THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
PHÁP LUẬN
Trang 01
Trang 02
Trang 03
Trang 04
Trang 05
Trang 06
Trang 07

TÂM KINH VÀ TỨ NIỆM XỨ
Tỳ Kheo Thích Minh Hiếu

Đạo Phật là tinh thần của trí tuệ cho nên khi học Phật ta phải dùng tâm.  Đầu tiên là phải phát khởi tâm.  Tâm là chủ yếu vì tất cả các pháp đều do tâm tạo.

Làm thế nào để thanh tịnh tâm?
Khi tâm đã ô nhiễm thì chúng ta dù có học Kinh nhiều đi nữa cũng chẳng thể rửa sạch tâm ô nhiễm vì chất liệu của tâm chưa được thanh tẩy sạch sẽ.

Làm thế nào để ta dụng công tu mà được kết quả lớn?
Phật nói:  “Các điều ác chớ làm, các điều thiện chớ bỏ.”  
Câu “Tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo” có nghĩa là tự làm cho tâm thanh tịnh.  Đây là quá trình tu tập của mỗi người chúng ta.
Khi Phật niêm hoa thị chúng thì chỉ có ngài Ca Diếp hội được ý Phật.  Đó là tâm truyền tâm như trong câu: 

“Bất lập văn tự,
giáo ngoại biệt truyền, 
trực chỉ chân tâm, 
kiến tánh thành Phật”
Mục đích của Phật ra đời là để khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến có nghĩa là thấy tri kiến Phật của chính họ.  Chúng ta nghĩ rằng cái thành Phật đó quá xa vời nhưng nếu như vậy thì ta tu để thành cái gì đây?  

BÁT NHÃ TÂM KINH

Trọng tâm của Kinh này là gì mà gọi là Tâm Kinh?
Bát Nhã là căn bản của Bắc Tạng trích từ Kinh Kim Cang Bát Nhã.  Ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật là làm thế nào để an trụ tâm và làm thế nào để hàng phục tâm.  Phật trả lời: “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm.” “Ưng vô sở trụ” là trụ chỗ không chấp mà sanh tâm độ sanh.  Lục Tổ Huệ Năng và một số Tổ Việt Nam cũng đã giác ngộ ở câu đó.  Khi không chấp trụ, vướng mắc mà làm tất cả thiện thì lúc đó ta đi vào con đường Bồ Tát đạo.

Bát Nhã là trí tuệ.  

Tất cả Kinh điển Phật giáo đếu xây dựng trên tinh thần của trí tuệ nếu không thì Kinh không có nghĩa lý gì cả.  Khi ta tu hành mà thiếu trí tuệ hoặc xử dụng sai đi thì những phương pháp tu đều vô giá trị.  Phật là người giác ngộ mà giác ngộ phải có trí tuệ để phá vô minh, chấm dứt các khổ đau.  Cho nên đạo Phật là con đường của trí tuệ đi đến mục đích giác ngộ để giải thoát.

Hầu như ai cũng thuộc bài Bát Nhã Tâm Kinh nhưng lý thì không mấy ai hiểu và sống với Kinh này.

Đoạn đầu của Kinh: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã…”  nói đến ngài Quán Thế Âm hoặc Thiên Thủ Thiên Nhãn đều đại diện cho tinh thần từ bi, trí tuệ.  Hình ảnh của Thiên Thủ Thiên Nhãn là có con mắt nằm giữa lòng bàn tay thì bàn tay thể hiện cho hành vi cứu khổ chúng sanh bằng trí tuệ (con mắt là thể hiện cho trí tuệ).  Cho nên hành vi được kiểm soát bằng trí tuệ.  Ngài không chỉ đọc Bát Nhã mà Ngài hành Bát Nhã.

Kế tiếp là “…chiếu kiến ngũ uẩn giai không…”.  Chiếu kiến là soi xét rõ ràng các năm uẩn là hợp thể của tứ đại nên không thật.  Toàn thân chúng ta đều là hợp thể, sự sống còn là do duyên tác hợp mà thành và khi duyên hết thì cuộc sống cũng chấm dứt.

