|
.
Cao
Xanh Bỡn Cợt
Chết
cũng mang theo
Con
Thầy Hiệu Trưởng
Cuộc
Sống Nhiệm Mầu
Đất
Lành Chim Đậu
Gieo
Một Niềm Tin
Hương
Thơm Từ Bạc Mốc
Món
Nợ Cuối Năm
Nụ
Cười Độ Lượng
Rể
Quý Của Mẹ
Sân
Trước Một Dáng mai
Trút
Bỏ Oán Thù
Ván
Cờ Bên Hiên Chùa
CAO
XANH BỠN CỢT
Tôi và chị chưa hề một lần gây thù chuốc oán với nhau.
Vậy mà không hiểu sao ngay từ ngày chạm mặt đầu tiên ở
trụ sở Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh, bỗng dưng tôi thấy
ghét chị thậm tệ. Và nhìn ánh mắt, vầng trán nhăn
nhíu, điệu bộ của chị khi đứng gần tôi vào
lúc cuộc họp chuẩn bị khai mạc, tôi cảm nhận,
thấy biết được chắc chắn rằng chị cũng chẳng
ưa gì tôi, có thể là ghét cay ghét đắng tôi, còn hơn
cái mức mà tôi ghét chị. Sao kỳ vậy? Đố kỵ tài
năng sao? Không phải.
Kiểm soát được trái tim mình, tôi xin thề bán mạng là tôi
không những không hề đố kỵ cái tài nhả thơ trữ tình
của chị, mà còn nghiêng mình khâm phục sát đất. Tôi đâu
biết làm thơ, nên tôi không thể ganh ghét, mặc cảm tự ti
gì với một thi nhân nào. Nếu có đố kỵ thì tôi đã nhằm
vào những văn nhân kìa, bởi tôi chỉ chuyên viết văn, viết
báo chớ đâu đụng chạm gì đến lĩnh vực thi ca? Nhưng bản
tính tôi từ bé đến lớn chưa hề biết ganh ghét ai,
chưa hề có ác cảm với bất cứ ai chỉ vì tài năng
của mình thua kém họ. Vậy thì lý do gì khiến cho tôi và
chị, hai cây bút nữ triển vọng của tỉnh nhà, lại căm
ghét nhau ngay từ ngày “nghe danh đã lâu nay mới biết mặt”?
Tôi không hiểu. Chính tôi còn chưa hiểu nổi thì đừng hỏi
có ai hiểu hay không. Còn chị có hiểu hay không thì tôi không
tài biết được. Càng cố nghĩ tìm cho ra nguyên nhân tôi càng
đi lạc vào khu rừng âm u mịt mờ. Tôi chỉ còn mỗi một
cách là cho rằng: vì tôi và chị có duyên nợ oán thù với
nhau từ muôn kiếp trước, nên kiếp này phải oán ghét nhau
thôi!
Khổ một điều, khi đã ghét nhau rồi lại cứ gặp nhau hoài.
Càng ghét nhau càng phải thấy mặt nhau nhiều hơn trước.
Kể từ khi biết mặt nhau qua lần ông Tổâng Thư Ký Hội
giới thiệu từng hội viên trong cuộc họp, tôi và chị ta
cứ đụng đầu nhau liên hồi kỳ trận, không ai buồn mỉm
cười với nhau một nụ, không hề có một câu chào hỏi xả
giao thốt lên dẫu là mấy câu đãi bôi khách sáo, cũng không
hề nguýt háy nhau một chút cho ra ghét, chỉ là liếc
trộm nhau thôi; khi thì ở bưu điện, khi thì vào chợ,
khi thì vào hiệu sách, khi ghé sạp báo, thậm chí khi chui vào
rạp chiếu bóng tối đen như đêm ba mươi cũng thấy rõ mặt
nhau mới thật là… siêu quái lạ!
… Thời gian trôi đi, nỗi căm ghét vẫn cứ âm ỉ lục đục
trong lòng, vẫn sống khoẻ mạnh, không teo tóp mà cũng không
tăng trưởng thêm, chỉ ở một chừng mực nhất định, cũng
đủ làm cho tôi khó chịu như phải cưu mang một món nợ vô
duyên lãng nhách. Đôi lần, tôi muốn tự tìm lại trước
chị để đưa ra lời đề nghị cả hai cùng xả hết những
gì chất chứa bên trong ra một trận thật hả hê, để rồi
mạnh ai nấy trở về với lòng nhẹ tênh thanh thản. Nhưng
tôi không đủ can đảm, và cứ vái trời cho chị có được
sự can đảm ấy. Vậy mà chị cũng không tìm đến với tôi
để làm cái điều mà tôi mong đợi. Ghét nhau cứ phải ghét.
Liếc nhau cứ phải tiếp tục liếc. Tôi thấy chẳng ích lợi
gì cho cả hai, trừ một điều: kể từ khi biết mặt nhau
để căm ghét nhau, cả tôi lẫn chị đều sáng tác dữ dội
hơn, hăng say hơn, và nói theo kiểu tiêu chuẩn đo lường thì
những sáng tác của cả hai ngày càng chất lượng hơn. Nếu
tôi được giải nhì trong cuộc thi viết truyện ngắn trên
một tờ báo có uy tín khắp nước, thì chị được giải
nhất cuộc thi thơ cho thiếu nhi mang tầm cỡ quốc gia.
Tôi đỗ đầu danh sách những truyện ngắn hay viết về “Phật
giáo và cuộc sống”, thì tên chị cũng leo lên ngồi vị
trí chót vót trên kim bảng một cuộc thi thơ tứ tuyệt
do một tạp chí Hội Văn Nghệ tỉnh bạn tổ chức với
một chùm thơ bốn bài thật … quá tuyệt! Tôi khâm phục
và mê thơ của chị lắm chứ! Nhưng phục thì cứ phục, mê
thì cứ mê, mà ghét thì vẫn cứ ghét. Tôi đoán rằng chị
cũng ghét tôi, mà không đoán được chị có thích đọc những
sáng tác của tôi hay không? Tôi mong có ngày cả hai sẽ ngồi
lại với nhau, nhưng ngày ấy cứ vẫn còn là trong giấc mơ,
trong ác mộng sau trận ngủ vùi vì thức khuya cắn bút trước
những trang giấy chi chít chữ…
Ngày ấy rồi cũng đến… Tôi bị tai nạn giao thông trên
đường từ nhà đến trụ sở Hội, bất tỉnh mê man không
biết trời đất trăng sao gì nữa. Sau này, khi qua cơn hiểm
nghèo, hồi tỉnh lại, tôi mới được nhiều người kể cho
hay chuyện tôi được chính chị bồng lên xe tắc-xi chở đến
bệnh viện cấp cứu. Chị không chở tôi đi thì cũng sẽ
có người khác chở, nhưng chị đã cứu giúp tôi nhiều hơn
thế gấp nghìn lần. Bệnh viện không còn nhóm máu quý hiếm
mà tôi mang trong nhục thể để truyền cấp cứu sau tai nạn
mất quá nhiều máu. Máu của tôi là nhóm máu hiếm. Những
người thân ruột rà của tôi cũng không một ai có cùng nhóm
máu này.
Thật trớ trêu, trên cao xanh hun hút kia, ông Trời đang nổi
hứng muốn bỡn cợt thư giãn với người dưới cõi bụi
bặm, hoặc cũng có khi là chư Long Thần Hộ Pháp hay Bồ Tát
Thánh Chúng ngẫu hứng muốn thử cái Tâm của chúng sinh ở
cuộc đời ô trọc, khi lại đưa đẩy đến bên tôi một
người dưng xa lạ nhưng mang cùng nhóm máu hiếm với tôi.
Chính là chị. Chị và tôi mang cùng một nhóm máu. Người
mang nhóm máu này hiến cho người khác nhóm máu thì được,
nhưng nếu nhận thì chỉ nhận đúng nhóm máu mình mang… Và
chị đã không ngần ngại cho tôi những giọt máu quý hiếm
để giành giật sinh mệnh của tôi lại từ trên tay tử thần…
Khi tôi xuất viện, quanh tôi có đông đủ cha mẹ anh em, bà
con quyến thuộc, bạn bè đồng nghiệp, hàng xóm láng giềng…
ai nấy đều hớn hở vui mừng cho ngày tôi được hồi sinh.
Chỉ thiếu mỗi mình chị. Chưa bao giờ tôi thèm khát được
nhìn ngắm dung nhan của chị đến thế, đến độ cháy khô
cả cổ và rát đỏ đôi mắt mình, nhưng chị mất hút ở
đâu rồi…
Từ bệnh viện, tôi không chịu về ngay nhà, mà yêu cầu mọi
người đưa thẳng đến nhà của ân nhân cứu mạng. Ở đó,
tôi được khóc một trận tầm tã đầm đìa trong vòng tay
sưởi ấm của chị, của người mà tôi căm ghét bao tháng
ngày qua…
CHẾT
CŨNG MANG THEO
Tôi
quen anh khi hai đứa còn làm chung ở công trường thủy lợi
huyện. Tôi làm cấp dưỡng. Anh đào kênh phá đá. Có lắm
lời bàn tán, dị nghị quanh chuyện tôi và anh bắt cặp với
nhau. Những anh trong ban lãnh đạo công trường khuyên nhắc
tôi: “Thằng Bính dòng dõi hoàng tộc, con vua cháu chúa, nhà
nó chắc nề nếp theo phong kiến lắm, em làm vợ làm dâu không
nỗi đâu!”. Anh em lớn tuổi trong đám công nhân, những người
gắn bó với tôi qua nhiều công trình thì can ngăn: Em coi chừng
bị gạt. Thằng đó là dân thành phố, em lại quê mùa, hai
đứa lại khác nhau tôn giáo, lẽ nào nó lại yêu em, dám kết
duyên trăm năm với em?”. Có người lại nói thẳng: “Chắc
nó chỉ muốn vui chơi qua đường. Hãy thận trọng!”. Tôi
chao lòng. Tôi nghi ngờ anh. Tôi nhìn anh bằng đôi mắt khác,
một đôi mắt dò xét nghi ngại của … công an hình sự.
Nhưng
những người bạn thân với anh thì chỉ nói tốt, nói vào
“\gười ta hiền lành, khiêm tốn, trước kia đã từng là
tăng sĩ…”. Các chị cùng tổ cấp dưỡng với tôi thì khen
nức nở: “Khó tìm được một người yêu như vậy. Sống
lâu ở công trường với nhau rồi, chỉ thấy tính tốt, nếu
giả dối thì đã lộ ra, chớ qua mắt ai được?. Đừng nghe
lời dèm pha mà đánh mất đi một tình yêu quý hiếm!”. Tôi
nghe vậy lại thương anh hơn, quý hơn, và tin mình đã không
sai lầm. Tôi chỉ còn biết một điều: tôi yêu anh chân tình.
Tôi gạt bỏ ngoài tai mọi lời khen chê, nói ra nói vào, để
cho trái tim bé bỏng của mình nói lờ quyết định. Còn anh,
anh chỉ mỉm cười, một nụ cười nhân hậu có thoáng chút
lo lắng, băn khoăn. Anh luôn như vậy, ít nói, nói chắc, và
thường cười. Và anh luôn lững thững, ung dung đi trên mọi
nẻo đường khi người khác tất bật, hối hả. Tôi cũng
là người luôn vội vàng, nôn nóng, đi theo anh mà vượt lên
trước anh, phải mất công đứng lại chờ anh, rồi lại nôn
nóng vượt lên, lại đứng chờ … Nhưng theo anh hằng ngày,
tôi bắt đầu có được sự điềm nhiên, bình tâm trước
mọi tình huống. Nhiều khi tôi làm lửa để thử tuổi vàng
nơi anh, cũng lắm lúc tôi làm ma vương quỷ sứ để thử
cái tâm trong sáng như gương mà anh thường lau chùi. Tuy vậy,
anh thử thách tôi nhiều hơn là tôi thử anh, mà một lần
thử là đáng một lần, nếu quả thật tôi không dành cho
anh một mối tình chân thật, thì tôi đã bỏ cuộc, đưa tay
đầu hàng khi không chịu đựng nổi những thử thách của
anh… Vậy mà tôi đã vượt qua, vượt qua trong kiêu hãnh qua
bao lần anh đưa tôi vào vòng vây của chông gai kỳ dị, đau
khổ… để rồi trở về bình an cả thể xác và tâm hồn,
kề cạnh bên anh như hình với bóng. Hai đứa tôi đã chiến
thắng. Một chiến thắng không dễ khi tôi đã đến chùa làm
lễ quy y Tam Bảo, ở lại một tháng học kinh, làm công quả,
hằng ngày ra vào cõi già lam để nghe lời giáo huấn của
Ni Sư trú trì và các sư cô. Tôi tự nguyện đi theo con đường
Đạo mà mình thấy thích, thấy kính trọng, tuyệt nhiên không
ai dẫn dụ lôi kéo mình. Tôi cũng tự nguyện đi theo anh, tin
ở nơi anh, bằng trái tim luôn mách bảo những điều an lành.
Và,
nụ hôn đầu tiên mà tôi và anh đã trao nhau là nụ hôn mừng
chiến thắng sau thời gian dài thử thách. Tôi nhớ nụ hôn
ấy suốt đời …
Tôi
theo anh về nhà ở thành phố xô bồ, sẵn sàng đương đầu
với những thử thách mới, thử thách làm dâu nhà người.
Có anh một bên, tôi không sợ bất cứ điều gì trên đời,
kể cả nhảy vào lửa bỏng dầu sôi.
Không
có thử thách gì cả ở cái chốn mà tôi lo ngại sẽ gặp
lắm chuyện cay đắng, chát chua. Nhưng tôi cảm thấy lạc
lõng, chơ vơ giữa lối sống ồn ả sôi động của một người
dân thành thị, nhất là những khi không có anh bên mình. Một
thôn nữ cục mịch ngốc nghếch như tôi đã không thể hoà
nhập vào bữa tiệc chung vui đông dảo người thân bên gia
đình chồng. Tôi cũng không thể hít thở cùng một không khí
cởi mở của các cuộc trò chuyện rôm rả, huyên thiên với
các chị em gái của chồng, cũng như các chị em bạn dâu khi
nói về thời trang, về nghệ thuật nấu ăn, về văn thơ nhạc
hoạ … Tôi đâu biết gì mà tham dự. Tôi mù tịt những chuyện
thường tình nhất, cho nên tôi chỉ ngồi nín thinh, gật và
lắc đầu. Nhà chồng ai cũng cho rằng tôi quá thật thà đến
mức khờ khạo. Tôi không phủ nhận điều nhận xét chính
xác ấy. Tôi là vậy. Và chồng tôi thích tôi ở điểm ấy.
