu nhân quả. Học Kinh điển
mà không hiểu rõ rồi ta có những hành vi phá ngã, phá chấp
một cách sai lầm thì ta sẽ phải cảm thọ quả báo.
Giá trị cao của sự hiểu biết sáng suốt là thấy nhân quả
mà không mê mờ vì nhân quả. Năm uẩn là do nhân duyên
và khi chưa hết nhân duyên thì ta vẫn còn cảm thọ và nhận
những giả hợp đó. Ngay cả Phật, Bồ Tát và A La Hán
cũng vẫn phải chiêu cảm quả báo. Hành Bát Nhã là giải
trừ ý niệm, kiến chấp làm cho ta khổ đau do những quan niệm
sai lầm.
TỨ
NIỆM XỨ
Kinh
Bát Nhã trích từ Kinh Kim Cang thì so sánh với những bài Kinh
đại thừa khác như thế nào? Ngược lại trong Nam Tạng
thì có những Kinh nào tương quan với Tâm Kinh này?
Phật
định nghĩa Tứ Niệm Xứ là con đường duy nhất để đắc
quả A La Hán. Bát Nhã là con đường đưa đến Bồ Tát
và quả Phật. Tứ Niệm Xứ nằm trong Nguyên Thủy Tạng
hoặc Nam Tạng trong khi Bát Nhã thuộc về Bắc Tạng.
Bát
Nhã có năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Tứ
Niệm Xứ (bốn chỗ quán niệm) là: quán thân bất tịnh,
quán tâm vô thường, quán thọ thị khổ và quán pháp vô ngã.
Về
phần danh từ: Sắc tương đương với thân. Thọ,
tưởng, hành, thức tương đương với thọ, tâm, pháp.
I.
QUÁN THÂN
1.
Quán thân bằng tuệ quán
Hơi
thở vô ta biết là đang thở vô, hơi thở ra ta biết là đang
thở ra. Có nghĩa là theo dõi và kiểm soát hơi thở bằng
trí tuệ mà không để những việc khác lôi cuốn mình.
Điều
thân, điều tâm và điều hòa hơi thở với ý thức rằng
cuộc sống của mình chỉ trong hơi thở. Do đó ta thấy
rằng những thù hận, hơn thua trong đời chẳng có ý nghĩa
bằng cái giá trị của hơi thở vì chính hơi thở duy trì
sự sống của mình. Bình tâm hòa khí thì ta mới có thể
có những suy nghĩ sáng suốt. Đây là vấn đề của tỉnh
giác.
2.
Quán oai nghi
Tất
cả động niệm của oai nghi là hoàn toàn phóng theo dục tập.
Xúc tác của thân và tâm sẽ tạo thành cơ sở phát khởi
các dục vọng và nhu cầu của chúng ta. Do đó ta phải
theo dõi và kiểm soát mỗi hành động của oai nghi bằng trí
tuệ, nếu không thì ta dễ làm lỗi mà không biết.
3.
Quán sát từng phần trong cơ thể của ta
Biết
rằng những cái ta đang có cũng thay đổi, biến chuyển của
duyên sinh, không thật. Con người của mình là bất tịnh.
Quán
sát như vậy thì ta sẽ chấm dứt được tham, sân, si.
Những ham muốn là do cái dục vọng bên trong chứ chẳng phải
con người của mình. Kiểm soát bằng trí tuệ những
gì bên trong thúc đẩy ta có những cái ham muốn.
4.
Quán sát về quá trình của tử thi
Toàn
bộ cơ thể là bất tịnh, cho nên khi quán thân bất tịnh,
ta giảm bớt nhu cầu về thể xác của mình.
Quán
thân để:
1.
Tăng cường khả năng tập trung của mình
2.
Tăng cường khả năng chế ngự tâm tham ái vì những ham muốn
của thân là đều tạo thành cái quả mà ta phải cảm thọ.
Ngay cả những ham muốn đắc đạo, công quả trong chùa cũng
là tham.
3.
Thấy rằng năm uẩn chỉ là giòng duyên sinh (đây là đồng
nghĩa với Bát Nhã Tâm Kinh). Đừng để những cái giả
tạm lôi cuốn ta.
II.
QUÁN THỌ NIỆM XỨ
Thọ
lạc, thọ hỷ: Nếu một người không vui, không buồn
thì người đó sẽ được tỉnh lại.
Theo
dõi, kiểm soát những cảm thọ trong ta: Con người chúng
ta luôn sống theo cái giòng cảm xúc của thọ, của tưởng
và lệ thuộc vào những ham muốn mà ta không kiểm soát quá
trình của những cảm thọ và ham muốn đó cho nên ta đi đến
khổ đau.
III.
QUÁN TÂM NIỆM XỨ
Kiểm
soát tâm khởi bất cứ niệm gì (tham, sân, si): Ngay cả
khi ta khởi niệm làm việc thiện là ta cũng có mong cầu trong
đó vì muốn người khác biết là mình làm việc thiện, thêm
nữa là muốn thọ phước báo do làm việc thiện đó.