Quán Tự Tại Bồ Tát dùng trí tuệ này để thường quán chiếu năm uẩn là không.  Sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là những chấp của ta làm cho chính ta chịu khổ đau.  Cho nên nếu không dùng trí tuệ Bát Nhã quán chiếu năm uẩn là không thì luôn sẽ bị khổ đau trong vô lượng kiếp.

Chiếu kiến là nhìn thấy bằng trí tuệ để soi xét năm uẩn chứ không phải dùng con mắt để phân biệt thế này thế kia vì con mắt nhìn thấy mọi thứ thì có chứ không phải không.  Trong khi trí tuệ có thể thấy cái không của năm uẩn.  Ta nên hiểu rằng duyên hợp và tan chỉ là tạm bợ.  Khi ta sống tỉnh thức thì đó là thiền, có nghĩa là luôn tỉnh giác và do cái tỉnh đó mà ta có cái tuệ.

Kinh Kim Cang:  “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” 
(nghĩa: Những gì có tướng đều không thật).
hoặc     “Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai”
Nghĩa: “Nếu dùng sắc thấy ta
Dùng âm thanh cầu ta
Là người hành tà đạo
Chẳng thể thấy Như Lai”

Khi sống trong tỉnh giác ta không vướng mắc bất cứ cái gì.  Nếu vướng mắc thì ta sẽ không thể hiểu được thế nào là hành thâm Bát Nhã hoặc thế nào là chiếu kiến năm uẩn là không.

Tiếp theo là “…độ nhất thiết khổ ách” có nghĩa là vượt qua tất cả các khổ ách.

“Sắc bất dị không, không bất dị sắc, …”

Đoạn này nói lên tất cả đều không và ngay cả đến cái “vô minh tận” cũng không.  Tất cả những hình thức ta đang tu học đến một lúc nào đó cũng phải bỏ.  Phật nói:  “Thượng pháp ưng xả hà huống phi pháp” (nghĩa là pháp còn phải bỏ nói gì đến cái không pháp).

Tại sao mình phải tu?  Là vì mình có sai nên mới có sửa.  Khi thấy rõ tất cả là không thì những phương tiện ta đang dùng trong việc tu hành sẽ không tồn tại nữa.  Khi đạt giải thoát rồi thì ta xả những sở tri kiến đó nếu không nó chỉ làm chướng ngại và khổ đau cho ta thôi.  Sự tu tập của ta cốt là chỉ làm cho ta trở lại bản thể tốt đẹp, toàn thiện của ta.

Trọng tâm của đạo Phật là tuệ, là tâm cho nên không chú trọng nghi thức hoặc hình thức bên ngoài.  Những hình thức bên ngoài là chỉ để đạt tự ngã mà thôi.  Người tu Phật là tìm lại bản lai diện mục của mình chứ không hề dụng tướng như là thời gian đi chùa lâu, ăn chay trường, v..v…Nhưng không phải là người tu không làm những điều này, họ làm tất cả mà không vướng mắc.

Lục Tổ Huệ Năng quở ngài Pháp Đạt khi thi lễ mà đầu không sát đất.  Đó là vì còn cái tự ngã do ngài Pháp Đạt tụng Kinh Pháp Hoa nhiều.  Lục Tổ nói rằng ngài Pháp Đạt bị Kinh chuyển chứ không chuyển được Kinh.  Đây nói lên những hình thức ta làm là để diệt ngã chứ không để khoe khoang hay tăng ngã mạn.  Tu là sửa mình thành ra không cần người khác biết.

“Viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn…” nói lên cái vô sở chứng, vô sở đắc do đó không có chỗ bám víu.  “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha” đại để là vượt qua bờ bên kia mà không quay lưng lại, không bám vào cái bè mà ta đã xử dụng.

Chủ lực của bài Kinh là Tâm Kinh, là thực hành của QUÁN CHIẾU

Luôn luôn sống với chánh niệm là tỉnh giác.  Chạy theo trần, theo khách mà bỏ chủ thì mất chánh niệm.  Nếu chúng ta biết ta là chủ thì ngồi trong nhà đóng hết cửa lại không cho khách trần lai vãng thì tâm không loạn và hoàn toàn sáng thì đó là huệ.