Anh cười khi nghe người khác đánh giá tôi như vậy. Anh thích
tôi khờ khạo, bình dị, mộc mạc, vì có như vậy tôi mới
là của chỉ riêng anh muôn đời. Anh sợ một người vợ se
sua phù phiếm. Anh sợ một người đàn bà, một người bạn
trăm năm rành rỏi, ranh mãnh, điêu ngoa, và dễ trở thành
của người khác. Anh yên tâm hơn khi qua một thời gian tôi
về sống chung với anh, ở chung với những người thân của
anh, tôi không hề thay đổi tâm tính, vẫn như thuở hai đứa
mới quen nhau. Anh thích vậy. Nhưng, đã có lờ dèm pha, đàm
tiếu về nàng dâu quê mùa truyền tai nhau từ những phụ nữ
trong nhà. Họ nói tôi đóng kịch. Họ bảo rằng tôi đang
chôn giấu bên trong một lò lửa hung tợn có thể đốt cháy
tam thiên đại thiên giới. Họ bảo rằng tôi đang từ từ
nắm lấy quyền bính từ tay chồng. Họ thêu dệt, tưởng
tượng ra nhiều thứ lắm. Tôi nghe được, tôi buồn đến
bỏ cơm. Anh nghe đựơc, anh cười. Anh xem những lời bóng
gió thêu dệt ấy không bằng một lạng nào. Anh trấn an tôi:
“Những lời gièm pha thêu dệt, ác ngôn vọng ngữ của người
đời, chỉ như những chiếc bambarang vũ khí của thổ dân
Úc, chúng được ném đi và sẽ quay trở về lại nơi chúng
xuất phát!”. Chồng tôi thường đem những điều hay điều
đẹp trong giáo lý nhà Phật ra để nhắc nhở, dìu dắt tôi
giữ vững bước chân của mình mỗi khi tôi gặp tình huống
gay go, căng thẳng. Điều ấy đã an ủi tôi, giúp cho tôi thêm
sức mạnh, sự nhẫn nhịn cần thiết để trụ lại cái chốn
xa lạ đối với mình …
Riêng
mẹ chồng tôi, người mà người ta đồn đại là nghiêm khắc,
là phong kiến số một, là một phụ nữ quý phái và tài hoa,
đối với tôi là một hình tượng thiêng liêng ghê gớm, tôi
sợ đến mức không dám lại gần. Trong khi đó các chị em
bạn dâu của tôi luôn luôn săn đón, lấy lòng bà. Bà thỉnh
thoảng hỏi thăm tôi, chỉ dạy cho tôi nấu các món ăn, không
lạnh nhạt cũng không thân mật. Tôi nghe mọi người, những
người trong giới tăng ni Phật tử, nói nhiều về bà mẹ
chồng của mình. Bà rất nổi tiếng. Bà là một Phật tử
thuần thành, một nữ thi sĩ đã tặng cho đời vài bài thơ
bất hủ, một nhiếp ảnh gia của chùa chiền lễ hội. Người
ta khen bà đạo hạnh, nghiêm trang, quý phái, tài hoa. Và người
ta vì ghen ghét đố kỵ, nên cũng chê bà là hà khắc, là cổ
hủ phong kiến, là kiêu ngạo khinh người. Tôi nghe hết, và
nhớ lòng. Có một bà mẹ chồng như lời người ta đồn đại
như vậy, hỏi một thôn nữ khờ khạo như tôi tránh sao không
kinh sợ? Tôi sợ bà lắm.
Khi
tôi sinh được đứa con đầu lòng, đứa con mang họ hoàng
phái, mẹ chồng tôi rất thương cả tôi lẫn cháu nội của
bà. Bà gần gũi hơn, thân thiện hơn trước. Bà thường bảo
ban, chỉ dạy cho tôi cách nuôi dạy con khoẻ, con ngoan. Từ
ngày có con, chồng tôi làm việc hăng say hơn, thu nhặt nhiều
thành công hơn trên văn đàn, trên làng báo. Tôi chỉ việc
nuôi con, chăm lo cơm nước. Mẹ chồng tôi rất vui mừng khi
thấy hai vợ chồng tôi sống êm ấm. Bà thường ghé lại
tổ ấm của chúng tôi, động viên khích lệ, khuyên răng đủ
điều, chăm lo từng chuyện nhỏ nhặt, chỉ cốt cho hai vợ
chồng tôi được thêm sinh khí, được thêm lòng tin yêu cuộc
sống. Khoảng cách giữa tôi và mẹ chồng, một khoảng cách
mà trước nay chính tôi đã giữ lấy một cách thận trọng,
đã dần dần được rút ngắn. Chắc chắn rằng ai đó trong
gia đình, nếu có lòng ghen ghét tôi từ trước, sẽ phải
nổi cơn ganh tức khi biết mẹ chồng tôi đã và đang gần
gũi với người con dâu quê mùa cục mịch. Nhưng chẳng ai
biết được điều ấy. Vì mẹ chồng tôi rất kín đáo, tế
nhị. Chồng tôi giống rặt tính của bà, không nói nhiều
mà lặng lẽ làm. Chỉ có tôi biết bà thương tôi đến mức
nào. Chồng tôi cũng chẳng hay, anh chỉ biết được chuyện
khi tôi kể lại vào những lúc nằm bên nhau …
Tôi
còn nhớ, sáng mồng một Tết năm ấy, hai vợ chồng tôi chưa
kịp áo quần cho chỉnh tề để đi chúc thọ mẹ, thì mẹ
chồng tôi đã bước vào phòng riêng của chúng tôi trong chiếc
áo dài đơn giản mà sang trọng. Bà ghé trước khi đi lễ
chùa đầu năm. Một cái nhìn âu yếm, một nụ cười nhân
hậu, cũng đủ làm cho tổ ấm của chúng tôi như vừa được
vuốt ve ấm áp. Bà không đợi dâu con chúc tụng, mà mở lời
chúc trước. Chồng tôi ôm hôn mẹ. Bà quay sang tôi, đưa tay
khẽ kéo đầu tôi về phía bà. Và, bà hôn một nụ hôn lên
trán tôi. Bà bước đi, lặng lẽ, không nói thêm một lời
nào. Tôi bàng hoàng, nghẹn ngào với hạnh phúc râm ran. Vâng,
mẹ chồng tôi đã hôn tôi. Chỉ có chồng tôi tin, vì anh chứng
kiến. Tôi kể, tôi khoe với hàng xóm quê tôi, một trăm người
hết một trăm người không tin, và hết một trăm người đều
trả lời là “chưa hề được mẹ chồng hôn bao giờ”.
Họ cho là chuyện viễn tưởng, trong mơ cũng khó có được.
Nhưng tôi đã được.
Và,
tôi mang nụ hôn này suốt đời, chết cũng mang theo …
CON
THẦY HIỆU TRƯỞNG
Năm tôi học lớp 6, thi đậu vào trường công, thay vì học
ở trường đó cho “le lói”, tôi lại theo học tại một
trường tư vì không tốn một xu học phí và lệ phí nào.
Trường tư thục Văn Hóa đối với tôi là trường nhà. Trường
nhà vì ông hiệu trưởng chính là… cha tôi. Tôi được diễm
phúc làm con trai một vị thầy tài đức song toàn, làm một
quý tử hiệu trưởng nghiêm khắc, đường bệ. Nhưng thay
vì tôi phải luôn luôn chứng tỏ, luôn luôn giữ gìn cho mọi
người nhìn thấy tôi là một học sinh con nhà gia giáo, thì
tôi lại dương dương tự đắc, kênh kiệu, ỷ dựa vào thế
thần của cha mà muốn bắt mọi người phải nhìn tôi bằng
đôi mắt đầy sự kiêng dè nể nang.
Mà thiệt, suốt mấy năm học lớp 6 đến lớp 7, lớp 8…
cả bạn bè cả thầy cô trong trường đều dành cho tôi một
kiểu đối xử đặc biệt. Đối xử dành cho “con ông cháu
cha”, dành cho kẻ có cái quyền lực vô hình”bất khả xâm
phạm”. Chưa từng có một thầy hay cô giáo dám dùng roi vọt
với tôi, thậm chí còn chưa dám dùng lời to tiếng nặng để
khiển trách đưa học trò vốn là con trai ông hiệu trưởng.
Thầy cô mà còn vậy, nói gì chúng bạn cùng lớp, và ngay
cả học sinh lớp khác, lạng quạng là ra khỏi trường, từ
giã học đường ngay. Có lẽ, ai cũng nghĩ vậy, sợ vậy,
nên đã dung túng, đã vô tình khuyến khích cho tôi ngang bướng,
nghịch ngợm láu cá… mà cha tôi chẳng bao giờ được nghe
một lời tham phiền, trách móc, mắng vốn về cậu quý tử
của ông. Cha tôi chỉ lưu ý đến việc học lực của con
trai mà không nắm rõ về hạnh kiểm của nó. May mà tôi chưa
đến nỗi nương dựa bóng râm của cha mà học hành nhếch
nhác. Tôi học cũng khá lắm. Chưa hề có một điểm nào dưới
6. Về môn văn thì số một. Cho nên cha tôi rất lấy làm an
tâm về cậu con. Khi ở nhà, ông thường gặp hỏi tôi về
bài vở trước khi đến trường, và thường giao cho các anh
chị của tôi dò bài, kiểm tra sách vở của tôi rất đều
đặn, gắt gao. Học thì chẳng thua bạn nào, còn có nghịch
ngợm, láu cá thì bạn nào cũng chịu thua xa. Tôi quen đến
thành thói, đến nỗi các bạn đặt cho tôi biệt danh là Ý
Lỳ. Được gọi bằng biệt danh ấy, tôi khoái chí lắm, khoái
lắm.
…
Năm tôi học lớp 9, trường có thêm nhiều giáo sư về dạy.
Hồi đó thầy cô bậc trung học được gọi bằng giáo sư.
Còn giáo viên chủ nhiệm thì hồi đó gọi là giáo sư hướng
dẫn. Giáo sư hướng dẫn lớp 9B, lớp tôi học, là cô giáo
mới toanh đối với trường Văn Hóa, nhưng đối với ngành
giáo dục trong thành phố thì trên tuổi của cô quá quen thuộc.
Cô nổi tiếng dạy hay, dạy giỏi, dạy nghiêm. Nói về môn
Toán thì phải nghĩ ngay đến cô Hương Diệu, tên của cô.
Chính vì vậy mà cha tôi đã đích thân đến tận nhà cô,
như Lưu Bị cầu Khổng Minh vậy, để thỉnh mời cô dành
chút ít thời giờ vàng ngọc về gánh bớt trách nhiệm giảng
dạy môn Toán dùm cho trường Văn Hóa. Chừng như có thêm tên
cô trong danh sách những giáo sư giảng dạy ở trường, đã
làm cho uy tín của trường tư thục mà cha tôi là “chủ nhân”
được tăng lên một mức đáng kể.
Ngay
từ giây phút đầu nhìn thấy cô Hương Diệu, khi cô bước
vào lớp 9B trong giờ học Toán đầu năm với nét mặt trầm
tư, nghiêm nghị, tôi đã có một cảm giác lạ lùng. Tôi linh
cảm mình sẽ gặp chuyện rắc rối với cô giáo mới toanh
này. Tôi cho đó là “điều kỵ”, một thứ điện của giác
quan thứ sáu đã báo cho biết sự xung khắc giữa tôi và cô
giáo. Nhưng chỉ linh tính vậy thôi. Gì thì gì tôi vẫn là
con trai của ông hiệu trưởng kia mà! Cô chân ướt chân ráo
tới trường này, nên chưa biết rõ điều đó. Chưa biết,
rồi sẽ biết.
…
Cô đang giảng bài say sưa. Cả lớp lắng nghe. Tôi cũng vậy,
cũng lắng nghe. Chợt, thằng Hưng ngồi sau lưu tôi đã “đánh
rắm công khai” một phát rõ to. Hơn nửa lớp làm bộ không
nghe biết, cứ dán mắt lên bảng. Số còn lại, trong đó có
tôi, đưa tay bịt mũi, bụm miệng cười khúc khích. Cái tật
nghịch ngợm cố hữu trong tôi động đậy, đó là cái tật
muốn “chơi nổi”, muốn thiên hạ phải chú ý tới mình,
muốn bạn bè phải cười vì cái kiểu cù léc làm bộ ngây
thơ của mình. Cô giáo vẫn thản nhiên tiếp tục bài giảng,
chẳng để ý làm gì chuyện “bất lịch sự” vừa xảy
ra. Sự cố kém tế nhị, thiếu văn minh đó đáng lý sẽ được
cho qua luôn một cách dễ dàng. Nhưng, tôi xoay lưng, chồm người
ra sau, đưa tay thụt nhẹ thằng Hưng một cái “dằn mặt”.
Chưa hết, tôi đứng thẳng, vòng tay lại thưa:
-
Thưa cô, trò Hưng vừa chơi xấu trong lớp, thúi quá… chịu
không nổi, cô cho em ra ngoài thở một chút ạ!
Cả
lớp đương nhiên không kềm được trận cười rần rần
như… bãi rạpï hát. Cô Hương Diệu quay phắc lại. Ánh mắt
cô rực lên giận dữ. Vẻ mặt cô nghiêm trang đến lạ lùng.
Cô đang chăm chăm nhìn tôi, nhìn xoáy vào tôi, Tôi hơi sợ,
nhưng làm bộ thản nhiên, vẫn cứ đứng vòng tay chờ đợi
“cô cho phép ra ngoài”. Cả lớp bỗng im phăng phắc. Cô
đã rời khỏi bục giảng, thủng thẳng bước xuống, tiến
đến chỗ tôi. Cô chau rồi cất giọng trầm trầm:
–
Em vừa thưa gì? Lặp lại cho cô nghe, cho cả lớp nghe!