Nếu thi ân mà mong báo đền thì việc làm có mưu đồ.
Nếu oan ức mà mong biện bạch thì còn nhân ngã.
Nếu
ta muốn giải thoát thì phải dùng tuệ quán để kiểm soát
tâm bằng cách theo dõi sự sinh khởi, tồn tại và hoại diệt
của tâm vô thường. Theo dõi để xem từ đâu mà tâm
khởi. Kiểm soát cái vô thường tâm rất là khó.
Phật nói rằng ta không nên tin vào cái tâm vô thường đó
cho tới khi nào chứng quả A La Hán.
IV.
QUÁN PHÁP
Những
gì liên hệ đến cuộc sống của ta đều phải xả kể cả
những phương tiện tu học. Pháp là vô ngã, không có
thực tại, không có tự tánh. Ta chỉ dùng nó để đối
trị tâm bệnh, thân bệnh. Nếu như chính ta là vô ngã
thì cả cái pháp đối tượng đó cũng là vô ngã.
Thân
thọ tâm pháp này là ở đâu? Ở trong con người chúng
ta hoặc, nói một cách khác, chiếu kiến ngũ uẩn giai không.
Khi còn chấp thủ vào bất cứ phương diện nào của thân
ngũ uẩn hoặc vũ trụ ngũ uẩn thì có khổ đau.
Đạo
Phật rất là cao siêu nhưng cũng rất là bình đẳng trong mọi
giới. So sánh Tâm Kinh và Tứ Niệm Xứ thì thấy rằng
giáo lý và công phu tu học không hề có tiểu, đại, có Nam,
Bắc mà chỉ do dụng công phu của cá nhân mà thôi.
Chỉ
có một phương pháp đó là quán chiếu, giác tỉnh và nhiếp
phục tham, sân, si (thân, khẩu, ý). Toàn bộ hệ thống
tư tưởng của đại thừa (Bắc tạng) và của Nam tạng là
tập trung kiểm soát và quán chiếu. Cuối cùng sẽ có
một chỗ gặp gỡ trong nền tảng Phật giáo điển đó là
gì? Từ chỗ Tâm Kinh Bát Nhã của đại thừa và Tứ
Niệm Xứ của Nam tạng thì cuối cùng cái tinh thần Phật
giáo của Bắc truyền và Nam truyền vẫn thống nhứt trên
một giáo lý là làm cho ta giải thoát khỏi sự tham chấp của
tự ngã, thế gian và các pháp.
Các
pháp ta đang học không có quí, hèn, cao, thấp,…mà chỉ do
phần dụng công nổ lực của hành giả mà thôi. Hoàn
toàn không phụ thuộc vào nội dung tiểu hay đại của Kinh
mà phụ thuộc vào phần dụng công chiếu kiến và thực hành
trong sự tu tập của hành giả.
Trí
tuệ chia làm 3 phần: văn huệ (nghe pháp), tư huệ (tư
duy) và tu huệ (ứng dụng để tu tập). Phần nhiều chúng
ta chỉ có văn và tư chứ ít ai chịu ứng dụng tu. Nhưng
khi không có phần văn và tư mà có tu thì đó là tu mù.
Văn, tư, tu là 3 phần cần thiết của trí tuệ. Không
thể làm chỉ một cái mà thiếu hai phần kia. Đó là
lạc vào tà đạo, nhị biên, tà kiến. Tu là sửa nhưng
bây giờ thì chúng ta không biết phương pháp nên lại sửa
từ đúng ra sai. Cũng như nhiều người cho là đi chùa
là tốt rồi nhưng nếu không hiểu đạo, không sống theo đạo
và không học bằng trí tuệ đó thì lại càng tạo thêm sân,
si và chấp thủ.
Tất
cả công phu dụng công của ta là qua tinh thần văn, tư, tu
và ứng dụng suốt quá trình mà không lệ thuộc vào ai.
Luôn sống trong tỉnh thức, trong quán niệm, trong chiếu soi
thì người đó hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa và đồng thời
đi sâu vào chiếu kiến Tứ Niệm Xứ rồi cuối cùng gặp
ở con đường tịnh hóa thân tâm và tẩy trừ tham, sân, si
để chứng quả A La Hán.
Khi
ta chọn một pháp môn để tu tập tích cực thì ta sẽ không
còn ham muốn gì nữa và biết rằng con đường thành tựu
tu tập đó là có thật. Dĩ nhiên ít nhất ta phải cảm
nhận cái an lạc trong con đường mình đi do đạt được một
cái sở đắc tâm linh thì ta mới tích cực hơn nữa mà không
buông bỏ dù cho phương pháp mình chọn rất nhỏ.
Tóm
lại, Bát Nhã Tâm Kinh và Tứ Niệm Xứ chỉ là một con đường
tu tập. Chúng ta nên tranh thủ thời gian để nổ lực
công phu vì chỉ có mình mới có thể giải thoát cho chính
mình mà thôi. Mục tiêu chính là học để hành, nghe để
hiểu và để sống.
NAM
MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
WP:
Diệu Mỹ