Nội dung quan trọng là phải tu, phải có quán chiếu (luôn thấy và sống bằng tuệ) do đó mà “viễn ly điên đảo, mộng tưởng” không còn sợ hãi nữa.  Chúng ta còn sợ hãi, còn thói quen và sở chấp là vì chúng ta còn thủ ngã; còn sở đắc thì chúng ta luôn đau khổ.  

Khi ta quán chiếu tất cả đều không, ta có thể “độ nhất thiết khổ ách”.  Cho dù năm uẩn, năm căn, 6 trần, 18 giới, 12 nhân duyên, tứ diệu đế, v..v…, tất cả đều phải xả.  Không những ta chỉ đọc Bát Nhã thôi mà ta còn phải hiểu Bát Nhã và sống với Bát Nhã.

Một hôm đức Phật ngồi một mình nhìn ra bờ sông và có một vị tiên đến hỏi “Ngài làm gì ngồi coi buồn, coi cô đơn vậy?”  Phật trả lời “Như Lai không có buồn, không cô đơn.”  Vị tiên hỏi “Vậy là ngài hoan hỷ?”  Phật trả lời “Như Lai không hoan hỷ, không sầu muộn.  Hoan hỷ chỉ có đến với người sầu muộn, sầu muộn chỉ có đến với người hoan hỷ.  Cho nên Như Lai được bình an.”  Câu chuyện này cho thấy rằng cái gì còn cầu mong vì ta còn thiếu thốn, còn ước mơ, còn chờ đợi thì ta còn khổ đau.  Vì vậy, ta nên chấp nhận hạnh phúc lẫn khổ đau.  Chỉ có người nào hiểu và sống với tuệ quán thì người đó mới làm thầy hướng dẫn chúng sanh bởi vì người đó tự hưởng được hạnh phúc do sự tu tập chứ không phải do chúng sanh làm cho người đó hạnh phúc.  Phật vì đạt trí tuệ để giải thoát vô minh phiền não thì mới gọi là bậc đại giác.  Cả cuộc sống của Phật đều luôn ở trong chánh định vì ngài liễu tri các pháp và với cái trí tuệ đó đức Phật kiểm soát toàn bộ thân và tâm.  Khi điều phục được tâm thì thân này sẽ phải đi theo với tâm đó.  

Người tu học phải HÀNH THÂM sâu thì mới thanh tẩy được tâm và lúc đó mới tỉnh giác.

Phải thường quán chiếu bằng tuệ tri, sống trong tỉnh giác thì mới có thể giải thoát.

Phó thác tất cả cho các pháp có nghĩa là đủ duyên thì thành và hết duyên thì tan rã do đó không lấy gì làm phiền não, khổ đau.  Cho nên tất cả khổ đau là do chính mình đưa đến cho mình chứ không ai đưa đến cho mình cả.

Người sống với đạo Phật là người sống với Bát Nhã.  Trí tuệ này mà tinh tấn trau dồi thì tâm lực rất là mạnh và có thể giải thoát chính mình ngay trong đời này.  Nhưng thực hành thì rất khó vì cái ô nhiễm quá nhiều mà công phu tu học thì ít.  Dù vậy ta phải cố gắng thực hành vì trong cuộc sống tạm bợ này mà ta còn bị sợ hãi chi phối thì khi chết  và ta trở thành con số không rồi thì lúc đó ta là ai? ta làm gì?...hoàn toàn không thể tự chủ được.  Cho nên muốn có một sức mạnh để đưa ta đi chỗ nào ta muốn thì trong lúc sống ta phải dụng công tu.  Công phu tu tập chỉ có được nếu ta thường dùng trí tuệ để quán chiếu ngũ uẩn là không và cả thế giới chỉ là duyên hợp.  Công phu tu hành là phải thường hành trì và thể hiện chiếu sáng bằng tự tánh chứ không phải bằng nhân ngã.  Đó là tại sao mà đạo Phật tôn trọng tinh thần của trí tuệ, của bình đẳng.  Khi Lục Tổ Huệ Năng đến cầu đạo ở Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn cũng đã nêu lên tinh thần bình đẳng qua câu: “Người tuy có Bắc có Nam chứ Phật tánh thì đồng đều như nhau.”