Tôi
tỏ ra “anh hùng”, cố giữ giọng bình thản lặp lại to”kiến
nghị” khi nãy không sai, không thiếu một từ. Cô Hương Diệu
nhìn thẳng vào mắt tôi rồi buông giọng sắc ngọt:
–
Em bước ngay ra khỏi lớp. Quỳ ngoài hiên cho đến hết giờ,
rồi tôi sẽ tính sau!
Tôi
đỏ mặt tía tai. Tức lắm. Làm mặt lì, tôi đứng yên một
chỗ, mắt đưa nhìn lên trần nhà. Cô giáo gằn giọng:
–
Có nghe hay không? Bước ra ngay!
Tôi
không kềm được lòng buột miệng:
–
Cô đụng tới em… sẽ “có chuyện” đó!
Cô giáo sững sốt, hỏi:
–
Sao? Em em vừa nói gì? Hăm dọa tôi à?
Tôi
biết mình đã lỡ lời, bèn im miệng. Ai dè, thằng Hưng phía
sau tôi ngứa miệng:
–
Bạn Ý là con của thầy hiệu trưởng đó cô ơi!
Cô
giáo nhìn xoáy vào mắt tôi:
–
Con thầy hiệu trưởng à? Hứ, con của ông tổng thống, tôi
vẫn đuổi ra khỏi lớp vì tội vô lễ. Em bước ra ngay, hay
chờ tôi mời thầy giám thị vào tận nơi đây?
Nghe
giọng cương quyết của cô, lần đầu tiên tôi biết sợ
hãi lệnh của một vị giáo sư, bèn xìu mặt, hết lộ vẻ
bướng lì. Mặt tôi chảy xệ xuống ngực, và… tôi dợm
bước. Cô giáo đi sau lưng tôi, tôi đến cửa lớp, cô bảo:
–
Quỳ xuống đó đi, cho đến hết giờ!
Tôi
bắt đầu run hai tay, hai chân. Run, không biết vì sợ hãi nhiều
hơn, hay vì tức giận nhiều hơn. Tôi mà quỳ ở đó, nếu
cha tôi mà tình cờ thấy được chắc là… mệt. Chỉ còn
cách cúi lạy mà xin cô giáo tha lỗi, cho vào ngồi lại trong
lớp, hay quỳ trong lớp cho kín đáo một chút cũng được.
Nhưng, tôi mà xin lỗi người khác à? Chuyện khó có. Tôi đang
lưỡng lự, cô giáo lại giục:
–
Sao chưa chịu quỳ đi, hả? Đừng làm phí thời giờ của
tôi, của các bạn mình!
Tôi
nóng mặt, buột miệng nói:
–
Còn khuya!
Dứt
lời, tôi bước te te thẳng đến Văn phòng Ban giám hiệu.
Cha tôi đang ngồi xem sổ sách với cô thư ký. Tôi bước thẳng
đến đứng trước ông, làm mặt buồn rười rượi, thưa:
– Ba, xin cho con vào lớp lại đi. Cô giáo đuổi con, còn bắt
con quỳ ngoài cửa lớp nữa!
Cha tôi ngạc nhiên trong giây lát, trầm giọng:
– Con chỉ có kể khúc đuôi mà không kể khúc đầu. Tại
sao cô lại phạt kia chứ? Không làm bài? Hay không nghe giảng
bài?
Tôi lúng búng kể lại đầu đuôi tự sự với cái giọng
yếu xìu. Dĩ nhiên là tôi không dám thuật lại những chi tiết,
trong đó có những lời lẽ ngôn từ của tôi đã dùng đối
đáp với cô. Nghe xong, cha tôi trợn mắt tức tối. Ông đứng
bật dậy. Bốp, một cái tát nảy lửa vào mặt tôi. Tôi chuệnh
choạng. Ông lại nắm lấy tai tôi mà vặt tréo, kéo tôi đi.
Đi từ văn phòng giám thị băng qua sân, qua nhiều lớp học,
đến lớp tôi. Cô Hương Diệu nhìn từ xa, thấy cảnh cha
con tôi vội ngưng giảng bước ra đến cửa. Cha tôi khẽ chào
cô giáo, nghiêm trang nói:
–
Nó mất dạy, cô tha lỗi cho. Tôi cảm ơn cô đã dạy cho nó
biết lễ nghĩa, trước khi biết chữ nghĩa!
Ông
quay mặt nhìn tôi, giọng đanh thép:
–
Quỳ xuống ngay. Và xin lỗi cô giáo mau, đồ vô giáo dục!
Tôi
tái mét, run rẩy quỳ xuống như con cừu non ngoan ngỗn, rồi
cất giọng nghèn nghẹn xin lỗi cô giáo. Cô Hương Diệu vẫn
nghiêm nghị, nói:
–
Thôi được rồi, cho em đứng dậy và vào lớp học!
Nhưng
cha tôi lên tiếng:
–
Chưa được, cô cứ để cho nó quỳ đến hết giờ học,
làm gương cho cả lớp và cả trường. Xin phép làm phiền
cô năm phút nữa, cho tôi được nói vài lời với các em trong
lớp!
Tôi quỳ đó. Cô giáo đứng ngay cửa ra vào. Ông hiệu trưởng
vào trong lớp. Ông mở đầu một bài giảng dạy về giáo
dục công dân, bằng câu “Không thầy đố mày làm nên”,
rồi lại “thuyết pháp” như một vị cao tăng giáo thọ
nói về “Tứ Trọng Ân” theo kinh điển nhà Phật bằng một
giọng hết sức nghiêm nghị và đầy cảm xúc… Cả lớp
im thin thít lắng nghe. Tôi cũng lắng nghe, và tỉnh ngộ ngay
trong giờ phút hai đầu gối của mình đang đụng đất, đầu
thì đang hứng cái nắng gay gắt chói chang. Tôi đã từng rất
nhiều lần nghe cha tôi thuyết giảng về giáo lý nhà Phật
mà ông, cũng như mẹ tôi, đã thấm nhuần từ bao năm đến
chùa tu học, tham gia sinh hoạt Phật sự. Nhưng đây là lần
đầu tiên tôi mới biết lắng nghe, càng lắng nghe càng thấy
quá hay, quá cảm động, và quá thuyết phục. Tôi hoát nhiên
tỉnh ngộ, đầu óc sáng bừng lên trong niềm xúc động dạt
dào. Sau này lớn khôn già dặn lên, khi nghiên cứu tìm hiểu
kỹ và sâu vào giáo lý nhà Phật, tôi mới hồi tưởng và
ngẫm thấy hồi đó, khoảnh khắc lạ lùng đó, mình y như
một vị thiền sư vừa được ngộ đạo, vừa phá giải được
một công án Thiền vi diệu.
Tôi thấy tôi đáng đời, đáng phải quỳ suốt đến ba ngày
vẫn chưa hết tội mình. Xong bài giảng, cha tôi chào cô giáo,
đi về văn phòng. Khi ngang qua chỗ tôi đang quỳ, ông không
liếc một chút chứ đừng nói là nhìn. Ông vừa khuất sau
dãy hành lang, cô Hương Diệu đã bước lại đỡ tôi đứng
dậy, hỏi:
–
Em đã chừa chưa?
–
Thưa cô… em biết lỗi. Em hứa sẽ không bao giờ tái phạm…
–
Em có oán hận cô chứ?
Tôi
ấp úng nói thật lòng:
–
Thưa … em không oán hận… mà có biết ơn cô!
Cô
mỉm cười tươi tắn, cho phép tôi vào lớp. Từ đó, tôi…
“tu”, tu đến già.
…
Cha tôi qua đời cách đây đã hai mươi năm vì một căn bệnh
người già. Còn cô Hương Diệu đã đi xa bởi chứng bệnh
lao phổi tai ác cách đây mười tám năm. Đó là hai vị ân
sư của tôi, luôn luôn còn sống trong tâm tưởng, trong tim
tôi với tấm gương chói ngời một bài học quý giá vô ngần
về tôn sư trọng đạo.
CUỘC
SỐNG NHIỆM MẦU
“Một
nhà chung chạ sớm trưa
Gió
trăng mát mặt, muối dưa chay lòng”
(Truyện
Kiều- Nguyễn Du)
Tôi
tìm được đến chùa. Chùa tranh vách đất hiền hoà nằm
giữa bốn bề cây lá xanh tươi, hoa thơm cỏ lạ. Tôi gặp
sư ỉtú trì. Ngay sau đó, một hợp đồng miệng đã được
ký kết: tôi chính thức trở thành thầy giáo của trên ba
mươi học sinh nghèo mù tịt chữ nghĩa của một vùng hẻo
lánh đìu hiu...
…
Dạy học được một năm, một năm dài đăng đẳng mà thấm
thoát, khổ sở mà an lạc, thiếu thốn mà no nê, tôi tin tưởng
vào chính mình, tin tưởng vào kết quả đã gặt hái được
khi hết thảy học trò của tôi đều biết đọc, biết viết
thành thạo. Trong số những người đã biết viết đọc ấy,
có một người đã biết viết và dám viết´ “Em yêu thầy”
vào một mảnh giấy nhỏ, rồi lén lút vào tận phòng riêng
của tôi để đặt dưới gối nằm. Dưới ba chữ viết rõ
to, được nắn nót từng ly ấy, lại thấy ký cả tên đầy
đủ: Lưu Thị Kim Hương. Tôi nhận được thư vào một đêm
trăng sáng, ngẩn ngơ, rung động, trằn trọc suốt đêm với
nỗi lo và niềm vui đan xen.
Kim
Hương là học trò xuất sắc nhất trong số ba mươi học trò
của tôi. Thông minh, nhanh nhạy, mạnh dạn và chăm chỉ. Kim
Hương đang tuổi đôi mươi, một đoá hoa chớm nở, trong trắng,
tính tình hiền hậu và chân chất. Tôi cũng như bao thầy cô
giáo khác thường cưng học trò ngoan trò giỏi nhất lớp,
nên Kim Hương được sự lưu tâm đặc biệt của tôi. Và,
tôi được đáp trả. Lắm khi tôi chột dạ khi Kim Hương tranh
thủ những giờ rãnh rỗi vào phòng quét dọn, giặt giũ đồ
đạc cho tôi. Nhìn trong ánh mắt tròng đen lay láy của Kim
Hương, nhiều khi tôi đã đọc được những lời người con
gái mộc mạc muốn nói. Nhưng tôi làm lơ, cố lãng quên đi,
và tự nhũ mình suy đoán một chuyện còn mơ hồ. Lá thư tối
hậu ngắn gọn của người con gái ấy đã khẳng định một
tình cảm mà tôi từng cho là sản phẩm của trí tưởng tượng.
Bắt đầu tôi run sợ, lo lắng. Tôi nghĩ đến thân phận tay
trắng bấp bênh của mình. Tôi nghĩ đến hoàn cảnh nghèo
của Kim Hương. Tôi nghĩ đến vị trí người thầy giáo miền
quê vốn được học trò, bà con trong hai thôn ấp tôn sùng,
kính trọng và yêu mến như một thần tượng. Tôi cũng nghĩ
đến sự quan tâm tin tưởng của các sư sãi chốn già lam
đã dành cho tôi suốt bao tháng ngày tôi sống ở chốn tu hành
thanh tịnh. Thanh tịnh thật là thanh tịnh. Đó là những tháng
ngày tôi mới được thấm thía niềm hạnh phúc an lạc qua
từng giây phút sống với thực tại. Tôi cảm nhận, thấy
và nắm bắt, sờ mó được sự mầu nhiệm của cuộc sống.
Sự mầu nhiệm ấy không ở đâu xa, không phải ở trên trời
cao xa vời huyền ảo, mà ở ngay nơi từng cơn gió trong lành
thổi qua mặt mũi mình, hay ngay trong từng đêm trăng sáng vằng
vặc soi rọi xuống những con đường đất ở vùng quê yên
ả mình đang đi qua, và ngay nơi từng chén cơm chay của nhà
chùa chỉ toàn là rau dưa, muối ớt, đậu hủ, tương chao…
Bình dị nhưng đầy đủ, thanh đạm mà thanh tao, không lo lắng
ưu phiền, không ham muốn khát vọng để rồi phải chật vật
hối hả chạy theo cho kịp thiên hạ. Trăng thanh gió mát không
tốn tiền, cơm chay thiểu dục tri túc, được làm việc đúng
với sở trường của mình, sự mầu nhiệm của cuộc sống
nằm những nới ấy. Chính vì vậy mà khi nghĩ đến chuyện
Kim Hương, tôi lại sợ hãi, nhưng cũng bồi hồi xao xuyến.
Những buổi dạy sau đó, sau khi nhận được bức thư chân
tình kia, tôi bỗng ngượng ngùng, thấy như mình vừa phạm
tội lỗi nào đó. Tôi lại rùng mình khi bất chợt bắt gặp
cái nhìn đau đáu của cô học trò xoáy mạnh vào mắt tôi.
Hạnh phúc, xao xuyến. Nhưng tôi phải miễn cưỡng chạy trốn
ánh mắt đang mang nỗi khát khao, đang muốn hỏi và chờ đợi
hồi âm, của người học trò miền quê chân chất.
Đêm
trăng mười sáu, sau buổi lể Phật, từng phật tử rời chùa
về nhà, có một người nấn ná ngoài sân vườn sau, tìm vào
tận nơi tôi đang nằm nghĩ mông lung. Tôi bàng hoàng như đi
vào chiêm bao mộng mị với trái tim rạo rực, thổn thức
…
-
Thầy có đọc thư em không?
Cô
thôn nữ thản nhiên hỏi. Giọng không chút ngượng ngùng.
-
Có.
Tôi
chỉ biết đáp vậy. Rồi nhìn. Bên ngoài im ắng lạ thường.
-
Thầy nghĩ sao?
Lại
một câu hỏi thản nhiên như hỏi một cộng một bằng mấy.
-
Chữ đẹp, không sai chính tả.
-
Không, em không hỏi về chữ nghĩa. Em hỏi về ý tứ.