Hai từ quan trọng để tư duy và thực hành là HÀNH THÂM và QUÁN CHIẾU.  Có nghĩa là đi sâu vào tâm bằng trí tuệ, chiếu kiến bằng tuệ chứ không dùng cái hiểu biết của thế gian. Khi ta thấy bằng con mắt trí tuệ thì bất cứ những gì xảy ra trong đời này mình không còn quá ưu tư, phiền não vì hiễu rõ thế giới này là vay mượn, là vô thường.  Bài Kinh ta học đây là để hành thâm rồi chiếu kiến để vượt qua mọi khổ đến bờ bên kia.

QUÁN CHIẾU vô thường để thấy rằng những thị phi, nhân ngã, hơn, thua, còn, mất, và tham, sân, si là do chúng ta mê lầm cứ tưởng cuộc đời là vĩnh cửu.  Thấy tất cả các pháp hữu vi “như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc như điện” có nghĩa là huyễn hóa giống như bọt bóng, như điện chớp, như sương mù.  Do đó “ưng tác như thị quán” là quán chiếu mọi sự là như vậy.  Đây là tu theo tinh thần của Kim Cang Bát Nhã.

Tam giới là vô an giống như nhà đang cháy bởi lửa vô thường đốt và thay đổi tất cả.

Tổng thể vũ trụ quan tồn tại là bởi nhân sinh quan.  Nhân sinh quan thay đổi bởi vì xã hội thay đổi và thế giới thay đổi.

Hành giả có hai hạng:  Phật tử tại gia (những người hộ trì chánh pháp và phát triển đạo Phật) và Phật tử xuất gia (những người có đầy đủ duyên lành để rời xa gia đình vào chùa tu)

Khi tu học đúng thì không có sự khác biệt giữa hành giả tại gia và xuất gia trên phương diện chứng ngộ.  Đó là sự bình đẳng trong đạo Phật.

Hành giả khi sống với trí tuệ thì nhận thức rằng tất cả các pháp là do duyên hợp mà có, duyên rã thì tan.  Khi thấy duyên sinh đó qua cái chiếu kiến năm uẩn giai không theo tinh thần Bát Nhã trí thì người đó đạt được cái cảnh giới vô ngã và được ly tham, ly sân, ly si để đoạn tất cả khổ đau.  Nhận thức này là thấy cái chấp thủ về sở hữu và ngã sở hữu rồi bị khổ đau vì nó chứ không phải là phủ nhận cái đời sống hiện tại mà ta đang có.

Khi mà ta đạt được Bát Nhã trí thì không còn sợ gì hết nhưng không phải do không sợ đó mà muốn làm gì thì làm vì khi làm sai thì vẫn phải chịu nhân quả.  Học Kinh điển mà không hiểu rõ rồi ta có những hành vi phá ngã, phá chấp một cách sai lầm thì ta sẽ phải cảm thọ quả báo.  Giá trị cao của sự hiểu biết sáng suốt là thấy nhân quả mà không mê mờ vì nhân quả.  Năm uẩn là do nhân duyên và khi chưa hết nhân duyên thì ta vẫn còn cảm thọ và nhận những giả hợp đó.  Ngay cả Phật, Bồ Tát và A La Hán cũng vẫn phải chiêu cảm quả báo.  Hành Bát Nhã là giải trừ ý niệm, kiến chấp làm cho ta khổ đau do những quan niệm sai lầm.

TỨ NIỆM XỨ

Kinh Bát Nhã trích từ Kinh Kim Cang thì so sánh với những bài Kinh đại thừa khác như thế nào?  Ngược lại trong Nam Tạng thì có những Kinh nào tương quan với Tâm Kinh này?

Phật định nghĩa Tứ Niệm Xứ là con đường duy nhất để đắc quả A La Hán.  Bát Nhã là con đường đưa đến Bồ Tát và quả Phật.  Tứ Niệm Xứ nằm trong Nguyên Thủy Tạng hoặc Nam Tạng trong khi Bát Nhã thuộc về Bắc Tạng.

Bát Nhã có năm uẩn:  sắc, thọ, tưởng, hành, thức.  
Tứ Niệm Xứ (bốn chỗ quán niệm) là:  quán thân bất tịnh, quán tâm vô thường, quán thọ thị khổ và quán pháp vô ngã.
Về phần danh từ:  Sắc tương đương với thân.  Thọ, tưởng, hành, thức tương đương với thọ, tâm, pháp.

I.  QUÁN THÂN

1.  Quán thân bằng tuệ quán

 Hơi thở vô ta biết là đang thở vô, hơi thở ra ta biết là đang thở ra.  Có nghĩa là theo dõi và kiểm soát hơi thở bằng trí tuệ mà không để những việc khác lôi cuốn mình.

Điều thân, điều tâm và điều hòa hơi thở với ý thức rằng cuộc sống của mình chỉ trong hơi thở.  Do đó ta thấy rằng những thù hận, hơn thua trong đời chẳng có ý nghĩa bằng cái giá trị của hơi thở vì chính hơi thở duy trì sự sống của mình.  Bình tâm hòa khí thì ta mới có thể có những suy nghĩ sáng suốt.  Đây là vấn đề của tỉnh giác.
2. Quán oai nghi

Tất cả động niệm của oai nghi là hoàn toàn phóng theo dục tập. Xúc tác của thân và tâm sẽ tạo thành cơ sở phát khởi các dục vọng và nhu cầu của chúng ta.  Do đó ta phải theo dõi và kiểm soát mỗi hành động của oai nghi bằng trí tuệ, nếu không thì ta dễ làm lỗi mà không biết.

3.  Quán sát từng phần trong cơ thể của ta

Biết rằng những cái ta đang có cũng thay đổi, biến chuyển của duyên sinh, không thật.  Con người của mình là bất tịnh.

Quán sát như vậy thì ta sẽ chấm dứt được tham, sân, si.  Những ham muốn là do cái dục vọng bên trong chứ chẳng phải con người của mình.  Kiểm soát bằng trí tuệ những gì bên trong thúc đẩy ta có những cái ham muốn.

4. Quán sát về quá trình của tử thi

Toàn bộ cơ thể là bất tịnh, cho nên khi quán thân bất tịnh, ta giảm bớt nhu cầu về thể xác của mình.
 

Quán thân để: 
1.  Tăng cường khả năng tập trung của mình
2.  Tăng cường khả năng chế ngự tâm tham ái vì những ham muốn của thân là đều tạo thành cái quả mà ta phải cảm thọ.  Ngay cả những ham muốn đắc đạo, công quả trong chùa cũng là tham.

3.  Thấy rằng năm uẩn chỉ là giòng duyên sinh (đây là đồng nghĩa với Bát Nhã Tâm Kinh).  Đừng để những cái giả tạm lôi cuốn ta.

II.  QUÁN THỌ NIỆM XỨ

Thọ lạc, thọ hỷ:  Nếu một người không vui, không buồn thì người đó sẽ được tỉnh lại.

Theo dõi, kiểm soát những cảm thọ trong ta:  Con người chúng ta luôn sống theo cái giòng cảm xúc của thọ, của tưởng và lệ thuộc vào những ham muốn mà ta không kiểm soát quá trình của những cảm thọ và ham muốn đó cho nên ta đi đến khổ đau.  

III.  QUÁN TÂM NIỆM XỨ

Kiểm soát tâm khởi bất cứ niệm gì (tham, sân, si):  Ngay cả khi ta khởi niệm làm việc thiện là ta cũng có mong cầu trong đó vì muốn người khác biết là mình làm việc thiện, thêm nữa là muốn thọ phước báo do làm việc thiện đó.  Nếu thi ân mà mong báo đền thì việc làm có mưu đồ.  Nếu oan ức mà mong biện bạch thì còn nhân ngã.

Nếu ta muốn giải thoát thì phải dùng tuệ quán để kiểm soát tâm bằng cách theo dõi sự sinh khởi, tồn tại và hoại diệt của tâm vô thường.  Theo dõi để xem từ đâu mà tâm khởi.  Kiểm soát cái vô thường tâm rất là khó.  Phật nói rằng ta không nên tin vào cái tâm vô thường đó cho tới khi nào chứng quả A La Hán.