Tôi
muốn giả nai nhưng không giả được. Giải đáp thật dễ
dàng, nhưng tôi không thấy dễ. Cô gái đứng trước mặt
tôi, mắt nhìn đâm thẳng vào mắt tôi với quyết tâm mãnh
liệt, không nói và chờ đợi. Tôi nghe cả hơi thở, cả tiếng
đập của trái tim người đối diện, lẫn cả của mình.
Cô gái nắm lấy bàn tay tôi, xiết nhè nhẹ. Tôi cứ đứng
thộn người ra đó mà tiếp nhận một cảm giác ấm cúng
dào dạt đang chảy vào nhục thể. Trăng sáng lạ thường,
và trái tim tôi cũng lạ thường hơn bao giờ hết. Lời tôi
thốt ra cũng thật lạ thường:
-
Thầy cảm ơn em. Cảm ơn rất nhiều. Thầy vô cùng xúc động
…
Dường
như cô gái chỉ chờ có bấy nhiêu đó, chờ từ bao thế kỷ
qua, vội bóp lấy bàn tay tôi, giọng nhỏ nhẹ nhưng khát khao:
-
Thầy có hôn em không? Hôn em đi. Hôn xong, em về liền!
Tôi
run lên, choáng váng mặt mũi. Cô gái ghé đầu lại sát bên
mặt tôi, mắt không hề chớp. Tôi ngửi được mùi hương
của bồ kết. Mùi hương của hoa và cỏ ngạt ngào. Tinh khiết
làm sao! Tôi vừa khám phá và xác định một điều: tôi yêu
mến cô gái. Nhưng liệu có phải là tình yêu nhất thời?
Đang còn băng khoăn giữa ngã ba của trái tim bao năm trời
ngủ vùi nơi thâm sơn cùng cốc, nơi đồng không mông quạnh,
bất chợt tôi giật nẩy mình. Tôi vừa nhìn thấy một bóng
người vụt ra cửa ra vào. Bóng người lướt nhẹ băng ra
sân vườn đầy ắp ánh trăng. Tôi gỡ tay cô gái ra một cách
vụng về, trong lòng có chút tiếc nuối, nói khẽ:
-
Em đi về. Coi chừng thầy ỉtú trì thấy được thì … mệt!
-
Thầy thấy thì đã sao? Yêu đương là tội lỗi sao, thầy?
-
Ừ. Tội lỗi tày trời em à …
-
Em nghĩ, hận thù nhau mới là tội lỗi. Yêu là đem lại hạnh
phúc cho nhau, làm phước cho nhau!
Tôi
phì cười, lắc đầu ngao ngán nói:
-
Thôi được rồi, bây giờ không phải là lúc đứng đây tranh
cãi. Em hãy về đi. Chỉ cần nhớ là thầy ghi nhận tình cảm
quý báu của em. Em hãy về, và nhớ chỉ lo học, và học cho
thật giỏi. Chuyện kia … tính sau. Thầy thấy còn … quá
sớm!
-
Thì thầy cứ hôn một cái đi, em về liền mà!
-
Hôn làm gì? Tưởng tượng cho đỡ đi. Chừng nào thầy chính
thức trả lời, thầy sẽ trao đúng món mà em yêu cầu.
Kim
Hương ngần ngừ giây lát, rồi bất ngờ chụp lấy bàn tay
tôi, hôn thật mạnh. Tôi nghe tiếng nụ hôn vang lên như tiếng
sét giữa bầu trời đêm trăng vắng lặng. Cô gái biến mất.
Đêm ấy tôi không ngủ. Tôi cười một mình cả đêm. Cười
rồi lại lo, lại buồn khổ vì dằn vặt. Có một điều tôi
chưa nói ra cho cô gái biết: bóng người thấp thoáng ngoài
kia khi nãy, tôi đã kịp nhận ra là ai. Đó chính là Hưng,
chàng nông dân hiền lành cùng ấp với Kim Hương. Tôi đã
từng được nghe loáng thoáng về mối tình đơn phương của
chàng trai cần mẫn này. Hưng rất nhút nhát, nên cứ ôm một
tình yêu lặng lẽ, đã bao tháng ngày mơ tưởng đến người
con gái từng đùa chơi, từng lớn lên với chàng nơi mảnh
đất
khỉ ho cò gáy buồn hiu. Dường như cha mẹ hai bên, hàng xóm
láng giềng cũng đã có lời bóng gió muốn kết se cho đôi
lứa. Nhưng, cô gái mộc mạc cứ mãi dửng dưng, xem Hưng luôn
là một người bạn thân, cứ “mày tao” như thuở còn nhỏ.
Tôi cũng đã từng được nghe nói rất nhiều về những trận
ngã bệnh vì tương tư trầm trọng của chàng trai. Tôi cũng
đã dò xem cử chỉ và thái độ của Hưng vào những giờ
học. Hưng thường nhìn lén Kim Hương. Mỗi khi tan học, Kim
Hương luôn luôn là người về sau, vì cô gái còn ở lại
quét dọn phòng lớp. Nhưng Hưng còn về sau hơn nữa. Anh chờ
đến khi cô gái đi về nhà, mới chịu lọt tọt đi sau, giữ
khoảng cách dài chừng mười bước chân. Thật tội nghiệp.
Tôi nhớ lại những câu chuyện ấy, trằn trọc thâu đêm,
tự nguyện bước ra toà án của trái tim mình, và quyết định:
rút lui.
Rút
lui, không phải dễ. Nhiệm vụ của tôi chưa hoàn thành, các
học trò của tôi chưa ai viết thông suốt một bức thư dài,
và điều quan trọng nhất là tôi rút lui về đâu? Nếu cuốn
gối mà đi, tức là đã chấp nhận những tháng ngày lang thang
tìm kế sinh nhai như thuở trước khi đến dạy nơi trường
chùa này. Tôi đành phải ở lại nơi mà mình khổ công tìm
được, dù nơi ấy đang xôn xao xì xầm những lời dị nghị
quanh một “chuyện tình tay ba”. Dĩ nhiên lời dị nghị này
cũng đến tai các sư sãi trong chùa. Sư ỉtú trì cũng đã
hỏi tôi về chuyện ông nghe được, và tôi không giấu diếm
một tình tiết, suy nghĩ nào. Tôi đã bao lần khuyên lơn cô
gái hãy đón nhận và đáp trả tình yêu với chàng trai thật
thà kia. Tôi tìm đủ mọi cách, kiếm cớ cho Hưng và Kim Hương
gần gũi nhau, gặp gỡ, trao đổi với nhau chuyện bài vở
ở lớp học. Đủ kiểu cách, nhưng đều thua. Cô gái vẫn
khăng khăng: “Em không thể sống thiếu anh!”. Khổ vậy.
Hơn ba năm vật lộn với cái khổ tinh thần, với tình cảnh
nan giải ấy, tôi cũng quen dần, và chừng như cô gái cũng
đã nhận ra sự dứt khoát chối từ nơi tôi, nên nàng cũng…
xìu, xìu dần. Nàng thân thiện với Hưng hơn trước. Thân
thiện nhưng cũng chưa gắn bó. Vẫn còn những là thư dài
lén lút đặt dưới gối tôi nằm. Hưng cũng viết thư tâm
sự nhỏ to với tôi, người thầy kiêm… tình địch của
chàng. Dù chưa thật lòng muốn lắm, nhưng cuối cùng do nhiều
nguyên nhân tôi cũng đành phải bí mật rút lui, chào tạm
biệt ngôi chùa kính yêu, mái trường mái tranh vách đất thân
thương, và vùng đất đầy kỷ niệm. Tôi đã không quên để
lại bức thư cho học trò, thư riêng cho Kim Hương, và cho Hưng…
Năm
trước, tôi có viết thư liên lạc với thầy ỉtú trì, được
biết một tin vui: Hưng và Kim Hương đã kết hôn. Cuộc sống
sôi động trôi đi …
Hôm
nay, với tư cách là một thầy giáo ở thành phố xô bồ đi
nghỉ ngơi thư giãn dịp hè, tôi trở về vùng đất kỷ niệm
mà tôi thầm nhận làm quê hương thứ hai của mình. Tôi ghé
vào thăm ngôi chùa xưa trước, vấn an các sư sãi, tham quan
ngôi trường tường gạch ngói đỏ được xây dựng đã năm
năm qua do chính quyền địa phương và phật tử trong vùng
đóng góp. Trường nằm trong khuôn viên của chùa, ở phía
sân sau, nơi trước kia có gian tịnh thất dành tôi trú thân
một thời gian dài. Gian tịnh thất ấy không còn nữa, và
cảnh vật chung quanh cũng đã thay đổi rất nhiều… Lòng
tôi vui vui ngắm nhìn ngôi trường mới, mừng cho các em các
cháu được học hành thuận lợi đầy đủ hơn xưa kia, nhưng
trong sâu lắng tận đáy lòng lại buồn buồn khi thấy vắng
bóng những cảnh cũ thân quen… Thôi, đã qua hết rồi thời
khăn khó nghèo nàn, phải lật những trang sách mới, những
trang vở mới để ngày càng thấy rõ sự nhiệm mầu của
cuộc sống đi thôi!
Cuối
cùng, tôi tìm đến tổ ấm của các học trò xưa. Hưng nhảy
cẩng lên, reo vui ôm chầm lấy tôi. Kim Hương cũng không chút
ngượng ngùng, trao đứa con nhỏ đang bồng trên tay qua cho
chồng, rồi sà vào lòng tôi trong nước mắt ràn rụa. Tôi
cũng không kềm được tình cảm của mình, ôm cả hai vợ
chồng vào lòng mà xiết chặt, nghẹn ngào không thốt nên
lời. Kim Hương trách móc:
-
Sao thầy không đi luôn, còn quay lại đây làm gì?
Tôi
không biết nói sao, chỉ còn biết cười trừ.
Ngoài
kia, trời chuyển dông từ khi nào rồi. Một tiếng sét ầm
vang giữa trời không mù mịt mây đen. Tôi lại nghe như tiếng
kêu rõ to của nụ hôn của cô học trò lên bàn tay của thầy
giáo năm xưa… Mưa đã đổ xuống ào ào như đón chào ngày
trở lại của tôi ở vùng đất đã có nẩy sinh một tình
yêu thật đẹp. Ôi… cuộc sống thật nhiệm mầu làm sao!
Tôi mỉm cười. Không một ai hiểu được nụ cười của
tôi. Không một ai trên thế gian này, ngoại trừ cô học trò
dễ thương của tôi.
ĐẤT
LÀNH CHIM ĐẬU
Sau gần mười năm ở đậu ở nhờ, nay thì nhà mướn, mai
thì nhà thục, cuối cùng ba mẹ Hưng đã mua được một căn
nhà bằng số tiền dành dụm chắt chiu, tích tiểu thành đại.
Một căn nhà riêng, một thế giới tự do, đó là mơ ước
lớn lao của một đời người, của những người nghèo lương
thiện làm ăn bằng đôi bàn tay trắng như ba mẹ của Hưng,
và đó cũng là một giấc mơ khổng lồ đã trở thành trở
thành hiện thực đối với Hưng, gần như là huyền hoặc
không tưởng.
Căn nhà có diện tích nhỏ thôi, nhưng nhờ có gian gác đúc
tận dụng khoảng không, nên đối với một gia đình gồm
ban người, ba, mẹ, Hưng và bé Hằng, thì thật là rộng rãi,
thậm chí còn thấy thênh thanh, mênh mông, chứ không như bao
năm cả gia đình phải chiu rúc co ro trong những căn phòng ẩm
thấp tối tăm, chật chội đến nỗi không không có chỗ để
bài trí một góc học tập cho Hưng và bé Hằng. Sướng nhất
là bây giờ Hưng và bé Hằng có quyền nói lên ba tiếng “nhà
của mình” mà xưa nay chưa từng được nói, hoặc có lỡ
nói vậy thì sẽ bị người ta bắt bẻ “nhà nào là nhà
của mày ?”. Chưa bao giờ Hưng thấy ba vĩ đại, thấy mẹ
khổng lồ như hôm nay. Ba thật oai phong hùng dũng như một
vị đại tướng quân vừa thắng trận trở về. Mẹ thật
kiêu hùng thánh thiện như một nữ tướng vừa trở về trong
khúc khải hoàn. Mua được căn nhà, đó chính là một chiến
tích chói lọi và vang rền. Bởi, Hưng thừa biết, đủ thông
minh để hiểu rằng ba mẹ phải chịu hi sinh biết bao mồ
hôi, nước mắt, và cả máu suốt mười mấy năm trời tần
tảo gian truân, nhịn ăn nhịn mặc, chắt bóp dè xẻn từng
đồng chi tiêu trong gia đình, để gom góp tích lũy những giọt
mồ hôi tạo thành một biển hồ mênh mang như ngày hôm nay.
Điều làm cho Hưng kính phục nhất, đó là ba mẹ tiết kiệm,
đôi lúc đến mức hà tiện để cho người ta chê cười là
“đồ keo kiệt bủn xỉn”, nhưng với việc học tập của
hai đứa con mình, hay chuyện giúp đỡ người hoạn nạn nghèo
khó, thì cả hai người đều tỏ ra hào phóng, rộng rãi. Ba
từng nói: “Với chuyện học thì đầu tư bao nhiêu cũng không
đủ, và đầu tư bao nhiêu cũng chớ tiếc nuối. Còn chuyện
nhường cơm sẻ áo với những người sống quanh ta, tuy là
đem muối bỏ bể, nhưng đó là tấm lòng biết yêu thương
của mình!”. Mẹ từng bảo: “Những đồng tiền được
tiêu cho chuyện học hành thì không bao giờ là uổng phí và
vô ích cả. Còn tiền đem chia sẻ cho ai khó khăn nghèo túng
là những hạt giống bồ đề, sau này các con sẽ được hưởng
bóng mát của cây bồ đề!”. Thế nên, Hưng và bé Hằng
luôn được đầy đủ tươm tất khi đến trường, không thiếu
thốn bất cứ thứ gì. Điều ấy đã động viên khích lệ
hai anh em chăm chỉ, chuyên cần vào việc học tập, năm nào
cũng gặt hái được kết quả tốt đẹp, làm ba mẹ hài lòng
và vui sướng. Hưng đã học đến lớp 9, Hằng thì đã lớp
6, hai anh em luôn chiếm giữ những vị trí hàng đầu khi xếp
loại học lực trong lớp. Thi luôn đỗ điểm cao. Ba mẹ rất
tự hào. Những người bà con dòng tộc nghiêng mình khâm phục,
khen ngợi ba mẹ Hưng hết lời. Ba khiêm tốn nói: “Phúc này
là do ông bà tiên tổ ban cho đó thôi!”. Mẹ cũng khiêm nhường:
“Nhờ ơn Trời Phật gia hộ nên mới có được hai đứa
con ngoan ngỗn, thông minh ấy mà!”… Nghe thì nghe vậy, nhưng
không một ai phủ nhận công lao dạy dỗ nuôi nấng con cái
của ba mẹ Hưng. Đó là hai công trình vĩ đại, mà ba mẹ
là những người vừa chỉ đạo, vừa trực tiếp thi công
trong hoàn cảnh không lấy gì làm sáng sủa, suông sẻ, lại
còn đầy trắc trở ngặt nghèo. Ít có ai cáng đáng đảm
đương nổi những thú công trình như vậy khi mà kinh phí eo
hẹp, vật tư nguyên liệu thiếu thốn, mặt bằng lại không
ổn định. Ba mẹ Hưng đã và đang tiếp tục thực hiện thi
công hai công trình dài dằng dặc ấy với quyết tâm mãnh
liệt và ý chí vững vàng, dù rằng khoản kinh phí đầu vào
chỉ trông nhờ vào những đồng nhuận bút viết báo của
ba, cùng những đồng tiền công may gia công hàng chợ của
mẹ. Ba đã giã từ bục giảng, phấn trắng bảng đen từ
hơn năm năm qua sau khi mắc bệnh lao phổi phải chữa trị
hao tiền tốn của trong thời gian dài, rồi chuyển qua làm
thơ viết văn, đưa tin về ngành giáo dục cho các báo, trở
thành một cộng tác viên thường xuyên, một thông tín viên
tích cực của vài ba tờ báo có uy tín trong nước. Công việc
buộc ba Hưng phải rong ruổi suốt ngày trên chiếc xe đạp
cà tàng, tối về lại cặm cụi hí hoáy đến khuya, có khi
thức đến gần sáng. Mẹ thì tất bật túi bụi với đống
vải, cắt cắt may may, lại phải lo chợ búa nấu nướng cho
cả nhà có được bữa ăn đúng giờ đúng giấc… Quanh năm
suốt tháng ba mẹ Hưng luôn bận bịu, xoay như chong chóng,
dường như không ngơi nghỉ mà chằng hề nghe tiếng kể lể
than van. Âm thầm làm việc, lặng lẽ gieo sạ với cường
độ đều đặn và thường xuyên trong suốt chừng ấy năm
trời, vừa lại lo cho hai con đến trường đầy đủ, vậy
mà ba mẹ Hưng đã mua được một căn nhà cho riêng mình, thử
hỏi anh nghe thấy mà không tránh khỏi kinh ngạc kính nể ?
Đã có nhiều người không dám tin khi nghe nói ba mẹ Hưng mua
được nhà mới. Chỉ khi nhìn tận mắt thấy được cảnh
cả gia đình Hưng dọn đồ đạc rời khỏi căn hộ thuê với
hợp đồng năm năm, đến ở trong một căn nhà nho nhỏ ở
Xóm Cháy với giấy tờ sở hữu hợp lệ thì họ mới
ồ lên với lòng khâm phục, sửng sốt…
Trước
năm 1975, Xóm Cháy nguyên là một xóm dân cư hành nghề mộc,
đóng các loại gia dụng bằng gỗ cung cấp cho cả thành phố.
Trong một lúc bất cẩn, một chủ xưởng mộc để lửa ngún
cháy giữa đêm hôm khuya khoắc, lan cháy cả xóm, thiêu rụi
toàn bộ nhà cửa vốn liếng, cứu chữa chẳng kịp. Sau khi
phân lô chia đất cất nhà làm lại từ đầu, nhiều nhà đã
phải bỏ nghề mộc, nhiều nhà đã bán đất đi nơi khác
làm ăn, dần dần xóm thợ mộc không còn nữa, và được
đổi tên thành Xóm Cháy cho đến nay. Ba mẹ Hưng mua được
căn nhà ở Xóm Cháy này với giá cả “rẻ đến bất ngờ”,
như lời mẹ khoe với mọi người, vừa với túi tiền dành
dụm chắt bóp bao năm trời mới có, nên rất mừng, mừng
con hơn trúng số độc đắc cặp năm. Nhưng khi dọn đến
ở, nhiều người quen biết đã khuyến cáo: “Xóm Cháy này
nổi tiếng dữ dằn, phức tạp, phải thận trọng!”. Người
khác còn nói cho biết với giọng hăm dọa: “Con nít xóm này
phá còn hơn quỷ sứ ma vương, liệu mà lo giữ gìn, liệu
mà ăn ở cho phải đạo phải phép!”. Lại có người rằng:
“Xóm Cháy này có đủ mọi thành phần xấu xa của xã hội:
xì ke chích choác có, đĩ điếm có, ăn cướp ăn trộm có,
ma cô du đãng thì nhiều… nên nuôi dạy quản lý con cái cho
chặt chẽ. Nhớ càng ít giao du càng tốt!”. Gia đình Hưng
còn được nghe những người cao niên trong Xóm Cháy kể cho
biết những chuyện rợn da gà về người chủ cũ của căn
nhà mới được sang nhượng quyền sở hữu này. Nào là trong
nhà có một hồn ma của người đàn bà thắt cổ tự tử
vì vỡ nợ; nào là đứa con gái của người chủ cũ uống
thuốc ngủ tự vận vì thất tình, được cứu chữa kịp
thời, nhưng sống trong cơn điên loạn ; nào là chủ cũ là
một cán bộ Nhà nước thuộc ngành Tư pháp, có uy quyền lẫm
lẫm, hống hách khinh người, chẳng thèm giao tiếp với bất
cứ ai trong xóm, kể cả hai nhà sát vách, và nhà đối diện,
nên bị người ta căm ghét xa tránh, lũ con nít trong xóm cứ
đến trước cửa nhà mà tiểu với đại tiện quanh năm, viết
bậy lên tường, khiến cho gia chủ phải chịu nhiều phen khốn
đốn ; nào là chủ nhà ỷ quyền ỷ thế coi trời bằng vung,
cho thợ đến xây bức tường làm rào chắn lấn cả đường
đi chung, bị cả xóm xúm lại đập cho tan tành chỉ trong chốc
lát… Ba mẹ Hưng nghe rồi thì lo âu, hồi hộp, cảm thấy
như đang ở ngay trên tổ ong vò vẽ, không biết tai họa sẽ
ập đến vào lúc nào. Nhưng lỡ leo lên lưng cọp rồi, chỉ
còn có nước phải cưỡi cọp mà đi, tối đâu hay tới đó.
Hưng và bé Hằng cũng nơm nớp sợ sệt, cứ nghĩ đến hồn
ma le lưỡi trợn mắt là rụt cổ, tôi không dám thức lâu,
trưa không dám vào cầu tiêu một mình, sang lo đi đến trường
thật sớm, học về là cứ kè kè theo ba mẹ cho yên tâm. Hai
anh em cũng không dám ra khỏi cửa nhà, cứ ru rú như gián ngày,
vì sợ lũ con nít bên ngoài kiếm chuyện gân hấn. Thời gian
đầu đến ở Xóm Cháy, gia đình Hưng sống rất cẩn trọng,
nhắc nhở nhau từng ly từng tý, động viên nhau suốt ngày,
ai nấy cũng căng thẳng phập phồng và cảnh giác cao độ.
Có mẹ Hưng là bình tĩnh nhất, luôn trấn an hai đứa con của
mình: “Ở hiền gặp lành. Mình đừng sống quá ích kỷ,
đừng làm điều xằng bậy. Sống trái với đạo lý, hoặc
sống biệt lập xa lánh mọi người mới chính là điều không
tốt, có thể dẫn đến những chuyện không lành. Hãy tin vào
pháp Phật mà sống!”. Ba Hưng cũng đồng tình, nói: “Đúng
vậy. Hãy cứ sống thật thản nhiên, sống bằng chân tình,
dựa theo Thập Thiện của thiền tông Trúc Lâm Yên Tử mà
sống, đừng cứ mà hành khổ mình bằng lối sống gượng
ép gượng gạo, giả dối như đóng kịch đóng tuồng!”.
Và, ba Hưng là người làm gương trước tiên.
Trái với người chủ cũ trước của căn nhà, quanh năm suốt
tháng cửa đóng then cài im ỉm trông thậät lạnh lùng và
vô hồn, không một chút sinh khí, ba mẹ Hưng đã cho mở toang
những cánh cửa ra. Buổi sáng, nhạc trong nhà đã vang
lên rộn ràng tạo nên sự phấn khích cho mọi người trước
khi bước vào một ngày làm việc, học tập mới. Buổi chiều,
sau những ngày lao động mệt nhọc, học tập căng thẳng,
Ba Hưng cho phép mở những cuốn băng, đĩa hoạt hình vui nhộn
và bổ ích, lũ con nít được quyền tự do vào nhà ngồi
xem. Ban đầu chúng còn dè dặt, có ý thăm dò chủ nhà, nhưng
rồi khi thấy ba mẹ Hưng, và cả Hưng lẫn bé Hằng luôn vui
tươi niềm nở thì chúng rủ nhau mạnh dạn vào nhà xem thỏa
thích. Với đám trai thanh niên, thì ba Hưng mở những cuốn
băng, đĩa nhạc trẻ theo yêu cầu, nên họ rất thích đến
nhà chơi, khi thì đến nhà nhìn qua cửa sổ, khi thì vào nhà
trò chuyện trao đổi với ba Hưng về âm nhạc. Thật ra, không
phải ba Hưng đến bây giờ mới làm vậy, mà xưa nay đã làm
theo sở thích của mình. Từ những năm tháng còn ở nhà thuê
nhà thục, ba Hưng đã có thói quen đẫ mở nhạc nghe suốt
ngày, ai vào nhà xem thì vào, và ai muốn mượn về nhà xem
cũng được. Nay, đến Xóm Cháy, không ngờ cái đầu máy video
cổ lỗ, và đầu đĩa VDC cũ càng lại đắc dụng hơn bao
giờ hết, chính nhờ chúng mà gia đình Hưng mới trở
nên thân thiện gần gũi với những người hàng xóm, từ già
đến trẻ. Mẹ Hưng cũng đã bắt đầu làm quen với những
phụ nữ trong xóm với tâm tình cởi mở chân thật, nên cũng
rất được mọi người cởi mở chân tình. Vậy là mối âu
lo khi mới đến đã tan biến, gia đình Hưng như cũng trút
được một gánh nặng ra khỏi lồng ngực. Người trong Xóm
Cháy khi biết được ba Hưng là nhà văn, là cộng tác viên
báo chí, quen biết nhiều với giới ký giả phóng viên,
liền lộ vẻ kính nể khâm phục, có người gặp chuyện bất
bình uất ức đã tìm đến nhờ cậy ba Hưng giúp đỡ, chỉ
cho đường đi nước bước. Mẹ Hưng nhận những mối hàng
may gia công ngoài chợ, khi việc tồn đọng làm không xuể,
không kịp giao hàng, đã không bo bo ích kỷ, sẵn lòng san sẻ
bớt vài chị em phụ nữ trong xóm may để kiếm tiền lo gạo
mắm, rồi cố gắng tìm thêm nhiều mối, nhiều hợp đồng
khác để có việc cho những người vợ, người mẹ ăn không
ngồi rồi… Gia đình Hưng trở nên một tụ điểm vui tươi
nhộn nhịp của Xóm Cháy, và nghiễm nhiên trở nên một thành
viên gắn bó không rời với cái xóm nổi tiếng là dữ dằn
ô hợp…
Riêng
với Hưng và bé Hằng, đến ở trong Xóm Cháy, hai anh em đã
có thêm nhiều bạn mới. Cái “lũ quỷ ma vương phá phách”
mà hai anh em Hưng nghe tiếng té ra cũng… dễ thương, dễ mến
chứ chẳng ghê gớm gì ! Chúng cũng ham học, cũng mê nhạc,
cũng vẽ đẹp, cũng giỏi đá banh, ghiền truyện và trò chơi
điện tử, như Hưng và bé Hằng chứ khác gì? Chúng ra vào
nhà có phép tắt, nói năng cũng hồn nhiên, tấm lòng cũng
trong trắng vô tư, và không ăn cắp ăn trộm dù chỉ cây kim
sợi chỉ trong nhà Hưng. Chúng cũng biết giúp đỡ nhau, san
sẻ cho nhau, chia sớt buồn vui bạn bè cùng lứa, nhường nhịn
những đứa bé hơn mình. Chỉ có điều, chúng chưa bỏ được
thói quen… văng tục chửi thề. Chính tiếng tục tĩu nhơ
nhớp buông ra từ cửa miệng đã làm cho lũ trẻ Xóm Cháy
phải mang danh là mất dạy, là quỷ xứ ma vương đó thôi.
Rất nhiều lần ba Hưng đã lên tiếng nhỏ nhẹ khuyên dạy
mấy đứa nhỏ ưa xổ tục khi chúng vào nhà ngồi xem phim
hoạt hình, có một trong hai đưa ngoan ngỗn nghe lời, tự vả
vào miệng mình mổi lần nói tục chửi thề, nhưng rồi…
đâu lại vào đó. Lũ con nít Xóm Cháy dường như đã
quen miệng, quên tật xấu xa đó, không cách nào bỏ được.
Ba mẹ Hưng phải đã ra quy kỷ luật “đứa nào còn nói tục
thì không cho vào nhà ngồi xem gì cả”. Biện pháp này xem
ra có một chút hữu hiện trong nhất thời, vì lũ con nít rất
ham vui, không đứa nào không dám vào nhà Hưng để ngồi xem
phim, xem ca nhạc, xem những bàn thắng đẹp trên sân cỏ. Khi
rủ nhau vào sàn nhà ngồi bệt dưới sàn gạch bông, đứa
nào cũng tỏ ra hiền khô, nhắc nhau không xổ tục, đưa nào
lỡ miệng là bị mấy dứa khác mét ngay với ba Hưng để
chịu kỷ luật. Nhưng ba Hưng chưa hề kỷ luật đưa nào,
chỉ trợn mắt hăm dọa thôi. Mẹ Hưng lại thường đem trái
cây, bánh kẹo ra phát cho lũ con nít ăn cho vui, làm cho đứa
nào đứa nấy điều khoái “nhà của chú nhà báo”. Nhà
Hưng luôn mở cửa để đón khách, không chỉ là con nít, mà
người lớn trong xóm lâu lâu nghé thăm trò chuyện, khi
quen rồi thì bắt đầu nhờ cậy, cầu cứu ba mẹ Hưng giúp
đỡ. Mẹ Hưng giúp nhiều người trong xóm khi họ đến kể
lễ than van về cảnh ngặt nghèo, sự giúp đỡ không to lớn
lắm, nhưng cũng đủ xoay trở được, và cái tình thì vô
cùng đậm đà chân thật. Ba Hưng giúp hàng xóm theo cách khác,
ai gặp oan ức, rắc rối, hay bất bình gì thì tìm đến, sẽ
được hướng dẫn đường đi nước bước, viết giùm đơn
từ khiếu nại, giới thiệu đến các văn phòng đại diện
báo chí đóng trên điạ bàn thành phố để được can thiệp
giúp đỡ… Xóm Cháy đã nhận lấy nhà Hưng, công nhận nhà
Hưng là một thành viên của xóm, bảo bọc và che chở cho
gia đình mới này bằng tình thương, lẫn sự mến mộ. Nhà
Hưng đã nhận được nhiều sợ giúp đỡ của xóm, tuy nhỏ
nhoi nhưng đầy tình cảm đáng trân trọng. Khi nhà có tiệc
tùng, có cúng giỗ, hay lễ tiệc sinh nhật cưới hỏi, bao
giờ nhà hàng xóm cũng bưng sang nhà Hưng một mâm tượng trưng
“ăn lấy thảo”. Thỉnh thoảng có người đến nhắc nhở
nhà Hưng đóng cửa, khóa xe để khỏi bị trộm cắp. Nhà
bị dột vào mùa mưa, có người tự nguyện leo lên mái nhà
để giúp ba Hưng mà không hề lấy công tính tiền. Khi mẹ
Hưng bệnh, hay mắc công chuyện, có người tự động đi chợ
nấu ăn giùm… Rất nhiều chuyện, kể ra không xuể. Còn lũ
con nít có trên chục đứa xung phong làm “lính”cho ba Hưng
sai vặt. Đứa thì xăng xái đi ra sạp mua báo, đứa thì mang
bảng thảo đi photocopy, đứa chạy đi kêu cà phê, mua thuốc
lá mỗi khi ba Hưng có khách đột xuất… Có đứa thì
giành phần của Hưng đấm lưng cho “chú nhà báo” để được
nghe ba Hưng kể chuyện tiếu lâm cười hả hê khoái trá. Với
Hưng, và bé Hằng, lũ con nít Xóm Cháy luôn dành cho tình cảm
đặc biệt, xếp hai anh em vào diện hưởng quyền ưu tiên.
Hưng và bé Hằng chơi vơí chúng, luôn được nhường nhịn
che chở bênh vực. Điều đó làm cho Hưng cảm động,
nên Hưng sẳn sàng giúp đỡ bạn trong học tập, cũng như
khi vui chơi trong giải trí, khi có bánh kẹo thì Hưng chia
sớt ngay cho bạn không để bạn mở miệng xin xỏ. Bé Hằng
bắt chước anh, cũng làm vậy với các bạn gái trong xóm.
…
Ngày mẹ Hưng ngã bệnh nặng vì làm việc quá sức kéo dài
ngày này qua tháng nọ, ba Hưng phải gạt bỏ công việc viết
lách sang một bên để xuống bệnh viện túc trực bên gường
người vợ yêu quý. Việc nhà từ đi chợ nấu ăn, giặc rủ
lau rửa, chăm sóc cho Hưng và bé Hằng, đều nhờ những người
hàng xóm lo toan trợ giúp tất tần tật. Chính khi lâm
vào hoàn cảnh hoạn nạn, gia đình Hưng mới thấy những tấm
lòng thơm thảo chân thật của bà con hàng xóm dành cho mình.
Ba mẹ Hưng chỉ còn biết một cách là khóc vì xúc động,
chứ nói bao nhiêu cũng không đủ để bày tỏ lòng tri ân.
Bất ngờ nhất là lũ con nít trong xóm cũng thay phiên nhau vào
bệnh viện để ba Hưng sai vặt, có đứa còn đòi thay ca để
ba Hưng về nhà tắm rửa nghỉ ngơi… Và, điều mà Hưng không
thể ngờ tới, là những món quà sinh nhật của các bạn trong
xóm mang đến tặng trao cho Hưng. Lũ con nít nhớ cả ngày sinh
nhật của Hưng, vì năm ngoái ba mẹ có tổ chức, đãi cho
chúng một tiệc vui tưng bừng. Năm nay, mẹ đang bệnh, ba có
nhớ nhưng không tổ chức lễ mừng, vậy mà các bạn lại
không bỏ qua, rủ nhau mua quà để tặng, không cần phải có
tiệc tùng ăn uống gì cả. Hưng nhận những món quà nhỏ
bé xinh xinh đầy bất ngờ đó với lòng dạt dào vui sướng
và cảm động, rồi chạy ù vào bệnh viện khoe cho ba mẹ
nghe. Chuyện những món quà sinh nhật của lũ con nít Xóm Cháy
dường như làm cho mẹ Hưng khỏe hẳn, y như vừa uống được
thang thuốc của “Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật” kỳ
diệu vô song mà bà đã từng đọc được trong kinh. Mẹ Hưng
ngồi dậy, mắt ướt đẫm lệ, cất giọng run run:
-
Mẹ sẽ khỏe, mẹ sẽ về nhà, sẽ tổ chức một tiệc sinh
nhật muộn cho con. Khách được mời đến dự sẽ là tất
cả bà con hàng xóm đã giúp đỡ gia đình mình trong lúc nguy
nan này!
Ba
Hưng tiếp lời, xoa đầu Hưng:
-Và
những thượng khách đặc biệt, những là những đứa bạn
con, và bé Hằng!
Hưng
mừng và sướng trong bụng, ôm chằm lấy mẹ mà rơm rớm
nước mắt. Ba Hưng mỉm cười, đăm chiêu một hồi lâu rồi
mới cất giọng từ tốn:
-
Ngẫm lại mới hay, ở đâu sống có tình người thì ở đó
chắc chắn có nhiều niềm vui. Miền Cực Lạc an vui không
phải ở đâu xa trên cõi trời cao vút đầy mây ngũ sắc,
mà ở ngay trên trần gian này, tùy nơi tâm mình mà có hay không
có. Quả là trời xui đất khiến cho gia đình mình đến ở
với Xóm Cháy, đây chính là đất lành chim đậu…
Đúng
lúc đó, ngay ngoài cửa phòng xuất hiện một đám đông người
lấp ló. Toàn là con nít. Con nít của Xóm Cháy.
GIEO MỘT NIỀM
TIN
Năm
1980, tôi được người anh tăng sĩ đứng ra bảo lãnh vàø
giới thiệu vào làm việc ở một lò bánh in có tiếng của
thành phố. Chủ lò là một Phật tử thuần thành, vì nể
nang tin tưởng anh tôi là một sư thầy nên nhận tôi vào làm
việc tại lò một cách miễn cưỡng. Vì đang cần một việc
làm, tìm một nghề cho tinh, tôi chấp nhận sống những ngày
tủi nhục trong nhà của chủ, với bao nghi kỵ chê bai và những
kiểu cách đối xử tệ bạc của những người trong nhà chủ.
Kiên nhẫn. Một chử Nhẫn của mẹ tôi trao cho trước khi
tôi lên đường tha phương cầu thực. Người anh tăng sĩ của
tôi cũng chỉ dặn dò, nhắc nhở tôi một chữ Nhẫn ấy,
không khác. Chữ Nhẫn luôn luôn hiện rõ ra trước mắt, vang
dội trong đầu óc, sôi trào bên trong lòng, đã giúp tôi chịu
đựng mọi cay đắng chát chua giữa thế thái nhân tình…
Thời
gian đầu, ông bà chủ không cho tôi bước vào phòng kín làm
bánh. Tôi chỉ làm những chuyện vặt vãnh như xách nước,
bửa củi, gói bánh, thắng đường … Cả chủ lẫn thợ đều
sợ tôi học được nghề, rồi ăn cắp bí quyết để sau
này tách riêng ra làm ăn. Tôi biết, nên cứ lặng thinh mà
làm mọi chuyện, sai đâu đánh đó, bảo sao nghe vậy, không
kêu ca phàn nàn một tiếng. Làm được chừng một tháng, cô
con gái út của ông của ông bà chủ trở nên thân thiện và
gần gũi với tôi. Cô nàng cứ theo trò chuyện, ngồi gần
bên tôi mỗi khi gói bánh đóng hàng, và nhiều khi đưa mắt
nhìn tôi đăm đăm đắm đuối như muốn báo cho tôi biết
tình cảm đặc biệt của cô nàng dành cho tôi. Thoạt tiên,
tôi nghĩ rằng mình tưởng tượng. Nhưng dần dà, những cử
chỉ thân mật và lời nói ngọt ngào bóng gió của cô nàng
đã khiến cho tôi chắc chắn được một điều: cô nàng yêu
tôi.
Tôi
bắt đầu thủ thế. Tôi biết đó là một chuyện nguy hiểm,
không được đùa cợt. Tôi hiểu rõ: sự giáo dục quá nghiêm
khắc, sự quản lý quá nghiêm ngặt của ông bà chủ đối
với con gái trong nhà đã biến cho họ khờ khạo, ngây ngô
và luôn luôn muốn bứt phá để thoát khỏi sự kềm kẹp
khô khốc của gia pháp, của cha me. Cô gái út chưa hề có
bạn trai, quanh năm suốt tháng bị giữ rịt trong nhà, chỉ
biết loay hoay với công việc gói bánh, nấu ăn… cho nên khi
gặp tôi là một người lạ từ ngoài lọt vào, cô nàng quý
mến tôi lắm. Nhưng tôi biết đó là sự bồng bột của một
thiếu nữ dại khờ, tôi không muốn lợi dụng, dù rất dễ
lợi dụng. Tôi cũng không hèn nhát đến độ phải chạy trốn,
xa lánh cô nàng, mà tìm cách nói cho cô nàng hiểu về tình
yêu và tình bạn. Tôi chỉ muốn làm một người bạn, hoặc
hơn chút nữa là một người anh tinh thần của cô nàng. Điều
này đã làm cho cô nàng nể trọng tôi, tin cậy tôi, có gì
buồn bực phiền muộn đều tâm sự cho tôi nghe. Hai đứa
tôi giữ một tình cảm đẹp, một khoảng cách cần thiết
tối thiểu với nhau suốt mấy tháng trời, vậy mà vẫn có
lời dị nghị từ đám thợ trong lò bánh. Ông bà chủ nghi
ngại, gọi tôi hỏi chuyện. Tôi nói thật lòng, nói những
suy nghĩ của mình, cũng như nói thẳng ra cái sai lầm của
ông bà chủ về chuyện quá nghiêm khắc với con gái. Rõ ràng
là tôi dại, có thể mất việc, rời khỏi lò bánh như chơi.
Nhưng không ngờ, ông bà chủ đã hiểu được ý tôi, tỏ
ra khâm phục và tin tưởng tôi. Tôi bắt đầu được hưởng
những tình cảm ưu ái của những người trong gia đình chủ.
Tôi thoải mái tự do hơn trước, được dạy kèm cho cô con
gái út học vẽ và làm luận văn mỗi tối, tập cho cô nàng
đi xe đạp vì chưa bao giờ cô nàng tập đi xe … Tôi được
họ – những người chủ trong nhà – cho vào phòng kín tập
đóng bánh, trộn bột đường, rồi chỉ hết những bí quyết
của nghề bánh in chỉ trong một thời gian ngắn. Tôi đã được
quyền tham gia ý kiến của mình vào chuyện sản xuất của
lò bánh, được đóng góp những cải tiến cho mặt hàng của
lò thêm phong phú, và ý kiến của tôi bao giờ cũng được
nhà chủ tiếp nhận một cách trân trọng. Nhưng, tôi biết
chắc một điều: nhà chủ vẫn còn một chút gì đó chưa
tin tưởng tôi hoàn toàn, chưa dám xem tôi là một thành viên
trong gia đình họ, nhất là chuyện tiền nong lãi lỗ thì họ
luôn sợ tôi nghe biết. Tôi đâu màng chuyện đó. Tôi chỉ
cần việc làm, có được nghề làm bánh in, có cơm ăn no,
có quần áo mặc lành lặn, và lương thưởng bỏ túi
là quá tuyệt rồi.
Cho
đến một hôm, tôi tình cờ nhặt được một chiếc khăn
tay cuộn tròn ở giữa nhà bếp, bên trong là bốn lượng vàng
và sáu chiếc nhẫn. Tôi đem trao lại cho ông bà chủ. Cả
lò bánh xôn xao. Không ai mất vàng cả. Đến chiều, một người
bạn hàng thường đến là lấy bánh đi buôn chuyến đường
xa đã hớt hải bước vào lò, hỏi thăm với hi vọng thật
mong manh về gói vàng bị đánh rơi. Ông bà chủ đã trả lại
cho người bạn hàng đầy đủ số vàng, và cho biết chính
tôi là người nhặt được của rơi. Khi tiễn người bạn
hàng ra đến cửa, tôi nghe ông chủ nói một câu: “Gặp thằng
khác thì tiêu rồi!”. Người bạn hàng quay lại nhìn tôi
thật lâu trước khi hí hửng ra chợ. Ngay sáng hôm sau, ông
chủ lò đích thân đứng chỉ cho tôi những “tuyệt chiêu”
của nghề bánh in, chỉ hết cả những “độc chiêu” dùng
để cứu bánh khi bị xổ bột vì đường nóng, bột nóng
hoặc gặp trời gió chướng. Tôi nắm được hết những bí
quyết của nghề, trở thành một thợ cả của lò, và làm
việc say mê ở lòø bánh ấy suốt ba năm. Chính ông bà chủ
đã gợi ý cho tôi về quê cũ lập nghiệp, cho tôi một số
vốn để mở lò riêng tại quê nhà. Tôi chia tay với lò bánh,
được mọi người đưa tiễn quyến luyến vào một ngày mưa
sụt sùi. Cô con gái út cũng sụt sùi với đôi mắt đỏ hoe,
tặng cho tôi một lá thư tình viết bằng thơ lục bát lục
nồi, lại có tranh minh họa cho thơ, tôi đọc xem mà cười
chảy nước mắt …
Năm
năm sau, vào năm 1988, khi tôi đóng cửa lò bánh in nhỏ của
mình do làm ăn thua lỗ, cạnh tranh thất bại, đang có dự
định đi làm công nhân cho tổ hợp xây dựng thủy lợi huyện,
thì nhận tin từ chốn xa: cô gái út của ông bà chủ là bánh
in đã lấy chồng và sinh được đứa con trai. Ông bà ngoại
đã đặt tên cho cháu là Hồng, trùng tên với tôi. Tôi chỉ
còn biết phì cười và sung sướng …
HƯƠNG
THƠM TỪ BẠC MỐC
Tối
hôm qua là một tối đáng nhớ trong đời. Một buổi tối
thật vui, đầy tiếng cười và cả nước mắt. Chú Bình đột
ngột trở về từ một phương trời xa xôi cách nửa vòng
trái đất, sau mười lăm năm sống tha hương nơi đất khách
quê người. Chú rời xa quê hương khi Thuý Loan còn là một
hạt bụi nhỏ nhoi bay lơ lững ở một khoảng không mênh mông
nào đó. Hai chú cháu chỉ biết mặt nhau qua mấy tấm ảnh
kèm theo trong những lá thư đầy tình thương nhớ mà thi thoảng
chú gửi về, cũng như bố mẹ gửi đi… Giờ thì chú Bình
đã hiện ra bằng xương bằng thịt để ôm đứa cháu duy
nhất vào lòng mà hôn những nụ thật mạnh, thật kêu trong
nước mắt ràn rụa. Chú cũng hôn lên trán người chị dâu
của chú-mẹ của Thuý Loan- với sự kính trọng và lịch sự
có thừa như người phương Tây. Chú Bình về mà không hề
báo trước cho biết điều gì, làm cho mẹ phải bất ngờ,
lúng túng và vui mừng khôn xiết. Chỉ tiếc rằng bố đi công
tác vắng nhà, không có mặt trong giờ phút hội ngộ thiêng
liêng ấy, làm chú Bình cũng thoáng buồn, vẻ thất vọng hiện
lên rõ trên gương mặt hồng hào đầy đặn. Mẹ phải gọi
điện thoại ngay để báo tin, gọi bố xin phép tranh thủ về
nhà để trùng phùng cùng người em trai ruột rà đã xa cách
chừng ấy năm. Nếu không có gì trở ngại thì bố sẽ có
mặt tại nhà sau hai mươi tư giờ đi đường bằng xe đò
tốc hành đúng nghĩa tốc hành. Chú Bình khăng khăng không
chịu đến ở khách sạn, nên mẹ phải lo thu xếp một chỗ
cho chú nghỉ ngơi tạm thời. Điều làm cho Thuý Loan vui nhất
đó là những gói kẹo, những thanh sô-cô-la, và những cây
bút đắt tiền mà chú Bình mang từ nước Mỹ về tặng cho
đứa cháu gái. Hơn thế nữa, chú còn cho riêng Thuý Loan hai
tờ giấy bạc mệnh giá 100 đô-la. Trước khi cho tiền, chú
xoa đầu Thuý Loan, nói:
- Chú vụng về lắm. Muốn mua cho cháu áo quần, nhưng lại
không dám mua vì sợ mua không đúng kích cỡ của cháu, cháu
sẽ mặc không vừa. Tiền này để cháu tự quyền mua sắm
theo ý thích!
Thuý Loan đưa mắt nhìn chừng về phía mẹ. Nét mặt của
mẹ thật nghiêm nghị. Chú Bình hiểu ý, liền cười nói:
- Cháu đừng lo. Chú có nhiều tiền lắm. Chú về đây, không
mang hành lý nhiều, nhưng tiền thì rất nhiều. Bố mẹ có
phần của bố mẹ, còn phần của chú cho riêng cháu thì cháu
cứ xài thoải mái, mua những gì mình thích, sắm những gì
mình thiếu, và ăn ăn uống uống những gì mà mình thèm khát
bao lâu nay…
Thấy mẹ chỉ nhếch môi cười, không nói gì, Thuý Loan mới
dám cầm và cất ngay vào túi áo hai tờ giấy bạc mà lần
đầu tiên trong đời mình mới được sờ đến, nắm bắt
được trong tay. Rồi mặc cho mẹ và chú Bình ngồi trò chuyện
thân mật, rôm rả suốt đêm, Thuý Loan chìm vào một giấc
ngủ với giấc mơ thật dài có đầy tiếng cười rộn rã
và nhạc du dương thánh thót…
Sáng nay nhằm thứ bảy nghỉ học, Thuý Loan dậy trễ, mẹ
phải gọi dậy để ăn sáng cùng chú Bình cho chú vui. Sau bữa
điểm tâm, chú Bình đi đến đồn công an Phường để khai
báo tạm trú, rồi sau đó sẽ đi thăm một số bạn bè cũ
trong thành phố. Chương trình của chú là vậy, còn chương
trình của Thuý Loan là… đi ra phố sắm áo quần, sắm mọi
thứ mình thích sau khi ghé vào tiệm vàng đổi hai tờ giấy
bạc 100 đô- la. Sướng thật. Mình giàu thật. Mình có cả
tiền triệu trong túi. Triệu phú rồi còn gì? Vừa tung tăng
từng bước chân trên hè phố, Thuý Loan vừa ngẫm nghĩ và
vừa cười một mình. Tha hồ mà mua sắm nhé. Thoải mái mà
chọn lựa nhé. Vô tư mà xách mang về nhà nhé. Tiền của
chú Bình mang từ Mỹ về cho riêng mình mà. Chú đã bật đèn
xanh cho mình vọt xe lên rồi thì không có gì phải đắn đo
nghĩ ngợi nữa. Mẹ sẽ có phần tiền chú cho mẹ. Bố
cũng sẽ có phần tiền chú cho bố. Mình sẽ tự sắm sửa
những món ngon vật lạ mà không cần phải hỏi xin tiền bố
hay mẹ, vậy là “ngon” rồi!
Thuý Loan mạnh dạn bước vào siêu thị. Vào siêu thị mua
sắm, đó chính là niềm mong ước bao lâu nay của Thuý Loan.
Mua sắm đàng hoàng, chứ không phải vào chỉ để dạo quanh
đưa mắt ngắm nghía với cái bụng thèm thuồng như bao lần
“đi cho biết siêu thị là gì” với mẹ. Trước tiên là
thẳng đến gian hàng áo quần may mặc sẵn.
Ô là la… toàn là những bộ đồ mình thích. Thật là hợp
thời trang, đúng mốt, dễ thương, xinh xắn, độc đáo, lạ
lẫm. Mấy đứa bạn sẽ lé mắt nếu thấy mình diện những
chiếc áo, chiếc váy, chiếc quần đắt tiền này. Nhất là
con nhỏ Thuỳ Hương, con nhà giàu nhất lớp nhất trường,
nó sẽ trố mắt lên kinh ngạc khi không hiểu nổi tại sao
con nhỏ Thuý Loan nhà nghèo này lại có được những bộ đồ
“sang trọng quý phái”, trong khi lâu nay quanh năm suốt tháng
chỉ thấy nó mặc những chiếc áo trắng đã ngã màu vàng
ố mặc dù đã nhiều lần cầu cứu đến các loại xà phòng
quảng cáo rầm rộ om sòm trên truyền hình là “đã tốt
nay còn tốt hơn”; hay những chiếc quần tây xanh đã bạc
sờn, hai ống ngắn khoe cả mắt cá chân đến nổi “chó
nhảy táp bảy ngày không tới”. Nhỏ Thuỳ Hương, cũng như
một vài dứa bạn nhà giàu khác, cũng sẽ thèm nhỏ dãi khi
thấy mấy cây bút máy hiệu Pilot, hiệu Paker chính hiệu hàng
ngoại mà có tiền chưa chắc đi mua đã có lại đang thuộc
quyền sở hữu của con nhỏ Thuý Loan “quê mùa lạc hậu”
nhất lớp. Thú vị thật. Càng tưởng tượng ra trong đầu
những cảnh chưa từng xảy ra, Thuý Loan càng thấy thích thú
khi đứng chọn lựa thoải mái những món đồ đắt tiền
có niêm giá sẵn. Càng thú vị hơn khi Thuý Loan chợt nhớ
đến tiệc sinh nhật của nhỏ Hồng Hạnh mời vào chiều
chủ nhật ngày mai tại nhà nó. Năm ngoái, Thuý Loan cũng đi
dự tiệc sinh nhật này rồi, vì nhằm lúc mẹ không có tiền,
bố chưa kịp lãnh lương, nên Thuý Loan chỉ tặng cho bạn
món quà tinh thần là một bài thơ lục bát kèm trong hộp đựng
bút trị giá 10 nghìn đồng, quà giá trị tuy nhỏ nhưng cũng
đủ làm đứt ruột của mẹ vì đó là tiền mẹ dành dụm
phòng chuyện ốm đau, nay phải xuất chi cho con gái được
vui vẻ với chúng bạn. Sau buổi tiệc sinh nhật ấy, tụi
bạn cùng lớp có vài đứa nói bóng nói gió hàm ý chê bai,
khinh khi Thuý Loan về chuyện “đi quà cho bạn mà keo kiệt,
trong khi ăn tiệc thì ăn cho ních bụng đã mồm”. Nghe được,
Thuý Loan buồn mấy ngày chưa nguôi, nếu không có lời an ủi
động viên của chính nhỏ Hồng Hạnh thì không biết đến
bao giờ nỗi buồn tủi ấy mới tiên tan trong lòng. Bây giờ
chợt nhơ lại, Thuý Loan không thấy buồn tủi nữa, mà lại
đang hân hoan phấn khích hơn bao giờ, lòng nôn nao háo hức
mong cho mau đến chiều mai để mình đi dự tiệc sinh nhật
nhỏ Hồng Hạnh. Năm nay mình đi quà cho biết mặt nhé. Đã
có đứa nào từng dám tặng quà sinh nhật cho bạn trị giá
đến 200 nghìn đồng chưa? Chắc chắn là chưa rồi. Nhưng
bây giờ sẽ có. Sẽ có một người dám “chơi mát luôn”,
và người ấy chính là con nhỏ Thuý Loan “quê mùa lạc hậu”
này đây. Một chiếc áo đầm xoè thật đẹp, vải ngoại
mềm mại, hoa văn độc đáo, màu sắc hài hoà, được đặt
trong một chiếc hộp giấy kính trong suốt sang trọng, sẽ
là món quà mừng sinh nhật dành cho nhỏ Hồng Hạnh. Chắc
chắn nhỏ Hồng Hạnh sẽ rất thích với chiếc áo đầm vừa
vặn này, vì Thuý Loan đã mặc thử thấy rất vừa vặn, hai
đứa lại có tầm vóc kích cỡ ngang nhau. Xách hai túi xách
căng phồng đầy áo quần rời khỏi siêu thị, Thuý Loan trèo
lên ngay một chiếc xích lô trở về nhà với lòng rộn ràng
niềm vui. Ngắm nghĩa chiếc đồng hồ hiệu Rado mới keng trị
giá 700 nghìn đồng đeo trên tay, Thuý Loan cảm thấy như mình
vừa được lột xác hoàn toàn. Mình không còn là mình nữa
rồi sao? Không còn là con nhỏ Thuý Loan hồi hôm qua, và xưa
kia nữa rồi. Có thật vậy không, hay chỉ là chiêm bao mộng
mị? Không, chuyện có thật mà. Thật như vầng thái dương
đang sáng rực chói chan trên bầu trời trong xanh quang đãng
kia để xua đi những màn đêm mịt mờ ám chướng. Thật như
nụ cười khoái chí của chú đạp xích lô khi được mình
đưa luôn cả tờ giấy bạc 10 nghìn đồng với lời dặn
đầy nhã nhặn: “Chú khỏi phải thối tiền lại. Cháu tặng
chú uống nước!”. Và thật như dáng mẹ đang ngồi nơi ghế
sa-lông thẻ đã bay hết lớp vẹc -ni với nét mặt trầm tư
nhìn về phía cửa, nơi mà mình vừa bước qua để vào trong
căn nhà dường như đã trở nên ấm cúng hơn bao giờ hết…
Thuý Loan định reo lên để bày tỏ tâm trạng đang hạnh phúc
tràn trề của mình với hai túi xách to đùng nặng trĩu trên
hai tay, nhưng bất chợt phải khựng người lại, chôn chân
xuống dưới nền gạch hoa đã hoen ố cũ kỹ. Mẹ đang ngồi
nơi ấy, bất động, chỉ có đôi mắt là đang sống động
lung linh với cái nhìn xuyên suốt vào bất cứ vật thể gì.
Khó mà đoán được mẹ đang vui hay buồn, đang giận hay thương,
nên Thuý Loan vẫn đứng yên một chỗ cất tiếng nủng nịu
gọi lên để thăm dò:
-
Mẹ!
Mẹ
đưa mắt nhìn hiền từ, miệng cười nhẹ nhàng, rồi gật
đầu:
-
Con đi sắm đồ về rồi đó à?
Chỉ chờ nghe được bấy nhiêu, Thuý Loan đã đoán được
mẹ không hề buồn giận gì mình đâu, vội xách hai túi xách
sà đến bên mẹ. Đăït hai túi xách lên trên chiếc bàn nhỏ
trước mặt, Thuý Loan ngắm nhìn mẹ trong thoáng chốc, bỗng
chạnh lòng trong sự ngạc nhiên tột cùng. Trước mắt, cận
kề bên, mẹ đang ngồi im lặng với một chiếc áo bà ba màu
nâu đã bạc thếch cũ càng trông thật… lạ lùng. Một chiếc
áo quá cũ, quá xấu qua cái nhìn của Thuý Loan. Không kềm
được nỗi kinh ngạc, Thuý Loan buột miệng:
-
Trời đất, mẹ lôi đâu ra cái áo gì mà thấy…“ghê”
vậy?
Người mẹ mỉm cười, cúi nhìn chiếc áo mình đang mặc trên
người, nhìn hai vạt áo, rồi nhìn hai vai áo, đưa tay vuốt
khẽ khàng lên hai miếng vá, giọng trầm xuống hỏi:
-
Ghê lắm hở con?
-
Dạ… con thấy ghê quá. Áo ở đâu vậy mẹ?
-
Áo của mẹ đó con.
-
Sao mẹ mặc làm gì cho xấu vậy?
-
Với con thì nó xấu xí, nó ghê ghê. Nhưng với mẹ thì nó
luôn là một kỷ vật đẹp đẽ.
-
Vậy chiếc áo này mẹ giữ để … nhớ một kỷ niệm gì
sao?
- Đúng vậy. Chiếc áo này mẹ đã mặc trong
suốt ba năm trời, rồi sau đó đem cất giữ đã mười lăm
năm qua, từ khi con còn chưa chào đời, và đúng vào năm mà
chú Bình chia tay với bố con trong nước mắt để đi thật
xa…
-
Nhưng vì sao mẹ phải giữ nó kỹ như vậy?
- Mẹ giữ để lâu lâu nhìn ngắm nó. Nó luôn nhắc
nhở mẹ đừng quên những tháng ngày đói khổ nhọc nhằn,
nhưng cũng rất thơ mộng vui tươi…
-
Sao lại thơ mộng vui tươi hở mẹ?
-
Hồi đó, mẹ thường mặc chiếc áo này, hằng ngày đạp
xe trên hai mươi cây số đi và về trên con đường gập ghềnh,
từ công trường thuỷ lợi ra đến chợ thị trấn, để lo
cơm nước cho anh em công nhân. Và rồi mẹ gặp bố của con.
Mẹ mặc chiếc áo này dường như là thường xuyên vì khi
ấy mẹ chỉ có hai chiếc áo, mà chiếc áo còn lại kia thì
đã quá rách, quá mỏng, mẹ chỉ mặc khi ngủ ban đêm. Vậy
mà bố của con vẫn thương yêu mẹ, bố đâu có màng đến
chuyện áo xấu áo đẹp, hay áo lành áo rách, mà bố chỉ
quan tâm đến cái tính cái tình của mẹ thôi. Rồi bố và
mẹ cùng vượt qua nhiều trở ngại thử thách về tôn giáo
tín ngưỡng, về quan điểm chính trị, để nên duyên vợ
chồng. Nhờ trời, từ ngày nên vợ nên chồng, cuộc sống
trở nên dễ thở hơn, bố có công ăn việc làm ổn định,
mẹ không còn phải đội nắng mưa quanh năm làm chị nuôi
ở công trường thuỷ lợi nữa, mà chỉ lo bán quán tạp hoá
để kiếm tiền xoay sở chi tiêu trong gia đình. Từ khi con
chào đời, cuộc sống gia đình mình tuy không khá giả, nhưng
cũng không đến nỗi bần cùng túng đói, nhờ bố mẹ luôn
biết thiểu dục tri túc, biết cần kiệm để nuôi con ăn
học lâu dài …
-
“Thiểu dục tri túc” là gì vậy mẹ?
-
Thiểu dục là ít muốn, nghĩa là mình đừng có ham muốn nhiều,
đừng tham vọng quá khả năng của mình đẻ rồi phải thất
vọng, phải đau khổ khi không đạt được điều mình ao ước.
Thí dụ như mình đang đi bộ, sau đó sắm được chiếc xe
đạp là sướng rồi, nhưng mình lại chán xe đạp, lại ham
muốn một chiếc xe máy, rồi không có khả năng sắm xe máy
nên mình lo lắng, buồn tủi, đau khổ. Còn tri túc là biết
đủ, nghĩa là nên hài lòng với những gì mình đã có được,
không thèm ao ước thêm nữa. Thí dụ như cái quán nhỏ nhà
mình đã đủ giúp cho mẹ có khoản thu nhập để lo chợ búa
chi tiêu hằng ngày, và tháng lương của bố thì đủ để
dành dụm, hay sắm sửa những thứ cần thiết… Được như
vậy là hạnh phúc lắm rồi, vì quanh mình có biết bao người
nghèo khổ bần hàn chỉ ao ước được như bố mẹ. Con hiểu
chứ? Thiểu dục là vậy, tri túc là vậy. Và nhờ học giáo
lý nhà Phật mà biết vậy, nên bố mẹ mới sống được
thanh thản nhiều năm qua…
Im lặng. Thuý Loan chau mày ngẫm nghĩ. Mẹ cất giọng nhỏ
nhẹ:
-
Hôm nay, mẹ lôi chiếc áo này ra để mặc là có ý gì con
biết không?
Thuý
Loan lắc đầu nguầy nguậy, nhỏng nhẻo:
-
Con… con đang còn thắc mắc đây. Mẹ nói cho con biết đi!
- Con người không thể sống mãi với quá khứ,
nhưng cũng không nên quên dĩ vãng để gìn giữ cho hôm nay,
và ngày mai cứ được mãi hương thơm và vị ngọt. Hôm nay,
mẹ lôi chiếc áo ngày xưa ra mặc là để cho mẹ tự ngắm
mình lại trước gương, và để cho tối nay khi bố con trở
về nhà, bố sẽ được ngắm lại hình bóng thân thương ngày
nào. Nhưng điều quan trọng nhất là để cho con ngay bây giờ
được ngắm mẹ mình, mà tự rút ra một bài học tuy nhỏ
nhoi nhưng rất quý báu cho mình…
Nhướng mắt lên nhìn mẹ, Thuý Loan im lặng không biết phải
nói gì. Chợt, mẹ hỏi:
- Con hãy ngắm kỹ mẹ đi, mẹ có xấu xí đi vì chiếc áo
cũ xì mốc meo này không?
Thuý Loan bàng hoàng, quỳ xuống trước mẹ, nghẹn ngào:
-
Không… không… Con thấy mẹ đẹp lắm. Mẹ đẹp tuyệt trần!
Mẹ
nhoẻn miệng cười, âu yếm xoa đầu con gái, hỏi:
-
Con đi sắm sửa hết tiền của chú Bình cho rồi, phải không?
Nghe
mẹ hỏi, Thuý Loan ngước mặt lên thưa:
-
Con lỡ đổi hết cả hai trăm đô-la… nhưng con chỉ mua sắm
hết khoảng một nửa…
Vừa
nói, Thuý Loan vừa móc hết xấp tiền trong túi đưa cho mẹ.
Người mẹ đẩy tiền ra, hiền từ:
-
Mẹ hỏi, không phải để lấy tiền của con. Chú Bình cho
riêng con thì con cứ cất lấy. Nhưng con đừng chi tiêu hoang
phí, mà hãy để dùng cho việc có ích, nhất là chuyện học
hành của con.
Đưa
tay chỉ hai túi xách trên bàn, mẹ trầm giọng nói tiếp:
-
Mẹ muốn con hiểu ra một điều: Tuy rằng chú Bình có nhiều
tiền khi về thăm quê hương, nhưng đó là tiền được đánh
đổi bằng mồ hôi, nước mắt, và có khi bằng cả máu. Chú
con bao năm phải lao động cật lực khổ nhọc, phải thức
khuya dậy sớm đầu tắt mặt tối làm thuê làm mước cho
người ta mới có tiền mà sống. Chú Bình tuy đã có nhà,
có xe hơi riêng, nhưng mọi thứ đều là mua trả góp, phải
thiếu nợ, phải cày còn hơn con trâu trên ruộng để trả
nợ dần dần đâu phải ngồi phè phởn một chỗ để hưởng
phú quý vinh hoa?! Khi con cầm đồng tiền của chú Bình cho
để chi xài, thì hãy nhớ rằng chú rất khổ cực làm việc,
chú phải chịu hi sinh rất nhiều để có được tiền mang
về giúp bố của con. Con không thấy đến giờ này, tuy chú
Bình đã trên 35 tuổi mà vẫn không dám lập gia đình hay sao?
Và con không thấy chú của con đi làm ăn xa thâït xa đến
mười lăm năm mới dành dụm được một số tiền để trở
về cố hương sao?
Thuý
Loan sững sờ. Làm sao mà mình nghĩ ra được những điều
ấy với một đầu óc còn non nớt được? Nếu mẹ không
nói ra thì mình cứ tưởng chú Bình là một Việt Kiều giàu
có bảnh bao sang trọng, tiền chú cho là tiền để tiêu xài
cho sướng tay sướng bụng. Lòng ăn năn day dứt, Thuý Loan
gục đầu, nói với giọng ngắt quãng:
-
Con có lỗi… con sai rồi… Con không biết…
Rồi cô con gái sà vào lòng mẹ, úp mặt vào ngực mẹ mà
khóc tấm tức, ngửi được hương thơm lạ lùng từ chiếc
áo bạc mốc xa xưa của người mẹ yêu kính …
MÓN NỢ CUỐI
NĂM
Chiều một ngày cuối năm, mặc cho ngoài đường kia đang chộn
rộân hối hả, thầy Trường ngồi lặng lẽ trong căn hộ
vuông vắn chật chội nhưng ngăn nắp của mình, trầm tư cắn
bút trước những trang thơ đầy cảm xúc còn chưa ráo mực,
hồn thả về một vùng ký ức xa xăm đầy vui buồn nhung nhớ…
Già bạc tóc cả rồi, thầy đâu còn muốn chen chân theo nhịp
tất bật cùng thiên hạ. Hơn nữa, thầy sống độc thân bao
năm nay, không viêïc gì phải bận rộn lo toan muốn sút cả
vó như bao người có cặp có đôi, có tổ ấm đoàn tụ, có
gia đình đông vui đầy đủ…
Thầy đã sống trên mười năm như vậy rồi, kể từ ngày
người bạn đời yêu quý của thầy qua đời sau một cơn
bệnh nặng hiểm nghèo, để cho thầy phải chịu cảnh gà
trống chăn hai đứa con. May mà lúc ấy con thầy đã khôn lớn,
đứa đang học năm cuối cấp 3, đứa đã ngồi ở giảng
đường đại học được ba năm rồi, nên thầy khôâng phải
vất vả. Rồi chúng trưởng thành, công thành danh toại, lần
lượt rời xa vòng tay ôm ấp vuốt ve của thầy để xây tổ
uyên ương, bỏ thầy ở lại cô thân lẻ bóng nơi căn hộ
nhỏ nhắn nằm trong hẻm cụt của một khu dân cư bát nháo
hỗn độn.
Dù gì, thầy vẫn yêu căn hộ đầy kỷ niệm khóc cười trầm
thăng mà thầy đã gắn cuộc đời mình vào nó trên hai mươi
năm qua. Thầy không muốn rời khỏi nơi thầy yêu thương và
cả sự tôn kính, mặc dù con cái thầy đã bao lần nài nỉ
van xin thầy dời sang ở một căn hộ mới rộng rãi khang trang
hơn ở một khu yên tĩnh mà chúng có khả năng mua ngay cho thầy.
Thầy thích sống một mình hơn. Tự do. Thoải mái. Không lệ
thuộc bất cứ ai. Tiện nghi đầy đủ. Tiền bạc của hai
đứa con cung cấp cho thầy hằng tháng, thêm khoản lương hưu,
đủ cho thầy sống thư thả, nếu không muốn nói là thừa
dư. Vậy thì hà cớ gì phải đi đâu cho mệt? Đi để tìm
gì? Có một điều chỉ có thầy hiểu mình: thầy chôn kín
trong sâu lắng tận đáy lòng một tình cảm đặc biệt dành
cho cái xóm lao động phức tạp mà thầy đã sống được
nhiều tháng năm đi đi về về gắn bó. Xóm nhỏ đông dân,
có đủ thành phần của xã hội, có đủ thất tình lục dục,
sinh tử thất tồn, hỉ nộ ái ố, vậy mới là cuộc sống,
vậy mới sinh động, để cho một người yêu văn chương thi
phú, yêu báo chí, mê sách kinh nhà Phật như thầy phải cảm
thấy hứng thú, thấy vui mừng vì không sợ thiếu cảm xúc,
thiếu ý tưởng, thiếu vốn sống, để cầm bút gieo ngôn
từ trải lòng trên giấy. Thứ tình cảm đặc biệt ấy như
một sợi dây thừng vô hình trói xiết đôi chân lẫn trái
tim của thầy lại, không cho thầy rời bỏ cái nơi mà nhiều
người lương thiện chân chính nghe nhắc đến phải sợ hãi
đến rùng mình lạnh gáy.Vậy mà thầy ở được, sống được
mới là hảo hớn trượng phu!
Đang mải mê bay bổng trên chín tầng mây với ý tưởng ngôn
từ, chợt thầy Trường nghe một mùi hương lạ thoang thoảng
đâu đây gần kề bên mình. Thầy giật mình, quay đầu lại
nhìn sau. Đứng sát sau lưng thầy là một người phụ nữ
tuổi trạc bốn mươi, ăn mặc hở hang, trang điểm mặt mày
kỹ lưỡng, miệng đang nở một nụ cười tình tứ cùng với
ánh mắt rực lên một sự trìu mến yêu thương. Thầy Trường
lúng túng, chạy trốn đôi mắt của vị khách không mời,
hỏi:
-
Ủa … có chuyện gì vậy?
Người phụ nứ vẫn đắm đuối đăm đăm nhìn thầy Trường,
không nói không rằng, khẽ đưa tay vuốt lấy đôi vai thầy,
rồi đặt nhẹ nhàng lên ấy. Thầy lật đật đứng dậy,
lịch sự gỡ tay vị khách đường đột kia, kéo ghế mời
khách, cất giọng hơi bực bội:
- Cuối năm kẹt tiền lo cho hai thằng nhóc ăn Tết phải không?
Khách cười tỏn tẻn. Thầy Trường chép miệng, xoay qua bên
trái kéo ngăn hộc bàn. Người phụ nữ vội chồm tới, nắm
lấy cánh tay thầy lại, giọng run run:
|