IV.  QUÁN PHÁP

Những gì liên hệ đến cuộc sống của ta đều phải xả kể cả những phương tiện tu học.  Pháp là vô ngã, không có thực tại, không có tự tánh.  Ta chỉ dùng nó để đối trị tâm bệnh, thân bệnh.  Nếu như chính ta là vô ngã thì cả cái pháp đối tượng đó cũng là vô ngã. 

Thân thọ tâm pháp này là ở đâu?  Ở trong con người chúng ta hoặc, nói một cách khác, chiếu kiến ngũ uẩn giai không.  Khi còn chấp thủ vào bất cứ phương diện nào của thân ngũ uẩn hoặc vũ trụ ngũ uẩn thì có khổ đau.

Đạo Phật rất là cao siêu nhưng cũng rất là bình đẳng trong mọi giới.  So sánh Tâm Kinh và Tứ Niệm Xứ thì thấy rằng giáo lý và công phu tu học không hề có tiểu, đại, có Nam, Bắc mà chỉ do dụng công phu của cá nhân mà thôi.

Chỉ có một phương pháp đó là quán chiếu, giác tỉnh và nhiếp phục tham, sân, si (thân, khẩu, ý).  Toàn bộ hệ thống tư tưởng của đại thừa (Bắc tạng) và của Nam tạng là tập trung kiểm soát và quán chiếu.  Cuối cùng sẽ có một chỗ gặp gỡ trong nền tảng Phật giáo điển đó là gì?  Từ chỗ Tâm Kinh Bát Nhã của đại thừa và Tứ Niệm Xứ của Nam tạng thì cuối cùng cái tinh thần Phật giáo của Bắc truyền và Nam truyền vẫn thống nhứt trên một giáo lý là làm cho ta giải thoát khỏi sự tham chấp của tự ngã, thế gian và các pháp.

Các pháp ta đang học không có quí, hèn, cao, thấp,…mà chỉ do phần dụng công nổ lực của hành giả mà thôi.  Hoàn toàn không phụ thuộc vào nội dung tiểu hay đại của Kinh mà phụ thuộc vào phần dụng công chiếu kiến và thực hành trong sự tu tập của hành giả.

Trí tuệ chia làm 3 phần:  văn huệ (nghe pháp), tư huệ (tư duy) và tu huệ (ứng dụng để tu tập).  Phần nhiều chúng ta chỉ có văn và tư chứ ít ai chịu ứng dụng tu.  Nhưng khi không có phần văn và tư mà có tu thì đó là tu mù.  Văn, tư, tu là 3 phần cần thiết của trí tuệ.  Không thể làm chỉ một cái mà thiếu hai phần kia.  Đó là lạc vào tà đạo, nhị biên, tà kiến.  Tu là sửa nhưng bây giờ thì chúng ta không biết phương pháp nên lại sửa từ đúng ra sai.  Cũng như nhiều người cho là đi chùa là tốt rồi nhưng nếu không hiểu đạo, không sống theo đạo và không học bằng trí tuệ đó thì lại càng tạo thêm sân, si và chấp thủ.

Tất cả công phu dụng công của ta là qua tinh thần văn, tư, tu và ứng dụng suốt quá trình mà không lệ thuộc vào ai.  Luôn sống trong tỉnh thức, trong quán niệm, trong chiếu soi thì người đó hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa và đồng thời đi sâu vào chiếu kiến Tứ Niệm Xứ rồi cuối cùng gặp ở con đường tịnh hóa thân tâm và tẩy trừ tham, sân, si để chứng quả A La Hán.

Khi ta chọn một pháp môn để tu tập tích cực thì ta sẽ không còn ham muốn gì nữa và biết rằng con đường thành tựu tu tập đó là có thật.  Dĩ nhiên ít nhất ta phải cảm nhận cái an lạc trong con đường mình đi do đạt được một cái sở đắc tâm linh thì ta mới tích cực hơn nữa mà không buông bỏ dù cho phương pháp mình chọn rất nhỏ.

Tóm lại, Bát Nhã Tâm Kinh và Tứ Niệm Xứ chỉ là một con đường tu tập.  Chúng ta nên tranh thủ thời gian để nổ lực công phu vì chỉ có mình mới có thể giải thoát cho chính mình mà thôi.  Mục tiêu chính là học để hành, nghe để hiểu và để sống.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

WP: Diệu Mỹ
 
 
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap